Xem Nhiều 1/2023 #️ Giới Thiệu Về Hà Tiên # Top 5 Trend | Samthienha.com

Xem Nhiều 1/2023 # Giới Thiệu Về Hà Tiên # Top 5 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Giới Thiệu Về Hà Tiên mới nhất trên website Samthienha.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Điều kiện và tự nhiên

Điều kiện tự nhiên: Thị xã Hà Tiên được thành lập vào ngày 01/9/1998, được chia thành 7 đơn vị hành chính, gồm 4 phường và 3 xã. Hà Tiên là một trong 14 huyện, thị và thành phố của tỉnh Kiên Giang, là một thị xã vừa có đất liền vừa có hải đảo và đồi núi nên thu hút rất nhiều khách tham quan. Đường biên giới Việt Nam – Campuchia ôm sát thị xã về phía bắc.

Địa giới hành chính thị xã Hà Tiên : Phía Bắc giáp Vương quốc Campuchia; phía Tây và Tây Nam giáp Vịnh Thái Lan; phía Đông và Đông Nam giáp huyện Kiên Lương tỉnh Kiên Giang.

Khí hậu : Thị xã Hà Tiên nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa có nền nhiệt cao và ổn định, một năm chia làm hai mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau.

Thổ nhưỡng : Tổng diện tích đất tự nhiên của Hà Tiên là 8.142,72 ha. Bao gồm: đất nông nghiệp 5.969,11 ha (chiếm 73,31%); đất phi nông nghiệp 1.941,68 ha (chiếm 23,85%); đất chưa sử dụng 231,93 ha (chiếm 2,85%).

Tài nguyên thiên nhiên : Tài nguyên khoáng sản của thị xã Hà Tiên không nhiều, trên địa bàn thị xã có một số núi đá đáng kể về số lượng. Ngoài ra, còn có một số nguồn khoáng sản đá quý như: đá xây dựng, sỏi đỏ,… Dân cư : Hiện nay dân số toàn thị xã là 42.940 người, tổng số hộ là 7.454 hộ bao gồm 03 dân tộc cùng sinh sống là Kinh, Hoa và Khmer.

Về mặt văn hóa

– Về văn hóa trong giao tiếp, ứng xử : Con người Hà Tiên nhiều phẩm chất tốt đẹp, ngoài tình yêu quê hương đất nước, tinh thần đoàn kết tương thân tương ái, còn biểu hiện đậm nét ở đức tính thật thà, chất phác, tôn trọng nghĩa tình và lòng mến khách.

– Về văn hóa lễ hội : Trước hết là lễ hội rằm tháng giêng, đây là tết nguyên tiêu của dân tộc, các địa phương trong cả nước đều tổ chức, riêng ở Hà Tiên đó còn là sự ra đời của Tao Đàn Chiêu Anh Các do Mạc Thiên Tích thành lập năm 1736. Mặt khác theo truyền thống của địa phương rằm tháng giêng còn là ngày hái lộc đầu năm, rằm tháng Giêng thực sự là một ngày hội lớn của người dân Hà Tiên.

Thứ hai là Tết Thanh minh. Tết Thanh minh ở Hà Tiên cũng được tổ chức vào tháng ba âm lịch theo truyền thống chung của dân tộc, nhưng việc tổ chức thì lại có một số điểm rất riêng cả về không gian và thời gian. Ở các địa phương khác chỉ tổ chức vào một ngày duy nhất trong tháng ba hoặc tháng hai theo lịch, nhưng ở Hà Tiên coi ngày đó chỉ là ngày chính, còn việc tổ chức lễ tết được diễn ra trong một tháng. Không gian tổ chức lễ cúng cũng khác hơn các địa phương khác, ngoài việc con cháu thắp hương tưởng niệm ông bà, cha mẹ tại bàn thờ gia tiên, mâm cổ còn được đưa lên cúng tại mộ. Sau khi cúng xong, dọn ra gia đình, bạn bè cùng ngồi ăn uống trước mộ, để cho người quá cố cảm thấy vui vẻ, gần gũi với gia đình như khi còn sống. Vừa ăn uống vừa nhắc lại kỷ niệm, những tấm gương về đạo đức của người quá cố khi còn sống để giáo dục con cháu. Đây là một nét đẹp truyền thống của người dân Hà Tiên đến nay vẫn còn lưu giữ. Ngoài các lễ hội nói trên, Hà Tiên còn có các lễ hội đặc trưng khác như: Lễ hội Kỳ Yên, Lễ hội giỗ Đức khai trấn Quốc công Mạc Cửu, lễ hội tôn giáo tháng 7 âm lịch…

Tín ngưỡng tôn giáo : Thị xã Hà Tiên có các tôn giáo chính gồm: Phật giáo, Công giáo, Cao Đài, trong đó Phật giáo chiếm đa số. Thực hiện chủ trương của Đảng về chính sách khối đại đoàn kết dân tộc, trong những năm qua thị xã Hà Tiên luôn quan tâm công tác tôn giáo.

Danh lam thắng cảnh : Trên đất Kiên Giang nơi nào cũng có vẻ đẹp của thiên nhiên. Tuy nhiên, thắng cảnh Hà Tiên có những dáng nét riêng. Nói đến Hà Tiên, người ta thường nghĩ đến “thập cảnh” trong thơ Mạc Thiên Tứ: Kim Dữ lan đào, Đông Hồ ấn nguyệt, Bình San điệp thúy, Châu Nham lạc lộ, Tiêu Tự thần chung, Lộc Trĩ thôn cư, Nam Phố trừng ba, Giang Thành dạ cổ, Thạch Động thôn vân, Lư Khê ngư bạc. Ngày nay du khách tham quan gần xa đã từng biết Hà Tiên qua những danh lam thắng cảnh như: Thạch Động, hang Đá Dựng, bãi tắm Mũi Nai, khu vực núi Bình San, chùa tam Bảo, chùa Phù Dung, Đông Hồ, dừa 4 ngọn…

Di tích lịch sử : Tính đến nay, trên địa bàn thị xã Hà Tiên đã có 08 di tích được Nhà nước xếp hạng. Trong đó, có 5 di tích cấp quốc gia là: Di tích lịch sử Nhà tù Hà Tiên, di tích thắng cảnh Thạch Động, Mũi Nai, Bình San, Đá Dựng và 03 di tích cấp tỉnh là: Di tích chứng tích chiến tranh chùa Xà Xía, di tích lịch sử văn hóa chùa Phù Dung, chùa Tam Bảo.

Giới Thiệu Hà Tiên Thập Cảnh

Từ lâu lắm rồi, Hà Tiên Thập Cảnh – vùng đất biên thùy cực nam tổ quốc thuộc tỉnh Kiên Giang, đã được biết đến như một nơi hội tụ nhiều danh lam thắng cảnh hoang sơ đầy quyến rũ tiêu biểu nhất của nam bộ. Thi sĩ Đông Hồ đã từng viết: Hà Tiên núi không cao, rừng không rậm, ngắm vui mắt không chán trong lòng. Có một ít hang động của Lạng Sơn, vài ngọn đá chơi vơi ngoài biển, một ít thạch thất, sơn môn của Hương Tích, vài cảnh Tây Hồ, đôi nét Hương Giang, một ít chùa chiền của Bắc Ninh, lăng tẩm Thuận Hóa, vài bãi cát Đồ Sơn, Cửa Tùng, Long Hải. Không chỉ đẹp về phong cảnh hữu tình, Hà Tiên còn được biết đến với những di tích lịch sữ gắn liền với các huyền thoại, các câu chuyện cổ tích.

1. TIÊU TỰ THẦN CHUNG (CHÙA TAM BẢO)

Tương truyền, sau khi ổn định cơ ngơi, Mạc Cửu cho người về Trung Quốc đón mẹ sang Hà Tiên, lúc này bà đã hơn 80 tuổi và là người rất sùng mộ đạo Phật, có ý muốn đi tu. Năm 1730, ông đã cho xây gần dinh cơ của mình một ngôi chùa, gọi là Tiêu Tự, để mẹ sớm mỏ chiều kinh. Chùa xây trong khuôn viên chùa Tam Bảo hiện nay. Trong một ngày lễ Phật, bà đã mất ngay trước Phật Đài. Mạc Cửu cho đúc một tượng Phật và một chuông đồng để thờ. Nghe tiếng chuông mà tưởng niệm đấng từ thân. Ngôi chùa xưa đã bị quân Xiêm tàn phá khi xâm chiếm Hà Tiên năm 1771. Đến năm 1799, con cháu họ Mạc mới trùng tu lại. Ngôi chùa Tam Bảo hiện nay đã qua nhiều lần trùng tu lớn và nhỏ (lần trùng tu lớn nhất là năm 1940). Phía sau chùa hiện nay còn mộ của Thái Thái Bà Bà (mẹ ông Mạc Cửu). Trong chùa chỉ còn tượng Phật bằng đồng, chuông đồng đã bị mất khi quân Xiêm xâm chiếm. Xung quanh chùa hiện nay còn lại bức tường cổ, họ Mạc cho xây dựng để ngăn giặc, vật liệu làm bằng vôi và ô dước nhưng vẫn bền vững gần 300 năm nay. Mạc Thiên Tích đã vịnh cảnh “Tiêu Tự Thần Chung” như để nói lên tâm tư của ông ở nơi dinh thự khi nghe tiếng chuông chùa vào buổi sớm. Tiếng chuông chùa buổi sớm ngân vang tạo cho một vùng không gian Hà Tiên thêm êm đềm, thanh tịnh. Chùa Tam Bảo là một di tích lịch sử gắn liền với dòng họ Mạc, nằm ngay trung tâm thị xã Hà Tiên, có một khuôn viên khá rộng, không khí trong lành, khoáng đãng, yên tĩnh, là nơi mà hầu hết du khách đến Hà Tiên đều muốn ghé qua thăm viếng.

2. KIM DỰ LAN ĐÀO (NÚI PHÁO ĐÀI)

Kim là vàng, dự là hòn đảo nhỏ, lan là ngăn chặn, đào là sóng to. Kim Dự Lan Đào là hòn đảo vàng ngăn chặn sóng gió. Ý nói, trước hải khẩu trấn Hà Tiên có hòn đảo nhỏ ngăn chặn sóng gió, gìn giữ cho nội địa được yên ổn.

Kim Dự là một quả đồi nhỏ phía Tây Nam thị xã Hà Tiên. Thường gọi là núi Pháo Đài. Vì trên đó, từ hồi Triều Nguyễn đến hồi bị Pháp thuộc vẫn là cứ điểm quân sự để trấn giữ cửa biển, bảo vệ trấn Hà Tiên chống giặc ngoại xâm. Cách đây hơn một thế kỷ, Pháo Đài vẫn còn tách rời đất liền. Nay Pháo Đài dính với đất liền là do công sức xây đắp của các tù nhân thời thực dân Pháp. Sách Đại Nam Nhất Thống Chí cho Pháo Đài là Đại Kim Dự, còn một cảnh Tiểu Kim Dự nữa. Có lẽ là chỗ đối cảnh với Đại Kim Dự về hướng Nam, mà nay đã dính liền vào đầu sơn phận núi Tô Châu, chỗ doi đất hiện giờ có miễu thờ Thủy Thần và miễu thờ Cá Ông Nam Hải. Ngày nay, chiếc cầu Tô Châu đã nối liền hai bờ Đại Kim Dự và Tiểu Kim Dự. Và dưới chân Pháo Đài là ngọn Hải Đăng, làm cho đôi bờ cửa biển Hà Tiên càng thêm duyên dáng, đáng yêu. Nơi đây rất lý tưởng cho những du khách thích thưởng ngoạn ngắm cảnh trời mây non nước và tận hưởng gió mát. Từ đây, ta có thể ngắm toàn cảnh thị xã Hà Tiên, thưởng thức ” Đông Hồ Ấn Nguyệt ” trong những đêm trăng sáng và ngắm cảnh hoàng hôn trên biển.

3. LỘC TRĨ THÔN CƯ (CẢNH ĐẸP MŨI NAI)

Lộc là nai, trĩ là mõm núi, mũi núi. Lộc Trĩ là Mũi Nai, thôn cư là chỗ thôn trang dân cư. Lộc Trĩ Thôn Cư tạm dịch là xóm núi Mũi Nai. Xóm dân cư này đã đi vào văn học qua bài thơ Lộc Trĩ Thôn Cư của Tao Đàn Chiêu Anh Các.

Bãi tắm Mũi Nai cách trung tâm Thị Xã Hà Tiên khoảng 6 km về hướng Tây, gồm hai điểm: bãi trước và bãi sau. Bãi tắm Mũi Nai không sâu thẳm mà thoai thoải dần và sóng ở đây ít ồn ào, hung hãn, rất yên tĩnh và hiền lành. Từ bờ ra chừng trăm mét vẫn an toàn, chúng ta có thể an tâm đùa giỡn với sóng nước. Mũi Nai nằm trong vùng biển vịnh Thái Lan. Xa xa có nhiều hòn đảo nhấp nhô, chếch về phía bên trái là quần đảo Hải Tặc, xa hơn nữa là đảo ngọc Phú Quốc nằm trãi dài mà chúng ta có thể nhìn rõ hơn trong những ngày trời quang mây tạnh. Đến Mũi Nai, tắm biển, hưởng nắng và gió biển sẽ giúp du khách thêm vui tươi, khỏe khoắn. Chúng ta có thể nằm võng hoặc ghế bố mà ngắm cảnh thiên nhiên, nhìn sóng nước từng đợt nhấp nhô, xô lượn vào bờ. Bạn sẽ thấy tâm hồn thanh thản, nhẹ nhàng. Chúng ta sẽ thưởng thức các đặc sản biển như: ốc nhảy, hào đá, cua, ghẹ, mực,. .. Bãi biển Mũi Nai là nơi mà tất cả các du khách đến Hà Tiên đều muốn thăm qua. Có thể nói khu vực đồng bằng sông Cửu Long, bãi tắm Mũi Nai là nơi lý tưởng nhất cho những du khách yêu thích biển đến tham quan du lịch.

4. NAM PHỐ TRỪNG BA (BÃI BIỂN PHÍA NAM)

Trong năm cặp thắng cảnh đối nhau thì “Nam Phố trừng Ba” là cảnh đối lại với “Đông Hồ Ấn Nguyệt”. Nam Phố là bãi biển ở phía Nam. Trừng là nước lặng lẽ. Ba là sóng. Nam Phố Trừng Ba là bãi biển phía Nam sóng nước lặng lẽ. Dòng Nam phẳng lặng khách dầu chơi.

Hai thức như thêu nước với trờiBãi khói dưới kia hương lại bủaHồ gương trong đó gấm thêm rơiSóng chôn vảy ngạc tình chi xiếtNhạn tả thơ trời giá mấy mươiMột lá yên ba dầu lỏng lẻoĐong trăng lường gió nước vơi vơi.

Nam Phố là một bãi biển cách thị xã Hà Tiên về hướng Nam khoảng 11km, thuộc ấp Bãi Ớt, xã Dương Hòa, huyện Kiên Lương. Bãi biển ở đây gần giống như một cái vịnh nhỏ được che chở bởi các ngọn núi, nên biển ở đây thường yên lặng hơn các nơi khác, gần như quanh năm êm đềm lặng sóng. Những ghe thuyền qua lại gặp mùa động Nam, muốn tránh sóng gió đều vào đây ẩn núp cho qua cơn trời động. Cảnh vật nơi đây còn rất hoang sơ và gần với thiên nhiên. Bãi tắm ở đây cũng khá đẹp và lý tưởng. Dân cư ở đây rất hiền hòa, sống bằng nghề trồng tiêu và làm nghề biển. Đến đây, chúng ta sẽ được thưởng thức những món đặc sản địa phương như gỏi cá trích, gỏi cá nhòng, con cà xỉu,… với hương vị rất riêng của miền biển.

5. THẠCH ĐỘNG THÔN VÂN (THẮNG CẢNH THẠCH ĐỘNG)

Thạch động là một khối đá vôi khổng lồ, có độ cao khoảng 48m, nằm sát quốc lộ 80, cách trung tâm thị xã Hà Tiên về hướng Tây Bắc 3km. Từ xa trông Thạch Động như hình chiếc mũ lông của lính kỵ mã Anh quốc.

Thạch Động đã đi vào thơ ca qua tác phẩm “Hà Tiên Thập Cảnh” của Mạc Thiên Tích, là một trong mười cảnh đẹp tiêu biểu của Hà Tiên với tên gọi Thạch Động Thôn Vân. Thạch Động là động đá. Thôn là nuốt. Vân là mây. Thạch Động Thôn Vân là động đá nuốt mây. Nhân cảnh mây phong khói tỏa, quanh quẩn ở chỗ cửa động, mà thi nhân nghĩ như là động khẩu hút khói nuốt mây.

Dân gian truyền rằng trong Thạch Động có đường thấu tới đỉnh nên ánh sáng mặt trời rọi xuống, đây là đường lên trời. Còn đường xuống địa phủ được dân gian gắn liền với huyền sử “Thạch Sanh giết Đại Bàng cứu công chúa Quỳnh Nga và Thái Tử con vua Thủy Tề”. Đường xuống địa phủ là một hang sâu thăm thẳm không biết đâu là cùng. Tương truyền rằng, có lần Tổng trấn Mạc Thiên Tích sai người theo cửa hang đi xuống để xem sao, người đó đi mãi chỉ nghe tiếng sóng, sợ quá phải quay trở lên. Một tương truyền khác, có người thử xem hang này ra sao, họ khắc chữ đánh dấu vào những trái dừa khô rồi thả xuống hang. Ít lâu sau, những người đi biển vùng Hà Tiên, Phú Quốc đều lượm được những trái dừa đó. Do hang sâu nguy hiểm nên đã được lấp từ những năm 1960. Trong hang có một ngôi chùa thờ Phật, ngôi chùa được dựng lên khi nào chưa rõ, cửa chùa cũng là cửa hang chính của Thạch Động, phía trên có ghi ba chữ “Tiên Sơn Tự ” với hai câu đối bằng chữ Hán: “Thạch thượng linh cơ lưu ngọc dịch; Động trung tĩnh địa ẩn kim tiên”. Thạch Động còn có tên cổ là núi Vân Sơn, theo sách Đại Nam Nhất Thống Chí, tập 05 quyển 26, mục Sơn Xuyên Chí có chép như sau: “Núi Vân Sơn ở huyện Hà Tiên, cách Địa Tạng khoảng một dặm, có núi cao chừng bốn trượng, bốn bên vách đứng như cái cột kình thiêng, núi có động rộng 4_5 trượng, trong có chùa Bạch Vân”. Và mục Tự quán có chép: “Chùa Bạch Vân ở thôn Mỹ Đức, huyện Hà Tiên, trước do người Minh Hương là Đoàn Tân dựng, năm Thiệu Trị thứ 7 Tuần Phủ Phan Tùng bổ…”.

Đầu thế kỷ XX, có hai nhà sư từ miền Trung tới trụ trì ngôi chùa. Một vị là Nguyên thọ thượng chánh hạ quả, dòng tu Lâm Tế đời thứ 39, tục danh là Lê Thế Duyên, quê ở Phú Yên. Hòa thượng từ trần ngày 21 tháng 12 năm Quý Sửu (1913), thọ 78 tuổi. Một vị là Húy quảng sĩ thượng thiên hạ học, dòng tu Lâm Tế thứ 40, tục danh là Trịnh Tấn Phước, người Bình Định. Thiền sư từ trần ngày 02 tháng 09 năm Aát Dậu (1945 ), thọ 75 tuổi. Sau khi hai nhà sư qua đời, đệ tử của sư Trịnh Tấn Phước là bà Cam Thị Nam (thường gọi cô Hai Nàm), kế thừa đạo nghiệp trụ trì ngôi chùa. Năm 1948, Bà bị thực dân Pháp bắt cùng với ba người nữa làm ruộng cho nhà chùa, chúng đêm cả bốn người về giam tại đồn Hà Tiên. Chúng bắt được quả tang bà Hai Nam tiếp tế và nuôi dấu cán bộ cách mạng. Ngay đêm bị bắt, giặc Pháp đã giết bà tại cầu tàu Hà Tiên. Người nữ tu hành này là tấm gương sáng về tinh thần yêu nước.

Trong hai cuộc kháng chiến và những năm tháng chiến tranh biên giới, nơi đây đã từng diễn ra những trận chiến ác liệt chống quân xâm lược, góp phần tô đậm truyền thống anh hùng của quân dân Hà Tiên. Hiện nay dưới chân Thạch Động có bia căm thù tưởng niệm 130 người đã bị bọn diệt chủng Pôn Pốt tàn sát vào ngày 14.03.1978 tại xã Mỹ Đức.

Ra các cửa hang phía sau của Thạch Động, chúng ta sẽ được tận huởng những cơn gió mát lồng lộng, một không gian khoáng đãng, một vùng trời biên giới cùng với biển xanh, đảo nhỏ xa xa nhấp nhô. Không gian khoáng đãng, cảnh vật hữu tình, không khí tĩnh lặng cùng những pho tượng Phật uy nghiêm làm cho ta vơi bớt bụi trần trong giây lát, xua tan nỗi mệt nhọc sau những ngày lao động vất vả. Đến Hà Tiên, thăm Thạch Động với cảnh thiên nhiên thật thơ mộng và hùng vĩ, tạo cho ta cảm giác vô cùng thích thú.

6 .ĐÔNG HỒ ẤN NGUYỆT (NGẮM BINH MINH TRÊN SÔNG ĐÔNG HỒ)

Đông Hồ là một đầm nước mặn, rộng khoảng 14 km2, nằm ở phía Đông thị xã Hà Tiên. Đông Hồ là một thắng cảnh thiên nhiên đẹp nổi tiếng của Hà Tiên đã đi vào thơ ca hàng trăm năm nay qua tác phẩm “Hà Tiên Thập Cảnh” của Mạc Thiên Tích với tên gọi “Đông Hồ Ấn Nguyệt “.

Đông Hồ là hồ ở phía Đông thành Hà Tiên, ấn nguyệt là trăng in. Thi nhân đã nhìn thấy bóng trăng in xuống mặt hồ y như cái ấn tròn đóng trên tờ giấy bạch. Và không phải bất kỳ lúc nào ta cũng được như thế mà đòi hỏi ta phải có lòng thành yêu cảnh, thăm tìm và chờ đợi. Vào đêm 16, 17 âm lịch, khoảng 07-08 giờ tối, ra bờ hồ, nhìn thẳng về hướng Đông mà đợi, đợi đến lúc trăng lên, chúng ta sẽ được nhìn chiếc ấn nguyệt in tròn vành vạnh trên mặt hồ. Vào những đêm trăng cảnh vật trên Đông Hồ rất đẹp, ánh trăng lung linh trên sóng nước mặt hồ mà ngày xưa Mạc Thiên Tích tưởng chừng tiên nữ lạc bước trần gian, đã làm nao lòng mạc khách đề thơ. Chúng ta có thể thả thuyền thưởng ngoạn trên Đông Hồ trong những đêm trăng cùng với bằng hữu, có nhạc, có thơ, có rượu, có những món ăn truyền thống của Hà Tiên, đắm mình trong không khí tao nhã như người xưa đã từng thưởng thức Đông Hồ, ta mới cảm nhận hết cái đẹp, cái thơ mộng của Đông Hồ. Đông Hồ chứa nước từ sông Giang Thành đổ vào và ăn thông ra biển để có hai mùa mặn ngọt, là nơi lý tưởng cho nhiều loại thủy cầm sinh sống. Những loài thủy cầm này đã góp phần nuôi sống con người Hà Tiên trong biết bao thế kỷ qua. Đông Hồ còn có hai ngọn núi Tô Châu ngày đêm soi bóng cùng với những thuyền chài, những ghe lưới, … càng làm tăng vẽ thơ mộng và hữu tình của Đông Hồ.

7. GIANG THÀNH DẠ CỔ (TIẾNG TRỐNG CẦM CANH BÊN BỜ SÔNG)

Giang Thành là thành lũy đóng ở bên sông. Dạ là ban đêm. Cổ là tiếng trống. Giang Thành Dạ Cổ là tiếng trống cầm canh ở chỗ đồn thú bên bờ sông, về ban đêm.

Sau khi tiếp nối cơ nghiệp của cha, Mạc Thiên Tích tăng cường việc xây dựng và bố phòng chung quanh Phương Thành. Do vị trí địa lý, việc thông tin từ vùng phía Bắc về Hà Tiên rất khó khăn (lúc này kinh Vĩnh Tế chưa được đào, chỉ có sông Giang Thành). Ông đã cho đắp một con đường nhỏ, chủ yếu dùng cho việc liên lạc hỏa tốc, đủ một người một ngựa, bắt đầu từ Đá Dựng chạy dài đến bờ Bắc sông Giang Thành với nhiều vọng gác. Tục truyền, cứ bắt đầu một hồi trống gác đánh từ Hà Tiên đến hồi trả lại là đúng một giờ. Đường này còn có tên là lộ sứ Tự Đức, đến nay hầu như không còn để lại dấu vết. Giang Thành ngày nay chỉ là một địa danh thuộc xã Tân Khánh Hòa, huyện Kiên Lương, cách thị xã Hà Tiên khoảng 10km, là chỗ ngã ba tiếp giáp kinh Vĩnh Tế từ Châu Đốc chảy sang, liền với thượng lưu con sông Giang Thành. Mà trước đây vào thời Minh Mạng, Giang Thành đã từng là một quận của tỉnh Hà Tiên.

8. LƯ KHÊ NGƯ BẠC (XÓM CHÀI RẠCH VƯỢC)

Lư Khê Ngự Bạc là cảnh thứ mười trong “Hà Tiên Thập Cảnh”. Lư là loài cá Vược. Khê là khe, là rạch. Ngư là thuyền chài, người lưới cá, câu cá. Bạc là thuyền đỗ bến. Lư Khê Ngư Bạc là cảnh Rạch Vược, nơi thuyền ngư đỗ bến hay còn gọi là xóm chài Rạch Vược.

Cách đây mấy thế kỷ, trong địa phận xã Thuận Yên, cách thị trấn Hà Tiên khoảng ba cây số có một con rạch nhỏ từ kinh Rạch Giá – Hà Tiên ăn thông ra biển, nơi đây loại cá vược tụ tập rất nhiều, len lỏi qua các khe núi Nhọn, núi Ông Đội và núi Nhỏ, tạo thành một cảnh sơn thủy kỳ thú. Mạc Thiên Tích đã cho dựng ở đây một ngôi “điếu đình” làm chỗ nhàn hạ buông câu, làm nơi tiêu dao ngoạn cảnh, nghỉ ngơi, di dưỡng tinh thần. Và nơi đây còn được gọi là Lư Khê Nhàn Điếu. Bây giờ con rạch Lư Khê không còn ăn thông ra biển và loài cá vược ở đây cũng không còn nhiều như xưa nữa. Vì từ khi Quốc lộ 80 được xây dựng thì con rạch đã bị lắp ngang. Dòng Lư Khê vẫn chảy êm đềm qua những khe núi để hòa vào Đông Hồ và cảnh vật ở Rạch Vược vẫn thanh bình, êm ả.

9. BÌNH SAN ĐIỆP THÚY (THẮNG CẢNH TRÊN NÚI BÌNH SAN)

Bình San Điệp Thúy là cảnh đẹp thứ hai trong “Hà Tiên Thập Cảnh” của Mạc Thiên Tích. Bình San là dãy núi dựng như bức bình phong, ở sau thành Hà Tiên. Cũng như tiếng lan đào của Kim Dự, ngụ ý che đỡ kín đáo cho thành nội. Điệp là trùng trùng điệp điệp, lớp lớp từng từng. Thúy là màu xanh chim trả. Bình San Điệp Thúy là ngọn núi như tấm bình phong sắc xanh lớp lớp.

Một bước càng thêm một thú yêu,

Lằn cây vết đá vẽ hay thêu.

Mây tùng khói liễu, chồng rồi chập;

Đàn suối ca chim, thấp lại cao.

Luật ngọc trâu ông chẳng phải trổi;

Ngòi sương Ma cật đã thua nhiều.

Đến đây mới biết lâm tuyền quý,

Chẳng trách Sào Do lánh Đế Nghiêu.

Quần thể núi Bình San có một vị trí khá đặc biệt. Ở đây, thi sĩ họ Mạc đã ví như “một bức tường thành che chắn mặt phía Tây thành Hà Tiên”. Họ Mạc đã chọn khu vực này để xây lăng mộ của dòng họ và các tôi thần trung nghĩa. Và cũng chính điều này mà nhân dân còn gọi Bình San là núi Lăng. Trên núi thì có lăng tẩm của vị Khai Trấn Quốc Công Mạc Cửu, vị tướng kiêm nhà thơ Mạc Thiên Tích cùng lăng mộ con cháu dòng họ Mạc và lăng mộ các tướng sĩ đã theo giúp họ Mạc xây dựng và bảo vệ Hà Tiên. Còn dưới chân núi là đền thờ họ Mạc, hay còn gọi là Mạc Công Miếu với hai câu đối: “Nhất môn trung nghĩa gia thịnh trọng; Thất diệp phiên hàn quốc sủng vinh”, như ghi lại công lao của họ Mạc đối với đất Hà Tiên. Trong miếu còn có bút tích của ông Nguyễn Thần Hiến là một nhà yêu nước tham gia hoạt động cách mạng chống Pháp trong hai thập kỷ đầu của thế kỷ XIX, trên tường ghi lại những bài thơ chữ nôm do Mạc Thiên Tích sáng tác (qua nhiều lần trùng tu, bút tích này được phục chế khắc trên gỗ). Trước đền, hiện có ba ao trồng sen. Riêng ao bìa bên trái (từ cổng nhìn ra), xưa kia được gọi là “bán nguyệt liên trì” vì có dạng nửa hình tròn được đào từ thời Mạc Thiên Tích để lấy nước cho dân sử dụng. Trên Bình San còn hai di chỉ của nền Sơn Xuyên và nền Xã Tắc do Mạc Thiên Tích lập ra để hành lễ vào các ngày trọng đại. Nền Sơn Xuyên là chỗ tế thần núi thần sông, ở chỗ cao chót núi, chỗ nhìn ra Kim Dự. Nền Xã Tắc là chỗ tế hậu thổ thần nông, ở chỗ thấp giữa lưng núi, chỗ bây giờ đã có vườn tược trồng trọt. Đối với Nhà Nguyễn, thời Mạc Cửu và Mạc Thiên Tích, Hà Tiên được hưởng một chế độ cai trị đặc biệt, như một “tiểu quốc”. Do đó, họ Mạc cho lập hai nơi này để tế cáo trời đất (giống như Vua_Chúa nhà Nguyễn). Từ năm 1708 đến năm 1770, Trấn Hà Tiên dưới thời Mạc Cửu và nhất là Mạc Thiên Tích (con Mạc Cửu), đã là một thương cảng sầm uất, mà sử thần nhà Nguyễn là Trịnh Hoài Đức viết “là một nơi đô hội ở miền biển”. Tàu buôn các nước trong khu vực lui tới Hà Tiên khá tấp nập để trao đổi và mua bán nhiều sản vật quí hiếm đi nhiều nơi như Malaysia, Hải Nam,…

Từ những năm cuối thế kỷ XVII trở về trước, cả một vùng đất rộng lớn từ Hà Tiên cho đến Cà Mau vẫn còn hoang vu, nhiều sơn lam, chướng khí và thú dữ. Tuy đã có một số ít lưu dân tứ xứ từ Trung Quốc, Cao Miên, người Kinh (Việt Nam),…đến tự khai khẩn và sinh sống, trong đó có lưu dân người Việt là chiếm đa số. Nhưng họ sống rãi rác nhiều nơi không tập hợp thành một cộng đồng quần cư. Vì thế, cho đến lúc đó, vùng này vẫn là nơi “vô quản”.

Mạc Cửu, sinh ngày 08 tháng 05 năm 1655, người xã Lê Quách_huyện Hải Khang_phủ Lôi Châu_tỉnh Quảng Đông_Trung Quốc, cùng một số người Hoa khác, vì không phục chính sách cai trị của nhà Thanh, đã dong buồm xuống phương nam vào cuối thế kỷ XVII. Sau nhiều lần bôn ba, phiêu bạt, đến năm 1708, ông đến vùng đất này (lúc bấy giờ có tên là Mang Khảm). Nhận thấy nơi đây cảnh trí thiên nhiên vô cùng thơ mộng, thuận lợi cho việc xây dựng và phát triển sự nghiệp, ông đặt tên cho vùng đất này là Hà Tiên (sông Tiên). Và do hiểu được vị thế lúc bấy giờ của chúa Nguyễn, Mạc Cửu dâng biểu tâu xin và được chúa Nguyễn Phúc Chu phong làm Hà Tiên Trưởng, sau là Tổng Trấn Hà Tiên. Ông đã tổ chức lại xã hội, xây dựng thành quách, mở mang công cuộc làm ăn buôn bán, với nhiều nước lân cận, từ đó Hà Tiên ngày càng phồn thịnh. Mạc Cửu mất năm 1735, được chúa Nguyễn Phúc Chú truy tặng Khai Trấn Thượng Trụ Quốc Công, Đại Tướng Quân Vũ Nghị Công. Mùa xuân năm 1736, chúa Nguyễn Phúc Chú sắc phong cho Mạc Thiên Tích kế tập cha, thăng Đô Đốc Trấn Hà Tiên. Sau khi nhậm chức, Mạc Thiên Tích chăm lo mở mang phố xá ở trấn lỵ Hà Tiên, phát triển thêm việc buôn bán, đồng thời cũng cho sửa sang đồn lũy để ngăn giặc ngoại xâm. Nhờ đó, đất Hà Tiên “ngày càng phồn thịnh, nhân dân ở yên cày cấy, trồng trọt, phong vật phồn hoa, thuyền buôn đi lại tấp nập, cũng là một đất vui ở miền biển”. Trong những lúc Mạc Công cùng tướng sĩ chiến đấu chống giặc bảo vệ thành Hà Tiên, Chánh phu nhân Mạc Thiên Tích là bà Nguyễn Thị Hiếu Túc đã lãnh đạo nhiều phụ nữ khác lo cơm nước tiếp tế kịp thời, đồng thời giữ vững an ninh trật tự trấn Phương Thành. Vì vậy, bà đã được Nhà Nguyễn phong tặng tước “Phu nhân”.

Trấn Hà Tiên dưới thời Mạc Thiên Tích và cho đến ngày nay, nổi tiếng cả nước với Hội Tao Đàn Chiệu Anh Các, một hiện tượng văn học sớm nhất của Miền Nam (Đàng Trong) vào thế kỷ XVIII do Mạc Thiên Tích làm chủ xướng. Ngày nay, xung quanh triền núi còn nhiều di tích mang đậm dấu ấn “Lịch sử_Văn hóa” như: Đền, chùa, lăng mộ, ao hồ,…Do đó, ngày 21/01/1989, Bộ Văn Hóa_Thông Tin đã có Quyết định số 100/QĐ_VH công nhận khu vực này là: “Di tích lịch sử_ văn hóa cấp quốc gia”. Từ Lăng Mạc Cửu, ta có thể thấy cảnh nội ô thị xã Hà Tiên, Đông Hồ, cụm núi Tô Châu hùng vĩ, cầu Tô Châu, cửa biển Hà Tiên và mặt biển bên ngoài của tấm bình phong. Trời, mây, nước thu vào như một bức tranh phong cảnh thiên nhiên rất thơ mộng và đẹp mắt.

Cũng từ Lăng Mạc Cửu, ta có thể đi vòng qua triền núi phía Tây để viếng mộ Mạc Mi Cô (Mạc Mi Cô là con gái của Mạc Thiên Tích_dân địa phương còn gọi là Bà Cô Năm ), do truyền tích linh thiêng nên từ lâu rất được nhiều người sùng bái. Và ta cũng có thể vòng qua triền núi phía Bắc để thăm ngôi “Phù Dung Cổ Tự”, một trong những ngôi chùa cổ của Hà Tiên và có thể nói là của cả Kiên Giang, đặc biệt chỉ có chùa Phù Dung có điện thờ Ngọc Hoàng phía sau chùa. Ngôi chùa này được biết nhiều qua vở tuồng dã sử “Áo cưới trước cổng chùa” do thi sĩ Kiên Giang Hà Huy Hà dàn dựng từ tiểu thuyết “Nàng Ái Cơ trong chậu úp” của nữ sĩ Mộng Tuyết được hư cấu từ hai nhân vật có thật là Tổng Binh Đại Đô Đốc Mạc Thiên Tích và người vợ thứ của ông là bà Nguyễn Thị Xuân, mà nhân dân địa phương kính trọng gọi là Bà Dì Tự. Hiện nay, núi Lăng thuộc địa phận phường Bình San, thị xã Hà Tiên. Đến Hà Tiên, lên núi Lăng để sống lại một chút với Hà Tiên thời mở đất.

10. CHÂU NHAM LẠC LỘ (THẮNG CẢNH ĐÁ DỰNG)

Đá Dựng cách trung tâm thị xã Hà Tiên khoảng 6km, cách Thạch Động về hướng Tây Bắc, từ quốc lộ 80 đi vào khoảng 1850m, chơ vơ giữa đồng có một dãy núi đá vôi, thường gọi là Đá Dựng. Đá Dựng có độ cao gần 100m, nhìn xa Đá Dựng như một hình thang cân. Gọi là núi Đá Dựng vì đá ở đây dựng đứng như vách.

Đá Dựng có tên cổ là núi Bạch Tháp, theo sách “Gia Định Thành Thông Chí” do sử gia Triều Nguyễn là Trịnh Hoài Đức (viết xong năm Canh Thìn, 1820_đời Minh Mệnh) ở mục Sơn Xuyên Chí (chép về núi sông), về trấn Hà Tiên có ghi về núi Đá Dựng như sau: Bạch Tháp ở phía Bắc núi Vân Sơn (tức Thạch Động) năm dặm, sông núi quanh co, cỏ cây rậm rạp, nhà sư Quy Nhơn là Hòa Thượng Hoàng Long Đại vân du, cắm gậy ở đây. Năm Đinh Tỵ (1737), Túc Tông Hiếu Minh Hoàng Đế thứ 13, Hòa Thượng tịch, đồ đệ xây tháp bảy cấp để cất xá lợi. Hàng năm cứ đến ngày Tam nguyên và Phật đản thì chim hạc đến múa vượn xanh dâng quả, lưu luyến bồi hồi như có ý tham thiền nghe kệ, có thể gọi là cảnh chùa tiêu sái. Còn trong Hà Tiên thập cảnh, Đá Dựng với tên gọi là Châu Nham Lạc Lộ (Cò về núi ngọc). Đặt là châu nham vì núi Đá Dựng có loại thạch nhủ tinh quang lấp lánh như kim cương, có nhiều màu sắc đẹp như châu ngọc. Nham là núi đá cao, có nhiều hang hốc. Lạc là rơi rụng. Nói về vật nhẹ từ trên cao rơi xuống, như lá cây rụng, như đám mây bay thấp xuống. Lộ là loài chim phần nhiều loại lông trắng, loại thủy cầm sinh sống ở chỗ đầm, ao vũng vực, ăn cá ăn tôm. Châu Nham Lạc Lộ là cảnh đàn cò trắng bay về dãy núi Châu Nham. Châu Nham là dãy núi đá vôi có nhiều hang động, xa xa chung quanh có đầm nước. Loại chim cò sáng đi ăn ở các đầm vũng, ở bãi biển mé gành, buổi tối bay về nghỉ cánh ẩn vào hang đá, trốn mưa, trốn nắng, trốn người săn bắt.

Biết chỗ mà nương ấy mới khôn,

Bay về đầm cũ mấy mươi muôn

Đã giăng chữ nhất dài trăm trượng,

Lại sắp bàn vây trắng mấy non.

Ngày giữa ba xuân ngân phấn vẽ;

Đêm trường chín hạ tuyết sương còn.

Quen cây chim thể người quen chúa,

Dễ đổi nghìn cân một tấc son.

Hiện nay, trong các hang hốc của Đá Dựng, có nhiều vỏ hào, vỏ ốc còn dính lại trên vách đá, chứng tỏ xưa kia nơi đây là đầm nước. Ao đầm vũng vực, chính là nơi thích nghi cho loại chim, loại cò, loại le le, vịt nước sinh hoạt. Cứ như thơ văn sách vỡ cũ xét thấy thì dãy Đá Dựng này xưa kia là một sân chim như các sân chim ở Rạch Giá, Cà Mau. Các sách chữ Hán viết là Điểu Đình. Do quá trình thay đổi về địa chất và địa hình qua hàng nghìn năm đã tạo nên núi Đá Dựng ngày nay. Đá Dựng có một vị trí chiến lược quân sự quan trọng nên đã trở thành căn cứ cách mạng của Đảng bộ và Quân dân Hà Tiên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ và trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Cụ thể là: lực lượng ta chưa đến 100 người với lòng quả cảm và ý chí kiên cường, các chiến sĩ cách mạng đã giữ vững căn cứ Đá Dựng qua cuộc chiến đấu suốt 27 ngày đêm tháng 05 năm 1970. Bây giờ ở các hang của Đá Dựng dấu tích của trận chiến năm xưa vẫn còn. Đến tham quan Đá Dựng để hiểu vì sao иá Dựng đi vào lịch sử đấu tranh của Đảng bộ và Quân dân Hà Tiên như một truyền thống hào hùng. Mỗi hang của Đá Dựng có một vẻ đẹp riêng và rất huyền bí. Các hang với những tên gọi như: hang Mẹ Sanh, hang Bồng Lai, hang Thần Kim Qui, hang Biệt Động, hang Khổ Qua,…

Đá Dựng là một điểm tham quan độc đáo bởi thạch nhủ trong các hang của Đá Dựng có những hình thù khác nhau: thạch nhủ có hình như trái khổ qua, khối đá xanh hình con rùa, phiến đá như chiếc đĩa bay, đá trên vách hang nhô ra như đầu con bò, đầu con khủng long, vách đá nghiêng nhìn như chiếc áo cà sa lung linh ánh chớp,… Đá Dựng, một di tích lịch sử, một nơi tham quan du lịch hấp dẫn. Đến Đá Dựng như trở về cội nguồn lịch sử , cũng như khám phá vẻ đẹp kỳ bí của các hang động.

Giới Thiệu Khái Quát Thị Xã Hà Tiên

Thị xã Hà Tiên thuộc Tỉnh Kiên Giang, được thành lập theo Nghị định 47/1998/NĐ-CP ngày 08/7/1998 của Chính phủ, trên cơ sở tách ra từ huyện Hà Tiên cũ.

Thị xã Hà Tiên nằm về hướng Tây – Bắc của tỉnh Kiên Giang. Phía Bắc giáp Campuchia, phía Đông giáp huyện Giang Thành, phía Nam giáp huyện Kiên Lương, phía Tây giáp huyện đảo Phú Quốc và vịnh Thái Lan, có đường biên giới trên đất liền dài 13,7 km, đường bờ biển dài 26 km. Thị xã Hà Tiên là một dải đất có vị trí nằm nơi cửa sông, ven biển, có nhiều dạng địa hình như: vũng, vịnh, đồng bằng, đồi núi, sông rạch, hang động, hải đảo… Thị xã có 09 di tích được công nhận trong đó có 05 di tích cấp Quốc gia và 04 di tích cấp Tỉnh. Là trọng điểm về du lịch của tỉnh Kiên Giang và vùng Tây Nam bộ.

Thị xã Hà Tiên có 03 dân tộc chính là Kinh – Khmer – Hoa. Đây là vùng đất có bản sắc văn hóa rất đặc thù và đa dạng, được hình thành cách đây hơn 300 năm, gắn liền với tên tuổi dòng họ Mạc. Khi Mạc Cửu đến khai phá và quy phục Chúa Nguyễn ở Đàng trong vào năm Mậu Tý – 1708 và được Chúa Nguyễn Phúc Chu sắc phong làm Tổng binh Trấn Hà Tiên, tước Cửu Ngọc Hầu và người kế vị là Mạc Thiên Tích – con trai trưởng của Mạc Cửu, đã xây dựng Hà Tiên thành một vùng đất trù phú, phố thị sầm uất, giao thương với nhiều nước, đời sống người dân ấm no, an lạc. Hơn thế nữa, Mạc Thiên Tích còn thành lập và làm Chủ soái Tao đàn Chiêu Anh Các quy tụ nhiều học sĩ, thi nhân đến làm thơ, xướng họa. Đây là Tao đàn được các nhà nghiên cứu lịch sử văn học đánh giá là Tao đàn lớn thứ hai, sau Tao đàn Nhị thập bát tú của Vua Lê Thánh Tông lúc bấy giờ.  

Hình ảnh: Hà Tiên xưa

Đã từ lâu, Hà Tiên luôn là một địa chỉ thân thuộc đối với ai yêu lịch sử – văn hóa, đất nước và con người Nam Bộ. Hà Tiên – miền biên thùy tận cùng phía Tây Nam của tổ quốc, tuy địa dư không lớn lắm, nhưng được thiên nhiên ưu ái ban tặng nhiều cảnh quan tươi đẹp và thơ mộng đã đi vào thơ ca, tiêu biểu là tác phẩm Hà Tiên thập vịnh của Mạc Thiên Tích: 

“ Mười cảnh Hà Tiên rất hữu tình,

Non non nước nước gẫm nên xinh.

Đông Hồ, Lộc Trĩ luôn dòng chảy,

Nam Phố, Lư Khê một mạch xanh.

Tiêu Tự, Giang Thành, chuông trống ỏi,

Châu Nham, Kim Dự cá chim quanh.

Bình San, Thạch Động là rường cột,

Sừng sựng muôn năm cũng để dành ”.

Và một trong những người con ưu tú của mảnh đất Hà Tiên – nhà thơ Đông Hồ đã miêu tả nét đẹp của thiên nhiên Hà Tiên: “Ở đây kỳ thú thay có như hầu đủ hết ! Có một ít hang sâu động hiểm của Lạng Sơn, một ít đảo đá chơi vơi giữa biển của Hạ Long. Có một ít núi đá vôi của Ninh Bình, một ít thạch thất sơn môn của Hương Tích. Có một ít Tây Hồ, một ít Hương Giang. Có một ít chùa chiền của Bắc Ninh, một ít lăng tẩm của Phú Xuân. Có một ít Đồ Sơn, Cửa Tùng ; một ít Nha Trang, Long Hải”…Tất cả đã tạo nên một Hà Tiên xinh đẹp, yên bình, có sức thu hút, hấp dẫn du khách gần xa. Hàng năm, Hà Tiên đón gần 2 triệu lượt du khách đến tham quan, hành hương chiêm bái các chùa chiền và nghỉ dưỡng.

Hình ảnh: Đông Hồ toàn cảnh

Ngoài ra, Hà Tiên còn là cửa ngõ đường biển đến một số nước trong khu vực như Campuchia, Thái Lan, Maylaysia,…Thị xã Hà Tiên đang triển khai thực hiện các chính sách ưu đãi khu kinh tế cửa khẩu, có cửa khẩu Quốc tế nằm tiếp giáp với Campuchia cả trên đất liền và trên biển, cách tỉnh Campốt 60km và cảng Kép 20km (của Vương quốc Campuchia); rất thuận lợi trong việc phát triển kinh tế biên mậu với Campuchia, hoặc quan hệ với Thái Lan qua đường thuỷ, đường bộ (theo tuyến đường xuyên Á); khoảng cách từ Hà Tiên đến đảo Phú Quốc dài 45km, đến khu công nghiệp Ba Hòn – Hòn Chông (huyện Kiên Lương) dài 20km, cách thành phố Rạch Giá và thị xã Châu Đốc tỉnh An Giang khoảng 90km, cách Thành Phố Hồ Chí Minh khoảng 340km. Từ đó có thể khẳng định: vị trí địa lý của Hà Tiên rất thuận lợi cho phát triển kinh tế nội địa liên huyện, liên vùng và xuất nhập khẩu với các nước trong khu vực. 

          Về hành chính, thị xã Hà Tiên có diện tích tự nhiên là 10.048,83 ha (đất nông nghiệp 7.475,96 ha, chiếm tỷ lệ 74,40%; đất phi nông nghiệp 2.370,59 ha, chiếm tỷ lệ 23,59%; nhóm đất chưa sử dụng 202,29 ha, chiếm 2,01%, chủ yếu đất bãi bồi có mặt nước ven biển, núi đá không có rừng cây). Thị xã Hà Tiên được chia thành 04 phường là Tô Châu, Pháo Đài, Đông Hồ, Bình San và 03 xã là Mỹ Đức, Thuận Yên và Tiên Hải (riêng xã đảo Tiên Hải bao gồm 14 đảo, còn gọi là quần đảo Hải Tặc). Dân số toàn thị xã có 49.011 ngườì, cùng với 3 dân tộc Kinh, Hoa, Khmer sinh sống từ rất lâu đời, trong đó dân tộc Kinh chiếm 84,8% tương đương 41.561 người, dân tộc Khmer chiếm 12,05% tương đương với 5.906 người, dân tộc Hoa chiếm 12,96% tương đương 6.352 người, dân tộc khác chiếm 0,19% dân số tương đương 93 người. 

          Về khí hậu: Thị xã Hà Tiên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, được chia thành 02 mùa rõ rệt là mùa mưa và mưa khô. Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau.

Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình năm khoảng 27oC – 27,5oC; nhiệt độ bình quân cao nhất 31,1oC, nhiệt độ bình quân thấp nhất 24,4oC;  chênh lệch nhiệt độ trung bình các tháng không quá 3oC.

Mưa: Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2.100 mm/năm, số ngày mưa 26 – 170 ngày.

Nắng: Số giờ nắng trung bình hàng năm xấp xỉ 2400 giờ; mùa khô trung bình 7 giờ nắng/ngày, mùa mưa trung bình 6,4 giờ nắng/ngày.

Gió: Có 2 hướng chính là gió mùa Đông Bắc mang theo thời tiết se lạnh; gió mùa Tây Nam mang theo thời tiết nóng, ẩm và mưa giông.

Bão: Ít xảy ra bão ảnh hưởng trực tiếp.

Độ ẩm: Độ ẩm trung bình hàng năm từ 80- 82%.

          Về thủy văn:

Biên độ triều cường đạt 1,1m; biến thiên từ 0,5 đến 1m 

Biên độ triều kém từ 0,2 đến 0,5m.

          Trong những năm qua, kinh tế – xã hội thị xã Hà Tiên phát triển khá ổn định, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm trên 18%, GDP bình quân đầu người đạt 64.059 triệu đồng/năm (tương đương 2.912 USD). Tỷ trọng trong cơ cấu kinh tế là: Thương mại – dịch vụ – du lịch chiếm 65,02%, công nghiệp – xây dựng chiếm 18,06%, nông – lâm – ngư nghiệp chiếm 16,93%. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên hiện còn 1,00%, tỷ lệ hộ nghèo còn 6,04% (theo tiêu chí mới). Hộ sử dụng nước sạch đạt 96% và hộ sử dụng điện đạt 98% so tổng số hộ. Tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được bảo đảm và ổn định.

Hiện nay, Thị xã Hà Tiên đang trong quá trình đẩy mạnh phát triển và chỉnh trang đô thị, nhưng nhìn chung vẫn còn giữ được nhiều nét hoang sơ; hệ thống đền, chùa, lăng tẩm vẫn mang nét cổ kính. Người Hà Tiên vốn có bản chất hiền lành, chất phác, tôn trọng nghĩa tình và mến khách, trong sinh hoạt hàng ngày vẫn còn giữ được nét ôn hòa, từ tốn. Tất cả những điều đó đã tạo cho Hà Tiên một khung cảnh thanh bình, thơ mộng. Đây là những giá trị văn hóa mang đậm bản sắc của đất nước – con người Hà Tiên, đã bao đời người dân nơi đây luôn trân trọng, giữ gìn và phát huy, làm nền tảng phát triển kinh tế – xã hội nhanh và bền vững. 

Hình ảnh: Toàn cảnh Thị xã Hà Tiên

Gần 15 năm, kể từ khi thị xã Hà Tiên được thành lập đến nay, là một chặng đường tương đối dài, nhưng so với yêu cầu xây dựng và phát triển để Hà Tiên trở thành một đô thị hiện đại, văn minh thì mới chỉ là những bước đi ban đầu. Tuy vậy, những thành tựu mà Đảng bộ và nhân dân Hà Tiên phấn đấu đạt được đến hôm nay thật đáng tự hào. Đây là tiền đề vô cùng quan trọng, là nguồn cổ vũ động viên rất lớn để Đảng bộ và nhân dân Hà Tiên tiếp tục phát huy và xây dựng Thị xã trở thành Thành phố văn hóa du lịch Xanh – Sạch – Đẹp, với những nét đặc trưng riêng biệt, xứng đáng với công sức và mong muốn của các bậc tiền nhân, bao thế hệ lãnh đạo đã gầy dựng, để lại cho thế hệ hôm nay và mai sau./.

Giới Thiệu Về Nghệ An

Với đa dạng lắm các danh lam thắng cảnh, hệ thống di tích, văn hoá phong phú về số lượng, độc đáo về nội dung, rộng rãi về cái hình, Nghệ An đang là miền đất hứa, là cửa hàng du lịch quyến rũ đối với du khách.

Đường vô xứ Nghệ quanh quéo quanh Non xanh nước biếc như tranh họa đồ…

Nghệ An là một tỉnh giấc to nằm ở phía Bắc miền Trung với cảnh quan thiên nhiên đẹp như tranh vẽ. Nghệ An còn là mảnh đất đã sản sinh nhiều danh nhân lịch sử, nhà khoa bảng, nhà khoa học, nhà văn hóa nổi danh như Mai Hắc Đế, nhà thơ Hồ Xuân Hương… Đặc biệt Nghệ An là quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, 1 nhà yêu nước lớn, một danh nhân bản hóa thế giới và anh hùng phóng thích dân tộc.

Cũng như những tỉnh khác của Việt Nam, truyền thống văn hóa của Nghệ An rất phong phú. Là một tỉnh sở hữu phổ biến dân tộc cộng sinh sống, mỗi dân tộc đều mang 1 bản sắc đẹp văn hóa, ngôn ngữ riêng giàu truyền thống. Nghệ An là xứ sở của nền văn hóa dân gian đặc sắc đẹp có các điệu hò, hát phường vải, hát đò đưa… Du khách đến có bất kỳ lễ hội nào của tỉnh Nghệ An đều với thể thưởng thức dòng hình sinh hoạt văn hóa đặc dung nhan này.

Các bạn đang có dự định du lịch nghệ An thì nên xem: Cẩm nang du lịch Cửa Lò Nghệ An

Nghệ An là xứ sở của các lễ hội cổ truyền diễn ra trên sông nước như lễ hội Cầu Ngư, Rước hến, Đua thuyền … Lễ hội làm sống lại những kỳ tích lịch sử được nâng lên thành huyền thoại, giàu chất sử thi, mặn mòi tính nhân bản như lễ hội đền Cuông, lễ hội làng Vạn Lộc, làng Sen. Miền núi sở hữu những lễ hội như Hang Bua, lễ hội Xàng Khan, lễ Mừng nhà mới, lễ Uống rượu cần.

Nghệ An còn lưu giữ được nhiều di tích văn hoá lịch sử, rộng rãi danh lam thắng cảnh, lễ hội văn hoá truyền thống – đấy là các yếu tố thuận lợi giúp cho du lịch Nghệ An phát triển.

Về du lịch biển, Nghệ An với 82km bờ biển có phổ biến bãi tắm đẹp quyến rũ khách du lịch quốc tế như b ãi biển Cửa Lò, Cửa Hội; Nghi Thiết, Bãi Lữ (Nghi Lộc), Quỳnh Bảng, Quỳnh Phương (Quỳnh Lưu), Diễn Thành (Diễn Châu). Đồng thời Nghệ An siêu sở hữu lợi thế vững mạnh du lịch văn hóa. Hiện nay Nghệ An có trên 1 ngàn di tích lịch sử văn hoá, trong đó với gần 200 di tích lịch sử văn hoá được xếp hạng, đặc biệt là Khu di tích Kim Liên, quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hàng năm đón xấp xỉ 2 triệu lượt quần chúng và du khách đến tham quan nghiên cứu.

Khu di tích lịch sử Kim Liên, bí quyết trọng tâm Tp Vinh 12 km về phía Tây Nam, là khu di tích tưởng vọng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại xã Kim Liên, huyện Nam Đàn. Nơi đây gắn có thời niên thiếu của Chủ tịch Hồ Chi Minh và còn lưu giữ những kỷ niệm thuở nhỏ của cậu bé Nguyễn Sinh Cung, những dấu tích và các kỷ vật của gia đình.

Tìm hiểu thêm: Khám phá các món ăn đặc sản của Cửa Lò Nghệ An

Làng Sen, quê nội của Bác, tên chữ là Kim Liên (bông sen vàng). Làng mang rộng rãi hồ thả sen suốt hai bên đường làng. Ngôi nhà của Chủ tịch Hồ Chí Minh sống thuở nhỏ dựng bằng tre và gỗ, 5 gian, lợp tranh. Trong nhà mang các đồ tiêu dùng giống như các gia đình nông dân: phản gỗ, chõng tre, mẫu võng gai, bàn thờ… Nhà được dựng năm 1901 do công sức và tiền của dân làng góp lại khiến tặng ông Nguyễn sinh Sắc, thân phụ của Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc ông Sắc đỗ Phó Bảng mang đến vinh dự cho cả làng.

Cách làng Sen 2km là làng Chùa (tên chữ là Hoàng Trù) – quê ngoại của Bác Hồ – và cũng là nơi Người đựng tiếng khóc chào đời, được má nuôi dạy những năm ấu thơ.

Khu du lịch thị thành Vinh nằm ở vị trí liên lạc thuận tiện, sở hữu quốc lộ 1A và tuyến đường sắt Bắc – Nam chạy qua, có sân bay Vinh nằm phương pháp trung tâm thành phố ko xa. Thành phố Vinh còn là mai dong giao thông quan trọng giữa miền Bắc và miền Nam. Khách đi du lịch theo tuyến quốc lộ 1A càng ngày càng tăng, lượng du khách tới với Nghệ An theo đấy cũng tăng.

Thành phố Vinh từ lâu đã hấp dẫn du khách bởi một quần thể khu du lịch mang các nét đặc trưng điển hình của 1 thành phố xứ Nghệ. Đến với thị thành Vinh, du khách mang thể tham dự vào nhiều mẫu hình du lịch như: du lịch nghiên cứu, du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng…

Bạn đang xem bài viết Giới Thiệu Về Hà Tiên trên website Samthienha.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!