Xem Nhiều 11/2022 #️ Khai Thác Then Việt Bắc Trong Phát Triển Du Lịch / 2023 # Top 15 Trend | Samthienha.com

Xem Nhiều 11/2022 # Khai Thác Then Việt Bắc Trong Phát Triển Du Lịch / 2023 # Top 15 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Khai Thác Then Việt Bắc Trong Phát Triển Du Lịch / 2023 mới nhất trên website Samthienha.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Việt Bắc được đánh giá là khu vực có hệ thống tài nguyên du lịch nhân văn nổi trội gắn liền với các đặc trưng di sản văn hóa vùng, bên cạnh di sản văn hóa thiểu số Tây Bắc gắn với các dân tộc Thái, Mường. Những nét văn hóa truyền thống đã tạo nên bản sắc độc đáo đem đến sức hút hoạt động du lịch phát triển. Trong Chiến lược và Quy hoạch tổng thể Du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030, du lịch Việt Bắc là yếu tố đặc biệt tạo nên diện mạo du lịch vùng du lịch trung du và miền núi Bắc Bộ. Khu vực Việt Bắc đã xác định một trong những hướng đi quan trọng để phát triển du lịch chính là khai thác tiềm năng từ các giá trị di sản văn hóa, lịch sử, trong đó có Then Việt Bắc.

Then trong đời sống sinh hoạt, tinh thần của đồng bào Việt Bắc

Then là một hiện tượng có vị trí quan trọng trong kho tàng văn hóa dân gian của các tộc người thiểu số Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam, tập trung chủ yếu ở vùng Việt Bắc, gồm 6 tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang.

Cho đến nay, những người yêu thích Then cũng chưa có định nghĩa thống nhất về Then. Song nhiều người đều có quan niệm tương đồng khi cho rằng Then là tiên (có nơi gọi là sliên), là người của trời. Họ là người giữ mối liên hệ giữa người trần gian với Ngọc Hoàng và Long Vương, nhằm giúp cho người trần gian cầu mong mọi sự tốt lành.

Hình thức sinh hoạt của Then đa dạng, phong phú, gắn với đời sống sinh hoạt, tín ngưỡng của đồng bào Việt Bắc. Căn cứ vào nội dung, mục đích, có thể chia Then thành các loại: Then cầu mong (kỳ yên, giải hạn, cầu thọ, cầu hoa…); Then chữa bệnh (chỏi khẩy) để chuộc vía, gọi hồn, phá ngục để giữ yên bản mệnh; Then bói toán (đoán số mệnh, tìm nguyên nhân ốm đau, duyên tình lỡ dở); Then tống tiễn (slống vjác, slống bjoóc) làm lễ tiễn hồn người chết; Then cầu mùa, cầu đảo, diệt trùng; Then chúc tụng, ca ngợi (mừng nhà mới, thăng cấp, đám cưới, sinh con đầu lòng); Then cấp sắc (lẩu vứt, lẩu then).

Nhìn vào hình thức đa dạng phong phú của Then, có thể thấy, Then gắn bó mật thiết  đời sống sinh hoạt và các hoạt động tâm linh, tín ngưỡng của người Tày, Nùng vùng Việt Bắc. Việc lớn, việc nhỏ trong cuộc sống cá nhân, gia đình, cộng động gần như đều có sự xuất hiện của Then. Từ giải sầu, chữa bệnh, tang ma đến việc hỉ, trọng đại… Then là cầu nối của con người giao tiếp với thế giới thần linh, và thông qua Then, con người bày tỏ ước vọng tới các đấng linh thiêng. Then cũng là nơi gửi gắm những quan niệm về con người, thế giới tự nhiên và vũ trụ của đồng bào Tày – Nùng.

    Sức hấp dẫn của Then Việt Bắc

    Then Việt Bắc không chỉ là hơi thở cuộc sống, là sắc màu văn hóa độc đáo của dân tộc Tày, Nùng mà còn có sức hấp dẫn lớn đối với nhiều cộng đồng dân tộc trên dải đất hình chữ S và quốc tế. Sức hấp dẫn ấy, trước hết được chiết tỏa từ những yếu tố văn hóa dân gian hợp thành Then. Có lẽ đến giờ ít ai còn hồ nghi khi nói Then là một loại hình nghệ thuật tổng hợp, bao gồm văn học, âm nhạc, múa, hội họa.

    Yếu tố văn học có thể thấy rõ trong ngôn ngữ Then thể hiện qua lời ca với thể thơ tự sự (phổ biến thất ngôn, ngũ ngôn) và tích truyện phong phú, thân thuộc với đời sống sinh hoạt và tín ngưỡng của đồng bào Tày – Nùng. Đó là câu chuyện đầy nước mắt về sự tích cây thanh thảo trong đoạn Giải vé; cây mía trong Then kỳ yên hay con ve sầu trong đoạn Sai quân pắt ngoảng (Sai quân bắt ve sầu)…, về cảnh quan quân then bắt quân (sluông) gồng gánh lễ vật vượt úi, vượt bể đi cống nạp trong Pây slử…

    Nói đến Then, là nói đến nghệ thuật âm nhạc. Âm nhạc trong Then là một loại hình tổng hợp gồm múa, âm nhạc, trang phục. Trong đó, múa là nghệ thuật đặc sắc. Yếu tố này luôn gắn với nghi lễ thực hành Then. Vũ điệu trong Then thật phong phú: múa chầu, múa chèo thuyền, múa sluông múa lọng tiéo (quét kiệu ngồi) múa phát tàng, múa đén, múa xiên, múa đàn sếu, múa kiếm, múa tán hoa, múa hái hoa… Có những động tác múa trong các điệu múa đơn giản mà uyển chuyển, nhịp nhàng như múa xiên, múa chèo thuyền.  Nhưng có động tác múa khó, yêu cầu phải điêu luyện (múa quần ngựa). Sự phong phú về động tác và điệu múa trong Then, còn phụ thuộc vào từng vùng, từng tài nghệ diễn xuất của các nghệ nhân. Nếu vũ đạo Then Lạng Sơn chắc, khỏe, nảy gọn, đặc biệt là những động tác nhảy lớn mạnh mẽ trên không; Then Tuyên Quang nhịp nhàng, điêu luyện mô phỏng động tác chèo thuyền trong điệu múa sluông thì múa Then Cao Bằng lại mềm mại, nhẹ nhàng, uyển chuyển. Mỗi kiểu múa, động tác múa đều có ngôn ngữ riêng, chuyển tải  thông điệp khác nhau.

    Ngoài múa, âm nhạc của Then còn được tạo bởi hai yếu tố căn bản là lời Then và nhạc cụ. Lời Then gắn với vào nội dung của loại hình Then, của cốt truyện, tích truyện. Tuy nhiên, nó không hoàn toàn phụ thuộc cứng nhắc vào “bổn then” (văn bản Then). Các nghệ nhân – người thực hành nghi lễ Then chỉ dựa vào “bổn then” như một cái sườn ý để ứng tác theo cảm xúc, cảm hứng của người làm Then, đắp đầy thêm lời ca, động tác diễn xướng dân gian. Thanh âm trầm bổng, lúc khoan lúc mau, khi da diết, khi rầm rập… trong nghi lễ Then truyền thống của người Tày Nùng, còn được làm nên bởi đàn tính và bộ xóc – hai nhạc cụ độc đáo, không thể thiếu trong bất cứ một cuộc Then, diễn xướng Then nào.

    Đàn tính hay còn gọi là “đàn then”, “tính tẩu” gắn với huyền thoại dân gian của đồng bào Tày, Nùng. Món quà trời ban tặng đã trở thành nhạc cụ được sử dụng chính trong hát then và đôi khi còn trở thành đạo cụ trong múa thiêng. Tính tẩu được coi như công trình nghệ thuật thẩm mỹ. Đẹp từ đầu đàn, tua đàn, dáng đàn, bầu đàn đến thanh âm. Đầu đàn thường được chạm khắc theo hình rồng, long mã, phượng hoặc một thứ hoa (hoa chuối) hoặc hình linh bài. Có khi được chạm khắc công phu hình “lý ngư vọng nguyệt” hoặc các chữ “phúc, thọ, ninh, khang”. Phía trên được trang trí bằng tua đàn cầu kỳ, đẹp mắt. Âm sắc của tính tẩu diễn tả rất nhiều cung bậc tình cảm bởi nghệ thuật đàn và cảm xúc của người hát – đồng thời cũng là người đàn. m thanh của lời ca, đàn tính đã tạo nên những giá trị vi diệu “Kẻ quá tàng nghìn tiểng lượn Then/Mừa rườn táng piến pần bảo ón” (Người già qua đường nghe tiếng hát Then/Về nhà sẽ biến thành đầu xanh tuổi trẻ) – Tục ngữ Tày.

    Bên cạnh giá trị độc đáo được tạo nên từ tính nguyên hợp văn hóa dân gian, Then còn hấp dẫn bởi màu sắc huyền bí của Shaman giáo. Những nghi lễ Then bao giờ cũng gắn với yếu tố tâm linh có sự đồng hiện của mô mình hai thế giới, cõi âm – cõi trần. Trong đó, Then đã dùng đến thứ ánh sáng diệu kỳ để hướng tới khát vọng về cuộc sống tốt đẹp, an lành.

    Tóm lại, Then là một phức thể văn hóa có nguồn gốc từ một loại hình tín ngưỡng phức hợp, đã và đang tiếp tục chuyển hóa theo hướng phân hóa và thế tục hóa; Then tích hợp trong đó nhiều loại hình nghệ thuật và lấy nghệ thuật diễn xướng làm phương tiện thực hành. Then Việt Bắc đã thể hiện đầy đủ bản chất nhân sinh qua việc phản ánh đời sống người Tày, Nùng trên một không – thời gian rộng lớn; chứa đựng vô vàn tri thức và thực hành xã hội Tày, Nùng: từ hệ thống quan niệm tín ngưỡng đến việc giải thích thế giới hiện thực khách quan; từ việc chuẩn bị đến tổ chức nghi lễ; từ việc bảo tồn đến phát huy các giá trị hiện có. Với những giá trị độc đáo như vậy, Then không chỉ là điệu tâm hồn của đồng bào Tày, Nùng mà còn là tiềm năng vô cùng phong phú trong việc phát triển du lịch văn hóa của khu vực.

      Khai thác giá trị văn hóa của Then Việt Bắc trong hoạt động du lịch

      Dưới góc nhìn du lịch, Then Việt Bắc được coi là thế mạnh độc đáo để phát triển, đặc biệt loại hình du lịch văn hóa tâm linh đặc sắc. Trong đó, các giá trị văn hóa tín ngưỡng trở thành nền tảng quan trọng để hình thành, phát triển hoạt động du lịch. Bởi, Then gắn với lịch sử tộc người, gắn với niềm tin tín ngưỡng và các hoạt động diễn xướng dân gian. Khai thác những yếu tố nguyên hợp, tích hợp  của Then với tư cách là loại hình văn hóa dân gian đặc sắc của dân tộc thiểu số (nghi thức, tích truyện, âm nhạc, nhạc cụ, trang phục…) để tạo ra điểm nhấn trong du lịch của khu vực Đông Bắc sẽ là một hướng phát triển tất yếu và hiệu quả. Với những giá trị độc đáo, nhiều mã số văn hóa kỳ thú, du khách sẽ được trải nghiệm không gian văn hóa tâm linh Tày Nùng – những cộng đồng dân tộc được xem là chủ thể văn hóa khu vực Đông Bắc. Tuy nhiên, chọn hướng đi, cách làm thế nào để vừa tạo điểm nhấn thu hút khách, vừa bảo tồn, không làm tổn thương đến Then, đó là bài toán không hề đơn giản. Thiết nghĩ, có mấy điểm cần chú ý sau:

      Thứ nhất, cần hướng tới khai thác sự khác biệt của mỗi vùng chúng tôi là loại hình văn hóa dân gian. Nó có mẫu số chung, nhưng cũng có những điểm sáng tạo riêng qua khả năng ứng tác của các nghệ nhân khi thực hành nghi lễ Then, của đặc trưng văn hóa từng vùng. Chẳng hạn, Then ở Cao Bằng khác Then Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Hà Giang. Trong cùng một tỉnh nhưng Then ở mỗi huyện lại có điểm khác biệt về tình tiết trong tích truyện, nghệ thuật diễn xướng (lời ca, điệu múa…). Chẳng hạn, ở Lạng Sơn, Then ở mỗi huyện Tràng Định, Bắc Sơn, Bình Gia, Văn Mịch, Văn Quan cũng có những điểm sáng tạo riêng trong vũ đạo, động tác, nghi lễ. Thậm chí, trong cùng một huyện như Tràng Định, then ở cánh đồng (Cáp Kẻ, Vàng Cai) khác với Then vùng đồi núi, thung lũng (Tân Tiến). Khai thác sự khác biệt của dòng Then, vùng Then chính là cách tạo ra điểm thu hút khách du lịch.

      Thứ hai, cần thu hút du khách bằng đa dạng hóa sản phẩm du lịch từ Then như kết hợp du lịch tâm linh với du lịch văn hóa – sinh thái, đặc biệt là phối hợp khai thác giá trị văn hóa của các di sản (cũng đã được công nhận) khác, kể cả của các dân tộc khác ở địa phương. Trong đó chú trọng:

      + Xây dựng các chương trình, tiết mục từ thực hành Then để phục vụ khách tham quan tại chỗ. Tìm chọn những trích đoạn Then cổ đặc sắc, có độ dài vừa phải, trong không gian văn hóa Tày – Nùng để biểu diễn. Chẳng hạn như các trích đoạn Tẳng tướng, Khảm hải, Pây slử, Khao sluông, Khao mạ, Vun hoa, Mởi nàng hai… Đồng thời, để tạo nên sức lôi cuốn cho du khách đến với các buổi biểu diễn Then, cần xây dựng các chương trình ca, múa nhạc có sự kết hợp hài hòa giữa Then cổ và Then mới, giữa nghệ nhân biểu diễn và du khách. Nên khai thác khả năng đặt lời mới, kể cả có cải biên, miễn sao cho phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp, tạo điều kiện gắn bó hoặc gần gũi với du khách.

      + Thiết kế đồ lưu niệm gắn với thực hành Then như tranh, ảnh, các tờ bưu thiếp; các nhạc cụ, đạo cụ gắn với thực hành Then (đàn tính, xóc, mũ Then…); các con giống đeo chìa khóa xe, con cù treo ô tô theo hình con vật thiêng trong Then (chim én, ngựa, ve sầu, rồng, phượng và hươu nai, hoặc tua rua hình con ếch…); các hiện vật tâm linh gắn với thực hành Then các lá bùa cầu bình an của nhà Then, các loại dấu triện của Then đã được cách điệu thành móc chìa khóa hoặc cù treo ô tô, vòng buộc vía bằng kim loại, dây buộc vía bằng chỉ ngũ sắc, vòng tay phong thủy khắc hình dấu ấn nhà Then..). Ngoài ra, có thể sản xuất băng đĩa về hát Then do các nghệ nhân và nghệ sỹ biểu diễn…

      Giá trị văn hóa độc đáo, đặc sắc của Then Việt Bắc là một kho tàng quý báu, là trữ lượng văn hóa dồi dào để phát triển du lịch vùng Đông Bắc. Với xu hướng nhu cầu của khách du lịch hiện nay, tìm đến sự khác biệt, thậm chí sự khác biệt của khác biệt về văn hóa để khám phá, thưởng thức và trải nghiệm thì việc khai thác giá trị của Then Việt Bắc, đặc biệt thực hành Then – di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại – để phát triển du lịch vùng, quốc gia là một trong những hướng đi khả thi, hứa hẹn hiệu quả tốt đẹp./.

                                                                                                                                       Phương Thái

      MỘT SỐ HÌNH ẢNH HOẠT ĐỘNG THEN

      Khai Thác Tốt Tiềm Năng Trong Phát Triển Du Lịch / 2023

      Với những tiềm năng và lợi thế sẵn có, các dự án giao thông trọng điểm cùng với các dự án lớn về du lịch đưa vào khai thác, và đặc biệt là sự định hướng, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực du lịch tại địa phương, Quảng Ninh tiếp tục giữ vững vị thế điểm sáng của ngành Du lịch cả nước. Dù vậy, trước tác động của đại dịch Covid-19 vẫn cần thêm nhiều giải pháp duy trì thành quả để trong năm 2020 du lịch Quảng Ninh phát triển hiệu quả, bền vững hơn.

      Vịnh Hạ Long là điểm đến hấp dẫn, thu hút du khách trong và ngoài nước.

      Những ngày này, đi đến đâu ở Quảng Ninh chúng ta cũng được nghe đến các hoạt động kích cầu du lịch; xúc tiến quảng bá hình ảnh du lịch Hạ Long – Quảng Ninh điểm đến “An toàn, hấp dẫn, trách nhiệm”.

      Đặc biệt, nhiều hoạt động du lịch được diễn ra sôi động, hấp dẫn và rộng khắp trong toàn tỉnh với chuỗi 64 sự kiện, hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch, thương mại. Trong tháng 10/2020, 30 sự kiện, hoạt động du lịch đã được diễn ra; dự kiến tháng 11 và 12/2020 có 34 sự kiện.

      Nổi bật như Tuần hàng Thủy sản Quảng Ninh kết hợp với Hội chợ OCOP, Hội mùa vàng Bình Liêu, Festival Áo dài, Festival Diều biển quốc gia Hạ Long 2020, Tuần Văn hóa, Thể thao các dân tộc vùng Đông Bắc tỉnh Quảng Ninh lần thứ III và Ngày hội Văn hóa, Thể thao các dân tộc tỉnh Quảng Ninh năm 2020…

      Hưởng ứng chương trình “Hành trình con thuyền di sản vịnh Hạ Long” do Tỉnh Đoàn phát động, Trường Tiểu học Quang Trung (TP Hạ Long) tổ chức chuyến tham quan Vịnh Hạ Long với sự tham gia của 60 thầy cô giáo, học sinh và phụ huynh học sinh. Ảnh:Nguyễn Dung

      Những sự kiện, hoạt động du lịch trên đã thu hút khách tới du lịch tại Quảng Ninh nhằm thực hiện có hiệu quả chương trình “Người Việt Nam đi du lịch Việt Nam”. Vào các dịp cuối tuần, khách du lịch đến với Hạ Long- Quảng Ninh đã tăng dần trở lại. Chỉ tính riêng 2 ngày cuối tuần 24 và 25/10 vừa qua, Quảng Ninh đã đón trên 13.400 lượt khách du lịch tham quan và nghỉ dưỡng.

      Sức hấp dẫn của Quảng Ninh đã được du khách người Mỹ Ksenia McGrad đánh giá cao: “Lần đầu tiên nghỉ đêm trên Vịnh Hạ Long, tôi thấy đây là trải nghiệm rất hấp dẫn, vừa có thể thư giãn, vừa ngắm cảnh. Trong hành trình, tôi còn được trải nghiệm chèo thuyền kayak và ngắm nhìn những khung cảnh và hang động của Vịnh Hạ Long; tham quan các điểm du lịch như Bảo tàng Quảng Ninh, phố cổ Bãi Cháy… đều rất đẹp và thú vị”.

      Anh Lê Văn Tùng, quận Hà Đông, TP Hà Nội cùng gia đình vừa đến tham quan Vịnh Hạ Long, bảo tàng Quảng Ninh, khu nghỉ dưỡng suối khoáng nóng Onsen Quang Hanh… “Hạ Long có nhiều dịch vụ du lịch và cảnh quan đẹp mà không ở đâu có được. Điều đó giải thích vì sao Hạ Long lại hấp dẫn du khách đến vậy”, anh Tùng cho biết.

      Khách du lịch nghỉ dưỡng tại Legacy Yên Tử.

      Sự phục hồi nhanh chóng của du lịch Quảng Ninh trước ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 còn khẳng định những nỗ lực đoàn kết vượt mọi khó khăn của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Quảng Ninh. Những chủ trương, chính sách, các chỉ thị, nghị quyết nhằm kích cầu du lịch của tỉnh đã thực sự đi vào cuộc sống.

      Những tín hiệu vui này còn tạo động lực để Quảng Ninh hoàn thành mục tiêu đón 3 triệu lượt khách du lịch trong 3 tháng cuối năm 2020.

      Tất nhiên, để hoàn thành mục tiêu này Quảng Ninh hoàn toàn có cơ sở. Ngoài việc tung ra các gói kích cầu du lịch thì Quảng Ninh đã có hạ tầng du lịch đồng bộ, hiện đại, tạo ra các sản phẩm du lịch đa dạng, đặc sắc, nâng cao chất lượng dịch vụ, như: Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn, cảng tàu khách quốc tế Hạ Long, khu nghỉ dưỡng Vinpearl Hạ Long, công viên Đại dương, quần thể du lịch nghỉ dưỡng và sân gofl FLC, khu nghỉ dưỡng Yên Tử Legacy, khu nghỉ dưỡng suối khoáng nóng Onsen Quang Hanh… Đồng thời hệ thống khách sạn, khu nghỉ dưỡng cao cấp từ 3 sao trở lên hiện có trên 7.500 phòng, góp phần kéo dài thời gian trải nghiệm, lưu trú và tăng chi tiêu của du khách.

      Di sản – Kỳ quan thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long, các di tích quốc gia đặc biệt và trên 600 di tích khác của tỉnh được quan tâm đầu tư, bảo tồn, phát huy bền vững giá trị gắn với phát triển du lịch.

      Nguồn nhân lực ở khu vực dịch vụ, du lịch tăng từ 36,7% (năm 2015) lên 41,9% (năm 2020).

      Tổng số khách du lịch 5 năm qua (2016-2020) ước đạt 53 triệu lượt; doanh thu du lịch tăng bình quân 11,9%/năm; du lịch đóng góp khoảng 7,1% tổng thu ngân sách nội địa (giai đoạn 2011-2015 chiếm 5,1%).

      Du lịch phát triển đã góp phần làm thay đổi diện mạo của tỉnh, nâng cao vị thế và hình ảnh Quảng Ninh trong quá trình hội nhập quốc tế, tạo động lực thúc đẩy các ngành kinh tế khác cùng phát triển. Hình ảnh du lịch Hạ Long- Quảng Ninh ngày càng đậm nét trên bản đồ du lịch thế giới.

      Nguyễn Hoa

      ​Khai Thác Tiềm Năng Để Phát Triển Du Lịch / 2023

      ​Có nhiều tiềm năng và thế mạnh để phát triển du lịch nhưng đến nay, Kon Tum vẫn chưa tận dụng được những lợi thế ấy để đưa du lịch trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh. Để khai thác tiềm năng, thế mạnh, tỉnh đã đề ra các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.

      Ông Nguyễn Xuân Truyền – Phó Giám đốc Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch cho biết: Nguyên nhân dẫn đến ngành Du lịch tỉnh chậm phát triển thì có nhiều. Có thể nêu một vài nguyên nhân chính như nguồn ngân sách tỉnh còn eo hẹp nên việc đầu tư phát triển ngành Du lịch trong thời gian qua rất ít. Tỉnh chưa có cơ chế, chính sách thu hút các doanh nghiệp đầu tư phát triển hạ tầng và các dịch vụ phục vụ du lịch; các doanh nghiệp kinh doanh du lịch của tỉnh còn nhỏ lẻ, manh mún, mạnh ai nấy làm, chưa liên kết với nhau để đầu tư phát triển du lịch và thu hút khách; công tác tuyên truyền, quảng bá du lịch còn hạn chế; nguồn nhân lực phục vụ cho ngành Du lịch vừa thiếu, vừa yếu; dịch vụ tại các điểm du lịch trên địa bàn tỉnh còn nghèo nàn, chưa tạo được thương hiệu và dấu ấn riêng để thu hút du khách…

      Lễ hội đường phố thu hút đông đảo du khách đến xem. Ảnh: Q.Đ

      Để khắc phục những hạn chế trên, thời gian qua, UBND tỉnh đã chỉ đạo các cấp, các ngành đẩy mạnh thực hiện các nhiệm vụ phát triển du lịch; trong đó nhấn mạnh đến các yếu tố về khai thác cảnh quan thiên nhiên, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể, tạo nên chuỗi giá trị trong mối liên kết vùng và liên vùng để phục vụ phát triển du lịch, đưa ngành này trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh.

      Đặc biệt, năm 2017, Tỉnh ủy đã ban hành Chương trình 35-CTr/TU (ngày 18/5/2017) về thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW (ngày 16/1/2017) của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Trên cơ sở đó, ngày 1/8/2017, UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 2058/KH-UBND về thực hiện Chương trình 35 của Tỉnh ủy và Quyết định số 1607/QĐ-UBND (ngày 28/12/2016) phê duyệt Đề án phát triển du lịch tỉnh Kon Tum đến năm 2020 và ban hành nhiều văn bản chỉ đạo khác để phát triển ngành du lịch.

      Theo Quyết định số 1607, mục tiêu cụ thể đến năm 2020, tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2016 – 2020 tổng lượt khách đạt 24,3%; đến năm 2020, tổng lượng khách du lịch đạt 727.000 lượt (trong đó, khách quốc tế 322.000 lượt, khách nội địa 405.000 lượt); doanh thu du lịch tăng hơn 3 lần so với năm 2015, tạo việc làm cho 2.860 lao động; tăng cơ sở lưu trú lên 235 cơ sở, số lượng cơ sở lưu trú đạt tiêu chuẩn 4 sao gấp 2 lần so với năm 2015; công suất sử dụng phòng đạt 73,5%; công nhận ít nhất 2 khu du lịch cấp tỉnh , từ 3-5 điểm du lịch cấp huyện; đầu tư và phát triển ít nhất 3 làng du lịch cộng đồng…

      Để đạt được những mục tiêu đó, tỉnh đã đề ra các nhiệm vụ và giải pháp như: Tuyên truyền sâu rộng tới mọi tầng lớp trong xã hội về vai trò, vị trí, tầm quan trọng của du lịch đối với sự phát triển kinh tế – xã hội; về ý thức và trách nhiệm trong bảo vệ môi trường, đảm bảo chất lượng dịch vụ du lịch, xây dựng phong cách ứng xử văn minh…

      Chú trọng đầu tư hoàn thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho phát triển du lịch tại các khu, điểm du lịch trọng điểm của tỉnh; tập trung nguồn lực và có cơ chế, chính sách huy động nguồn lực để triển khai các dự án trọng điểm về đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng các khu, điểm du lịch; thu hút các doanh nghiệp có tiềm lực tài chính để đầu tư phát triển hệ thống trung tâm thương mại, siêu thị; tập trung phát triển hệ thống cơ sở lưu trú theo hình thức nhà có phòng cho thuê, phát triển các khu du lịch, điểm du lịch, đặc biệt tại một số làng đồng bào DTTS…

      Nghiên cứu thị trường mục tiêu của du lịch Kon Tum nhằm định hướng xây dựng các sản phẩm du lịch phù hợp, phát huy được tài nguyên du lịch, lợi thế của Kon Tum; phát triển đa dạng sản phẩm du lịch trên cơ sở khai thác tốt tài nguyên du lịch, phát huy lợi thế của tỉnh, tập trung vào các sản phẩm du lịch; định vị thương hiệu du lịch Kon Tum.

      Bên cạnh đó, nâng cao chất lượng lao động du lịch; chất lượng đào tạo của các cơ sở có chức năng đào tạo chuyên ngành du lịch; tuyên truyền nâng cao nhận thức về du lịch cho doanh nghiệp du lịch, người lao động và cộng đồng; khuyến khích doanh nghiệp, người lao động tự đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực phù hợp với nhu cầu thực tiễn; khuyến khích phát triển và hỗ trợ kinh phí cho hoạt động của các nghệ nhân, các hoạt động văn hóa cộng đồng, làng nghề truyền thống và các lễ hội văn hóa phục vụ du lịch…

      Quang Định

      Khai Thác Tiềm Năng Phát Triển Du Lịch Biển, Đảo / 2023

      Du lịch biển đang trở thành một chiến lược phát triển của ngành du lịch nhằm tận dụng các cảnh quan và sinh thái vùng ven biển để phát triển kinh tế, tăng thu nhập cho người dân cũng như tăng nguôn ngân sách Trung ương và địa phương. Trong cuộc hội thảo mới đây về quản lý và phát triển du lịch biển, đảo Việt Nam, các chuyên gia du lịch khẳng định, du lịch biển và kinh tế đảo là một trong 5 đột phá về kinh tế biển, ven biển.

      Việt Nam có bờ biển dài trên 3.000 km, hàng ngàn hòn đảo lớn nhỏ, hàng loạt những bãi tắm cát trắng, nước trong xảnh trải dài trên ven biển Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi cho du lịch biển phát triển. Những bãi biển, vịnh biển của Việt Nam được du khách cả thế giới biết đến như vịnh Hạ Long, vịnh Nha Trang, bãi biển

      Đà Nẵng đwocj Tạp Forber bầu chọn la fmột trong 6 bãi tắm quyến rũ nhất hành tinh… cũng đã nói lên sức hút của biển Việt Nam đối với du khách trong và ngoài nước.

      Dọc ven biển Việt Nam đã có khoảng 125 bãi biển thuận lợi cho việc phát triển du lịch, trên 30 bãi biển đã được đầu tư và khai thác. Trong đó, các khu vực biển có tiềm năng lớn đã đầu tư phát triển là vịnh Hạ Long – Hải Phòng – Cát Bà; Huế – Đà Nẵng – Quảng Nam; Vân Phong – Đại Lãnh – Nha Trang; Vũng Tàu – Long Hải – Côn Đảo; Hà Tiên – Phú Quốc; Phan Thiết – Mũi Né.

      Hệ thống cơ sở lưu trú vùng ven biển không ngừng tăng lên, đặc biệt số lượng những cơ sở lưu trú từ 3 sao trở lên phần lớn tập trung ở các địa phương ven biển. Theo thống kê, vùng ven biển có gần 1.400 cơ sở lưu trú với trên 45.000 buồng. Đội ngũ lao động du lịch vùng ven biển hiện chiếm khoảng 65% tổng số lao động trực tiếp của cả nước, tập trung nhiều nhất ở TP.Hồ Chí Minh, Bà Rịa – Vũng Tàu (trên 60%); Thừa Thiên – Huế, Đà Nẵng (8,5%); Hải Phòng – Quảng Ninh (8,1%). Bên cạnh đó, sự phát triển của du lịch biển còn tạo việc làm gián tiếp cho 60 vạn lao động là các dân cư ven biển.

      Theo Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu Phát triển du lịch, trong một thời gian dài, tỷ trọng khách du lịch, thu nhập từ du lịch biển so với du lịch cả nước không có sự thay đổi đáng kể, mặc dù vùng ven biển là lãnh thổ có nhiều thuận lợi hơn những vùng lãnh thổ khác về tài nguyên du lịch… Du lịch biển Việt nam vẫn chưa tạo được sự hấp dẫn đặc biệt đối với khách du lịch. Năm 2006, khách du lịch quốc tế đến Việt Nam bằng đường biển chiếm khoảng trên 6% trong tổng lượt khách quốc tế. Thời gian neo đậu của tàu du lịch ở các cảng chỉ từ 8 đến 24 giờ, do đó, khách không có nhiều cơ hội tham quan, giải trí mua sắm.

      Nguyên nhân được các chuyên gia đưa ra là hiện nay ở Việt Nam hầu hết các cảng biển là cảng hàng hoá, chưa có cảng chuyên biệt cho tàu du lịch. Nhiều cảng có trọng tải lớn không thể cập bờ và phải di chuyển khách bằng canô hoặc tàu du lịch mất nhiều thời gian, giảm hứng thú cho du khách. Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền và quảng bá về du lịch biển Việt Nam lâu nay chưa được quan tâm đúng mức. Du lịch Việt Nam chưa tham gia các hội nghị, hội chợ chuyên về du lịch biển và du lịch tàu biển trên thế giới.

      Để ngành Du lịch Việt Nam phát triển bền vững, Tổng cục Du lịch cho biết, cuối năm nay Tổng cục sẽ trình Chính phủ Đề án phát triển du lịch biển, đảo mục tiêu năm 2010 và tầm nhìn 2020. Theo đó, đến năm 2020, kinh tế biển và ven biển đóng góp khoảng 53-55% GDP cả nước, trong đó du lịch biển là khâu đột phá thứ 4 sẽ có mức đóng góp khoảng 14-15% GDP của nền kinh tế biển quốc gia.

      Để đạt được mục tiêu trên, theo các chuyên gia về kinh tế biển, cần có những giải pháp đồng bộ như vấn đề quy hoạch và quản lý quy hoạch phát triển du lịch biển; đầu tư phát triển các loại hình du lịch biển; vấn đề môi trường biển; củng cố và mở rộng thị trường khách du lịch tàu biển; xây dựng một chương trình đào tạo mới, đào tạo lại nguồn nhân lực phục vụ phát triển du lịch biển; vấn đề cạnh tranh trong phát triển du lịch; sự tham gia của cộng đồng và hoạt động phát triển du lịch; vấn đề quản lý tổng hợp sự phát triển của các ngành kinh tế biển…

      Về nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ phục vụ du khách nghỉ dưỡng biển, yếu tố quan trọng nhất trong việc thu hút khách du lịch biển là tạo sự khác biệt. Vấn đề ở đây là biển Việt Nam có gì khác biệt so với biển nước khác. Nếu chỉ đơn thuần nhấn mạnh về tiện nghi của một khu resort nghỉ dưỡng 5 sao thì người ta có thể tìm thấy ở Hawaii, Bali hay Phuket… do đó bên cạnh dịch vụ cao cấp du khách còn được hưởng những nét văn hoá truyền thống, các chương trình tham quan tìm hiểu cuộc sống thường ngành của người dân địa phương, các nét độc đáo về ẩm thực, di tích lịch sử, những lời ca, điệu múa… tại nơi đang nghỉ dưỡng.

      Bạn đang xem bài viết Khai Thác Then Việt Bắc Trong Phát Triển Du Lịch / 2023 trên website Samthienha.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!