Luận Văn: Thực Hiện Chính Sách Phát Triển Du Lịch Biển Đà Nẵng

Cập nhật thông tin chi tiết về Luận Văn: Thực Hiện Chính Sách Phát Triển Du Lịch Biển Đà Nẵng mới nhất ngày 29/10/2020 trên website Samthienha.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, bài viết này đã đạt được 3,663 lượt xem.

, DOWNLOAD ZALO 0932091562

Published on

Luận văn thạc sĩ ngành chính sách công: Thực hiện chính sách phát triển du lịch biển từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng, cho các bạn tham khảo

  1. 1. VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI NGÔ PHÚ MƯỜI THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG HÀ NỘI, năm 2020-2021-2021
  2. 2. VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI NGÔ PHÚ MƯỜI THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Chuyên ngành: Chính sách công Mã số: 834.04.02 LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: Samthienha.com BÙI NHẬT QUANG HÀ NỘI, năm 2020-2021-2021
  3. 3. 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm qua, Đảng và Chính phủ ta luôn quan tâm đến phát triển du lịch, đã có những chính sách đột phá để tạo động lực cho các địa phương phát triển về du lịch. Từ đó, chất lượng du lịch ở mỗi địa phương nói riêng và du lịch Việt Nam nói chung phát triển mạnh mẽ, hình ảnh du lịch ngày càng được nâng cao. Nhiều điểm du lịch được đầu tư nâng cấp, mở rộng trở thành điểm đến hấp dẫn của du khách trong nước và Quốc tế. Ngành Du lịch đang được Chính phủ và Lãnh đạo thành phố quan tâm. Từ năm 1997 tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng được chia tách ra làm hai đơn vị hành chính, đó là tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng trực thuộc Trung ương. Đến nay, Đảng bộ và chính quyền thành phố Đà Nẵng luôn quan tâm đến phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch biển. Bên cạnh những khó khăn thách thức, thì ngành du lịch cũng có những điều kiện thuận lợi để phát triển, đó là Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại Thế giới (WTO), Thành viên Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc… Ban chỉ đạo du lịch từ Trung ương đến địa phương được củng cố và chương trình kích cầu du lịch được Chính phủ tiếp tục đầu tư. Có thể thấy, ngành du lịch thành phố Đà Nẵng nói chung và du lịch biển nói riêng đã đạt được nhiều thành tựu nổ bật, đã góp phần đáng kể vào sự phát triển chung của thành phố. Đảng bộ và chính quyền thành phố xác định du lịch biển là một ngành có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển du lịch cũng như kinh tế – xã hội của thành phố Đà Nẵng, phù hợp với vị trí địa lý, thiên nhiên ưu đãi và xu thế phát triển của đất nước. Do vậy, phát triển du lịch, trong đó phát triển du lịch biển đã được thành phố Đà Nẵng đặc biệt quan tâm và để thực hiện các mục tiêu phát triển, hàng
  4. 4. 2 loạt chương trình, chính sách đã được ban hành. Thành phố Đà Nẵng được biết đến là một thành phố xanh, sạch, đẹp, văn minh và thân thiện. Thành phố Đà Nẵng được mệnh danh là thành phố đáng sống; thêm vào đó là một thành phố trẻ, năng động, sáng tạo, tạo dựng được nhiều lợi thế về vị trí địa lý, thiên nhiên so sánh đối với các tỉnh Duyên hải miền Trung. Với những đặc điểm vốn có, Đà Nẵng có nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch, đặt biệt những thế mạnh hấp dẫn về du lịch biển với nhiều danh lam thắng cảnh du lịch nổi tiếng, bờ biển với tổng chiều dài khoản 60km kéo dài từ chân đèo Hải Vân cho đến Non Nước. Biển Đà Nẵng không chỉ chinh phục được du khách trong và quốc tế với nhiều cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp mà còn là một trong những bãi biển thuộc diện sạch và an toàn thu hút được một lượng khách du lịch hằng năm kéo đến đây. Cùng với những lợi thế đó, trong nhiều năm qua trên cơ sở thực hiện 03 đột phá về phát triển kinh tế – xã hội theo Nghị quyết Đại hội lần thứ XXI Đảng bộ thành phố Đà Nẵng cùng với Nghị quyết 03 của Thành ủy về đẩy mạnh phát triển du lịch trong tình hình mới và chương trình hành động của UBND thành phố thực hiện Nghị quyết 33 của Bộ Chính trị, và gần đây là Nghị quyết 92/NQ-CP của Chính phủ về một số giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch Việt Nam trong thời kỳ mới; Nghị quyết 08/NQ-TW của Bộ chính trị về phát triển ngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; ngành du lịch của thành phố Đà Nẵng đang từng bước khẳng định vị thế của mình trên bản đồ du lịch chung của Việt Nam, trong khu vực và quốc tế. Sự phát triển toàn diện của ngành du lịch đã giúp kinh tế xã hội của thành phố Đà Nẵng phát triển mạnh mẽ trong thời gian qua, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao, Đà Nẵng tự hào khi trở thành thành phố biển nổi tiếng về du lịch. Tuy nhiên, đi đôi với sự phát triển vẫn còn nhiều tồn tại và thách thức cần khắc phục, cụ thể: Chưa có được những sản phẩm du lịch chủ lực đặc thù; chất lượng sản
  5. 5. 3 phẩm du lịch chưa cao, khả năng cạnh tranh hạn chế; nhiều khu du lịch, điểm du lịch phát triển tự phát, chưa được đầu tư đúng tầm gây ảnh hưởng, ô nhiễm môi trường tự nhiên; thiếu các khu vui chơi giải trí có quy mô lớn và sức hấp dẫn đáp ứng nhu cầu đa dạng và ngày càng cao của du khách; nhiều chương trình du lịch còn đơn điệu, trùng lặp, đội ngũ nhân lực còn thiếu; sức hấp dẫn của du lịch Đà Nẵng trên thị trường du lịch quốc tế còn hạn chế. Tuy sở hữu một trong sáu bãi biển đẹp nhất thế giới, nhưng hiện nay tiềm năng du lịch biển Đà Nẵng chưa được khai thác phù hợp để đủ sức thu hút khách du lịch. Vấn đề làm cản trở sức hấp dẫn của du lịch biển Đà Nẵng đã được không ̣ ít du khách cho rằng: các dịch vụ vui chơi giải trí ở các khu du lịch biển dường như quá thiếu và nghèo nàn; đồng thời với chất lượng giá cả các loại hình kinh doanh dịch vụ tại các khu du lịch biển còn quá nhiều bất cập. Bên cạnh đó, vấn đề ô nhiễm môi trường do sự thiếu ý thức của người dân, của khách du lịch, của việc xử lý nước thải, rác thải của các dịch vụ phục vụ du lịch đã và đang trở thành yếu tố cản trở sự phát triển du lịch biển Đà Nẵng. Vào mùa du lịch biển, các bãi biển Đà Nẵng luôn đông khách, nhưng phần lớn là người dân thành phố, khách nội địa chiếm vị trí thứ hai. Khách du lịch nước ngoài có chăng chỉ tập trung ở khu vực bãi biển các khách sạn 5 sao như: Furama, Premier, Crowne plaza… Những hạn chế nêu trên đã làm cho ngành du lịch nói chung và du lịch biển nói riêng của thành phố Đà Nẵng đang đứng trước thách thức về sự phát triển. Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi chọn đề tài: “Thực hiện chính sách phát triển du lịch biển từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” để làm luận văn Thạc sỹ tốt nghiệp chuyên ngành chính sách công góp phần nâng cao hiệu quả của việc thực hiện chính sách nầy là việc làm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn. 2. Tình hình nghiên cứu của đề tài Phát triển du lịch nói chung hay phát triển du lịch biển nói riêng, ngày nay
  6. 6. 4 đang được Đảng, Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương quan tâm, hiện đã có nhiều tác giả nghiên cứu và viết bài trên các tạp chí, sách báo về chính sách phát triển du lịch biển như: “Thực trạng và một số giải pháp nhằm phát triển du lịch thành phố Đà Nẵng” của tác giả Nguyễn Thị Như Lâm – Hoàng Thanh Hiền (2010) “Thực trạng sản phẩm du lịch thành phố Đà Nẵng với khả năng liên kết phát triển du lịch vùng Duyên hải miền Trung” của tác giả Phùng Tấn Viết (2013) “Phát triển ngành du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” của tác giả Hồ Kỳ Minh (2011) Các đề tài tập trung nghiên cứu vào các nội dung: Đánh giá tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch nói chung hay du lịch biển thành phố Đà Nẵng trong những năm qua; phân tích về du lịch Đà Nẵng trong bối cảnh cạnh tranh và hội nhập quốc tế; phân tích và dự báo nguồn khách du lịch đến Đà Nẵng; Đề xuất các nhóm giải pháp dự báo phát triển du lịch biển trên địa bàn thành phố Đà Nằng đến năm 2020-2021 về kinh tế, văn hóa – xã hội, cùng các kiến nghị đối với các cơ quan quản lý nhà nước. Bên cạnh đó có một số đề tài nghiên cứu về phát triển du lịch khác như: ”Xây dựng chiến lược thương hiệu du lịch thành phố Đà Nẵng” của tác giả Nguyễn Xuân Vinh (2010). “Phát triển loại hình dịch vụ sinh thái tại khu du lịch bán đảo Sơn Trà, Thành phố Đà Nẵng” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hiệp (2012) Nhìn chung, các đề tài nghiên cứu đều quan tâm đến vấn đề về lý luận và thực tiễn về thực trạng phát triển du lịch biển tại thành phố Đà Nẵng. Tuy nhiên, vấn đề phát triển du lịch biển ở Đà Nẵng mới chỉ được quan tâm đến một số khía, chủ yếu tập trung quan tâm các nội dung để phát triển du lịch biển nói riêng và ngành du lịch nói chung trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của thành
  7. 7. 5 phố Đà Nẵng, như tăng cường khả năng cạnh tranh lành mạnh của các doanh nghiệp du lịch tư nhân, doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nâng cao chất lượng phục vụ, sản phẩm du lịch, quản lý nhà nước về du lịch, phát triển mạnh kinh doanh lưu trú trong du lịch… Để phát triển du lịch biển ở thành phố Đà Nẵng trên các lĩnh vực kinh tế – xã hội nhưng đảm bảo về bảo vệ môi trường và nghiên cứu các yếu tố tác động khác có thể tác động đến phát triển du lịch của thành phố Đà Nẵng; chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống, đề xuất giải pháp và cơ chế chính sách. Thành phố Đà nẵng có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch đặc biệt là du lịch biển, nhưng việc nghiên cứu các giải pháp để phát triển chưa được đề cập nhiều. Do đó, đề tài luận văn về Thực hiện chính sách phát triển du lịch biển từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng không trùng lặp với các công trình đã công bố. 3.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1.Mục đích nghiên cứu Làm rõ những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách phát triển qua đó phân tích, đánh giá thực trạng phát triển du lịch biển, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm phát triển du lịch biển tại thành phố Đà Nẵng. 3.2.Nhiệm vụ nghiên cứu Luận án có các nhiệm vụ như sau: Nhiệm vụ thứ nhất: Làm rõ những vấn đề lý luận về phát triển du lịch biển là gì? Nhiệm vụ thứ hai: Làm rõ việc thực hiện chính sách phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng như thế nào? Từ đó thấy được những thành tựu và hạn chế chính sách phát triển du lịch biển của thành phố. Nhiệm vụ thứ ba: Thực hiện những giải pháp để tăng cường việc thực hiện chính sách phát triển du lịch biển ở thành phố Đà Nẵng. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1.Đối tượng nghiên cứu
  8. 11. 9 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHO NGHIÊN CỨU VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN TẠI ĐÀ NẴNG 1.1. Cơ sở lý luận 1.1.1. Các khái niệm cơ bản Samthienha.com lịch biển Du lịch biển là một ngành kinh doanh các hoạt động như hướng dẫn du lịch, trao đổi hàng hóa và các dịch vụ của các doanh nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu thăm quan, nghỉ dưỡng, ăn uống, vui chơi, tìm hiểu và các nhu cầu khác của khách du lịch. Các hoạt động đó phải đem lại lợi ích kinh tế thiết thực cho nước làm du lịch và cho bản thân doanh nghiệp (định nghĩa của Khoa quản trị Kinh doanh Du lịch và Khách sạn, Đại học Kinh tế Quốc dân). Các nhà nghiên cứu về du lịch đưa ra định nghĩa về du lịch như sau: Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình. Nơi họ đến thăm quan, nghỉ dưỡng không phải là nơi ở và là nơi làm việc của họ. Ngoài ra, còn có nhiều nhà nghiên cứu định nghĩa khác: “Du lịch là sự kết hợp và tương tác của 4 nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ du khách bao gồm: du khách, nhà cung ứng dịch vụ du lịch, cư dân sở tại và chính quyền địa phương nơi đón khách du lịch”. Trong đó khách du lịch là khách hàng rời khỏi nơi cư trú thường xuyên đi đến các nơi khác và quay trở lại nhằm thỏa mãn các mục đích khác nhau, nhà cung ứng là các tổ chức kinh tế, đơn vị hành chính sự nghiệp cung cấp các sản phẩm và dịch vụ cần thiết cho hoạt động du lịch; dân cư sở tại là những người dân ở tại địa phương diễn ra hoạt động du lịch; chính quyền địa phương là cơ quan quản lý nhà nước cấp địa phương tại điểm du lịch.
  9. 12. 10 Du lịch biển là loại hình du lịch gắn liền với việc sử dụng tài nguyên biển (tài nguyên biển trong du lịch bao gồm: bãi biển, các loại sinh vật biển như tôm, cá, san hô,…) gắn với bản sắc văn hóa địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm đáp ứng nhu cầu giải trí, ăn uống, khám phá, thăm quan,… của khách du lịch. Ngày nay, du lịch đã trở thành một nhu cầu thiết yếu của con người để nghỉ dưỡng sau thời gian làm việc căng thẳng cũng như có nhu cầu thăm quan tăng thêm sự hiểu biết về phong cảnh, con người xung quanh. Tuy nhiên, hiện nay quan điểm nhận xét về du lịch của người làm du lịch và các nhà nghiên cứu về du lịch vẫn còn có sự khác nhau trong lĩnh vực này. Nhìn từ góc độ kinh tế: Du lịch là một ngành kinh tế, dịch vụ có nhiệm vụ phục vụ cho nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ ngơi, có hoặc không kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác. Như vậy, chúng ta thấy được du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, bao gồm nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp. Nó vừa mang đặc điểm của ngành kinh tế vừa có đặc điểm của ngành văn hóa – xã hội. 1.1.1.2.Chính sách công và Chính sách phát triển du lịch biển Chính sách công là tổng thể chương trình hành động của chủ thể nắm quyền lực công, nhằm giải quyết những vấn đề có tính cộng đồng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội theo phương thức nhất định nhằm đạt được các mục tiêu đề ra và đảm bảo cho xã hội phát triển bền vững, ổn định. Từ cách hiểu như trên ta có thể thấy chính sách công có những đặc trưng cơ bản sau: – Chính sách công là sản phẩm của chủ thể nắm giử quyền lực công nên bất cứ chủ thể nào nắm quyền lực công đều có khả năng ban hành chính sách công.
  10. 29. 27 đến việc thực hiện chính sách. Qua đó, góp phần làm sáng tỏ thêm những vấn đề về lý luận, những mặt ưu, khuyết điểm, tồn tại, hạn chế trong quá trình thực hiện chính sách phát triển du lịch biển ở thành phố Đà Nẵng hiện nay.
  11. 30. 28 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 2.1. Khái quát về tình hình phát triển du lịch biển tại thành phố Đà Nẵng Những năm qua, bên cạnh việc khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên du lịch, thành phố Đà Nẵng đã vận dụng sáng tạo các cơ chế, chính sách, huy động các nguồn lực để chỉnh trang đô thị, đầu tư xây dựng, nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng, xây dựng hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch, xây dựng các điểm, các loại hình, sản phẩm du lịch… đặc sắc, mang tính riêng của thành phố Đà Nẵng. Góp phần thúc đẩy ngành du lịch phát triển, trở thành một trong các trung tâm du lịch lớn của cả nước, có vai trò đầu tàu, là trung tâm phân phối nguồn khách du lịch cho các địa phương khu vực miền Trung và Tây Nguyên… Ngành du lịch dần trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và góp phần to lớn vào sự phát triển kinh tế – xã hội của thành phố Đà Nẵng; giải quyết công ăn việc làm; bảo vệ môi trường sinh thái và đưa hình ảnh Đà Nẵng đến với bạn bè thế giới… Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, ngành du lịch của thành phố Đà Nẵng còn nhiều hạn chế, bất cập, kết quả chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế. Nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu, thiếu các khu mua sắm, khu vui chơi và dịch vụ giải trí về đêm. Thiếu các dịch vụ, sản phẩm du lịch đặc sắc riêng mang đẳng cấp quốc tế. Công tác xúc tiến, quảng bá hiệu quả chưa cao, thị trường khách thiếu ổn định… Từ những vấn đề đặt ra ở trên, cần nghiên cứu, đánh giá thực trạng, xác định nguyên nhân của các tồn tại, hạn chế, đúc kết các bài học kinh nghiệm từ đó đề xuất các cơ chế, chính sách và giải pháp nhằm thúc đẩy ngành du lịch của thành phố Đà Nẵng phát triển mạnh, nhất là du lịch cao cấp, hình thành trung
  12. 31. 29 tâm du lịch ven biển lớn tầm cỡ quốc gia và quốc tế. 2.2. Tình hình thực hiện chính sách phát triển du lịch biển tại thành phố Đà Nẵng Nghị quyết số 33-NQ/TW đề ra phương hướng “phát triển mạnh du lịch, nhất là du lịch cao cấp, hình thành trung tâm du lịch ven biển lớn tầm cỡ quốc gia và quốc tế”. Điều đó đã khẳng định vai trò, vị trí của du lịch đối với sự phát triển của Đà Nẵng. Đồng thời, là căn cứ quan trọng để thành phố xây dựng các chương trình, đề án, vận dụng sáng tạo các cơ chế, chính sách, tạo sự đột phá để phát triển trong những năm qua. Trong bối cảnh đó, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố đã đoàn kết, nỗ lực thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra, giữ được sự ổn định tình hình và phát triển du lịch tương đối toàn diện. Thực hiện Nghị quyết 33-NQ/TW, Ban Thường vụ Thành uỷ Đà Nẵng đã phê duyệt nhiều chủ trương, chính sách, kế hoạch, chương trình hành động cụ thể để chỉ đạo, tạo cơ chế, điều kiện thuận lợi, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội thành phố; Kế hoạch số 19-KH/TU triển khai quán triệt, tổ chức thực hiện Nghị quyết và Chương trình hành động số 16-CTr/TU, trong đó đề ra 12 chương trình trọng tâm trên các ngành, lĩnh vực để thực hiện Nghị quyết, trong đó, du lịch thuộc chương trình số 03 được phê duyệt tại Quyết định số 109/2004/QĐ-UB ngày 22/6/2004 ban hành Chương trình “Tập trung phát triển mạnh du lịch và các dịch vụ mà thành phố có thế mạnh, xây dựng Đà Nẵng trở thành một trong những trung tâm thương mại, du lịch, dịch vụ lớn của cả nước” và Quyết định số 188/2004/QĐ-UB ngày 25/11/2004 phê duyệt Kế hoạch triển khai “Chương trình Tập trung phát triển mạnh du lịch và các dịch vụ mà thành phố có thế mạnh, xây dựng Đà Nẵng trở thành một trong những trung tâm thương mại, du lịch, dịch vụ lớn của cả nước”. Ngoài ra, căn cứ tình hình thực tiễn, ban hành các chương trình, kế hoạch,
  13. 32. 30 đề án phát triển du lịch: – Quyết định số 7099/QĐ-UBND ngày 17/9/2010 phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển văn hóa, thể thao và du lịch thành phố Đà Nẵng đến năm 2020-2021”; – Quyết định số 5528/QĐ-UBND ngày 30/6/2011 ban hành “Chương trình Phát triển du lịch thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2011-2015”; – Quyết định số 7383/QĐ-UBND ngày 11/9/2015 ban hành “Đề án Phát triển du lịch thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2020-2021-2021-2020”; – Kế hoạch số 10652/KH-UBND ngày 30/12/2017 ban hành kế hoạch hành động triển khai thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; – Đề án phát triển dịch vụ thành phố Đà Nẵng đến năm 2020-2021-2021, tầm nhìn đến năm 2020-2021. Đề án Quản lý và khai thác các bãi biển du lịch Đà Nẵng. Đề án Phát triển nguồn nhân lực du lịch giai đoạn 2011-2015, tầm nhìn đến năm 2020-2021. Đề án Phát triển mạnh các ngành dịch vụ trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đến năm 2020-2021, định hướng đến năm 2035… Thành phố đã đầu tư xây dựng các tuyến đường du lịch như: Đường Nguyễn Tất Thành, đường Hoàng Sa – Võ Nguyên Giáp – Trường Sa, nhằm phục vụ khách du lịch. Hệ thống bãi tắm công cộng trên tuyến đường Hoàng Sa – Võ Nguyên Giáp – Trường Sa và đường Nguyễn Tất Thành cơ bản phục vụ tốt cho người dân và khách du lịch đến Đà Nẵng. Đến nay đã có 11 bãi tắm công cộng được đầu tư với tổng vốn 82,2 tỷ đồng đưa vào phục vụ người dân và du khách. Hệ thống thông tin liên lạc cơ bản đã hoàn thành và đưa vào phục vụ cho các dự án đầu tư tại bán đảo Sơn Trà; đã triển khai lắp đặt mạng lưới Wifi tại một số vị trí trung tâm thành phố để phục vụ khách đến tham quan và du lịch tại Đà Nẵng.
  14. 33. 31 Thành phố tập trung kêu gọi đầu tư trong và ngoài nước, hình thành các trung tâm du lịch biển quốc tế, trọng tâm là các dự án tại bán đảo Sơn Trà, ven biển đường Hoàng Sa – Võ Nguyên Giáp – Trường Sa, khu vực Làng Vân, Nam Ô… Ngoài ra, thành phố đầu tư trồng cây xanh, phát triển hệ thống điện chiếu sáng và trang trí, vệ sinh môi trường đảm bảo, trật tự xã hội ổn định góp phần thu hút du khách đến Đà Nẵng. 2.3. Kết quả thực hiện chính sách phát triển du lịch biển tại thành phố Đà Nẵng Thứ nhất, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội: Trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2020-2021-2021, lượng khách du lịch đến thành phố Đà Nẵng tăng bình quân 21%/năm, trong đó khách quốc tế tăng bình quân 30%/năm, khách nội địa tăng bình quân 17%/năm. Từ hơn 2.700.000 lượt khách năm 2012 tăng lên 5.510.000 lượt khách năm 2020-2021-2021 Các bộ, ngành Trung ương hỗ trợ, đầu tư xây dựng một số công trình trọng điểm phục vụ dân sinh và phát triển du lịch, như: Hầm đường bộ Hải Vân, Quốc lộ 14B, Cầu Trần Thị Lý, Cung Thể thao Tiên Sơn, Cầu Thuận Phước, Ga hàng không quốc tế Đà Nẵng, đường Đà Nẵng – Hội An…, góp phần tác động mạnh mẽ đến tình hình phát triển kinh tế – xã hội thành phố và khu vực miền Trung – Tây Nguyên. Ngoài ra, thành phố đã chủ động phối hợp lập quy hoạch sử dụng đất quốc phòng tại các khu vực Nam Hải Vân, bán đảo Sơn Trà… phục vụ phát triển kinh tế gắn với quốc phòng, an ninh. Ngoài ra, thành phố đã chủ động xin Bộ Quốc phòng cho sử dụng một phần đất tại bán đảo Sơn Trà (300m từ mực nước biển trở lên) để phục vụ phát triển du lịch biển. Thành phố tập trung kêu gọi đầu tư trong và ngoài nước, hình thành các trung tâm du lịch biển quốc tế, trọng tâm là các dự án tại bán đảo Sơn Trà, ven biển đường Sơn Trà – Điện Ngọc (nay là đường Hoàng Sa – Võ Nguyên
  15. 35. 33 – Các bãi biển có khả năng thu hút khách nội địa: Xuân Thiều, Nam Ô. – Các bãi biển có khả năng thu hút dân cư địa phương: Thanh Bình, Thanh Khê, Thọ Quang, Mân Thái… Bảng 2.2. Đánh giá sức thu hút của các bãi biển ở Đà Nẵng (Ghi chú: Theo thang điểm: Độ sạch của nước biển, phong cảnh, sức chứa, khả năng phát triển sản phẩm, khả năng thu hút, tính biệt lập…) Điểm thu hút (các bãi biển) Độ sạch Phong cảnh Sức chứa K/năng pt sản phẩm Khả năng thu hút Tính biệt lập TỔNG ĐIỂM 1-5 đ 1-5 đ 1-5 đ 1-5 đ 1-5 đ 1-5 đ Làng Vân 4 3,5 3 4 3 4 21,5 Nam Ô 3 3 2 2 2,5 2,5 15 Xuân Thiều 3,5 2,5 4 2,5 3,5 2 18 Thanh Khê 3 2 3 1 2 1,5 12,5 Xuân Hà 3 2 3 1 2 1,5 12,5 Tam Thuận 3 2 3 1 2 1,5 12,5 Thanh Bình 3 2,5 2 1 2 1,5 12 Tiên Sa 4 3,5 2 3 3,5 2,5 18,5 Bãi Bắc 4 3,5 2 3 1 3 16,5 Bãi Nam 4 3,5 2 3 2 3 17,5 Bãi Bụt 4 3,5 2 3 2,5 3 18 Thọ Quang 3 2 3 1 1 1,5 11,5 Mân Thái 3 2 3 1 1 1,5 11,5 Phước Mỹ 3,5 2,5 4 3 4,5 2 19,5 Bắc Mỹ An 3,5 2,5 4 2 4,5 2 18,5 Sân Bay Nước Mặn 3,5 2,5 3 2 3 2 16 Non Nước 3,5 3,5 4 3 4,5 2,5 21 (Nguồn: sở Khoa học và Công nghệ thành phố Đà Nẵng đánh giá năm 2008)
  16. 37. 35 Tuấn nhận định, du lịch Đà Nẵng thời gian qua đã có bước phát triển mạnh mẽ, trở thành điểm đến nổi tiếng trong và ngoài nước. Những chính sách phát triển du lịch Đà Nẵng đã được nhân dân thành phố hưởng ứng. Đây chính là những bài học, mô hình hay để nhân rộng trên cả nước. – Đặc biệt năm 2020-2021-2021 thành phố Đà Nẵng được chọn là nơi tổ chức Đại hội Thể thao Bãi biển Châu Á lần thứ 5 (ABG5). Các hoạt động trong sự kiện: Cuộc đua thuyền buồm quốc tế Clipper Race đã góp phần quảng bá hình ảnh, thu hút du khách đến với thành phố. Năm 2020-2021-2021 ước đón 5,51 triệu lượt khách du lịch, đạt 107,2% KH, tăng 17,7%(1) ; tổng thu từ hoạt động du lịch ước đạt 15.979 tỷ đồng, bằng 107,1% KH, tăng 24,7%. Thành phố vinh dự được nhận danh hiệu “Điểm đến hàng đầu Châu Á về sự kiện và lễ hội” tại Lễ trao giải thưởng du lịch thế giới World Travel Awards năm 2020-2021-2021. Bốn năm liên tiếp từ năm 2013 đến năm 2020-2021-2021 đạt danh hiệu “Top 10 điểm đến nghỉ dưỡng hàng đầu Châu Á” do độc giả Tạp chí Smart Travel Asia bình chọn, tiếp tục khẳng định thương hiệu của du lịch thành phố đã bắt đầu lan toả đến thị trường quốc tế. Du lịch thành phố Đà Nẵng đã xây dựng nhiều tour tuyến, sản phẩm du lịch đưa vào phục vụ khách như: tour du lịch city tour “Khám phá phố biển Đà Nẵng”, tour lặn biển ngắm san hô, câu cá, khám phá Sơn Trà, xích lô du lịch, tour đường thủy nội địa… nhưng chủ yếu vẫn là các điểm tham quan danh thắng Ngũ Hành Sơn, bán đảo Sơn Trà, Bảo tàng Đà Nẵng, Bà Nà… Qua cuộc điều tra khảo sát, sự đóng góp của du lịch trong GRDP thành phố Đà Nẵng, hoạt động du lịch đóng góp vào ngân sách Nhà nước thông qua thuế sản phẩm năm 2020-2021-2021 đạt 1.847 tỷ đồng. Đóng góp tổng hợp của du lịch vào GRDP Đà Nẵng năm 2020-2021-2021 đạt 23,72% (16.544 tỷ đồng), trong đó: đóng góp trực tiếp là 13,24% (9.234 tỷ đồng) và đóng góp gián tiếp (lan tỏa) là 10,48% (7.310 tỷ đồng). Để đạt được những con ( 1) Khách quốc tế ước đạt 1,67 triệu lượt, đạt 126,2% KH, tăng 31,6%.
  17. 38. 36 số ấn tượng này, không thể không kể đến vai trò của việc đầu tư, nâng cấp các sản phẩm du lịch mới, hấp dẫn như: quần thể du lịch sinh thái Bà Nà – Suối Mơ, bán đảo Sơn Trà, các khu du lịch Hòa Phú Thành, Helio, Công viên Núi Thần Tài, Công viên Châu Á… Bên cạnh đó, công tác xúc tiến, quảng bá được chú trọng quan tâm cả ở trong nước và nước ngoài; các sự kiện lớn thu hút khách du lịch được thành phố tổ chức hàng năm như: Cuộc thi trình diễn pháo hoa quốc tế, Cuộc thi marathon quốc tế, Cuộc đua thuyền buồm quốc tế Clipper Race, Khai trương mùa du lịch biển, Đà Nẵng – Điểm hẹn mùa hè, Đại hội Thể thao bãi biển Châu Á. Đồng thời, công tác đảm bảo môi trường du lịch tiếp tục được giữ vững, đảm bảo về an ninh, an toàn, nhiều mô hình mới được đưa vào hoạt động hiệu quả tạo tâm lý an tâm cho du khách như Trung tâm hỗ trợ du khách, Đội cứu hộ biển, Lực lượng chống chèo kéo khách du lịch, Tổ phản ứng nhanh. Thứ hai, giải quyết việc làm trong ngành du lịch. Du lịch tạo ra theo tác động tổng hợp là 140.536 việc làm, chiếm 25,43% tổng số lao động có việc làm trên địa bàn thành phố năm 2020-2021-2021 (552.696 người – Cục Thống kê), trong đó trực tiếp tạo ra 77.026 việc làm, chiếm 13,94% tổng số lao động có việc làm tại Đà Nẵng. Gián tiếp tạo ra 63.511 việc làm cho các ngành khác, chiếm 11,49% tổng số lao động có việc làm tại Đà Nẵng. Trong đó, tập trung chủ yếu tại khách sạn 47,2%, nhà hàng 34,2%, quản lý Nhà nước 0,5%. Chất lượng nguồn nhân lực du lịch tuy có bước phát triển nhưng chưa cao, số lao động được đào tạo đúng chuyên môn về du lịch còn thấp, chỉ chiếm 40.6% số lao động toàn ngành, nhà hàng 16,4%, khách sạn 49,4%, lao động chưa có ngoại ngữ 61,97% (Nguồn: Đề án Phát triển nguồn nhân lực du lịch). Trong những năm qua, với sự hỗ trợ tích cực của Trung ương và sự chủ động phát huy nội lực của địa phương, thành phố đã triển khai thực hiện nhiều giải pháp thiết thực, tạo điểm nhấn quan trọng trong việc phát triển liên kết Vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung, trong đó bước đầu đã tạo lập và được sự
  18. 39. 37 thừa nhận về vai trò khu vực, phát triển khá toàn diện trong lĩnh vực du lịch. Nhiều công trình, dự án quy mô lớn được đầu tư xây dựng, góp phần rút ngắn khoảng cách địa lý, tăng cường liên kết phát triển kinh tế – xã hội. Hạ tầng du lịch được tập trung đầu tư, nhiều khu du lịch, tour, tuyến, sản phẩm, từng bước liên kết và tạo không gian kinh tế thống nhất toàn Vùng. 2.4. Ưu điểm và hạn chế trong thực hiện chính sách phát triển du lịch biển tại thành phố Đà Nẵng 2.4.1. Ưu điểm Thứ nhất, cơ chế chính sách phát triển du lịch của thành phố phù hợp với tình hình thực tế tạo điều kiện cho du lịch biển phát triển, ổn định về chính trị, an ninh trật tự, là điểm đến an toàn thân thiện cho du khách. Thứ hai, trong thời gian qua các sở, ngành, địa phương cũng đã cố gắng trong việc huy động tiềm năng và nguồn lực để tập trung phát triển du lịch. Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ trẻ làm du lịch có chuyên môn nghiệp vụ chuyên nghiệp bước đầu được quan tâm hơn. Thứ ba, sự phối hợp giữa các sở, ban, ngành, quận, huyện trong phát triển du lịch đã có sự chuyển biến tích cực. Nhận thức của các cấp, các ngành và cộng đồng đối với hoạt động du lịch được nâng cao đồng bộ, môi trường du lịch được cải thiện tốt. Thứ tư, thương hiệu du lịch Đà Nẵng ngày càng được khẳng định là điểm đến an toàn, thân thiện, sản phẩm và dịch vụ đa dạng, đẳng cấp với thế mạnh về du lịch nghỉ dưỡng biển, MICE và các loại hình giải trí phong phú, đặc sắc khác2 ; Thành phố đã tổ chức thành công nhiều sự kiện lớn, mang tầm quốc tế 2 Hệ thống các khu vui chơi giải trí lớn: Khu vui chơi giải trí đặc biệt dành cho người nước ngoài Crown Plaza, các khu vui chơi thể thao biển, Công viên Châu Á… đáp ứng phần nào nhu cầu của du khách đến Đà Nẵng. Nhiều tour tuyến, sản phẩm du lịch đưa vào phục vụ khách như: Tour liên kết của Đà Nẵng – Huế – Quảng Nam và các tỉnh miền Trung Tây Nguyên đã đưa vào khai thác các chương trình tour “Con đường di sản miền Trung”, “Con đường xanh Tây Nguyên”, “Đường Hồ Chí Minh huyền thoại”; tour du lịch city tour “Khám phá phố biển Đà Nẵng”, tour lặn biển ngắm san hô, câu cá, khám phá Sơn Trà, tour đường thủy nội địa với các điểm tham quan chính như: Danh thắng Ngũ Hành Sơn, bán đảo Sơn Trà, Bảo tàng Đà Nẵng, Bà Nà, Bảo tàng Mỹ
  19. 40. 38 như: Tuần lễ cấp cao APEC 2020-2021-2021, Cuộc thi Pháo hoa quốc tế, Cuộc thi Marathon, Dù lượn và đua Thuyền buồm quốc tế, Đại hội Thể thao bãi biển Châu Á – ABG5, Đại hội Du lịch Golf Châu Á … Đồng thời, tập trung đầu tư và kêu gọi đầu tư hạ tầng du lịch, hình thành các trung tâm du lịch biển quốc tế, trọng tâm là các dự án ven biển Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn. Thứ năm, việc mở thêm các đường bay mới đến Đà Nẵng đã tạo điều kiện khai thác khách du lịch đến bằng đường hàng không tăng cao. Cụ thể, các hãng hàng không Korean Air, Asiana Airlines đã tăng chuyến bay từ 2 chuyến/tuần lên 3-4 chuyến/tuần, Hãng Silk Air tăng 4 chuyến/tuần lên 5 chuyến/tuần. Tính đến nay, thành phố có 31 đường bay quốc tế trực tiếp đến Đà Nẵng, trong đó có 143 đường bay trực tiếp thường kỳ và 174 đường bay trực tiếp thuê chuyến với tổng tần suất 269 chuyến/tuần. Thứ sáu, du lịch đường biển đã có sự tăng trưởng đáng kể. Năm 2020-2021-2021 đón 78 chuyến tàu với 120.000 lượt khách. Tuy nhiên, việc mở các tuyến du lịch đường biển như: Đà Nẵng – Singapore, Đà Nẵng – Hồng Kông đến nay vẫn chưa thực hiện được do các tuyến này hiện nay đều nắm trong hải trình chung khu vực Đông Nam Á của các hãng du lịch tàu biển. Nguồn khách có nhu cầu đi bằng đường biển tại các điểm trên đến Đà Nẵng không nhiều và chưa phát triển, Thuật… Khu du lịch Bà Nà Hills cũng đã được đầu tư xứng tầm quốc tế, bao gồm nhiều hạng mục như Cáp treo, khu vui chơi giải trí trong nhà Fantasy Park, khách sạn và nhiều hạng mục khác đã đưa vào khai thác khách du lịch từ năm 2009 đến nay. 3 Singapore-Đà Nẵng (Silk Air), Hồng Kông-Đà Nẵng (Dragon Air, HK Expss, Jetstar), Siêm Riệp – Đà Nẵng (Vietnam Airlines, Silk Air), Incheon – Đà Nẵng (Asiana Airlines, Korean Airlines, Vietnam Airlines, Jin Air, Jeju Air, T’way Air), Quảng Châu – Đà Nẵng (Vietnam Airlines), Narita – Đà Nẵng (Vietnam Airlines), Kuala Lumpur – Đà Nẵng (Air Asia), Hàng Châu – Đà Nẵng (Vietnam Airlines), Busan – Đà Nẵng (Air Busan, JinAir, T’Way), Macao-Đà Nẵng (Air Macau), Bangkok – Đà Nẵng (Bangkok Airways, Thai Air Asia), Đài Bắc – Đà Nẵng (Jestar), Daegu – Đà Nẵng (T’ways), Osaka – Đà Nẵng (Jetstar). 4 Bắc Kinh – Đà Nẵng (China Eastern Airlines), Thành Đô – Đà Nẵng (Vietnam Airlines), Thượng Hải – Đà Nẵng (Vietnam Airlines), Nam Ninh – Nam Kinh – Đà Nẵng (China Eastern Airlines, Vietnam Airlines), Quảng Châu – Đà Nẵng (Hainan), Tam Á – Đà Nẵng (Far Eastern Air), Lan Châu – Đà Nẵng (Vietnam Airlines), Thẩm Quyến – Đà Nẵng (Vietnam Airlines), Côn Minh – Đà Nẵng (China Eastern), Trịnh Châu – Đà Nẵng (China Southern Airlines), Hợp Phi – Đà Nẵng (Vietnam Airlines), Tần Hoàng Đảo – Đà Nẵng (Vietjet Air), Vũ Hán – Đà Nẵng (Vietjet Air), Tây An – Đà Nẵng (Vietjet Air), Cheongju – Đà Nẵng (Jin Air), JeJu – Đà Nẵng (Eastar), Muan – Đà Nẵng (T’way).
  20. 41. 39 việc mở các tuyến này chưa thật sự thu hút các đối tác đầu tư. 2.4.2. Những hạn chế, bất cập Những thành tựu là rất rõ nét. Tuy nhiên, so với mục tiêu xây dựng du lịch biển nói riêng và ngành du lịch nói chung trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của thành phố thì Đà Nẵng cần phải có bản sắc riêng, mang tầm vóc quốc tế vẫn đang là thách thức lớn trước mắt và lâu dài. Ngành du lịch biển còn thiếu chính sách ưu đãi đầu tư, nhất là thu hút đầu tư nước ngoài, nhằm phát triển sản phẩm du lịch, dịch vụ vui chơi giải trí, nhất là giải trí về đêm; doanh nghiệp vẫn còn gặp khó khăn trong vấn đề tiếp cận đất đai đầu tư để phát triển tạo thêm sản phẩm du lịch mới; chưa có nhiều sản phẩm đặc trưng hướng tới thị trường khách quốc tế. Tại hội nghị Thành ủy Đà Nẵng (mở rộng) lần thứ 18, năm 2020-2021-2021, Bí thư Thành ủy Đà Nẵng Trần Thọ đánh giá: Mặc dù, du lịch Đà Nẵng đạt được nhiều thành công, song cũng lưu ý là “lượng khách du lịch lưu trú tại Đà Nằng vẫn còn thấp hơn so với tỉnh Quảng Nam anh em”, do nhiều du khách vẫn chỉ xem Đà Nẵng là điểm trung chuyển để ra Huế hoặc vào Hội An lưu trú. Tại kỳ họp thứ 11 HĐND TP Đà Nẵng khóa VIII, Trưởng Ban Kinh tế – Ngân sách HĐND TP Đà Nẵng Mai Đức Lộc đã chỉ rõ: “Đà Nẵng tuy được đánh giá là một trong những điểm đến du lịch hấp dẫn nhưng lượng khách quốc tế chưa nhiều và điều đáng quan tâm là các chỉ số về thời gian lưu trú, mức chi tiêu của du khách vẵn chưa có sự cải thiện căn bản. Theo ông Mai Đức Lộc, “nguồn đóng góp cho ngân sách từ lĩnh vực du lịch chưa tương xứng với sự đầu tư rất lớn mà Đà Nẵng đã bỏ ra trong những năm qua”. Thành phố phát triển tốt về cơ sở hạ tằng giao thông, lưu trú. Nhưng những dịch vụ cho một nền du lịch chất lượng cao như: nhân lực, mua sắm, giải trí… chưa đáp ứng yêu cầu và đến nay Đà Nằng vẫn chưa triển khai việc hoàn thuế VAT cho du khách.
  21. 42. 40 – Chính sách hỗ trợ cho một số hoạt động du lịch của thành phố chậm được ban hành. Doanh nghiệp vẫn còn gặp khó khăn trong vấn đề tiếp cận nguồn vốn để đầu tư, phát triển sản phẩm, chưa chủ động tạo sản phẩm du lịch đặc sắc, các sản phẩm du lịch hiện có chủ yếu phục vụ du lịch nội địa, chưa có nhiều sản phẩm đặc trưng hướng tới thị trường khách quốc tế. Việc chèo kéo du khách vẫn chưa được khắc phục triệt để. Trong kế hoạch phát triển tổng thể kinh tế, thành phố Đà Nẵng chưa giải quyết thỏa đáng bài toán lựa chọn ưu tiên giữa phát triến vùng du lịch ven biển với vùng dịch vụ hậu cần nghề cá và cảng biển… – Nhiều dự án đầu tư ven biển và tại trung tâm thành phố triển khai xây dựng chậm, thiếu quỹ đất để hình thành cụm khu vực mua sắm, vui chơi giải trí, nhất là vui chơi giải trí về đêm cho khách du lịch trong nước và quốc tế. Các dịch vụ giải trí, thể thao biển chỉ mới khai thác một số môn thể thao nhưng giá dịch vụ còn cao. – Thành phố đã quy hoạch vị trí xây dựng cầu tàu, bến du thuyền, tuy nhiên các dự án chậm triển khai; điểm đến, tour tuyến chưa phong phú; thiếu cảng biển chuyên phục vụ du lịch; chưa khai thác hết tiềm năng tuyến biển đường Nguyễn Tất Thành; chậm hình thành chợ đêm và các khu mua sắm, ẩm thực, giải trí tập trung quy mô lớn. – Du lịch biển là thế mạnh, nhưng hình thành chưa đủ mạnh để cạnh tranh với các nước trong vùng và quốc tế, việc xác định sản phẩm đặc thù của Đà Nẵng vẫn còn chưa rõ nét. – Về phát triển tour, tuyến, tuy có sự phát triển mở rộng không gian, hình thành nhiều tour, tuyến mới nhưng việc khai thác vẫn còn hạn chế, chưa thực sự hấp dẫn thị trường khách quốc tế. – Chưa xây dựng và triển khai nhiều các chương trình nâng cao nhận thức cộng đồng để đổi mới tư duy về phát triển du lịch biển.
  22. 44. 42 phát triển du lịch biển còn hạn chế. – Kinh phí đầu tư cho phát triển du lịch biển chưa xứng tầm. – Năng lực của nhà quản lý trong hoạch định chính sách còn hạn chế về một số kỹ năng chính như kỹ năng dự báo, định hướng vấn đề… Kết luận Chương 2 Chương 2 đã đề cập đến quá trình thực trạng thực hiện chính sách phát triển du lịch biển tại thành phố Đà Nẵng, các văn bản chính sách về du lịch đã đựợc Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng ban hành. Chính sách đánh giá ưu, khuyết điểm và hạn chế trong quá trình thực hiện chính sách: cách tiếp cận, phương pháp thực hiện; kế hoạch triển khai thực hiện chính sách; công tác phổ biến, tuyên truyền; phân công phối hợp triển khai thực hiện giữa các sở, ban, ngành; công tác duy trì, điều chỉnh, kiểm tra, giám sát, đánh giá, tổng kết việc thực hiện chính sách. Qua việc phân tích, đánh giá thực trạng, những vấn đề được rút ra về ưu, khuyết điểm và những tồn tại cần khắc phục trong thực hiện chính sách phát triển du lịch biển tại thành phố Đà Nẵng ở chương 2 là cơ sở thực tiễn quan trọng nhằm đề xuất những phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển du lịch biển tại thành phố Đà Nẵng.
  23. 45. 43 CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 3.1. Yêu cầu nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển du lịch biển tại thành phố Đà Nẵng Để việc thực hiện chính sách phát triển du lịch biển tại thành phố Đà Nẵng được nâng cao hơn nữa thì cần phải đổi mới tư duy phát triển du lịch, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức trong các cấp, các ngành và nhân dân về vị trí, vai trò của ngành du lịch trong phát triển kinh tế – xã hội. Chuyển hướng du lịch thành phố theo hướng nâng cao chất lượng dịch vụ và sản phẩm du lịch; hình thành các sản phẩm, dịch vụ phục vụ nhằm kéo dài thời gian lưu trú và tăng mức chi tiêu của khách. Phát huy hơn nữa các lợi thế, xây dựng Đà Nẵng trở thành là điểm đến có thương hiệu, hấp dẫn và có sức cạnh tranh cao trong khu vực, nơi thường xuyên tổ chức các sự kiện lớn tầm cỡ khu vực và quốc tế; là điểm đến du lịch “xanh” hấp dẫn, an toàn, môi trường trong lành, con người thân thiện, văn minh; giữ vai trò trung tâm trong chuỗi phát triển du lịch miền Trung, tạo không gian du lịch toàn vùng, có đóng góp tích cực cho tăng trưởng kinh tế, tạo nhiều việc làm cho xã hội và có sức lan tỏa kéo theo nhiều ngành kinh tế khác phát triển. 3.2. Phương hướng nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển du lịch biển tại thành phố Đà Nẵng Trong thời gian tới, ngành du lịch nói chung trong đó du lịch biển nói riêng, đặc biệt là ngành du lịch biển cao cấp được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn của thành phố. Thông qua việc phát triển ngành du lịch nói chung trong đó có ngành du lịch biển nói riêng tạo cơ sở cho các ngành khác phát triển.

Bạn đang xem bài viết Luận Văn: Thực Hiện Chính Sách Phát Triển Du Lịch Biển Đà Nẵng trên website Samthienha.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!