Xem Nhiều 5/2022 # Phát Triển Du Lịch Bằng Xe Đạp Ở Việt Nam # Top Trend

Xem 26,730

Cập nhật thông tin chi tiết về Phát Triển Du Lịch Bằng Xe Đạp Ở Việt Nam mới nhất ngày 25/05/2022 trên website Samthienha.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, bài viết này đã đạt được 26,730 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • 5 Tour Du Lịch Bằng Xe Đạp Tuyệt Vời Nhất Tại Việt Nam
  • Top 5 Tour Du Lịch Thám Hiểm Bằng Xe Đạp Và Trekking Tại Việt Nam
  • Vừa Rẻ Vừa Vui Với 6 Địa Điểm Du Lịch Gần Hà Nội Bằng Xe Máy
  • Về Miền Tây Không Thể Bỡ Lỡ Khu Du Lịch Xéo Quýt Đồng Tháp
  • Những Điểm Đến Không Thể Bỏ Qua Trên Bản Đồ Du Lịch Xín Mần
  • Mục Lục

    Mở Đầu………………………………………………………………………………………………………………..2

    1. Lý do chọn đề tài……………………………………………………………………………………………2

    2. Mục đích nghiên cứu …………………………………………………………………………………….3

    3. Đối tượng nghiên cứu…………………………………………………………………………………….3

    4. Phạm vi nghiên cứu……………………………………………………………………………………….4

    5. Tình hình nghiên cứu đề tài ……………………………………………………………………………4

    6. Phương pháp nghiên cứu………………………………………………………………………………..4

    Chương 1: Khái quát du lịch bằng xe đạp…………………………………………………………………4

    1.1: Hệ thống khái niệm………………………………………………………………………………………4

    1.1.1: Du lịch là gì?…………………………………………………………………………………………4

    1.1.2: Các loại hình du lịch………………………………………………………………………………5

    1.1.3: Du lịch bằng xe đạp……………………………………………………………………………….7

    1.2: Những lợi ích của việc đi du lịch bằng xe đạp…………………………………………………8

    1.2.1: Đối với môi trường tự nhiên……………………………………………………………………8

    1.2.2: Đối với con người………………………………………………………………………………….8

    1.2.3: Một số lợi ích khác………………………………………………………………………………..9

    1.3: Các loại xe đạp…………………………………………………………………………………………….9

    1.4: Các loại hình du lịch bằng xe đạp…………………………………………………………………10

    1.4.1: Dựa vào thời gian của chuyến du lịch…………………………………………………….10

    1.4.2: Dựa vào địa hình………………………………………………………………………………….10

    1.4.3: Dựa vào thời gian sử dụng xe đạp trong chuyến đi…………………………………..10

    1.5: Tiểu kết chương 1………………………………………………………………………………………11

    Chương 2: Những tiềm năng, thực trạng khai thác và những đánh giá về du lịch bằng xe

    đạp ở Việt Nam……………………………………………………………………………………………………11

    2.1: Tiềm năng phát triển du lịch bằng xe đạp ở Việt Nam ……………………………………11

    2.1.1: Điều kiện tự nhiên………………………………………………………………………………..11

    2.1.2: Điều kiện về an ninh chính trị và an toàn xã hội………………………………………14

    2.1.3: Điều kiện về kinh tế……………………………………………………………………………..15

    2.1.4: Điều kiện về cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật…………………………………………..16

    2.1.5: Điều kiện về khoa học, công nghệ xe đạp……………………………………………….17

    2.2: Thực trạng khai thác du lịch bằng xe đạp ở Việt Nam…………………………………….18

    2.3: Đánh giá về du lịch bằng xe đạp tại Việt Nam……………………………………………….25

    2.3.1: Những thuận lợi…………………………………………………………………………………..25

    2.3.2: Những khó khăn, thách thức………………………………………………………………….25

    2.4: Tiểu kết chương 2………………………………………………………………………………………26

    Chương 3: Những giải pháp để phát triển du lịch bằng xe đạp ở Việt Nam………………….27

    3.1: Các giải pháp kinh tế………………………………………………………………………………….27

    3.1.1: Giải pháp về quy hoạch………………………………………………………………………..27

    3.1.3: Giải pháp về thị trường…………………………………………………………………………27

    3.1.4: Giải pháp về nguồn lao động…………………………………………………………………28

    3.1.5: Giải pháp về khoa học công nghệ…………………………………………………………..28

    3.1.6: Giải pháp về môi trường……………………………………………………………………….28

    3.2: Giải Pháp tài chính……………………………………………………………………………………..29

    3.2.1: Giải pháp đầu tư…………………………………………………………………………………..29

    3.2.2: Giải pháp về tín dụng……………………………………………………………………………29

    1

    3.3: Giải pháp khác…………………………………………………………………………………………..29

    3.4: Tiểu kết chương 3………………………………………………………………………………………29

    Kết Luận……………………………………………………………………………………………………………..30

    Tài liệu tham khảo……………………………………………………………………………………………….31

    Phụ Lục………………………………………………………………………………………………………………33

    Mở Đầu

    1. Lý do chọn đề tài

    Du lịch được hình thành và phát triển theo nhu cầu đời sống của con

    người. Ngày nay, cùng với sự phát triển của công nghệ, khoa học kỹ thuật,

    và đặc biệt với sự phát triển của nền kinh tế, thì đời sống của con người ngày

    càng được nâng cao thì nhu cầu đi du lịch càng lớn.

    2

    – Nghiên cứu thực trạng khai thác du lịch xe đạp ở Việt Nam

    4. Phạm vi nghiên cứu

    – Về không gian: nghiên cứu các nơi điều kiện để phát triển du lịch xe

    đạp trên cả nước.

    – Về thời gian: khi nền kinh tế chung cũng như kinh tế du lịch đang

    chững lại, những xu hướng du lịch mới đang dần hình thành và phát triển,

    cần một hướng đi mới cho phát triển du lịch.

    5. Tình hình nghiên cứu đề tài

    Trên thế giới có nhiều người nghiên cứu về du lịch bằng xe đạp nhưng

    chưa có một tài liệu chính thống nào về du lịch bằng xe đạp.

    Ở trường đại học Văn Hóa Hà Nội cũng đã có sinh viên khoa du lịch

    khóa 16 đã nghiên cứu về du lịch bằng xe đạp nhưng chỉ mang phạm vi nhỏ

    hẹp trên thành phố Hà Nội.

    6. Phương pháp nghiên cứu

    – Khảo sát thực địa.

    Nghiên cứu thông tin qua nhiều nguồn khác nhau.

    Sử dụng phương pháp tổn hợp, so sánh, đưa ra các đánh

    giá.

    7. Cấu trúc tiểu luận ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham

    khảo, phụ lục ra gồm có:

    Chương 1: Khái quát về du lịch bằng xe đạp

    Chương 2: Những tiềm năng và thực trạng khai thác du lịch xe đạp ở

    Việt Nam

    Chương 3: Những giải pháp để phát triển du lịch xe đạp ở Việt Nam

    Chương 1: Khái quát du lịch bằng xe đạp

    1.1: Hệ thống khái niệm

    1.1.1: Du lịch là gì?

    Khi nói đến du lịch, nhiều người sẽ nghĩ đến một chuyến đi đến nơi

    nào đó để tham quan, nghỉ dưỡng, thăm viếng bạn bè, họ hàng và dùng thời

    gian rảnh để tham gia các hoạt động thể dục thể thao, di dạo, thưởng thức

    ẩm thực, xem các chương trình biểu diễn nghệ thuật, quan sát môi trường

    xung quanh, tìm hiều về cuộc sống của con người nơi đến. Hoặc có thể là

    những người tìm các cơ hội kinh doanh đi công tác, dự hội nghị, hội thảo

    hay đi học tập, nghiên cứu khoa học kĩ thuật…

    4

    5

    của khách du lịch. Cũng như khái niệm về du lịch, việc phân chia các loại

    hình du lịch cũng được dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau.

    1.1.2.1: Căn cứ vào đặc điểm địa lý của điểm du lịch

    – Du lịch miền biển.

    – Du lịch miền núi.

    – Du lịch đô thị.

    – Du lịch đồng quê.

    1.1.2.2: Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ

    – Du lịch quốc tế.

    – Du lịch nội địa.

    1.1.2.3: Căn cứ vào nhu cầu, mục đích của chuyến đi

    – Du lịch chữa bệnh: Kết hợp giữa nhu cầu chữa bệnh với nhu cầu

    du lịch.

    – Du lịch nghỉ ngơi giải trí.

    – Du lịch thể thao: Mục đích là nâng cao thể chất, phục hồi sức khỏe,

    tư thể hiện mình và các loại hình thể thao thường là: săn bắn, câu

    cá, bóng chuyền bãi biển, bơi thuyền, bơi lặn, trượt tuyết, trượt

    băng,…

    – Du lịch công vụ: Là ngành du lịch được quan tâm. Đối tượng là

    những người đi dự hội nghị, hội thảo,… có nhu cầu cao trong việc

    phục vụ, nhà hàng, khách sạn, phòng họp.

    – Du lịch tôn giáo: Nhằm thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng và phục vụ

    tôn giáo của các tín đồ tham quan và tìm hiểu những tôn giáo khác

    nhau. Điểm đến là các thành địa hoặc nhà thờ, chùa chiền, đình,

    miếu,… ít quan tâm đến cơ sở lưu trú. Không chỉ những người có

    đạo mà cả những người không có đạo cũng đi tham quan.

    – Du lịch khám phá.

    – Du lịch thăm hỏi.

    – Du lịch quá cảnh: Đối tượng khách dừng chân trong thời gian

    ngắn, đổi phương tiện lưu thông, máy bay dừng tiếp nhiên liệu,

    thêm khách đổi chuyển bay. Lợi ích khách thường mua sắm tại

    đây.

    – Du lịch văn hóa – nghiên cứu khoa học.

    – Du lịch lễ hội – các sự kiện đặc biệt.

    – Du lịch dã ngoại: Là loại hình gắn bó với thiên nhiên, đưa du lịch

    đến những môi trường hoang sơ, rèn luyện kỹ năng sinh hoạt của

    con người khi tiếp xúc trực tiếp với thiên nhiên và là cơ hội để

    khách tự khám phá và phát huy bản thân và có sự giao lưu đoàn kết

    của những người cùng tham dự.

    6

    – Du lịch sinh thái: khách du lịch tìm đến thiên nhiên hoang dã gắn

    bó với cộng đồng địa phương và văn hóa bản địa, gắn liền giáo dục

    môi trường có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững.

    – Du lịch bền vững: đáp ứng được nhu cầu hiện tại mà không làm tổ

    hại đến khả năng đáp ứng cho nhu cầu của thế hệ tương lai.

    1.1.2.4: Căn cứ vào phương tiện giao thông

    – Du lịch bằng xe đạp.

    – Du lịch bằng tàu hỏa.

    – Du lịch bằng tàu biển.

    – Du lịch bằng ô tô.

    – Du lịch hàng không.

    1.1.2.5: Căn cứ theo phương tiện lưu trú

    – Du lịch ở khách sạn (hotel).

    – Du lịch ở motel: Xuất hiện ở Mỹ từ năm 1930. Kết hợp của từ

    moto và hotel. Motel được xây dựng trên đường giao thông, kiến

    trúc thấp tâng, có trạm bảo hành và nơi tiếp nhiên liệu.

    – Du lịch ở nhà trọ.

    – Du lịch ở hostel: Là ký túc xá cho sinh viên hoặc đoàn thể.

    – Du lịch ở camping (bãi cắm trại).

    – Du lịch ở bungaloue.

    – Du lịch ở resort (khu nghỉ dưỡng).

    1.1.2.6: Căn cứ vào thời gian đi du lịch

    – Du lịch dài ngày: Nhiều hơn một tuần ( vài tuần).

    – Du lịch ngắn ngày: Nghỉ cuối tuần hay du lịch dưới một tuần.

    1.1.2.7: Căn cứ vào hình thức tổ chức du lịch

    – Du lịch theo đoàn.

    – Du lịch đi lẻ.

    1.1.2.8: Căn cứ vào thành phần của du khách

    – Du khách thượng lưu.

    – Du khách bình dân.

    1.1.2.9: Căn cứ vào các phương thức ký kết hợp đồng đi du lịch

    – Du lịch trọn gói.

    – Mua từng phần dịch vụ của tour du lịch.

    1.1.3: Du lịch bằng xe đạp

    Khi xu hướng du lịch đang ngày càng thay đổi, con người càng muốn

    trải nghiệm, thử thách nhiều hơn trong những chuyến đi thì du lịch bằng xe

    đạp không còn xa lạ đối với mỗi chúng ta.

    Không như các phương tiện vận chuyển khác, với đặc thù riêng của xe

    đạp thì du khách có thể quan sát, khám phá chi tiết những cảnh quan thiên

    7

    nhiên, cuộc sống của con người trên suốt hành trình; du khách cũng có thể

    tiếp xúc trực tiếp với nền văn hóa, con người ở những nơi mà họ đi qua; du

    khách được hòa mình với thiên nhiên, đến những nơi thiên nhiên hoang sơ,

    rèn luyện kỹ năng sinh hoạt của con người khi tiếp xúc với thiên nhiên; gắn

    bó với cộng đồng địa phương và văn hóa bản địa; góp phần không nhỏ vào

    việc bảo vệ môi trường; ngoài ra nó còn giúp con người rèn luyện sức khỏe.

    Chính vì thế mà du lịch bằng xe đạp còn có thể xếp vào các loại hình du

    lịch: Du lịch sinh thái, du lịch khám phá, du lịch thể thao, du lịch bền vững,

    du lịch mạo hiểm.

    Du lịch bằng xe đạp được xếp vào nhiều loại hình du lịch khác nhau

    nhưng về cơ bản thì du lịch bằng xe đạp đơn giản như tên gọi của nó, là sự

    trải nghiệm, tận hưởng chuyến đi du lịch của du khách với phương tiện vận

    chuyển được sử dụng trong quá trình tham quan là những chiếc xe đạp.

    1.2: Những lợi ích của việc đi du lịch bằng xe đạp

    1.2.1: Đối với môi trường tự nhiên

    Du lịch bằng xe đạp với phương tiện vận chuyển là xe đạp sẽ không

    tạo ra các loại khí thải gây tác động xấu đến môi trường như khí thải của các

    loại phương tiện khác như: xe máy, ô tô, tàu hỏa,…

    Việc sử dụng xe đạp để đi du lịch cũng làm giảm thiểu các tiếng ồn

    gây ra trong quá trình sử dụng.

    Xe đạp không sử dụng các nhiên liệu như xăng, dầu,… để hoạt động,

    mà chi cần sử dụng sức người; nên việc sử dụng xe đạp sẽ góp phần vào việc

    tiết kiệm nhiên liệu, tài nguyên.

    Như vậy với du lịch bằng xe đạp sẽ không gây ô nhiễm môi trường,

    không gây ra sự ô nhiễm về tiếng ồn, và đồng thời cũng góp phần tiết kiệm

    tài nguyên môi trường.

    1.2.2: Đối với con người

    Về mặt sức khỏe: du lịch bằng xe đạp cũng là một loại hình du lịch

    thể thao, nó giúp cho con người tăng cường sức khỏe, rèn luyện ý chí, giúp

    con người có thể được tinh thần thoải mái, giải tỏa stress.

    Về kinh tế: so với các phương tiện khác để đi du lịch thì xe đạp là một

    phương tiện hữu ích mà có giá thành tương đối rẻ, thích hợp cho nhiều đối

    tượng tham gia với chi phí thấp.

    Với phương tiện là xe đạp có vận tốc trung bình nên có thể giúp du

    khách ngắm nhìn chi tiết cảnh quan, đời sống con người địa phương trên

    đường. Họ có thể giao tiếp với rất nhiều người, ghi lại những cảm xúc khó

    quên, cơ hội va chạm với những nền văn hóa khác, gặp những người có suy

    8

    nghĩ khác nhau và có biết bao nhiêu điều họ có thể suy tư trong suốt một

    chặng đường. Du khách có thể dừng ở bất cứ nơi nào đó ngay trên đường

    khi họ bắt gặp những điều mới lạ và độc đáo.

    Ngoài ra đi du lịch bằng xe đạp giúp cho con người có thể khám phá

    bản thân, hưởng thụ cuộc sống.

    1.2.3: Một số lợi ích khác

    Du lịch bằng xe đạp không cần nhiều diện tích. Trong khi di chuyển

    thì xe đạp chỉ chiếm diện tích bằng với xe máy và bằng một nửa diện tích xe

    ô tô 4 chỗ. Nhưng khi dừng lại đỗ thì xe dạp chỉ mất một khoảng không gian

    nhỏ để có thể để xe.

    Trên đường, khi gặp sự cố về kỹ thuật thì việc sửa chữa xe đạp đơn

    giản hơn việc sửa chữa các phương tiện khác.

    Xe đạp có thể đi vào những nơi có địa hình khó khăn một cách dễ

    dàng.

    1.3: Các loại xe đạp

    Kể từ khi ra đời đến nay, xe đạp luôn được cải tiến để phù hợp với đại

    hình, phù hợp với mục đích sử dụng để đem lại sự tiện ích cho con người.

    Tất cả các loại xe đạp đều có thể sử dụng để đi du lịch nhưng, để thuận tiện

    và hiệu quả đi du lịch thì có một số loại xe chuyên dụng được sử dụng:

    Xe đạp địa hình (mountain bike): Chức năng của loại xe này là đi trên

    đường núi dốc, gồ ghề đầy đá và hố lởm chởm. Với bánh xe to, lốp dày và

    có độ bám đường tốt, nó góp phần hạn chế các vấn đề như xì lốp khi gặp

    những đoạn đường xấu. Xe sẽ dễ dàng đi qua những đoạn đường đầy đá

    dăm. Tuy vậy, vì xe tương đối nặng, bánh xe lại hơi to nên người sử dụng

    phải tốn nhiều sức. Đây không phải là loại xe chạy tốc độ nên thời gian đi

    trên đường sẽ hơi lâu. Chính vì thế mà xe đạp địa hình đúng theo tên gọi chỉ

    thích hợp cho việc trải nghiệm những đoạn đường với địa hình khắc nghiệt.

    Để thực hiện những chuyến đi đường dài với moutain bike thì nên sử dụng

    bánh xe có từ 36 nan hoa trở lên, và phải có braze-on (bộ phận lắp đặt yên

    xe dùng cho việc chuyên chở hành lý…)

    Xe đạp đua (road bike): Road bike có lợi thế về tốc độ, nhưng bù lại,

    nó không thể đi quá nhanh ở những đoạn đường xấu, gập ghềnh. Vỏ và ruột

    xe của loại xe đạp đua lại rất mỏng nên rất dễ bị hỏng khi gặp chướng ngại

    vật. Để có được vận tốc cao thì những chiếc xe đạp đua thường có bánh nhỏ,

    không có độ bám đường tốt, nên khi đi trời mưa rất dễ trơn trượt.

    Xe đạp thực dụng (touring bike): “Touring bike” được thiết kế cho

    mục đích du lịch, du mục nên loại xe này không nặng, ngắn đòn như

    moutain bike và cũng không mảnh khảnh như road bike. Ghi đông, dàng

    9

    thắng, hệ thống tăng/giảm líp xe đều có chất lượng cao. Ghi đông loại cụp

    như xe cuốc để người sử dụng dễ thay đổi tư thế điều khiển cho bớt mỏi mệt,

    bớt cản gió và thư thái hơn trên đoạn đường dài, lộng gió. Sườn xe cứng cáp,

    nhẹ và dài đòn để công việc chuyên chở hành lý không vướng víu, cản trở

    những vòng đạp. Vành xe rắn chắc vì có từ 36 nan hoa trở lên, vì thế vấn đề

    gãy nan hoa, cong vành hầu như là không xảy ra. Loại bánh xe thích hợp cho

    du lịch ở Việt Nam là loại 700c x 28, hoặc 700c x 36.

    1.4: Các loại hình du lịch bằng xe đạp

    Giống như du lịch nói chung, du lịch bằng xe đạp cũng được phân

    chia ra nhiều loại hình khác nhau dựa trên những tiêu chí khác nhau

    1.4.1: Dựa vào thời gian của chuyến du lịch

    Du lịch bằng xe đạp ngắn ngày: thường là những tour du lịch với

    khoảng thời gian đi xe đạp ít, từ nửa ngày đến 1 ngày. Du khách chủ yếu sẽ

    ngắm cảnh, quan sát cuộc sống của người địa phương.

    Du lịch bằng xe đạp dài ngày: những tour du lịch có thể kéo dài từ 2

    ngày đến 1 tuần hoặc có thể là vài tuần. Đối với những tour du lịch bằng xe

    đạp dài ngày thì cần đòi hỏi du khách phải có một sức khỏe tốt. Du khách

    không chỉ được quan sát cảnh quan, cuộc sống của người bản địa mà họ có

    thể trải nghiệm và tiếp xúc với cuộc sống, con người nơi họ đến nhiều hơn.

    1.4.2: Dựa vào địa hình

    Du lịch bằng xe đạp đường đồi, núi: Những chuyến du lịch được tổ

    chức để du khách có thể trải nghiệm những cung đường khó khăn, đưa du

    khách hòa mình vào với thiên nhiên. Đòi hỏi du khách phải có sức khỏe

    cũng như kỹ năng đi xe khá, và phải có sự tập trung cao. Du khách sẽ phải

    sử dụng những chiếc xe đạp địa hình.

    Du lịch xe đạp đường bằng: Du khách tham gia tour thường sẽ sử

    dụng những chiếc xe đạp đua hoặc là những chiếc xe đạp thực dụng. Cung

    đường đi là những đường nhựa bằng phẳng, qua những phố phường, những

    quốc lộ để du khách có thể rèn luyện sức khỏe, ngắm những cảnh quan, cũng

    như cuộc sống của người dân bản địa.

    1.4.3: Dựa vào thời gian sử dụng xe đạp trong chuyến đi

    Du lịch chỉ bằng xe đạp trong suốt cuộc hành trình: du khách chỉ sử

    dụng xe đạp làm phương tiện vận chuyển trong chuyến hành trình mà không

    sử dụng các loại phương tiện khác (không tính các phương tiện du khách sử

    dụng để đến điểm xuất phát của hành trình).

    10

    Du lịch bằng xe đạp và có kết hợp với các phương tiện khác: với loại

    hình này du khách sẽ được vận chuyển cả người và xe đạp bằng các phương

    tiện khác (chủ yếu là ô tô) để đến điểm du lịch; nhưng trên đường khi có

    cảnh quan đẹp hoặc những đoạn đường gây ấn tượng với du khách thì du

    khách sẽ chuyển sang phương tiện là xe đạp, sau đó du khách sẽ tiếp tục lên

    xe ô tô để thực hiện tiếp chuyến đi. Loại hình này chỉ thích hợp cho những

    chuyến đi đường dài.

    1.5: Tiểu kết chương 1

    Thông qua việc đưa ra các khai niệm về: du lịch, du lịch xe đạp; và

    cũng nêu ra các cách phân loại các loại hình du lịch nói chung cũng như các

    cách phân loại các loại hình du lịch xe đạp nói riêng đã giúp chúng ta hiểu rõ

    hơn về du lịch xe đạp chính là sự trải nghiệm, tận hưởng chuyến đi du lịch

    của du khách với phương tiện vận chuyển được sử dụng trong quá trình

    thăm quan là xe đạp.

    Qua đó cũng nêu nên một số lợi ích của việc sử dụng xe đạp, đồng

    thời cũng phân loại các loại xe đạp có thể phù hợp với từng mục đích của

    người sử dụng xe đạp trong từng chuyến đi.

    Chương 2: Những tiềm năng, thực trạng khai thác và những

    đánh giá về du lịch bằng xe đạp ở Việt Nam

    2.1: Tiềm năng phát triển du lịch bằng xe đạp ở Việt Nam

    2.1.1: Điều kiện tự nhiên

    2.1.1.1: Vị trí địa lý

    Việt Nam có diện tích đất liền là 331,211,6 km2; trải dài từ vĩ tuyến

    8o02′ đến 23o23′ Bắc; từ kinh tuyến 102o08′ đến 109o28′ Đông.

    Việt Nam nằm ở trung tâm khu vực Đông Nam Á, phía đông của bán

    đảo Đông Dương; phía bắc giáp Trung Quốc; phía tây giáp Lào, Campuchia;

    phía đông, nam, và tây giáp với biển Đông. Bờ biển Việt Nam dài 3.260km,

    biên giới đất liền dài 4.510km.

    Trên đất liền, từ điểm cực bắc đến điểm cực nam ( theo đường chim

    bay) dài 1.650km, từ điểm cực đông sang điểm cực tây nơi rộng nhất 600km

    ( Bắc Bộ), 400km ( Nam Bộ), nơi hẹp nhất 50km ( Quảng Bình).

    2.1.1.2: Địa hình

    11

    Núi: vị trí địa lý cùng với lịch sử phát triển lãnh thổ lâu dài và phức

    tạp đã cho Việt Nam một hoàn cảnh tự nhiên khá độc đáo. Ba phần tư diện

    tích đất liền là đồi núi nhưng chủ yếu là đồi núi thấp. Độ cao địa hình dưới

    1.000m ( so với mực nước biển) chiếm tới 85%. Núi cao trên 2.000m chỉ

    chiếm khoảng 1%. Căn cứ vào lịch sử phát triển của lãnh thổ thì các núi của

    Việt Nam đều là những núi già được trẻ lại. Trong số những đỉnh núi cao

    của Việt Nam có đính Phanxipăng ( ở Lào Cai) cao nhất 3.143m.

    Miền Bắc và đông bắc Bắc Bộ ( tả ngạn sông Hồng) có các nếp núi

    uốn dạng hình cánh cung bao quanh khối núi vòm sông Chảy, mở rộng về

    phía tây bắc, quay mặt lối về phía đông, một đầu chụm lại ở Tam Đảo. Các

    cánh cung đó là Sông Gâm, Ngân Sơn, Bắc Sơn, Đông Triều. Địa hình toàn

    khu vực có hướng nghiêng là tây bắc – đông nam. Phía tây bắc, giáp biên

    giới Việt Trung có một số đỉnh núi cao trên 2.000m như Tây Côn Lĩnh cào

    2.413m, Kiều Liên Ti (2.403m), Pu Ta Ca (2.274m). Khu vực thuộc địa

    phận caccs tỉnh Yên Bái, Tuyên Quang, Phú Thọ, Thái Nguyên hầu như là

    những đồi núi thấp dần và thoải, chạy ra đến vùng bờ biển ( địa phận Quảng

    Ninh, Hải Phòng thì độ cao vùng này so với mặt nước biển chỉ còn khoảng

    trên dưới 1m. Một bộ phận đồi núi chạy ra biển và bị ngập trong nước biển

    nên tạo nên một vùng đảo với hàng nghìn hòn đảo lớn nhỏ khác nhau nằm ở

    phía đại phận tỉnh Quảng Ninh mang tên vịnh Hạ Long.

    Miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ ( từ hữu ngạn sông Hồng chạy đến

    núi Động Ngài – Bạch Mã , Thừa Thiên Huế) có những nét khác biệt khá rõ

    so với địa hình miền Bắc và đông bắc Bắc bộ. Đây là vùng núi non trùng

    điệp, hùng vĩ, có nhiều núi cao, vực sâu, sườn dốc, lắm thác, nhiều ghềnh.

    Núi non toàn khu vực này không phải là một khối duy nhất mà là nhiều dãy

    núi chạy theo hướng tây bắc – đông nam, so le nhau. Xen giữa các dãy núi

    có nhiều cao nguyên đá vôi rất đồ sộ, điển hình là dẫy cao nguyên đá vôi

    chạy dọc theo thung lũng sông Đà, từ Phong Thổ đến Thanh Hóa, dài chừng

    400km, rộng từ 10 đến 25km, cao từ 600 đến 1000m. Hướng nghiêng chung

    đại hình toàn miền tây bắc – đông nam. Các đỉnh núi cao thưởng phân bố ở

    phía biên giới tây bắc và thấp dần ra biển. Riêng mạch núi Trường Sơn có

    thể coi một cánh cung lớn, mặt lồi quay về phía biển Đông và có hai sườn

    không cân đối, sườn phía đông dốc xuống biển, còn sườn phía tây thoải dần

    tới thung lũng sông Mê Kông.

    Các mạch núi này thường chạy đâm ngang ra sát biển, không còn chỗ

    cho các đồng bằng châu thổ lớn phát triển nên đông bằng và thềm lục địa ở

    đây đều hẹp. Bờ biển khúc khuỷu, gập gềnh, núi cao trên 2.000m đứng cạnh

    các hổ biển cũng sâu 2.000m. Miền này ít có các vùng đồi núi thấp, trung du

    rõ nét như ở miền Bắc và đông bắc Bắc bộ. Địa hình toàn khu vực tạo ra thế

    12

    hiểm trở, khó thông thương với các khu vực lân cận, nhưng mối giao lưu

    giưa miền ngược và miền xuôi lại tương đối dễ dàng và thuận lợi.

    Vùng Nam Trung bộ và Nam bộ ( từ núi Động Ngài – Bạch Mã, Thừa

    Thiên Huế trở vào phía Nam). Phía tây nam Trung Bộ là một vùng sơn

    nguyên đồ sộ, trong đó nổi lên là các cao nguyên đất đỏ bazan, có dạng xếp

    tầng, chênh nhau tới 500m, bên cạnh đó là các mạch núi bao quanh phía bắc,

    phía nam, đâm ngang, chia cắt địa hình thành những ô nhỏ. Phần còn lại

    nằm ở phía nam là vùng đông bằng rộng lớn.

    2.1.1.3: Rừng

    Rừng của Việt Nam là rừng rậm điển hình của rừng nhiệt đới. Trong

    các loài cây rừng đa phần rụng lá vào mùa khô. Nhưng tùy theo vị trí và độ

    ẩm khác nhau mà có rừng rậm đến rừng thưa, xa van và đồng cỏ. Bên cạnh

    các kiểu rừng nhiệt đới còn có các kiểu rừng cận nhiệt đới trên núi trung

    bình hay núi cao. Ven biển và miền Tây Nam bộ còn có lại rừng ngập mặn

    chủ yếu là các loài sú, vẹt, trang, đước,…

    Rừng Việt Nam có nguồn tài nguyên sinh vật đa dạng. Có thể nói

    nước ta là trung tâm thu nhập các luông thực vật, động vật từ phía bắc

    xuống, phía tây qua, phía nam lên và từ đây phân bố đến các nơi khác trong

    vùng. Đồng thời, cũng óc nhiều loại rừng với nhiều loài thực vật và động vật

    quý hiếm và độc đáo mà các nước ôn đới khó có thể tìm thấy được. Rừng

    của Việt Nam có nhiều loại cây gỗ quý: đinh, lim, sến, táu, cẩm lai, gụ, trắc,

    pơ mu,… Tính chung, các loài thực vật bậc cao có tới 12.000 loài. Cây dược

    liệu có tới 1.500 loài. Lâm sản khác có nấm hương, nấm linh chi, mộc nhĩ,

    mật ong… Về động vật, ước tính ở Việt Nam có 1.000 loài chiml 300 loại

    thú thường gặp như hươu, nai, sơn dương, gấu, khỉ,… còn có những loài quý

    hiếm như tê giác, hổ, voi, bò rừng, sao la, công, trĩ, gà lôi đỏ,…

    Do nhiều nguyên nhân khác nhau, rừng Việt Nam đã bị tàn phá nặng

    nề. Tính đến năm 2006, độ che phủ của rừng Việt Nam hơn 38%. Đất trống,

    đồi núi trọc vẫn chiếm tỷ lệ lớn, chất lượng rừng tiếp tục bị suy giảm: gỗ

    quý ngày càng hiếm, một số loài thú quý hiếm đang đứng trước nguy cơ

    tuyệt chủng nếu không được bảo vệ.

    Hiện nay chính phủ Việt Nam đang rà soát, sắp xếp lại các hệ thống

    các khu bảo tồn gồm 31 Vườn Quốc Gia, 61 khu Bảo tồn thiên nhiên và 34

    khu rừng văn hóa – lịch sử – môi trường. Một số vườn quốc gia của Việt

    Nam có: Vườn quốc gia Ba Bể ( Cao Bằng); Vườn quốc gia Ba Vì ( Hà

    Nội); Vườn quốc gia Bạch Mã ( Thừa Thiên Huế); Vường quốc gai Bến En

    (Thanh Hóa); Vườn quốc gia Cát Bà (Hải Phòng); Vườn quốc gia Cát Tiên

    (Đồng Nai); Vườn quốc gia Côn Đảo ( Bà Rịa – Vũng Tàu); Vườn quốc gia

    Cúc Phương (Ninh Bình, Hòa Bình, Thanh Hóa); Vường quốc gia Tam Đảo

    (Vĩnh Phúc, Bắc Thái, Tuyên Quang); Vườn quố gai YokDon (Đăk Lăk);

    13

    Vườn quốc gia Chàm Chim ( Đồng Tháp); Vườn quốc gia Xuân Sơn ( Phú

    Thọ); Vườn quốc gia Xuân Thủy (Nam Định); Vườn quốc gia Pù Mát

    (Thanh Hóa); Vườn quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng (Quảng Bình),…

    2.1.1.4: Khí hậu

    Việt Nam nằm hoàn toàn trong vong đai nhiệt đới của nửa cầu bắc,

    thiên về chí tuyến hơn là phía xích đạo. Vị trí đó đã tạo cho Việt Nam có

    một nền nhiệt độ cao. Nhiệt độ trung bình năm từ 22oC đến 27oC. Hàng năm

    có khoảng 100 ngày mưa với lượng mưa trung bình từ 1.500 đến 2.000 mm.

    Độ ẩm không khí trên dưới 80%. Số giờ nắng khoảng 1.500 – 2.000 giờ,

    nhiệt bức xạ trung bình năm 100 kcal/cm2.

    Chế độ gió mùa cũng làm cho tính chất nhiệt đới ẩm của thiên nhiên

    Việt Nam thay đổi. Nhìn chung, Việt Nam có một mùa nóng mưa nhiều và

    một mùa tương đối lạnh, ít mưa. Trên nền chung đó, khí hậu của các tính ở

    phía bắc ( từ đèo hải Vân trở ra Bắc) thay đổi theo bốn mùa khá rõ nét là

    xuân, hạ, thu, đông.

    Việt Nam chịu sự tác động mạnh cửa gió mùa Đông Bắc, nên nhiệt độ

    trung bình thấp hơn nhieeutj độ trung bình nhiều nước khác cùng vĩ độ ở

    châu Á. So với các nước này thì ở Việt Nam nhiều độ về mùa đông lạnh hơn

    và mùa hạ ít nóng hơn.

    Do ảnh hưởng gió mùa, hơn nưa sự phức tạp về địa hình nên khí hậu

    của Việt Nam luôn luôn thay đổi trong năm, giữa năm này với năm khác và

    giữa nơi này với nơi khác (từ Bắc xuống Nam và từ thấp lên cao). Khí hậu

    của Việt Nam cũng tạo ra những bất lợi về thời tiết như bão (trung bình một

    năm thường có 6 – 10 cơn bão và áp thấp nhiệt đới), lũ lụt, hạn hán,…

    thường xuyên đe dọa.

    2.1.2: Điều kiện về an ninh chính trị và an toàn xã hội

    An ninh chính trị phải đảm bỏa hòa bình, ổn định để mở rộng cho các

    mối quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa giưa các dân tộc.

    Khi tình hình chính trị ổn định và hòa bình thì sẽ cho du khách có cảm

    giác an toàn và tính mạng của họ được coi trọng. Du khách có thể tự do đi

    lại trong đất nước mà không không lo sợ và không cần sự chú ý đặc biệt nào.

    Những điểm du lịch mà ại đó không có sự phân biệt chủng tộc, tôn giáo…

    du khách có thể gặp dân bản xứ, giao lưu và làm quen với phong tục tập

    quán của địa phương, sẽ thu hút được nhiều du khách hơn những nơi họ bị

    cô lập với dân sở tại.

    An toàn xã hội là một điều quan trọng để phát triển du lịch bằng xe

    đạp, bởi các hiện tượng thiên tai, dịch bệnh… có ảnh hưởng rất lớn đến việc

    đi du lịch. Khi các cơ quan y tế phải cách ly một vùng để ngăn chặn lây lan

    dịch bệnh thì vùng đó chắc chắn không thể đón khách du lịch được.

    14

    Việt Nam được đánh giá là một trong những điểm đến du lịch an toàn,

    có tình hình chính trị ổn định. Việt Nam đang ngày càng tăng cường, mở

    rộng mối quan hệ hợp tác với các nước trên thế giới tạo ra mối quan hệ hợp

    tác lâu dài dựa trên tình hữu nghị, giữ vững bầu không khí hòa bình. Cho

    đến nay, Việt Nam là thành viên của 63 tổ chức quốc tế và có quan hệ với

    hơn 500 tổ chức phi chính phủ trên thế giới. Việt Nam đã hoạt động tích cực

    với vai trò ngày càng tăng tại Liên hợp quốc (ủy viên ECOSOC, ủy viên Hội

    đồng chấp hành UNDP, UNFPA và UPU…), phát huy vai trò thành viên tích

    cực của phong trào không liên kết, Cộng đồng các nước có sử dụng tiếng

    Pháp, ASEAN, WTO, UNESCO, APEC, ASEM… Có thể nói ngoại giao đa

    phương là một điểm sáng trong hoạt động ngoại giao thời đổi mới.

    2.1.3: Điều kiện về kinh tế

    Trong hơn 20 năm đổi mới. GDP của Việt Nam đã liên tục tăng. Từ

    3,9%/năm ( 1986 – 1990) đến 8,2% (1991 – 1995). Trong giai đoạn 1996 –

    2000 tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam là 7,5% thấp hơn nửa đầu thập

    niên 1990 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á. Từ năm

    2001 đến nay tốc độ tăng GDP của Việt Nam luôn giữ ở mức cao và ổn

    định. Năm 2003 tăng 7,3%; 7,7% ( 2004); 8,4% (2006); 8,5% (2007) và năm

    2008, trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế, tài chính toàn cầu, Việt Nam vẫn

    đạt mức tăng trưởng kinh tế là 6,2%; và đến năm 2012 trong bối cảnh điều

    kiện kinh tế toàn cầu khó khăn thì GDP tăng 5,7%.

    Cùng với sự tăng trưởng GDP thì Việt Nam đã sử dụng một cách hiệu

    quả các thành tựu kinh tế vào mục tiêu phát triển xã hội như phân chia một

    cách tương đối đồng đều các lợi ích của đổi mới cho đại đa số dân chúng;

    gắn kết tăng trưởng kinh tế với nâng cao chất lượng cuộc sống, phát triển y

    tế, giáo dục; nâng chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam từ vị trí

    thứ 120/174 nước năm 1994, lên vị trí thứ 109/177 nước trên thế giới năm

    2007; tăng tuổi thọ trung bình của người dân từ 50 tuổi trong những năm

    1960 lên đến 73 tuổi năm 2008; giảm tỷ lệ số hộ đói nghèo từ trên 70% đầu

    những năm 1980 xuống 14,75% năm 2007, và ngày càng đang giảm dần.

    Ngoại thương và hội nhập kinh tế quốc tế: Với chủ chương tích cực,

    chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, quan hệ kinh tế của Việt Nam với các

    nước, các tổ chức quốc tế ngày càng được mở rộng. Việt Nam là thành viên

    quan trọng trong ASEAN, tích cực thực hiện các cam kết khu vực mậu dịch

    tự do ASEAN (AFTA), là thành viên tích cực của APEC, ASEM và nhiều tổ

    chức kinh tế quốc tế khác. Hợp tác quốc tế ngày càng được mở rộng,và vào

    tháng 01 năm 2007, Việt Nam chính thức ra nhập tổ chức thương mại thế

    giới (WTO), đánh dấu sự hội nhập toàn diện và đầy đủ của Việt nam vào

    nên kinh tế toàn cầu.

    15

    Một trong những yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến sự phát sinh và

    phát triển du lịch nói chung và du lịch bằng xe đạp nói riêng là điều kiện

    kinh tế chung. Nền kinh tế chung phát triển là tiền đề cho sự ra đời và phát

    triển du lịch bằng xe đạp. Khi mà đời sống nhân dân ngày càng được cải

    thiện và nâng cao, con người có nhiều thời gian dỗi, họ sẽ muốn đi du lịch,

    điều này góp phần thúc đẩy du lịch bằng xe đạp phát triển.

    2.1.4: Điều kiện về cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật

    2.1.4.1: Hệ thống giao thông

    Giao thông là một vấn đề quan trọng nhất góp phần thúc đẩy sự phát

    triển du lịch bằng xe đạp. Khi giao thông phát triển sẽ thuận lợi trong việc di

    chuyển của du khách đến Việt Nam, và đặc biệt với hệ thông giao thông

    đường bộ sẽ tạo nên sự thuận lợi, nét đặc sắc và độc đáo trong phát triển du

    lịch bằng xe đạp ở Việt Nam.

    Hệ thống giao thông Việt Nam ngày càng được nâng cao cả về số

    lượng và chất lượng.

    Hệ thống giao thông Việt Nam có đặc điểm: các tuyến đường bộ,

    đường sắt, hàng không trong mạng lưới giao thông Việt nam chủ yếu theo

    hướng Bắc Nam, phần lớn các tuyến đường thủy nội địa có hướng Đông Tây

    bời hầu hết các con sông chính đều đổ từ hướng tây ra biển ( hướng đông).

    Hệ thống đường bộ chính tại Việt nam bao gồm các con đường Quốc

    lộ, nối liền các vùng, các tỉnh cũng như đi đến các cửa khẩu quốc tế với

    Trung Quốc, Lào, Campuchia. Với hệ thống các đường quốc lộ: 1A, 1B, 1C,

    1D, 1K, 2,3,4,5,6,7,8,9,10,12A,13,14,14B,…,100. Tổng chiều dài các con

    đường kể trên là 14.790,46 km, trong khi đó toàn bộ các tuyến đường Quốc

    lộ của Việt Nam được cho là có tổng chiều dài khoảng 17.300 km, với gần

    85% đã tráng nhựa. Ngoài các đường quốc lộ còn có các đường tỉnh lộ, nối

    các huyện trong tỉnh, huyện lộ nối các xã trong huyện. Các tuyến tỉnh lộ có

    tổng chiều dài khoảng 27.700 km, với hơn 50% đã tráng nhựa. Ngoài ra còn

    có hệ thống đường làng, đường trong thành phố…

    Hệ thống đường sắt Việt Nam có tổng chiều dài khoảng 2600km,

    trong đó tuyến đường chính nối Hà Nội – Tp.Hồ Chí Minh dài khoảng

    17.300km.

    Hệ thống đường thủy: do đặc điểm cấu tạo địa hình nên Việt Nam có

    hệ thống sông ngòi, kênh, rạch phân bố dày đặc trên toàn bộ lãnh thổ, với

    khoảng 42.000km. Các con sông lớn: Sông Hồng (miền bắc), sông Đà (miền

    bắc), sông Tiền và sông Hậu (miền Tây Nam Bộ), sông Đồng Nai, sông Sài

    Gòn ( miền Đông Nam Bộ).

    Hệ thống đường hàng không ngày càng phát triển. Số lượng các

    chuyến bay và các đường bay ngày càng tăng. Với các sân bay quốc tế : Sân

    16

    bay quốc tế Tân Sơn Nhất, sân bay quốc tế Nội Bài, sân bay quốc tế Đà

    Nẵng, sân bay quốc tế Phú Bài, sân bay quốc tế Cam Ranh, sân bay quốc tế

    Cát Bi, sân bay quốc tế Trà Nóc.

    2.1.4.2: Cơ sở lưu trú

    Cơ sở lưu trú là yếu tố thiết yếu để tạo nên sức hút đối với du khách.

    Với sự phát triển của du lịch hiện nay thì cơ sở lưu trú ở Việt Nam

    đang ngày được quan tâm và phát triển, các loại hình lưu trú ngày càng

    phong phú: Khách sạn, bungaloue, nhà trọ, cắm trại (camping),resort, nhà

    sàn,…

    Các cơ sở lưu trú ngày càng được nâng cao về chất lượng, kèm theo

    đó là các dịch vụ phục vụ kèm theo cũng được chú ý để nâng cao, góp phần

    thu hút du khách đến với Việt Nam.

    2.1.5: Điều kiện về khoa học, công nghệ xe đạp

    Từ khi ra đời đến nay xe đạp luôn được cải tiến để nhằm phù hợp với

    nhu cầu của con người hơn.

    Từ một chiếc xe đạp thô sơ bằng gỗ, không có bánh lái ban đầu được

    phát minh ra bởi bá tước Sivrac vào năm 1790, với cái tên được đặt là

    Célérifère(célérité có nghĩa là nhanh). Khi khoa học, công nghệ ngày càng

    phát triển thì chiếc xe đạp cũng dần được cải tiến.

    Năm 1817, nam tước người Đức là Baron Karl von Drais đã phát

    minh ra chiếc xe đạp mang tên ông gọi là Draisenne được xem là tổ tiên của

    xe đạp. Chiếc xe này có bánh trước dùng để lái, người dùng đẩy xe đi bằng

    hai chân chứ không có pê đan (bàn đạp).

    Năm 1865 chiếc pê đan được lắp vào bánh trước nhờ phát minh của

    hai anh em Ernest Michaux và Pierre Michaux.

    Năm 1869, xe đạp từ bằng gỗ đã được làm bằng thép.

    Năm 1879, Xích truyền động cho bánh sau, kèm theo sự cải tiền ở

    khung, đùi, đĩa. Pê đan. Hệ tay lái được một người anh là Lawson sáng chế

    và cải tiến.

    Năm 1887, John Boyd Dunlop, một nhà thú y Scotland, tiếp tục cải

    tiến bánh xe với việc dùng ống hơi bằng cao su.

    Năm 1890, Roberton ở Anh và Édouard Michelin ở Pháp làm cho

    bánh có thể tháo lắp được.

    Năm 1920, việc áp dụng các hợp kim nhẹ đã giảm trọng lượng của xe

    đạp rất nhiều.

    Năm 1973, xe đại hình được chế tạo ở California.

    Và ngày nay với sự phát triển của công nghệ, khoa học, kỹ thuật thì

    những chiếc xe đạp đã được cải tiến để phù hợp với nhu cầu của con người,

    với các loại xe đạp chuyên dụng có giá thành ngày càng giảm dành cho

    17

    Không chỉ những cung đường xa mà ngay cả những những đoạn

    đường tron các khu đô thị, thành phố cũng thu hút các bạn trẻ muốn đạp xe

    vào cuối tuần để vừa đi, vừa cảm nhận được vẻ đẹp của phố phường khi

    những con đường lên đèn.

    Và gần đây ở các thành phố ta bắt gặp không ít cảnh xe đạp dạo phố

    và người chơi xe càng trở lên đa dạng và phong phú về lưa tuổi cũng như

    nghề nghiệp. Vào mỗi buổi sáng thì trên các con phố, những danh thắng ta

    hay bắt gặp những chiếc xe đạp chuyên dụng được sử dụng để tập thể dục

    buổi sáng. Và từ đó mà những câu lạc bộ xe đạp cũng dần hình thành, thu

    nạp các thành viên ở đủ các lứa tuổi.

    Hiện nay, đi xe đạp đã trở thành mốt mà được nhiều người quan tâm.

    Điều này tạo điều kiện cho sự phát triển du lịch bằng xe đạp ở Việt Nam một

    các mạnh mẽ.

    Đối với khách du lịch người nước ngoài, du lịch bằng xe đạp với họ

    đã quá quen thuộc nhưng khi được hỏi thì một du khách đã nói rằng họ

    muốn một lần được đi du lịch bằng xe đạp ở Việt Nam để hòa mình vào

    cuộc sống của người dân Việt Nam, và có thể cảm nhận vẻ đẹp của đất nước,

    cũng như con người Việt Nam một cách sâu sắc hơn.

    Cùng với mốt đạp xe đó là dịch vụ cho thuê xe đạp tại các điểm du

    lịch, các thành phố lớn cũng xuất hiện để phục vụ cho du khách muốn tham

    quan bằng xe đạp với tiền thuê từ 80.000 – 100.000 vnđ/ buổi và 150.000 –

    200.000 vnđ/buổi ( với những chiếc xe đắt tiền, xe thể thao sẽ có giá thuê

    cao hơn).

    Sự xuất hiện của các dịch vụ cho khách du lịch thuê xe đã tác động

    mạnh đến sự phát triển du lịch bằng xe đạp.

    Ban đầu chỉ từ những tour tự lập của các bạn trẻ, dần thì các công ty

    du lịch đã đưa các tour du lịch bằng xe đạp ra chào bán trên thị trường, và đã

    thu hút được sự quan tâm của du khách trong nước và quốc tế khi đến du

    lịch tại Việt Nam. Ban đầu chỉ là một vài công ty du lịch tham gia kinh

    doanh loại hình du lịch này nhưng dần dần với doanh thu mà loại hình du

    lịch này đem lại thì các công ty du lịch lần lượt tổ chức các tour du lịch bằng

    xe đạp, và hiện nay có rất nhiều công ty du lịch kinh doanh loại hình du lịch

    này.

    Du lịch bằng xe đạp hiện nay đang ngày một phát triển mạnh mẽ với

    các chương trình du lịch bằng xe đạp ngày càng tăng, với số người tham gia

    ngày càng đông. Và Việt Nam được đánh giá là một trong những điểm đến

    lý tưởng cho du lịch bằng xe đạp với quốc lộ 1A nối liền bắc nam đi dọc

    những miền dất ven biển Việt Nam, với những nét đẹp riêng của từng thành

    phố trên các vùng miền đất nước như: Hà Nội, Hội An, Huế, Đà Nẵng, Vũng

    Tàu,…

    19

    20

    Vé tham quan.

    GIÁ KHÔNG BAO GỒM :

    Chi phí cá nhân

    Thuễ VAT 10 %

    3. Tour Hà Nội – làng Vạn Phúc, Bằng Sở – Hà Nội (bằng tàu và

    xe đạp) (công ty du lịch Việt Nam)

    07h30: tàu rời bến đưa quý khách xuôi dòng sông Hồng. Chiêm

    ngưỡng cản quan dòng sông.

    08h40: Tàu cập bến Vạn Phúc. Quý khách bắt đầy hành trình, tự đạp

    xe đạp (theo đoàng khoảng 12km) tham quan làng Vạn Phúc (ngôi đình cổ

    và chùa Trung Linh Tự) – nhà thờ đức thánh Lê Tùy (một trong 117 người

    Việt Nam được tòa thánh Vantican phong thánh).

    10h30: Quý khách xuống tàu ăn trưa. Sau đó tàu đưa quý khách trở

    về.

    Giá: 650.000 vnđ/khách.

    4. Tour Phú Quốc – Khám phá đảo bằng xe đạp (công ty du lịch

    Bốn Mùa)

    Đạp xe tren hành trình dài 10km, quý khách nhìn ngắm Phú Quốc tươi

    đẹp, yên bình trong hoạt động của mỗi người dân địa phương, tham quan và

    chụp hình tại vườn tiêu, thư giãn tại bãi biển đẹp phía tây Phú Quốc. đạp xe

    về điểm tập kết, kết thúc chương trình.

    Khởi hành: mỗi ngày lúc 9h và 14h (3 tiếng)

    Giá Tour ghép đoàn: 15 USD/Khách.

    Bao gồm: xe đạp, HDV tiếng Anh/ Việt, nước suối, khăn lạnh.

    5. Tour du lịch từ Hội An 1 ngày tham quan làng quê Hội An

    bằng xe đạp ( công ty Hi – Class travel)

    Hầu hết khách đến thăm quan phố cổ Hội An trải qua nhiều thời gian

    đi bộ trong các đường phố để mua những món quà lưu niệm như quần áo,

    giày dép hoặc những bức tranh được vẽ bởi các nghệ nhân địa phương.

    Nhưng cũng có nhiều du khách muốn khám phá cuộc sống đời thường của

    người dân sống ở miền quê Hội An hoặc thưởng thức những phong cảnh

    đẹp, thơ mộng qua những lúy tre làng, đồng lúa xanh tươi, ngôi trường

    làng… qua đó du khách sẽ cảm nhận được phần nào nét sinh hoạt đời

    thường của người dân phố cổ. Chính những vẻ đẹp bình dị này đã góp phần

    tạo nên một Hội An thật nổi tiếng như hôm nay.

    Chương trình du lịch ½ ngày:

    09h: Hướng dẫn viên địa phương sẽ đén khách tại khách sạn, sau đó

    quý khách sẽ cưỡi xe đạp khám phá các làng quê Hội An, đi qua các cánh

    23

    24

    2.3: Đánh giá về du lịch bằng xe đạp tại Việt Nam

    2.3.1: Những thuận lợi

    Thuận lợi đầu tiên được kể đến là hệ thống giao thông của Việt Nam

    với hệ thống đường quốc lộ, tỉnh lộ đi qua các tỉnh, thành phố, qua các khu

    dân cư sinh sống, với phong cảnh ven đường hùng vĩ hoang sơ, tạo ra sức

    hút mạnh mẽ đối với du khách. Những đoạn đường đèo, dốc khó thử thách

    lòng kiên nhẫn và thôi thúc khát vọng chinh phục của du khách.

    Việt Nam có 54 dân tộc anh em sinh sống trên khắp lãnh thổ đã tạo

    nên sự đa dạng về văn hóa, các dân tộc anh em chung sống hóa bình, ổn định

    cùng với nhau trên lãnh thổ, với lòng hiếu khách đã thu hút các du khách

    mong muốn đến tìm hiểu và cảm nhận con người cũng như cuộc sống và

    những nét phong tục tập quán độc đáo của họ một cách sâu sắc hơn.

    Khoa học, công nghệ phát triển những chiếc xe đạp ngày càng cải tiến

    để phù hợp với từng chuyến đi, từng dạng địa hình, với chi phí ngày càng

    giảm làm cho du lịch bằng xe đạp trở nên dễ dàng và thuận tiện hơn bao giờ

    hết. Du khách có thể thuê những chiếc xe đạp địa hình để dùng cho những

    cuộc thám hiểm núi rừng, hoặc là những chiếc xe đạp đua để chinh phục

    những chặng đường dài, hoặc những chiếc xe đạp thực dụng để có thể di

    chuyển trong các đường, phố ở các thành phố để cảm nhận cuốc sống của

    con người nơi đây.

    Khi nhận thức của xã hội ngày càng tăng thì con người không chỉ

    muốn đi du lịch mà họ còn muốn góp phần bảo vệ môi trường nơi mà họ

    đến, kết hợp với việc rèn luyện sức khỏe. Đi du lịch bằng xe đạp là một hình

    thức du lịch góp phần vào công cuộc bảo vệ môi trường của điểm đến cũng

    như bảo vệ sự trong lành của mổi trường tự nhiên nói chung và du lịch bằng

    xe đạp cũng chính là một hình thức tập luyện thể dục thể thao giúp con

    người khỏe mạnh.

    Chủ chương hội nhập của nhà nước ngày càng được hiện thực hóa với

    việc mở rộng quan hệ song phương với nhiều quốc gia trên thế giới, góp

    phần vào việc ổn định tình hình chính trị và cũng góp phần làm giảm đi

    những khó khăn cho các du khách nước ngoài khi du lịch ở Việt Nam.

    Sự phát triển của thông tin, truyền thông góp phần mạnh mẽ trong

    việc quảng bá hình ảnh du lịch xe đạp Việt Nam đến với du khách.

    2.3.2: Những khó khăn, thách thức

    Bên cạnh những thuận lợi thì du lịch bằng xe đạp ở Việt Nam vẫn còn tồn tại

    những khó khăn, thách thức:

    Hệ thống đường bộ Việt Nam là một thuận lợi để phatr trienr du lịch

    bằng xe đạp nhưng nó cũng tồn tại mặt khó khăn trong đó. Nhìn ở góc độ

    25

    --- Bài cũ hơn ---

  • “du Lịch Xanh” Phố Cổ Níu Lòng Du Khách
  • Tiềm Năng Du Lịch Xanh Của Việt Nam
  • Phiêu Với Những Khu Du Lịch Xanh Mát Giữa Mùa Nắng Sài Thành
  • Phát Triển Du Lịch Xanh Việt Nam
  • Xu Hướng ‘thực Hành Xanh’ Trong Các Khách Sạn Tại Việt Nam
  • Bạn đang xem bài viết Phát Triển Du Lịch Bằng Xe Đạp Ở Việt Nam trên website Samthienha.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100