Xem Nhiều 5/2022 # Phát Triển Loại Hình Du Lịch Ẩm Thực Tại Việt Nam Trong Thời Gian Tới # Top Trend

Xem 15,345

Cập nhật thông tin chi tiết về Phát Triển Loại Hình Du Lịch Ẩm Thực Tại Việt Nam Trong Thời Gian Tới mới nhất ngày 25/05/2022 trên website Samthienha.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, bài viết này đã đạt được 15,345 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Khám Phá Văn Hóa Ẩm Thực Du Lịch Malaysia
  • Độc Đáo Nét Văn Hóa Ẩm Thực Nhật Bản
  • Khám Phá Thiên Đường Ẩm Thực Sài Gòn
  • Phát Triển Loại Hình Du Lịch Ẩm Thực Tại Việt Nam
  • Du Lịch Ẩm Thực Thái Lan
  • MỤC LỤC

    LỜI MỞ ĐẦU……………………………………………………………………………………..

    CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH DU

    LỊCH ẨM THỰC………………………………………………………………………………..

    1.1. Định nghĩa loại hình du lịch ẩm thực………………………………………………

    1.1.1.Khái niệm văn hóa ẩm thực………………………………………………………

    1.1.2.Khái niệm loại hình du lịch ẩm thực………………………………………….

    1.1.3.Phân biệt loại hình du lịch ẩm thực với các loại hình du lịch

    tương tự………………………………………………………………………………………….

    1.2.Đặc điểm của loại hình du lịch ẩm thực……………………………………………

    1.3. Điều kiện phát triển loại hình du lịch ẩm thực………………………………..

    1.3.1.Điều kiện chung phát triển du lịch……………………………………………

    1.3.2.Điều kiện đặc trưng phát triển du lịch ẩm thực …………………………

    1.4.Ý nghĩa của việc phát triển loại hình du lịch ẩm thực đối với Việt Nam

    ……………………………………………………………………………………………………….

    1.4.1.Về mặt kinh tế……………………………………………………………………….

    1.4.2.Về mặt xã hội………………………………………………………………………………

    TỔNG KẾT CHƯƠNG I……………………………………………………………………

    CHƯƠNG II: THƯC TRẠNG PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH DU LỊCH

    ẨM THỰC TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY……………………………………………

    2.1.Thực trạng về các điều kiện phát triển du lịch ẩm thực ở Việt Nam

    ……………………………………………………………………………………………………

    2.1.1.Về điều kiện tài nguyên du lịch……………………………………………….

    2.1.2.Về cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch…………………………………………….

    2.1.3.Về nguồn nhân lực…………………………………………………………………

    2.1.4.Sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương………………………….

    2.1.5.Sự đảm bảo về vệ sinh và an toàn thực phẩm…………………………….

    2.1.6.Hệ thống chính sách và nguyên tắc đảm bảo sự phát triển lâu dài

    hoạt động kinh doanh du lịch ẩm thực của các chủ thể quản lí nhà

    nước,các đơn vị kinh doanh du lịch………………………………………………….

    2.1.7.Đối tượng khách của loại hình du lịch ẩm thực Việt Nam…………………

    2.2.Đánh giá sự phát triển loại hình du lịch ẩm thực ở Việt Nam qua

    mô hình SWOT………………………………………………………………………………..

    TỔNG KẾT CHƯƠNG II………………………………………………………………….

    CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ VỚI CÁC CHỦ THỂ

    QUẢN LÍ VÀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DU LỊCH NHẰM

    PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH DU LỊCH ẨM THỰC Ở VIỆT NAM

    TRONG THỜI GIAN TỚI…………………………………………………………………

    3.1. Giải pháp phát triển du lịch ẩm thực ở Việt Nam trong thời gian tới.

    ……………………………………………………………………………………………………….

    3.1.1.Giải pháp về quy hoạch phát triển du lịch…………………………………

    3.1.2.Giải pháp phát triển cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch…………………….

    3.1.3.Giải pháp về đào tạo,phát triển nguồn nhân lực…………………………

    3.1.4.Tuyên truyền,nâng cao nhận thức về du lịch ẩm thực…………………

    3.1.6. Ban hành hệ thống chính sách quản lí thống nhất,đầy đủ…………..

    3.2. Kiến nghị của bản thân………………………………………………………………..

    3.2.1.Kiến nghị với Tổng cục du lịch……………………………………………….

    3.2.2.Kiến nghị với cục VSATTP……………………………………………………

    3.2.3.Kiến nghị với các đơn vị kinh doanh sản phẩm du lịch ẩm thực

    ……………………………………………………………………………………………………

    3.2.4.Kiến nghị với chính quyền địa phương…………………………………….

    3.2.5.Kiến nghị với nhân dân các địa bàn phát triển du lịch ẩm thực……

    TỔNG KẾT CHƯƠNG III…………………………………………………………………

    KẾT LUẬN……………………………………………………………………………………….

    TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………………………….

    LỜI MỞ ĐẦU

    1.Tính cấp thiết của đề tài

    Ai cũng biết rằng: Văn hóa ẩm thực là một biểu hiện quan trọng trong đời

    sống con người, nó hàm chứa trong đó những ý nghĩa triết lý.

    Từ xa xưa , trong dân gian đã tổng kết thành câu tục ngữ: “Học ăn, học nói,

    học gói, học mở” chủ yếu để nhắc nhở những người mới bước vào đời thì khâu đầu

    tiên là “học ăn”. Ở các nước khác trên thế giới, ngoài quan niệm dân gian thì các

    nhà chuyên môn, những người yêu thích,am hiểu về ẩm thực… đều bàn luận, viết

    những tài liệu, những cuốn sách hay về nghệ thuật ăn uống. Có ý kiến cho rằng:

    “Chính tạo hóa giúp con người kiếm thức ăn, nuôi sống họ lại còn cho họ nếm mùi

    khoái lạc với các món ăn ngon.” Đó thực sự là một niềm vui ,niềm hạnh phúc lớn

    lao của con người, là phần thưởng của tạo hóa dành cho con người. Mỗi dân tộc

    trong quá trình lịch sử hình thành và phát triển của mình đều có phong cách ẩm thực

    với những đặc thù nhất định, nên đã có người nhận xét: “Có thể đoán biết được

    phần chính yếu của số phận một dân tộc thông qua việc quan sát họ ăn như thế

    nào.”.Đối với cá nhân riêng lẻ cũng vậy, “Hãy cho tôi biết anh thường xuyên thích

    ăn món gì, tôi sẽ có thêm cứ luận để nói rõ cho anh biết anh là người thế nào.” Đã

    có một vài nhận xét thú vị được rút ra như sau :

    -Ăn chính là nghệ thuật : “Chúng ta dựa vào trí tuệ mẫn tiệp ,tình cảm đẹp đẽ

    để xây dựng cuộc sống có chất lượng cao ,ngày một hoàn thiện .Vì vậy cần phải biết

    chọn thức ăn ngon – đó là một biểu hiện của chất lượng cuộc sống”. Rõ ràng , biết

    chọn thức ăn ngon, phù hợp với mình là cả một nghệ thuật

    -Ăn là biểu hiện của văn hóa ứng xử: “Ăn thô tục là không biết ăn.”

    Cha ông ta dạy: “Ăn trông nồi, ngồi trông hướng” là rất ý nhị. Có quan niệm còn

    cho rằng khi ăn cũng phải giữ phong độ uy vũ, mạnh mẽ, chân tình nhưng tránh thô

    lậu. “Nam thực như hổ, nữ thực như miêu” là muốn nhấn mạnh ý người nam ăn

    phải khỏe, tư thế vẫn tỏ rõ nam tính, trái lại ,nữ nhi phải ăn uống dịu dàng, làm

    dáng, thể hiện cả nữ tính yểu điệu như mèo cả trong khi ăn.

    – Ăn chính còn là thực hiện niềm vui sáng tạo: “Phát hiện một món ăn mới

    phải thấy là vui sướng như phát hiện ra một ngôi sao mới”. Tạo ra một món ăn mới

    được xem như một phát minh .Nếu suy nghĩ được như vậy thì ẩm thực mới phát

    triển và thực ra nó cũng là một trong những nguồn cảm hứng vô tận cho những ai

    yêu nó, để tâm sức vào nghiên cứu nó.

    Cuối cùng, thiết nghĩ khi chuẩn bị món ăn, người đầu bếp phải tính toán lượng

    nguyên liệu sao cho vừa đủ với số lượng khách; sắp xếp nồi, niêu, xoong, chảo, bát,

    đĩa, thìa, dao, thớt sao cho gọn gàng , sạch sẽ. Nấu món ăn nào trước, món ăn nào

    sau phải hợp lý, thứ tự, thái độ nấu nướng vui vẻ, hứng khởi. Khi dọn ăn, nên chú ý

    lời mời chào tiếp cho chu đáo , ý vị thì càng làm cho các món ăn ngon thêm bội

    phần. Văn hóa ẩm thực ngày được đông đảo công chúng và các chuyên gia văn hóa

    chú ý không chỉ ở nước ta mà ở nhiều nước. Chính vì vậy ,văn hóa ẩm thực cũng

    được coi như một tài nguyên du lịch,thu hút với những đối tượng khách muốn tìm

    hiểu về văn hoá ẩm thực của một quốc gia,vùng miền.Khoảng chục năm trước,trên

    thế giới đã xuất hiện loại hình du lịch ẩm thực.Kể từ khi khai sinh thật sự của nó như

    một ngành công nghiệp vào năm 2003 ,du lịch ẩm thực đã phát triển theo cấp số nhân

    mỗi năm ,được đo bằng một số chỉ số.Trước tiên ,số lượng người tiêu dùng quan tâm

    đến đối tượng đã phát triển nhanh chóng qua cách tăng cho thấy du lịch ẩm thực trên

    truyền hình.Một thực tế là ngày càng xuất hiện nhiều hơn nhiều hơn các chương trình

    ẩm thực trên các kênh du lịch và ngược lại ,du lịch trên các kênh thực phẩm .Bên

    cạnh đó ,thống kê của ICTA -hiệp hội du lịch ẩm thực -cũng cho thấy sự tăng nhanh

    về số lượng thành viên đã cho thấy sự phát triển của du lịch ẩm thực trên thế giới

    những năm gần đây.Tuy nhiên đến nay,du lịch ẩm thực vẫn còn là khái niệm khá mới

    lạ ở Việt Nam.Đó thực sự là một sự lãng phí nguồn tài nguyên phát triển du lịch.Vì

    vậy,tôi viết về đề tài này với mong muốn có thể nghiên cứu sâu hơn về các điều kiện

    phát triển loại hình du lịch ẩm thực tại Việt Nam,từ đó đề ra một vài giải pháp nhằm

    phát triển loại hình du lịch này tại Việt Nam trong thời gian tới

    2. Mục tiêu,nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

    Mục tiêu nghiên cứu

    Phát triển loại hình du lịch ẩm thực tại Việt Nam trong thời gian tới

    Nhiệm vụ nghiên cứu

    -Chỉ ra tiềm năng phát triển loại hình du lịch ẩm thực tại Việt Nam

    -Đánh giá mức độ phát triển của loại hình du lịch ẩm thực tại Việt Nam hiện nay

    -Đề xuất những giải pháp nhằm phát triển loại hình du lịch ẩm thực tại Việt

    Nam trong thời gian tới

    3.Đối tượng nghiên cứu

    Loại hình du lịch ẩm thực

    4.Phạm vi nghiên cứu

    Trên lãnh thổ Việt Nam

    5.Phương pháp nghiên cứu

    Phương pháp luận chung

    Phương pháp này đóng vai trò nền tảng ,là căn cứ để chọn lựa ,sử dụng các

    phương pháp nghiên cứu cụ thể khác

    Phương pháp nghiên cứu tài liệu :

    -Lược thuật tài liệu

    -Thu thập ,phân tích ,tổng hợp tài liệu

    6.Nội dung nghiên cứu

    Ngoài phần mở đầu và phần kết luận ,nội dung của đề tài bao gồm :

    Chương I : Cơ sở lí luận phát triển loại hình du lịch ẩm thực

    Chương II : Thực trạng phát triển loại hình du lịch ẩm thực tại Việt Nam

    hiện nay

    Chương III : Giải pháp và kiến nghị với các chủ thể quản lí và hoạt động

    kinh doanh du lịch nhằm phát triển loại hình du lịch ẩm

    thực ở Việt Nam trong thời gian tới

    CHƯƠNG I

    CƠ SỞ LÍ LUẬN PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH

    DU LỊCH ẨM THỰC

    1.1. Định nghĩa loại hình du lịch ẩm thực

    1.1.1.Khái niệm văn hóa ẩm thực

    Khái niệm văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con

    người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn,trong sự tương tác giữa

    con người với môi trường tự nhiên và xã hội.Văn hóa ẩm thực là nội dung nói đến

    lĩnh vực chế biến,cách thưởng thức các thức ăn,đồ uống…Đó chính là nét văn hóa

    hình thành trong cuộc sống.Văn hóa ẩm thực có 3 nội dung:

    – Cách thức chế biến các đồ ăn,thức uống

    – Các nguyên liệu ẩm thực có giá trị tôn nhau

    – Cách thức thưởng thức mà nâng cao lên thành “đạo”

    Như vậy,văn hóa ẩm thực không chỉ là nét văn hóa về vật chất mà còn là văn

    hóa về tinh thần.Nét văn hóa về vật chất thể hiện trong cách trang trí món ăn sao

    cho đẹp mắt,món ăn dậy mùi thơm…kích thích vị giác của thực khách.Nét văn hóa

    về tinh thần thể hiện ở cách giao tiếp ,ứng xử giữa con người trong bữa cơm ,những

    nguyên tắc ,chuẩn mực ,phong tục ăn uống…Vậy nên có câu: “Hãy cho tôi biết anh

    thích ăn những gì,tôi sẽ cho anh biết anh là người như thế nào”

    1.1.2.Khái niệm loại hình du lịch ẩm thực

    Theo định nghĩa của hiệp hội du lịch ẩm thực,du lịch ẩm thực là sự theo đuổi

    những kinh nghiệm ẩm thực độc đáo và đáng nhớ,thường khi đi du lịch nhưng cũng

    có thể chỉ là du lịch ẩm thực tại nhà

    Cụm từ “độc đáo và đáng nhớ” là chìa khóa để hiểu du lịch ẩm thực .Nhiều

    người khi nghe đến cụm từ “du lịch ẩm thực” thường nghĩ ngay đến một nhà hàng

    sang trọng hay những chai rượu vang hảo hạng.Tuy nhiên ,đó không phải là tất

    cả.Đôi khi du lịch ẩm thực chỉ là thưởng thức những chiếc bánh ngọt tại cửa hàng

    địa phương hay khám phá ra một địa chỉ ẩm thực thú vị trên một con phố không tên

    mà chỉ người dân địa phương biết đến…Chính những trải nghiệm độc đáo và thú vị

    là điều hấp dẫn ,thu hút du khách đến với loại hình du lịch này

    Du lịch ẩm thực bao gồm các loại kinh nghiệm ẩm thực .Nó bao gồm các

    trường học nấu ăn ,sách dạy nấu ăn,các chương trình ẩm thực trên tryền hình,các

    cửa hàng tiện ích của nhà bếp và các tour du lịch ẩm thực…

    Như vậy ,du lịch ẩm thực qua các tour du lịch là một tập hợp con của du lịch

    ẩm thực nói chúng tôi nghĩa này,du lịch ẩm thực là một loại hình du lịch với mục

    đích tìm hiểu văn hóa ẩm thực của điểm đến.Trong phạm vi chuyên đề thực tập ,em

    cũng chỉ xin giới hạn việc nghiên cứu ở nghĩa hẹp của du lịch ẩm thực như một loại

    hình du lịch.

    1.1.3.Phân biệt loại hình du lịch ẩm thực với các loại hình du lịch tương tự

    Du lịch ẩm thực với du lịch văn hóa

    Du lịch văn hóa là loại hình du lịch nhằm mục đích nâng cao nhận thức cho cá

    nhân về mọi lĩnh vực như lịch sử ,kiến trúc,hội họa ,chế độ xã hội,cuộc sống của

    người dân cùng các phong tục tập quán của điểm đến…

    Như vậy,du lịch văn hóa là khái niệm bao trùm cả du lịch ẩm thực và các loại

    hình du lịch khác nữa dựa vào văn hóa,nó đề cập đến việc nâng cao nhận thức cá

    nhân trong mọi lĩnh vực.Trong khi đó,du lịch ẩm thực chỉ là nâng cao nhận thức cá

    nhân trong lĩnh vực ẩm thưc,tập quán ăn uống của người dân.Du lịch ẩm thực là tập

    hợp con của du lịch văn hóa nên cũng giống như du lịch văn hóa,du lịch ẩm thực

    cũng phải dựa trên những gì là giá trị văn hóa truyền thống của điểm đến để phát triển

    Du lịch ẩm thực với agritourism

    Agritourism,theo nghĩa rộng nhất là bất kì hoạt động du lịch nào dựa trên nông

    nghiệp hoặc khiến cho du khách tới thăm một trang trại hay trai chăn gia súc

    Agritourism bao gồm một loạt các hoạt động, bao gồm cả mua những nông

    sản được sản xuất trực tiếp từ một trang trại, điều hướng một mê cung bắp, hái trái

    cây, cho động vật ăn, hoặc ở tại một B & B trên một trang trại.

    Như vậy,agritourism khác du lịch ẩm thực ở chỗ:agritourism nhằm thỏa mãn

    nhu cầu tìm hiểu về các hoạt động nông nghiệp,tìm hiểu về cách thức ăn của con

    người được tạo ra.Còn du lịch ẩm thực nhằm thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu về nghệ

    thuật ẩm thực của điểm đến.Du lịch ẩm thực là tập hợp con của du lịch văn hóa(các

    món ăn là một biểu hiện của văn hóa),trong khi đó agritourism là tập hợp con của du

    lịch nông thôn.Điều đó có nghĩa là du lịch ẩm thực và agritourism gắn bó chặt chẽ

    với nhau,như những hạt giống của các món ăn có thể được tìm thấy trong nông

    nghiệp

    1.2.Đặc điểm của loại hình du lịch ẩm thực

    Du lịch ẩm thực phản ánh và chứa đựng tài nguyên tự nhiên,văn hóa và

    lịch sử của bản địa

    Nhìn vào nền ẩm thực của một quốc gia,vùng miền nào đó ta có thể phần nào

    thấy được điều kiện tự nhiên của quốc gia,vùng miền đó.Bởi với điều kiện tự nhiên

    khác nhau như khí hậu ,địa hình…thì số lượng,chủng loại nguồn nguyên liệu cũng

    như mùi vị các món ăn cũng khác nhauVí dụ như Nhật Bản là quốc gia được bao

    bọc bởi bốn bề là biển nên thủy,hải sản rất phong phú.Bởi vậy,trong những món ăn

    thường ngày của người Nhật không bao giờ thiếu cá và các loại hải sản khác.

    Yếu tố văn hóa chính là linh hồn của du lịch ẩm thực .Chẳng ai đi du lịch chỉ

    để “ăn”một cách thuần túy.Vấn đề ăn uống trong du lịch đã được nâng lên thành cả

    một nghệ thuật.Ăn không chỉ để hưởng thụ cuộc sống mà qua ăn uống,người ta còn

    có thể nâng cao vốn tri thức của mình về một nền văn hóa.Các giá trị văn hóa được

    thể hiện trong cách chế biến hay cách thức ăn uống theo đúng kiểu của người dân

    bản địa.Bên cạnh đó,giá trị văn hóa còn thể hiện ở không gian kiến trúc,cách bài trí

    của nhà hàng,quán ăn:ở cung cách phục vụ,trang phục của nhân viên hay chính ở lối

    sống của người dân bản địa

    Du lịch ẩm thực còn phản ánh trong đó những giá trị lịch sử của mỗi vùng

    miền.Huế xưa kia từng là đất kinh kì,nơi mà lối sống của tầng lớp quý tộc và

    thượng lưu trí thức luôn được đề cao nên thực đơn và cách chế biến món ăn Huế

    luôn mang tính công phu, tỉ mỉ. Tư tưởng đó sau này dù khi không còn ở vị trí

    trung tâm của đất nước nhưng người Huế vẫn cứ muốn tìm những cái cầu kỳ trong

    ăn uống để khẳng định sắc thái của mình. Đó chính là cái không hướng đến sự ăn

    nhiều,ăn no, ăn thoải mái mà hướng đến triết lý ăn để thưởng thức cái đẹp của

    người Huế. Đó cũng chính là cái khung cảnh ăn uống mang đậm yếu tố thiên

    nhiên , hòa quyện ,gắn bó với con người. Chính đặc trưng rõ nét đó đã tạo ra một

    “lối nấu Huế” để phân biệt với những nơi khác. Lối nấu mà một nhà nghiên cứu về

    văn hóa Huế đã viết: “Trong bữa ăn, người Huế ưa ăn các món ăn đa dạng, hỗn

    hợp, dù mỗi món chỉ dùng một ít. Trong chế biến cũng như trong ăn uống, người

    Huế thích phải tinh vi, tỉ mỉ, cầu kỳ, thể hiện một ý thức mỹ cảm rõ rệt, con người

    ăn uống không chỉ để thỏa mãn nhu cầu sinh tồn mà còn để thưởng thức cái mà

    mình sáng tạo ra”

    Du lịch ẩm thực hướng tới việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa

    truyền thống của điểm đến

    Du lịch ẩm thực phát triển dựa trên nền văn hóa ẩm thực mang đậm bản sắc

    của điểm đến,cái mà du khách tìm đến là bản sắc riêng của nền văn hóa đó.Điều đó

    có nghĩa là sự lai tạp giữa nền văn hóa ẩm thực bản địa với văn hóa ẩm thực của

    những vùng miền khác sẽ làm mất đi ý nghĩa của du lịch ẩm thực,làm giảm tính hấp

    dẫn của điểm đến với du khách.Vì vậy ,phát triển du lịch ẩm thực đặt ra yêu cầu

    phải bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của điểm đến.

    Du lịch ẩm thực mang lại lợi ích cho cộng đồng dân cư địa phương

    Du lịch ẩm thực không có nghĩa là chỉ dẫn du khách đi ăn tại các nhà hàng

    sang trọng ,mà đó có thể chỉ là tìm đến những quán ăn bình dân ,thưởng thức những

    món ăn ở đó ,để du khách có thể hòa mình với lối sống của người dân bản địa.Du

    khách cũng có thể tới tham quan các làng nghề ẩm thực truyền thống của địa

    phương ,tham gia vào một công đoạn sản xuất hoặc được tự tay chế biến những

    món ăn từ chính những sản phẩm của làng nghề.Điều đó có nghĩa là các nhà

    hàng,quán ăn bình dân và các làng nghề truyền thống của cư dân địa phương cũng

    là một yếu tố góp phần phát triển du lịch ẩm thực.Mặt khác,du lịch ẩm thực phát

    triển cũng sẽ thúc đẩy sự phát triển của các nhà hàng,quán ăn và các làng nghề

    truyền thống ,mang lại lợi ích cho chính các hộ kinh doanh của địa phương.Bên

    cạnh đó,du lịch ẩm thực phát triển sẽ tiêu thụ một lượng lớn hơn các sản phẩm nông

    sản và thực phẩm do địa phương tạo ra,đồng thời giúp gia tăng giá trị các sản phẩm

    đó lên gấp rất nhiều lần.

    Ngoài ra,cũng giống bất kì hoạt động du lịch nào khác ,du lịch ẩm thực phát

    triển cũng sẽ mang lại nguồn thu lớn cho địa phương từ các khoản phí và thuế mà

    các doanh nghiệp kinh doanh du lịch trên địa bàn nộp.

    Về mặt xã hội,du lịch ẩm thực cũng mang lại rất nhiều lợi ích cho địa

    phương.Du lịch ẩm thực thu hút lượng khách lớn đến từ những nền văn hóa khác,sẽ

    thổi vào một luồng sinh khí mới cho điểm đến.Nền văn hóa mới với lối sống,tác

    phong ,suy nghĩ mới sẽ giúp dân cư địa phương mở mang đầu óc,thay đổi sự nhận

    thức đối với thế giới xung quanh.Đó sẽ là động lực để nhân dân địa phương tự làm

    mới bản thân ,nắm bắt cơ hội làm giàu trên chính mảnh đất quê hương mình.

    Cũng chính bởi lợi ích to lớn mà du lịch ẩm thực mang lại cho cộng đồng dân

    cư địa phương sẽ giúp họ hiểu được tầm quan trọng của các giá trị văn hóa truyền

    thống của địa phương cũng như tính cấp thiết phải giữ gìn và phát huy các giá trị

    truyền thống đó.Như vậy,phát triển du lịch ẩm thực cần gắn với lợi ích cả công

    đồng dân cư địa phương

    Thời gian làm việc gia đình và các nhu cầu sinh hoạt hàng ngày như mua

    hàng, dọn dẹp nhà cửa …

    Thời gian cần thiết để thoả mãn các nhu cầu tự nhiên, nhu cầu sinh lý: ngủ, ăn…

    Thời gian rỗi:

    Trong sự phân chia trên, thời gian rỗi là đối tượng cần nghiên cứu của môn

    khoa học về tổ chức du lịch. Mối quan tâm của xã hội hiện nay không chỉ là số

    lượng thời gian rỗi của con người. Điều quan trọng hơn là con người sử dụng thời

    gian đó vào mục đích gì và sử dụng như thế nào. Thời gian rỗi có thể tăng lên nếu

    con người sử dụng thời gian hợp lý quỹ thời gian và có chế độ lao động đúng đắn.

    Với chế độ làm việc năm ngày một tuần ở nhiều nước, số thời gian rỗi tăng lên và

    đó là điều kiện thực tế để tổ choc hợp lý du lịch và nghỉ ngơi cho nhân dân lao

    động. Thời gian rỗi còn tăng bằng cách giảm bớt thời gian của các công việc khác

    ngoài giờ làm việc.

    Tóm lại, để có thể tăng thời gian rỗi, phải có cơ cấu thời gian ngoài giờ làm

    việc hợp lý. Điều này có thể thực hiện được nếu mạng lưới thương nghiệp được mở

    rộng, mạng lưới phục vụ công cộng, giao thông, y tế…được tổ chức và quản lý tốt.

    Thời gian rỗi nằm trong quỹ thời gian, còn thời gian dành cho du lịch, thể thao và

    nghỉ ngơi lại nằm trong thời gian rỗi. Do vậy, du lịch muốn phát triển tốt phải

    nghiên cứu đầy đủ cơ cấu của thời gian làm việc, cơ cấu của thời gian rỗi, phải xác

    lập được ảnh hưởng của các thành phần thời gian khác lên thời gian rỗi. Việc áp

    dụng phương pháp hệ thống tìm ra các phương hướng phát triển và phục cụ thích

    hợp cho thể thao, du lịch và nghỉ ngơi.

    Trên cơ sở xu hướng phát triển của thời gian làm việc, thời gian ngoài giờ làm

    việc và thời gian rỗi, các chuyên gia đã dự đoán, số ngày làm việc bình quân một

    năm sẽ không vượt qúa 200. Đó là điều kiện thực tế và khả năng tăng số ngày nghỉ

    phép trong năm cho phép các tổ chức du lịch thu hút được thêm khách đến các cơ

    sở của mình. Số thời gian rỗi ngày càng được kéo dài đó phải được sử dụng hợp lý.

    Các cơ sở du lịch sẽ trở thành nguồn tiết kiệm thời gian rỗi và là tiền đề vật chất cho

    việc kéo dài thời gian rỗi của nhân dân lao động. Các cơ sở ấy đóng vai trò trung

    tâm trong việc kích thích sử dụng thời gian rỗi một cách hợp lý, để thoả mãn nhu

    cầu thể chất và tinh thần cho toàn dân.

    1.3.1.2. Mức sống về vật chất và trình độ văn hoá chung của người dân cao.

    Mức sống về vật chất cao

    Thu nhập của nhân dân là chỉ tiêu quan trọng và là điều kiện vật chất để họ có

    thể tham gia đi du lịch. Con người khi muốn đi du lịch không phải chỉ cần có thời

    gian mà còn phảicó đủ tiền mới có thể thực hiện được mong muốn đó. Khi đi du

    lịch và lưu trú ngoài nơi ở thường xuyên, khách du lịch luôn là người tiêu ding của

    nhiều loại dịch vụ, hàng hoá. Con người để có thể đi du lịch và tiêu dùng phải có

    phương tiện vật chất đầy đủ. Đó là điều kiện cần thiết để biến nhu cầu đi du lịch nói

    chung thành có khả năng thanh toán,vì khi đi du lịch họ phải trả ngoài các khoản

    tiền cho các nhu cầu giống như các nhu cầu thường ngày, còn phải trả thêm các

    khoản khác như tiền tàu xe, tiền thuê nhà ở, tiền tham quan…và xu hướng của con

    người khi đi du lịch là chi tiêu rộng rãi hơn. Do vậy, phúc lợi vật chất của nhân dân

    là điều kiện có nghĩa to lớn trong sự phát triển của du lịch. Và mỗi khi thu nhập của

    nhân dân tăng thì sự tiêu dùng của du lịch tăng theo, đồng thời có sự thay đổi về cơ

    cấu của tiêu dùng du lịch. Phúc lợi vật chất của nhân dân luôn phụ thuộc vào sự

    phát triển của nền kinh tế, vào thu nhập quốc dân của đất nước đó. Vì nguyên nhân

    đó, những nước có nền kinh tế phát triển, đảm bảo cho dân có mức sống cao, một

    mặt,có điều kiện sản xuất ra nhiều của cải vật chất và có khả năng phát triển du lịch

    trong nước và mặt khác có thể gửi khách du lịch ra nước ngoài, nhưng vì kinh tế lạc

    hậu, chậm phát triển nên không thể phát triển du lịch và càng không thể gửi nhiều

    khách du lịch ra nước ngoài được.

    Trình độ văn hoá chung của nhân dân cao

    Trình độ văn hóa chung của một dân tộc được nâng cao, thì động cơ đi du lịch

    của nhân dân ở đó tăng lên rõ rệt. Số người đi du lịch tăng, lòng ham hiểu biết và

    mong muốn làm quen với các nước xa gần cũng tăng và trong nhân dân, thói quen

    đi du lịch sẽ hình thành ngày càng rõ rệt. Mặt khác, nếu trình độ văn hoá chung của

    một đất nước cao, thì đất nước đó khi phát triển du lịch sẽ dễ đảm bảo phục vụ

    khách du lịch một cách văn minh và làm hài lòng khách đi du lịch đến đó.

    1.3.1.3. Điều kiện giao thông vận tải phát triển

    Từ xưa, giao thông vận tảilà tiền đề cho sự phát triển du lịch. Ngày nay, giao

    vận tải đã trở thành một trong những nhân tố chính cho sự phát triển của du lịch,

    đặc biệt là du lịch quốc tế.

    Trong những năm gần đây, lĩnh vực giao thông, đặc biệt là giao thông trong du

    lịch phát triển cả về lượng lẫn về chất lượng.

    Phát triển về số lượng: thực chất đó là việc tăng chủng loại và số lượng các

    phương tiện vận chuyển. Sự phát triển về số lượng của các phương tiện vận chuyển

    đã làm cho mạng lưới giao thông vươn tới được mọi nơi trên trái đất. Hiện nay trên

    thê giới có trên 300 triệu khách du lịch đI qua biên giới các nước bằng các phương

    tiện vận chuyển khác nhau.

    Phát triển về chất lượng của các phương tiện vận tải theo hướng:

    Tốc độ vận chuyển: Việc tăng tốc độ vận chuyển cho phép tiết kiêm thời gian

    đi lai và cho phép kéo dài thời gian ở lại nơi du lịch và cho phép khách du lịch đến

    những nơi xa xôi

    Đảm bảo an toàn trong vận chuyển: Ngày nay, sự tiến bộ khoa hoc kỹ thuật đã

    làm tăng rõ rệt tính an toàn trong vận chuyển hành khách

    Đảm bảo tiện lợi trong vận chuyển

    Vận chuyển với giá rẻ

    Tiến bộ của vận chuyển hành khách còn thể hiện trong sự phối hợp các loại

    phương tiện vận chuyển. Điều đó có ý nghĩa rất lớn trong sự phát triển của du lịch. Sự

    phối hợp đó có hai mức độ: mức độ dân tộc và mức độ quốc tế. Cả hai mức độ có vai

    trò quan trọng trong vận chuyển hành khách du lịch. Việc tổ chức vận tải phối hợp tốt

    cho phép rút ngắn thời gian chờ đợi ở các điểm giữa tuyến và tạo ra điều kiện thuận

    lợi khi phảiđổi phương tiện vận chuyển và làm vừa lòng khách đi du lịch..

    1.3.1.4. Tình hình và xu hướng phát triển kinh tế của đất nước

    Khả năng và xu hướng phát triển du lịch của một đất nước phụ thuộc ở mức

    độ lớn vào tình hình và xu hướng phát triển kinh tế ở đó. Theo ý kiến của một số

    chuyên gia kinh tế thuộc Hội đồng kinh tế và xã hội của Liên hiệp quốc, một đất

    nước có thể phát triển du lịch nếu nước đó tự sản xuất được phần lớn số của cải vật

    chất cần thiết cho du lịch. Nếu một nước phải nhập một khối lượng lớn hàng hoá để

    trang bị cho cơ sở vật chất kỹ thuật để đảm bảo phục vu khách du lịch thì việc cung

    ứng vật tư hàng hóa sẽ hết sức khó khăn.

    Tình hình và xu hướng phát triển kinh tế của một đất nước được phân tích và

    đánh giá chủ yếu theo các hướng:

    Thực trạng và xu hướng phát triển của tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng

    sản phẩm quốc nội tình theo đầu người.

    Tỷ trọng và xu hướng phát triển của các ngành sản xuất ra hàng hoá tiêu dùng

    và các ngành sản xuất ra tư liệu sản xuất. Sự phát triển của ngành công nghiệp nhẹ,

    nông nghiệp và công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm có ý nghĩa quan trọng

    đỗi với việc phát triển du lịch. Vì ngành du lịch sử dụng khối lượng lớn lương thực,

    thực phẩm.

    Xu hướng phát triển của nội, ngoại thương

    Tỷ trọng dân đang trong độ tuổi lao động tích cực trong tổng dân số. Đặc biệt

    đối với ngành du lịch là ngành cần có hàm lượng lao động sống lớn thì yếu tố này

    đặc biệt quan trọng trong giúp cho hoạt động du lịch phát triển

    1.3.1.5. Tình hình chính trị hoà bình, ổn định của đất nước và các điều kiện

    an toàn đối với du khách.

    Tình hình chính trị, hoà bình ổn định là tiền đề cho sự phát triển kinh tế, chính trị,

    văn hoá, xã hội của một đất nước. Một quốc gia mặc dù điều kiện tài nguyên phong

    phú cũng không thể phát triển du lịch nếu như ở đó luôn xảy ra những sự kiện hoặc

    thiên tai làm xấu đi tình hình chính trị và hoà bình ổn định thì không có điều kiện để

    phát triển kinh doanh du lịch và cũng không thu hút được khách du lịch.

    Các điều kiện an toàn đối với khách du lịch

    Các yếu tố ảnh hưởng đến sự an toàn trực tiếp hoặc gián tiếp của khách du lịch

    có thể theo các hướng sau:

    Tình hình an ninh, trật tự xã hội

    Lòng hận thù đối của dân bản địa đối với một dân tộc nào đó

    Các loai bệnh dịch

    Nói tóm lại, các điều kiện chung để phát triển du lịch ở trên tác động một cách

    độc lập lên sự phát triển du lịch. Các điều kiện ấy ảnh hưởng đến du lịch tách rời

    nhau. Do vậy, nếu thiếu một trong những điều kiện ấy thì sự phát triển của du lịch

    có thể bị trì trệ, giảm sút hoặc hoàn toàn ngừng hẳn. Sự có mặt của tất cả các điều

    kiện trên đảm bảo cho sự phát triển mạnh mẽ cả ngành du lịch như một hiện tượng

    kinh tế – xã hội đai chúng và lặp lại đều đặn.

    1.3.2.Điều kiện đặc trưng phát triển du lịch ẩm thực .

    Nền văn hóa ẩm thực phong phú,độc đáo

    Đối với những loại hình du lịch khác,ăn uống cũng đóng vai trò quan trọng

    trong việc tác động tới cảm nhận của du khách về toàn bộ chuyến đi du lịch nhưng

    không được xem như là một nhân tố để du khách quyết định thực hiện chuyến du

    lịch.Vì vậy ,đôi khi chỉ cần xây dựng thực đơn cho phù hợp với khẩu vị của du

    khách.Nhưng đối với loại hình du lịch ẩm thực ,ẩm thực lại là nhân tố quyết định

    trong việc lựa chọn chương trình du lịch,các điểm đến.Chính vì vậy ,điểm đến có

    nền văn hóa ẩm thực càng phong phú, độc đáo bao nhiêu thì càng hấp dẫn với du

    khách bấy nhiêu.Mức độ phong phú của một nền ẩm thực có thể là do sự hội tụ của

    nhiều tộc người khác nhau với những sắc thái ẩm thực khác nhau trên cùng một

    vùng,miền hoặc cũng có thể đó là nơi tập trung của nhiều làng nghề ẩm thực …Sự

    phong phú của nền văn hóa ẩm thực sẽ mang đến cho du khách nhiều cơ hội khám

    phá ,học hỏi .Còn tính độc đáo được tạo nên bởi những đặc trưng của một nền ẩm

    thực,nó tạo ra sự khác biệt với các nền văn hóa ẩm thực khác.Sự độc đáo có thể thể

    hiện ở cách thức chế biến món ăn,mùi vị đặc trưng ,lợi ích của món ăn hay ở kiến

    trúc nhà hàng,quán ăn…Tuy nhiên,khi đưa vào để phát triển thành một sản phẩm du

    lịch thì tình độc đáo cũng chỉ là một khái niệm tương đối vì trong du lịch,các sản

    phẩm du lịch rất dễ bị bắt chước.Vì vậy,luôn tìm tòi ,sáng tạo nhưng không làm mất

    đi bản sắc riêng là yêu cầu không thể thiếu trong việc phát triển du lịch nói

    chung,du lịch ẩm thực nói riêng

    một công đoạn sản xuất tại làng nghề hay tự nấu một món ăn và thưởng thức thành

    quả tự mình làm ra.

    Tuy nhiên ,việc thiết kế ,xây dựng các nhà hàng ,quán ăn đặc biệt chú ý đến

    các điều kiện về vệ sinh và sự hài hòa với môi trường xung quanh

    Nguồn nhân lực,đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất,chế biến,dịch vụ ăn uống

    có chất lượng cao

    Du lịch là một lĩnh vực hoạt động kinh doanh cung cấp dịch vụ.Bởi thế,nhân

    tố con người càng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của hoạt động kinh

    doanh du lịch. Đối với loại hình du lịch ẩm thực ,lao động trong bộ phận sản xuất,chế

    biến thực phẩm và bộ phận phục vụ thức ăn,đồ uống cần được chú trọng đặc biệt.Du

    khách tìm đến với loại hình du lịch này với mong muốn có được những trải nghiệm

    độc đáo và đáng nhớ về ẩm thực.Do đó,phải làm sao để chế biến ra những món ăn,đồ

    uống ngon,bổ,trình diễn những kĩ thuật chế biến mới lạ,hấp dẫn và tạo dựng được

    phong cách phục vụ chuyên nghiệp.Để làm được điều đó,không những đòi hỏi bản

    thân người lao động cần có lòng nhiệt huyết,đam mê,tự trau dồi kiến thức mà còn có

    sự đào tạo bài bản từ phía các trường lớp ,các viện nghiên cứu.Có vậy mới tạo ra đội

    ngũ người lao động đáp ứng nhu cầu về số lượng và chất lượng

    Sự tham gia tích cực của công đồng dân cư địa phương

    Cũng như điều kiện để phát triển du lịch văn hóa ,sự tham gia của cộng đồng

    dân cư địa phương là cần thiết đối với sự phát triển của du lịch ẩm thực.Đối với loại

    hình du lịch ẩm thực,cái mà du khách tìm đến không chỉ là vị ngon của thức ăn ,đồ

    uống mà còn là những giá trị về mặt tinh thần .Đó là sự hiểu biêt về một nền văn

    hóa khác thông qua những phong tục truyền thống,lối sống của người dân bản

    địa.Hơn ai hết,chính người dân bản địa lại là những người am hiểu nhất về nền văn

    hóa địa phương.Và cũng chính họ sẽ là người quyết định sự thịnh suy của nền văn

    hóa đó.Chính vì vậy,để có thể lưu giữ và phát huy một nền văn hóa thì phải dựa vào

    chính người dân địa phương.

    Sự đảm bảo về an toàn vệ sinh thực phẩm

    Vấn đề an ninh,an toàn tính mạng luôn là vấn đề du khách quan tâm khi quyết

    định điểm đến cho chuyến hành trình du lịch của mình.Theo lý thuyết Maslow về

    nhu cầu của con người,nhu cầu an ninh,an toàn cho tính mạng được xếp ở vị trí thứ

    hai trong thang bậc các nhu cầu,chỉ sau nhu cầu sinh lí.Với loại hình du lịch ẩm

    thực,du khách dường như luôn tiếp xúc với thức ăn,đồ uống của điểm đến.Nếu

    không được đảm bảo về vệ sinh thì đó chính là nguồn khiến mầm bệnh xâm nhập

    trực tiếp và nhanh nhất vào cơ thể con người.Do đó ,cần chú trọng đặc biệt đến vấn

    đề vệ sinh,cả ở khu vực bên trong các nhà hàng,quán ăn,các làng nghề và môi

    trường xung quanh..Đối với bên trong,phải đảm bảo sự sạch sẽ ở mức cao nhất các

    trang thiết bị,dụng cụ nấu nướng,ăn uống.Nguồn nguyên liệu phải rõ ràng xuất

    xứ,đảm bảo các yêu cầu về vệ sinh…Đối với bên ngoài,cần thực hiện tốt các điều

    kiện vệ sinh môi trường và các biện pháp xử lí chất thải…

    địa phương ,các đơn vị kinh doanh du lịch cần xác định những đặc trưng của nền

    văn hóa ẩm thực trên địa bàn,khu vực và nghiên cứu đặc điểm đối tượng khách

    hàng mục tiêu cho phù hợp

    1.4.Ý nghĩa của việc phát triển loại hình du lịch ẩm thực đối với Việt Nam

    1.4.1.Về mặt kinh tế

    Du lịch ẩm thực giúp làm gia tăng giá trị tổng sản phẩm quốc dân cho

    ngành du lịch và cho đất nước

    Cũng giống như các hoạt động du lịch khác,du lịch ẩm thực làm tăng nguồn

    thu ngân sách cho địa phương phát triển du lịch ẩm thực.Nguồn thu này lấy từ các

    khoản trích nộp ngân sách của các cơ sở kinh doanh du lịch thuộc quản lí trực tiếp

    của địa phương.

    Du lịch ẩm thực còn góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển

    theo.Vì chính yêu cầu hỗ trợ liên ngành trong hoạt động du lịch là cơ sở cho các

    ngành khác phát triển như giao thông vận tải,tài chính,bưu điện…Chính du lịch

    giúp nền kinh tế trong việc mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa.Với du lịch ẩm

    thực thì khách du lịch cũng không thể ăn uống liên tục cả ngày.Theo điều tra của

    hiệp hội nhà hàng quốc gia Hoa Kì,hiệp hội công nghiệp du lịch của Mỹ và ủy ban

    du lịch Canada,khách du lịch,người quan tâm đến rượu vang/ẩm thực cũng cho thấy

    một ái lực đối với các viện bảo tàng,nhà hát,mua sắm,âm nhạc,liên hoan phim và

    giải trí ngoài trời.Thực tế là chi tiêu cho các hoạt động này nhiều khi còn lớn hơn cả

    tổng hóa đơn bữa tối.Như vậy ,không chỉ ngành kinh doanh ăn uống tăng doanh thu

    mà doanh thu của các doanh nghiệp khác cũng tăng lên đáng kể nhờ phát triển hoạt

    động kinh doanh du lịch ẩm thực.

    Mặt khác,du lịch ẩm thực dựa trên nguồn tài nguyên chính là ẩm thực,nguồn tài

    nguyên hấp dẫn có sẵn quanh năm.Phát triển loại hình du lịch ẩm thực nhờ vậy sẽ kéo

    dài thời gian lưu trú của khách ,góp phần khắc phục tính mùa vụ trong du lịch

    Du lịch ẩm thực giúp tăng sản lượng tiêu thụ và gia tăng giá trị cho các sản

    phẩm nông nghiệp,chăn nuôi,thủy hải sản,công nghiệp chế biến thực phẩm

    Ta thử làm phép tính đơn giản sau:Giá của một kg cà chua bán trên thị trường

    chưa được 1USD nhưng khi đem bán vào nhà hàng ,khách sạn làm món salat trộn sẽ

    tăng gấp chục lần.Báo chí cũng đã viết rằng:1kg cà phê hạt là 1USD nhưng chế biến

    1kg cà phê để bán cho người tiêu dùng cho vào cốc cà phê thì giá sẽ lên tới

    600USD.Như vậy ,có thể thấy dịch vụ phục vụ ăn uống sẽ làm tăng giá trị các sản

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Hóa Ẩm Thực Huế
  • Ẩm Thực Du Lịch Hội An
  • Những Nét Độc Đáo Trong Nền Văn Hóa Ẩm Thực Của Hàn Quốc Bạn Vẫn Chưa Biết
  • Food Tour Hải Phòng, Ăn Hoài Vẫn Chưa Thấy Hết!
  • Những Món Ăn Ngon Tạo Nên Thiên Đường Ẩm Thực Cần Thơ ⋆ Innotour.vn
  • Bạn đang xem bài viết Phát Triển Loại Hình Du Lịch Ẩm Thực Tại Việt Nam Trong Thời Gian Tới trên website Samthienha.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100