Xem Nhiều 5/2022 # Tài Nguyên Du Lịch Nhân Văn Việt Nam # Top Trend

Xem 19,503

Cập nhật thông tin chi tiết về Tài Nguyên Du Lịch Nhân Văn Việt Nam mới nhất ngày 29/05/2022 trên website Samthienha.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, bài viết này đã đạt được 19,503 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Tài Nguyên Du Lịch Nhân Văn
  • Tour Du Lịch Đà Nẵng Với Giá Rẻ Chỉ Từ 2.050.000 Vnđ
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Cuba Cực Bổ Ích Và “siêu” Tiết Kiệm
  • Cách Làm Thủ Tục Xin Visa Du Lịch Nhật Bản Tự Túc
  • Du Lịch Khoang Xanh Suối Tiên 2 Ngày 1 Đêm Thoả Sức Tận Hưởng Thiên Nhiên Trong Lành
  • PHẦN MỞ ĐẦU

    1.

    Lí do chọn đề tài

    Du lịch là ngành công nghiệp không khói có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình

    phát triển kinh tế bởi mang lại lợi ích kinh tế cao. Đặc biệt với các quốc gia đang

    trong quá trình hội nhập và phát triển như Việt Nam thì việc đẩy mạnh phát triển du

    lịch là một vấn đề quan trọng. Để phát triển du lịch đòi hỏi phải có sự hợp thành của

    nhiều yếu tố. Trong đó tài nguyên du lịch là yếu tố cơ bản để tạo thành các sản phẩm

    du lịch. Chính sự phong phú đa dạng và đặc sắc của tài nguyên du lịch tạo nên sự

    phong phú, đa dạng, hấp dẫn của sản phẩm du lịch.

    Trải dài trên lãnh thổ hình chữ S, Việt Nam có rất nhều các tài nguyên du lịch,

    từ những tài nguyên du lịch tự nhiên đến tài nguyên du lịch nhân văn với vô vàng

    danh lam thắng cảnh nổi tiếng. Những điểm đến là khu du lịch sinh thái, vườn quốc

    gia, vịnh biển, hệ thống các đảo và quần đảo làm cho tài nguyên thiên nhiên thêm

    phong phú. Bên cạnh đó là tài nguyên du lịch nhân văn với nhiều di tích mang đậm

    giá trị lịch sử và không ít công trình là “Di sản văn hóa của nhân loại”. Với tài

    nguyên vô cùng đa dạng đó việc khai thác các thế mạnh, tính toán đến tác động môi

    trường khác nhau trong quá trình khai thác là vấn đề hết sức khó khăn, đặc biệt là tài

    nguyên du lịch nhân văn.

    Xuất phát từ mâu thuẫn đó, tôi nghiên cứu vấn đề: “Thế mạnh tài nguyên du

    lịch nhân văn và tác động đến phát triển kinh tế xã hội”. Đề tài tạo điều kiện đánh

    giá giá trị tài nguyên du lịch nhân văn, xác định mối quan hệ giữa tài nguyên du lịch

    nhân văn và việc khai thác các tài nguyên đó để phục vụ phát triển du lịch.

    2.

    Mục tiêu của đề tài

    Đánh giá thế mạnh tài nguyên du lịch nhân văn Việt Nam nhằm xây dựng định

    hướng khai thác phù hợp và đề xuất các giải pháp khai thác có hiệu quả.

    3.

    Nhiệm vụ của đề tài

    Tổng hợp một số vấn đề lí luận về du lịch nói chung và tài nguyên du lịch

    nhân văn nói riêng.

    Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn trên lãnh thổ Việt Nam

    Nghiên cứu đánh giá thực trạng khai thác tài nguyên du lịch nhân văn Việt

    Nam nhằm xây dựng định hướng khai thác phù hợp.

    4.

    Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

    Đối tượng nghiên cứu: Tài nguyên du lịch nhân văn tác động trên các mặt

    Kinh tế – xã hội – môi trường.

    Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu tài nguyên du lịch nhân văn trên lãnh

    thổ Việt Nam.

    5.

    Các phương pháp nghiên cứu

    Phương pháp phân tích số liệu thống kê: thu thập các tài liệu thông kê liên

    quan từ các cơ trung ương đến địa phương tỉnh, huyện, xã,…

    Kế thừa những kết quả nghiên cứu có trước, hệ thống hóa cơ sở lí luận, thực

    tiễn và vận dụng vào đề tài một cách hợp lý.

    6.

    Nội dung bài tiểu luận

    Ngoài phần mở đầu, kết luận, và tài liệu tham khảo, đề tài gồm các nội dung

    chính sau:

    Chương 1. Một số vấn đề lí luận cơ bản về du lịch và tài nguyên du lịch nhân

    văn.

    Chương 2. Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch nhân văn ở Việt Nam.

    Chương 3. Tác động của tài nguyên du lịch nhân văn đến Kinh tế – Xã hội –

    Môi trường của Việt Nam.

    Chương 4. Giải pháp khai thác tài nguyên du lịch nhân văn của Việt Nam.

    PHẦN NỘI DUNG

    CHƯƠNG 1

    MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VÀ THỰC TIỄN VỀ DU LỊCH

    VÀ TÀI NGUYÊN DU LỊCH NHÂN VĂN

    1.1.

    Một số vấn đề lí luận

    1.1.1. Khái niệm du lịch

    Dưới những góc độ nghiên cứu khác nhau, hoàn cảnh không gian, thời gian

    khác nhau, mỗi tổ chức cá nhân có những cách hiểu về du lịch khác nhau.

    Với mục đích quốc tế hóa, tại hội nghị Liên Hợp Quốc về du lịch họp tại

    ROMA (Italia) năm 1963, các chuyên gia đã đưa ra khái niệm như sau: “Du lịch là

    tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ cuộc

    hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi cư trú thường xuyên

    của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình. Nơi họ đến du lịch không phải nơi

    làm việc của họ.”

    Tổ chức Du lịch thế giới (World Tourism Organization) lại định nghĩa: “Du

    lịch là tổng thể các hiện tượng và các mối quan hệ xuất phát từ sự giao lưu với du

    khách, các nhà kinh doanh, chính quyền địa phương và cộng đồng dân cư trong quá

    trình thu hút và đón tiếp khách du lịch.”

    1.1.2. Khái niệm tài nguyên du lịch

    Tài nguyên hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các nguồn nguyên liệu, năng

    lượng và thông tin trên Trái Đất và trong không gian vũ trụ mà con người có thể sử

    dụng phục vụ cho cuộc sống và sự phát triển của mình.

    Tài nguyên du lịch theo Pirojnik: “Tài nguyên du lịch là những tổng thể tự

    nhiên văn hóa – lịch sử và những thành phần của chúng, tạo điều kiện cho việc phục

    hồi và phát triển thể lực tinh thần của con người, khả năng lao động và sức khỏe của

    họ, trong cấu trúc nhu cầu du lịch hiện tại và tương lai, trong khả năng kinh tế kĩ

    thuật cho phép, chúng được dùng để trực tiếp và gián tiếp sản xuất những dịch vụ du

    lịch và nghỉ ngơi.”

    Tài nguyên du lịch là một dạng đặc sắc của tài nguyên nói chung. Khái niệm

    này luôn gắn liền với khái niệm du lịch.

    – Tài nguyên du lịch có khả năng sử dụng nhiều lần nếu tuân theo các qui

    định về sử dụng một cách hợp lý, thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo vệ.

    1.2.

    Phân loại tài nguyên du lịch:

    Tài nguyên du lịch có thể chia làm 2 nhóm sau:

    Tài nguyên tự nhiên:

    Tài nguyên nhân văn:

     Tài nguyên nhân văn vật thể

    Di sản văn hoá thế giới

    Các Di tích lịch sử văn hoá, thắng cảnh đẹp cấp quốc gia và địa phương

     Tài nguyên nhân văn phi vật thể

    Di sản văn hoá truyền miệng và phi vật thể của nhân loại

    Các lễ hội

    Nghề và làng nghề thủ công truyền thống

    Văn hoá nghệ thuật

    Văn hoá ẩm thực

    Thơ ca và văn học

    Văn hoá ứng xử và những phong tục, tập quán tốt đẹp

    Tài nguyên du lịch gắn với văn hoá các tộc người

    Các hoạt động mang tính sự kiện

    1.2.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên

    Theo khoản 1 (Điều 13, Chương II) Luật du lịch Việt Nam năm 2005 quy

    định: “Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí

    hậu, thuỷ văn, hệ sinh thái, cảnh quan tự nhiên đang được khai thác hoặc có thể

    được sử dụng phục vụ mục đích du lịch”.

    Các loại tài nguyên du lịch tự nhiên không tồn tại độc lập mà luôn luôn tồn

    tại, phát triển trong cùng một không gian lãnh thổ nhất định, nó có mối quan hệ qua

    lại, tương hỗ chặt chẽ theo những quy luật của tự nhiên cũng như các điều kiện văn

    hoá, kinh tế – xã hội và thường được phân bố gần các tài nguyên du lịch nhân văn.

    Thực tế, khi tìm hiểu và nghiên cứu về tài nguyên du lịch tự nhiên, các nhà nghiên

    cứu thường nghiên cứu theo từng thành phần tự nhiên, các thể tổng hợp tự nhiên có

    điều kiện thuận lợi cho sự phát triển du lịch, các di sản thiên nhiên thế giới và các

    điểm tham quan tự nhiên.

    1.2.2. Tài nguyên du lịch nhân văn

    a. Khái niệm

    Tài nguyên du lịch nhân văn bao gồm truyền thống văn hoá, các yếu tố văn

    hoá, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình

    lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể khác có

    thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch.

    Tài nguyên du lịch nhân văn là các đối tượng và hiện tượng xã hội cùng các

    giá trị văn hoá, lịch sử của chúng có sức hấp dẫn du khách và được khai thác để kinh

    doanh du lịch. Trong số các tài nguyên du lịc nhân văn thì các di sản văn hoá có vị

    trí đặc biệt.

    Trong Luật di sản văn hoá của Việt nam thì di sản văn hoá được chia làm 2

    loại, đó là di sản văn hoá vật thể và di sản văn hoá phi vật thể.

     Di sản văn hoá vật thể

    “Di sản văn hoá vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa

    học,bao gồm các di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật

    quốc gia”.

    “Di tích lịch sử văn hoá là công trình xây dựng và các di vật, cổ vật,bảo vật

    quốc gia thuộc công trình địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học”

    “Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp

    giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mĩ, khoa

    học”.

    “Di vật là hiện vật được lưu truyền lại có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học”.

    “Cổ vật là hiện tượng được lưu truyền lại có giá trị tiêu biểu vè lịch sử, văn

    hoá, khoa học từ một trăm năm tuổi trở lên”.

    “Bảo vật quốc gia là hiện vật được lưu truyền lại có giá trị đặc biệt quý hiếm

    của đất nước về lịch sử, văn hoá, khoa học”.

     Di sản văn hoá phi vật thể

    “Di sản văn hoá phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử – văn hoá,

    khoa học, được lưu truyền bằng trí nhớ, chữ viết, được truyền miệng, truyền nghề,

    trình diễn và các hình thức lưu truyền khác bao gồm: tiếng nói, chữ viết, tác phẩm

    văn học nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống,

    lễ hội, bí quyết nghề nghiệp thủ công truyền thống, tri thức về y dược cổ truyền, văn

    hoá ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian”.

    b. Đặc điểm

    Do những nét đặc trưng và tính chất của mình, tài nguyên du lịch nhân văn có

    những đặc điểm khác với tài nguyên du lịch tự nhiên:

    Tài nguyên du lịch nhân văn có tác dụng nhận thức nhiều hơn tác dụng giải trí

    Việc tìm hiểu các đối tượng nhân văn diễn ra trong thời gian ngắn, nó có thể

    kéo dài một vài giờ, cũng có thể một vài phút. Do vậy trong một chuyến du lịch

    người ta có thể hiểu từ nhiều giá trị nhân văn.

    Số người quan tâm đến tài nguyên du lịch nhân văn thường có văn hoá hơn,

    thu nhập và yêu cầu cao hơn.

    Tài nguyên du lịch nhân văn thường tập trung ở những điểm quần cư và

    những thành phố lớn.

    Ưu thế to lớn của tài nguyên du lịch nhân văn là đại bộ phận không có tính

    mùa, không bị phụ thuộc vào các điều kiện khí tượng và điều kiện tự nhiên khác.

    Sở thích của những người tìm đến tài nguyên du lịch nhân văn rất phức tạp và

    rất khác nhau. Điều này sẽ gây khó khăn cho việc đánh giá tài nguyên du lịch nhân

    văn. Cơ sở để đánh giá nguồn tài nguyên này chủ yếu dựa vào cơ sở định tính, xúc

    cảm và trực cảm. Đồng thời nó cũng chịu ảnh hưởng mạnh của các nhân tố như: Độ

    tuổi, trình độ văn hoá,, hứng thú, trình độ nghề nghiệp, thành phần dân tộc,…

    1.2.2.1.

    Tài nguyên du lịch nhân văn vật thể

    a. Di sản văn hoá thế giới

    Ủy ban Di sản Thế giới đã xác định và liệt kê danh sách các di sản là các cảnh

    quan văn hóa có giá trị lớn đối với nhân loại. Để được đưa vào danh sách di sản thế

    giới, các khu vực đề cử phải có giá trị nổi bật toàn

    cầu và đáp ứng được ít nhất 1 trong 10 tiêu chí.

    Trong bản hướng dẫn năm 2002, trong bộ tiêu chí

    lựa chọn có 6 tiêu chí về văn hóa và 4 tiêu chí về

    tự nhiên. Năm 2005, Ủy ban Di sản Thế giới đưa

    ra bộ tiêu chí mới gồm 10 tiêu chí lựa chọn như

    sau:

    Hình 1.1: Biểu tượng Di sản Thế giới

    Nguồn: vi.wikipedia.org

    Tiêu chuẩn văn hóa

    (I) – là một tuyệt tác về tài năng sáng tạo của con người.

    (II) – Thể hiện một sự giao lưu quan trọng giữa các giá trị của nhân loại, trong

    một khoảng thời gian hoặc trong phạm vi một vùng văn hoá của thế giới, về các

    bước phát triển trong kiến trúc hoặc công nghệ, nghệ thuật tạo hình, quy hoạch đô

    thị hoặc thiết kế cảnh quan.

    (III) – Là một bằng chứng độc đáo hoặc duy nhất hoặc ít ra cũng là một bằng

    chứng đặc biệt về một truyền thống văn hoá hay một nền văn minh đang tồn tại hoặc

    đã biến mất.

    (IV) – Là một ví dụ nổi bật về một kiểu kiến trúc xây dựng hoặc một quần thể

    kiến trúc cảnh quan minh hoạ cho một hay nhiều giai đoạn có ý nghĩa trong lịch sử

    nhân loại.

    (V) – Là một ví dụ tiêu biểu về sự định cư của con người hoặc một sự chiếm

    đóng lãnh thổ mang tính truyền thống và tiêu biểu cho một hoặc nhiều nền văn hóa,

    nhất là khi nó trở nên dễ bị tổn thương dưới tác động của những biến động không thể

    đảo ngược được.

    (VI) – Gắn bó trực tiếp hoặc cụ thể với những sự kiện hoặc truyền thống sinh

    hoạt với các ý tưởng, hoặc các tín ngưỡng, các tác phẩm văn học nghệ thuật có ý

    nghĩa nổi bật toàn cầu. (tiêu chuẩn này chỉ duy nhất được sử dụng trong những

    trường hợp đặc biệt và áp dụng đồng thời với các tiêu chuẩn khác).

    Tiêu chuẩn tự nhiên

    (VII) – Chứa đựng các hiện tượng, địa điểm tự nhiên hết sức nổi bật hoặc các

    khu vực có vẻ đẹp tự nhiên độc đáo và tầm quan trọng về thẩm mỹ.

    (VIII) – Là những ví dụ nổi bật đại diện cho những giai đoạn lớn trong lịch

    sử của Trái Đất, trong đó có lịch sử về sự sống, các quá trình địa chất quan trọng

    Những di tích lịch sử là những địa điểm, những công trình kỷ niệm, những vật

    kỷ niệm, những cổ vật ghi dấu bằng những sự kiện lịch sử, những cuộc chiến đấu,

    những danh nhân, anh hùng dân tộc của một thời kỳ nào đó trong quá trình lịch sử

    của mỗi địa phương, mỗi quốc gia.

     Loại hình di tích văn hoá nghệ thuật:

    Là các di tích gắn với các công trình kiến trúc có giá trị nên còn gọi là di tích

    kiến trúc nghệ thuật. Những di tích này không chỉ chứa đựng những giá trị kiến trúc

    mà còn chứa đựng cả những giá trị văn hoá xã hội, văn hoá tinh thần.

    Sự phân biệt các dạng tài nguyên du lich nói chung chỉ mang tính tương đối.

    Vì trong tài nguyên du lịch nhân văn vật thể lại chứa đựng cả tài nguyên nhân văn

    phi vật thể và ngược lại. Trong các di tích kiến trúc nghệ thuật lại thường mang

    trong mình cả những giá trị lịch sử, vì vậy nhiều nhà nghiên cứu thường gọi chung là

    Di tích Lịch sử Văn hoá nghệ thuật.

     Các danh lam thắng cảnh:

    Theo Luật Di sản Văn hoá của Việt Nam năm 2003: “Danh lam thắng cảnh là

    cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với

    công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ và khoa học”.

    Các danh lam thắng cảnh không chỉ có vẻ đẹp thiên nhiên bao la, hùng vĩ,

    thoáng đãng mà còn có giá trị nhân văn do bàn tay khối óc của con người tạo dựng

    nên.

    Các danh lam thắng cảnh thường chứa đựng trong đó giá trị của nhiều loại di

    tích lịch sử – văn hoá. Bởi thế nên nó có giá trị đặc biệt quan trọng đối với sự phát

    triển du lịch ngày nay.

     Các công trình đương đại:

    Là các công trình kiến trúc được xây dựng trong thời kỳ hiện đại, có giá trị

    kiến trúc, mỹ thuật, khoa học, kỹ thuật xây dựng, kinh tế, văn hoá thể thao hấp dẫn

    du khách có thể là đối tượng thăm quan nghiên cứu, vui chơi giả trí, chụp ảnh kỷ

    niệm,… đối với khách du lịch.

    Tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể

    a. Di sản Văn hoá truyền miệng và phi vật thể của nhân loại

    Năm 1989 tại phiên họp Đại hội đồng UNESCO đã đưa ra hai chính sách:

    Công nhận một danh hiệu cho một sản phẩm văn hoá phi vật thể, danh hiệu đó

    gọi là “kiệt tác Di sản Văn hoá truyền miệng và phi vật thể của nhân loại”.

    Di sản Văn hoá phi vật thể và truyền miệng luôn luôn được giữ gìn trình diễn,

    bổ sung truyền lại cho lớp trẻ thông qua trí nhớ và tài năng của nghệ nhân.

    b. Các lễ hội

    Ở bất cứ thời đại nào, bất cứ dân tộc nào, bất cứ mùa nào cũng đều có lễ hội,

    bởi lễ hội là một loại hình sinh hoạt văn hoá tập thể của nhân dân sau thời gian lao

    động mệt nhọc, hoặc đây là dịp để con người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại:

    ngưỡng mộ tổ tiên, ôn lại truyền thống, hoặc giải quyết những nỗi lo âu, những khao

    khát, ước mơ mà cuộc sống thực tại chưa giải quyết được.

    Cấu trúc lễ hội thường bao gồm 2 phần:

     Phần lễ:

    Các lễ hội dù lớn hay nhỏ cũng đều có phần nghi lễ với những nghi thức

    nghiêm túc, trọng thể để mở đầu ngày hội theo không gian và thời gian.

    Tùy vào tính chất của lễ hội mà phần lễ có ý nghĩa riêng. Thông thường phần

    lễ mở đầu ngày hội bao giờ cũng mang tính tưởng niệm lịch sử, hướng về một sự

    kiện lịch sử trọng đại, một vị anh hùng dân tộc lỗi lạc có ảnh hưởng lớn đến sự phát

    triển của xã hội. Bên cạnh đó cũng có những lễ hội mà phần lễ thực hiện những

    nghi lễ tôn kính, dâng hiến lễ vật cho các vị thiên thần, thánh nhân, cầu mong

    những điều tốt đẹp trong cuộc sống. Nghi lễ trong lễ hội mang ý nghĩa đặc biệt

    thiêng liêng, nó chứa đựng những giá trị văn hoá truyền thống, giá trị thẩm mỹ và tư

    duy triết học của cộng đồng.

     Phần hội:

    Trong phần hội thường diễn ra những hoạt động biểu tượng điển hình của tâm

    lý cộng đồng, văn hoá dân tộc, chứa đựng những quan niệm của dân tộc đó với thực

    tế lịch sử, xã hội và thiên nhiên.

    Trong hội thường tổ chức những trò vui chơi giải trí, biểu diễn văn hoá nghệ

    thuật. Yếu tố cấu thành và nuôi dưỡng lễ hội là kinh tế – xã hội và tự nhiên nên nội

    dung của phần hội không chỉ giữ nguyên những giá trị văn hoá truyền thống mà nó

    luôn có xu hướng bổ sung thêm những thành tố văn hoá mới. Chính đặc điểm này đã

    tạo cho lễ hội thêm sống động, vui nhộn và phong phú. Tuy nhiên nếu yếu tố này

    không được chọn lọc và giám sát chặt chẽ cũng như tuyên truyền, giáo dục, đầu tư

    bảo vệ và phát triển những giá trị văn hoá truyền thống thì sẽ làm cho những giá trị đó

    bị lai tạp, mai một và suy thoái.

    Tuỳ vào quy mô và giá trị văn hoá truyền thống còn được bảo tồn, ý nghĩa của

    lễ hội đối với quốc gia hay địa phương mà các lễ hội được xếp hạng làm lễ hội quốc

    tế hay lễ hội địa phương. Các lễ hội có sức hấp dẫn cao đối với du khách là đối

    tượng để triển khai nhiều loại hình du lịch văn hoá, đặc biệt là loại hình du lịch lễ

    hội.

     Thời gian tổ chức lễ hội:

    Các lễ hội thường được tổ chức nhiều vào sau mùa vụ sản xuất, mùa mà thời

    tiết, phong cảnh đẹp là mùa xuân và mùa thu. Các giá trị văn hoá lịch sử của lề hội là

    nguồn tài nguyên du lịch quý giá để tổ chức triển khai các loại hình tham quan,

    nghiên cứu chuyên đề lễ hội hoặc kết hợp với các loại hình du lịch tham quan,

    nghiên cứu và mua sắm.

    c. Nghề và làng nghề thủ công truyền thống

     Nghề thủ công truyền thống:

    Là những nghề có những bí quyết về công nghệ sản xuất ra các sản phẩm

    mang những giá trị thẩm mỹ, tư tưởng triết học, tâm tư tình cảm và những ước vọng

    của con người.

    Nghề thủ công truyền thống là nghề sản xuất ra nghệ thuật do những nghệ

    nhân dân gian sáng tạo, gìn giữ và phát triển từ đời này qua đời khác cho những

    người cùng huyết thông hoặc cùng làng bản. Các sản phẩm thủ công cổ truyền này

    không chỉ mang những giá trị sử dụng trong cuộc sống hàng ngày mà nó còn chứa

    đựng bên trong những giá trị về mỹ thuật, giá trị triết học, tâm linh thể hiện tài

    nghệ, tâm tư, ước vọng của người làm ra chúng. Chính những tính hữu ích và giá trị

    văn hoá của chúng mà theo dòng chảy của lịch sử, đến nay nhiều nước trên thế giới

    nói chung và Việt Nam nói riêng đã hình thành và bảo tồn được những giá trị tốt đẹp

    của tài nguyên này.

     Làng nghề:

    “Là những làng có các nghề sản xuất hàng hoá bằng các công cụ thô sơ và sức

    lao động của con người đã được hình thành một thời gian dài trong lịch sử, nghệ

    thuật sản xuất hàng hoá được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác ở trong làng. Sản

    phẩm hàng hoá được sản xuất không chỉ đáp ứng nhu cầu ở trong làng mà còn bán ở

    thị trường trong nước và quốc tế”.

    d.

    Các đối tượng văn hoá – thể thao và hoạt động nhận thức khác

    Những đối tượng văn hoá như các trung tâm khoa học, các trường đại học, các

    thư viện lớn, bảo tàng… đều có sức hấp dẫn rất lớn du khách tới tham quan và nghiên

    cứu. Những hoạt động mang tính sự kiện: các giải thể thao lớn, các cuộc triển lãm

    thành tựu kinh tế quốc dân, các hội chợ, liên hoan phim ảnh quốc tế, ca nhạc quốc

    tế… cũng là đối tượng hấp dẫn khách du lịch. Thông thường những đối tượng văn

    hoá tập trung ở các thủ đô và các thành phố lớn. Vì vậy những thành phố lớn đương

    nhiên trở thành những trung tâm du lịch văn hoá của các quốc gia, vùng và khu vực

    và là hạt nhân của các trung tâm du lịch.Vai trò tài nguyên du lịch nhân văn với phát

    triển du lịch.

    1.3.

    Vai trò tài nguyên du lịch nhân văn với phát triển du lịch

    Du lịch là ngành kinh tế mà trong sự phát triển hoạt động của ngành vai trò

    của tài nguyên rất quan trọng. TNDL nhân văn là một trong hai yếu tố, cùng với tài

    nguyên du lịch tự nhiên tạo thành các sản phẩm du lịch.

    Ta có thể tạo lập công thức như sau:

    T = A + B +C

    S=T+D

    Trong đó

    T: Tài nguyên du lịch

    A: Tài nguyên du lịch nhân văn

    B: Tài nguyên du lịch tự nhiên

    C: Tài nguyên kinh tế kĩ thuật và bổ trợ

    S: Sản phẩm du lịch

    D: Các dịch vụ và hàng hóa du lịch

    Đối với mỗi vùng miền lãnh thổ, có sự tập trung đa dạng, phong phú tài

    nguyên du lịch nhân văn thì hướng phát triển du lịch của vùng miền đó cũng theo

    quy luật lấy tài nguyên nhân văn hiện có làm cơ sở để tạo ra sản phẩm du lịch đặc

    trưng. Tài nguyên du lịch nhân văn có mối quan hệ qua lại mật thiết với các yếu tố

    khác, nó thể hiện lịch sử văn hóa vùng miền, thông qua đó tác động tới lối sống của

    dân cư địa phương, tới nghề và truyền thống văn hóa xã hội khác. Do vậy, tài nguyên

    du lịch nhân văn là yếu tố quan trọng trong việc tạo nên sản phẩm du lịch.

    Tài nguyên du lịch nhân văn là cơ sở quan trọng để phát triển các loại hình du

    lịch văn hoá. Các hình thức du lịch được đưa ra trên cơ sở của nguồn tài nguyên. Tài

    nguyên du lịch nhân văn cần phải được khai thác sao cho xứng đáng với tiềm năng

    mà không làm mất đi các giá trị truyền thống sẵn có.

    Tài nguyên du lịch nhân văn là một phần của tài nguyên du lịch, một bộ phận

    quan trọng của tổ chức lãnh thổ du lịch. Các phân hệ của hệ thống lãnh thổ du lịch

    gồm: Khách du lịch, tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du

    lịch, đội ngũ cán bộ nhân viên và bộ máy tổ chức điều hành, quản lí du lịch. Các

    phân hệ này đều có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và với môi trường kinh tế xã hội

    cũng như các phân hệ khác.

    Như vậy, có thể nói rằng tài nguyên du lịch nhân văn là nhân tố quan trọng

    trong sự phát triển du lịch. Tài nguyên du lịch nhân văn góp phần định hướng phát

    triển du lịch của địa phương, là nguồn tài nguyên có khả năng bền vững cao nếu biết

    quan tâm, bảo tồn tôn tạo một cách hợp lí. Vì vậy, trước những đặc điểm của tài

    nguyên du lịch nhân văn sẵn có mỗi địa phương hãy đưa ra các chính sách phù hợp

    để vừa phát triển du lịch, lại vừa bảo tồn được tài nguyên.

    CHƯƠNG II

    THỰC TRẠNG DU LỊCH NHÂN VĂN Ở VIỆT NAM

    2.1.

    Tài nguyên du lịch nhân văn Việt Nam

    2.1.1. Các di tích văn hóa – lịch sử

    Gía trị văn hóa – lịch sử là yếu tố cốt lõi tạo nên sự hấp dẫn và độc đáo của sản

    phẩm du lịch, có sức lôi cuốn du khách đến tìm hiểu một nền văn hóa khác lạ. Việt

    Nam là đất nước của những di tích văn hóa – lịch sử lâu đời, có giá trị cao đối với du

    lịch. Ở nước ta, 1 di tích khi đủ các điều kiện sẽ được công nhận theo thứ tự: di tích

    cấp tỉnh, di tích cấp quốc gia và di tích quốc gia đặc biệt. Tính đến năm 2014, Việt

    Nam có hơn 40.000 di tích, thắng cả nh trong đó có hơn 3.000 di tích được xếp hạng

    di tích quốc gia và hơn 7.000 di tích được xếp hạng cấp tỉnh. Mật độ và số lượng di

    tích nhiều nhất ở 11 tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng với tỷ lệ chiếm khoảng 70% di

    tích của Việt Nam. Trong số di tích quốc gia có 62 di tích quốc gia đặc biệt và trong

    số đó có 8 di sản thế giới.

    2.1.1.1.

    Thống kê di tích Việt Nam

    Các tỉnh có số lượng di tích lớn hơn 1500 gồm: Hà Nội: 5175 di tích; Bắc

    Giang: 2237 di tích,Bắc Ninh 1859 di tích,Ninh Bình: 1879 di tích, Đồng Nai: 1800

    di tích; Hà Nam: 1784 di tích; Nam Định: 1655 di tích; Thanh Hóa: 1535 di tích.

    Các tỉnh có mật độ di tích lớn nhất gồm: Hà Nam 2,07 di tích/km2; Hà Nội:

    1,56 di tích/km2; Bắc Ninh: 1,96 di tích/km2; Ninh Bình: 1,36 di tích/km2 và Hưng

    Yên: 1,31 di tích/km2.

    Bảng 2.1: Thống kê di tích Việt Nam

    Nguồn: vi.wikipedia.org

    STT

    Tên tỉnh

    Tổng di tích

    1287

    1

    An Giang

    2

    Bà Rịa Vũng Tàu

    31

    14

    150

    2014

    3

    Bạc Liêu

    10

    35

    130

    2014

    4

    Bắc Giang

    99

    539

    2237

    2014

    5

    Bắc Kạn

    12

    33

    160

    2014

    Bắc Ninh

    297

    726

    1859

    2014

    7

    Bến Tre

    15

    22

    8

    Bình Dương

    12

    38

    500

    2015

    9

    Bình Định

    33

    50

    231

    2008

    10

    Bình Phước

    9

    3

    12

    2009

    11

    Bình Thuận

    24

    20

    300

    2012

    12

    Cà Mau

    9

    17

    13

    Cao Bằng

    26

    36

    226

    2008

    14

    Cần Thơ

    4

    16

    20

    2009

    15

    Đà Nẵng

    16

    37

    200

    2011

    16

    Đăk Lăk

    12

    4

    58

    2012

    17

    Đăk Nông

    9

    1

    2014

    18

    Điện Biên

    7

    10

    2014

    19

    Đồng Nai

    27

    19

    1800

    2013

    20

    Đồng Tháp

    13

    50

    91

    2015

    21

    Gia Lai

    13

    3

    30

    2009

    22

    Hà Giang

    15

    2

    36

    2010

    23

    Hà Nam

    69

    54

    1784

    2010

    24

    Hà Nội

    1196

    1156

    5175

    2015

    25

    Hà Tĩnh

    75

    393

    500

    2015

    26

    Hải Dương

    146

    89

    1098

    2009

    27

    Hải Phòng

    110

    208

    236

    2009

    28

    Hậu Giang

    9

    6

    188

    2015

    29

    Hòa Bình

    41

    27

    295

    2015

    30

    Hưng Yên

    159

    88

    1210

    2010

    31

    Khánh Hòa

    13

    98

    1091

    2009

    32

    Kiên Giang

    22

    13

    200

    2009

    33

    Kon Tum

    5

    8

    2014

    34

    Lai Châu

    4

    14

    2014

    35

    Lạng Sơn

    23

    95

    581

    2013

    36

    Lào Cai

    15

    11

    50

    2015

    37

    Lâm Đồng

    20

    10

    38

    Long An

    16

    65

    2015

    2015

    2009

    Nam Định

    74

    125

    1655

    2010

    40

    Nghệ An

    50

    70

    1000

    2010

    41

    Ninh Bình

    103

    235

    1879

    2015

    42

    Ninh Thuận

    14

    27

    233

    2014

    43

    Phú Thọ

    73

    218

    1372

    2014

    44

    Phú Yên

    18

    21

    45

    Quảng Bình

    45

    34

    150

    2010

    46

    Quảng Nam

    60

    300

    500

    2015

    47

    Quảng Ngãi

    28

    76

    199

    2014

    48

    Quảng Ninh

    60

    44

    626

    2010

    49

    Quảng Trị

    29

    160

    489

    2010

    50

    Sóc Trăng

    8

    22

    300

    2010

    51

    Sơn La

    11

    34

    64

    2010

    52

    Tây Ninh

    22

    54

    365

    2010

    53

    Thái Bình

    91

    349

    1400

    2007

    54

    Thái Nguyên

    36

    70

    780

    2010

    55

    Thanh Hóa

    136

    441

    1535

    2009

    56

    Thừa Thiên Huế

    32

    88

    902

    2010

    57

    Tiền Giang

    20

    86

    106

    2010

    58

    TP. Hồ Chí Minh

    54

    91

    400

    2010

    59

    Trà Vinh

    12

    16

    533

    2015

    60

    Tuyên Quang

    88

    55

    498

    2010

    61

    Vĩnh Long

    10

    36

    450

    2014

    62

    Vĩnh Phúc

    68

    222

    1264

    2010

    63

    Yên Bái

    10

    34

    500

    2013

    2.1.1.2.

    2014

    Phân loại di tích

    Căn cứ Điều 4 Luật di sản văn hoá, Điều 14 Nghị định số 92/2002/NĐCP ngày

    11/11/2002 của Chính phủ Việt Nam quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật

    Di sản văn hoá, các di tích được phân loại như sau:

     Di tích lịch sử văn hoá

    Di tích lịch sử văn hoá là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật,

    bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học.

    Di tích lịch sử văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau đây:

    Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình

    dựng nước và giữ nước. Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như đền Hùng, Cổ Loa,

    Hình 2.1: Du lịch – Atlat Địa lý Việt nam

    Nguồn: onthidialy.files.wordpss.com

    Cố đô Hoa Lư, Bãi cọc Bạch Đằng, Cột cờ… Công trình xây dựng, địa điểm

    gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân của đất nước. Các di

    tích tiêu biểu thuộc loại này như Khu di tích lịch sử Kim Liên, Đền Kiếp Bạc, Quần

    thể di tích danh thắng Yên Tử, Lam Kinh, đền Đồng Nhân…

    Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ

    cách mạng, kháng chiến. Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như Khu di tích chiến

    thắng Điện Biên Phủ, Địa đạo Củ Chi, Khu di tích lịch sử cách mạng Pắc Bó, Phòng

    tuyến Tam Điệp, Hành cung Vũ Lâm, Khu rừng Trần Hưng Đạo… Năm 2010, di tích

    lịch sử chiếm 51.2% số di tích được xếp hạng. Các di tích này không những có giá trị

    lịch sử và văn hóa mà còn mang lại những giá trị lớn trên phương diện kinh tế, nhất là

    kinh tế du lịch.

     Di tích kiến trúc nghệ thuật

    Di tích kiến trúc nghệ thuật là công trình kiến trúc nghệ thuật, tổng thể kiến

    trúc đô thị và đô thị có giá trị tiêu biểu trong các giai đoạn phát triển nghệ thuật kiến

    trúc của dân tộc. Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có

    giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử. Các di

    tích tiêu biểu loại này như Chùa Bút Tháp, phố cổ Hội An, nhà thờ Phát Diệm, chùa

    Keo, đình Tây Đằng,Chùa Phật Tích. Năm 2010, di tích kiến trúc nghệ thuật chiếm

    44.2% tổng số di tích được xếp hạng.

     Di tích khảo cổ

    Di tích khảo cổ là những địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai

    đoạn phát triển của các văn hoá khảo cổ. Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như

    Hoàng thành Thăng Long, hang Con Moong, di chỉ Đông Sơn, động Người Xưa,

    thánh địa Mỹ Sơn. Năm 2010, di tích khảo cổ chiếm 1.3% các di tích được xếp hạng.

     Di tích thắng cảnh

    Di tích thắng cảnh (danh lam thắng cảnh) là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa

    điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch

    sử, thẩm mỹ, khoa học. Danh lam thắng cảnh phải có một trong các tiêu chí sau đây:

    Cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên

    với công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu. Các di tích quốc gia đặc biệt tiêu

    biểu thuộc loại này như 4 danh lam thắng cảnh khu danh thắng Tây Thiên, Tràng An

    Tam Cốc Bích Động, vịnh Hạ Long, động Phong Nha.

    Khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng

    sinh học, hệ sinh thái đặc thù hoặc khu vực thiên nhiên chứa đựng những dấu tích vật

    chất về các giai đoạn phát triển của Trái Đất. Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như

    vịnh Hạ Long, Cao nguyên Đồng Văn, các vườn quốc gia và khu dự trữ sinh quyển

    thế giới ở Việt Nam. Danh lam thắng cảnh chiếm khoảng 3.3% số di tích được xếp

    hạng.

     Di tích lịch sử cách mạng

    Di tích cách mạng kháng chiến là một bộ phận cấu thành hệ thống các di tích

    lịch sử văn hoá, tuy nhiên, nó có những điểm khác với các di tích tôn giáo tín ngưỡng

    như đình, đền, chùa, miếu… ở chỗ: đó là những địa điểm cụ thể, công trình kiến trúc

    có sẵn (nhà ở, đường phố…), là những công trình được con người tạo nên phù hợp

    với mục đích sử dụng (địa đạo, hầm bí mật…) gắn liền với những sự kiện cụ thể,

    nhân vật lịch sử cụ thể mà trở thành di tích. Loại hình di tích này rất đa dạng, phong

    phú, có mặt ở khắp mọi nơi, khó nhận biết, đồng thời cũng rất dễ bị lãng quên, dễ

    biến dạng theo mục đích sử dụng, theo thời tiết và theo thời gian. Bởi vậy các di tích

    này vừa khó bảo tồn vừa khó phát huy tác dụng nếu không được quan tâm đặc biệt.

    Một số di tích lịch sử cách mạng như: Chiến khu Tân Trào, Chiến khu Quỳnh Lưu,

    Khu di tích chiến thắng Điện Biên Phủ,…

    2.1.1.3.

    Phân cấp di tích

    Di tích quốc gia đặc biệt là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia. Thủ

    tướng Chính phủ quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt; quyết định việc đề

    nghị Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hợp quốc xem xét đưa di tích

    tiêu biểu của Việt Nam vào Danh mục di sản thế giới. Di tích quốc gia đặc biệt ở Việt

    Nam được xếp hạng các đợt đầu gồm: Cố đô Hoa Lư, Di tích Pác Bó, Dinh Độc Lập,

    Hoàng thành Thăng Long, Khu căn cứ Trung ương Cục miền Nam, Khu di tích ATK

    Thái Nguyên, Khu di tích chiến thắng Điện Biên Phủ, Khu di tích Côn Sơn Kiếp Bạc,

    Khu di tích khởi nghĩa Yên Thế, Khu di tích Kim Liên, Khu di tích Phủ Chủ tịch, Khu

    di tích Tân Trào, Khu lưu niệm chủ tịch Tôn Đức Thắng, Nhà tù Côn Đảo, Quần thể

    di tích Cố đô Huế, Thành nhà Hồ, Thánh địa Mỹ Sơn, Thắng cảnh Tràng An Tam

    Cốc Bích Động, Văn Miếu Quốc Tử Giám, Vườn quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng,

    Vịnh Hạ Long, Đô thị cổ Hội An và Đền Hùng.

    Trong trường hợp di tích đã được xếp hạng mà sau đó có đủ căn cứ xác định là

    không đủ tiêu chuẩn hoặc bị huỷ hoại không có khả năng phục hồi thì người có thẩm

    quyền quyết định xếp hạng di tích nào có quyền ra quyết định huỷ bỏ xếp hạng đối

    với di tích đó.

    2.1.1.4.

    Di sản thế giới văn hóa thế giới

    Việt Nam với bề dày lịch sử hang nghìn năm dựng nước và giữ nước, đã hun

    đúc nên biết bao nét đẹp văn hóa truyền thống, trong đó có giá trị văn hóa được cả thế

    giới tôn vinh. NQ TW5 (khóa VII) của Đảng ta khẳng định: “Di sản văn hóa là tài

    sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc và cơ sở để sáng

    tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa. Cần phải hết sức coi trọng bảo tồn, kế

    thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc (bác học và nhân

    gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể”. Tại

    thời điểm cập nhật, trên cả nước có 17 di sản văn hóa được UNESCO công nhận.

    Trong đó 8 di sản văn hóa vật thể, 9 di sản là kiệt tác phi vật thể và truyền khẩu của

    nhân loại. Các di sản có sức hấp dẫn đặc biệt với du khách và là niềm tự hào, là tài

    sản vô giá của quốc gia và nhân loại.

    Bảng 2.2: Di sản văn hóa vật thể được UNESCO công nhận

    Nguồn: vi.wikipedia.org

    STT

    Di sản

    1

    Quần thể di tích Cố đô Huế

    Hạng mục

    Di sản văn hóa:

    (III), (IV)

    Địa phương Năm

    Huế

    1993

    Di sản

    2

    Vịnh Hạ Long

    Di sản thiên nhiên:

    (VII), (VIII)

    Quảng Ninh 1994

    3

    Phố cổ Hội An

    Di sản văn hóa:

    (II), (V)

    Quảng Nam 1999

    4

    Thánh địa Mỹ Sơn

    Di sản văn hóa:

    (II), (III)

    Quảng Nam 1999

    5

    Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ

    Bàng

    Di sản thiên nhiên:

    (VIII)

    Quảng Bình 2003

    6

    Trung tâm Hoàng thành

    Thăng Long

    Di sản văn hóa:

    (II), (III), (VI)

    7

    Thành nhà Hồ

    Di sản văn hóa:

    (II), (IV)

    Thanh Hóa 2011

    Di sản hỗn hợp:

    (V), (VII), (VIII)

    Ninh Bình

    8

    Quần thể danh thắng

    Tràng An

    Hạng mục

    Địa phương Năm

    Hà Nội

    2010

    2014

    Bảng 2.3: Di sản văn hóa phi vật thể tại Việt Nam

    Nguồn: Samthienha.com phương Năm

    STT

    Di sản

    Hạng mục

    1

    Nhã nhạc cung đình Huế

    Kiệt tác phi vật thể và truyền

    khẩu của nhân loại

    Huế

    2003

    2

    Không gian văn hóa Cồng Chiêng

    Tây Nguyên

    Kiệt tác phi vật thể và truyền

    khẩu của nhân loại

    Tây Nguyên

    2005

    3

    Dân ca Quan họ

    Di sản phi vật thể đại diện cho

    nhân loại

    Bắc Ninh

    2008

    4

    Ca trù

    Di sản phi vật thể đại diện cho

    nhân loại cần bảo vệ gấp

    Bắc Bộ

    2009

    5

    Hội Gióng tại đền Phù Đổng và

    đền Sóc, Hà Nội

    Di sản phi vật thể

    Hà Nội

    2009

    6

    Hát xoan

    Di sản phi vật thể

    Phú Thọ

    2010

    7

    Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương

    Di sản phi vật thể đại diện cho

    nhân loại

    Phú Thọ

    2011

    8

    Đờn ca tài tử Nam Bộ

    Kiệt tác phi vật thể và truyền

    Nam Bộ

    2012

    Kiệt tác phi vật thể và truyền Nghệ An –

    khẩu của nhân loại

    Hà Tĩnh

    Di sản vật thể của Việt Nam được UNESCO công nhận

    Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh

    2.2. Quần thể di tích Cố đô Huế

    vietnamtourism.gov.vn

    2.4. Thánh địa Mỹ Sơn

    vietnamtourism.gov.vn

    2013

    2.3. Vịnh Hạ Long

    vietnamtourism.gov.vn

    2.5. Phố cổ Hội An

    vietnamtourism.gov.vn

    2.7. Hoàng Thành Thăng Long

    2.6. Phong Nha-Kẻ Bàng

    thiennhien.net

    2.8. Thành Nhà Hồ

    www.dulichvn.org.vn

    vietnamtourism.gov.vn

    2.9. Quần thể danh thắng Tràng An

    vietnamtourism.gov.vn

    2.1.2. Lễ hội

    Là sự kiện văn hóa được tổ chức mang tính cộng đồng. “Lễ” là hệ thống những

    hành vi, động tác nhằm biểu hiện sự tôn kính của con người với thần linh, phản ánh

    những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có

    khả năng thực hiện. “Hội” là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng,

    xuất phát từ nhu cầu cuộc sống.

    2.1.2.1. Thống kê lễ hội

    Theo thống kê 2009, hiện cả nước Việt Nam có 7.966 lễ hội; trong đó có 7.039

    lễ hội dân gian (chiếm 88,36%), 332 lễ hội lịch sử (chiếm 4,16%), 544 lễ hội tôn giáo

    (chiếm 6,28%), 10 lễ hội du nhập từ nước ngoài (chiếm 0,12%), còn lại là lễ hội khác

    (chiếm 0,5%). Các địa phương có nhiều lễ hội là Hà Nội, Bắc Ninh, Hà Nam, Hải

    Dương và Phú Thọ.

    Việt Nam là một quốc gia đã có hàng nghìn năm lịch sử. Cũng như nhiều quốc

    gia khác trên thế giới, Việt Nam có một nền văn hóa mang bản sắc riêng. Chính

    những nét đó làm nên cốt cách, hình hài và bản sắc của dân tộc Việt Nam.

    Trong kho tàng văn hóa của dân tộc Việt Nam, sinh hoạt lễ hội là vùng văn hóa

    rất đặc trưng. Lễ hội là sinh hoạt văn hóa dân gian hầu như có mặt ở khắp mọi

    miền đất nước. Nhiều lễ hội ra đời cách đây hàng nghìn năm đến nay vẫn được duy

    trì. Lễ hội ở Việt Nam bao giờ cũng hướng tới một đối tượng thiêng liêng cần suy tôn

    là nhân thần hay nhiên thần. Đó chính là hình ảnh hội tụ những phẩm chất cao đẹp

    nhất của con người. Giúp con người nhớ về nguồn cội, hướng thiện và nhằm tạo dựng

    một cuộc sống tốt lành, yên vui.

    Lễ hội truyền thống ở Việt Nam thường diễn ra vào mùa Xuân và số ít vào mùa

    Thu là hai mùa đẹp nhất trong năm, đồng thời cũng là lúc nhà nông có thời gian nhàn

    rỗi. Trong số các lễ hội Việt Nam thì phải kể đến những lễ hội chi phối hầu hết các gia

    đình trên mọi miền tổ quốc, đó là Tết Nguyên Đán, Lễ Vu Lan và tết Trung Thu. Gần

    đây một số lễ hội được nhà nước và nhân dân quan tâm như: Lễ hội đền Hùng,Lễ hội

    Tịch điền Đọi Sơn,Giáng Sinh, Hội Phật Tích.

    Một số lễ hội lớn ảnh hưởng cả một vùng rộng lớn, tiêu biểu như: hội

    Gióng (xứ Kinh Bắc), lễ hội đền Hùng (Xứ Đoài), lễ hội chùa Bái Đính, Hội Lim

    (Kinh Bắc) phủ Dày,(xứ Sơn Nam), lễ hội Yên Tử, lễ hội bà chúa Xứ (An Giang), Lễ

    hội pháo hoa Quốc tế Đà Nẵng (thành phố Đà Nẵng)…

    2.1.2.2. Phân cấp lễ hội

    Khác với các di tích Việt Nam đã được kiểm kê và phân cấp theo quy định, các

    lễ hội ở Việt Nam chưa được quy định phân cấp bài bản. Có những lễ hội bị biến

    tướng, trần tục hoá, mở hội tràn lan… nhiều ý kiến đề xuất việc kiểm kê các lễ hội

    trên toàn quốc để tiến tới phân cấp lễ hội theo các cấp: lễ hội cấp quốc gia, lễ hội cấp

    tỉnh, lễ hội cấp huyện và lễ hội cấp làng. Theo bà Lê Thị Minh Lý – Phó Cục trưởng

    Cục Di sản Văn hoá, điểm yếu trong việc quản lý lễ hội hiện nay đó là chưa có cơ sở

    dữ liệu khoa học và quan điểm tiếp cận đúng. Không nên đánh đồng giữa lễ hội và

    festival.

    Tùy vào từng thời điểm, vào chủ thể mà lễ hội hiện nay được tổ chức ở nhiều

    cấp khác nhau. Ví dụ như lễ hội đền Hùng được tổ chức ở quy mô quốc gia 5 năm/

    lần. Những năm số lẻ thì lại được tổ chức ở quy mô cấp tỉnh. Các lễ hội thường được

    tổ chức ở quy mô cấp tỉnh như hội Lim, lễ hội Lam Kinh (Thanh Hóa), lễ hội đền

    Trần (Nam Định)… Các lễ hội ở quy mô cấp huyện tiêu biểu như lễ hội đền Nguyễn

    Công Trứ ở Kim Sơn (Ninh Bình) vàTiền Hải (Thái Bình) để tưởng niệm người chiêu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Du Lịch Sông Cầu Phú Yên Có Gì Đẹp?
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Sông Cầu, Phú Yên (Cập Nhật 08/2020)
  • Du Lịch Thái Lan Nên Đi Tour Hay Đi Tự Túc?
  • Nên Đi Du Lịch Thái Lan Theo Tour Hay Tự Túc?
  • Khám Phá Du Lịch Bắc Kinh Vào Mùa Xuân
  • Bạn đang xem bài viết Tài Nguyên Du Lịch Nhân Văn Việt Nam trên website Samthienha.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100