Xem Nhiều 12/2022 #️ Thực Trạng Phát Triển Du Lịch Di Sản Tại Việt Nam Và Một Số Thách Thức Đối Với Chương Trình Đào Tạo Thuyết Minh Viên – Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch (Itdr) / 2023 # Top 12 Trend | Samthienha.com

Xem Nhiều 12/2022 # Thực Trạng Phát Triển Du Lịch Di Sản Tại Việt Nam Và Một Số Thách Thức Đối Với Chương Trình Đào Tạo Thuyết Minh Viên – Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch (Itdr) / 2023 # Top 12 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Thực Trạng Phát Triển Du Lịch Di Sản Tại Việt Nam Và Một Số Thách Thức Đối Với Chương Trình Đào Tạo Thuyết Minh Viên – Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch (Itdr) / 2023 mới nhất trên website Samthienha.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

   Với ngành du lịch đang được chú trọng và tập trung đẩy mạnh để trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của Việt Nam đặc biệt trở thành nguồn tài nguyên vô cùng quý giá để phát triển du lịch.Tiềm năng của các di sản văn hóa đã và đang phát huy mạnh mẽ, đóng góp vào sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc. Chính phủ Việt Nam cũng định hướng khai thác các di sản văn hoá phục vụ phát triển du lịch.Di sản văn hóa và du lịch di sản văn hóa được đề cập đến trong nhiều văn bản pháp luật, chủ trương, chính sách và chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam, đặc biệt trong: Luật Du lịch; Luật Di sản văn hóa;Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; Chiến lược và Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; Chiến lược phát triển sản phẩm du lịch Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030. Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã đưa ra mục tiêu tổng quát: “…phát triển du lịch mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc…”, văn hóa vừa là động lực vừa là mục tiêu trong phát triển du lịch; sản phẩm du lịch mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc là yếu tố cuốn hút và nâng cao sức cạnh tranh của du lịch Việt Nam với các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới. Chiến lượccũng đưa ra các mục tiêu phát triển du lịch phải hướng tới góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Việt Nam; lấy du lịch là động lực, tạo nguồn lực để đẩy mạnh bảo tồn văn hóa; nguồn thu từ du lịch hướng tới đóng góp tích cực vào công tác bảo tồn, đồng thời tăng cường kiểm soát những tác động từ hoạt động du lịch lên các thiết chế văn hóa. Mục tiêu phát triển du lịch văn hóa cũng được nêu ra trong Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong năm 2016. Trong đó nêu rõ:Đưa du lịch văn hóa trở thành một trong những ngành kinh tế dịch vụ quan trọng, phát triển rõ rệt về chất và lượng, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế. Đến năm 2020, ngành du lịch văn hóa chiếm từ 10-25% trong tổng số 18-19 tỷ USD doanh thu từ khách du lịch. Đến năm 2030, du lịch văn hóa chiếm từ 15-20% trong tổng số 40 tỷ USD doanh thu từ khách du lịch. Vì vậy, du lịch văn hoá cũng được xác định là 1 trong 4 sản phẩm du lịch chính của Việt Namtại Chiến lược phát triển sản phẩm du lịch.    Năm 2016, Việt Nam đã đón 10triệu lượt khách du lịch quốc tế và 62 triệu lượt khách du lịch nội địatrong đó, khách du lịch đều lựa chọn tham gia hoạt động tham quan và tìm hiểu cácdi tích văn hoá-lịch sử và tham dự các lễ hội văn hoá, theo Chiến lược phát triển sản phẩm du lịch Việt Nam, hoạt động thăm quan di sản tại Việt Nam là hoạt động được khách du lịch quốc tế ưa thích thứ 2 chỉ sau nghỉ dưỡng tắm biển.Có thể thấy, vai trò của các di sản văn hóa đã và đang phát huy mạnh mẽ, đóng góp vào sự phát triển chung của ngành du lịch Việt Nam. Doanh thu du lịch thông qua bán vé các loại hình dịch vụ tại các điểm du lịch có Di sản văn hóa thế giới ngày càng tăng, góp phần không nhỏ vào tăng trưởng kinh tế, tạo thêm nhiều việc làm cho người dân địa phương. Những điểm đến có di sản văn hoá thế giới đã trở thành điểm nhấn quan trọng trên bản đồ du lịch Việt Namvà là điểm-phải-đến của khách du lịch, đặc biệt là du khách quốc tế, như Quần thể danh thắng Tràng An (Ninh Bình), Quần thể di tích cố đô Huế (Thừa Thiên Huế), Khu thánh địa Mỹ Sơn và Phố cổ Hội An (Quảng Nam).Sản phẩm du lịch di sản văn hoá tại Việt Nam khá đa dạng và hấp dẫn như hoạt động tham quan di sản, nghiên cứu văn hoá lịch sử thông qua di sản, tìm hiểu và trải nghiệm văn hoá truyền thống… Bên cạnh đó, sản phẩm du lịch di sản văn hoá còn là yếu tố tạo nên nét khác biệt cho hệ thống sản phẩm du lịch Việt Nam, kết nối và đa dạng hoá các tour, tuyến du lịch.    Việc đi du lịch hiện nay không chỉ đơn thuần là thăm thú cảnh quan, mà du khách còn có nhu cầu tìm hiểu khám phá những nét độc đáo của truyền thống văn hóa, phong tục tập quán của các điểm đến. Chính vì vậy, bên cạnh những hướng dẫn viên du lịch của các công ty lữ hành, đội ngũ những người làm công tác thuyết minh tại điểm là vô cùng cần thiết và quan trọng giúp du khách nói chung, nhất là đối với du khách quốc tế khi đến với Việt Nam hiểu biết sâu về những giá trị văn hóa lịch sử của mỗi một địa danh, mỗi di tích. Thuyết minh viên di sản là những người làm công tác thuyết minh, hướng dẫn giới thiệu tuyên truyền – giáo dục tại các điểm di tích lịch sử văn hóa, các khu bảo tồn thiên nhiên, các bảo tàng…, có kiến thức chuyên sâu về khu du lịch, điểm du lịch được giao quản lý. Số lượng di sản văn hóa rất lớn của Việt Nam đồng nghĩa với việc có hàng chục ngàn thuyết minh viên đã và đang hoạt động tại các điểm du lịch, các bảo tàng, khu di tích. Đội ngũ này đang âm thầm đóng góp công sức, trí tuệ của mình nhằm mục đích phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, giới thiệu với du khách trong nước và bạn bè quốc tế về những nét đẹp của đất nước và con người Việt Nam. Chính vì thế công tác đào tạo thuyết minh viên di sản là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên và lâu dài.Một trong những nhiệm vụ và giải pháp được đưa ra trong Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đó là “Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch văn hóa, đặc biệt đối với nhân lực quản lý, hướng dẫn viên, thuyết minh viên và nhân lực phục vụ trực tiếp khách du lịch. Nâng cao chất lượng đào tạo nghề du lịch văn hóa theo tiêu chuẩn nghề ASEAN”.    Thời gian qua Tổng cục Du lịch Việt Nam đã triển khai thực hiện khá nhiều giảipháp nhằm từng bước tiêu chuẩn hóa đội ngũ hướng dẫn viên, thuyết minh viên du lịch. Tranh thủ sự hỗ trợ của Liên minh châu Âu (EU) và UNESCO về kỹ thuật, kinh phí để xây dựng các chương trình, nội dung đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ, ngoại ngữ cho các hướng dẫn viên, thuyết minh viên. Tổng cục Du lịch cũng đã tập trung nghiên cứu, xây dựng được một bộ tiêu chuẩn kỹ năng nghề du lịch Việt Nam (VTOS) cho 13 nghề, trong đó có nghiệp vụ hướng dẫn du lịch và thuyết minh viên du lịch. Thời gian tới, Tổng cục Du lịch sẽ phối hợp với Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội xây dựng và công bố các tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia, trong đó có nghề thuyết minh viên du lịch. Một số tổ chức quốc tế cũng đã và đang hỗ trợ Việt Nam trong việc xây dựng chương trình và đào tạo thuyết minh viên di sản. Điển hình là Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) và Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) xây dựng Khóa đào tạo giảng viên nguồn chương trình hướng dẫn viên du lịch tại các khu Di sản thế giới, đã được tổ chức tại các địa điểm có nhiều di sản văn hóa nổi bật của Việt Nam là Hà Nội, Quảng Nam, Huế, Đà Nẵng,…    Thực trạng hiện nay là trình độ của đội ngũ thuyết minh viên ở các điểm du lịch không đồng đều, thậm chí còn chênh lệch nhau khá xa giữa các vùng miền, các địa phương. Trình độ của đội ngũ thuyết minh viên hiện nay cũng khá da dạng phong phú, có thuyết minh viên có trình độ đại học, trên đại học được đào tạo cơ bản (đội ngũ này phần lớn làm việc tại các di tích và bảo tàng lớn…). Tuy vậy, cũng có thuyết minh viên có trình độ văn hóa thấp chưa qua các lớp đào tạo, họ làm thuyết minh từ vốn hiểu biết, tự học hỏi từ công việc chuyên môn hằng ngày, hoặc qua truyền miệng… (đội ngũ này phần lớn ở các địa phương hoặc vùng sâu, vùng xa). Đội ngũ thuyết minh viên hiện có cũng đang được đào tạo ở nhiều chuyên ngành đa dạng khác nhau: lịch sử, văn hóa, Việt Nam học, du lịch…Điều này dẫn đến việc thuyết minh viên tại nhiều địa phương thiếu nền tảng kiến thức văn hóa, yếu về kiến thức lịch sử. Một hạn chế khác của các thuyết minh viên tại Việt Nam là trình độ ngoại ngữ. Với những thuyết minh viên biết ngoại ngữ thì đa phần chỉ biết tiếng Anh, thuyết minh viên biết tiếng Pháp, Trung Quốc còn ít và tiếngTây Ban Nha, Nhật Bản, Hàn Quốc rất ít…    Việt Nam đang hướng đến trong thời gian tới sẽ có chương trình đào tạo đạt chuẩn dành cho thuyết minh viên du lịch. Tuy nhiên, việc áp dụng một chương trình đào tạo hướng dẫn viên di sản chung cho tất cả các địa phương tại Việt Nam sẽ có một số khó khăn và thách thức như sau: – Nhiều địa phương còn đang thiếu cơ sở đào tạo chuyên ngành về du lịch và về nghề thuyết minh viên. Theo thống kê của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, tính đến năm 2016, tại 63 tỉnh, thành phố của Việt Nam có 156 cơ sở đào tạo du lịch, trong đó có: 48 trường đại học; 43 trường cao đẳng và cao đẳng nghề. Hiện nay, các cơ sở đào tạo còn gặp nhiều khó khăn trong việc trang bị đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị trong việc đào tạo và thực hành. Bên cạnh đó, các cơ sở đào tạo du lịch tại Việt Nam còn thiếu giáo viên/giảng viên đạt chuẩn để giảng dạy chương trình đào tạo thuyết minh viên. Khóa đào tạo giảng viên nguồn chương trình hướng dẫn viên du lịch tại các khu Di sản thế giới của UNESCO là một giải pháp để giải quyết vấn đề này, tuy nhiên chương trình này mới chỉ được thực hiện trong một quy mô hẹp và chưa đươc nhân rộng.    – Cần sự hợp tác chặt chẽ hơn giữa các cơ sở đào tạo, điểm du lịch và công ty lữ hành để các thuyết minh viên được đào tạo gắn với thực tế và có khả năng phát huy nghề nghiệp. Thực tế cho thấy, nguồn nhân lực do các cơ sở đào tạo cung cấp cho thị trường chưa đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp cả về số lượng và chất lượng.    – Bên cạnh chương trình đào tạo mới, Việt Nam cũng cần có chương trình đào tạo bổ sung và đào tạo nâng cao cho đội ngũ thuyết minh viên hiện có. Điều này thực sự cần thiết do thực trạng chênh lệch về trình độ của đội ngũ thuyết minh viên giữa các vùng miền và các địa phương. Hiện nay các chương trình đạo tạo này vẫn thường do các địa phương tự xây dựng và tổ chức.    Việt Nam đang đề ra mục tiêu đến năm 2020 đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của quốc gia. Và du lịch di sản văn hóa, một trong những sản phẩm du lịch được đánh giá là thế mạnh của Việt Nam, sẽ phải có vai trò rất lớn trong sự tăng trưởng đó, như được đề ra trong Chiến lược và Quy hoạch phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Để nâng cao hình ảnh của di sản Việt Nam và chất lượng sản phẩm du lịch tại các điểm di sản, nâng cao chất lượng đội ngũ thuyết minh viên tại các điểm du lịch di sản là việc quan trọng và hết sức cần thiết. Tuy nhiên với thực trạng chưa có được một chương trình đào tạo thuyết minh viên đạt chuẩn và thống nhất trên cả nước; thiếu cơ sở đào tạo và người giảng dạy, việc đào tạo và phát triển đội ngũ thuyết minh viên di sản có chất lượng cao tại Việt Nam hiện còn gặp nhiều khó khăn.

ThS. Đinh Thị Hồng Nhung – Phòng Quản lý khoa học & Hợp tác quốc tế

Thực Trạng Phát Triển Du Lịch Di Sản Tại Việt Nam Và Một Số Thách Thức Đối Với Chương Trình Đào Tạo Thuyết Minh Viên / 2023

Với ngành du lịch đang được chú trọng và tập trung đẩy mạnh để trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của Việt Nam đặc biệt trở thành nguồn tài nguyên vô cùng quý giá để phát triển du lịch.Tiềm năng của các di sản văn hóa đã và đang phát huy mạnh mẽ, đóng góp vào sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc. Chính phủ Việt Nam cũng định hướng khai thác các di sản văn hoá phục vụ phát triển du lịch.Di sản văn hóa và du lịch di sản văn hóa được đề cập đến trong nhiều văn bản pháp luật, chủ trương, chính sách và chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam, đặc biệt trong: Luật Du lịch; Luật Di sản văn hóa;Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; Chiến lược và Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; Chiến lược phát triển sản phẩm du lịch Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030. Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã đưa ra mục tiêu tổng quát: “…phát triển du lịch mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc…”, văn hóa vừa là động lực vừa là mục tiêu trong phát triển du lịch; sản phẩm du lịch mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc là yếu tố cuốn hút và nâng cao sức cạnh tranh của du lịch Việt Nam với các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới. Chiến lượccũng đưa ra các mục tiêu phát triển du lịch phải hướng tới góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Việt Nam; lấy du lịch là động lực, tạo nguồn lực để đẩy mạnh bảo tồn văn hóa; nguồn thu từ du lịch hướng tới đóng góp tích cực vào công tác bảo tồn, đồng thời tăng cường kiểm soát những tác động từ hoạt động du lịch lên các thiết chế văn hóa. Mục tiêu phát triển du lịch văn hóa cũng được nêu ra trong Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong năm 2016. Trong đó nêu rõ:Đưa du lịch văn hóa trở thành một trong những ngành kinh tế dịch vụ quan trọng, phát triển rõ rệt về chất và lượng, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế. Đến năm 2020, ngành du lịch văn hóa chiếm từ 10-25% trong tổng số 18-19 tỷ USD doanh thu từ khách du lịch. Đến năm 2030, du lịch văn hóa chiếm từ 15-20% trong tổng số 40 tỷ USD doanh thu từ khách du lịch. Vì vậy, du lịch văn hoá cũng được xác định là 1 trong 4 sản phẩm du lịch chính của Việt Namtại Chiến lược phát triển sản phẩm du lịch. Năm 2016, Việt Nam đã đón 10triệu lượt khách du lịch quốc tế và 62 triệu lượt khách du lịch nội địatrong đó, khách du lịch đều lựa chọn tham gia hoạt động tham quan và tìm hiểu cácdi tích văn hoá-lịch sử và tham dự các lễ hội văn hoá, theo Chiến lược phát triển sản phẩm du lịch Việt Nam, hoạt động thăm quan di sản tại Việt Nam là hoạt động được khách du lịch quốc tế ưa thích thứ 2 chỉ sau nghỉ dưỡng tắm biển.Có thể thấy, vai trò của các di sản văn hóa đã và đang phát huy mạnh mẽ, đóng góp vào sự phát triển chung của ngành du lịch Việt Nam. Doanh thu du lịch thông qua bán vé các loại hình dịch vụ tại các điểm du lịch có Di sản văn hóa thế giới ngày càng tăng, góp phần không nhỏ vào tăng trưởng kinh tế, tạo thêm nhiều việc làm cho người dân địa phương. Những điểm đến có di sản văn hoá thế giới đã trở thành điểm nhấn quan trọng trên bản đồ du lịch Việt Namvà là điểm-phải-đến của khách du lịch, đặc biệt là du khách quốc tế, như Quần thể danh thắng Tràng An (Ninh Bình), Quần thể di tích cố đô Huế (Thừa Thiên Huế), Khu thánh địa Mỹ Sơn và Phố cổ Hội An (Quảng Nam).Sản phẩm du lịch di sản văn hoá tại Việt Nam khá đa dạng và hấp dẫn như hoạt động tham quan di sản, nghiên cứu văn hoá lịch sử thông qua di sản, tìm hiểu và trải nghiệm văn hoá truyền thống… Bên cạnh đó, sản phẩm du lịch di sản văn hoá còn là yếu tố tạo nên nét khác biệt cho hệ thống sản phẩm du lịch Việt Nam, kết nối và đa dạng hoá các tour, tuyến du lịch. Việc đi du lịch hiện nay không chỉ đơn thuần là thăm thú cảnh quan, mà du khách còn có nhu cầu tìm hiểu khám phá những nét độc đáo của truyền thống văn hóa, phong tục tập quán của các điểm đến. Chính vì vậy, bên cạnh những hướng dẫn viên du lịch của các công ty lữ hành, đội ngũ những người làm công tác thuyết minh tại điểm là vô cùng cần thiết và quan trọng giúp du khách nói chung, nhất là đối với du khách quốc tế khi đến với Việt Nam hiểu biết sâu về những giá trị văn hóa lịch sử của mỗi một địa danh, mỗi di tích. Thuyết minh viên di sản là những người làm công tác thuyết minh, hướng dẫn giới thiệu tuyên truyền – giáo dục tại các điểm di tích lịch sử văn hóa, các khu bảo tồn thiên nhiên, các bảo tàng…, có kiến thức chuyên sâu về khu du lịch, điểm du lịch được giao quản lý. Số lượng di sản văn hóa rất lớn của Việt Nam đồng nghĩa với việc có hàng chục ngàn thuyết minh viên đã và đang hoạt động tại các điểm du lịch, các bảo tàng, khu di tích. Đội ngũ này đang âm thầm đóng góp công sức, trí tuệ của mình nhằm mục đích phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, giới thiệu với du khách trong nước và bạn bè quốc tế về những nét đẹp của đất nước và con người Việt Nam. Chính vì thế công tác đào tạo thuyết minh viên di sản là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên và lâu dài.Một trong những nhiệm vụ và giải pháp được đưa ra trong Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đó là “Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch văn hóa, đặc biệt đối với nhân lực quản lý, hướng dẫn viên, thuyết minh viên và nhân lực phục vụ trực tiếp khách du lịch. Nâng cao chất lượng đào tạo nghề du lịch văn hóa theo tiêu chuẩn nghề ASEAN”. Thời gian qua Tổng cục Du lịch Việt Nam đã triển khai thực hiện khá nhiều giảipháp nhằm từng bước tiêu chuẩn hóa đội ngũ hướng dẫn viên, thuyết minh viên du lịch. Tranh thủ sự hỗ trợ của Liên minh châu Âu (EU) và UNESCO về kỹ thuật, kinh phí để xây dựng các chương trình, nội dung đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ, ngoại ngữ cho các hướng dẫn viên, thuyết minh viên. Tổng cục Du lịch cũng đã tập trung nghiên cứu, xây dựng được một bộ tiêu chuẩn kỹ năng nghề du lịch Việt Nam (VTOS) cho 13 nghề, trong đó có nghiệp vụ hướng dẫn du lịch và thuyết minh viên du lịch. Thời gian tới, Tổng cục Du lịch sẽ phối hợp với Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội xây dựng và công bố các tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia, trong đó có nghề thuyết minh viên du lịch. Một số tổ chức quốc tế cũng đã và đang hỗ trợ Việt Nam trong việc xây dựng chương trình và đào tạo thuyết minh viên di sản. Điển hình là Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) và Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) xây dựng Khóa đào tạo giảng viên nguồn chương trình hướng dẫn viên du lịch tại các khu Di sản thế giới, đã được tổ chức tại các địa điểm có nhiều di sản văn hóa nổi bật của Việt Nam là Hà Nội, Quảng Nam, Huế, Đà Nẵng,… Thực trạng hiện nay là trình độ của đội ngũ thuyết minh viên ở các điểm du lịch không đồng đều, thậm chí còn chênh lệch nhau khá xa giữa các vùng miền, các địa phương. Trình độ của đội ngũ thuyết minh viên hiện nay cũng khá da dạng phong phú, có thuyết minh viên có trình độ đại học, trên đại học được đào tạo cơ bản (đội ngũ này phần lớn làm việc tại các di tích và bảo tàng lớn…). Tuy vậy, cũng có thuyết minh viên có trình độ văn hóa thấp chưa qua các lớp đào tạo, họ làm thuyết minh từ vốn hiểu biết, tự học hỏi từ công việc chuyên môn hằng ngày, hoặc qua truyền miệng… (đội ngũ này phần lớn ở các địa phương hoặc vùng sâu, vùng xa). Đội ngũ thuyết minh viên hiện có cũng đang được đào tạo ở nhiều chuyên ngành đa dạng khác nhau: lịch sử, văn hóa, Việt Nam học, du lịch…Điều này dẫn đến việc thuyết minh viên tại nhiều địa phương thiếu nền tảng kiến thức văn hóa, yếu về kiến thức lịch sử. Một hạn chế khác của các thuyết minh viên tại Việt Nam là trình độ ngoại ngữ. Với những thuyết minh viên biết ngoại ngữ thì đa phần chỉ biết tiếng Anh, thuyết minh viên biết tiếng Pháp, Trung Quốc còn ít và tiếngTây Ban Nha, Nhật Bản, Hàn Quốc rất ít… Việt Nam đang hướng đến trong thời gian tới sẽ có chương trình đào tạo đạt chuẩn dành cho thuyết minh viên du lịch. Tuy nhiên, việc áp dụng một chương trình đào tạo hướng dẫn viên di sản chung cho tất cả các địa phương tại Việt Nam sẽ có một số khó khăn và thách thức như sau: – Nhiều địa phương còn đang thiếu cơ sở đào tạo chuyên ngành về du lịch và về nghề thuyết minh viên. Theo thống kê của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, tính đến năm 2016, tại 63 tỉnh, thành phố của Việt Nam có 156 cơ sở đào tạo du lịch, trong đó có: 48 trường đại học; 43 trường cao đẳng và cao đẳng nghề. Hiện nay, các cơ sở đào tạo còn gặp nhiều khó khăn trong việc trang bị đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị trong việc đào tạo và thực hành. Bên cạnh đó, các cơ sở đào tạo du lịch tại Việt Nam còn thiếu giáo viên/giảng viên đạt chuẩn để giảng dạy chương trình đào tạo thuyết minh viên. Khóa đào tạo giảng viên nguồn chương trình hướng dẫn viên du lịch tại các khu Di sản thế giới của UNESCO là một giải pháp để giải quyết vấn đề này, tuy nhiên chương trình này mới chỉ được thực hiện trong một quy mô hẹp và chưa đươc nhân rộng. – Cần sự hợp tác chặt chẽ hơn giữa các cơ sở đào tạo, điểm du lịch và công ty lữ hành để các thuyết minh viên được đào tạo gắn với thực tế và có khả năng phát huy nghề nghiệp. Thực tế cho thấy, nguồn nhân lực do các cơ sở đào tạo cung cấp cho thị trường chưa đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp cả về số lượng và chất lượng. – Bên cạnh chương trình đào tạo mới, Việt Nam cũng cần có chương trình đào tạo bổ sung và đào tạo nâng cao cho đội ngũ thuyết minh viên hiện có. Điều này thực sự cần thiết do thực trạng chênh lệch về trình độ của đội ngũ thuyết minh viên giữa các vùng miền và các địa phương. Hiện nay các chương trình đạo tạo này vẫn thường do các địa phương tự xây dựng và tổ chức. Việt Nam đang đề ra mục tiêu đến năm 2020 đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của quốc gia. Và du lịch di sản văn hóa, một trong những sản phẩm du lịch được đánh giá là thế mạnh của Việt Nam, sẽ phải có vai trò rất lớn trong sự tăng trưởng đó, như được đề ra trong Chiến lược và Quy hoạch phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Để nâng cao hình ảnh của di sản Việt Nam và chất lượng sản phẩm du lịch tại các điểm di sản, nâng cao chất lượng đội ngũ thuyết minh viên tại các điểm du lịch di sản là việc quan trọng và hết sức cần thiết. Tuy nhiên với thực trạng chưa có được một chương trình đào tạo thuyết minh viên đạt chuẩn và thống nhất trên cả nước; thiếu cơ sở đào tạo và người giảng dạy, việc đào tạo và phát triển đội ngũ thuyết minh viên di sản có chất lượng cao tại Việt Nam hiện còn gặp nhiều khó khăn.

ThS. Đinh Thị Hồng Nhung – Phòng Quản lý khoa học & Hợp tác quốc tế

Phát Triển Du Lịch Golf – Một Đột Phá Trong Phát Triển Sản Phẩm Du Lịch Việt Nam – Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch (Itdr) / 2023

Theo một điều tra của KPMG, khách du lịch golf tham gia các golf tour khoảng cách di chuyển đến điểm đến gần (short – haul) có thời gian chuyến đi khoảng 3 – 4 ngày. Với các điểm đến xa (long – haul), thời gian chuyến đi có thể kéo dài từ 1-2 tuần. Đặc điểm này cho thấy, bên cạnh khả năng chi tiêu cao, khách du lịch golf là thị trường khách có tiềm năng du lịch lưu trú dài ngày. Các phân tích về thị trường khách du lịch golf cho thấy nam giới chiếm tỷ trọng cao hơn nhiều trong số người chơi golf tuy nhiên số lượng nữ giới tham gia môn thể thao golf đang có chiều hướng gia tăng. Golf thủ có độ tuổi trung niên cũng chiếm đa số và có mức thu nhập cao hơn mức thu nhập trung bình. Thị trường châu Á đang phát triển nhanh chóng loại hình du lịch golf. Nhật Bản là tâm điểm “bùng nổ” golf những năm 80 và nó trở thành một phần của văn hóa doanh nghiệp ở Nhật Bản, nó giúp các nhà kinh doanh giảm áp lực của quá trình đô thị hóa, phát triển và cạnh tranh trong kinh doanh. Tuy nhiên việc thiếu không gian dành cho sân golf và chi phí đắt đỏ đã bùng nổ đầu tư sân golf của Nhật sang thị trường Đông Nam Á. Thái Lan và Malaysia là những quốc gia có sự phát triển du lịch golf sớm hơn cả trong khu vực ASEAN. Tuy nhiên, thực tế hiện nay các nước này đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong phát triển du lịch golf như các vấn đề cung cao hơn so với cầu du lịch golf, thiếu nước cung cấp cho các sân golf, ô nhiễm môi trường, nguồn nước ngầm gây ra mối đe doạn đến sức khỏe cho nhân viên phục vụ trong sân golf (caddie) và thậm chí chính cả người chơi. Theo số liệu thống kê của Hiệp hội golf Việt Nam, trong số hơn 15,5 triệu khách du lịch quốc tế đến Việt Nam năm 2018, số lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam chơi golf hay kết hợp mục đích chơi golf chỉ chiếm khoảng 0,8%. Thị trường khách du lịch golf chính đến Việt Nam hiện nay là khách Hàn Quốc, tiếp đến là Nhật Bản và một số nước Đông Nam Á. Nếu nhìn vào số liệu khách du lịch golf trên phạm vi toàn cầu và định hướng thị trường khách quốc tế trọng điểm đến Việt Nam trong thời gian tới, thực trạng và hướng phát triển golf, hoàn toàn có thể khẳng định du lịch golf Việt Nam còn có dư địa lớn để phát triển, thu hút nhiều khách đến từ các thị trường du lịch golf của Mỹ, Tây Âu và Đông Bắc Á. Vấn đề là ở chỗ làm thế nào để chúng ta có thể thu hút thị trường, phát triển du lịch golf. Phát huy những lợi thế, tiềm năng để phát triển du lịch golf sẽ là một đột phá trong phát triển sản phẩm du lịch Việt Nam trong những năm tới và để làm được điều này cần tập trung thực hiện một số giải pháp.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

KPMG golf Advisory practice in EMA, KPMG on Golf tourism growth trends, 2015

R&A, Golf around the world 2017

Laurea University of Applied Sciences, Designing high quality service experiences for Chinese golf tourists in Finland, 2014

https://golfbusinessnews.com/news/travel

https://www.goodfellowpublishers.com, An Introduction to Golf Tourism

https://golfplus.vn

TS. Đỗ Thị Thanh Hoa – Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch

Cách Mạng Công Nghiệp 4.0 Và Tiến Trình Phát Triển Du Lịch Thông Minh Tại Việt Nam – Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch (Itdr) / 2023

Phát triển du lịch thông minh là xu hướng tất yếu trong thời đại cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0), khi những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại được ứng dụng mạnh mẽ vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có du lịch. Tại Việt Nam, ứng dụng công nghệ hiện đại với ngành Du lịch và phát triển du lịch thông minh là chủ trương lớn của Đảng và Chính phủ, hiện đang được triển khai rộng khắp trong toàn ngành.

1. Hiểu về du lịch thông minh

Thuật ngữ “du lịch thông minh” xuất hiện ở Việt Nam trong khoảng vài năm trở lại đây, được nhắc đến nhiều khi cuộc CMCN 4.0 chính thức diễn ra. Dưới tác động của cuộc CMCN 4.0, khoa học và công nghệ (KH&CN), đặc biệt là công nghệ thông tin – truyền thông (CNTT-TT) phát triển ngày càng mạnh mẽ, cho phép tạo ra các sản phẩm ứng dụng đa dạng cho ngành du lịch. Việc ứng dụng những công nghệ tiên tiến cho ngành du lịch như trí tuệ nhân tạo (AI), điện toán đám mây, Big data, Blockchain, công nghệ 3D, 3600, công nghệ thực tế ảo và thực tế tăng cường (VR, AR), internet kết nối vạn vật (IoT), các công nghệ định vị (GIS, GPS, LBS); cùng với sự bùng nổ của của internet, mạng xã hội, hệ thống mạng cảm biến không dây (WSN) và các thế hệ mạng di động (4G, 5G),… đã góp phần làm thay đổi diện mạo của ngành du lịch, các hoạt động du lịch ngày càng được công nghệ hóa, ngày càng trở nên hiện đại hơn và thông minh hơn. Có thể nói, sự kết hợp giữa công nghệ với du lịch đã hình thành nên “du lịch thông minh”.

Du lịch thông minh là du lịch được phát triển trên nền tảng ứng dụng những thành tựu của khoa học và công nghệ hiện đại, đặc biệt là công nghệ thông tin truyền thông nhằm tạo ra những giá trị, lợi ích  và dịch vụ tốt nhất, đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch, doanh nghiệp du lịch, cơ quan quản lý du lịch và cộng đồng.

Xoay quanh thuật ngữ “du lịch thông minh”, hiện ở Việt Nam tồn tại rất nhiều quan điểm, cách hiểu khác nhau. Có thể khái lược một số cách nhìn nhận về du lịch thông minh tại Việt Nam như sau:

– Cách hiểu sơ khai : Du lịch thông minh = Smart Travel, là trào lưu du lịch mới, khác với những tour du lịch truyền thống trong đó người ta chú trọng đến lợi ích của du khách nhưng lại có mức chi phí thấp và an toàn [15]. Hiểu theo cách này, du lịch thông minh ở đây chính là “đi du lịch thông minh”, ám chỉ việc khách du lịch chủ động, tính toán, lên kế hoạch cụ thể cho chuyến du lịch một cách thông minh nhất để đạt được giá trị trải nghiệm tối đa trong khi chi phí lại ở mức tối thiểu.

– Cách hiểu hiện nay: Du lịch thông minh = Smart Tourism, là du lịch có sự kết hợp của yếu tố công nghệ. Trong đó:

+ Du lịch thông minh là phương tiện, công cụ hỗ trợ du lịch. Hiểu theo cách này, công nghệ được ứng dụng để tạo ra các phương tiện, công cụ thông minh hỗ trợ cho các hoạt động du lịch, như: các phần mềm quản lý thông minh hỗ trợ các cơ quan quản lý và doanh nghiệp du lịch, các ứng dụng và tiện ích thông minh hỗ trợ khách du lịch. Ví dụ tiện ích thuyết minh tự động, phần mềm quản lý hành chính điện tử, phần mềm quản lý hướng dẫn viên du lịch, phần mềm đặt vé trực tuyến, tiện ích chỉ đường và tìm kiếm khách sạn, khu vui chơi giải trí,…

+ Du lịch thông minh là một loại hình du lịch mới, bổ sung vào hệ thống phân loại các loại hình du lịch ở Việt Nam (du lịch tham quan, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch thể thao, du lịch MICE, du lịch thăm thâ, du lịch chữa bệnh, du lịch nông thôn, du lịch đô thị,… du lịch thông minh).

+ Du lịch thông minh là sản phẩm du lịch mới, bao gồm các dịch vụ trải nghiệm được tạo ra bằng việc ứng dụng các công nghệ tiên tiến cung cấp cho khách du lịch. Ví dụ: tour du lịch thực tế ảo, phim 3D – 3600, các trò chơi giải trí công nghệ,…

Trong giới hạn bài viết này, theo quan điểm của tác giả, du lịch thông minh là du lịch được phát triển trên nền tảng ứng dụng những thành tựu của khoa học và công nghệ hiện đại, nó không cụ thể cho mỗi hoạt động du lịch, mỗi loại hình du lịch, mỗi sản phẩm du lịch,… Ở đâu, khi nào có sự ứng dụng những thành tựu của khoa học và công nghệ hiện đại vào du lịch thì ở đó, khi đó có du lịch thông minh. Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ứng dụng công nghệ, làm tăng hiệu quả cho công tác quản lý, hình thành “quản lý du lịch thông minh”; doanh nghiệp ứng dụng công nghệ, làm tăng tính hiệu quả của hoạt động kinh doanh, hình thành “doanh nghiệp du lịch thông minh”; khách du lịch ứng dụng công nghệ hỗ trợ cho các hoạt động du lịch, hình thành “khách du lịch thông minh”; điểm đến du lịch ứng dụng công nghệ tiến, hình thành “điểm đến du lịch thông minh”; và tương tự với “đô thị du lịch thông minh”, “khu du lịch thông minh”,…. Mức độ “thông minh” ở đây lệ thuộc vào quy mô, tính chất và trình độ công nghệ được ứng dụng.

2. Tiến trình phát triển du lịch thông minh tại Việt Nam

2.1. Thể chế, chính sách mở đường cho phát triển du lịch thông minh

Trong những năm qua, Đảng và Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản định hướng cho việc triển khai ứng dụng KH&CN, CNTT-TT với phát triển kinh tế – xã hội nói chung và phát triển du lịch nói riêng. Thể chế chính sách đi trước là rất quan trọng để khai thông, mở đường và tạo điều kiện nền tảng, hành lang pháp lý cho phát triển du lịch thông minh.

Từ những năm 2000, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thức rõ “CNTT là một trong các động lực quan trọng nhất của sự phát triển, cùng với một số ngành công nghệ cao khác đang làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của thế giới hiện đại”. Vì thế, phải đẩy mạnh “ứng dụng và phát triển CNTT ở nước ta nhằm góp phần giải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, thúc đẩy công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hoá các ngành kinh tế”. Bộ Chính trị chủ trương: “Mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng đều phải ứng dụng công nghệ thông tin để phát triển”. Nghị quyết số 36-NQ/TW năm 2014 tiếp tục khẳng định: “CNTT phải được ứng dụng rộng rãi và trở thành một ngành kinh tế có tác động lan tỏa trong phát triển kinh tế – xã hội”. Nghị quyết số 26/2015/NQ-CP cũng nhấn mạnh: “Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong tất cả các ngành, các lĩnh vực nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý điều hành của cơ quan nhà nước, cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao sức cạnh tranh”. Khi cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư bùng nổ và tác động mạnh mẽ tới mọi lĩnh vực của đời sống xã hội thì việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT-TT cho các ngành, các lĩnh vực ngày càng trở nên cấp thiết. Trước bối cảnh đó, Thủ tướng Chính phủ ban hành chỉ thị số 16/2017/CT-TTg về việc tăng cường năng lực tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Thủ tướng đề nghị các Bộ, ngành “Xây dựng chiến lược chuyển đổi số, nền quản trị thông minh, ưu tiên phát triển công nghiệp công nghệ số, nông nghiệp thông minh, du lịch thông minh, đô thị thông minh”. Có thể nói, hệ thống văn bản của Đảng và Chính phủ đã mở ra định hướng chiến lược quan trọng để triển khai thực hiện ứng dụng công nghệ tiên tiến cho phát triển kinh tế – xã hội nói chung và du lịch nói riêng.

Ngày 16/01/2017, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 08-NQ/TW, khẳng định quan điểm: “Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn là định hướng chiến lược quan trọng để phát triển đất nước”. Để phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn cần phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó, tất yếu phải đẩy mạnh ứng dụng KH&CN hiện đại. Nghị quyết 08-NQ/TW có nêu ba khía cạnh ứng dụng KH&CN với các hoạt động du lịch, gồm: xúc tiến quảng bá du lịch, đào tạo nguồn nhân lực du lịch và quản lý nhà nước về du lịch. Luật du lịch năm 2017 cũng khẳng định “nhà nước có chính sách trong việc khuyến khích hỗ trợ các hoạt động ứng dụng khoa học, công nghệ hiện đại phục vụ quản lý và phát triển du lịch” (Khoản 4, Điều 5). Để tạo bước đột phá trong việc thu hút khách quốc tế đến Việt Nam, năm 2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 07/2017/NĐ-CP và Nghị quyết số 124/2017/NQ-CP quy định trình tự, thủ tục thực hiện thí điểm cấp thị thực điện tử (e-visa) cho người nước ngoài nhập cảnh Việt Nam. Đặc biệt, trong chỉ thị số 16/2017/CT-TTg, lần đầu tiên thuật ngữ “du lịch thông minh” được nhắc đến trong một văn bản pháp quy của Việt Nam: “…ưu tiên phát triển công nghiệp công nghệ số, nông nghiệp thông minh, du lịch thông minh, đô thị thông minh”.

2.2. Tiếp cận du lịch thông minh

Du lịch thông minh mới “chớm nở” tại Việt Nam, vì thế nó vẫn còn là một lĩnh vực khá mới mẻ. Để hiểu và nắm bắt được xu thế phát triển cũng như có những giải pháp ứng dụng khoa học công nghệ nhằm phát triển du lịch thông minh, cơ quan quản lý du lịch các cấp tại Việt Nam đã phối hợp với các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong và trong vài năm trở lại đây, rất nhiều hội nghị, hội thảo chuyên đề đã được tổ chức với quy mô cấp tỉnh, cấp ngành, cấp quốc gia và cấp quốc tế.

Trong thời đại công nghệ số, việc hỗ trợ cung cấp thông tin du lịch có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với công tác quảng bá hình ảnh du lịch của Việt Nam mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với khách du lịch, doanh nghiệp và cộng đồng. Hình thức cung cấp thông tin du lịch phổ biến nhất hiện nay là thông qua các hệ thống website, cổng thông tin, trang thông tin điện tử, báo điện tử. Hiện nay, 100% cơ quan quản lý du lịch từ Trung ương đến địa phương của Việt Nam đã có website du lịch. Hầu hết các doanh nghiệp du lịch, đặc biệt là các doanh nghiệp lữ hành và các doanh nghiệp kinh doanh khách sạn được xếp hạng theo thang bậc sao ở Việt Nam cũng đã có website riêng. Hệ thống báo mạng điện tử, các trang thông tin điện tử ở Việt Nam cũng thường xuyên đăng tải tin bài về du lịch và quảng bá du lịch, đặc biệt các báo lớn, các trang tin lớn… đều có chuyên mục riêng về du lịch. Ngày nay, với sự phát triển của công nghệ lập trình web, cho phép các nhà lập trình thiết kế, tích hợp nhiều tính năng, tiện ích đa dạng trên nền tảng web hỗ trợ các hoạt động du lịch như: bản đồ du lịch điện tử, chức năng booking online, thanh toán trực tuyến, tư vấn trực tuyến, chăm sóc khách hàng trực tuyến, các chức năng quy đổi tiền tệ, dự báo thời tiết… thậm chí có thể tạo ra sự tương tác trực tiếp của khách du lịch như góp ý, phản ánh, bình luận về các sự kiện du lịch. Bên cạnh các hệ thống website, mạng xã hội cũng là một trong những kênh quan trọng trong việc chia sẻ thông tin, trải nghiệm du lịch và góp phần quảng bá du lịch.

Để hỗ trợ hoạt động du lịch của du khách, các địa phương của Việt Nam trong những năm qua đã nghiên cứu, sản xuất và đưa vào sử dụng nhiều phần mềm, tiện ích thông minh. Trong đó, nổi bật nhất vẫn là các tỉnh, thành phố lớn như Hà Nội, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh. Hà Nội trong năm 2018 đã đưa vào sử dụng 2 phần mềm tiện ích thông minh hỗ trợ du khách gồm hệ thống thuyết minh tự động tại di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám và phần mềm hướng dẫn tham quan Hoàng Thành Thăng Long; một số tiện ích về bản đồ, tìm đường, trạm bus, travel guide khác cũng đã được nghiên cứu, sản xuất và đưa vào sử dụng từ lâu. Thành phố Hồ Chí Minh cũng rất tích cực đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin – truyền thông với ngành Du lịch nhằm hướng tới mục tiêu đưa thành phố trở thành đô thị du lịch thông minh, như: đưa vào sử dụng một số trạm thông tin du lịch thông minh; đưa vào sử dụng phần mềm du lịch thông minh “Vibrant Ho Chi Minh city” và một số phần mềm tiện ích khác như “Sai Gon Bus”, “Ho Chi Minh City Travel Guide”, “Ho Chi Minh City Guide and Map”. Đà Nẵng cũng là một trong những địa phương đi đầu trong việc triển khai ứng dụng công nghệ thông tin – truyền thông với ngành Du lịch, phát triển mô hình du lịch thông minh. Ngoài việc thường xuyên sử dụng các phương pháp marketing điện tử để quảng bá du lịch, Đà Nẵng rất quan tâm xây dựng các hệ thống phần mềm, tiện ích hỗ trợ du khách như “Da Nang Tourism”, “inDaNang”, “ Go! Đà Nẵng”, “Da Nang Bus”. Đặc biệt, đầu năm 2018 Đà Nẵng đưa vào sử dụng ứng dụng Chatbot “Da Nang Fantasticity”, đây là công nghệ được sử dụng đầu tiên tại Việt Nam và Đông Nam Á (cùng với Singapore). Ngoài ra, một số địa phương khác như Hải Phòng, Quảng Ninh, Ninh Bình, Hưng Yên, Thanh Hóa, Quảng Bình, Cần Thơ… cũng đang phối hợp tích cực với các tập đoàn viễn thông để triển khai những dự án du lịch thông minh, sản xuất các phần mềm, tiện ích thông minh cho ngành Du lịch.

Để phát triển du lịch thông minh, cần thiết phải phát triển và hoàn thiện hạ tầng mạng bởi đây là điều kiện quan trọng để triển khai các hoạt động du lịch online. Nhận thức được điều này, nhiều địa phương trong cả nước đã và đang triển khai lắp đặt các trạm phát wifi miễn phí. Tại Hà Nội, nhiều điểm trên địa bàn thuộc các quận trung tâm đã được lắp đặt trạm phát wifi miễn phí như khu vực quanh bờ hồ Hoàn Kiếm, các khu phố cổ, đường hoa, chợ hoa, công viên, bến xe, tuyến buýt… Một số điểm du lịch của Hà Nội cũng đang được triển khai lắp đặt gồm: Bát Tràng, Vạn Phúc, Hoàng Thành Thăng Long, Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Tại thành phố Hồ Chí Minh, hơn 100 điểm phát wifi miễn phí đã được triển khai cho ba khu vực bệnh viện, trường học, điểm công cộng tại các quận trung tâm và gần 1000 điểm phát wifi miễn phí tại các khu công nghiệp, khu chế xuất trên địa bàn thành phố. Đà Nẵng là một trong những địa phương đi đầu trong cả nước về chủ trương phủ sóng wifi miễn phí phục vụ khách du lịch và cộng đồng. Từ năm 2012, Đà Nẵng đã đầu tư gần 2 triệu USD cho dự án phủ sóng wifi. Đến nay, trên địa bàn thành phố đã có tới gần 500 trạm phát trên tất cả các tuyến đường phố chính, các điểm du lịch dọc bờ biển, các điểm du lịch dọc bờ sông Hàn, các trung tâm mua sắm, trung tâm hành chính, các điểm du lịch và các điểm công cộng khác. Ngoài ra, rất nhiều địa phương khác trong cả nước đã và đang tích cực triển khai phủ sóng wifi miễn phí như: Quảng Ninh, Hải Phòng, Huế, Quảng Bình, Đà Lạt, Cần Thơ…

Các doanh nghiệp du lịch của Việt Nam cũng rất tích cực tiếp cận CMCN 4.0 để theo kịp xu hướng kinh doanh mới, đáp ứng nhu cầu du lịch đa dạng của du khách. Nhiều doanh nghiệp đang tự cải tiến mình để trở thành những doanh nghiệp thông minh. Theo đó, các hoạt động kinh doanh hầu hết được triển khai trực tuyến: marketing, quảng bá sản phẩm; nghiên cứu mở rộng thị trường; tư vấn, chăm sóc khách hàng; thực hiện các giao dịch mua – bán, thanh toán… Các doanh nghiệp du lịch hàng đầu Việt Nam đang đẩy mạnh ứng dụng công nghệ hiện đại trong kinh doanh du lịch như Vietravel, Saigontourist, Thiên Minh Group, Hanoitourist, Benthanhtourist… Năm 2016, sàn giao dịch du lịch trực tuyến (Tripi) đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam, cho phép giao dịch các tour trọn gói, khách sạn và vé máy bay. Đặc biệt, Tripi còn cho phép khách hàng tìm kiếm, so sánh giá các sản phẩm du lịch và cập nhật chính xác 24/24 tình trạng sản phẩm. iVIVU ( chúng tôi ) cũng là một trong những sàn giao dịch du lịch lớn, cho phép khách du lịch tìm kiếm thông tin, so sánh, lựa chọn và thực hiện các giao dịch đặt tour, mua vé máy bay, đặt phòng khách sạn với hơn 300 tour du lịch, hơn 5.000 khách sạn tại Việt Nam và 345.000 khách sạn toàn thế giới để du khách lựa chọn; mỗi tháng ivivu.com thu hút lượng truy cập tới 10 triệu lượt. Hiện nay, ở Việt Nam có khoảng hơn 10 sàn giao dịch du lịch. Đây là những điểm nhấn quan trọng của các doanh nghiệp du lịch Việt về khả năng tiếp cận và thích ứng với du lịch thông minh.

2.3. Khách du lịch thông minh

Theo thống kê của của WeAreSocial (wearesocial.com) năm 2018, toàn thế giới có 4,02 tỷ người dùng internet (chiếm 53% trong 7,59 tỷ dân), gần 3,2 tỷ người dùng mạng xã hội, hơn 5,1 tỷ người dùng điện thoại di động (chiếm 68% dân số) trong đó chủ yếu là điện thoại thông minh có kết nối và sử dụng internet. Ở Việt Nam với 96,02 triệu dân thì có đến 64 triệu người sử dụng internet (chiếm 67% dân số), 55 triệu người dùng mạng xã hội (chiếm 57%), hơn 70 triệu người dùng điện thoại di động (chiếm 73%). Nếu tính theo tỷ lệ dân số trưởng thành thì có 97% dân số trưởng thành sử dụng điện thoại di động, 72% sử dụng điện thoại thông minh, 43% sử dụng máy tính để bàn hoặc laptop, 13% sử dụng máy tính bảng. Điều này cho thấy, tỷ lệ người dân sử dụng internet và thiết bị thông minh trên thế giới và ở Việt Nam là rất lớn. Đây là tiền đề lớn để phát triển du lịch thông minh.

thống kê của Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (VECOM), tỷ lệ khách du lịch trong nước đặt phòng khách sạn trực tuyến và đặt tour trực tuyến đạt hơn 60%; tỷ lệ khách du lịch quốc tế sử dụng hai dịch vụ này đạt hơn 75%, trong đó 70% khách sử dụng các dịch vụ trực tuyến ở độ tuổi dưới 35. Một khảo sát khác với khách du lịch quốc tế đến Việt Nam cho thấy, có tới 71% du khách tham khảo thông tin điểm đến trên internet; 64% đặt chỗ và mua dịch vụ trực tuyến trong chuyến đi đến Việt Nam. Các số liệu thống kê cho thấy, khách du lịch sử dụng internet, các tiện ích thông minh, các thiết thông minh để tìm kiếm thông tin du lịch, tham khảo điểm đến, so sánh và lựa chọn các dịch vụ du lịch hợp lý, thực hiện các giao dịch mua tour, đặt phòng, mua vé máy bay, thanh toán trực tuyến… ngày càng có xu hướng gia tăng. Họ đang trực tiếp trở thành những vị “khách du lịch thông minh” – nhân tố quan trọng của du lịch thông minh.

2.4. Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân

Ứng dụng công nghệ hiện đại với ngành du lịch và phát triển du lịch thông minh đang là chủ trương lớn của Đảng và Chính phủ. Trong thời gian qua, mặc dù ngành du lịch đang rất nỗ lực trong việc triển khai các giải pháp phát triển du lịch thông minh, tuy nhiên vẫn còn tồn tại rất nhiều bất cập, hạn chế. Cụ thể:

– Chính sách đặc thù về du lịch thông minh: Mặc dù hiện đã có rất nhiều văn bản pháp quy về đẩy mạnh ứng dụng CNTT-TT với phát triển kinh tế – xã hội nói chung, phát triển du lịch nói riêng, nhưng đến nay vẫn chưa có văn bản cụ thể nào quy định hay hướng dẫn triển khai phát triển du lịch thông minh ở Việt Nam. Một số địa phương có chủ trương phát triển du lịch thông minh nhưng quá trình triển khai còn nhiều bất cập.

– Mô hình du lịch thông minh: Trong thời gian qua, đã có nhiều địa phương triển khai các biện pháp phát triển du lịch thông minh. Tuy nhiên, các hoạt động này diễn ra mang tính cục bộ, thiếu cơ sở khoa học, căn cứ pháp lý và đặc biệt là thiếu “mô hình du lịch thông minh” đảm bảo tính hiệu quả. Điều này dẫn đến đầu tư thiếu trọng điểm, thiếu tính đồng bộ, hiệu quả mang lại chưa cao. Nguyên nhân của vấn đề này là do du lịch thông minh đang là xu thế mới, chưa hình thành và chưa có tiền lệ ở Việt Nam, chưa có địa phương nào xây dựng thành công để làm mô hình học hỏi cho các địa phương khác.

– Mức độ sẵn sàng cho phát triển du lịch thông minh: Du lịch thông minh được phát triển trên nền tảng ứng dụng KH&CN, CNTT-TT, đây được coi là điều kiện, tiền đề tiên quyết. Tuy nhiên, mức độ sẵn sàng về công nghệ để phát triển du lịch thông minh ở Việt Nam chưa cao.

Chỉ số xếp hạng về mức độ sẵn sàng cho ứng dụng và phát triển CNTT-TT của Bộ VHTT&DL trong vài năm trở lại đây xếp ở vị trí trung bình khá, từ thứ 4 đến thứ 7 trên bảng xếp hạng 19 Bộ, ngành. Trong đó, các chỉ số về hạ tầng kỹ thuật và chỉ số ứng CNTT nhiều năm xếp ở vị trí trung bình yếu (Bảng 1).

Bảng 1. Xếp hạng của Bộ VHTT&DL về chỉ số sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng CNTT-TT

Chỉ số xếp hạng

Năm 2018

Năm 2017

Năm 2016

Năm 2015 Chỉ số xếp hạng chung 5 6 4 7 Chỉ số Hạ tầng kỹ thuật

8

11

4

11

Chỉ số Hạ tầng nhân lực

4

6

3

4

Chỉ số Ứng dụng CNTT

5

10

9

11

Nguồn: Bộ Thông tin truyền thông, Hội tin học Việt Nam, năm 2018

Bảng 2. Các Bộ đướng đầu Bảng xếp hạng chung về chỉ số sẵn sàng ứng dụng CNTT-TT

thông, Hội tin học Việt Nam, năm 2018

Đối với cấp địa phương, ngoại trừ 5 địa phương có du lịch phát triển gồm Hà Nội, Đà Nẵng, TP.Hồ Chí Minh, Quảng Ninh, Thừa Thiên – Huế đứng đầu bảng xếp hạng về mức độ sẵn sàng cho ứng dụng và phát triển CNTT-TT (Bảng 3), rất nhiều địa phương có du lịch phát triển nhưng chỉ số xếp hạng lại rất thấp như: Hải Phòng, Ninh Bình, Quảng Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Khánh Hòa, Lâm Đồng, Lào Cai,… (Bảng 4).

Hình 3. Top 10 địa phương đứng đầu Bảng xếp hạng về chỉ số sẵn sàng ứng dụng CNTT-TT

Bảng 4. Xếp hạng về chỉ số sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng CNTT-TT của 5 địa phương có du lịch phát triển năm 2018

Tỉnh/Thành

Chỉ số xếp hạng chung

Xếp hạng Hạ tầng kỹ thuật

Xếp hạng Hạ tầng nhân lực

Xếp hạng Ứng dụng CNTT

Hải Phòng

29/63

43

33

15

Ninh Bình

39/63

57

28

28

Thanh Hóa

22/63

25

11

46

Quảng Bình

49/63

53

40

51

Khánh Hòa

15/63

9

14

29

Nguồn: Bộ Thông tin truyền thông, Hội tin học Việt Nam, năm 2018

– Trình độ khoa học và công nghệ: So với các quốc gia trên thế giới, Việt Nam là quốc gia có trình độ khoa học và công nghệ còn hạn chế. Vì thế, việc nghiên cứu, sản xuất các sản phẩm công nghệ ứng dụng cho du lịch vẫn còn nhiều hạn chế. Ví dụ, Thái Lan đã nghiên cứu ứng dụng được công nghệ thực tại ảo (VRT) để sản xuất các tour du lịch ảo và đưa vào khai thác sử dụng tại thủ đô Bangkok từ những năm 2015, 2016; Singapore đã nghiên cứu internet vạn vật (IoT) để thiết kế các phòng nghỉ thông minh, quản trị khách sạn thông minh tại một số khách sạn hiện đại từ những năm 2010; Hàn Quốc sản xuất hệ thống các phần mềm, ứng dụng, tiện ích thông minh cho ngành du lịch khá đầy đủ và hệ thống hay Đài Loan đã phát triển hệ thống thẻ điện tử, vé điện tử du lịch, xây dựng nhiều trung tâm du lịch thông minh (i-Center) và trạm thông tin du lịch thông minh để hỗ trợ khách du lịch nhưng ở Việt Nam còn rất hạn chế.

– Sự tiếp cận của doanh nghiệp với du lịch thông minh còn yếu: Trong các lĩnh vực kinh doanh du lịch chính như: lữ hành, lưu trú, vận tải du lịch, ăn uống, giải trí, mua sắm,… thì khả năng tiếp cận công nghệ, phát triển du lịch thông minh chủ yếu ở một số phân nhánh như lữ hành quốc tế, vận tải hàng không, cơ sở lưu trú cao cấp. Trong đó, cũng chỉ có các doanh nghiệp hàng đầu, có tiềm lực mới có khả năng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, tiếp cận du lịch thông minh. Nguyên nhân chính do đặc điểm doanh nghiệp du lịch Việt Nam chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa, vốn ít, kinh doanh nhỏ lẻ nên khả năng tài chính chi trả cho đầu tư ứng dụng công nghệ không cao; doanh nghiệp kinh doanh lữ hành nội địa, doanh nghiệp kinh doanh lưu trú (nhà nghỉ, khách sạn 1-2 sao) chiếm số lượng lớn, đối tượng khách phục vụ chủ yếu là khách nội địa, nhu cầu khách sử dụng các dịch vụ thông minh, trực tuyến không lớn nên khả năng tiếp cận du lịch thông minh của các doanh nghiệp này còn thấp.

3. Một số giải pháp thúc đẩy phát triển du lịch thông minh tại Việt Nam

Để phát triển du lịch thông minh tại Việt Nam trong thời gian tới, cần tập trung thực hiện một số giải pháp căn bản sau:

– Tiếp tục hoàn thiện thể chế chính sách cho phát triển du lịch thông minh

Chính phủ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cần có cơ chế, chính sách đặc thù và ban hành những văn bản cụ thể, quy định, hướng dẫn chi tiết về phát triển du lịch thông minh để định hướng cho ngành Du lịch và các địa phương trong việc triển khai thực hiện. Cơ quan quản lý du lịch các cấp cần xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch về phát triển du lịch thông minh, có lộ trình và bước đi phù hợp. Ngoài ra, cần hoàn thiện CNTT-TT thông với phát triển kinh tế – xã hội nói chung như: các chính sách về phát triển Chính phủ điện tử, thủ tục hành chính điện tử, thương mại điện tử, phát triển giao thông thông minh, đô thị thông minh, để đồng bộ với thể chế chính sách về phát triển du lịch thông minh.

– Xác định mô hình và triển khai thí điểm

Phát triển du lịch thông minh là định hướng chiến lược nhất quán của Đảng và Chính phủ, phù hợp với thực tiễn và xu thế phát triển chung của thế giới. Tuy nhiên, không nhất thiết địa phương nào cũng phải phát triển du lịch thông minh. Căn cứ vào điều kiện kinh tế – xã hội, cơ sở vật chất – kỹ thuật, kết cấu hạ tầng, trình độ công nghệ, nguồn nhân lực và tiềm năng phát triển du lịch,… xác định một số địa phương trọng điểm triển khai thí điểm thông minh, quản lý năng lượng thông minh,… Có thể lựa chọn 3 hoặc 5 địa phương có điều kiện kinh tế – xã hội phát triển, đang đứng đầu bảng xếp hạng về mức độ sẵn sàng cho ứng dụng và phát triển CNTT-TT gồm: Hà Nội, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh, Quảng Ninh, Thừa Thiên – Huế làm mô hình thí điểm cho phát triển đô thị thông minh và du lịch thông minh. Việc xác định rõ mô hình và triển khai thí điểm sẽ giúp Trung ương và địa phương tập trung được nguồn lực cho phát triển du lịch thông minh, tránh thực hiện dàn trải, manh mún, nhỏ lẻ, thiếu hiệu quả và gây lãng phí nguồn lực. Kết quả của một số mô hình thí điểm này sẽ là bài học kinh nghiệm quý giá để ngành du lịch và các địa phương khác học hỏi.

– Chú trọng phát triển khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin – truyền thông theo hướng ứng dụng cho ngành du lịch, tạo nền tảng công nghệ cho du lịch thông minh

Chính phủ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cần có cơ chế, chính sách ưu tiên, khuyến khích các hoạt động nghiên cứu ứng dụng KH&CN cho ngành du lịch. Cần xác định và ưu tiên đầu tư cho các hạng mục công nghệ quan trọng hỗ trợ phát triển du lịch thông minh, bao gồm: xây dựng cơ sở dữ liệu ngành; đầu tư phát triển hạ tầng công nghệ; đầu tư sản xuất các phần mềm, hệ thống, chương trình, ứng dụng, tiện ích thông minh cho ngành du lịch; nghiên cứu ứng dụng các công nghệ tiên tiến sản xuất các sản phẩm và dịch vụ du lịch thông minh; nghiên cứu ứng dụng các công nghệ tiên tiến cho công tác quản lý và phát triển điểm đến; ứng dụng công nghệ cho công tác thống kê du lịch; ứng dụng công nghệ cho công tác bảo tồn, phục chế các giá trị di sản, di tích phục vụ du lịch.

– Phát triển nguồn nhân lực có trình độ công nghệ và đẩy mạnh hợp tác quốc tế về khoa học công nghệ

Đẩy mạnh hợp tác quốc tế về khoa học công nghệ với các nước phát triển để học hỏi kinh nghiệp, nâng cao năng lực nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ với phát triển du lịch thông minh; hợp tác, chuyển giao công nghệ và hợp tác đầu tư phát triển công nghệ cho Việt Nam. Bên cạnh đó, ngành Du lịch cần chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực, đảm bảo nguồn nhân lực ngoài trình độ chuyên môn về du lịch phải có khả năng đáp ứng yêu cầu sử dụng và vận hành công nghệ, sẵn sàng tiếp cận và thích ứng với du lịch thông minh. Thu hút nhân tài có trình độ cao về công nghệ vào làm việc trong ngành du lịch.

– Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về phát triển du lịch thông minh

Nâng cao nhận thức của người dân về du lịch thông minh, tuyên tuyền sâu rộng nâng cao nhận thức của cộng đồng về các hoạt động du lịch trực tuyến, những ưu điểm và những tồn tại, bất cập của nó để khách du lịch và người dân hiểu, có những hoạt động tích cực, “thông minh”, tránh bị lợi dụng, lừa đảo. Khuyến khích các doanh nghiệp du lịch đổi mới sáng tạo, ứng dụng công nghệ trong kinh doanh, tiếp cận du lịch thông minh. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong hoạt động quản lý nhà nước về du lịch, nâng cao hiệu quả quản lý, từng bước điện đại hóa ngành du lịch.

4. Kết luận

Phát triển du lịch thông minh là xu hướng tất yếu của tương lai, nó sẽ tạo ra một diện mạo mới cho ngành du lịch của Việt Nam và du lịch thế giới. Tuy nhiên, để phát triển du lịch thông minh cần phải có những điều kiện và tiền đề nhất định – nền tảng cốt yếu của nó là ứng dụng những thành tựu KH&CN tiên tiến của CMCN 4.0. Muốn phát triển du lịch thông minh, trước hết phải có nhận thức đầy đủ và đúng đắn về nó, phải hiểu được bản chất và nắm được quy luật vận động, phát triển của nó.

Trong một giới hạn và phạm vi nghiên cứu nhất định, bài viết “Cách mạng công nghiệp 4.0 và tiến trình phát triển du lịch thông minh tại Việt Nam” trình bày một số vấn viết phân tích tiến trình phát triển du lịch thông minh tại Việt Nam thời gian qua, chỉ ra những ưu điểm, những thành tựu đã đạt được và một số khó khăn, hạn chế còn tồn tại. Qua đó, bài viết đề xuất một số giải pháp để thúc đẩy phát triển du lịch thông minh tại Việt Nam trong thời gian tới./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

[1]. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Chỉ thị số 58-CT/TW về Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

[2]. Bộ Chính trị (2014), Nghị quyết số 36-NQ/TW về Đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế.

[3]. Chính phủ (2015), Nghị quyết số 26/NQ-CP về việc Ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW.

[4]. Chỉ thị số 16/2017/CT-TTg ngày 04/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường năng lực tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

[5]. Bộ Chính trị (2017), Nghị quyết số 08-NQ/TW về Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.

[6]. Chính phủ (2017), Nghị định số 07/NĐ-CP Quy định trình tự, thủ tục thực hiện thí điểm cấp thị thực điện tử cho người nước ngoài nhập cảnh Việt Nam.

[7]. Chính phủ (2017), Nghị quyết số 124/NQ-CP về việc Bổ sung danh sách các nước có công dân được thí điểm cấp thị thực điện tử.

[8]. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2014), Quyết định số 3728/QĐ-BVHTTDL về việc ban hành kế hoạch tổng thể ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin của Bộ VHTT&DL giai đoạn 2016-2020.

[9]. Bộ Thông tin truyền thông, Hội tin học Việt Nam (2018), Báo cáo tóm tắt chỉ số sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng CNTT-TT Việt Nam (VN ICT Index 2018), Nxb Thông tin Truyền thông, HN.

[10]. Taiwan Tourism Bureau (2018), The Heart of Asia, Publishing rights of Tourism Bureau, Ministry of Transport, Taiwan, ISBN 978-986-05-5407-6.

[11]. Giang Nam (2018), Phát triển du lịch thông minh, Báo Nhân Dân điện tử, website:  http://www.nhandan.com.vn/hanoi/item/35714302-phat-trien-du-lich-thong-minh.html

[12]. Kinh tế và Đô thị: http://kinhtedothi.vn/mo-hinh-du-lich-thong-minh-diem-nhan-phat-trien-nganh-kinh-te-xanh-310544.html

[13]. Nguyễn Nam (2018), Thời của du lịch thông minh lên ngôi, Báo du lịch điện tử, http://www.baodulich.net.vn/Thoi-cua-du-lich-thong-minh-len-ngoi-ky-2-09-16000.html

[14]. Mai An (2018), Du lịch trực tuyến: xu hướng tất yếu nhưng… đang yếu, Sài Gòn Giải Phóng Online, http://www.sggp.org.vn/du-lich-truc-tuyen-xu-huong-tat-yeu-nhung-dang-yeu-508751.html

[15]. Du lịch thông minh – trào lưu du lịch mới, website: https://www.vietravel.com/vn/su-kien-du-lich/du-lich-thong-minh-trao-luu-du-lich-moi-v860.aspx

TS. Lê Quang ĐăngPhòng nghiên cứu Chiến lược, Chính sách và Môi trường Du lịch

Bạn đang xem bài viết Thực Trạng Phát Triển Du Lịch Di Sản Tại Việt Nam Và Một Số Thách Thức Đối Với Chương Trình Đào Tạo Thuyết Minh Viên – Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch (Itdr) / 2023 trên website Samthienha.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!