Xem Nhiều 11/2022 #️ Thuyết Minh Xuyên Việt – Đồng Nai / 2023 # Top 17 Trend | Samthienha.com

Xem Nhiều 11/2022 # Thuyết Minh Xuyên Việt – Đồng Nai / 2023 # Top 17 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Thuyết Minh Xuyên Việt – Đồng Nai / 2023 mới nhất trên website Samthienha.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Thân chào các bạn!

Các bạn hướng dẫn viên du lịch hãy coi như đây là tài liệu tham khảo. Và chỗ nào chưa đúng chưa chính xác thì rất mong được các bạn gửi thông tin góp ý để mình bổ sung nha. Cám ơn các bạn nhiều nhiều!

ĐỒNG NAI

Thuộc miền Đông Nam Bộ. Tỉnh có diện tích 5864km2, dân số 1.98.541 (1/4/1999) người, thủ phủ là thành phố Biên Hòa. Biên Hòa nằm bên dòng sông Đồng Nai, đất đai thuộc loại phù sa cổ do sông Đồng Nai bồi đắp. Nhiệt độ trung bình năm là 27oC. Các huyện: Thống Nhất, Định Quán, Tân Phú, Vĩnh Cửu, Xuân Lộc, Long Thành và Nhơn Trạch. Từ 1/10/2003, Long Khánh trở thành thị xã. Tên gọi Đồng Nai xuất phát do đọc trại từ tên “Nông Nại Đại Phố”. Có ý kiến khác cho rằng xưa kia có nhiều đồng cỏ nên nai kéo về đây sinh sống rất nhiều nên gọi là Đồng Nai. Vì đất đai màu mỡ nên Đồng Nai rất thích hợp với nhiều loại cây lương thực, hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày như mía, đậu nành, thuốc lá… cây công nghiệp dài ngày như cà phê, cao su… Núi Châu Thới Núi Châu Thới sừng sửng như một ngọn tháp thiên tạo giữa một vùng đất bằng phẳng, cách Biên Hòa chưa đầy 4km, cách chúng tôi cũng chưa đầy 20km. Trong một cuốn sách xưa, một vị học sĩ đã mô tả núi Châu Thới như một tấm bình phong che chắn các luồng gió dữ, điều hòa khí hậu cả một vùng xung quanh. Với tín ngưỡng, núi Châu Thới như một biểu hiện khác thường ẩn hiện nhiều điều linh thiêng. Vì vậy mà những tín đồ đạo Phật không quản dốc cao đã dựng lên trên núi công trình chùa Châu Thới và quần thể các điện thờ. Chùa Châu Thới được tạo dựng bằng bàn tay tài hoa và lòng tôn kính của các tín đồ nghệ nhân suốt gần 300 năm qua. Nghệ thuật tạo hình và trang trí thời cổ còn đọng lại ở những pho tượng đá, những bao lam và những đường nét trang trí hoa văn trong kiến trúc chùa cách đây 300 năm là dấu tích quý giá của văn hóa dân tộc. Tiếng chiêng chùa ngân nga khắp một vùng quanh Châu Thới được phát đi từ chiếc chuông do các thợ kỳ cựu của cố đô Huế đúc cùng với mẫu của chùa Thiên Mụ. Trên chiếc chuông đồng cao 3m, nặng 1,5tấn này có những đường nét, hoa văn trang trí theo lối phương Đông rất tinh xảo. Châu Thới là ngọn núi duy nhất trong vùng và gần gũi với người chúng tôi Với chiều cao 85m, Châu Thới như một ngọn hải đăng trên cạn định hướng cho cả một vùng rộng lớn quanh núi. Sự có mặt của núi làm cho cảnh quan vùng này mất đi cái vẻ đơn điệu. Vì vậy, Châu Thới được xem như kỳ quan thiên nhiên của vùng Bình Dương, Biên Hòa, chúng tôi Chùa và núi hòa quyện với nhau tạo ra một khung cảnh cổ kính nên thơ. Trong thời hiện đại, người ta lại càng dễ cảm nhận và bị lôi cuốn bởi sự kỳ bí đầy lãng mạn ở nơi này- một thế giới gần như nguyên bản của hàng trăm năm về trước. Trèo lên 209 bậc, du khách mới tới được đỉnh của núi. Ở đây du khách sẽ cảm nhận ngay sự khoan khoái bởi cái mát mẻ của gió trời lồng lộng, của sự khoáng đại như phóng tầm mắt trải xa một vùng rộng lớn để được mục kích khung cảnh quanh Châu Thới: những cánh đồng bát ngát, những hồ nước trong xanh, những kênh rạch uốn lượn như những con rồng và cả những con đường tấp nập người xe qua lại, các xóm thôn, các khu nhà xinh xắn núp dưới những tán cây xanh biếc… Buổi tối du khách sẽ được thấy cảnh rực rỡ trong đêm của muôn vàn ngọn đèn xanh, vàng từ thành phố Biên Hòa và TP.HCM. Với cảnh trí thơ mộng, tươi mát, cùng với suối Lồ Ô, hồ Bình An gần đó là một quần thể du lịch hấp dẫn thuộc xã Bình An, Thuận An, Bình Dương, Chùa và núi Châu Thới không những là một thắng cảnh thiên nhiên cảnh thiên nhiên đẹp mà còn là nơi lưu giữ những di vật văn hóa cổ đậm đà tính dân tộc cho thế hệ mai sau. Cầu Đồng NaI – Sông Đồng Nai Dài 543,9m, rộng 16m, trọng tải 25 tấn, được xây dựng cùng thời với cầu Sài Gòn và XL Biên Hoà. Sông Đồng Nai dài 586km. Sông được bắt nguồn từ cao nguyên Lâm Viên chảy qua địa phận tỉnh Đồng Nai sau đó hợp với sông Sài Gòn và đổ ra vịnh Gành Rái: Sông Đồng Nai có giá trị về đời sống và kinh tế lớn như nước sinh hoạt, giao thông, nông nghiệp và đặc biệt là thủy điện. Hệ thống sông Đồng Nai-Vàm Cỏ là một hệ thống kép, vì hai con sông Đồng Nai và Vàm Cỏ chỉ có gặp nhau ở cửa Soài Rạp và được nối với nhau bằng những con kênh nhân tạo. Đây là hệ thống lớn thứ 3 trong nước sau hệ thống sông Hồng và hệ thống sông Cửu Long, chiều dài dòng chính Đồng Nai là 635km và diện tích toàn lưu vực là 44.100km2, phát triển chủ yếu ở Nam Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, một phần ở Tây Nam Bộ, ngoài ra còn có một phần nằm trên đất Campuchia, ở thượng lưu các sông Vàm Cỏ Đông và Sài Gòn, rộng khoảng 6700km2, chiếm khoảng 15% diện tích toàn lưu vực. Toàn bộ hệ thống có tới 265 phụ lưu, phát triển đến cấp 4, trong đó các sông quan trọng như: Đa Dung với chiều dài dòng sông 91km và diện tích lưu vực là 1250km2, sông Đắc Nung với chiều dài 79km và diện tích lưu vực là 1140km2, sông La Ngà với chiều dài 272km và diện tích lưu vực là 4170km2, Sông Bé với chiều dài 314km với diện tích lưu vực 7170km2, sông Sài Gòn với chiều dài 256km và diện tích lưu vực 5560km2 và sông Vàm Cỏ với chiều dài 218km với diện tích lưu vực 12.800km2 sau chúng tôi sông Đồng Nai đổ ra biển theo 3 chi lưu, hai chi lưu cấp một là Lòng Tàu và Soài Rạp và một chi lưu cấp hai là Đồng Thanh. Soài Rạp là cửa sông rộng tới 11km, song lòng sông nhiều cồn bãi khó đi lại, chỉ có cửa Lòng Tàu mời thực là dạng cửa vịnh (etchuye) sâu tới 18m, cho nên tàu bè lớn dễ dàng ra vào cảng TP.HCM. Hệ thống Đồng Nai–Vàm Cỏ có tổng lượng nước vào khoảng 32,8 tỷ m3/năm, tương ứng với lớp dòng chảy 814mm/năm trong tổng lượng này, phần nước được cung cấp từ Campuchia vào qua các sông Vàm Cỏ và Sài Gòn là 2,4 tỷ m3/năm, tức là khoảng 7,4% module dòng chảy toàn lưu vực là 26,1 l/s/km2. Tuy nhiên sự phân phối là không đồng đều trong lưu vực. Trên nền chính Đồng Nai, module dòng chảy tại Trị An là 39,9 l/s/km2, trên sông Đắc Nung tại Đắc Nông là 34,1 l/s/km2, trên sông La Ngà tại Tà Pao là 37,9 l/s/km2, trên Sông Bé tại Phước Hòa là 37,2 l/s/km2, sông Sài Gòn tại Lộc Ninh là 24,2 l/s/km2, còn trên sông Vàm Cỏ tại Cần Đang là 17,3 l/s/km2. Lượng phù sa cũng không nhiều, tổng lượng phù sa vào khoảng 3,36 triệu tấn/năm với độ đục bình quân khoảng 200g/m3 và hệ số xâm thực khoảng 227 tấn/năm/km2. Thủy chế sông Đồng Nai cũng đơn giản, vì chỉ có một mùa lũ và một mùa cạn kế tiếp nhau. Tại Trị An, mùa lũ kéo dài 5 tháng (tháng 7 – 11), lượng nước chiếm tới 82,8% tổng lượng năm, tháng có lượng nứơc lớn nhất là tháng 8, chiếm 21%. Mùa cạn dài 7 tháng (12–6) với lượng nước là 17,2% tổng lượng năm, và tháng kiệt nhất là tháng 3, có lượng nước bằng 0,8% tổng lượng. Lũ sông Đồng Nai không đột ngột, do mạng lứơi sông có dạng lông chim, độ dốc lưu vực không lớn, lớp vỏ phân hóa dày và độ che phủ rừng còn cao. Do cửa sông có dạng vịnh nên thủy triều tác động mạnh, nhất là trên các sông Vàm Cỏ và sông Sài Gòn, qua Biên Hòa 30 km vẫn còn thấy tác động của thủy triều. Cù Lao Phố Về chợ và cảng Cù Lao Phố, tư liệu ít thấy, cơ bản vẫn là Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức, ông Trịnh Hoài Đức tiếc thay, chào đời vào khoảng 1765, khi được 10 tuổi “gặp buổi nhiễu nhương, mẹ dời đến Phiên Trấn và cho Trịnh Hoài Đức học với Võ Trường Toản” (Đại Nam liệt truyện). Tổ tiên của Trịnh Hoài Đức là tỉnh Phước Kiến (Trung Hoa), theo Đại Nam Liệt Truyện, thì sang Trấn Biên “Lúc nhà Thanh chiếm Trung Hoa” cha làm quan thời Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát, lúc Cù Lao Phố còn hưng thịnh nhưng ông nội Trịnh Hoài Đức là một trong những người sáng lập miếu Quang Đế(chùa Ong), có tên ghi trong danh sách những người đứng ra lập chùa, năm 1684, tức là sau khi Trần Thắng tài đến Biên Hòa. Tuy không nói rõ, ông nội của Trịnh Hoài Đức có thể đi theo Trần Thắng Tài, hoặc trước, hoặc sau vài năm. Và cha của họ Trịnh cũng góp công vào hương khói của chùa Quang Đế nói trên năm 1743. Trong Gia Định thành thông chí, ở mục “Sơn duyên chí”, lại ghi về gành đá trên sông, nay còn thấy: “Phía bắc gành đá có vực sâu làm chỗ cho tàu biển các nước đến đậu. Xưa nay, thuyền buôn đến đây hạ neo xong thì lên bờ thuê phố ở, rồi đến nhà chủ mua hàng, tại đấy kê khai những hàng hóa trong thuyền và khuân cất lên, thương lượng giá cả. Chủ mua định giá mua bao tất cả hàng hóa tốt xấu, không bỏ sót lại thứ gì. Đến ngày trương buồm trở về gọi là hồi Đường (trở về Trung Hoa)” Đọc rải rác những tư liệu trong Gia Định thành thông chí, ta có thể tạm đúc kết: -Cù Lao Phố trở thành một cảng quan trọng đầu tiên của Nam Bộ, đón nhận thương thuyền nước ngoài, hưng thịnh suốt khoảng 90 năm từ khi Trần Thắng Tài đến với quân đội, suy thoái từ khoảng 1775, tức là khoảng sau 90 năm, để nhường cho Sài Gòn(sông Tân Bình). Trịnh Hoài Đức mô tả vị trí khá cụ thể, dài 5 dặm, đại khái từ miếu Quan Công nay hãy còn ăn về phía Bắc. Sản phẩm đưa vào cảng là món gì, họ Trịnh không nói rõ, cũng như số lượng tàu thuyền. Nhưng ta đoán là hàng tiêu dùng. -Trước khi Trần Thắng Tài được Chúa Nguyễn đưa đến Cù Lao Phố, đã có người Việt từ miền Trung đến ở núi Dinh (Mô Xoài) vùng Bà Rịa từ năm 1658 và vùng Long Thành. Nhờ vậy khi Trần Thắng Tài đến Cù Lao Phố đã có dân Việt, dĩ nhiên người dân tộc cũng tới lui trao đổi hàng hóa. Trần Thắng Tài đến với quân sĩ và gia quyến, nhưng quân sĩ này vẫn tiếp tục cầm vũ khí theo đưổi binh nghiệp. Số thương gia lại đến sau với vốn liếng để lập chợ. Kiểu mua bán ở Cù Lao Phố là dạng xuất nhập khẩu với kho hàng dự trữ hàng hóa nhập vào và dự trữ hàng hóa thâu mua với nhiều chân rết. Nên gọi đó là những “Tư sản mại bản” chăng? Toàn là dịch vụ, phi sản xuất. Mức hưng thịnh của Cù Lao Phố phải chăng đạt đỉnh cao vào năm 1767, tức là 70 năm sau khi cảng này phát triển. Bằng cớ là năm 1747, có bọn thương khách người Phước Kiến với lãnh tụ là Lý Văn Quang tự xưng là Giản Phố đại vương cùng với 300 quân mưu toan đảo chính, chiếm lấy Dinh Trấn Biên, tức là toan nắm quyền ở khu vực Biên Hòa rộng lớn. Từ Cù lao, chúng vượt qua chiếc cầu ván bắt qua rạch Cát, rốt cuộc âm mưu thất bại. Giản Phố tức là Giản Phố trại (âm lại mấy tiếng Campuchia, vì viết chữ Đông và chữ Giản hơi giống nhau, nên lắm nơi đọc là Đông Phố hóa ra vô nghĩa). -Lâm sản, ngà voi, sừng tê giác, lộc nhung không thể tái sinh nhanh chóng, vì vậy mà cạn kiệt. Cù Lao Phố suy thoái vì thiếu hàng hóa đưa ra ngoài (cũng là trường hợp cảng Hà Tiên thời Mạc Cửu). Bấy giờ nhằm lúc Tây Sơn khởi binh, thương gia thấy không có lý do để bám Cù Lao Phố, họ thấy nên dời xuống Sài Gòn-Chợ Lớn để đón nhận nguồn lúa gạo dồi dào của Đồng bằng Sông Cửu Long bắt đầu dư để xuất cảng, dịch vụ lúa gạo xem ra bền vững hơn. Quân Tây Sơn sẵn cơ hội đó đốt phá chợ phố của Cù lao. Đại Nam nhất thống chí ghi rõ quân Tây Sơn đến “dỡ lấy hết nhà cửa, gạch đá, của cải chở về Quy Nhơn, từ thời Gia Long trung hưng tuy người ta có trở về, nhưng trăm phần chưa được một”. Chi tiết “Nhà cửa gạch đá” bị cướp đi rất quan trọng. Theo kỹ thuật đi ghe buồm, ghe phải chở nặng chạy mới vững. Chuyến qua Cù Lao Phố, ghe chở thêm đá và gỗ mỹ thuật, khá nặng rồi ráp lại đã chạm trổ để xây cất chùa miếu, nhà cửa cho nhanh. Người Pháp đến khi Cù Lao Phố đã trở thành xóm làng bình thường, không còn dấu ấn gì về thới oanh liệt đã qua. Nay chọn cù lao là địa bàn của xã Hiệp Hòa, trong thành phố Biên Hòa. Con số đình chùa khá nhiều, của làng xưa nay đã trở thành ấp, chứng tỏ thời nhà Nguyễn ở đây có hơn 10 làng xã với đình làng. Người xưa còn đâu? Đọc lược sử Cù Lao Phố do nhà xuất bản Đồng Nai ấn hành 1994, thấy ghi các dòng họ Nguyễn, Lê, Trương, Huỳnh là những dòng họ lớn đến sinh cơ lập nghiệp từ lâu đời, chiếm tỷ lệ cao trong xã, còn ngôi mả ngói rất xưa mà họ Nguyễn nhận là của dòng họ mình. Và theo luận văn của Tôn Thị Điệp về Cù Lao Phố thì các dòng họ trên xuất hiện gần 300 năm nhưng chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ. Lại còn ông Bì Văn Lâu cho biết họ Bì gốc Tàu, lại còn họ Tống Đình gốc Tàu. Nguyễn Hữu Cảnh đến Cù Lao Phố ngay lúc cù lao với cảng đang hưng thịnh, nhưng bấy giờ căn cứ và cơ cấu quân sự của ta đặt ở Sài Gòn rất quan trọng với đồn dinh ông. Nguyễn Hữu Cảnh vào Cù Lao Phố với thủy quân, tuy không ghi rõ nhưng ta chắc là vào Cù Lao Phố theo cửa Cần Giờ, ngược lên Biên Hòa. Và cuộc hành quân phía sông Cửu Long của ông theo đường thủy, khi ông mất ở Rạch Gầm, quan tài được đưa về Cù Lao Phố, không quàn ở Sài Gòn, từ Cù Lao Phố về miền Trung, chôn ở quê là Quảng Bình cũng theo đường thủy. Cơ ngơi mà nay hiểu lầm là phần mộ của ông chỉ là nơi quàn quan tài chứ không phải là phần mộ, đồng bào địa phương vì tôn kính ông nên đắp mộ tượng trưng để ghi nhớ. Nếu là mộ thì phải to hơn và đặc biệt phải có thành bao bọc phần đất rộng, theo tiêu chuẩn của quan to. Vị trí mà miếu Bình Kính thờ Nguyễn Hữu Cảnh thời xưa đã thay đổi, lâu ngày mục nát, nước xoáy lở vào bờ, nên đời Tự Đức năm 1851 phải dời vào phía trong vài mươi mét, ngay bờ cũ (Đại Nam nhất thống chí ghi dời ở phía sau 10 trượng). Nay có lẽ nên bố trí khu Cù Lao Phố thành một điểm du lịch lý tưởng. Đền thờ Quan Công còn đó, đình Bình Kính còn đây, sông Đồng Nai rộng, gió mát. Phía mé sông trước đình, có lẽ nên trồng cây bằng lăng, cây bản địa, trổ bông đẹp. Thời xưa, Trần Thắng Tài đóng quân bên phía chợ Biên Hòa, sử ghi xứ Bàn Lân, sau đổi thành Tân Lân. Có thể hiểu Bàn Lân là tiếng Bằng lăng nói trại ra. Cảng Cù Lao Phố thành hình trễ hơn phố cổ Hội An và suy thoái sớm hơn phố cổ Hội An. Nguyễn Hữu Cảnh Trong số các đấng danh thần và lương tướng của xứ Đàng Trong, Nguyễn Hữu Cảnh là người có duyên nợ với năm Dần hơn cả. Ông chào đời năm Canh Dần (1650) tại vùng đất nay thuộc xã Chương Tín, Phước Lộc, tỉnh Quảng Bình, nhưng tổ tiên ông lại là người làng Gia Miêu, huyện Tống Sơn (nay thuộc tỉnh Thanh Hóa). Các nhà nghiên cứu đã truy tìm và dựng lại được một sơ đồ phả hệ gồm rất nhiều đời của dòng họ Nguyễn Hữu Cảnh. Viễn tổ xa nhất của ông hiện đã biết đến là Định Quốc Công Nguyễn Bặc (?-980) một trong những tướng quân xuất sắc, cũng là bạn và là bề tôi thân tín của Đinh Tiên Hoàng. Hậu Duệ của Nguyễn Bặc hầu như thời nào cũng có người lập nên sự nghiệp lớn, trong đó có nhân vật lịch sử vĩ đại là Nguyễn Trãi (1380-1442). Năm 1442, vụ án oan nghiệt Lệ Chi Viên ngỡ như đã đẩy Nguyễn Trãi vào chỗ hoàn toàn bị tuyệt tự. Nhưng may mắn thay, nhờ khôn khéo mai danh ẩn tích, một người vợ thứ của Nguyễn Trãi vẫn bảo tồn được giọt máu của ông. Và từ giọt máu quí giá còn sót lại của nhân vật lừng danh tài đức này, một loạt những người con kiệt xuất được sinh sôi. Họ Nguyễn, dòng họ tạo lập ra xứ Đàng Trong và tổ tiên của Nguyễn Hửu Cảnh là hai chi xa của Nguyễn Trãi. Năm 1588, Nguyễn Hoàng vào làm Trấn thủ xứ Thuận Hóa (vùng từ phía Nam tỉnh Hà Tĩnh kéo dài đến hết tỉnh Thừa Thiên Huế ngày nay). Để có thể bí mật xây dựng một cơ đồ riêng, khi đi, Nguyễn Hoàng đã tuyển chọn và đem theo rất nhiều người thân tín, trong số đó có Tham tướng Chưởng cơ Nguyễn Triều Văn. Đến Thuận Hóa một thời gian, Nguyễn Triều Văn định cư ở Quảng Bình, con trai của ông cũng là danh tướng của xứ Đàng Trong- Chiêu Vũ Hầu Nguyễn Hữu Dật đã chào đời. Nguyễn Hữu Dật là bậc văn võ song toàn. Mới 16 tuổi ông đã khiến cho chúa Nguyễn Phúc Nguyên phải nể phục. Ông từng là văn thần cao cấp, cũng là tác giả của Hoa Văn Cáo Thị. Ông từng là một trong số những võ quan cao cấp nhất của xứ Đàng Trong thời các chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635), Nguyễn Phúc Lan (1635-1648) và Nguyễn Phúc Tần (1648-1687). Ông cũng nhiều lần tỏ rõ là người có biệt tài xem thiên văn, khiến cho bao võ tướng đương thời phải gọi phép lợi dụng thiên thời của ông là thần hiệu. Nguyễn Hữu Dật có hai người con nổi tiếng với đời, đó là Hào Lương Hầu Nguyễn Hữu Hào (?- 1713) và Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh (1650-1700). Một nhà ba cha con cùng được phong tới tước hầu, khi làm quan văn là văn thần trọng yếu, khi làm quan võ là võ quan cao cấp, đời chẳng mấy ai sánh được. Hào Lương Hầu Nguyễn Hữu Hào là tác giả của Song Tinh Bất Dạ Truyện, một trong những tác phẩm văn học quan trọng xứ Đàng Trong thế kỷ thứ 17. Ông cũng đồng thời là tướng quân đầu tiên đã thể nghiệm việc dùng quân đội đi khẩn hoang. Về sau các chúa Nguyễn đã coi đây là một trong những phương thức khai khẩn đất đai có vị trí quan trọng ở đồng bằng sông Cửu Long. Tương tự như cha là Nguyễn Hữu Dật và anh là Nguyễn Hữu Hào, tài năng Nguyễn Hữu Cảnh nở rộ từ rất sớm và trải rộng trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Khi mới ở tuổi mười tám đôi mươi, Nguyễn Hữu Cảnh đã từng theo cha đi đánh giặc, lập được nhiều công lao và do đó đã được chúa Nguyễn Phúc Tần phong dần tới chức Cai Cơ là một trong những chức võ quan thuộc bậc cao của xứ Đàng Trong lúc bấy giờ. Năm 1681, cha là tướng quân Chiêu Vũ Hầu Nguyễn Hữu Dật qua đời, hai anh em Nguyễn Hữu Hào và Nguyễn Hữu Cảnh đều là những người có khả năng nối nghiệp xuất sắc. Nhưng nếu như danh tướng Nguyễn Hữu Hào cũng có lúc tỏ ra sơ suất, thậm chí đã có lần khiến cho chúa Nguyễn Phúc Trăn (1687-1691) phải nổi giận, thì ngựơc lại, Nguyễn Hữu Cảnh là người luôn luôn xử việc một cách cẩn trọng, trên thì an lòng chúa, dưới thì đẹp ý dân, hoạn lộ chắc chắn và thênh thang kỳ lạ. Nói tới Nguyễn Hữu Cảnh là nói tới hàng loạt những sự kiện lớn, vừa có ý nghĩa vô cùng đặc biệt đối với xứ Đàng Trong, vừa có giá trị quan trọng đới với lịch sử nước nhà. Tuy nhiên nổi bật nhất vẫn là sự kiện năm 1693 và sự kiện năm 1698. Theo ghi chép của Đại Nam Liệt Truyện thì từ năm Nhâm Thân (1692), tình hình biên giới Việt – Chiêm trở nên rất căng thẳng, Vua Chiêm là Bà-Tranh đã táo bạo cho quân đánh ra tận đất Diên Ninh (vùng tương ứng với Phú Yên ngày nay). Chúa Nguyễn lúc bấy giờ là Nguyễn Phúc Chu (1591-1725) liền sai Nguyễn Hữu Cảnh cầm quân đi đánh dẹp. Tướng giữ chức vụ tham mưu cho đạo quân này của Nguyễn Hữu Cảnh là Nguyễn Đình Quang. Đầu năm 1693, Nguyễn Hữu Cảnh cho quân ồ ạt tấn công, Bà-Tranh chống đỡ không nổi nên bị thua và bị bắt. Toàn bộ lực lượng tướng sĩ Chiêm Thành đều hạ vũ khí đầu hàng. Với sự kiện 1693 này, biên giới cực Nam của xứ Đàng Trong đã kéo đến tận vùng Bình Thuận ngày nay. Cánh cửa phía Bắc của miền đất châu thổ sông Đồng Nai và sông Cửu Long trù phú nhưng dân cư còn rất thưa thớt đã được mở toang. Tất cả đất đai mà đạo quân Nguyễn Hữu Cảnh mới chiếm được (tương ứng với các tỉnh Khánh Hòa, Đắc Lắc, Ninh Thuận, Lâm Đồng và Bình Thuận ngày nay), chúa Nguyễn Phúc Chu lập thành một trấn, gọi là trấn Thuận Thành và quan Trấn thủ đầu tiên của trấn này cũng chính là Nguyễn Hữu Cảnh. Ông được thăng chức Chưởng cơ là chức võ quan cao cấp nhất của chúa Nguyễn đương thời. Tại đây, Chưởng cơ Trấn Thủ Nguyễn Hữu Cảnh đã có công tổ chức cho nhân dân khai khẩn đất hoang, ổn định cuộc sống và thiết lập trật tự xã hội ngày càng vững vàng. Sự kiện thứ hai, sự kiện năm Mậu Dần (1698) là sự kiện trọng đại nhất của cuộc đời tướng quân Nguyễn Hữu Cảnh, sự kiện khiến cho tên tuổi của ông sống mãi tong tâm khảm của nhân dân Sài Gòn Gia Định nói riêng và cả đồng bằng Nam bộ nói chung. Vào mùa xuân này, Nguyễn Hữu Cảnh được chúa Nguyễn Phúc Chu trao chức Thống Suất, đem quân đi kinh lược vùng phía Nam trấn Thuận Thành. Với chuyến kinh lược này, Nguyễn Hữu Cảnh đã nhập vùng đất tương ứng với miền Đông Nam Bộ ngày nay vào xứ Đàng Trong. Bấy giờ: “Đất đai được mở rộng hơn ngàn dặm, dân số có bốn vạn hộ” (Gia Định thành thông chí, quyển 3 – Trịnh Hoài Đức). Các thư tịch cổ đều cho hay, với chuyến kinh lược mùa xuân năm Mậu Dần này, Nguyễn Hữu Cảnh đã làm một loạt các việc rất quan trọng. Một là chia đặt hệ thống hành chính mới. Tất cả đất đai thu được, Nguyễn Hữu Cảnh gọi chung là phủ Gia Định. Phủ này quản lĩnh đến hai dinh, đó là dinh Trấn Biên (với một huyện thống thuộc duy nhất là Phước Long) và dinh Phiên Trấn (cũng với một huyện thống thuộc duy nhất là Tân Bình). Quan lại các dinh đều đươc cắt đặt rõ ràng, gồm Ký Lục (trông coi về hành chính và thuế khóa), Lưu Thủ (trông coi về quân sự) và Cai Bộ (trông coi về tư pháp). Giúp việc cho quan đứng đầu hai dinh nói trên là các Xá Ti và một số đơn vị vũ trang. Đối với người Trung Quốc di dân sang nước ta làm ăn sinh sống, Nguyễn Hữu Cảnh tập hợp họ lại thành những tổ chức hành chánh riêng. Số định cư ở dinh Trấn Biên thì có xã Thanh Hà, số định cư ở Phiên Trấn thì có xã Minh Hương. Việc quan trọng thứ hai mà Nguyễn Hữu Cảnh đã thực hiện được trong năm Mậu Dần (1698) là nhanh chóng chiêu mộ nhân dân đi khẩn hoang lập ấp. Đại Nam Liệt Truyện (Tiền biên, Quyển 1) chép rõ, Nguyễn Hữu Cảnh đã “chiêu mộ dân phiêu tán từ châu Bố Chính (nay thuộc Quảng Bình-NKT) trở vào Nam, cho được đến ở đất ấy (tức là đất Trấn Biên và Phiên Trấn-NKT) rồi chia đặt xã thôn và phường ấp khai khẩn đất đai, định nghạch tô thuế ghi tên vào sổ đinh”. Tóm lại, Nguyễn Hữu Cảnh đã nhanh chóng khẳng định biên cương mới một cách rất chắc chắn. Ông không chỉ là một tướng lĩnh tài ba mà còn là một nhà quản lí hành chánh xuất sắc. Nhân dân khắp miền đất mới đời đời nhớ ơn ông, kiêng kị tên ông, cho nên, Cảnh thì nói trại thành Kiểng. Ông còn có tên là Kính, cho nên, kính nói trại thành kiếng. Và để tỏ rõ sự kì cựu của mình, không ít người thường tự nhận mình là dân hai huyện (dân ở hai huyện đầu tiên là Phước Long và Tân Bình do Nguyễn Hữu Cảnh lập ra năm Mậu Dần, 1698). Năm 1770, Nguyễn Hữu Cảnh được lệnh cầm quân tiến xuống biên giới Tây Nam ngày nay. Nhờ uy đức đặc biệt của mình, Nguyễn Hữu Cảnh hầu như không phải đánh mà vẫn nhanh chóng giải quyết tình hình rất phức tạp. Rất tiếc là lần ấy chẳng may ông bị bệnh nặng rồi qua đời. Năm đó Nguyễn Hữu Cảnh tròn 50 tuổi. Ngày nay đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh còn được bảo tồn ở khá nhiều địa phương, trong đó lớn nhất là ở An Giang, Đồng Nai và Quảng Bình. Nhưng độc đáo nhất, đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh còn được lập ở Nam Vang. Ở đời, tướng cầm quân mà dùng sức mạnh áp chế, hẳn nhiên thiên hạ sẽ sợ mà theo, có điều, phàm đã sợ mà theo thì không bền, thậm chí còn ngấm ngầm tìm cách phản kháng ngay trong khi buộc phải theo. Nhưng cũng ở đời, tướng cầm quân mà dùng uy đức để phủ dụ, thì thiên hạ sẽ phục mà theo và một khi đã phục mà theo là theo mãi, một lòng sống chết với bậc mình kính phục và tôn thờ. Xứ Đàng Trong, thế kỷ 17, có một người nhờ uy đức mà được dân theo, người đó là Nguyễn Hữu Cảnh. Và trong nhiều năm dùng uy đức, năm Mậu Dần 1698 là năm đặc biệt nhất, năm trọng đại của vị tướng quân lừng danh này. Tổng kho Long Bình Tổng kho Long Bình cũ, trước đây là trung tâm cung cấp vũ khí đạn dược cho quân đội Mỹ và chư hầu trong chiến tranh Việt Nam. Kho Long Bình được xây dựng từ năm 1964 với diện tích ban đầu chỉ 6km2 nhưng vào năm 1966 đã được xây dựng lại và mà mở rộng lên 24km2. Tòan bộ tổng kho Long Bình có 6 hầm ngầm chứa trên 150.000 tấn vũ khí đạn dược, khu vực này được bảo vệ cẩn mật với 6 hàng rào thép gai kiên cố, 72 tháp canh và 3 tiểu đoàn túc trực bảo vệ. Siêu Thị Cora Được khánh thành ngày 18/8/1998 do tập đoàn Bourbon của Pháp đầu tư với tổng số vốn là 54 triệu USD, diện tích 20.000m2. Siêu thị có trên 20.000 mặt hàng và 90% hàng hoá là sản xuất tại Việt Nam. Tập đoàn Bourbon là một trong những tập đoàn lớn nhất của Pháp về lương thực thực phẩm. Các dự án Bourbon đã đầu tư tại Việt Nam như nhà máy đường Bourbon Tây Ninh – Nhà máy thức ăn gia súc Bourbon… Trong qui hoạch phát triển tại Việt Nam, Bourbon đã vạch rõ sẽ thôn tính toàn bộ hệ thống siêu thị Việt Nam với khách hàng chủ yếu là tầng lớp trung lưu. Do vậy hiện nay Bourbon đã có thêm 3 đại siêu thị tại Việt Nam: siêu thị Cora An Lạc 120.000m2, siêu thị Cora-Miền Đông 10.000m2 và siêu thị Cora-Hà Nội rộng 42.000m2 Khu Công Nghiệp Biên Hòa I – Khu Công Nghiệp Biên Hòa II Được thành lập năm 1963 với diện tích 335ha, nằm ở TP. Biên Hòa, ngay trên trục giao thông Bắc Nam, cách chúng tôi 27km, cách Vũng Tàu 90km. Kết cấu hạ tầng tương đối hoàn chỉnh: sử dụng điện lưới quốc gia, trạm biến áp 40 MVA, nước được cấp 25.000m3/ngày, đường giao thông 20km nội bộ, thông tin liên lạc với tổng đài nội bộ nối mạng quốc gia và quốc tế… Hiện nay đang nâng cấp công trình hạ tầng và xây dựng hệ thống xử lí nước thải. Ưu tiên đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ và các sản phẩm không có chất thải. Được thành lập năm 1993 tại TP. Biên Hòa, nằm đối diện với khu công nghiệp Biên Hòa I. Tổng diện tích 396ha trong đó diện tích xây dựng nhà máy là 264ha, diện tích cây xanh 34ha, diện tích đường bộ 78ha, và đất chuyên dùng 24ha. Hệ thống cấp điện dự kiến nâng ấp trạm 80 MVA từ nguồn điện quốc gia. Nước cung cấp 5000m3/ ngày cho toàn khu, hệ thống ống dẫn 20.500m. Thông tin liên lạc bằng tổng đài điện tử với 1024 số mạch IDD liên lạc trực tiếp quốc tế và quốc nội. Có hệ thống xử lí nước thải lỏng 12.000m3/ngày và khu vực xử lí chất thải rắn, hệ thống thoát nước mưa ra sông Đồng Nai dài 13.920m và đường giao thông nội khu dài 20km. Số diện tích gọi vốn đầu tư phát triển là 26ha với các nghành nghề: cơ khí, điện tử, may mặc, da giày, sản phẩm từ nhựa, cao su, chế biến lương thực thực phẩm, sản phẩm gia dụng và tiêu dùng không có nhiều nước thải độc hại. Khu Công Nghiệp AMATA Nằm cách chúng tôi 30km, nằm cạnh khu công nghiệp Biên Hòa II. Tổng diện tích 760ha được xây dựng qua 5 giai đoạn trong đó giai đoạn một xây dựng 100ha chưa kể diện tích đường giao thông nối Quốc lộ vào khu công nghiệp. + Hệ thống điện: giai đoạn một xây dựng trạm điện 40 MVA. Ngoài ra AMATA sẽ xây dựng một nhà máy điện để cung cấp nội bộ. + Hệ thống cấp nước: công ty cấp nước Đồng Nai cung cấp bước đầu 5000m3/ngày. AMATA sẽ xây dựng nhà máy cấp nước riêng 30.000m3/ngày, lấy nguồn nước từ sông Đồng Nai. + Hệ thống thông tin qua tổng đài tự động 960 đường dây bảo đảm liên lạc dễ dàng trong nước và quốc tế. + Giao thông: Khu công nghiệp nối liền Quốc lộ 1 bằng đường chính rộng 52m. Ngoài ra hệ thống đường nội khu công nghiệp đảm bảo sự vận hành liên tục và an toàn. + Xử lý chất thải: xây dựng nhà máy xử lý chất thải theo tiêu chuẩn qui định của luật bảo vệ môi trường. Ưu tiên đầu tư cơ khí luyện kim, hoá chất, mỹ phẩm, dệt may, điện tử… Khu Thiên Chúa Giáo Hố Nai Thủy Điện Trị An Thác Trị An là bậc hạ cuối cùng của sông Đồng Nai trước khi chảy vào đồng bằng. Năm 1983 với sự giúp đỡ của Liên Xô (cũ) đã khởi công xây dựng công trình thủy điện Trị An với tổng kinh phí là 150 triệu rup và 51 tỉ đồng Việt Nam. Đa số các thiết bị nhập từ Liên Xô cũ. Hồ Trị An rộng 232km² với sức chứa 2,7 tỉ m³, công suất nhà máy là 400MW, sản lượng điện 1,7 tỉ KWH/năm. Đến tháng 9/1988 đã vận hành đưa vào tiêu dùng. Đây là công trình thuỷ điện lớn nhất miền Nam, giải quyết cấp bách điện cho các ngành công nghiệp và sinh hoạt. Từ lòng hồ Trị An thu về trên 10 ngàn tấn cá, làm thay đổi cảnh quang phục vụ cho du lịch. Ngã Ba Dầu Giây – Cây Cao Su Cách TP. HCM 67km, nếu rẽ trái vào QL 20 khoảng 234km là đến TP. Đà Lạt ngàn hoa. Thẳng theo QL 1A ra các tỉnh miền Trung và phía Bắc. Sở dĩ có tên là Dầu Giây vì trước kia khu vực này có rất nhiều cây Dầu và trên những cây Dầu này có dây leo chằng chịt. Còn có cách giải thích khác về địa danh Dầu Giây: Sau năm 1954, một số giáo dân theo hai giáo phận Bùi Chu và Phát Diệm di cư vào trong khu vực miền Nam và định cư tại khu vực này! Và họ đem theo một tập tục thói quen trồng cây trầu ven khu vực mình sinh sống. Khu ngã 3 này họ trồng rất nhiều cây Trầu Dây nhưng người Hà Nam Ninh không nói được chữ Tr, họ đọc Tr thành Gi! Như họ đọc ông trời thành ông giời! Trầu Dây đọc trại thành Dầu Giây. Cây cao su có tên khoa học là hêvêa thuộc loại thân gỗ lớn, có thể mọc cao từ 10-40m, thuộc họ Thầu Dầu, có lá kép, hoa đơn tính và mọc thành chùm. Trong mỗi chùm, hoa cái thường mọc ở đầu chùm vì thế hoa cái ít hơn hoa đực. Nếu cây có nhiều hoa và quả là cây tốt cho sản lượng mủ. Do phát sinh ở vùng rừng nhiệt đới ẩm, cây cao su hêvêa phát triển thuận lợi trong điều kiện nhiệt độ trung bình năm thay đổi từ 22-27C và lượng mưa hằng năm 1500-2000mm, mưa nhiều và dưới dạng mưa rào vào buổi trưa, chiều. Nếu mưa kéo dài và mưa vào buổi sáng sẽ không thuận lợi cho việc cạo mủ cao su vì sẽ dễ gây nên bệnh loét miệng cạo và cây kiệt nhựa. Cây cao su ưa gió nhẹ và ánh sáng vừa phải, hàng năm cây có một thời kỳ rụng lá vào mùa khô từ tháng 1 đến tháng 3. Cây cao su được mang vào nước ta từ năm 1877. Từ năm 1890 đến năm 1920, người Pháp bắt đầu mở rộng diện tích trồng thử nghiệm và hình thành những đồn điền cao su nhỏ tại khu vực ngoại ô Sài Gòn, Thủ Dầu Một, Biên Hoà với tổng diện tích khoảng 7000ha. Từ năm 1921-1945, các đồn điền cao su được mở rộng và phát triển mạnh với tổng diện tích tăng lên 138.000ha. Sau khi giải phóng miền Bắc, cây cao su được trồng thử nghiệm thành công tại nông trường Tây Hiếu (Phủ Quỳ, Nghệ An) từ năm 1958 và từ năm 1961 cây cao su được trồng đại trà từ Nghệ An đến Vĩnh Linh với tổng diện tích của năm cao nhất là 6000ha. Tại miền Nam, sau hiệp định Giơnevơ năm 1954, người Pháp trở lại và tập trung khai thác cây cao su phục vụ cho nông nghiệp của họ. Năm 1963, tổng diện tích cao su đạt đến mức cao nhất là 192.800ha, đưa Việt Nam thành nước có diện tích cao su đứng hàng thứ 8 trong 18 nước trồng cao su trên thế giới. Các đồn điền cao su lớn ở miền Nam lúc đó nằm trong tay các Cty Đông Dương, Đất Đỏ, SPTR, Biển Đông (CEXO), Tây Ninh (SHT) và Cao nguyên Đông Dương (CHDI) tại ĐakLak của tư bản Pháp. Vùng cao su tập trung hình thành ở miền Đông Nam Bộ. Do chiến tranh, nhiều đồn điền cao su bị bỏ hoang, bị tàn phá, bị chất độc hoá học… nên diện tích cây cao su thu hẹp dần. Năm 1974,diện tích cao su chỉ còn 68.400ha với sản lượng 21.000 tấn/năm. Đến năm 1976, chỉ còn 40.000ha, phần lớn là vườn cao su già cỗi. Sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng và đất nước thống nhất, Đảng và Nhà nước sớm có chủ trương tập trung nguồn lực để khai hoang, tăng diện tích cây cao su. Đặc biệt, từ năm 1981 đến năm 1985, nhờ sự hợp tác thu hút vốn đầu tư từ Liên Xô (cũ) và một số nước Đông Au như CHDC Đức, Ba Lan, Hungari… Diện tích cây cao su đã tăng lên 100.000ha với các nông trường Phú Riềng, Đồng Nai, Đồng Phú, Bình Long, Dầu Tiếng… Do chủ động nghiên cứu cùng với sự hợp tác với Viện Nghiên cứu cây cao su RRIM của Malaysia, ngành cao su đã ứng dụng các kỹ thuật mới, giống mới cho năng suất cao 1,2-1,5 tấn/ha trên toàn bộ diện tích cây cao su mới trồng Sau hơn 20 năm tập trung nguồn vốn trong nước và tranh thủ sự hợp tác của các nước, tổng diện tích các vườn cây cao su đã lên đến khoảng 300.000ha, trong đó các vườn cây cao su quốc doanh đạt khoảng 250.000ha, còn lại là cao su tư nhân, tiểu điền. Năm 1997, cả nước mở rộng diện tích cây cao su lên đến 300.000ha, đã xây dựng 26 nhà máy hiện đại chuyên chế biến các loại mủ cao su nguyên liệu, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, với tổng công suất 200.000 tấn/năm. Năm 1997, ngành cao su cả nước đã khai thác và chế biến khoảng 180.000 tấn mủ cao su quy khô, đứng hàng thứ 5 trong các quốc gia sản xuất cao su thiên nhiên trên thế giới Triển khai chủ trương thành lập các tổng công ty quốc gia có thực lực mạnh, Chính phủ đã thành lập Tổng công ty cao su Việt Nam với 21 công ty thành viên. Ngành cao su nước ta cũng đã gia nhập Hiệp hội các nước sản xuất cao su thiên nhiên thế giới (ARNPC). Cây cao su là loại cây kinh tế quan trọng đứng hàng thứ ba sau gạo và cà phê về cung cấp nguồn xuất khẩu chủ lực của ngành nông nghiệp nước ta. Toàn bộ diện tích của vườn cây cao su hiện nay đưa vào sản xuất đều là cây nhóm một và cây nhóm hai đang thời kỳ sung sức với năng suất bình quân trên 1 tấn/ ha. Cây cao su phát triển mạnh trên vùng Đông Nam Bộ với tổng diện tích năm 1997 là 168.524ha tại các tỉnh Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Thuận. Ở ĐắkLắc, Gia Lai, Kon Tum thuộc Tây Nguyên với tổng diện tích 27.464ha. Cây cao su cũng được đưa đến các vùng đất duyên hải miền Trung như Quảng Trị, Hà Tĩnh với tổng diện tích 3181ha. Đồng thời với việc tập trung trồng mới, khai thác, Tổng công ty Cao su Việt Nam đã đầu tư lớn để xây dựng mới các nhà máy chế biến mủ cao su với trang thiết bị hiện đại, công suất trên 200.000 tấn/ năm cho ra các sản phẩm đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. Nhằm tạo điều kiện cho ngành cao su tiếp tục phát triển mạnh với định hướng chiến lược tăng từ 300.000ha lên 700.000ha vào năm 2005, Thủ tướng Chính Phủ cho phép ngành cao su được bổ sung nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn lợi tức vượt kế hoạch hàng năm, phê duyệt thời hạn cho vay để khai hoang trồng cao su trên đất mới là 15 năm, nghiên cứu điều chỉnh mức thuế lợi tức đối với sản phẩm cao su sơ chế từ 35% còn 25%. Ngành cao su đang điều tra tổng thể quỹ đất thích hợp trồng cây cao su, tập trung phát triển mạnh tại các tỉnh vùng duyên hải miền Trung và khu Bốn cũ bao gồm các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tỉnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận với tổng diện tích 70.000ha, tại khu vực Tây Nguyên với tổng diện tích 330.000ha (nơi đây đã trở thành vùng trọng điểm cao su của cả nước), tại vùng Đông Nam Bộ với tổng diện tích 300.000ha. Dốc Mẹ Bồng Con Gồm một dốc lớn và một dốc nhỏ như là một người mẹ bồng một người con nên mới có tên gọi như thế. Ngã 3 Tân Phong – Mộ Cổ Hàng Gòn Mộ Cổ Hàng Gòn được phát hiện bởi một kỹ sư cầu đường người Pháp là Bouchot J. Vào năm 1927 khi mở đường liên tỉnh giữa Long Khánh và Bà Rịa. Mộ cổ có kiến trúc gồm hai hàng trụ bao quanh một hầm mộ. Tổng số trụ là 10, làm bằng đá granit hay bazan, có chiều cao 2,5-3m, đặc biệt có hai trụ là những tấm đan bằng ganit với kích thước lớn 7,2 x 1m và 1 x 0,35m. Phần hầm mộ có dạng hình hộp, được ghép bằng 6 tấm đan bằng granit kích thước 4,2 x 2,7m và cao 1,6m. Theo Sauin E., di tích này có niên đại cách nay khoảng 3950 năm. Từ năm 1992, mộ cổ Hàng Gòn đã được trùng tu: xây dựng đường bảo vệ, lát gạch bên hầm mộ để chống xói mòn và trồng cây kiểng xung quanh. Đây là điểm tham quan khá hấp dẫn vì là ngôi mộ cổ nhất và qui mô nhất tại Việt Nam còn được bảo tồn đến ngày nay. Núi Chứa Chan Còn gọi là núi Sót, cao 843m, sau núi Bà Đen ở Tây Ninh cao 986m. Trên núi có chùa Gia Lào, vào những ngày rằm người dân ở các nơi thường về đây hành hương rất đông. Trên núi gắn liền với một truyền thuyết sau: Hiện nay trong chùa Gia Lào có 3 pho tượng được mọi người gọi là Ông Vàng, Cô Bạc, Ông Chì. Biết được câu chuyện thương tâm đó người ta đã gọi ngọn núi này là Chứa Chan để nói lên tình cảm chứa chan của hai cha con họ. Từ ngã 3 nếu rẽ 2km sẽ đến ngã 3 Ông Đồn, thị trấn Gia Ray và 7km sẽ lên núi Gia Lào. Đi thẳng 98km sẽ đến Phan Thiết (đây là ngọn núi cuối cùng của dãy Trường Sơn tại khu vực Đông Nam Bộ). Khu vực Rừng lá Tại đây trước kia là một khu vực nóng bỏng, gồm các căn cứ của quân đội Sài Gòn và quân đội Cách mạng cài thế răng lược với nhau. Điều đặc biệt là khu vực này có rất nhiều lá buông, có lẽ từ nguyên nhân đó nên mới đặt tên là Khu Rừng lá. Với rừng lá buông nơi đây đã sinh ra một nghề kinh tế phụ, đó là nghề đan nón giỏ, và cung cấp lá cho ngành tiểu thủ công nghiệp. Những sản phẩm từ lá này lại là những mặt hàng được ưa chuộng ở các thị trường Âu, Mỹ. Nó đem lại một nguồn ngoại tệ không nhỏ đưa nền kinh tế đi lên. Tản Mạn Món Ăn Nam Bộ Món ăn Nam Bộ rất đa dạng, thay đổi tùy giai đoạn ngắn dài, thử đúc kết lại vài nét lớn là điều không đơn giản. Qua thời gian, ta thử nêu lên vài nét định hình. – An sáng lót lòng còn gọi là điểm tâm không nằm trong đề mục tất yếu của món ăn. Nếu là nhà nông hoặc gia đình khá giả, người lao động thường ăn ba bữa: sáng, trưa xế và tối, bằng không chỉ có hai bữa thôi, buổi sáng thường thả nổi cho từng người liệu định. – – Hồi trước 1945, nhiều gia đình khá giả còn duy trì kiểu lót chiếu, ngồi ăn trên đất, có lẽ theo ảnh hưởng của người Chăm. Kiểu ăn trên bộ ván, ngồi xếp bằng như chẳng còn thay đổi ở gia đình trung lưu miền quê. Ngồi trên bộ ván thì phải theo tư thế xếp bằng, quen thói nên khi ngồi trên ghế dễ mỏi chân. Vả lại, bộ ván ngày nay đắt tiền, đi-văng thì còn quá nhỏ hẹp. Tuy tiếp xúc với Tây phương từ cuối thế kỷ 19, người Việt vẫn bảo lưu cách ăn cơm với đũa, nếu cần chan hoặc húp thì dùng muỗng riêng hoặc công cộng. Nước mắm thường chấm chung một chén cho nhiều người trong khi người Hoa rất kỹ dùng muỗng công cộng, tha hồ thọc đũa của nhiều người trong tô canh, nhưng chan húp thì mỗi người một muỗng riêng. – Không thích dùng nĩa, ngoại trừ dùng nĩa nhỏ để ghim những miếng trái cây như xoài gọt sẵn. Gần như không dùng cây dao nhỏ để cắt thịt. Con vật đã bị giết, cắt ra từng miếng, pha chế rồi bị cắt thì quả là tàn ác và thô thiển đối với người ngồi bên cạnh. Nếu cần thì cắt sẵn trước khi đem ra dĩa như trường hợp thịt bò lúc lắc. – Anh hưởng Tây phương chỉ thấy trong trường hợp ăn cơm tấm, cơm bì vào buổi sáng gọi nôm na cơm dĩa. Dùng cái đĩa trẹt và to của phương Tây với muỗng và nĩa. Theo tôi hiểu, đây là kiểu trình bày gọn do người Hải Nam bày ra từ trước năm 1945, gọi cơm xào. Người Hải Nam hồi thế kỷ 19 vì ở đảo gần Hương Cảng đã chọn nghề nấu bếp cho tàu buôn Tây Phương, đi theo tàu biển. Về món ăn ở Nam Bộ theo nghĩa vùng Sài Gòn và phía đồng bằng, có thể chia làm 3 loại: món cúng ông bà hoặc thần thánh, món nhậu và món ăn cơm. 1- Món cúng: Trên lý thuyết phải có 4 món cơ bản. Nếu ở đồng bằng sông Hồng có món: giò, nem, ninh, mọc thì ở Nam Bộ cũng tuân thủ 4 món, tương ứng ở phía Bắc kiểu giò, nem, ninh, mọc. -Dịp cúng giỗ tổ tiên, chẳng ai hiểu rõ ông bà thời xa xưa khi vào Nam thích ăn món gì, chế biến các món ra sao, nhưng tùy hoàn cảnh mà có 4 món: hầm, luộc, rán, kho. Nên hiểu không phải là dâng cúng theo cha hoặc mẹ đã quá cố nhưng là cho tổ tiên đời ông cố của gia chủ, hiểu ngầm rằng những bà con xa gần thời xa xưa cũng được tham dự, vì vậy nếu cúng ba mâm ở ba bàn thờ (giữa, bên trái, bên mặt hoặc một bàn thờ) thì thức ăn phải giống nhau. Món hầm, tức thịt heo hầm, thường giò heo hầm măng tre Mạnh Tông, loại măng ngon nhất của Nam Bộ (gợi tích ông Mạnh Tông trong Nhị Thập Tứ Hiếu). Món thịt luộc là thịt ba chỉ xắt mỏng. Xào là món thịt bị câu thúc về hình thức: xào chua, xào mặn, với rau cải đồ lòng hoặc tôm, gần như tuyệt đối không dùng thịt rừng. Món kho thường là thịt heo, cá lóc kho với nước dừa để gợi phong vị miền Nam. Ở miền quê, ngày xưa bày đám giỗ linh đình với quá nhiều món khác nhau, lắm khi ăn không hết món, nhưng cơ bản phải đủ 4 món cổ truyền như trên, có thể gọi là nghi thức nhất cả nước. Nhiều món phụ, có thể dọn chung với 4 món chính như rau, bì cuốn, nem chua. Ngoài ra còn để dành ở một bàn riêng, không cúng trên bàn thờ vốn đã chật chội, chờ khi đãi khách sẽ dọn ra như thịt bò xào, bánh mì cà-ri, chả giò… Thời xưa ông bà ta không có kiểu ăn tráng miệng như người phương Tây, vả lại trái cây đã được chưng sẵn trên bàn thờ rồi. Rượu phải là rượu đế, vì tổ tiên ta không biết rượu Tây, Tàu. Dự đám giỗ của gia đình, của bạn thân là dịp ăn uống vừa phải, quan trọng nhất là nói chuyện thân mật, ăn là để hưởng phước ông bà, vì món ăn đã được ông bà chứng giám rồi. Lắm khi ở quê, ở gia đình nhà vườn, có bày ra tiệc nhậu lai rai ở trước sân, bên vườn cây ăn trái nhằm cầm giữ những ngưới khách đến quá sớm, thường là nhậu với vài miếng thịt gà, đồ lòng đơn sơ, nhất là không có những món hoang dã như rùa, rắn. Vài món đặc sản như chả, cua, gà quay, cà ri, heo quay bánh hỏi có thể dọn cùng, ở gia đình nữa quê nữa chợ. Gần như tuyệt đối không cúng những đồ chế biến sẵn, đựng trong hộp, lắm gia đình vì hoàn cảnh đã đặt buổi tiệc giỗ ở nhà hàng, đến giờ nhà hàng đem đến vì vậy mất vẻ nghiêm túc. Trường hợp này người trong gia đình nên tự pha chế một vài món như khổ qua dồn thịt, thịt kho để cúng trên bàn thờ, còn những món đặt ở nhà hàng thì chỉ để dành đãi bạn bè. Theo sự quan sát của chúng tôi, gần như vắng mặt món mắm. Ở phía Nam, phải chăng đó là dấu ấn của người Chăm, người Khơ-me, người Việt chỉ muốn những gì thuần túy của ông bà từ nhiều thế hệ trước, chứng tỏ gia đình mình đã ổn định, có nề nếp chứ không phải ở trong thời kỳ du canh du cư lúc mới khẩn hoang. 2- Món Ăn Cơm: Cơm ngày hai bữa theo lệ Việt Nam, ăn mặn uống đậm, tùy hoàn cảnh địa phương và mức sống gia đình. Định hình nhất vẫn là canh chua, cá kho, hai món này mãi đến nay vẫn còn đứng vững qua thế kỷ 21. Canh chua nấu với trái me chín, đặc sản vùng nhiệt đới. Theo khẩu vị của người lớn tuổi, điều quan trọng nhất là người đầu bếp cần điều tiết hài hoà, húp một chút nước canh chua đang sôi, nhủ thầm 4 tiếng: chua, cay, mặn, ngọt. Không để cho vị chua lấn vị cay, không quá mặn nhưng cái hậu thì ngọt. Tùy địa phương lựa loại cá nào rẻ nhất mà mua như cá tra sông rạch thiên nhiên hoặc cá lóc ở đồng ruộng có chút ít phèn, ngon đặc biệt là cá ở rừng tràm. Cá lóc to con quá, thịt có thớ không ngon; ngược lại, cá còn non thịt ăn nhão. Cá tra, cá bông lau lựa con không quá lớn. Cá Basa có 3 lớp mỡ sa ở lưng, mỡ nhiều nhưng ăn không ngán như mỡ heo. Những món độn thường là cọng bạc hà, giá, đậu bắp nhưng không nên độn quá nhiều, sau này thêm cà chua, tuỳ khẩu vị. Canh chua phải đậm đà để giải nhiệt, nhất là vào mùa nắng. Buổi trưa vì uống nước quá nhiều nên khó “nuốt cơm”. Húp canh chua vào thấy trơn cổ, thèm ăn. Khẩu vị thường thay đổi. Nhiều người chê cá lóc vị lạt, cũng như cá tra, cá bông lau cũng lạt. Vì vậy, có người nấu súp xương heo pha vào nước canh chua, pha lén, người ăn thấy ngon hơn. Nên có ớt xắt từng lớp khá dày, loại ớt to. Nhiều người lại thích ăn canh chua chấm với nước mắm nguyên chất hoặc cầu kỳ hơn chấm với muối ớt. Cá kho nay gọi là cá kho tộ, ban đầu là kho trong cái mẻ kho, nôm na là cái tô bể ngoài vành, dùng kho cá kiểu tạm bợ, lắm khi để trên than lửa của cái cà-ràn. Ăn còn dư cứ để dành, hôm sau ăn trở lại. Cá kho trong tô thường là cá vụn của nhà nghèo ăn còn lại, tiết kiệm nhưng nếu như có nước mắm ngon, kho tới lui nhiều lần thì nước mắm cá biển sẽ hoà quyện với cá kho, toát lên hương vị đặt biệt. Vì tô bể phải để nghiêng nghiêng trên than lựu không nhiều nước. “Thạch sùng còn thiếu mẻ kho”, phải chăng đó là cái tô bể kho cá vụn, hôm trước ăn còn dư cứ để dành, nếu không còn cá thì còn nước sền sệt trong tô dùng đũa mà “quệt” cũng ăn tạm được bữa cơm nghèo. Muốn được ngon nên bỏ nhiều tiêu sọ. Nước mắm ngon đem kho cho đặc, quyện với cá thì ngon gấp bội, phải là cá đồng để hài hoà với nước mằm cá biển đậm đặc. Canh chua ăn với cá kho tộ quả là rất hài hoà, cả hai món đều cay. Sáng kiến kho cá đồng đặc biệt là cá rô với nước mắm ngon, trình bày trong kiểu bao bì bằng gốm thô đen đũa (cái mẻ kho) thay thế bằng cái tô, đặt hàng sẵn ở lò gốm cho có vẻ sạch sẽ; lần đầu tiên từ sau năm 1960 ở quán Cây Dừa-đường Lê Lai, gây sự hấp dẵn đối với khách sành điệu Sài Gòn rồi phổ biến trở lại các tỉnh ở phía đồng bằng. Lý tưởng nhất là lựa cá rô ngon, còn tươi, chưa có cá rô mập béo thì tạm kho cá trê, cá lóc. Theo “điệu nghệ”, bữa cơm ở quán được giới thiệu trước với vài món ăn chơi như gỏi ngó sen và bao tử heo, ăn cá kho, lắm ngưới đòi thêm dưa cải. Vẫn là món ăn cơm thường lệ trong gia đình, còn mắm chưng, tép kho hoặc món bí rợ (bí đỏ) hầm với nước cốt dừa. Có thể dùng cá trê nướng chấm với nước mắm gừng, thêm canh bí đao nấu thịt heo, canh bầu nấu với cá trê, cá bống kèo kho (miền nước lợ). Cá tôm đa dạng, vừa cá biển vừa cá đồng giúp cho bữa ăn của giới bình dân tạm gọi là “qua buổi”, thí dụ cá chốt, cá linh kho tiêu làm thức ăn chính yếu. Lại có món cá khô như khô cá lóc, khô cá tra, cá đuối ăn thêm chút ít cho vui miệng. Cá biển có thực đơn riêng tùy vùng, thêm tôm cua ngày nay giá quá cao. Nói chung cá biển rất ngon nhưng đòi hỏi cách pha chế thích hợp. Trừ trường hợp cá thu kho, thì cá biển chỉ ăn ngon ở lửa đầu, nếu dư, để dành hâm nóng lại thì mất hương vị. Bởi vậy ta thấy nhiều miền biển vẫn thèm thịt heo, thịt bò, cá đồng, cá vùng nước ngọt. 3- Món Nhậu: Nhậu là tiếng thanh không gợi ý thô tục, xem tự vị của Huỳnh Tịnh Của năm 1896, nhậu ghi là uống! An nhậu tức là ăn uống, nhậu rượu là uống rượu và nhậu nước là uống nước. Uống rượu chẳng có gì xấu, chỉ xấu khi đến mức thái quá, lãng phí tiền bạc và sức khỏe. Ngày nay quán nhậu mọc lên khá nhiều, nơi sang trọng, nơi giá cao thì xưng là “cửa hàng đặc sản” để gợi vẻ văn minh và đạo lý. Ở thôn quê, tiệc nhậu là chuyện bình thường, giữa bạn thân với nhau, sau mùa gặt hái thành công, chăn nuôi có lợi (như đàn vịt, ao cá…) Nhậu ngoài sân, ngoài vườn, lấy khung cảnh mát mẻ thiên nhiên làm bối cảnh, đồng thời cũng tránh sự tò mò của trẻ con, sợ gây tác hại. Nhậu phải có rượu nhậu như ở Nam Bộ, rượu không quan trọng bằng “mồi nhậu”. Mồi nhậu đơn giản như một con vịt luộc, hay con cá lóc, chủ nhà thường tự trọng, không muốn làm phiền vợ con ở nhà. Món ăn phải gọn, một món là đủ để thưởng thức hương vị của món ấy mà thôi. Ví dụ, thịt chuột không thể nhậu xen với thịt rắn, cua. Nhậu đòi hỏi hài hòa hữu cơ giữa rượu, món ăn, cọng rau, nước chấm, dĩ nhiên có bạn tri âm, tri kỷ. Người này thích ba khía, trái me, người kia thích con cua lột đầu mùa, có kẻ nhớ và thèm món cua đồng xào với cọng lá mái đàn, lại thèm mắm sống với xoài chua đầu mùa. Món ngon đệ nhất, đến bậc vua chúa còn thèm là “Con đuôn chà là”, chữ gọi “Hồ đa tử”, “Hồ đa” là cây dừa rừng, tức cây chà là hoang dại miền nước mặn, giống như cây cau trồng làm kiểng, trái nhỏ tạm hái để ăn trầu nhưng bên trong củ hũ (đọt non) đến mùa sau tết thường có con đuôn. Con đuôn này nhỏ hơn đuôn ăn đọt dừa, trứng để ở bẹ lá non, lớn, lên nở thành con đuôn (như con nhộng) dừa rừng. Phải bắt con đuôn này trước khi nó nở ra con bướm. Đuôn to và mập, mỗi đọt cây chà là chỉ có một con đuôn mà thôi. Đem đuôn nướng trên vỉ sắt, cho héo, rồi ăn, chấm nước mắm nhĩ nguyên chất. Con đuôn non béo ngậy vì tăng trưởng, ăn ròng củ hũ cây chà là. Nay thấy ở vài quán nhậu bày bán với giá 8000 đồng/một con! Các món nhậu vừa sang trọng, vừa dân dã này không thể kể hết, lắm khi quái đản, ít phổ biến. Vũ Bằng (đã quá cố) ghi lại các món lạ, có thể có, nhưng lắm khi không phổ biến, nào đem miếng thịt bò tươi treo ở vườn quít, cho kiến vàng bu lại “đái” vào, nước đái con kiến vàng khá chua, vì vậy mà tác động nhanh, khiến thịt bò sống trở thành thịt tái ? Cháo cóc khá nguy hiểm, ăn có thể ngộ độc nếu gặp loại cóc gọi là cóc kiết. Cháo dơi, thêm máu con”dơi quạ”ở các cù lao sông Cả hoặc ở ven rừng được khen là bổ và ngon vì đỏ tươi màu hồng huyết cầu. Ngày nay, món nhậu bớt cầu kỳ hơn, có thể là con chuột mập béo đầu mùa, sống ngoài đồng lúa chín, chuột khá sạch sẽ, trời sa mưa, chuột ăn toàn cỏ non, không như chuột ở cống rãnh thành phố. Chuột rô-ti ăn với xoài chua đầu mùa băm nhỏ, vị chua sẽ đánh tan mùi hôi của chuột. Lại còn món tép lột vỏ, chấm vào nước dừa tươi, nước dừa làm đổi màu con tép sống, trông đỏ hồng như vừa luộc. Món nhậu thời kinh tế thị trường, phải mang tính phổ biến, ít nhất cũng lên tiếp thị thành công nơi Sài gòn, nơi tập trung dân nhậu sành điệu của cả nước và Đông Nam Á. Nhiều người thích nhậu với món tép thịt heo luộc xắt mỏng (kiểu Gò Công). Dám treo bảng hiệu lắm người làm giàu nhờ món lẩu mắm: mắm kho, lấy nước cất, mắm sôi lên, bốc mùi thơm(hoặc không thơm, khó ngửi), lại thêm thịt xắt mỏng luộc, cá ba sa… nấu chung trong cái lẩu, múc ra ăn tùy thích. Mục đích của người ăn lẩu mắm là tận hưởng các loại “rau rừng” với mùi vị chát, đắng, lại còn món ăn cho mát lưỡi như bông súng, lá tai tượng, cọng bông súng xốp, rút nước mắm kho. Có người đếm thử, thấy lẩu mắm ăn với trên 20 loại rau rừng khác nhau, nào đọt xoài, đọt chùm ruột, đọt chiếc hoặc bưởi chua. An nhiều loại rau hoang dã là dấu ấn thời khẩn hoang xa xưa, thấy đắng, chát, hoặc chua là bảo đảm “không chết”, ví dụ như đọt cơm nguội, cọng rau dừa chỉ. Lẩu mắm là món ăn tập thể, năm sáu người bạn quây quần chung quanh cái lẩu (lò, tiếng Quãng Đông cái lò lưu). Thêm bún, cơm là no, dĩ nhiên có rượu. Nay bày thêm lẩu cá bồng kèo, lẩu cá trê trắng, trong tương lai, còn nhiều thứ lẩu khác, hoang dã. Con lươn làm lẩu canh chua nay vẫn chưa lỗi thời, ếch thì chiên bơ, rắn thì ngày càng đắt tiền, xưa nổi danh hiệu:“Tri kỷ”, uống máu rắn pha rượu Tây, ăn món rắn xào, rắn nấu cháo đậu xanh. Lại còn con cá chìa vôi cùng với nước lợ Nhà Bè, ăn tại chỗ, với bạn bè, cũng ngon như con cá chẽm. Món cháo vịt Thanh Đa nổi danh từ lâu giá bình dân. “Lươn, rùa, ếch, rắn” là bốn món hoang dã nhắc lại thời khẩn hoang xưa, sang trọng hơn thịt bò, thịt gà. Nay lại bày ra món cua rang me, thịt bò “tùng xẻo”, gẫm lại không thấy lạ. Bánh xèo không thể ăn sáng nhưng ăn buổi chiều, buổi tối thay thế cho cơm. Bánh xèo to, nhiều nhân bên trong, bán giá cao, kiểu bánh khoái của Huế cải biến. Nên kể thêm những loại chè, như chè khoai môn nước cốt dừa, chè hột sen, chè đậu xanh đường cát (gọi tàu thưng, đậu và đường, tiếng Quãng Đông âm lại). Các món ăn còn thay đổi gẫm lại tự thân nó, món nào cũng ngon nếu thỉnh thoảng ta muốn ăn trở lại một lần. Lâm Ngữ Đường bảo: “Tình yêu đất nước là sự thương nhớ, thèm thuồng món ăn mà cha mẹ cho mình ăn lúc mình nhỏ tuổi. Phải có không khí bờ sông từ rạch, quán lợp lá, cần nhất là bạn tri âm…”

Chia sẻ:

Twitter

Facebook

Like this:

Số lượt thích

Đang tải…

Thuyết Minh Về Cát Bà / 2023

Tương truyền, quần đảo Cát Bà là nơi các bà, các mẹ và chị em phụ nữ lo trồng tỉa, hái lượm, chuẩn bị lương thảo giúp các chiến binh đánh đuổi giặc Ân. Bởi thế, hòn đảo các chiến binh đóng quân nơi tiền phương gọi là đảo Các Ông (đọc chệch thành Cát Ông), và đảo hậu phương được mang danh là đảo Các Bà ( Cát Bà).

Xem các tour Cát Bà tại: https://dulichkhatvongviet.com/du-lich-trong-nuoc/du-lich-cat-ba/

Sự tích về đảo Cát Bà

Một sự tích khác về được lưu truyền theo năm tháng cho đến ngày nay, đó là: Ngày xửa ngày xưa, không rõ là vào thời kỳ nào, có hai xác nữ thần chết trẻ không biết từ đâu trôi dạt vào đảo và được bà con ngư dân đắp thành hai ngôi mộ. Trong đêm ấy, các nữ thần hiển linh, báo mộng cho các vị chức sắc và dân chúng trên đảo biết về sự linh ứng của mình. Dân chúng bèn đóng góp tiền của, lập miếu thờ hai nữ thần ngay bên hai nấm mộ thiêng này, gọi là miếu Các Bà. Sau khi lập miếu thờ, những năm tháng sau đó, ngư dân trên đảo không gặp các tai nạn trên biển như trước, đời sống không có dịch bệnh hoành hành, không có giặc ngoại xâm và cướp biển, dân trên đảo hưởng cuộc sống ấm no, thái bình. Tâm nguyện người dân trên đảo đều cho rằng đó là do các nữ thần hiển linh phù hộ.

Hiện nay, đền thờ Các Bà ở Áng Ván – thị trấn Cát Bà, đền Bà – xã Hiền Hào cũng còn tồn tại với thời gian. Đảo Các Bà được đọc chệch đi thành Cát Bà như ngày nay.

Vùng đất cổ Cát Bà được hình thành từ cuối nguyên đại cổ sinh sớm ( cách ngày nay khoảng 410 triệu năm) nhờ chuyển động tạo núi Celadoni và chế độ lục địa kéo dài suốt nguyên đại Trung sinh ( cách ngày nay khoảng 240 – 267 triệu năm). Các nhà địa chất đã phát hiện được nhiều di tích hóa thạch động vật và thực vật cổ xưa lưu giữ trong các trầm tích ở Cát Bà phản ánh những biến cố địa chất lớn và tiến hóa của sự sống hàng trăm triệu năm tại miền đất này.

Sau năm 1945, huyện Cát Hải và thị xã Cát Bà thuộc tỉnh Quảng Yên, đến ngày 05 tháng 06 năm 1956 được sáp nhập vào thành phố Hải Phòng.

Đảo Cát Bà ngày nay

Ngày 22 tháng 07 năm 1957 huyện Cát Bà được thành lập gồm thị xã Cát Bà cũ đổi tên thành thị trấn Cát Bà và 5 xã của huyện Cát Hải được tách ra gồm: Trân Châu, Xuân Đám, Hiền Hào, Gia Luận, Việt Hải. Huyện Cát Hải ngày nay được thành lập vào ngày 11 tháng 03 năm 1977 trên cơ sở hợp nhất hai huyện đảo Cát Hải và Cát Bà cũ.

Vài nét khái quát về đảo Cát Bà

Cách trung tâm thành phố Hải Phòng khoảng 30km nằm trên địa phận của huyện Cát Hải. Đảo Cát Bà hiện nay đã trở thành khu du lịch nổi tiếng hâp dẫn nhiều du khách trong những năm gần đây. Từ trên cao nhìn xuống, xung quanh đây gồm 367 các hòn đảo lớn nhỏ nằm nhấp nhô trên mặt nước. Cát Bà là hòn đảo lớn nhất có diện tích gần 300km2 với tập hợp nhiều nhà nghỉ, khách sạn và các dịch vụ vui chơi giải trí khác hội tụ.

Di chuyển ra Đảo Cát Bà

Dù là hòn đảo cách xa đất liền nhưng di chuyển ra đảo Cát Bà rất thuận tiện, du khách có thể lựa chọn đi bằng phà hoặc đi bằng tàu, du khách cũng có thể lựa chọn di chuyển đường bộ nữa qua những con đường uốn lượn quanh co, men theo triền núi.

Tham quan đảo Cát Bà

Cát Bà được thiên nhiên ưu ái khi ban tặng cho rất nhiều hòn đảo nhỏ có tên gọi rất riêng đặc sắc như: hòn Cát Ông, Hòn Cát Đuối, hòn Mây, hòn Quai Xanh, hòn Tai Kéo,… mỗi hòn đảo có hình dáng khác nhau tạo thành 1 quần đảo du lịch nổi tiếng sạch đẹp này.

Cát Bà là một cụm du lịch thiên nhiên, sinh thái không thể tách rời. Ở đây cũng đã phát hiện được nhiều di tích khảo cổ thuộc thời kỳ đồ đá mới, những di tích văn hóa Hạ Long và dấu vết của người Việt cổ. Ngày nay ngoài việc trở thành khu du lịch thì Cát Bà còn là khu bảo tồn quốc gia, bảo tồn trong lòng mình hệ sinh thái rừng nhiệt đới nguyên sinh. Biển Cát Bà có tới 300 loài cá biển, 500 loài thân mềm và giáp xác, trong đó có nhiều loại có thể làm nguyên liệu sản xuất hàng mỹ nghệ quý như đồi mồi, tôm rồng, trai ngọc,…

Cát Bà ngày hôm nay vẫn còn như một nàng tiên e lệ giữa biển khơi với dáng vẻ nguyên sơ, còn giữ được sức hấp dẫn với những truyền thuyết bao đời và bề dày lịch sử văn hóa của vùng đất này.

VÌ SAO KHÁCH HÀNG LỰA CHỌN DU LỊCH KHÁT VỌNG VIỆT?

Thuyết Minh Viên Du Lịch / 2023

Thuyết minh cho du khách về lịch sử chùa Côn Sơn Người kết nối các giá trị văn hóa

TMVDL không chỉ là người thuyết minh viên, giới thiệu cho khách thuần túy mà còn là người thổi hồn vào các di tích, hiện vật, danh lam, thắng cảnh… làm sống dậy từng điểm du lịch, các di tích lịch sử để những di sản đó tồn tại mãi theo thời gian, điều đó có ý nghĩa sâu sắc góp phần quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam nói chung và Hải Dương nói riêng.

Việc thuyết minh cho du khách hiểu những giá trị văn hóa, lịch sử của một địa danh nào đó có ý nghĩa rất quan trọng, đặc biệt là khách quốc tế tới Việt Nam. Trong khi, thế mạnh của tỉnh ta là du lịch văn hóa – tâm linh, du lịch sinh thái ngày càng được khẳng định và phát triển.

Người làm nhiệm vụ thuyết minh tại điểm có kiến thức chuyên môn sâu tại điểm du lịch mà mình phụ trách. Họ có thể là một giáo viên, một chuyên gia, một nhà nghiên cứu, một “lão làng” trong mọi lĩnh vực nhất định nào đó.

Mỗi công việc đều có cái “khó” của nó nhưng nghề TMVDL còn đặc biệt hơn rất nhiều. Chỉ bằng giọng nói và ngôn ngữ cơ thể, họ phải truyền đạt được nét đặc trưng, giá trị văn hóa – lịch sử của mỗi đối tượng tham quan tới du khách du lịch sao cho dễ hiểu, dễ nhớ và xúc động nhất.

Chị Lê Thị Phượng thuộc Ban quản lý di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc, người đã đạt giải nhất trong cuộc thi Thuyết minh viên Du lịch Hải Dương năm 2014 chia sẻ: thuyết minh là một nghề đặc biệt đòi hỏi người thuyết minh phải có kiến thức, trách nhiệm và tinh thần quảng bá, lưu giữ giá trị văn hóa lịch sử. Tôi rất tự hào được sinh ra trên mảnh đất địa linh nhân kiệt, mỗi lần thuyết minh xong về di tích là một lần tôi được bày tỏ lòng tri ân tới các bậc hiền nhân, tự hào khi được hướng dẫn, giới thiệu cho du khách hiểu thêm về cuộc đời và sự nghiệp của Quốc công tiết chế Trần Hưng Đạo.

Công việc thuyết minh tại điểm tuy không vất vả như nghề hướng dẫn viên nhưng cũng đòi hỏi nhiều yếu tố cần thiết như: kỹ năng giao tiếp với đám đông, nắm bắt được tâm lý người nghe, khả năng giải quyết tình huống linh hoạt, khéo léo và phải có kiến thức chuyên sâu về văn hóa, lịch sử của địa phương và dân tộc. Đặc biệt, họ đều có một chất giọng truyền cảm, cuốn hút người nghe. Trong quá trình thuyết minh họ biết cách lồng ghét những câu chuyện kể một cách hợp lý, dẫn dắt người nghe vào những khung cảnh phù hợp với nội dung trưng bày tạo bảo tàng, điểm du lịch hay các danh nhân, cảnh quan tự nhiên của khu du lịch.

Theo Khoản 1 Điều 72 của Luật du lịch thì Hướng dẫn viên du lịch bao gồm hướng dẫn viên quốc tế, hướng dẫn viên nội địa” còn theo Khoản 1 Điều 78 “Thuyết minh viên là người thuyết minh tại chỗ cho du khách trong phạm vi khu du lịch, điểm du lịch”. Tất nhiên, vai trò của họ chắc chắn khác nhau. Với Hướng dẫn viên, họ phải theo đoàn suốt tuyến, trên mọi cung đường, và kiến thức của họ không đòi hỏi phải chuyên sâu như TMVDL nhưng có thể họ lại có kiến thức sâu rộng hơn TMVDL. Trên mỗi cung đường, Hướng dẫn viên đều thuyết minh cho khách về các điểm đến. Đến địa điểm thăm quan thì mọi công việc dường như lại được chuyển giao cho TMVDL như chủ nhà mời khách thăm quan và thưởng thức các “món ăn” tinh thần, đưa du khách từ cung bậc cảm xúc này đến cung bạc cảm xúc khác.

Quả thật như vậy, mỗi TMVDL ở đây đều phải làm sao thổi hồn vào các di tích, danh nhân, cảnh quan thiên nhiên. Như vậy, TMVDL tại Côn Sơn – Kiếp Bạc phải làm sao trong bài thuyết minh của mình có thể đưa du khách trở về với âm hưởng hào hùng của các thuyền quân trên sông Lục Đầu, âm vang thắng lợi của trận Vạn Kiếp – Chiến công oanh liệt của quân – dân đời Trần 1285 – 1287, để khơi dậy trong tâm trí mỗi du khách niềm tự hào dân tộc, hay xúc động và rơi nước mắt khi thuyết minh về Danh nhân văn hóa Thế giới Nguyễn Trãi, về cuộc đời và sự nghiệp, vụ án Lệ Chi Viên thảm khốc. Chị Phượng chia sẻ thêm: Khu di tích Quốc gia đặc biệt Côn Sơn – Kiếp Bạc đón và thu hút rất nhiều đối tượng du khách, bởi vậy khi dẫn khách vào không gian lịch sử văn hóa của mỗi di tích, chúng ta phải dẫn thế nào để người xem có thể tưởng tượng như mình đang sống trong không khí hào hùng của ông cha ta thuở xưa để người xem và nghe có thể hiểu được những giá trị to lớn của những chiến công đó, tất nhiên du khách tham quan đến với khu di tích thuộc nhiều tầng lớp, độ tuổi khác nhau: học sinh, sinh viên, người già, cựu chiến binh…, vì vậy chúng tôi luôn phải có cách dẫn riêng, chọn lọc kiến thức cho hợp với đối tượng và cảm xúc nói mỗi lần cũng khách nhau. Quan trọng hơn cả là mỗi TMVDL như chúng tôi đều phải ý thức được nhiệm vụ mình đang làm, có ý nghĩa quan trọng thế nào đến hình ảnh và con người Hải Dương, phải làm sao để mỗi TMVDL là nhân chứng lịch sử, người lưu giữ “hồn” của dân tộc, kết nối các giá trị văn hóa.

Liên tục trau dồi nghiệp vụ Hướng dẫn, Thuyết minh

Hiện nay trên địa bàn tỉnh có khoảng gần 100 TMVDL đang công tác tại các khu, điểm du lịch, tập trung chủ yếu ở khu di tích quốc gia đặc biệt Côn Sơn – Kiếp Bạc, Đảo Cò, Đền Cao – Động Kính Chủ. Phần lớn đội ngũ TMVDL chuyên nghiệp của tỉnh đã được đào tạo ở các cơ sở đào tạo có ngành du lịch, có 54% tổng số TMVDL hiện nay sử dụng được tiếng Anh.

Thuyết minh viên gần như là người tiếp xúc đầu tiên với mỗi du khách tại điểm đến, vì vậy từ phong cách ứng xử, giao tiếp và kiến thức chuyên môn đều phải rất cẩn trọng và tinh tế. Nghề thuyết minh viên ở tỉnh ta mặc dù chưa có chương trình cấp chứng chỉ, nhưng các thuyết minh viên đã phần nào đáp ứng được công việc tại đơn vị mình, bên cạnh đó còn nhiều khu điểm chưa có thuyết minh viên thường trực và mỗi khi cần thì phải nhờ đến các cán bộ chuyên ngành của Phòng Văn hóa thông tin hoặc cán bộ Văn hóa xã. Đồng thời lực lượng thuyết minh trên địa bàn tỉnh ta nhìn chung còn mỏng và yếu về chất lượng, trình độ ngoại ngữ còn hạn hẹp chưa đáp ứng được với những công việc đòi hỏi trình độ cao, chuyên sâu và hội nhập khu vực.

Có lẽ, nghề thuyết minh cũng như một số ngành nghề đặc thù khác, không phải ai cũng có thể làm tốt công việc này. Nghề này kén người, kén nết, kén trí tuệ. Bởi vậy, việc tuyển chọn TMVDL của mỗi đơn vị là rất quan trọng, nếu không tuyển chọn kỹ thì vô hình chung người TMVDL không giỏi chuyên môn, không linh hoạt trong tình huống sẽ làm cho du khách không hài lòng, sẽ kéo theo nhiều vấn đề khác. Chính vì vậy, nghề này đòi hỏi phải có sự nhạy cảm, đam mê và tinh tế rất cao.

Ông Lê Duy Mạnh – Phó ban Quản lý di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc cho biết: Hiện nay tỉnh ta chưa có một cơ sở nào đào tạo chuyên ngành về thuyết minh viên. Vì vậy, bên cạnh kiến thức về chuyên ngành, chuyên môn, nên thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng, đào tạo ngắn hạn để giúp thuyết minh viên tại điểm cập nhật kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ và những vấn đề mới đang và sẽ đặt ra cho bản thân họ. Những lớp bồi dưỡng này có thể được tổ chức trong dịp mùa lễ hội du lịch, nhưng nghiêm túc, có chất lượng cả về đội ngũ dạy, tài liệu học tập – tham khảo và cả về điều kiện thực hành.

Bên cạnh đó cần thường xuyên, duy trì tổ chức các cuộc thi cho thuyết minh viên mang tính chuyên môn nghiệp vụ tại các điểm du lịch, khu di tích hoặc giữa các di tích với nhau để động viên sự tìm tòi, sáng tạo của mỗi người, đóng góp vào khối kiến thức cần có của thuyết minh viên có cơ hội, học hỏi và chia sẻ kinh nghiệm lẫn nhau.

Một trong những nhiệm vụ cấp của ngành du lịch tỉnh Hải Dương được xác định phải tập trung làm chuyển biến tích cực trong thời gian tới đó là nâng cao chất lượng đội ngũ nhân lực du lịch, trong đó có thuyết minh viên du lịch tại điểm. Đây là mấu chốt góp phần quảng bá hình ảnh du lịch Hải Dương, đồng thời hình thành và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, từng bước đưa hoạt động du lịch mang tính chuyên nghiệp cao, thích ứng với thời kỳ hội nhập quốc tế. Trong thời gian qua, ngành đã liên tục liên kết và tổ chức nhiều khóa học bồi dưỡng cho nguồn nhân lực du lịch của Hải Dương trong đó có thuyết minh viên. Như năm 2014, Sở đã tổ chức thành công Hội thi thuyết minh viên tỉnh Hải Dương lần thứ I, thu hút hàng chục thuyết minh viên của các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành tham gia; năm 2015, Sở VHTTDL đã phối hợp với Tổng cục Du lịch tổ chức khóa học 7 ngày tại thị xã Chí Linh thu hút hơn 50 thuyết minh viên từ các đơn vị trên địa bàn tỉnh tham gia. Qua hội thi, các hướng dẫn, thuyết minh viên có dịp trau dồi nghiệp vụ, giao lưu học hỏi kinh nghiệm, bổ sung thêm kiến thức, hiểu biết và các kỹ năng của thuyết minh viên. Đặc biệt là thể hiện vai trò của người thuyết minh viên du lịch Việt Nam với cộng đồng quốc tế, góp phần nâng cao chất lượng phục vụ khách du lịch tại các khu, điểm du lịch và tại các cơ quan, đơn vị đón, phục vụ du khách tham quan, tìm hiểu thông tin trên địa bàn tỉnh. Được biết, Hội thi thuyết minh viên lần thứ II dự kiến sẽ được Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hải Dương tổ chức vào năm 2016.

Ông Mạnh cho biết thêm: “Để phát triển được nguồn lực du lịch có chất lượng cao đặc biệt là TMVDL thì cần phải có những giải pháp tối ưu và hiệu quả như: thường xuyên liên kết với các trường Đai học có chuyên ngành Du lịc hay Tổng cục Du lịch, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch để mở các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ; tổ chức các cuộc thi để cọ xát kinh nghiệm, cần tuyển các TMVDL có trình độ được đào tạo từ các trường đại học, cao đẳng chuyên ngành du lịch như Đại học Văn hóa Hà Nội, Khoa học Xã hội và Nhân văn hay Viện Đại học Mở…, bên cạnh đó các đơn vị cần có những bài kiểm tra định kỳ đối với các TMVDL để các TMVDL có điều kiện nắm chắc về kiến thức; các đơn vị có cần tổ chức các chuyến đi thực tế cho TMVDL đến cac điểm di tích có các TMVDL chuyên nghiệp để học hỏi kinh nghiệm như: Văn miếu Quốc Tử Giám, quê Bác, Khu di tích Phủ chủ tịch… “.

Ngoài chuyên môn, công tác giáo dục bồi dưỡng đạo đức nghiệp vụ, lập trường chính trị vững vàng cho đội ngũ thuyết minh viên cũng là nhiệm vụ rất cần thiết nhất là trong giai đoạn hiện nay. Đồng thời tăng cường đầu tư trang thiết bị, ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại để tăng cường hiệu quả công tác thuyết minh, giới thiệu và hướng dẫn.

Cũng cần nói thêm để phát huy hơn nữa vai trò quan trọng của người TMVDL, cần thiết phải xây dựng quy chế, trên cơ sở đó xác định rõ quyền lợi và nghĩa vụ của thuyết minh viên. Đồng thời phải có những chế độ đãi ngộ với thuyết minh viên, nhất là đối với những người làm công tác thuyết minh ở những điểm di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc, An Phụ – Kính Chủ, Đỏ Cò, đặc biệt là các khu, điểm du lịch ở những xã xa trung tâm ít khách tham quan. Có như vậy mới khuyến khích, tạo điều kiện cho họ yên tâm công tác, phát huy hết sức mình vào việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc, góp phần thúc đẩy ngành du lịch phát triển bền vững.

Nguyễn Thế Anh Nguồn: Tạp chí Văn hóa, Thể thao và Du lich – số 5 (110) tháng 9-2015

Thuyết Minh Thành Cổ Quảng Trị / 2023

Kính chào quý khách đã đến tham quan di tích lịch sử Thành Cổ Quảng Trị. Tôi xin tự giới thiệu, tôi là: …., hướng dẫn viên tại di tích Thành Cổ Quảng Trị. Lời đầu tiên thay mặt anh chị em ban quản lý khu di tích, tôi xin gửi đến đoàn lời chúc sức khoẻ, chúc cho đoàn chúng ta có một chuyến tham quan thành công và ý nghĩa.

Tôi xin phép được thông qua lộ trình của đoàn.

Vào đài tưởng niệm dâng hương cho các Anh hùng liệt sỹ và nghe thuyết minh về ý nghĩa của đài tưởng niệm.

Tham quan nhà bảo tàng và kết thúc lộ trình.

A. Tại đài tưởng niệm

Thưa toàn thể đoàn !

Chúng ta đang đứng đây, mảnh đất của 38 năm về trước là một chiến trường khốc liệt đầy máu và lửa. Bằng cuộc chiến đấu anh dũng kiên cường của quân và dân ta chống trả những đợt phản kích tái chiếm của địch trong suốt 81 ngày đêm năm 1972 để bảo vệ Thành Cổ và Thị xã Quảng Trị. Sự kiện lịch sử đó đã góp một phần quan trọng vào thắng lợi trên bàn hội nghị Pari tạo đà cho công cuộc giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Để làm nên trang lịch sử ấy hàng ngàn chiến sỹ đã anh dũng chiến đấu và vĩnh viễn nằm lại nơi đây. Các anh hi sinh nhưng hình hài các anh không còn nguyên vẹn nữa, máu và xương thịt của các anh đã hoà vào lòng đất cho non sông đất nước có ngày độc lập, nhân dân được ấm no hạnh phúc.

Với những giá trị lịch sử đã được đúc kết bằng sự hy sinh to lớn của hàng ngàn chiến sỹ, cụm di tích Thành Cổ Quảng Trị được bộ văn hoá xếp hạng là di tích Quốc gia. Đến đầu năm 1994 được xếp hạng di tích Quốc gia đặc biệt quan trọng.

Hôm nay đoàn chúng ta đến với Thành Cổ Quảng Trị, không những đến với một di tích lịch sử mà đoàn chúng ta còn đến với một nghĩa trang, một nghĩa trang không có nấm mồ. Khác với nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn, nghĩa trang liệt sỹ Đường 9 hay các nghĩa trang khác thì liệt sỹ nào có mộ liệt sỹ đó cho dù biết tên hay chưa biết tên. Nhưng khi đến với Thành Cổ Quảng Trị các anh chỉ có một ngôi mộ tập thể chung, một nấm mồ chung mà thôi. “Đài tưởng niệm trung tâm” là biểu tượng của nấm mồ chung, của ngôi mộ tập thể đó.

Kính thưa đoàn !

Đài tưởng niệm được mô hình hoá thành nấm mộ chung: dưới chân nấm mồ được đắp theo hình bát giác tượng trưng cho bát quái, bốn lối bậc cấp đi lên tượng trưng cho tứ tượng, tầng mà đoàn dâng hương là tầng lưỡng nghi. Bên trên là mái đình Việt cách điệu, trên mái đình là bình thái cực. Theo quan niệm triết lý phương Đông thì thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái, bát quái vận hành sinh vạn vật làm vũ trụ phát triển không ngừng.

Ngôi mộ tập thể này được thiết kế theo quan niệm triết lý âm dương mang ý nghĩa sâu sắc là để siêu thoát cho linh hồn những người đã khuất. Nơi đoàn chúng ta đang đứng gọi là tầng lưỡng nghi, gồm hai nữa âm và dương: nữa bên nước là nữa âm, nữa bên nền đỏ là nữa dương. Người ta quan niệm rằng trong cuộc sống này âm dương luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau như: giữa trời và đất, giữa ngày và đêm, giữa người sống và người chết đó là hình thái âm dương. Và âm dương không bao giờ hoạt động độc lập mà bao giờ trong âm cũng có dương và trong dương cũng có âm, âm dương luôn hoà quyện vào nhau.

Ngay nữa phần âm người ta cho làm một cây đèn màu đỏ tượng trưng cho phần dương trong âm. Đèn này có chiều cao 8,1m tượng trưng cho 81 ngày đêm và được ví như “Đèn thiên mệnh” với chức năng thiêng liêng là chuyển tải linh hồn các chiến sỹ giải phóng quân từ cỏi âm về cỏi vĩnh hằng. Trên đỉnh của cây thiên mệnh có ngọn lửa mang ý nghĩa là ánh hào quang của cuộc chiến 81 ngày đêm quyết tử cho tổ quốc quyết sinh trên chiến trường Quảng Trị. Giữa cây thiên mệnh người ta làm ba áng mây tượng trưng cho tam tài: Thiên – Địa – Nhân với ý nghĩa là cầu nối giữa trời, đất và con người. Theo phong tục của người Á Đông chúng ta thường hay cúng cơm cho người đã khuất vì vậy trên cây đèn người ta đắp 3 bát cơm để tượng trưng cho ý nghĩa đó.

Nữa phần dương còn lại được lát bằng nền gạch đỏ là màu của sự sống sự sinh sôi nảy nở. Trên phần dương có một lỗ tròn tượng trưng cho phần âm trong dương, phần âm trong dương này thông vào lòng nấm mồ. Lòng nấm mồ rỗng có 2 trục đường chính giao nhau về tứ phương, về mặt tâm linh thì đây là nơi hội tụ linh hồn của các chiến sỹ tứ phương về nấm mồ chung này. Ở chính giữa là nơi đặt hành trang người lính: Một chiếc mủ tai bèo, một đôi dép cao su, một bi đông nước, một khẩu súng AK và một chiếc ba lô. Giản dị và thân thương mà các anh đã làm nên lịch sử.

Ở giữa hai phần âm và dương có đặt một lư hương để cho mọi người khi đến Thành Cổ thắp một nén hương với lòng thành tâm cầu nguyện mong rằng linh hồn các anh sẽ từ cõi âm theo đèn thiên mệnh siêu thoát về cõi vĩnh hằng và sẽ thanh thản nơi chín suối.

Phía bên ngoài tầng lưỡng nghi còn có 81 bức phù điêu là 81 tờ lịch ghi lại từng ngày một của cuộc chiến 81 ngày đêm tại Thành Cổ Quảng Trị từ 28/06/1972 – 16/09/1972 theo chiều ngược kim đồng hồ.

Kính thưa đoàn !

Do hàng ngàn chiến sỹ ta cho đến hôm nay vẫn còn nằm dưới mảnh đất này, vì thế mà các công trình dưới thời nhà Nguyễn sẽ không còn được phục dựng lại nữa. Thành Cổ được xây dựng thành một công viên văn hoá, tưởng niệm và tri ân tôn vinh những người đã vĩnh viễn nằm nơi lại đây. “Cho tôi hôm nay vào Thành Cổ thắp một nén nhang viếng người nằm dưới cỏ. Cỏ xanh non tơ cỏ xanh non tơ xin chớ vô tình”. Lời bài hát “Cỏ non Thành Cổ” của nhạc sĩ Tân Huyền cũng chính là lời nhắn nhủ của cựu chiến binh Phạm Đình Lân từ Hà Nội về thăm lại chiến trường xưa. Anh đến với đài tưởng niệm cho hàng ngàn đồng đội đang yên nghĩ vĩnh hằng dưới lớp cỏ non xanh của khu di tích thắp nén tâm hương mà lòng sót xa nhắn nhủ:

“Nhẹ bước chân và nói khẽ thôi Cho đồng đội tôi nằm yên dưới cỏ Trời Quảng Trị trong xanh và lộng gió Dẫu ồn ào đừng lay động hàng cây. …………………………………. Nhẹ bước chân và nói khẻ thôi Thành Cổ rộng sao đồng đội tôi nằm chật Mỗi tấc đất là một cuộc đời có thật Cho tôi hôm nay đến nghẹn ngào.”

Vâng, đoàn chúng ta vừa nghe giới thiệu về ý nghĩa của đài tưởng niệm. Bây giờ để hiểu rõ hơn về lịch sử Thành Cổ Quảng Trị cũng như tái hiện lại cuộc chiến 81 ngày đêm mùa hè lịch sử 1972, xin kính mời đoàn tiếp tục lộ trình tham quan nhà bảo tàng.

B. Tại nhà bảo tàng

Thưa đoàn !

Nhà bảo tàng là công trình được xây dựng mới hoàn toàn và được đưa vào phục vụ khách tham quan từ năm 2002. Với diện tích khoảng 360 m2, nhà bảo tàng gồm có 2 tầng dùng để trưng bày các bức ảnh và hiện vật chiến tranh.

Tầng 1: Gian khánh tiết

Vị trí mà đoàn đang đứng là gian khánh tiết, đây là gian trưng bày những hình ảnh về Thành Cổ Quảng Trị trong cuộc chiến 81 ngày đêm mùa hè 1972. Trước mặt đoàn là bức ảnh Thành Cổ do phóng viên Đoàn Công Tính chớp ngày 16/8/1972 tức là Thành Cổ giữa cuộc chiến 81 ngày đêm. Ngày xưa tường thành cao 4m, dày 12m nhưng với số lượng bom đạn khổng lồ 328.000 tấn bom mà kẻ thù đã thả xuống đây tương đương với sức công phá của 7 quả bom nguyên tử loại mà chúng ném xuống Nhật Bản nên những công trình trong Thành Cổ hầu như bị san phẳng hoàn toàn. Vậy mà các chiến sỹ của ta vẫn kiên cường bám trụ, sức mạnh bom đạn không đè bẹp được con người. Nhận định về sự kiện này, Cố Tổng bí thư Lê Duẩn khẳng định: “Chúng ta đã chịu đựng được không phải vì chúng ta là gang thép, vì gang thép cũng chảy với bom đạn của chúng. Mà chính chúng ta là những con người, những con người thực sự – Những con người Việt Nam, với truyền thống 4000 năm đã giác ngộ sâu sắc trách nhiệm trọng đại trước Tổ Quốc, trước thời đại.”

Mùa hè năm 1972, ta tổng động viên và đưa vào chiến trường 6 sư đoàn chủ lực bao gồm những sư đoàn thép như: sư đoàn 304, 308, 320, 324, 312, 325…và một số trung đoàn, tiểu đoàn thuộc các binh chủng khác chính vì thế mà người ta cho làm hai bức phù điêu hai bên để ghi tên các sư đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn đã từng tham gia chiến đấu để bảo vệ Thành Cổ.

Và trong mưa bom bảo đạn, khi sự sống và cái chết đang gần kề gang tấc, vẫn còn đó “nụ cười thách thức bom đạn” của những chiến sĩ giải phóng quân dưới chân Thành Cổ, không những nụ cười của những anh lính giải phóng quân mà còn có “nụ cười của ông lão ngư dân Triệu Phong” ngày đêm đưa bộ đội sang sông Thạch Hãn. Không biết bao chuyến đò mổi ngày, bao nhiêu anh lính được ông đưa vào chi viện cho Thành Cổ Quảng Trị. Ông lão này đến năm 1975 thì mất, thọ được 72 tuổi còn cô du kích ngồi bên cạnh sau này đã trở thành con dâu ông, cô tên Nguyễn Thị Thu hiện đang sống ở Thị trấn Ái Tử – Huyện Triệu Phong.

Tầng 2 : Nhà bảo tàng

Được trưng bày theo 8 mảng sau:

Mảng 1: Thành Cổ và thị xã Quảng Trị trước cuộc chiến 81 ngày đêm.

Đây là sơ đồ Thành Cổ do người Pháp vẽ năm 1889. Thành Cổ Quảng Trị được xây dựng dưới thời nhà Nguyễn. Năm 1809 vua Gia Long cho đắp bằng đất, 28 năm sau năm 1837 vua Minh Mạng cho xây bằng gạch, thành được xây dựng theo kiểu kiến trúc Vauban, 4 góc tường thành nhô hẳn ra bên ngoài để làm pháo đài canh giữ, chu vi thành trên 2160m, diện tích nội thành 16ha, tường thành cao 4m, dày 12m, xung quanh có hào thành, có 4 cửa Đông – Tây – Nam – Bắc. Thời phong kiến Thành Cổ Quảng Trị là trung tâm kinh tế, chính trị, quân sự của tỉnh Quảng Trị, là thành luỹ phòng ngự để bảo vệ kinh đô Huế ở phía Bắc nên trong thành có nhiều công trình kiến trúc được xây dựng như: Hành cung, cột cờ, dinh tuần phủ, dinh án sát, dinh lãnh binh… Sau khi đặt chính quyền bảo hộ ở Trung Kỳ, thực dân Pháp cho xây dựng một hệ thống nhà lao kiên cố ở phía Đông Bắc Thành Cổ, đây là nơi biệt giam các chiến sĩ cộng sản tức là những ai cứng đầu nhất thì đưa vào lao xá Quảng Trị. Từ năm 1929 đến đầu 1972 hàng ngàn chiến sĩ cộng sản và đồng bào yêu nước đã bị giam cầm ở đây. Thời Mỹ nguỵ, Thành Cổ Quảng Trị là một tiểu khu quân sự mạnh nên trong Thành có trận địa hỏa lực và nhiều trại lính. Trải qua biến cố thăng trầm lịch sử, Thành Cổ Quảng Trị đã thay đổi về diện mạo và chức năng. Đây là những hình ảnh thị xã Quảng Trị trước năm 1972 rất sầm uất, có trên 1 vạn ngôi nhà, nhiều công trình dân sinh và tôn giáo. Khi ta vào giải phóng Quảng Trị tất cả còn nguyên vẹn nhưng sau 81 ngày đêm tất cả đã bị sang phẳng hoàn toàn.

Mảng 2: Các căn cứ quân sự.

Sau khi hiệp định Giơnevơ được ký kết năm 1954, đất nước bị chia cắt làm 2 miền, Quảng Trị trở thành tỉnh địa đầu giới tuyến có vị trí sống còn với đế quốc Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Đây vừa là bàn đạp để thực hiện âm mưu bắc tiến, vừa là lá chắn để bảo vệ “Biên giới Hoa Kỳ kéo dài đến vĩ tuyến 17” như Ngô Đình Diệm từng tuyên bố. Do vậy chúng đã tập trung xây dựng ở đây một hệ thống các căn cứ quân sự lớn mạnh kéo dài từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống Nam. Với hệ thống các căn cứ như vậy, Tổng thống Nichxơn thách thức “Nếu có cuộc tấn công mạnh của cộng sản thì tuyến phòng thủ này có thể bị chùng chứ không bị đứt” nhưng rồi cuộc chiến đầu năm 1972 như thế nào, xin mời đoàn sang thăm phần tiếp theo.

Mảng 3: Chiến dịch giải phóng Quảng Trị đầu năm 1972

Bước sang năm 1972, thấy thời cơ đã đến, Bộ chính trị và Quân uỷ TW đã quyết định mở chiến dịch giải phóng Quảng Trị. Vào hồi 11h ngày 30/3 chiến dịch được bắt đầu bằng cuộc tấn công cứ điểm Pulơ (Cam Lộ), bằng đòn đánh bất ngờ, ta đã nhanh chống làm chủ cứ điểm này. Những ngày tiếp theo ta tiếp tục tấn công vào các điểm trọng yếu và hàng rào điện tử Macnamara, thừa thắng ta tấn công truy kích vào vòng trong và trong khoảng thời gian ngắn quân ta đã lần lượt giải phóng Gio Linh, Cam Lộ, Đông Hà, Triệu Phong. Ngày 1/5 cờ cách mạng đã tung bay trên nốc dinh tỉnh trưởng ở thị xã Quảng Trị. Tỉnh Quảng Trị cơ bản được giải phóng.

Mảng 4: Thành Cổ và Thị xã Quảng Trị trong 81 ngày đêm khốc liệt.

Sau khi để mất tỉnh Quảng Trị vào tháng 5, đến cuối tháng 6 Mĩ – nguỵ đã điên cuồng mở cuộc phản kích tái chiếm tỉnh Quảng Trị với mật danh “Lam Sơn 72”. Trong đó mục tiêu số 1 là phải chiếm được Thành Cổ Quảng Trị, vì chúng cho rằng: Chiếm được Thành Cổ là cơ bản chiếm được tỉnh Quảng Trị, tạo ra sức nặng để mặc cả với ta trên bàn hội nghi Pari. Mĩ – nguỵ mở cuộc phản kích nhằm đạt được những âm mưu rất xảo quyệt về chính trị, quân sự, ngoại giao: lấy lại tinh thần, tẩy xoá tâm lý thất bại đang lan tràn trong nguỵ quân, nguỵ quyền nhằm cứu vãn chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”, chiếm lại những vùng đất đã mất, thay đổi cục diện chiến trường nhằm gây sức ép với ta trên bàn hội nghị Pari. Để làm được điều đó, địch đã huy động vào đây một lực lượng rất lớn gồm 4 sư đoàn, trong đó có 2 sư đoàn thiện chiến nhất của quân lực VNCH là sư đoàn Dù được mệnh danh là Thiên thần mũ đỏ và sư đoàn Thuỷ quân lục chiến được mệnh danh là Cọp biển. Cùng sự hỗ trợ tối đa của hoả lực không quân, hải quân Mỹ.

Tướng Ngô Quang Trưởng, chỉ huy cuộc phản kích tuyên bố ” đồng minh sẽ sử dụng tối đa hoả lực của không quân và pháo binh để nghiền nát Cổ thành Quảng Trị.

Và quả thật đúng như vậy.

Thị xã Quảng Trị trong 81 ngày đêm từ 28/6 đến 16/9 được ví như một túi bom. Trung bình mỗi ngày địch huy động 150-170 lần chiếc máy bay phản lực, 70 – 90 lần chiếc B52 để ném bom huỷ diệt thị xã và Thành Cổ Quảng Trị. Với diện tích chưa đầy 3 cây số vuông, trong 81 ngày đêm thị xã và Thành Cổ Quảng Trị phải gánh chịu 328.000 tấn bom đạn, trung bình mỗi chiến sỹ của ta phải gánh chịu 100 tấn bom, 200 quả đạn pháo. Do vậy, toàn bộ thị xã và Thành Cổ Quảng Trị đã bị san phẳng hoàn toàn và sự sống đã bị huỷ diệt như thế này đây (xem ảnh). Và dù trên mình mang đầy thương tích nhưng các anh vẫn chiến đấu ngoan cường, quyết không rời trận địa, chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, cứ người này ngã xuống người khác lại đến thay. Báo quân đội nhân dân ra ngày 9/8/1972 có viết “Mỗi mét vuông đất mà các chiến sỹ ta dành được ở Thành Cổ Quảng Trị thực sự là một mét vuông máu”. Theo thống kê của phòng quân lực, 80% chiến sỹ của ta đã hi sinh do sức ép của bom đạn, dù đang ngồi trong hầm cũng vỡ máu mũi, máu tai mà hi sinh.

Thưa đoàn!

Do hoả lực của địch quá mạnh, phòng tuyến vòng ngoài của ta bị vỡ dần. Từ đầu tháng 9 đã diễn ra cuộc chiến đấu vô cùng ác liệt trong lòng thị xã và Thành Cổ Quảng Trị. Ta và địch giành nhau từng căn nhà, góc phố, từng mảng tường Thành Cổ. Thời tiết lúc này không thuận lợi, áp thấp nhiệt đới liên tục xảy ra, nước sông Thạch Hãn dâng cao, cả thị xã chìm trong biển nước. Lợi dụng tình hình đó địch tăng cường bắn phá vào công sự của ta. Các chiến sỹ của ta vừa thay nhau tát nước chống ngập công sự, vừa chống trả địch, suốt ngày ngâm mình trong nước, ăn lương khô, uống nước lã nên sức khoẻ giảm sút, thương vong rất lớn có ngày trên 100 người. Trước tình hình đó, ngày 16/9 Quân uỷ TW đã ra lệnh rút toàn bộ quân sang bờ Bắc sông Thạch Hãn để bảo toàn lực lượng. Kết thúc 81 ngày đêm chiến đấu anh dũng kiên cường.

Vâng, kính thưa đoàn!

Năm 1972, ta tổng động viên nên phần lớn các chiến sỹ của chúng ta tham gia chiến đấu ở chiến trường thị xã và Thành Cổ Quảng Trị đều còn rất trẻ (xem ảnh). Vì tổ quốc các anh sẳn sàng hiến dâng cả tuổi thanh xuân và hạnh phúc riêng tư của mình. Tiêu biểu ở đây có anh Nguyễn Xuất Hiện tham gia chiến đấu khi mới 14 tuổi. Kết thúc 81 ngày đêm của cuộc chiến, ta đã tiêu diệt 26 ngàn tên địch. Cuộc chiến 81 ngày đêm tại thị xã và Thành Cổ Quảng Trị cùng với thất bại của trận Điên Biên Phủ trên không ta buộc địch phải ký hiệp định Pari vào ngày 27/1/1973.

Mảng 5: Một số hình ảnh sau khi hiệp định Pari được ký kết.

Sau hiệp định Pari ký kết ta cắm cờ lên các vùng đất được giải phóng. Lúc này cờ của ta và cờ ba que cắm xen kẽ với nhau.

Sông Thạch Hãn đã trở thành ranh giới chia cắt giữa hai bên. Và ở đây đã diễn ra việc trao trả tù binh từ hai phía. Hàng ngàn chiến sĩ của ta đã được trở về trong vòng tay đồng đội và sự đón chào nồng nhiệt của nhân dân ta.

Mảng 6: Đặt trụ sở chính phủ CMLTCHMN Việt Nam ở Cam Lộ.

Tỉnh Quảng Trị lúc bấy giờ mới giải phóng đã rất vinh dự được chọn làm nơi đặt trụ sở chính phủ CMLTCHMN Việt Nam tại thị trấn Cam Lộ – huyện Cam Lộ vào tháng 6/1973.

Mảng 7: Thị xã Quảng Trị sau ngày đất nước được thống nhất .

Sau ngày đất nước thống nhất , Quảng Trị đã bắt tay xây dựng lại quê hương. Từ đống đổ nát hoang tàn sau chiến tranh, nhiều công trình mới đã được mọc lên.

Mảng 8: Di vật liệt sỹ và một số hoạt động tri ân.

Chiến tranh đã lùi xa vào quá khứ, nhưng nổi đau thời hậu chiến thì vẫn đeo đẵng trong mỗi người dân chúng ta. Biết bao gia đình phải chịu cảnh mẹ mất con, vợ mất chồng, con phải mồ côi bố. Hiện tại nhà bảo tàng Thành Cổ đang trưng bày hai di vật của hai liệt sỹ rất tiêu biểu xúc động. Xin mời đoàn sang tham quan phần di vật.

Di vật của liệt sỹ Lê Binh Chủng, quê ở Quỳnh Mỹ – Quỳnh Lưu – Nghệ An.

Vào năm 2000 khi đang thi công công trình đường ống dẫn nước ở phía Tây Thành Cổ đơn vị thi công đã phát hiện một hầm chữ A trong đó có 5 hài cốt, hết 4 hài cốt chưa xác định được danh tính, chỉ có một số giấy tờ, 2 lá thư và hai tấm hình còn nguyên vẹn vì được gói rất kỷ trong bao ni long. Đó là di vật của liệt sỹ Lê Binh Chủng – Chính trị viên tiểu đoàn 3 bộ đội địa phương Quảng Trị. Qua quá trình tìm hiểu chúng tôi mới biết rằng: Năm 1970 trên đường vào chiến trường miền Nam chiến đấu anh Chủng có ghé qua miền Tây Quảng Bình (Xã Đông Trạch – Bố Trạch – Quảng Bình). Ở đó anh có quen và yêu chị Phạm Thị Biển Khơi. Đơn vị đứng ra tổ chức lễ cưới cho anh chị và sau đó anh tiếp tục vào chiến trường Quảng Trị nơi diễn ra cuộc chiến 81 ngày đêm khốc liệt và anh đã anh dũng hi sinh ở đó. Ở quê nhà chị Khơi sinh được cháu trai và đặt tên Lê Quảng An (Quảng Bình – Nghệ An). Khi nhận được tin anh hi sinh chị rất buồn và chị quyết định đưa cháu về quê nội. Nhưng đáng tiếc gia đình chồng không nhận con dâu và cháu nội vì chưa nghe tin anh cưới vợ bao giờ. Chị lại thui thủi một mình đưa con về sinh sống ở quê ngoại. Và đến năm 2000 sau khi nhận được di vật của anh gia đình mới nhận con dâu và cháu nội. Anh Lê Quảng An sau 28 năm mới được công nhận là con liệt sỹ.

Kính thưa đoàn !

Trong số hàng ngàn chiến sĩ đã hy sinh trong cuộc chiến 81 ngày đêm ở thị xã và Thành Cổ Quảng Trị, có rất nhiều học sinh, sinh viên của các trường miền Bắc. Họ đã xếp bút nghiêng lên đường chiến đấu theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc. Trong đó có liệt sỹ Lê Văn Huỳnh, quê xã Lê Lợi – Huyện Kiến Xương – Tỉnh Thái Bình mà di vật của anh đang được trưng bày ở đây.

Anh Lê Văn Huỳnh khi đó là sinh viên năm thứ 4 trường ĐHXD Hà Nội. Có vợ là Đặng Thị Xơ (cùng quê với anh). Sau khi cưới vợ được 6 ngày, chưa kịp có con thì tháng 5 -1972 anh đã theo lệnh Tổng động viên vào tham gia chiến đấu ở chiến trường Quảng Trị. Đầu tháng 9/1972 anh nhận được lệnh làm nhiệm vụ đưa hàng tiếp tế qua sông Thạch Hãn. Như biết chắc rằng rồi đây mình sẽ hi sinh, anh đã bình thản làm cho mình một tấm bia bằng tôn ghi rõ họ tên, ngày tháng năm sinh, quê quán của anh. Sau đó anh viết thư vĩnh biệt gửi về cho gia đình. Thư anh viết rất xúc động, đầy trách nhiệm trước gia đình và Tổ quốc. Tôi xin trích đọc một số đoạn như sau:

Quảng Trị ngày 11/9/1972

Toàn gia đình kính thương!

Hôm nay, con ngồi đây biên vài dòng chữ cuối cùng phòng khi đã đi nghiên cứu bí mật trong lòng đất thì gia đình khỏi thấy đó là điều đột ngột.

Mẹ kính mến!

Đoạn thư anh viết cho người vợ mới cưới của mình.

Em yêu thương!

Đoạn thư anh viết cho bố mẹ vợ.

Thầy mẹ kính mến!

Con mong thầy mẹ đừng buồn nhiều, mạnh khoẻ cho đời mãi mãi kéo dài đón mừng ngày thống nhất. Thầy mẹ ạ! Chúng con sống với nhau chẳng được bao lâu,thì nay đã…Chắc em nó buồn lắm, thầy mẹ động viên em thay con. Theo con đời em con trẻ lắm, nếu ai người ta thông cảm thầy mẹ động viên em nó nên đi thêm bước nữa. Cứ ngày này thầy mẹ hãy nhớ tới con. Thôi tất cả những gì đã qua là vào dĩ vẳng ra đi con mong thầy mẹ khoẻ, sống lâu mãi mãi. Cho con gửi lời chào bà, các cậu và họ hàng thân thuộc.

Sau khi hoàn thành bức thư, đúng 3 tháng 20 ngày sau tức ngày 2/1/1973 anh Lê Văn Huỳnh đã anh dũng hi sinh khi đang làm nhiệm vụ.

Vào năm 2002, hài cốt của anh đã được tìm thấy bên dòng sông Thạch Hãn ở thôn Thượng Phước, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong và được đưa ra an táng tại quê nhà. Chị Đặng Thị Xơ vẫn ở vậy ngày đêm hương khói cho anh.

Thưa đoàn !

Sông Thạch Hãn cách phía Tây Thành Cổ khoảng 300m. Trong 81 ngày đêm của cuộc chiến, đây là đường tiếp tế nhân lực, vật lực duy nhất cho mặt trận thị xã và Thành Cổ Quảng Trị. Để cắt đứt tuyến đường tiếp tế đó, địch tăng cường ném bom bắn phá, rất nhiều chiến sỹ của ta đã hi sinh trên sông, sông Thạch Hãn mùa hè năm 1972 thực sự là một dòng sông máu. Sau ngày đất nước được giái phóng, với truyền thống uống nước nhớ nguồn, hàng năm cứ đến ngày 30/4, 27/7, 22/12 nhân dân Quảng Trị đều tổ chức thắp nến, thả hoa trên sông Thạch Hãn để tưởng nhớ, tri ân những chiến sỹ đã ngả xuống trên dòng sông và đây đã trở thành lễ hội truyền thống.

Cựu chiến binh Lê Bá Dương về thăm lại chiến trường xưa, sau khi vào thành cổ thắp nén hương cho đồng đội, ông ra đứng bên dòng Thạch Hãn mà nhắn nhũ rằng:

“Đò xuôi Thạch Hãn xin chèo nhẹ. Đáy sông còn đó bạn tôi nằm Có tuổi đôi mươi thành sóng nước Vỗ yên bờ bãi mãi ngàn năm.”

Đó cũng chính là toàn bộ nội dung về lịch sử Thành Cổ Quảng Trị mà tôi đã giới thiệu với đoàn, một lần nữa thay mặt Ban quản lý khu di tích xin gửi đến đoàn lời chúc sức khỏe và có một chuyến tham quan thật an toàn.

Vâng! Chiến tranh đã lùi xa, nhưng dư âm của cuộc chiến 81 ngày đêm mùa hè lịch sử thì vẫn còn đó. Thành Cổ Quảng Trị và dòng sông Thạch Hãn trở thành tượng đài lịch sử trong tâm khảm đồng bào cả nước. Nơi đây mãi là cội nguồn cho những xuộc hành hương ngược dòng kịch sử cho những ai muốn chiêm nghiệm lẽ sống và sự hy sinh bất tử. Nhà văn Nguyễn khải đã từng viết : “Sự sống nảy sinh từ trong cái chết, hạnh phúc hiện hình từ những hy sinh gian khổ” phải sự sống của Quảng Trị, sự sống của Thành Cổ đã hồi sinh từ biết bao khó khăn gian khổ của các chiến sĩ và đồng bào cả nước đã chiến đấu anh dũng để giành lại độc lập hòa bình cho Tổ quốc. Chúng ta, thế hệ trẻ của đất nước hãy biết trân trọng sống sao cho xứng đáng với những công lao to lớn đó của các anh để mai này dựng xây đất nước ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn

Bạn đang xem bài viết Thuyết Minh Xuyên Việt – Đồng Nai / 2023 trên website Samthienha.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!