Xem Nhiều 11/2022 #️ Tổng Cục Du Lịch Nghiên Cứu, Xây Dựng Chương Trình Hỗ Trợ Phát Triển Du Lịch Cộng Đồng Bền Vững Tại Việt Nam / 2023 # Top 16 Trend | Samthienha.com

Xem Nhiều 11/2022 # Tổng Cục Du Lịch Nghiên Cứu, Xây Dựng Chương Trình Hỗ Trợ Phát Triển Du Lịch Cộng Đồng Bền Vững Tại Việt Nam / 2023 # Top 16 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Tổng Cục Du Lịch Nghiên Cứu, Xây Dựng Chương Trình Hỗ Trợ Phát Triển Du Lịch Cộng Đồng Bền Vững Tại Việt Nam / 2023 mới nhất trên website Samthienha.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Ngày 18/12/2020, Tổng cục Du lịch đã tổ chức Hội thảo nghiên cứu, xây dựng chương trình hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng tại Việt Nam. Phó Tổng cục trưởng Nguyễn Thị Thanh Hương chủ trì hội thảo.

Phó Tổng cục trưởng TCDL Nguyễn Thị Thanh Hương phát biểu khai mạc hội thảo

Phát biểu khai mạc hội thảo, Phó Tổng cục trưởng Nguyễn Thị Thanh Hương cho biết, du lịch cộng đồng là loại hình du lịch được khai thác dựa trên các giá trị văn hóa truyền thống, cảnh quan thiên nhiên, sinh thái nông nghiệp. Thời gian qua, nhiều địa phương đã quan tâm đầu tư, khai thác, qua đó góp phần đa dạng hóa sản phẩm du lịch, thu hút ngày càng nhiều du khách đến với khu vực nông thôn, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, giữ gìn bản sắc văn hóa, tạo công ăn việc làm cho người lao động, xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội… Tuy nhiên, do chưa có những hướng dẫn, quy định cụ thể, nên mỗi địa phương tùy theo tình hình thực tế, ban hành chương trình hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng khác nhau nên hiệu quả đem lại chưa cao.

Phó Tổng cục trưởng nhấn mạnh cần phải xây dựng các quy chuẩn riêng, có kế hoạch cụ thể để hỗ trợ du lịch cộng đồng phát triển  bền vững ở Việt Nam; đồng thời gắn kết việc phát triển du lịch cộng đồng phù hợp với các tiêu chí phát triển nông thôn mới tại từng địa phương.

Phó Tổng cục trưởng đề nghị các nhà quản lý, chuyên gia, doanh nghiệp du lịch tham dự hội thảo đóng góp ý kiến về một số vấn đề sau: Một là, phân tích thực trạng và xu hướng phát triển du lịch cộng đồng hiện nay, để đưa ra những đánh giá về thuận lợi, khó khăn trong quá trình triển khai chương trình hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng tại Việt Nam. Hai là, cho ý kiến đề xuất, kiến nghị về những nội dung, yêu cầu, giải pháp cơ bản khi xây dựng chương trình hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng. Ba là, chính sách hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng phù hợp trong bối cảnh hiện nay để huy động được nhiều nguồn lực cho phát triển du lịch để vừa đảm bảo môi trường sinh thái, gìn giữ bảo vệ văn hóa, vừa đảm bảo an ninh trật tự, phát triển kinh tế và nâng cao sinh kế cho người dân.

Vụ trưởng Vụ Lữ hành Nguyễn Quý Phương báo cáo đề dẫn tại hội thảo

Báo cáo đề dẫn tại hội thảo, ông Nguyễn Quý Phương, Vụ trưởng Vụ Lữ hành, đơn vị được Lãnh đạo Tổng cục Du lịch giao chủ trì nhiệm vụ nghiên cứu cho biết, đến năm 2020, trên cả nước có khoảng 300  làng, bản, buôn, thôn, xóm có hoạt động du lịch cộng đồng. Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, đến cuối năm 2019, cả nước có hơn 5.000 homestay hoạt động với sức chứa gần 100.000 khách, trong đó có hơn 2.000 cơ sở đã được công nhận đạt chuẩn.

Các chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư phát triển du lịch cộng đồng đã được Đảng, Nhà nước ban hành. Bên cạnh đó ngành Du lịch cũng đã ban hành tiêu chuẩn làm căn cứ cho việc quản lý và định hướng nâng cao chất lượng cho loại hình du lịch cộng đồng này như: Tiêu chuẩn quốc gia nhà dân có phòng cho khách du lịch thuê TCVN 7800:2009 được ban hành năm 2009 và điều chỉnh, bổ sung năm 2017. Trong khu vực ASEAN có Tiêu chuẩn homestay ASEAN ban hành năm 2014, Tiêu chuẩn du lịch cộng đồng ASEAN ban hành năm 2015. Tuy nhiên hoạt động kinh doanh du lịch cộng đồng ở nhiều nơi vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, làm theo phong trào, thiếu chuyên nghiệp…

Toàn cảnh hội thảo

Để hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng hiệu quả và bền vững ở Việt Nam, đơn vị nghiên cứu đề xuất xây dựng Chương trình hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng với những nội dung chủ yếu gồm có: Hỗ trợ phát triển hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch; Hỗ trợ bảo tồn văn hóa dân tộc thiểu số phục vụ phát triển sản phẩm du lịch; Hỗ trợ đào tạo, tập huấn, nâng cao năng lực cho người dân tộc thiểu số tham gia phát triển du lịch; Hỗ trợ xúc tiến, quảng bá du lịch và kết hợp với các chương trình mục tiêu quốc gia khác như: Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030; Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2025; Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo và an sinh xã hội bền vững giai đoạn 2021-2025.

Giám đốc Sở VHTTDL Hà Giang Nguyễn Hồng Hải chia sẻ những bài học và kinh nghiệm phát triển du lịch cộng đồng tại địa phương

Các đại biểu tham dự hội thảo đã được nghe 14 tham luận và ý kiến đóng góp của đại diện các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, chuyên gia, doanh nghiệp du lịch và các tổ chức xã hội, cơ sở đào tạo chia sẻ những kinh nghiệm, bài học cũng như đề xuất về phát triển du lịch cộng đồng.

Phát biểu tổng kết hội thảo, Phó Tổng cục trưởng Nguyễn Thị Thanh Hương cảm ơn và đánh giá cao các ý kiến đóng góp quan trọng của các đại biểu tham dự, đồng thời giao Vụ Lữ hành tiếp thu để hoàn thiện Chương trình hỗ trợ du lịch cộng đồng bền vững tại Việt Nam trình Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phê duyệt để giúp cho các địa phương có định hướng triển khai trên toàn quốc.

Trung tâm Thông tin du lịch https://vietnamtourism.gov.vn/

Ifc Hỗ Trợ Phát Triển Du Lịch Bền Vững Tại Việt Nam Và Lào / 2023

Một dự án nghỉ dưỡng của BIM Land tại Phú Quốc.

Khoản đầu tư này sẽ giúp thu hút số lượng ngày càng lớn khách du lịch trong nước và quốc tế, nhờ đó tạo việc làm và hỗ trợ nền kinh tế trong nước.

Du lịch là một trong những động lực tăng trưởng chính của cả Việt Nam và Lào. Năm 2018, Việt Nam ghi nhận con số kỷ lục 15,5 triệu khách du lịch nước ngoài, trong khi Lào thu hút được xấp xỉ 4,2 triệu khách. Tuy nhiên, so với Thái Lan với lượng khách du lịch hàng năm ở mức 38 triệu, cả Việt Nam và Lào đều có tiềm năng tăng trưởng mạnh mẽ hơn.

Một trong những thách thức đáng kể của Lào là tình trạng thiếu cơ sở lưu trú có chất lượng ở Viêng Chăn, thủ đô và cửa ngõ tiếp nhận phần lớn khách du lịch quốc tế. Tương tự, ở Việt Nam, tình trạng kém phát triển của các điểm đến du lịch mới nổi như Đảo Phú Quốc và Vịnh Hạ Long phần nào cản trở ngành du lịch đang tăng trưởng của quốc gia. Trong bối cảnh như vậy, khoản vay dài hạn của IFC sẽ có vai trò hết sức quan trọng trong cải thiện chất lượng hạ tầng du lịch ở cả hai quốc gia, thu hút du khách quay lại và khuyến khích du khách lưu trú lâu hơn.

Ông Đoàn Quốc Huy, Tổng Giám đốc của BIM Land cho biết, với dự án này, BIM Land sẽ xây dựng thêm số lượng đáng kể, trên 1.500 phòng khách sạn hoặc căn hộ dịch vụ chất lượng quốc tế ở Viêng Chăn, Vịnh Hạ Long và Phú Quốc. Hơn nữa, quy mô và phạm vi của dự án ở Phú Quốc dự kiến sẽ thiết lập chuẩn mực môi trường và xã hội mới trong lĩnh vực bất động sản, thu hút được nhóm khách du lịch mới, cả trong nước và quốc tế.

Dự kiến, dự án sẽ tạo ra xấp xỉ 1.400 việc làm, với khoảng 60% sẽ dành cho phụ nữ. Ngoài việc sử dụng lao động tại địa phương với mức lương khá cao, dự án sẽ sử dụng khoảng 90% hàng hoá và dịch vụ từ các nhà cung cấp trong nước. IFC cũng sẽ chia sẻ những thông lệ tốt nhất để hỗ trợ công ty cải thiện kết quả kinh doanh.

Ngoài ra, nhằm theo đuổi hoạt động kinh doanh du lịch xanh và bền vững, BIM Land đã cam kết áp dụng Hệ thống Chứng chỉ Công trình Sử dụng Tài nguyên Hiệu quả (EDGE) cho các khách sạn và công trình xây dựng trong phạm vi dự án này với mục tiêu giảm tiêu thụ năng lượng, nước và năng lượng sử dụng để sản xuất vật liệu tối thiểu 20% so với các công trình tương tự.

Nguyễn Hiền

Phát Triển Du Lịch Biển Bền Vững Tại Việt Nam / 2023

Tham gia hội thảo gồm hơn 100 đại biểu là đại diện Bộ Văn hóa – Thông tin, Tổng cục Du lịch, Viện Kinh tế Quy hoạch Thủy sản, UBND tỉnh Khánh Hòa, các tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc tế, các công ty du lịch, các chuyên gia nghiên cứu về lĩnh vực này.

Rừng ngập mặn Cần Giờ

Ảnh: Văn Phương

Thiên nhiên đã ưu đãi cho Việt Nam một nguồn tài nguyên biển giàu tiềm năng với nhiều bãi biển đẹp, nhiều vịnh, đảo và dải san hô trù phú. Vì thế, du lịch biển luôn đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội đất nước. Những năm gần đây, Việt Nam được rất nhiều du khách quốc tế lựa chọn là điểm đến tham quan, nghỉ dưỡng. Trong tổng số lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam thì du khách đến các bãi biển chiếm phần đáng kể. Đó là lý do khiến du lịch biển chiếm 70% doanh thu toàn Ngành. Nhiều dự án, công trình phục vụ du lịch dọc các bờ biển không ngừng được nâng cấp và xây mới. Du lịch biển đã giải quyết việc làm và nâng cao mức sống cho nhiều lao động tại các địa phương.

Tuy nhiên, cho đến nay, việc khai thác du lịch biển vẫn chưa được thực hiện một cách đúng hướng và đúng mức. Thay vì tận dụng lợi thế tự nhiên trong quá trình đầu tư du lịch, chúng ta đã lặp lại sai lầm tại châu âu nhiều năm trước, đó là đầu tư du lịch bằng công nghệ dưới các hình thức, casino, bar… Hậu quả là các giá trị tự nhiên đang ngày càng bị suy giảm, riêng biển Việt Nam đang bị đục hóa và ô nhiễm, các rạn san hô bị gãy nát, sinh vật biển chết nhiều, ảnh hưởng đến đa dạng sinh học. Theo kết quả nghiên cứu khảo sát của các nhà khoa học, 80% tài sản vô giá của biển Việt Nam như hệ sinh thái thảm cỏ biển, rạn san hô… đang nằm trong tình trạng rủi ro và 50% trong số đó được cảnh báo là rủi ro cao, khó khắc phục. Dưới sức ép của các hoạt động du lịch, Việt Nam đang dần đánh mất hệ sinh thái ngập mặn đặc trưng hiếm có trên thế giới, làm ảnh hưởng trực tiếp đến hệ sinh thái biển. Hiện cả nước chỉ còn khoảng 155.290ha diện tích rừng ngập mặn, giảm 100.000ha so với trước năm 1990…

Ngành Du lịch đặt mục tiêu đến năm 2010 du khách đến Việt Nam sẽ tăng lên 7 – 7,5 triệu lượt khách. Như vậy, ngành Du lịch phải tăng cường công tác bảo tồn, phát triển nguồn tài nguyên thiên nhiên theo hướng bền vững; không ngừng nâng cao nhận thức cho cộng đồng; đặc biệt, cần xác định đối tượng khách du lịch chất lượng để vừa bảo vệ môi trường vừa đảm bảo nguồn thu – đó là những người biết trân trọng các giá trị văn hóa và thiên nhiên, sẵn sàng chi tiền để thưởng thức giá trị đích thực của thiên nhiên…

PT

Phát Triển Sản Phẩm Du Lịch Cạnh Tranh, Đảm Bảo Cho Du Lịch Việt Nam Phát Triển Bền Vững – Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch (Itdr) / 2023

Sản phẩm du lịch tạo nên sự khác biệt trong phát triển du lịch, tạo nên thương hiệu và hình ảnh của mỗi điểm đến du lịch, của mỗi địa phương, mỗi vùng và mỗi quốc gia. Sản phẩm du lịch được hình thành trên cơ sở kết hợp giữa các giá trị tài nguyên du lịch, các điều kiện về cơ sở hạ tầng xã hội, hệ thống các dịch vụ và khả năng đáp ứng của các cơ sở du lịch. Như vậy, việc nghiên cứu xây dựng các sản phẩm du lịch, trước hết cần nghiên cứu các yếu tố về “Cầu du lịch”, bao gồm đặc điểm tâm lý, văn hóa, nhu cầu, sở thích, khả năng thu nhập, xu hướng đi du lịch, điểm đến, sản phẩm du lịch ưa thích… của các thị trường khách du lịch; và về “Cung du lịch”, bao gồm các đặc điểm về giá trị tài nguyên du lịch (thế mạnh, đặc thù…), các điều kiện về cơ sở hạ tầng xã hội, hệ thống các dịch vụ và khả năng đáp ứng (cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, con người…). Ngoài ra, việc nghiên cứu xây dựng các sản phẩm du lịch cần tuân theo nguyên tắc phát triển bền vững (kéo dài vòng đời của sản phẩm du lịch), có tính đặc thù riêng, có thương hiệu và đủ khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và nước ngoài.

Việt Nam có nguồn tài nguyên du lịch rất phong phú và đa dạng cả về mặt tự nhiên (các di sản tự nhiên thế giới; các vườn quốc gia, khu bảo tồn gắn với đa dạng sinh học; biển đảo; sông hồ; hệ thống hang động; các nguồn suối khoáng…) lẫn về mặt văn hóa (các di sản văn hóa thế giới; hệ thống các di tích lịch sử văn hóa – cách mạng; các làng nghề; các lễ hội truyền thống; văn hóa ẩm thực…). Đây là một trong những điều kiện cần rất quan trọng để xây dựng các sản phẩm du lịch. Sự phân bố tài nguyên du lịch theo lãnh thổ cũng rất khác nhau. Mỗi vùng miền ở Việt Nam đều có những đặc điểm riêng về các điều kiện tự nhiên, văn hóa xã hội và có những đặc trưng riêng về tài nguyên du lịch. Do vậy, sự hình thành và phát triển sản phẩm du lịch ở mỗi vùng miền cũng khác nhau, có những nét đặc thù riêng. Trong những năm qua, hệ thống lãnh thổ du lịch Việt Nam được hình thành và phát triển theo các vùng khác nhau dựa trên vị trí địa lý cũng như các đặc điểm về tự nhiên và tài nguyên du lịch tự nhiên; dựa trên các đặc điểm về dân cư, dân tộc và tài nguyên du lịch văn hóa; dựa trên các điều kiện về kinh tế – xã hội và hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển du lịch. Hệ thống các sản phẩm du lịch Việt Nam cũng được hình thành và phát triển theo các vùng du lịch với những đặc trưng riêng, với sự độc đáo và hấp dẫn riêng. Tuy nhiên, các sản phẩm du lịch còn trùng lặp giữa các vùng, chưa có tính đặc trưng và hấp dẫn riêng, chất lượng chưa cao… Như vậy, việc xây dựng định hướng phát triển các sản phẩm du lịch đặc trưng của Việt Nam, có khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo cho phát triển bền vững, trước hết cần tập trung khai thác dựa trên các giá trị tài nguyên du lịch khác biệt. Căn cứ vào các giá trị đặc thù về tài nguyên du lịch của Việt Nam – một trong những yếu tố cấu thành nên sản phẩm du lịch; căn cứ vào các điều kiện hạ tầng, các điều kiện kinh tế – xã hội; căn cứ vào các xu thế phát triển du lịch trong nước và quốc tế…; có thể định hướng phát triển các sản phẩm du lịch cạnh tranh của Việt Nam phù hợp với nhu cầu của thị trường gồm các nhóm sản phẩm sau: 1. Du lịch di sản thế giới của Việt Nam: Tính đến tháng 8/2020, tổng cộng Việt Nam đã có 39 di sản được UNESCO vinh danh, cụ thể: 08 di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, 13 di sản văn hóa phi vật thể, 07 di sản tư liệu, 09 khu dự trữ sinh quyển thế giới và 03 công viên địa chất toàn cầu. Về di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, Việt Nam có 5 di sản văn hóa vật thể thế giới: Quần thể di tích cố đô Huế (1993); Đô thị cổ Hội An (1999); Di tích Thánh địa Mỹ Sơn (1999); Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long (2010); Thành nhà Hồ (2011); 2 di sản tự nhiên thế giới: Vịnh Hạ Long (1994); Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng (2003); 1 di sản hỗn hợp thế giới: Quần thể danh thắng Tràng An (2014); 13di sản văn hóa phi vật thể: Nhã nhạc cung đình Huế (2008) ; Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên (2008); Dân ca Quan họ Bắc Ninh (2009); Hát ca trù (2009) (di sản cần bảo vệ khẩn cấp); Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc (2010); Hát Xoan Phú Thọ (2011).(chuyển từ di sản cần bảo vệ khẩn cấp sang di sản đại diện nhân loại vào năm 2017); Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương (2012); Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ (2013); Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh (2014); Nghi lễ và trò chơi kéo co (2015); Thực hành Tín ngưỡng thờ mẫu Tam phủ của người Việt (2016); Bài Chòi Trung Bộ (2017); Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở VN (2019); và 7 di sản tư liệu thuộc chương trình Ký ức Thế giới: Mộc bản Triều Nguyễn (2009); 82 bia đá các khoa thi Tiến sĩ thời Lê – Mạc (2011); Châu bản Triều Nguyễn (2017); Mộc bản kinh phật chùa Vĩnh Nghiêm (2012); Hệ thống văn thơ trên kiến trúc cung đình Huế (2016); Mộc bản trường học Phúc Giang (2016); Hoàng hoa sứ trình đồ (2018). Đây là những tài nguyên du lịch hết sức đặc sắc, mang tính đặc trưng văn hóa của Việt Nam. Trên cơ sở khai thác các giá trị văn hóa đặc trưng này, có thể xây dựng các sản phẩm du lịch mang tính đặc thù, có chất lượng cao, đủ khả năng cạnh tranh như Du lịch tham quan nghiên cứu các di sản thế giới của Việt Nam; Du lịch Con đường Di sản Miền Trung; Du lịch huyền thoại Tây Nguyên; Du lịch Cung Đình; Du lịch hát dân ca Quan họ… Các sản phẩm du lịch thuộc nhóm Du lịch di sản thế giới của Việt Nam có thể đáp ứng cho các đối tượng khách có thu nhập cao, có trình độ học vấn, ham hiểu biết về văn hóa… (có thể đến từ mọi quốc gia).

2. Du lịch tham quan thắng cảnh, nghiên cứu văn hóa: Việt Nam có nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng, có một kho tàng văn hóa đặc sắc trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của 54 dân tộc anh em. Đó là hệ thống các di tích văn hóa lịch sử – cách mạng; là hệ thống các lễ hội, làng nghề truyền thống; là văn hóa ẩm thực của các vùng miền, của các dân tộc; là các di sản văn hóa văn nghệ dân gian… Đây là nguồn tài nguyên du lịch thế mạnh và mang tính khác biệt của Việt Nam. Dựa trên nguồn tài nguyên đặc sắc này có thể xây dựng các sản phẩm du lịch mang tính đặc trưng riêng cho từng vùng, miền…, theo các chuyên đề khác nhau: Du lịch tham quan thắng cảnh (Hạ Long, Thác Bản Giốc, Ba Bể, Tràng An, Đà Lạt, sông nước đồng bằng sông Cửu Long…); Du lịch tham quan nghiên cứu làng nghề (Bát Tràng, Vạn Phúc, Làng Sình,…); Du lịch lễ hội (Hội Gióng, Yên Tử, Đền Hùng, Chọi Trâu, Núi Bà Đen, Núi Sam…); Du lịch thưởng thức văn hóa văn nghệ dân gian (Rối nước, Ca Trù, Quan họ, Hát Xoan, Cải Lương…). Các sản phẩm du lịch thuộc nhóm Du lịch tham quan thắng cảnh, nghiên cứu văn hóa có thể đáp ứng cho mọi đối tượng khách có thu nhập từ trung bình, ưa khám phá, ham hiểu biết về văn hóa… (có thể đến từ mọi quốc gia).

3. Du lịch nghỉ dưỡng biển, đảo gắn với các resorts cao cấp: Với hàng ngàn km bờ biển; hàng ngàn đảo lớn nhỏ; hàng trăm bãi tắm cát trắng quanh năm đầy nắng và gió với nước biển trong xanh, ấm áp… Việt Nam thực sự là thiên đường của biển đảo. Đây là một lợi thế lớn về tiềm năng du lịch biển của Việt Nam, có thể khai thác xây dựng các resorts nghỉ dưỡng cao cấp (có thể tạo nên thương hiệu cho du lịch Việt Nam) kết hợp với nhiều sản phẩm du lịch khác (nghỉ dưỡng, tắm biển, tắm khoáng, chơi golf, thể thao biển, đua thuyền, lướt sóng, lặn biển xem san hô, du lịch tàu ngầm…). Các khu vực có thể xây dựng các resorts nghỉ dưỡng cao cấp – thương hiệu du lịch Việt Nam bao gồm Trà Cổ, Cô Tô, Quan Lạn, Lăng Cô, Nha Trang, Cam Ranh, Ninh Chữ, Mũi Né, Long Hải, Côn Đảo, Phú Quốc… Các sản phẩm du lịch thuộc nhóm Du lịch nghỉ dưỡng biển, đảo có thể đáp ứng cho các đối tượng khách có thu nhập khá và cao, có thời gian lưu trú dài, sẵn sàng sử dụng các dịch vụ bổ trợ như chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng… (có thể đến từ mọi quốc gia, đặc biệt là người trung niên Nhật Bản, các thị trường Nga, Đông Âu…). 4. Du lịch nghỉ dưỡng núi (khí hậu ôn đới trong lòng nhiệt đới): Ở Việt Nam có một số cao nguyên, núi cao có khí hậu ôn hòa quanh năm, cảnh quan đẹp… thích hợp cho nghỉ dưỡng phục hồi sức khỏe. Đây là một nét đặc trưng khác biệt về tài nguyên du lịch so với các nước trong khu vực. Do vậy, có thể khai thác các lợi thế này để xây dựng các resorts nghỉ dưỡng núi cao cấp (cũng có thể tạo nên thương hiệu cho du lịch Việt Nam) nhằm phục vụ các đối tượng khách có thu nhập cao. Tại các khu resorts nghỉ dưỡng núi cao cấp này có thể xây dựng bổ sung các sản phẩm du lịch kết hợp như tắm khoáng, tắm thuốc, vật lý trị liệu – phục hồi chức năng, chơi golf, casino… Các khu vực có thể xây dựng các resorts nghỉ dưỡng núi cao cấp bao gồm Mẫu Sơn, Sa Pa, Mộc Châu, Tam Đảo, Ba Vì, Bạch Mã, Bà Nà, Đà Lạt, Măng Đen… Các sản phẩm du lịch thuộc nhóm Du lịch nghỉ dưỡng núi có thể đáp ứng cho các đối tượng khách có thu nhập cao, có thời gian lưu trú dài, sẵn sàng sử dụng các dịch vụ bổ trợ như chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng… (có thể đến từ mọi quốc gia, đặc biệt là người cao tuổi Nhật Bản, Hàn Quốc, các thị trường Tây Âu, ASEAN…). 5. Du lịch sinh thái, miệt vườn cây trái, sông nước: Việt Nam hiện có 33 vườn quốc gia, 9 khu dự trữ sinh quyển thế giới và hàng trăm khu bảo tồn tự nhiên được phân bố khắp trong cả nước; có các hệ sinh thái đa dạng với giá trị đa dạng sinh học cao (hệ sinh thái san hô; hệ sinh thái đất ngập nước; hệ sinh thái vùng cát ven biển; các hệ sinh thái rừng nhiệt đới…). Ngoài ra, vùng đồng bằng Sông Cửu Long có hệ thống kênh rạch chằng chịt, có nhiều khu rừng ngập mặn, và các miệt vườn đầy cây trái quanh năm tốt tươi trĩu quả… Đây thực sự là những tài nguyên quý giá và là thế mạnh của Việt Nam để phát triển du lịch sinh thái, du lịch sông nước, du lịch miệt vườn đồng quê. Với các giá trị tài nguyên đặc sắc này, Du lịch Việt Nam có thể khai thác xây dựng các sản phẩm du lịch đặc trưng sau: Du lịch nghiên cứu, sinh thái (xem thú ở vườn quốc gia Cát Tiên; xem chim ở vườn quốc gia Tràm Chim, Xuân Thủy, Cà Mau; lặn biển xem san hô ở Hạ Long, Cù Lao Chàm, Vịnh Nha Trang, Côn Đảo, Phú Quốc; xem rùa đẻ trứng ở Côn Đảo…); Du lịch sông nước – miệt vườn (tham quan các miệt vườn, thưởng thức cây trái và Đờn ca tài tử đồng bằng Sông Cửu Long; tham quan các chợ nổi; khám phá các khu rừng ngập mặn Cần Giờ, U Minh, Đất Mũi…). Các sản phẩm du lịch thuộc nhóm Du lịch sinh thái, miệt vườn cây trái, sông nước có thể đáp ứng cho các đối tượng khách có thu nhập cao, độ tuổi trẻ đến trung niên, có trình độ học vấn, ham hiểu biết, thích khám phá tự nhiên… (có thể đến từ mọi quốc gia, đặc biệt là các nước Nhật Bản, Úc, Mỹ, Niu Di Lân, các nước Tây Âu…). 6. Du lịch tham quan, nghiên cứu, thám hiểm hang động: Hệ thống hang động ở Việt Nam rất đa dạng và phong phú, được phân bố tương đối rộng khắp, đặc biệt là ở vùng núi phía Bắc và Bắc Trung Bộ. Có những hang động gắn liền với quá trình tiến hóa của người Việt cổ (Động Người Xưa, Hang Xóm Trại, Hang Con Moong, Núi Đọ…); có những hệ thống hang động gắn liền với những danh thắng hùng vĩ – di sản thế giới Vịnh Hạ Long (động Thiên Cung, Hang Trinh Nữ, Hang Sửng Sốt, Hang Bồ Nâu, Hang Đầu Gỗ…); có những hang động đã được mệnh danh là đẹp nhất thế giới với 11 kỷ lục Guinness (hang nước dài nhất, có cửa hang cao và rộng nhất, có bãi cát và đá rộng đẹp nhất, có hồ ngầm đẹp nhất, có thạch nhũ tráng lệ và kỳ ảo nhất, có dòng sông ngầm dài nhất, có hang khô rộng và đẹp nhất), đó là Động Phong Nha – Di sản thế giới. Chỉ từng đấy thôi cũng đủ cho thấy hệ thống hang động là một thế mạnh, là sự khác biệt về tài nguyên của du lịch Việt Nam. Với thế mạnh đó, với sự khác biệt đó, Du lịch Việt Nam có thể khai thác xây dựng các sản phẩm du lịch đặc thù, có khả năng cạnh tranh như sau: Du lịch khảo cổ học (gắn với hệ thống hang động), Du lịch thám hiểm Động Phong Nha – Di sản thế giới (hoặc là Du lịch thám hiểm Động Phong Nha – các kỷ lục guinness), Du lịch khám phá Hạ Long kỳ ảo – Kỳ quan thế giới… Các sản phẩm du lịch thuộc nhóm Du lịch tham quan, nghiên cứu, thám hiểm hang động có thể đáp ứng cho các đối tượng khách là các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu – thám hiểm, những khách có thu nhập cao, độ tuổi trẻ đến trung niên, có trình độ học vấn, ham hiểu biết, thích khám phá, ưa mạo hiểm… (có thể đến từ mọi quốc gia, đặc biệt là các nước Anh, Pháp, Úc, Mỹ, Canada, Nhật Bản, Niu Di Lân…).

7. Du lịch thể thao mạo hiểm theo các chuyên đề đặc biệt (lặn biển, leo núi, vượt thác, khinh khí cầu, nhảy dù, tàu lượn, tàu ngầm…): Việt Nam có nhiều kiểu địa hình đa dạng, từ vùng núi cao đến vùng đồi trung du, đồng bằng, ven biển, hải đảo… Địa hình đa dạng, đặc biệt là kiểu địa hình vùng núi cao đã tạo nên nhiều thắng cảnh với những đỉnh núi cao, vực sâu, những thác nước hùng vĩ (vùng núi Tây Bắc, dãy Trường Sơn, Tây Nguyên…). Đây là những giá trị tài nguyên đặc trưng và điều kiện cần thiết để phát triển các loại hình du lịch thể thao mạo hiểm. Với những đặc điểm về địa hình đa dạng, Du lịch Việt Nam có thể khai thác xây dựng các sản phẩm du lịch thể thao mạo hiểm như sau: Du lịch chinh phục Nóc nhà Đông Dương (leo đỉnh Fansipan 3.143m) hoặc Du lịch leo núi – Chinh phục các đỉnh cao (Fansipan, Pusilung 3.076m, Puluông 2.893m, Tây Côn Lĩnh 2.419m…); Du lịch khinh khí cầu (lượn trên bầu trời Vịnh Hạ Long, Vịnh Nha Trang, Tây Nguyên, vùng núi Tây Bắc hùng vĩ…); Du lịch tàu lượn, nhảy dù (ở những vùng thung lũng, cao nguyên có cảnh quan đẹp như Lang Biang – Đà Lạt, Mộc Châu – Sơn La, Sìn Hồ – Lai Châu…); Du lịch lặn biển, du lịch tàu ngầm (vùng biển Hạ Long, Cô Tô, Cù Lao Chàm, Vịnh Nha Trang, Côn Đảo, phú Quốc…). Các sản phẩm du lịch thuộc nhóm Du lịch thể thao mạo hiểm theo các chuyên đề đặc biệt có thể đáp ứng cho các đối tượng khách là thanh thiếu niên (có thể cho cả lứa tuổi trung niên), thích khám phá, ưa mạo hiểm… (có thể đến từ mọi quốc gia, đặc biệt là các nước Úc, Niu Di Lân, Canada, Nhật Bản, ASEAN…).

TS. Lê Văn Minh – Trưởng phòng Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách và Môi trường Du lịch

Bạn đang xem bài viết Tổng Cục Du Lịch Nghiên Cứu, Xây Dựng Chương Trình Hỗ Trợ Phát Triển Du Lịch Cộng Đồng Bền Vững Tại Việt Nam / 2023 trên website Samthienha.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!