Ảnh Hưởng Của Phật Giáo Với Con Người Việt Nam

--- Bài mới hơn ---

  • Ảnh Hưởng Của Phật Giáo Đến Đời Sống Tinh Thần Người Việt
  • Sự Du Nhập Của Phật Giáo Vào Nước Ta Và Ảnh Hưởng Của Nó Trong Tk 10
  • Luận Văn Tiểu Luận Ảnh Hưởng Của Triết Học Phật Giáo Đến Đời Sống Tinh Thần Của Người Việt Nam
  • Toàn Cảnh Khu Du Lịch Lá Phong Với Bộ Album Ảnh Cực Chất
  • Top 10 Địa Điểm, Khu Du Lịch Sinh Thái Đẹp Ở Bình Dương 2022
  • Từ khi du nhập Việt Nam đến nay, Phật giáo đã tồn tại và gắn liền với lịch sử dân tộc, nó ngấm sâu vào tư duy và trở thành một bộ phận văn hoá, nếp sống của người Việt. Vậy nó ảnh hưởng đến con người Việt Nam như thế nào? 1. Đặc điểm tư duy người Việt Nam ta trong truyền thống là hướng nội.

    Hướng ngoại là thiên về nghiên cứu thế giới vật chất bên ngoài. Hướng nội là thiên về nghiên cứu thế giới tinh thần bên trong. Thiền tông đã đề xuất chủ trương “dĩ tâm truyền tâm”. Do đạo Phật quan niệm vạn vật đồng nhất thể, nên bản thể vũ trụ cũng tiềm ẩn trong mỗi con người. Bởi vậy khi làm cho bản thể trong mỗi cá nhân hoà đồng với bản thể vũ trụ, thì ta và thế giới hoà làm một. Muốn đạt được điều đó thì phải có trí tuệ hay Phật học gọi là Bát Nhã. Nhưng để đi đến cái đó, mỗi người phải tự khai mở tâm mình, “hãy tự thắp đuốc lên mà đi”, mà bước đầu là phải có sự biến đổi về mặt đạo đức theo hướng thiện. Điều này hợp với người Việt với truyền thống nghiêng về trau dồi tâm tính, đạo đức luân lý hơn là học hỏi trau dồi tri thức hiện đại.

    Điểm này khiến người Việt trong cuộc sống đề cao cái tâm, lối sống tình cảm. Cách suy nghĩ và lối sống mang nặng màu sắc tình cảm, một mặt giúp nhân dân ta trong những thời hoạn nạn, thiên tai, địch hoạ… nhưng nó cũng làm hạn chế sự tiến bộ của khoa học – kỹ thuật.

    2. Đặc điểm tư duy người Việt là chú ý nhiều tới các quan hệ.

    Cùng một sự vật, hiện tượng chúng ta thường hoặc quan tâm đến cấu trúc, bản chất hoặc nghiên cứu những mối liên hệ, quan hệ với những sự vật , hiện tượng khác. Đương nhiên phương Đông chú trọng mối quan hệ nhiều hơn. Xuất phát từ “dịch”, “vô thường”, người phương Đông cho rằng không có gì là trường tồn, đứng yên mà vạn vật luôn vận động, biến đổi không ngừng. Vì vạn vật sinh sinh, hoá hoá, sắc sắc, không không nên cái ta thấy được chỉ là những mối liên hệ thấp thoáng giữa các trạng thái của sự vật trong quan hệ với những sự vật khác.

    Để chỉ những mối liên hệ, Phật giáo có luật nhân quả. Nhân quả là chỉ mối quan hệ phổ biến mọi sự vật, hiện tượng. Không có cái tôi độc lập, không có thế giới tác rời “cái tôi, không có “cuộc sống” tách rời – tất cả những cái đó là những tương tác chặt chẽ và chỉ bị tách rời nhau trong tưởng tượng. Do vậy mà người phương Đông, Việt Nam theo đạo Phật thường để ý nhiều đến mối quan hệ, chủ yếu cảm tính, đạo đức nên nhiều nhìn nhận sai lệch, có tính chủ quan duy ý trí. Do đó, cuộc sống người Việt Nam thường chú ý nhiều đến quan hệ họ hàng, làng xóm, xã hội sao cho khôn khéo, tế nhị.

    Chiều sâu ảnh hưởng của Phật giáo.

    Tư duy người Việt có thêm 1 loạt khái niệm lấy từ Phật giáo. Những khái niệm đó góp phần làm tăng những khái niệm mang tính triết lý của người Việt, khiến tư duy người Việt mang tính khái quát hơn, trừu tượng hơn. Ngoài ra, ảnh hưởng của Phật giáo lên cách tư duy còn thể hiện ở quan niệm về sự phát triển của vạn vật qua 4 giai đoạn: sinh (ra đời, xuất hiện) , trụ (tồn tại, hiện hữu), dị (phát triển, tiến hoá, biến đổi) và diệt (tử, chết, biến mất), còn ở con người đó là sinh, lão, bệnh, tử. Đó là sự phát triển tự nhiên, tất yếu của mọi sự vật, hiện tượng, mọi sự sống.

    Các khái niệm “vô thường”, “vô ngã” cũng ảnh hưởng nhiều tới hệ tư tưởng phong kiến Việt Nam. Theo quan niệm nhà Phật thì mọi sự vật, hiện tượng là sự kết hợp động của những yếu tố, động (Pháp), bởi vậy chúng luôn vận động không ngừng. Phật giáo đóng góp 1 cách nhìn nhận thế giới động, phù hợp với sự phát triển sự vật.

    Áp dụng triệt để luật vô thường vào việc phân tích con người, Phật giáo cho rằng người là kết hợp động của 5 yếu tố – ngũ uẩn, bởi vậy con người không có cái gọi là bản ngã mà là vô ngã. Cách nhìn này đã khiến con người sống một cách không sợ và vị tha.

    Khi quan sát thế giới bên ngoài, Phật giáo đã nhìn ra một mối quan hệ phổ biến, cơ bản giữa các sự vật, hiện tượng – đó là mối quan hệ nhân – duyên – quả. Thuyết này là sự phản ánh khái quát rút ra từ thế giới hiện tượng, đặ biệt là khi xem xét sự phát triển của tự nhiên. Cách nhận thức hợp lý này đã cung cấp cho người Việt một cách suy nghĩ mang tính chất nhân quả để nhìn con người, cuộc sống, vạn vật: “nhân nào, quả nấy”,”gieo gió, gặp bão”, “ở hiền gặp lành”….

    Các học giả đều cho rằng chưa có một học thuyết, một tôn giáo nào phân tích thế giới nội tâm, trong đó có tư duy sâu sắc như Phật giáo. Theo Phật học thì tư duy, ý thức của con người tựa như một dòng sông của ý niệm tuôn chảy không ngừng. Trong một sátna( thời gian búng ngón tay), tâm ý ta đã trải qua 960 lần chuyển niệm, trong thời gian một ngày đêm, nó trải qua 13 ức triệu niệm. Dưới dòng sông tuôn trào này, ở nơi sâu thẳm vô hình đâu đó là A lại da thức (Tạng thức) – nơi tàng trữ mọi mầm mống của vũ trụ. Tuy khó hình dung nhưng Phật giáo đã cung cấp cho ta một cái nhìn động về tư duy, ý thức. Phật giáo chỉ cho ta rằng muốn có tư duy, suy nghĩ đúng thì điều kiện cần là phải tập trung tư tưởng.

    Tư tưởng, tư duy, ý thức của con người giống như ngọn đèn. Nếu cứ để bình thường thì toả sáng 4 phương, nhưng nếu biết tập trung toàn bộ ánh sáng vào một điểm, hội tụ chúng lại, thì điểm này trở nên rất sáng và mạnh. Vai trò của Thiền đối với tư duy cũng giống như việc tập trung ánh sáng vậy. Nó là một phương pháp khoa học.

    Phật giáo còn dạy muốn suy nghĩ thật khách quan cần phải có cái tâm bình tĩnh, tỉnh táo. Tâm nhảy nhót như khỉ vượn, bị thiêu đốt bởi tham lam, hận thù, si mê, tâm đứng ở nhị kiến, thích và không thích, yêu và ghét, thì nhận thức không thể nào khách quan được. Tâm như vậy giống như mặt nước hồ qua trận cuồng phong làm nổi sóng, vẩn đục và không thể nào thấy được những viên cuội dưới đáy sông.

    Đạo Phật cũng đóng góp một khía cạnh phương pháp nhận thức quan trọng – đó là mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, tinh thần và tự nhiên hay tâm và vật. Một mặt thì tâm và vật không tách rời nhau. Không có vật thì cũng chẳng có tâm. Ngược lại, không có tâm thì vật như thế nào ta cũng không biết. Sở dĩ có vật là vật do ta đã quẳng cái tâm vào đó rồi.

    Mặt khác, không chỉ có vật chất, giới tự nhiên, vật luôn vận động mà ý thức, tinh thần, tâm cũng luôn vận động. Hai cái luôn vận động như vậy, cậy làm thế nào để nắm bắt, nhận thức được cái thứ hai. Đứng trước vấn đề này Phật giáo đã đưa ra giải pháp như đã trình bày là tập trung tư tưởng, giữa cho tâm yên tĩnh, tỉnh táo. Như vậy ở đây Phật giáo dùng cái tĩnh trong sáng được tập trung cao độ để nắm bắt cái động, “dĩ biến bất biến ứng vạn biến”. Đây là một vấn đề khá lý thú so với nhận thức thông thường.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luận Văn Ảnh Hưởng Của Tình Hình Kinh Tế , Chính Trị Đến Sự Phát Triển Du Lịch Ở Việt Nam
  • Tác Động Của Du Lịch Đến Kinh Tế
  • 10 Nguyên Tắc Du Lịch Một Mình
  • Là Người Trẻ, Hãy Thử Đi Du Lịch Một Mình Ít Nhất Một Lần Trong Đời
  • Xem Ngày Đẹp Đi Du Lịch Và Giờ Xuất Hành Tốt Nhất Tháng 1/2021 * Du Lịch Số
  • Ảnh Hưởng Của Phật Giáo Đến Đời Sống Tinh Thần Người Việt

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Du Nhập Của Phật Giáo Vào Nước Ta Và Ảnh Hưởng Của Nó Trong Tk 10
  • Luận Văn Tiểu Luận Ảnh Hưởng Của Triết Học Phật Giáo Đến Đời Sống Tinh Thần Của Người Việt Nam
  • Toàn Cảnh Khu Du Lịch Lá Phong Với Bộ Album Ảnh Cực Chất
  • Top 10 Địa Điểm, Khu Du Lịch Sinh Thái Đẹp Ở Bình Dương 2022
  • Top 10 Khu Du Lịch Sinh Thái Ở Gần Sài Gòn Đẹp, Nên Đi 2022
  • Phật giáo khi du nhập vào Việt Nam được tiếp nhận dễ dàng, tự nhiên vì tư tưởng có nhiều điểm tương đồng với phong tục, tập quán, truyền thống của dân tộc. Phật giáo từ ngoại lai trở thành bản địa, từ xa lạ trở thành thân thuộc với mọi người. Có thể nói, chính truyền thống sẵn có của dân tộc đã dễ dàng hòa quyện với giáo lý Phật giáo, tạo nên một chủ nghĩa tích cực mang màu sắc Việt Nam, một nhân tố bền vững trong nhân sinh quan của dân tộc. Tư tưởng của Phật giáo rất đồ sộ, có ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của người Việt.

    Tư tưởng Phật giáo hướng đến đạo đức, từ bi, khoan dung

    Phật giáo chủ trương đem tình yêu thương đến với mọi người. Từ bi là phạm trù thuộc tứ vô lượng tâm, bao gồm: từ, bi, hỷ, xả. Tâm từ là tình thương bao la, không giới hạn; đem lại hạnh phúc cho mọi người, mọi loài, cứu khổ, cứu nạn cho chúng sinh mà quên đi những lợi ích của bản thân. Tâm bi là thương xót vô lượng, vô biên nhưng không bi lụy, vì thế trở thành động lực cho việc cứu khổ, cứu nạn. Đây cũng là đức tính giúp cho con người sống cao thượng hơn, gần gũi hơn. Tâm hỷ là sống vui vẻ, bất kể thất bại, nghịch cảnh, vui với thành công của người khác là vô lượng vô biên. Tâm xả là đem hết sức mình để cứu người, giúp người không mong bù đắp, là tinh thần hy sinh vì tha nhân. Tâm từ và tâm bi là tiền đề, khởi đầu cho tâm hỷ, tâm xả. Sự rung động, lòng trắc ẩn, cao thượng hướng về nỗi đau của người khác sẽ định hướng cho con người trong lý trí, hành động, sẵn sàng quên mình vì mọi người. Xây dựng tứ vô lượng tâm, Phật giáo muốn nhấn mạnh vào cái tâm của con người, đó là đạo đức, lòng người, trí tuệ. Cái tâm của con người nằm trong mối quan hệ biện chứng với xã hội. Do đó, khi nói đến đạo đức của Phật giáo, người ta thường nói đến từ bi, hỷ, xả, vô ngã, vị tha, cho nên tứ vô lượng tâm vừa là cái thiện hoàn chỉnh, vừa là lòng khoan dung rộng lớn của Phật giáo.

    Nhân sinh quan Phật giáo đã hòa đồng với tập quán, tín ngưỡng truyền thống của người Việt Nam. Đạo đức xã hội coi trọng chữ tâm, coi đây là gốc để tạo nên sức mạnh, động lực cho sự phát triển xã hội. Tư tưởng Phật giáo đã góp phần củng cố đạo đức xã hội, tôn vinh những giá trị văn hóa dân tộc, khơi dậy tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách, góp phần tạo nên nhân cách con người. Tư tưởng Phật giáo phù hợp với truyền thống nhân đạo, thương người như thể thương thân của đạo lý người Việt. Tinh thần này còn được biểu hiện cao độ ở trong đối xử với tù nhân ở các cuộc chiến tranh nhân dân, khi đã quy hàng thì luôn nhận được sự đối xử khoan hồng của nhân dân ta; những kẻ lầm đường, lạc lối khi đã hối lỗi cũng luôn nhận được sự tha thứ của dân tộc.

    Xây dựng triết lý lấy vị tha làm lẽ sống cao cả, lý tưởng của mình

    Phật giáo nói đạo lý vô ngã là muốn con người hiểu rằng cái tôi thực ra chỉ là giả tướng do 4 đại: đất, nước, lửa, gió tạm thời hợp nhau tạo thành, theo quy luật có ngày nó sẽ bị tan rã, suy yếu, già rồi chết. Do vậy, con người không nên mê muội theo đuổi danh lợi, không cần thiết phải tranh giành mà cần phải độ lượng, khoan dung với mọi người. Đó cũng chính là cách con người hoàn thiện bản thân để tiến tới giải thoát. Với thuyết vô thường, vô ngã, Phật giáo đem lại cho con người một triết lý sống vị tha, nhân bản. Khi đã thấu suốt được chân lý này, con người sẽ vươn lên khỏi cuộc sống vị kỷ mà sống theo tinh thần từ, bi, hỷ, xả, vô ngã, vị tha. Như vậy, Phật giáo là một tôn giáo giàu tình thương, yêu chuộng hòa bình. Với lý tưởng nhân văn, bác ái, Phật giáo dễ gắn bó với quần chúng, gần gũi với quan niệm nhân đạo cộng sản chủ nghĩa.

    Yêu nước là giá trị cao nhất của người Việt Nam. Một dân tộc phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh, nhưng trong đời sống luôn tha thiết hòa bình, quan văn trọng hơn quan võ. Ngay từ khi được du nhập vào nước ta, Phật giáo đã thẩm thấu vào truyền thống yêu nước trong suốt chiều dài lịch sử truyền thống dân tộc, thâm nhập vào đạo đức dân tộc theo truyền thống vì nghĩa, vì nước. Các triều đại Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần đã có nhiều vị cao tăng là quốc sư, giúp vua về chính trị, quân sự, nội trị bang giao được lưu truyền trong sử sách. Các thiền sư giúp vua nhưng không tham quyền, tham lợi nên luôn được vua tin tưởng. Các thiền sư ở Việt Nam tu hành không phải theo lối bi quan, yếm thế mà luôn đồng hành cùng dân tộc, nhất là trong những thời điểm lịch sử khi đất nước có giặc ngoại xâm. Điều này có thể coi là sự hóa thân của Phật giáo vào truyền thống đạo đức của dân tộc.

    Không phải chỉ khi Phật giáo là quốc giáo mà ngay cả khi đã nhường chỗ cho Nho giáo vào đầu TK XV thì ảnh hưởng của nó đến đời sống đạo đức của nhân dân ta vẫn rất đậm nét. Chẳng hạn tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi: việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, quân điếu phạt trước lo trừ bạo cũng rất gần gũi, tương đồng với đạo đức Phật giáo.

    Nếp sống của con người Việt Nam hướng nội, rất nhạy cảm trước mọi niềm vui, nỗi buồn của người khác, sẵn sàng chia sẻ, đồng cam cộng khổ với những người xung quanh. Cái nghĩa ấy, ngoài yếu tố truyền thống, cũng có ảnh hưởng từ giáo lý nhân sinh Phật giáo. Bởi vậy, trong giải quyết các mối quan hệ, người Việt đề cao việc lấy cái tâm làm gốc, thiên về tình cảm. Trong gia đình, việc thờ cúng tổ tiên là một truyền thống, đạo lý của người Việt Nam, được cộng hưởng bởi đạo đức Phật giáo.

    Đạo đức Phật giáo hướng thiện, chống cái ác, cảm hóa con người

    Trong giáo lý Phật giáo, dù ở bất kỳ tập kinh, luận hay luật nào, dù ít hay nhiều cũng ngầm chứa những tư tưởng về cái thiện, mà tiêu chí đầu tiên là bất sát. Giá trị cao đẹp của đạo đức Phật giáo là từ bi, cứu khổ, cứu nạn. Nó vượt qua thời gian, không gian vì nó nhằm bảo vệ, phát huy, duy trì nhân bản, làm điều lành, hướng về điều lành hoặc ít nhất là đừng làm cái ác, đừng hướng về cái ác. Thuyết nghiệp báo, nhân quả, luân hồi với mục đích thiết thực của Phật giáo mong muốn ai cũng làm điều thiện, tránh điều ác. Nó có giá trị trong việc giáo dục, thực hành đạo đức, con người gieo nhân nào thì sẽ được quả ấy. Chính vì vậy, đã góp phần nâng cao trách nhiệm của mỗi cá nhân, có tác dụng điều chỉnh không chỉ ý thức đạo đức mà cả hành vi đạo đức của con người. Phạm vi ảnh hưởng của nó không chỉ với Phật tử mà còn cả xã hội. Trách nhiệm của cá nhân theo luật nhân quả là trách nhiệm cao nhất đối với đạo đức của chính mình, cố gắng làm điều thiện, tu nhân tích đức, tránh điều ác… để sẽ được nhân lành.

    Mặt khác, thuyết nhân quả, nghiệp báo, luân hồi còn cho thấy rằng con người không chỉ phải chịu trách nhiệm về hành động của mình lúc còn sống, mà còn cả sau khi chết, vì chết chưa phải là hết. Sự kết thúc một cuộc đời này sẽ là sự kế tiếp của cuộc đời khác. Như vậy, nó giúp cho con người hạn chế được dục vọng, thói ích kỷ, đề cao cái tôi dẫn đến tham lam, tàn bạo, bất chấp lẽ phải, đạo lý, nhờ đó con người nói riêng, xã hội nói chung sẽ có cuộc sống tốt đẹp hơn. Phật giáo nêu cao thiện tâm, bình đẳng cho mọi người như là những tiêu chuẩn đạo đức cơ bản của đời sống xã hội.

    Để đạt tới mục đích tuyệt đối, chân lý cuối cùng để đi đến giác ngộ, giải thoát, Phật giáo cho rằng điều đầu tiên phải giữ giới. Trong giới luật của Phật giáo thì ngũ giới có thể coi như là những chuẩn mực cơ bản của đạo đức, bên cạnh đó còn có thập thiện, giới luật của tỳ kheo, tỳ kheo ni… Ngũ giới có vị trí hết sức quan trọng, nó được coi như là nấc thang ban đầu cho những ai tìm hiểu Phật giáo, bao gồm: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu. Theo Phật giáo, đạo đức được thể hiện rõ nhất trong việc giữ giới. Xét về bản chất, đây là những lời răn dạy cơ bản về đạo đức con người dù người đó có phải là phật tử hay không. Việc giữ gìn giới luật trước hết nhằm phát huy bản tính thiện, diệt trừ tham, sân, si, là phương tiện giúp cho con người vượt qua u mê, bể khổ, luân hồi đem lại cho bản thân con người sự trong sạch, giải thoát. Thực hiện ngũ giới thực sự có ý nghĩa đối với mỗi con người, toàn xã hội. Đối với con người, ngũ giới giúp hoàn thiện trong tư tưởng, hành vi, nhân cách theo nhân sinh quan Phật giáo. Những giá trị mà ngũ giới đặt ra, một mặt ngăn ngừa mầm mống nguy hại đến tư cách đạo đức con người, mặt khác có tác dụng khích lệ những hành động tốt đẹp, tránh xa cái ác, hướng đến chân, thiện, mỹ. Đối với xã hội, ngũ giới có ý nghĩa thiết thực trong việc xác lập trật tự an ninh, bảo đảm nếp sống tiến bộ, lành mạnh, văn minh.

    Những quan niệm ở hiền gặp lành, gieo gió phải gặt bão, nhân nào quả đấy, cha mẹ hiền lành để đức cho con, bản chất từ bi hỷ xả… đã thấm sâu trong đời sống tinh thần dân tộc, hướng mọi tầng lớp nhân dân vào con đường thiện nghiệp, tu dưỡng đạo đức vì dân, vì nước. Triết lý nhân quả của Phật giáo còn góp phần quan trọng trong phòng ngừa ý định, hành vi vi phạm pháp luật của con người khi còn chưa bộc lộ.

    Trong suốt tiến trình lịch sử kể từ khi được truyền bá vào Việt Nam, Phật giáo đã để lại dấu ấn trên nhiều lĩnh vực của đời sống tinh thần. Việc nhận thức, đánh giá ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo trong giai đoạn hiện nay cần phải trên cơ sở quan điểm duy vật biện chứng, từ đó có cơ sở khoa học để kế thừa, phát huy những giá trị tích cực, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống xã hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ảnh Hưởng Của Phật Giáo Với Con Người Việt Nam
  • Luận Văn Ảnh Hưởng Của Tình Hình Kinh Tế , Chính Trị Đến Sự Phát Triển Du Lịch Ở Việt Nam
  • Tác Động Của Du Lịch Đến Kinh Tế
  • 10 Nguyên Tắc Du Lịch Một Mình
  • Là Người Trẻ, Hãy Thử Đi Du Lịch Một Mình Ít Nhất Một Lần Trong Đời
  • Luận Văn Tiểu Luận Ảnh Hưởng Của Triết Học Phật Giáo Đến Đời Sống Tinh Thần Của Người Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Toàn Cảnh Khu Du Lịch Lá Phong Với Bộ Album Ảnh Cực Chất
  • Top 10 Địa Điểm, Khu Du Lịch Sinh Thái Đẹp Ở Bình Dương 2022
  • Top 10 Khu Du Lịch Sinh Thái Ở Gần Sài Gòn Đẹp, Nên Đi 2022
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Tràng An, Ninh Bình (Cập Nhật 01/2021)
  • Khu Du Lịch Tràng An
  • Đạo Phật là một trong những học thuyết Triết học – tôn giáo lớn nhất trên thế giới, tồn tại rất lâu đời. Hệ thống giáo lý của nó rất đồ sộ và số lượng phật tử đông đảo được phân bố rộng khắp. Đạo phật được truyền bá vào nước ta từ những năm đầu công nguyên do các nhà sư từ Ấn Độ truyền bá và từ Trung Quốc truyền sang từ thế kỷ IV đến thế kỷ V sau công nguyên, đã nhanh chóng trở thành một tôn giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của con người Việt Nam. Mỗi giai đoạn lịch sử, dân tộc ta đều có một học thuyết tư tưởng hoặc một tôn giáo nắm vai trò chủ đạo, tác động mạnh đến nếp sống, suy nghĩ của con người như Phật giáo, Nho giáo, học thuyết chủ nghĩa Mác-Lênin. Tuy nhiên, song song tồn tại với nó vẫn có các học thuyết, tôn giáo khác tác động vào các khu vực khác nhau của đời sống xã hội. Ngày nay, trong công cuộc xây dựng đất nước quá độ lên CNXH, chủ nghĩa Mác – Lênin là tư tưởng chủ đạo, là vũ khí lý luận của chúng ta nhưng bên cạnh đó, giáo lý nhà Phật đã ít nhiều in sâu vào tư tưởng tình cảm của một số bộ phận lớn dân cư Việt Nam. Vì vậy, việc nghiên cứu lịch sử, giáo lý, và sự tác động của đạo Phật đối với thế giới quan, nhân sinh quan của con người là hết sức cần thiết. Việc đi sâu nghiên cứu, đánh giá những mặt hạn chế cũng như tiến bộ, nhân đạo của Phật giáo giúp ta hiểu rõ tâm lý người dân hơn và qua đó tìm ra được một phương cách để hướng đạo cho họ một nhân cách đúng đắn. Theo đạo để làm điều thiện, tránh cái ác, hình thành nhân cách con người tốt hơn chứ không trở nên mê tín dị đoan, cúng bái, gây ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ, niềm tin của quần chúng nhân dân. Hơn nữa, quá trình Phật giáo phát triển, truyền bá ở Việt Nam gắn liền với quá trình hình thành, phát triển tư tưởng, đạo đức của con người. Vì vậy khi nghiên cứu lịch sử, tư tưởng, đạo đức Việt Nam không thể không đề cập đến Phật giáo và những mối quan hệ, tác động qua lại giữa chúng. Tóm lại, nghiên cứu Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến xã hội và con người Việt Nam là một nội dung quan trọng nhằm tìm hiểu lịch sử cũng như định hướng cho sự phát triển nhân cách, tư duy con người Việt Nam trong tương lai.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Du Nhập Của Phật Giáo Vào Nước Ta Và Ảnh Hưởng Của Nó Trong Tk 10
  • Ảnh Hưởng Của Phật Giáo Đến Đời Sống Tinh Thần Người Việt
  • Ảnh Hưởng Của Phật Giáo Với Con Người Việt Nam
  • Luận Văn Ảnh Hưởng Của Tình Hình Kinh Tế , Chính Trị Đến Sự Phát Triển Du Lịch Ở Việt Nam
  • Tác Động Của Du Lịch Đến Kinh Tế
  • Sự Ảnh Hưởng Của Tôn Giáo, Tín Ngưỡng Đến Du Lịch Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • 8 Địa Điểm Du Lịch Ở Quy Nhơn Nhất Định Phải “Check
  • Những Hình Ảnh Du Lịch Việt Nam Đẹp Nhất
  • 99+ Mẫu Áo Đồng Phục Du Lịch Biển Đẹp
  • Những Mẫu Đồng Phục Du Lịch Biển Dự Sẽ Hot Nhất Năm 2022
  • Top 100+ Mẫu Áo Gia Đình Đẹp Nhất Năm 2022
  • 1. Tôn giáo và tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam

                Ðạo Phật

                Phật giáo được du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ thứ 2, đến đời Lý (thế kỷ thứ 11) Phật giáo ở vào giai đoạn cực thịnh và được coi là hệ tư tưởng chính thống. Phật giáo được truyền bá rộng rãi trong nhân dân và có ảnh hưởng sâu sắc tới đời sống xã hội, để lại nhiều dấu ấn trong lĩnh vực văn hoá, kiến trúc. Nhiều chùa, tháp được xây dựng trong thời kỳ này.

                Cuối thế kỷ thứ 14, Phật giáo phần nào bị lu mờ, nhưng những tư tưởng của Phật giáo còn ảnh hưởng lâu dài trong đời sống xã hội và sinh hoạt của Việt Nam. Hiện nay, số người theo đạo Phật và chịu ảnh hưởng của đạo Phật khoảng trên 70% số dân cả nước.

                Công giáo

                Ðược du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ 17, nơi tập trung nhiều tín đồ Thiên Chúa giáo ở Việt Nam hiện nay là vùng Bùi Chu – Phát Diệm (tỉnh Ninh Bình) và vùng Hố Nai – Biên Hoà (tỉnh Ðồng Nai). Số lượng tín đồ theo đạo Kitô chiếm khoảng trên 5 triệu người.

                Ðạo Tin Lành

                Ðược du nhập vào Việt Nam vào năm 1911 nhưng ít được phổ biến. Hiện nay, các tín đồ theo đạo Tin Lành sống chủ yếu ở vùng Tây Nguyên. Tại Hà Nội cũng có nhà thờ đạo Tin Lành tại phố Hàng Da. Số tín đồ theo đạo Tin Lành khoảng trên 400 nghìn người.

                Ðạo Hồi

                Ðạo Hồi du nhập vào Việt Nam khá sớm, tín đồ đạo Hồi chủ yếu là người Chăm ở miền Trung , có khoảng hơn 60 nghìn người.

                Ðạo Cao Ðài

                Xuất hiện ở Việt Nam từ năm 1926. Toà thánh Tây Ninh là trung tâm hội tụ những người theo đạo Cao Ðài ở miền Nam. Số tín đồ theo đạo này khoảng hơn 2 triệu người.

                Ðạo Hoà Hảo

                Xuất hiện ở Việt Nam năm 1939. Số tín đồ theo đạo này khoảng trên 1 triệu người, chủ yếu ở miền Tây Nam bộ.

                Tín ngưỡng dân gian thờ Mẫu

                Trong đời sống tâm linh của người Việt Nam đã từng tồn tại nhiều hình thức tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau. Người Việt có tục thờ cúng tổ tiên, thờ Thành hoàng làng, thờ Phật, thờ các thần linh, thờ các anh hùng có công với nước, với dân…, đặc biệt thờ Mẫu (Mẹ).

                Thờ Mẫu có nguồn gốc của tục thờ thần thời cổ đại, thờ các nữ thần núi, rừng, sông, nước. Sau này, Mẫu được thờ ở các đền, phủ, và Mẫu luôn được đặt ở vị trí trang trọng nhất.  Thờ Mẫu có nguồn gốc ở miền Bắc, vào đến miền Nam, “Ðạo” này đã hoà nhập “Mẫu” với các nữ thần trong tín ngưỡng địa phương: Thánh Mẫu Thiên Y A Na (Huế), Thánh Mẫu Linh Sơn (Tây Ninh)

                Trong thực tế việc thờ cúng của “Ðạo” Mẫu có sự hội nhập các hình thức của nhiều tôn giáo khác. Ngày nay, tín ngưỡng dân gian được coi trọng nên nhiều đền, phủ đã và đang được phục hồi và hoạt động sôi nổi.

    2. Thực trạng hoạt động du lịch tâm linh

                Tuy nhiên, cùng với sự tham gia của hoạt động du lịch là quá trình thương mại hóa các giá trị tâm linh, dẫn đến nhiều mâu thuẫn nội tại. Đó là mâu thuẫn giữa những người tham gia vào hoạt động tại các điểm tôn giáo, tín ngưỡng khi mục đích của họ không đồng nhất. Đó là mâu thuẫn về việc sử dụng và đáp ứng các dịch vụ cho du khách. Đó là mâu thuẫn về chi phí và đóng góp cho các công tác nảy sinh khi có hoạt động du lịch. Đây là những vấn đề tiêu biểu nhất mà khi xem xét khai thác bất cứ một điểm tôn giáo, tín ngưỡng nào phục vụ hoạt động du lịch cần quan tâm giải quyết.

                Việt Nam là quốc gia có tiềm năng du lịch tâm linh rất lớn với hệ thống các đình, đền, chùa, miếu, quán, lăng … dọc theo chiều dài của đất nước, rộng cùng 54 dân tộc anh em và sâu trong bốn ngàn năm lịch sử. Các nhà kinh doanh du lịch cũng đang từng bước khám phá và khai thác các giá trị này với một số các công trình mới có quy mô như khu Bái Đính Tràng An (Ninh Bình), khu Đại Nam Quốc Tự (Bình Dương), công viên Tâm Linh (Đà Nẵng) … Để việc kinh doanh du lịch tại cả các công trình cũ và mới đi đúng hướng, bài trao đổi đề cập đến một số vấn đề vướng mắc trên để các nhà quy hoạch, quản lý có được cái nhìn chiến lược trong từng bước phát triển loại hình du lịch này ở nước ta.

                Nắm bắt được nhu cầu của đông đảo người dân, các công ty du lịch lữ hành đã đầu tư vào lĩnh vực du lịch tâm linh. Du lịch tâm linh không chỉ đơn thuần là hoạt động hành hương, tôn giáo tín ngưỡng thuần túy mà còn là động lực thúc đẩy sự giao lưu văn hóa và phát triển kinh tế – xã hội. Đó cũng là cách thức để thế hệ hôm nay bày tỏ sự tưởng nhớ đối với công lao của các bậc tiền bối.

                Du lịch tâm linh thực chất là loại hình du lịch văn hóa, lấy yếu tố văn hóa tâm linh làm mục tiêu nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh của con người trong đời sống tinh thần. Do đó, việc sử dụng có trách nhiệm và bền vững các giá trị văn hóa và tự nhiên trong phát triển du lịch tâm linh sẽ mang lại cơ hội việc làm, tạo thu nhập cho người dân địa phương, góp phần thúc đẩy giao lưu văn hóa, tăng cường tình đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo, khôi phục và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của mỗi quốc gia cũng như toàn nhân loại. Mô hình du lịch này hiện đang rất phát triển tại nhiều nước theo Phật giáo trên thế giới như Nepal, Ấn Độ và các nước trong khu vực Đông Nam Á như Thái Lan, Lào, Myanmar… 

                Hầu hết các địa phương ở nước ta đều có những điểm du lịch tâm linh như: đền Hùng (Phú Thọ), chùa Hương (Hà Nội), chùa Bái Đính và nhà thờ đá Phát Diệm (Ninh Bình), chùa Thiên Mụ (Thừa Thiên-Huế), núi Bà Đen và Thánh thất Cao Đài (Tây Ninh)… Một trong những tỉnh đi đầu và thành công trong loại hình du lịch này là Ninh Bình nơi có chùa Bái Đính, ở đây, người dân địa phương được chủ động tham gia vào các hoạt động phục vụ khách du lịch tại các điểm du lịch tâm linh: chèo đò, xích lô, bán hàng lưu niệm, hướng dẫn, tiêu thụ sản vật địa phương, phục vụ ăn uống… mang lại nguồn thu đáng kể. . 

                Hội nghị quốc tế về du lịch tâm linh vì sự phát triển bền vững lần đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam đã cho thấy sự quan tâm của Việt Nam trước sự phát triển của loại hình du lịch này. Trong quá trình phát triển du lịch tâm linh phải luôn gắn với phát huy các giá trị văn hóa, bảo vệ môi trường, cảnh quan để du khách có thể cảm nhận được nét đẹp văn hóa của con người ở vùng đất đó. Bên cạnh đó, phải có sự tham gia của chính người dân địa phương trong việc bảo tồn và gìn giữ các giá trị di sản văn hóa của địa phương, tạo sự kết nối để hình thành các tuyến du lịch tâm linh chuyên đề tạo ra những trải nghiệm hết sức ấn tượng cho du khách.

                Việt Nam có gần 8.000 lễ hội truyền thống, trong đó có rất nhiều lễ hội lớn mang tầm quốc gia. Cả nước có khoảng 40.000 khu di tích, thắng cảnh, tập trung chủ yếu ở đền, chùa, miếu mạo, tòa thánh, đài, lăng tẩm, phủ, khu tưởng niệm, trong đó hơn 3.000 địa danh được xếp hạng di tích quốc gia. Đi kèm di tích là các hoạt động văn hóa, tín ngưỡng, thể thao như thờ cúng tổ tiên, dòng tộc, tri ân anh dùng dân tộc, danh nhân, báo hiếu, chiêm bái, tụng kinh, thiền, yoga.

                Chính kho tàng văn hóa và tín ngưỡng phong phú trên đã tạo hình cho cốt cách và bản sắc của dân tộc Việt Nam, làm nên nét riêng cho du lịch Việt Nam.

                Văn hóa và tín ngưỡng là sản phẩm cốt lõi của du lịch tâm linh. Phát triển du lịch tâm linh chính là biến văn hóa thành hàng hóa. Do vậy, những lợi ích của ngành kinh tế này không chỉ về kinh tế mà hơn hết là giá trị tinh thần.

                Theo Ts Dương Văn Sáu, Trưởng khoa Văn hóa Du lịch, Đại học Văn Hóa Hà Nội, một vài bộ phận công chúng do chưa có sự hiểu biết đúng đắn về giá trị của các di sản văn hóa và tín ngưỡng đã đánh đồng việc đi chùa, đi lễ, hát văn, hầu đồng là mê tín dị đoan. Dưới góc nhìn văn hóa, những phong tục, truyền thống và tín ngưỡng thuần Việt không chỉ mang giá trị nghệ thuật, mà còn là bản sắc dân tộc. Một số đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

                Du lịch tâm linh có thể xem là một công cụ đặc hữu giúp xóa đi cái nhìn khiên cưỡng về di sản văn hóa, tôn giáo và tín ngưỡng. Du lịch tâm linh còn là cách tiếp cận hữu hiệu giúp nâng cao hiểu biết của công chúng về giá trị nghệ thuật của loại hình di sản phi vật thể này. Thông qua hoạt động du lịch, du khách được trực tiếp tiếp xúc, thẩm nhận, và trải nghiệm, từ đó nuôi dưỡng và phát triển các giá trị tâm linh tín ngưỡng từ trong tiềm thức của mình.

                Hòa thượng Thích Thanh Nhiễu, Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, cho biết các điểm du lịch tâm linh thường gắn với đền, chùa, lăng tẩm, tòa thánh và lễ hội. Cả nước có gần 500 ngôi chùa được xếp hạng di tích quốc gia. Đây chính là những điểm thu hút du khách tới tham quan, trải nghiệm, chiêm bái, nghe giảng và trải nghiệm đời sống thiền tu. Đạo Phật và các tôn giáo, tín ngưỡng chính thống khác đều hướng con người tới giá trị Chân – Thiện – Mỹ.

                Những trải nghiệm tâm linh tại nơi thờ tự giúp con người thư giãn, đạt tới sự cân bằng trong tâm hồn. Hòa mình vào không khí thân thiện, cởi mở của lễ hội cổ truyền cũng giúp con người dễ hòa hợp với nhau hơn. Vì vậy, du lịch tâm linh giúp phát triển hành vi hướng thiện, nâng cao tinh thần đoàn kết, hướng về cội nguồn, xây dựng xã hội hài hòa, tốt đẹp.

                Trong bối cảnh thế giới đang ngày đối mặt với nhiều thách thức về chính trị, tôn giáo và môi trường, văn hóa và tín ngưỡng sẽ là sợi dây kết nối con người với nhau. Du lịch tâm linh góp phần xây dựng mối quan hệ thân thiện, khuyến khích tình bằng hữu, giúp vượt qua các thành kiến văn hóa và tôn giáo. Có thể xem du lịch tâm linh là công cụ kiến tạo hòa bình, Hòa thượng nói.

                Những năm qua, ngành du lịch Việt Nam tăng trưởng mạnh mẽ, trong đó có sự đóng góp to lớn và bền vững từ du lịch tâm linh. Trong quy hoạch phát triển du lịch tổng thể, gồm bốn nội dung: du lịch sinh thái, du lịch thành thị, du lịch biển đảo và du lịch văn hóa – tâm linh – lịch sử, thì dòng thứ tư này có vị trí đặc biệt quan trọng. Năm 2022, ngành du lịch phục vụ 62 triệu du khách nội địa. Riêng du khách đến các địa điểm du lịch tâm linh chiếm tới một phần ba.

                Theo Ts Dương Văn Sáu, chiến lược phát triển du lịch của bất kỳ quốc gia nào cũng lấy chính người dân sở trị làm gốc. Nước ta có hơn 90 triệu dân. Thu nhập bình quân đầu người tăng hàng năm. Đời sống tinh thần ngày càng được chú trọng, dẫn tới nhu cầu du lịch ngày càng cao. Tâm lý người Việt lại trọng tín ngưỡng. Hoạt động du lịch tâm linh vừa đáp ứng nhu cầu thư giãn, vừa tìm hiểu các trang lịch sử, phong tục, tập quán, tín ngưỡng thông qua các di tích và lễ hội. Vì vậy, đẩy mạnh phát triển du lịch tâm linh chính là đánh trúng tâm lý du khách nội địa.

                Tâm linh và các giá trị di sản văn hóa tín ngưỡng gắn bó và tồn tại song hành cùng dân tộc từ hàng ngàn năm nay. Còn con người thì còn tôn giáo tín ngưỡng. Các di sản văn hóa, tín ngưỡng thuần Việt không chỉ được thể hiện qua các loại hình nghệ thuật, lễ hội dân gian, bài học lịch sử, mà còn ăn sâu vào đời sống dân gian của người Việt. “Tháng Tám giỗ cha, tháng Ba giỗ mẹ”, “Dù ai đi ngược về xuôi, nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng Ba” chính là những lời nhắc nhở các thế hệ về công ơn của Đức thánh Trần, thánh Mẫu Liễu Hạnh và các Vua Hùng.

                Truyền thống và tín ngưỡng sẽ thổi hồn vào di sản văn hóa. Du lịch tâm linh hay bất cứ loại hình du lịch nào khác sẽ vững chắc hơn nếu lấy các giá trị cốt lõi, trong đó có di sản văn hóa và tín ngưỡng truyền thống làm bản lề, và dựa vào người dân của chính dân tộc mình, Ts Dương Văn Sáu đánh giá.

                Việt Nam có 11 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO vinh danh là di sản thế giới, trong đó có 9 di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, 2 di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Những di sản văn hóa và tín ngưỡng này chính là những giá trị làm nên nét riêng biệt của du lịch Việt Nam.

                Một du khách người Mỹ tại khu di tích chùa Hương nói: “Tôi đến Việt Nam không phải để các bạn chiều lòng chúng tôi. Tôi đến để xem văn hóa bản địa của các bạn, những điều chúng tôi không có. Cho nên, các bạn muốn lôi cuốn chúng tôi thì hãy làm những gì như các bạn vẫn làm hàng nghìn năm nay”.

                Giá trị văn hóa tín ngưỡng truyền thống là thế mạnh, làm nên sức hấp dẫn cho du lịch Việt Nam. Ngành du lịch cần giới thiệu du khách đến với giá trị đích thực của các di sản văn hóa và tín ngưỡng truyền thống từng vùng miền. Mỗi tour du lịch tâm linh cần đọng lại trong tâm trí du khách, đặc biệt là du khách quốc tế một cách sâu sắc và riêng biệt và khi đó, số du khách đến Việt Nam sẽ không dừng lại ở 10 triệu lượt, Ts Dương Văn Sáu nói.

    3. Giải pháp nhằm phát triển bền vững loại hình  du lịch tâm linh

                Ngành kinh tế du lịch cũng như nhiều ngành kinh tế khác, muốn phát triển trước hết, nó phải dựa vào nguồn tài nguyên du lịch (còn được gọi là nguồn lực để phát triển du lịch). Nhìn chung, những điểm du lịch tôn giáo đã và đang được khai thác du lịch tôn giáo (hay du lịch tâm linh) nhưng vấn đề là làm thế nào để khai thác nguồn lực tôn giáo tại các điểm du lịch tôn giáo nói trên theo hướng bảo tồn và phát huy các giá trị của chúng để có thể khai thác bền vững theo tinh thần của Luật Du lịch Việt Nam 2005: “Du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng được các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch của tương lai”

                Để phát triển du lịch tôn giáo bền vững ở đây, theo chúng tôi cần có những điều kiện cơ bản như sau:

                Đảm bảo việc bảo tồn tốt các điểm du lịch tôn giáo tại địa phương. Chúng ta biết rằng, ngành du lịch được mệnh danh là một ngành “công nghiệp không khói”, “con gà đẻ trứng vàng”, “xuất khẩu tại chỗ” v.v… Du lịch đem lại lợi ích kinh tế nhưng nó cũng đem lại những tác động có hại đến các điểm du lịch tôn giáo như làm biến đổi môi trường tại chỗ của các điểm du lịch tôn giáo, các điểm tham quan xuống cấp.

                Bên cạnh việc bảo tồn tốt các điểm du lịch tôn giáo, chúng ta còn phải phát huy giá trị của các điểm du lịch tôn giáo bằng cách nâng cao nhận thức của người dân tại chỗ về các điểm du lịch tôn giáo trong vùng. Song song đó là nâng cao nhận thức của du khách hành hương, tham quan về các điểm du lịch tôn giáo mà họ đến tham quan. Mọi người đều thấy rằng các địa điểm du lịch tôn giáo mà họ đến tham quan là có ý nghĩa, có giá trị trong chuyến đi của họ. Người dân tại chỗ thì nhận thức được rằng những điểm du lịch tôn giáo trong vùng của họ là những tài sản quý giá có thể sinh lợi mà họ cần gìn giữ để khai thác hiệu quả lâu dài.

                Có sự phối hợp quản lý tốt giữa chính quyền địa phương, các cơ quan chức năng của ngành du lịch và các đơn vị khai thác các điểm du lịch tôn giáo. Trong cả nước, sự phối hợp quản lý giữa chính quyền địa phương và các ngành chức năng và các đơn vị khai thác du lịch tôn giáo vẫn chưa có sự phối hợp đồng bộ làm cho các điểm du lịch tôn giáo xuống cấp, mất sự thu hút vốn có của nó bởi các tệ nạn ăn xin, mất an ninh trật tự hoặc là sự cấm đoán dè chừng của chính quyền địa phương làm cho sản phẩm du lịch bị gián đoạn.

                Chuyên môn hóa lực lượng lao động chuyên khai thác du lịch tôn giáo: Chúng ta biết rằng nhiều tài nguyên du lịch được kết tinh trong sản phẩm du lịch bán cho khách cần phải được diễn giải khi khách tiêu thụ sản phẩm. Đây là một khâu rất quan trọng trong quá trình cung cấp sản phẩm. Tài nguyên tín ngưỡng tôn giáo cần phải được diễn giải nhiều hơn để du khách có thể thấu hiểu được tôn giáo bản địa, tại địa phương mà họ đến tham quan. Thông qua các khóa đào tạo kỹ năng và kiến thức cho lực lượng lao động phục vụ các chương trình du lịch tôn giáo để khi khách tham gia vào các tour du lịch tôn giáo, du lịch hành hương đến các điểm du lịch tôn giáo trên để đảm bảo du khách được cung cấp những sản phẩm du lịch tôn giáo tốt nhất, thỏa mãn nhu cầu của họ. Việc chuyên môn hóa lực lượng lao động để khai thác du lịch tôn giáo ở Việt Nam là chưa được quan tâm đúng mức. Nhiều lao động phục vụ khách trực tiếp trong các chương trình du lịch tôn giáo, tại các điểm du lịch tôn giáo còn chưa nắm rõ được những giá trị tại các điểm du lịch tôn giáo mà họ cung cấp cho du khách, khiến cho du khách không nhận ra hết những giá trị độc đáo tại các điểm du lịch tôn giáo mà họ đến. Tôi tin rằng, nếu chúng ta có những lực lượng lao động được đào tạo về du lịch tôn giáo tốt, khả dĩ cung cấp cho du khách những sản phẩm mang tính giá trị tôn giáo cao thì sẽ có nhiều khách tham gia vào các chương trình du lịch tôn giáo hơn. Một phần của việc chuyên môn hóa lực lượng lao động làm việc tại các điểm du lịch tôn giáo này phải lấy từ lực lượng tại chỗ. Một khi ngành du lịch cung cấp được những lợi ích thiết thực nhất cho cộng đồng địa phương như tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương, đóng góp một phần lợi nhuận để phát triển cộng đồng địa phương thì chúng ta có được thuận lợi lớn để phát triển du lịch tôn giáo tại địa phương.

                Đối với những tín đồ của một tôn giáo, thì việc hành hương đến những thánh địa tôn giáo là một nhu cầu tâm linh không thể thiếu khi họ có điều kiện. Họ sẵn sàng chi trả tối đa để thỏa mãn nhu cầu tâm linh. Đối với những khách du lịch khác (khách du lịch bình thường khác trong hoặc ngoài nước), việc họ đến tham quan các thánh địa tôn giáo là một nhu cầu bình thường với những động cơ thông thường như tìm hiểu, nghiên cứu các tín ngưỡng, tôn giáo hoặc chỉ với mục đích rất bình thường là do hiếu kỳ mà tới..

                Giá trị đầu tiên và quan trọng nhất của tín ngưỡng, tôn giáo là sự cố kết cộng đồng. Tôn giáo như là vật biểu trưng trung gian phát huy tác dụng đảm bảo sự liên hợp hòa hài giữa thế gian và siêu thế gian, xã hội và vũ trụ, phàm tục và thiêng liêng, và trên cơ sở đó, cũng đảm bảo sự liên hợp hòa hài giữa các thành phần xã hội với nhau, giữa các con người với nhau, vượt trên những mâu thuẫn cá biệt, những va chạm cá nhân. Giá trị này không chỉ khu biệt ở trong nước hay cộng đồng của một tôn giáo cụ thể mà còn có giá trị phổ quát đối với nhân loại.

                Giá trị kế đến của tôn giáo là giáo dục, hướng thượng các thành viên trong cộng đồng. Bất kỳ tôn giáo nào cũng tác dụng giáo dục những thành viên trong cộng đồng sống hài hòa, đoàn kết, có ích và làm lợi cho cộng đồng, và ngoài ra, nó còn hướng con người tới những giá trị tốt đẹp như chân, thiện, mỹ, làm thăng hoa đời sống cá nhân và cộng đồng.

    Đề cao sự sáng tạo của các cá nhân trong cộng đồng. Chúng ta biết rằng, nhu cầu sáng tạo là một nhu cầu vốn có của mỗi cá nhân con người.

                Nhu cầu tìm hiểu, học tập, nghiên cứu xem xét những tín ngưỡng bản địa của các tộc người là một nhu cầu có thực của khách du lịch. Khách du lịch đến những vùng đất lạ, họ có nhu cầu tìm hiểu phong tục, tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng, những quan niệm sống của các tộc người địa phương dù những giá trị đó có giá trị phổ quát toàn cầu hay chỉ là những giá trị trong nội bộ của tôn giáo, tín ngưỡng.

    4. Kết luận

                Trong thời đại hiện nay, dù là phát triển kinh tế nói chung hay phát triển kinh tế du lịch nói riêng đều phải nhắm đến định hướng phát triển bền vững, đảm bảo được lợi ích kinh tế cũng như các mục tiêu về môi trường, xã hội và nhất là về con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của mọi sự phát triển. Đảng và Nhà nước Việt Nam cũng đã nhận ra phát triển bền vững là một yêu cầu cấp bách và đã định hướng tại Đại hội Đảng lần thứ XI, thông qua Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI: “Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững… Tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hòa với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Phát triển kinh tế xã hội phải luôn coi trọng bảo vệ và cải tạo môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu… Phải đặc biệt coi trọng giữ vững ổn định chính trị-xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ để bảo đảm cho đất nước phát triển nhanh và bền vững”

                Ngoài ra, như tôi đã trình bày, để khai thác được hết những giá trị phổ quát của tôn giáo nói chung, những giá trị đặc thù của từng tôn giáo nói riêng, thì chúng ta phải có những đội ngũ nhân viên am hiểu về du lịch tôn giáo, du lịch tâm linh, đặc biệt là những người trực tiếp làm việc với khách trong hành trình du lịch tôn giáo như hướng dẫn viên theo chương trình, thuyết minh viên tại các điểm du lịch tôn giáo. Chúng ta có tài nguyên du lịch tôn giáo đa dạng và phong phú, nhưng chúng ta không có lực lượng lao động lành nghề thì chúng ta không thể khai thác tốt được các giá trị của tôn giáo trong hoạt động du lịch được

                Đây là những vấn đề tiêu biểu nhất trong quá trình khai thác một điểm tôn giáo, tín ngưỡng phục vụ kinh doanh du lịch. Để những điểm tôn giáo, tín ngưỡng không ngủ yên trong những giá trị mà lịch sử mang lại cho nó, cần trao cho nó một sức sống đương đại. Sức sống đó được mang lại bởi hoạt động du lịch. Nhưng để đảm bảo cho hoạt động du lịch diễn ra có hiệu quả, không làm tổn hại đến những gì mà quá khứ để lại, không khơi nguồn cho những mâu thuẫn xã hội, cần một tầm nhìn chiến lược trong công tác quản lý. Bài viết đưa ra một số hướng giải quyết cho những vấn đề cụ thể thường phát sinh tại điểm tôn giáo, tín ngưỡng có sự tham gia của hoạt động du lịch với mong muốn hoạt động du lịch tâm linh bước đầu nhen nhóm ở Việt Nam sẽ có một hướng đi đúng mục đích – con đường giúp con người tìm về với bản thể, vươn tới những điều tốt đẹp hơn. Đây là xu hướng của du lịch hiện đại trên thế giới và nếu được quản lý đúng đắn ở Việt Nam nó sẽ mang đến những giá trị mới cho du lịch nước nhà.

     TÀI LIỆU THAM KHẢO:

    1)    Luật Du lịch 2005 & Văn bản hướng dẫn thi hành, NXB Chính trị Quốc gia 2013.

    2)   Ngô Đức Thịnh (cb) 2011: Bảo tồn, làm giàu và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam trong đổi mới và hội nhập, NXB Khoa học Xã hội.

    3)   Ngô Đức Thịnh (cb) 2012: Tín ngưỡng & Văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam, NXB Trẻ.

    4)   Ngô Đức Thịnh (cb) 2013: Văn hóa thờ Nữ thần-Mẫu ở Việt Nam và Châu Á – Bản sắc và Giá trị, NXB Thế giới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 5 Mẹo Chụp Ảnh “so Deep” Khi Đi Du Lịch Một Mình
  • Tất Tần Tật Các Cách Pose Dáng Cực Chất Khi Đi Du Lịch Giúp Bạn Thu Về Những Bức Ảnh “Triệu Like”
  • Cách Chụp Ảnh Du Lịch Thần Thánh Giúp Người “Xấu Ma Chê Quỷ Hờn” Cũng Được Nghìn Like
  • Bí Kíp Tạo Dáng Đi Biển Để Có Bộ Ảnh “Triệu Like” + “So Deep” — 2022
  • Du Lịch Sài Gòn Nên Đi Đâu, Ăn Gì Và Vào Thời Gian Nào Tốt Nhất?
  • Sự Du Nhập Của Phật Giáo Vào Nước Ta Và Ảnh Hưởng Của Nó Trong Tk 10

    --- Bài mới hơn ---

  • Luận Văn Tiểu Luận Ảnh Hưởng Của Triết Học Phật Giáo Đến Đời Sống Tinh Thần Của Người Việt Nam
  • Toàn Cảnh Khu Du Lịch Lá Phong Với Bộ Album Ảnh Cực Chất
  • Top 10 Địa Điểm, Khu Du Lịch Sinh Thái Đẹp Ở Bình Dương 2022
  • Top 10 Khu Du Lịch Sinh Thái Ở Gần Sài Gòn Đẹp, Nên Đi 2022
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Tràng An, Ninh Bình (Cập Nhật 01/2021)
  • Phật giáo là một trào lưu triết học – tôn giáo xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ thứ 6 TCN ở bắc Ấn Độ. Người sáng lập ra hệ thống triết học – tôn giáo này là Tất Đạt Đa (Siddhatha), thái tử của vua Tịnh Phạn (Suddhodana) thuộc bộ tộc Sakiya. Vị thái tử này (khoảng 563-483 TCN) đã từng theo học các tu sĩ Bà La Môn từ năm lên bảy, kết hôn năm 16 tuổi, mười ba năm sau đó sống trong cuộc đời vương giả, nhưng trong một đêm tháng Hai năm vừa tròn 29 tuổi, đã lặng lẽ rời hoàng cung đi tìm chân lý. Trải qua sáu năm với những phương pháp tu luyện ép xác nhưng không đạt được chánh đạo, nhưng chỉ sau 48 ngày nhập định, Tất Đạt Đa ngộ rõ căn nguyên sinh thành, biến hóa của vũ trụ, căn nguyên của những khổ đau, và đề ra phương pháp diệt trừ nỗi khổ đó cho chúng sinh, bằng học thuyết “Nhân duyên sinh” và triết lý “Tứ diệu đế”, “Thập nhị nhân duyên”, “Bát chánh đạo”. Con người này đã đưa ông trở thành đức Phật Thích Ca đầy uy nghiêm tinh thần trong đời sống của người phương Đông hết thế hệ này đến thế hệ khác.

    Giáo lý nhà Phật tuy có nhiều tông phái khác nhau, nhưng tựu trung những điểm được đề cập sau đây vẫn là những nền tảng cơ bản.

    Thế giới, vũ trụ, theo quan niệm Phật giáo, là luôn vận động, biến đổi, các biến đổi diễn ra nhanh như chớp mắt, và thế giới thì không có trước, không có sau, vô thủy, vô chung. Đó cũng chính là lẽ vô thường, tức không có gì là tồn tại cố định, mà có đó, mất đó. Con người cũng thuộc dòng chảy không ngừng đó, nên không gì là bản thân ta cả, tức vô ngã. Những biến đổi này, nói theo ngôn ngữ hiện đại, là do tự thân vận động, không xuất phát từ bên ngoài, mà từ lẽ nhân duyên, theo luật nhân quả, nghiệp báo. Tùy thuộc vào nghiệp báo mà biến đổi của các sinh linh diễn ra trong cõi phàm và siêu phàm, hoán chuyển từ cõi này sang cõi kia, đó là luân hồi.

    Nhân sinh quan Phật giáo xuất phát từ quan niệm cho rằng đời là bể khổ, và nguyên nhân của nó là sinh, lão, bệnh, tử, là những ham muốn nhục dục, xuất phát từ sự che lấp trí tuệ bởi ngũ uẩn(sắc, thụ, tưởng, hành, thức), làm cho ta cố chấp trong việc phân biệt cái ta và cái khác ta, dẫn đến thái độ “ngã chấp”, trọng cái ta, khiến con người ta vô minh. Muốn thoát khỏi bể khổ thì phải diệt dục, nhẫn nhục, từ bi, hỉ xả, hy sinh, đi theo con đường của bát chánh đạo: chánh kiến, chánh tư duy, chánh nghiệp, chánh ngữ, chánh mệnh, chánh tinh tiến, chánh niệm, chánh định.

    Những giáo lý mang nặng tính triết lý, đạo đức này đã có một ảnh hưởng sâu rộng lên phong tục, tập quán, văn hóa, văn minh của nhiều dân tộc, trong đó có Việt Nam ta.

    1. Sự du nhập của Phật giáo vào nước ta 1.1. Nguồn gốc nguyên thủy từ Ấn Độ của Phật giáo Việt Nam

    Sự du nhập của Phật giáo vào nước ta ở những bước căn bản đầu tiên thật ra không phải xuất phát từ Trung Hoa, mà chính là được truyền sang trực tiếp từ Ấn Độ. Dựa trên những chứng liệu lịch sử đáng tin cậy, một số nhà nghiên cứu chuyên sâu, có uy tín về Phật giáo đã khẳng định điều này . Trong khi đó, ở Giao Châu, Phật giáo xem ra rất phù hợp với tín ngưỡng dân gian, nên việc thâm nhập không gặp trở ngại, mà lại còn dễ dàng và nhanh chóng.

    Vào thời đó, dù từ Trung Hoa đã có con đường bộ đi đến Ấn gần hơn đường biển, nhưng con đường xuyên qua Trung Á lại chứa đựng nhiều hiểm nguy, và đường biển lại là con đường an ninh hơn, không có núi non, sa mạc, hay cướp bóc, giết chóc. Bằng chứng là vào đầu thế kỷ thứ tư, con đường bộ đã dễ đi hơn, nhưng đến cuối thế kỷ này, Pháp Hiển mới từ Trung Hoa sang Ấn, và đến tận thế kỷ thứ bảy, Huyền Trang đã phải trải qua không biết bao nhiêu gian nan mới đi trọn vẹn con đường.

    Ngoài ra còn có hai chứng liệu rất quan trọng cho nguồn gốc rất sớm của Phật giáo Việt Nam. Thứ nhất, tập luận thuyết Phật giáo đầu tiên bằng Hán tự, Lý hoặc luận của Mâu Tử (165? 170? -?) đã được viết ở Giao Chỉ, chứ không phải ở một nơi nào khác sâu trong nội địa Hán. Thứ hai, vào thế kỷ thứ hai, ở Giao Chỉ đã có một tăng đoàn đến 500 vị và khoảng 15 bộ kinh, trong khi đến thế kỷ thứ ba ở Hán mới có tăng đoàn.

    1.2. Phật giáo ở giai đoạn đầu du nhập vào Việt Nam

    Như trên đã nói, khởi thủy du nhập của Phật giáo vào Việt Nam là từ Ấn Độ, Qua các đoàn thuyền buôn mà người Ấn đã đem vào nước ta những sinh hoạt và giáo lý Phật giáo.

    Trên đất Giao Chỉ vốn đã hình thành một nền tín ngưỡng bản địa. Đối với người dân nơi nàỵ, Ông Trời là một đấng ở trên cao, thấu hiểu mọi việc, biết rõ người tốt kẻ xấu, từ đó mà phù giúp người hiền, trừng phạt kẻ ác. Quan niệm này khiến cư dân Giao Chỉ dễ tiếp nhận thuyết nhân quả, nghiệp báo của nhà Phật. Ngoài Ông Trời, họ cũng quan niệm có những vị thần thánh khác như Thần Sấm, Thần Mưa… như là những thủ hạ của Ông Trời. Họ cũng coi Ma Xó là linh hồn của người chết còn tồn tại quẩn quanh trong nhà để phù trợ cho gia đình. Điều này làm cho họ cảm thấy dễ gần gũi khi thuyết luân hồi tiếp xúc với họ. Người Giao Chỉ cũng tin vào nguồn gốc con rồng cháu tiên của mình. Thêm vào đó, trong thời đại lịch sử này, người Giao Chỉ không hề là những tín đồ trung kiên của Khổng, Lão giáo, nên sự thâm nhập của Phật giáo không gặp phải sự cản trở có ý thức.

    Sự hòa hợp giữa tín ngưỡng bản địa có sẵn với những sinh hoạt văn hóa, giáo lý cơ bản của Phật giáo đã hình thành nên một loại tín ngưỡng Phật giáo bình dân trong thế kỷ đầu tiên của công lịch.

    Người Giao Chỉ xưa quan niệm Phật như là một vị Bụt (xuất phát từ “Buddha”), có phép thần thông, nghe và biết mọi chuyện như Ông Trời, nhưng Bụt không ở trên cao, mà thân cận với mọi người. Bụt hiện ra dưới nhiều hình thức để cứu người, giúp đời. Bụt thương người nhưng không trừng phạt kẻ ác như Ông Trời vẫn làm. Phép Bụt là biểu hiện của quan niệm về Pháp trong thời kỳ này. Đó là phép thần thông của Bụt. Mà cũng là những điều người ta làm theo nếu tin vào Bụt, như đọc tam quy, cúng dường, bố thí… Pháp cũng là niềm tin vào nghiệp báo, luân hồi, linh hồn bất diệt. Quan niệm về Tăng khi đó chỉ dừng lại ở tăng môn, chưa phải tăng đoàn. Đó là những tu sĩ khoác áo vàng. Đầu cạo trọc, rời bỏ gia đình, của cải, thờ Bụt, đọc kinh Phạn. Quan niệm về nghiệp báo, luân hồi là ở sự làm lành gặp lành. Người ta cũng quan niệm về từ bi, về công đức. Làm công đức cho kiếp sau được tốt đẹp là dâng thức ăn cho tăng môn, bố thí cho người nghèo khó. Quan niệm tiết dục cũng là ở chỗ bỏ bớt những hưởng thụ cho riêng mình, để cho người khốn khó.

    Vào thế kỷ thứ hai, sự thâm nhập của Phật giáo đã ở vào một giai đoạn mới. Đã hình thành tăng đoàn, công việc hành đạo từ đó mà cũng đi vào tổ chức, các tăng sĩ bắt đầu dịch kinh, sáng tác, chùa chiền cũng đã được xây cất. Ở thế kỷ này, sự hành đạo cũng gặp một ít trở ngại từ phía những người ủng hộ Khổng, Lão. Tuy nhiên, điều đó không thể ngăn cản được ảnh hưởng của Phật giáo vì nó đã thâm nhập vào dân gian.

    Tích Quang và Nhâm Diên là hai thái thú của hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân. Hai người này đã đẩy mạnh việc truyền bá văn hóa Hán cả trong sinh hoạt kinh tế, phong tục tập quán, lẫn trong việc giáo dục, văn học. Đến đời thái thú Sĩ Nhiếp thì Hán học phát triển rất mạnh, nhưng chính điều này lại đóng vai trò lớn trong việc truyền bá tư tưởng, văn hóa Phật giáo. Việc ra đời của Lý hoặc luận, hay kinh Tứ thập nhị chương, những tác phẩm Phật học viết bằng Hán tự, là minh chứng cho điều này.

    Những kinh điển đầu tiên được phiên dịch (như Tứ thập nhị chương) là đã nhắm vào người xuất gia, chứ không phải vào quần chúng Phật tử trong dân gian, do xuất phát từ một thực tế là sự du nhập và định hình Phật giáo giai đoạn này đã mang tính học thuật chuyên sâu hơn. Điều này cũng được thể hiện thông qua hệ thống quan niệm giáo lý đã mang nhiếu nét kinh kệ hơn trước.

    Quan niệm về Phật thì vẫn nối tiếp tín ngưỡng bình dân về Phật trong thế kỷ trước, nhưng đã mang màu sắc Hán hơn khi những khái niệm của Khổng, Lão được đưa vào. Trong Lý hoặc luận, Phật đã được trình bày như nguyên tổ của Đạo và Đức nhưng vẫn mang màu sắc biến hóa thần thông. Về Pháp, giới Phật tử trí thức có cách quan niệm gần với “đạo” (sau thành “đạo pháp”). Trong giới Phật tử dân dã, pháp vẫn là phép Phật, là phép tam quy, ngũ giới, cúng dường. Tăng đồ thì coi đạo như lời Phật dạy về vô thường, vô ngã, cách giữ tâm gìn ý, tu chứng Niết bàn. Quan niệm về tăng là phải thực hiện 250 giới luật, cạo đầu, y vàng, từ bỏ tài sản, khất thực, hóa đạo. Ni giới chưa có vào lúc này.

    Vào thời kỳ này, Niết bàn đã là mục đích của người xuất gia. Luân hồi và nghiệp báo vẫn tiếp tục tồn tại trong tín ngưỡng dân gian. Quan niệm vô ngã đã được nói đến trong Tứ thập nhị chương, nhưng chưa phổ biến lắm trong trong dân gian, có lẽ vì bị xem như mâu thuẫn với quan niệm linh hồn bất tử.

    Tinh thần hòa đồng giáo lý là nét nổi bật trong sự du nhập và định hình Phật giáo Giao Châu trong thế kỷ thứ hai này. Phật giáo thâm nhập vào đây một cách êm thấm, không có sự chống đối của tín ngưỡng dân gian. Tuy Phật giáo cũng phải có một ít nỗ lực trước giới cai trị Hán tộc, nhưng không bằng sự phản kháng, mà bằng sự hòa đồng. Điều này xuất phát từ tinh thần cởi mở của Phật học, và Phật tử thì sẵn sàng học hỏi, đối thoại với những tư tưởng khác. Kết quả của tinh thần này là không những đã sử dụng được từ ngữ Nho, Lão để truyền bá Phật giáo, mà còn làm cho nghững người theo Khổng, Lão thấy được chiều sâu của Phật học.

    1.3. Sự du nhập từ Phật giáo phương Bắc

    Từ thế kỷ thứ ba, Phật giáo tại Giao Châu vẫn tiếp tục tự phát triển mạnh mẽ, với sự xuất hiện của Tăng Hội (? – 280) và tư tưởng thiền của ông. Ông không những là sáng tổ của Thiền học Việt Nam, mà còn là người đầu tiên đem thiền học phát huy ở Trung Hoa (Tăng Hội đã ở trên đất Ngô từ năm 255 đến 280).

    Thiền định Việt Nam, từ nguyên thủy vốn không phải được truyền từ Trung Hoa sang. Nó đã xuất hiện, dù có thể hoàn toàn là bước đầu, ở Giao Chỉ, từ trước Tăng Hội. Trong Tứ thập nhị chương, danh từ thiền định đã một lần được nhắc đến. Kinh này còn nói đến “quán thiên địa, niệm vô thường”, là một phép thiền, gọi là Vô thường quán. Nhưng dù sao, đến thế kỷ thứ ba, có lẽ đã có một thực tế là Phật giáo từ phương Bắc, cho dù có hình thành những trung tâm muộn hơn, cũng đã bắt đầu có ảnh hưởng trở lại lên Phật giáo Giao Chỉ. Cho dù Tăng Hội có một vai trò lớn đến đâu thì sử sách cũng ghi nhận rằng trong thế kỷ này, các kinh sách về thiền đã được đem từ Lạc Dương xuống, và Tăng Hội cũng là một người đã học tập, lĩnh hội được tư tưởng Phật giáo Đại thừa Trung Hoa.

    Đại thừa (Mahayana) hoàn toàn không xa rời Phật pháp, nhưng về chủ trương, nó khác với Tiểu thừa (Hinayana) vốn xuất phát từ Phật giáo Nguyên thủy (Thérévada). Đại thừa không cố chấp vào kinh điển, trong khi Tiểu thừa thì phải nhất nhất bám sát vào đó. Đại thừa chủ trương “tự giác” và “giác tha”, tức giác ngộ cho chính mình và cho người khác, trong khi Tiểu thừa chỉ nhắm vào việc giác ngộ cho bản thân. Tiểu thừa chỉ thờ một Phật Thích Ca và bậc tu cao nhất là đến La Hán. Đối với Đại thừa, họ thờ nhiều Phật, và bậc tu cao nhất lên đến Bồ Tát. Có thể nói những quan niệm, chủ trương của Đại thừa – một trong những tông phái lớn nhất của Phật giáo (một tông phái lớn khác là Kim Cang thừa) có xuất phát điểm từ Trung Hoa, đã có một sự thâm nhập mạnh mẽ xuống phương Nam kể từ thế kỷ thứ ba trở đi, để lại những dấu ấn phổ biến trong sinh hoạt Phật giáo, cũng như trong tín ngưỡng dân gian.

    Sự thâm nhập của Phật giáo phương Bắc sau đó còn được thể hiện ở việc các thiền sư lớn, những người sáng lập ra những thiền phái có vị trí lớn trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, đều ít nhiều có liên hệ và tiếp thu Phật giáo Trung Hoa.

    Thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi (?-594), người sáng lập ra thiền phái mang tên ông, truyền đến 19 đời, đến đầu thế kỷ 13, là một người gốc nam Thiên Trúc, vân du về phía đông bắc (562), tiếp xúc với Phật giáo Trung Hoa và hành đạo tại đây, đến năm 580 thì vào nước ta.

    Năm 820, thiền sư Vô Ngôn Thông từ nội địa Trung Hoa xuống Giao Châu và sáng lập thiền phái này.

    Sau này, vào thế kỷ 11, Thảo Đường vốn cũng là một thiền sư Trung Hoa đang hành đạo tại Chiêm Thành, bị quân chinh phạt của vua Lý Thái Tông bắt đem về Thăng Long. Sự uyên thâm Phật pháp của người này sau đó được nhận ra, được nhà vua đưa về trụ trì tại chùa Khai Quốc, và lập ra một thiền phái lớn của Phật giáo Việt Nam, thiền phái Thảo Đường.

    Tuy nhiên, ở đây, khi nói về sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam, ta có thể xem việc này đã cơ bản hoàn tất trước thế kỷ thứ 10, khi mà một mặt có sự du nhập trực tiếp từ Ấn Độ cộng với sự ảnh hưởng của Phật giáo Đại thừa từ phương Bắc sau đó, mặt khác là sự sản sinh, hình thành nền thiền học Việt Nam với những thiền phái đầu tiên nhưng lại rất lớn mạnh. Từ đây đã tạo một tiền đề vững vàng cho sự phát triển của Phật giáo Việt Nam về sau, mà đỉnh điểm là giai đoạn thế kỷ 10 – 14.

    2. Ảnh hưởng của Phật giáo lên xã hội Việt Nam trong giai đoạn lịch sử thế kỷ 10 – 14 2.1. Bối cảnh, diễn tiến lịch sử

    Ở Trung Hoa, vào năm 618, Lý Uyên lên ngôi, lập ra nhà Đường, và từ đây lịch sử nước ta lại tiếp tục với 300 năm thuộc Đường. Sau các cuộc khởi nghĩa ở những thời kỳ trước, như khởi nghĩa Hai Bà Trưng (40-43), Lý Bí tuyên bố dựng nước Vạn Xuân (544), thời này các cuộc khởi nghĩa nhằm giành lại độc lập dân tộc vẫn tiếp tục nổ ra. Phùng Hưng khởi nghĩa năm 766-779, Dương Thanh năm 819-820. Cuộc khởi nghĩa của Khúc Thừa Dụ (905) với kết quả là người phương Bắc mất quyền thống trị, nhưng họ Khúc cũng chỉ tự xưng là Tiết độ sứ, nhằm tạo một quan hệ an hòa với những kẻ thống trị cũ. Sự kiện này đã mở ra thời kỳ bắt đầu khôi phục nền độc lập.

    Tháng 12 năm 938, Nam Hán lại một lần nữa dẫn đại binh bằng đường thủy tiến vào nước ta hòng khôi phục ách thống trị. Đội quân này đã chuốc lấy thảm bại trên sông Bạch Đằng trước tài mưu lược của Ngô Quyền. Đây xem như cột mốc chấm dứt hoàn toàn sự đô hộ của ngoại bang hơn 1.000 năm, mở ra kỷ nguyên độc lập lâu dài cho dân tộc.

    Ngô Quyền xưng vương năm 939 và mất năm 944. Các con của Ngô Quyền không đủ khả năng cai trị một nhà nước trung ương tập quyền, loạn mười hai sứ quân diễn ra. Đinh Bộ Lĩnh là người đã quy giang san về một mối. Năm 968, ông lên ngôi, xưng hoàng đế hiệu là Đinh Tiên Hoàng, lập nước Đại Cồ Việt. Nhưng chỉ mười năm sau đó, triều đình nhà Đinh lại xâu xé nhau trong khi nhà Tống ở phía bắc lại động binh nhắm về nam. Năm 980, Thập đạo tướng quân Lê Hoàn lên ngôi, xưng là Lê Đại Hành, lập nên nhà Tiền Lê.

    Tháng 4 năm 981, đại quân Tống bị đánh bại. Năm 982, Lê Hoàn chinh phạt Champa, giữ yên và củng cố biên giới phía nam.

    Thời đại Đinh – Tiền Lê đã được tổ chức mô phỏng theo triều nghi nhà Tống, nhưng bộ máy còn rất sơ sài, chưa phải là một nhà nước phong kiến mực thước.

    Năm 1005, Lê Hoàn mất, Lê Long Đĩnh lên ngôi cùng với sự cai trị tàn ác, sa đọa, không có khả năng dẫn dắt quốc gia. Lê Long Đĩnh mất năm 1009, cuộc vận động của quần thần và tăng sư sau đó đã đưa Lý Công Uẩn lên ngôi. Từ đây, thời kỳ của một nhà nước phong kiến có quy củ hơn bắt đầu.

    Bộ máy chính quyền nhà Lý đã được xây dựng theo mô hình nhà Tống, chia cả nước làm hai mươi bốn lộ-phủ, dưới là huyện, hương. Bộ máy quân đội được xây dựng từ trung ương đến địa phương, có cả bộ binh và thủy binh. Nhà Lý cũng là vương triều Việt Nam đâu tiên ban hành luật thành văn, với việc ra đời của bộ Hình thư gồm hai mươi quyển vào năm 1042. Địa giới tiếp tục được mở rộng về phía nam.

    Từ giữa thế kỷ 12, nhà Lý bắt đầu suy vong, các vị vua trẻ lao vào vui chơi, tửu sắc, gian thần lộng hành. Đầu thế kỷ 13 đã diễn ra hỗn chiến giữa các thế lực phong kiến địa phương, trong đó thế lực của Trần Tự Khánh là mạnh hơn cả. Và ông ta đã đem quân về Thăng Long. Sau khi Trần Tự Khánh chết, mọi quyền hành nằm trong tay Trần Thủ Độ. Năm 1225, con người này đã ép Lý Huệ Tông nhường ngôi cho con gái là Lý Chiêu Hoàng mới bảy tuổi. Năm sau, Lý Chiêu Hoàng lại “nhường ngôi” cho chồng là Trần Cảnh, tám tuổi. Nhà Trần được lập nên từ đây.

    Dưới nhà Trần, vương quyền càng được củng cố hơn, quan chế càng quy củ hơn. Hai mươi bốn lộ dưới thời nhà Lý, nay còn mười hai. Quân đội càng được xây dựng mạnh hơn, thiện chiến hơn. Một nền pháp luật hoàn chỉnh hơn cũng đã được xây dựng. Năm 1230, Trần Thái Tông san định Quốc triều thông chế gồm hai mươi quyển. Năm 1341, đã biên soạn Hoàng triều đại điển và khảo đính Hình thư. Xã hội đã có một thời kỳ thật sự cường thịnh.

    Nhưng vào nửa sau thế kỷ 14, xã hội Đại Việt lại khủng hoảng. Triều đình rơi vào sa đọa, tham nhũng, tửu sắc, cờ bạc. Bên ngoài thì Champa lại gây hấn. Hồ Quý Ly, con rể của Trần Minh Tông dần nắm mọi chức vụ quan trọng, từng bước loại trừ, sát hại tông thất. Năm 1400, Hồ Quý Ly ép Trần Thiếu Đế nhường ngôi, lập nên nhà Hồ (1400-1407)

    2.2. Ảnh hưởng của Phật giáo lên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội 2.2.1. Ảnh hưởng của Phật giáo dười thời Đinh, Tiền Lê

    Dưới chính sách đô hộ hà khắc của nhà Đường, việc học hành của quần chúng bị hạn chế, kẻ sĩ ngoài đời thì vốn đã không nhiều lại còn bị dòm ngó, răn đe. Vì thế, do vốn đã thâm nhập sâu trong đời sống dân gian, một cách tự nhiên, trách nhiệm xã hội được đặt lên vai giới tăng sĩ Phật giáo. Họ, ngoài việc hướng dẫn tinh thần, đạo đức, còn trực tiếp lo toan những công việc thuộc nhu cầu thực tế của dân chúng. Họ mở lớp dạy chữ ở chùa cho mọi con em, như trường hợp của Lý Công Uẩn đã từng nhận được sự giáo dục nơi cửa chùa. Chính tại đây họ đã nuôi dưỡng ý thức dân tộc, lòng yêu nước cho nhiều thế hệ thanh thiếu niên, không để nó bị mai một, bị “mất gốc” sau hàng trăm năm Bắc thuộc. Họ không phải là những thầy lang nhưng lại có kiến thức y dược, trực tiếp chuẩn trị, hốt thuốc cho mọi người. Họ đứng ra làm các công việc cầu an, ma chay, chọn đất, chọn ngày cho việc xây cất, khai trương làm ăn… Giới tăng sĩ vốn là thành phần có học thức, lại không thuộc thành phần thống trị, gần gũi với dân chúng, nên có được sự cảm thông, chia sẻ nỗi khổ của người dân trong cảnh đô hộ. Và từ đó nhà chùa đã thực sự trở thành nơi hun đúc lòng yêu nước, một trung tâm của ý thức và niềm tin vào độc lập dân tộc, có sức ảnh hưởng rộng khắp trong dân gian. Ngay trong thời kỳ tiền độc lập, Phật giáo đã đóng một vai trò rất lớn về mặt tinh thần, ý chí trên bước đường đấu tranh của dân tộc.

    Sau Ngô Quyền, các triều đại Đinh, Tiền Lê, Lý đã nỗ lực xây dựng một quốc gia độc lập về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, quân sự, và đóng góp của Phật giáo trong buổi đầu này rất quan trọng.

    Vào thời Đinh, Lê, thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã truyền đến đời thứ 11, 12, và ảnh hưởng của họ trong dân gian vẫn rất mạnh. Những thiên chức xã hội mà nhà Phật đã gánh vác trong những thế kỷ vừa qua, nay vẫn tiếp tục. Mặt khác triều đình cũng biết trọng dụng họ, xem những cao tăng uyên bác như những cố vấn, có thể bàn luận, giải quyết những vấn đề chính sự.

    Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi vốn mang nhiều yếu tố Mật giáo. Mật giáo quan niệm trong vũ trụ có một lực lượng siêu nhiên mà nếu biết sử dụng, người tu hành sẽ bước mau trên con đường thành đạo, có thể là tức thời. Mật giáo chú trọng cúng bái, thần chú, ấn quyết. Thêm vào đó, sấm vĩ, phong thủy cũng là một yếu tố của Phật giáo Việt Nam trong một thời kỳ dài. Sấm vĩ là sự suy trắc về tương lai trên cơ sở âm dương, ngũ hành tương khắc. Phong thủy là môn thuật xem xét địa thế trong tương quan với thành bại, vận mệnh của công việc, con người, quốc gia, trên cơ sở sự sắp xếp tinh tú trên bầu trời và “long mạch” trên mặt đất. Chính sự kết hợp của Mật giáo, sấm vĩ, phong thủy đã đẩy mạnh vai trò xã hội của Phật giáo trong những thế kỷ trước khi giành được độc lập, và ngay cả ở buổi đầu của kỷ nguyên này.

    Sự thực hành, trì chú Mật giáo rất phổ biến ở thời Đinh và Tiền Lê. Vào năm 1965, tại làng Trường Yên thuộc kinh đô Hoa Lư cũ, đã tìm thấy một bia đá dựng vào năm 973, nhà Đinh, khắc những câu kệ và chú Đà La Ni. Cũng đã phát hiện một kinh tạng dựng năm 995 thời Lê Đại Hành, với một bài kệ có nhắc đến “Phật đỉnh Đà La Ni”.

    Sách sử cũng ghi lại rằng thuở đầu lập quốc, các thiền sư đã mở những cuộc vận động gây ý thức quốc gia. Họ đã sử dụng những môn thuật sấm vĩ và phong thủy trong các cuộc vận động này, như “tuyên truyền” những sấm vịnh về nền độc lập dân tộc lâu dài, về vận số của một triều đại, về long mạch quốc gia và sự trù ếm nó của người Hán tộc phương Bắc nay đã được khai thông…

    Năm 971, vua Đinh Tiên Hoàng đã – lần đầu tiên trong lịch sử Phật giáo Việt Nam – phân định giáo tầng cho tăng sĩ, và ban chức Tăng thống cho sư Ngô Chân Lưu của phái Vô Ngôn Thông. Thiền phái này chủ trương “đốn căn” ở những người có căn cơ lớn về trí tuệ và hành đạo, có thể đắc đạo nhanh, tức thời. “Tâm địa” là “nền đất” mà một khi tâm khai thông được thì trí tuệ giác ngộ tự nhiên xuất hiện. Vô Ngôn thông cũng chủ trương “vô đắc”, tức không chấp bản thân, mục đích giác ngộ hay là sự giác ngộ là gì. Ngô Chân Lưu trở thành Khuông Việt Đại Sư, và vua Đinh cũng đã chính thức xem Phật giáo như là những nguyên tắc chỉ đạo tâm linh cho chính sự. Cũng trong thế kỷ thứ 10, vua Lê Đại Hành đã mời các sư Pháp Thuận (? – 991), Vạn Hạnh (? – 1108) làm cố vấn chính sự. Cả Khuông Việt và hai vị sau đều tiếp tục giúp vua Lý Thái Tổ sau này.

    2.2.2. Ảnh hưởng của Phật giáo dưới thời nhà Lý

    Vào thời đại nhà Lý, Phật giáo vẫn tiếp tục giữ một vai trò rất lớn về mặt chính trị. Ngay điểm khởi đầu, tức là việc lập nên triều đại này, Phật giáo đã đóng vai trò quyết định.

    Tuy đã giúp nhà Tiền Lê, nhưng trước tình trạng tệ lậu của quốc gia dưới sự cai trị của Lê Long Đĩnh, sư Vạn Hạnh đã không ngần ngại ủng hộ Lý Công Uẩn lên ngôi, chấm dứt chế độ dã man của Lê Ngọa Triều, bằng một cuộc vận động quần chúng qua sấm truyền về vận mệnh dân tộc gắn với chữ Lý, vốn đã được nhà sư Định Không (? – 808) nói đến từ hai thế kỷ trước. Với việc Lý Công Uẩn xuất thân là một môn sinh của nhà chùa và vai trò của sư Vạn Hạnh, sẽ không ngoa khi nói rằng bước đầu dựng lên nhà Lý công đầu thuộc về Phật giáo. Sư Vạn Hạnh cũng là người được tin rằng đã thuyết phục Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long với ý nguyện bảo vệ lâu dài nền độc lập dân tộc.

    Các tăng sư Phật giáo cũng trực tiếp tham dự chính sự qua việc trực tiếp thiết lập các kế hoạch, thảo văn thư, tiếp sứ thần, bàn luận cả những vấn đề về quân sự. Tuy can dự vào chính sự nhưng tăng sư Phật giáo không hề chủ trương tham gia chính quyền, nên sau đó, khi triều đình đã vững mạnh hơn, có thể tự mình gánh vác tất cả, thì họ lại tự nhiên lui về với chức năng vốn có của mình, là hướng dẫn tinh thần và đạo đức, lui về với việc tu đạo của mình khi nhiệm vụ đối với quốc gia, với quảng đại quần chúng đã hoàn thành.

    Phật giáo thời Lý cũng có ảnh hưởng rất lớn lên văn hóa – nghệ thuật.

    Về phương diện học thuật, Phật giáo Việt Nam giai đoạn này, mà chủ thể là các tăng sĩ, thiền sư, đã có công đào tạo một lớp trí thức có trình độ uyên thâm cả Phật, Nho, Lão, nhưng lại không cố chấp và biết dung hợp những dị biệt giữa ba hệ thức triết lý này. Nhiều thiền sư am tường cả tam giáo (Khuông Việt, Vạn Hạnh, Đạo Hạnh, Viên giác, Mẫn Giác…), và sẵn sàng truyền thụ cho các môn đệ những tinh túy của các quan niệm chính trị – xã hội của Nho giáo. Khi nghị bàn chính sự họ cũng sẵn sàng sử dụng lý luận Nho học. Kiến thức Nho được sử dụng theo tinh thần Phật giáo đã đóng góp khá nhiều cho học thuật và chính trị đời Lý.

    Dưới sự tác động, hướng dẫn tinh thần của các thiền sư, Phật giáo dưới thời Lý đã tạo dựng một bản sắc văn hóa chính trị đầy tính nhân bản. Nhà Lý đã được xem như một triều đại thuần từ nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Các vị vua của triều đại này có cuộc sống đạo đức và tâm linh. Đã không có cảnh tranh đoạt, bạo loạn, cực hình, mà thay vào đó bằng một đường lối chính trị khoan dung, độ lượng, từ bi với thần dân và với cả kẻ thù (vua Lý Thái Tông tha tội cho Nùng Trí Cao, vua Lý Thánh Tông không giết Chế Củ, vua Chiêm Thành). Xã hội vì đó mà bình an, phú cường, đoàn kết, tạo nên những chiến tích trước Chiêm Thành phía Nam và cả Tống quốc hùng mạnh phương Bắc.

    Phật giáo giai đoạn này cũng có những đóng góp to lớn đối với sinh hoạt văn học. Văn học Phật giáo đã trở thành dòng văn học chủ đạo của thời này.

    Những công trình kiến trúc và điêu khắc Phật giáo cũng đóng góp những giá trị mỹ thuật cho triều đại nhà Lý. Những công trình này giờ đây không còn lưu lại bao nhiêu, nhưng sử sách ghi lại là vào các triều vua Lý Thái Tổ, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông, Lý Thần Tông đã xây, lập rất nhiều chùa, điện, tháp, tiến hành đúc, vẽ nhiều tượng, tranh Phật. Những công việc này không phải chỉ nhằm cho hoàng tộc, mà ở khắp nơi trong dân chúng. Một công trình nhà Lý mà nay vẫn là một trong những biểu tượng của dân tộc Việt, chính là Chùa Một Cột, được xây từ năm 1049, khi đó gọi là Chùa Diên Hựu.

    Tuy nhiên, sức ảnh hưởng của Phật giáo lên đời sống chính trị, văn hóa, tinh thần vào thời nhà Lý được cho là có quá nhiều màu sắc mê tín. Có lẽ nhận định như vậy có phần hơi khắt khe. Cho dù có những yếu tố Mật giáo, sấm vĩ, phong thủy, nhưng đây lại là những cái đã góp phần không nhỏ cho vị trí của dân tộc Việt kể từ thời nhà Đinh đến lúc đó, và tính mê tín của nó thật ra cũng không bằng ở giai đoạn suy đồi của Phật giáo như vào thời Lê Sơ hay thời Pháp thuộc.

    2.2.3. Ảnh hưởng của Phật giáo dưới thời Trần

    Sự ảnh hưởng của Phật giáo dưới đời nhà Lý vẫn được tiếp tục dưới đời Trần.

    Vào đầu thế kỷ 13, đã có sự dần dần sáp nhập vào với nhau của ba thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường. Thiền phái Yên Tử từ đây mà hình thành. Thiền phái này sau đó, dưới sức ảnh hưởng rất lớn của vua Trần Thái Tông và Tuệ Trung Thượng Sĩ, đã có một bước phát triển lớn, trở thành thiền phái Trúc Lâm – thiền phái duy nhất dưới đời nhà Trần. Có thể nói, thời đại nhà Trần là thời đại Phật giáo nhất tông, mà thiền sư Hiện Quang (? – 1221), tu đạo tại núi Yên Tử, là vị khai tổ của sự nhất tông này.

    Vua Trần Thái Tông (1218-1277) không nằm chính thức trong tông phả của Trúc Lâm, nhưng có nhiều cơ duyên với Phật giáo, với thiền phái này. Ông đã tự tu học Phật đạo và để lại nhiều tác phẩm Phật học có giá trị.

    Vua Trần Nhân Tông (1258-1308) lại là một chân truyền chính thức đời thứ sáu của Yên Tử, ông xuất gia năm 1299, sau 21 năm làm vua, lấy hiệu là Trúc Lâm Đầu Đà . Tất nhiên thực tế khó mà đến mức như vậy, nhưng điều đó cho thấy tầm mức quá sức rộng lớn của sinh hoạt Phật giáo lúc đó, đến nỗi, ý thức được nguy cơ tăng sĩ quá đông mà không thủ trì nghiêm túc giới luật sẽ dẫn đến suy vong của chính giáo hội, phái Trúc Lâm đã in Tứ thần luật và tổ chức học tập cho giới tăng sĩ về giới luật, định ra những quy chế rõ ràng trong việc tổ chức, sinh hoạt, quản lý giáo hội.

    Vào thời này nhà chùa cũng đã thực sự trở thành một lực lượng kinh tế. Điều này cũng dễ hiểu trước sự ủng hộ của triều đình và thế lực chính trị, xã hội, tinh thần của Phật giáo. Chùa chiền khắp nơi đã chiếm hữu nhiều ruộng đất. Sử sách còn ghi lại là ruộng đất được dâng tặng rất nhiều cho các chùa Báo Ân, Quỳnh Lâm, Sùng Nghiêm, Vĩnh Nghiêm, Thanh Mai, Côn Sơn, là những chùa lớn thời đó. Riêng chùa Quỳnh Lâm đã có hơn 1.000 mẫu đất và có tới 1.000 người làm ruộng. Lợi tức thu được từ đây có lẽ đã được sử dụng vào Phật sự và tăng sự của toàn giáo hội.

    Phật giáo Trúc Lâm đạt đến đỉnh điểm là vậy, nhưng đến sau đời sư Huyền Quang (1254-1334), nó không còn hưng thịnh nữa. Điều này không thể giải thích chỉ bằng sự ra đi quá sớm của vua Anh Tông trước khi thực hiện ý định xuất gia. Cũng không thể cho là do sự yếu kém của Huyền Quang, người nhận nhiệm vụ lãnh đạo giáo hội khi ở vào tuổi 77, cũng không phải là sự bất lực của An Tâm, người kế vị Huyền Quang. Có lẽ sự đi xuống này cần được giải thích từ nguồn gốc sâu xa trong những vấn đề xã hội của Phật giáo. Có thể thấy là khi nền độc lập quốc gia đã trở nên vững vàng, việc củng cố quyền lực thống trị của mọi triều đại là không thể tránh khỏi. Từ đây nảy sinh việc tìm kiếm, xây dựng một ý thức hệ làm nền tảng. Nhà Trần cũng không tránh khỏi điều này, và ý thức hệ này vốn đã có sẵn, đó chính là Nho học. Nho giáo đã dần hưng thịnh lên, việc học Nho và các quan Nho ngày một nhiều, và xã hội đã bắt đầu phân hóa do vấn đề ý thức hệ. Các Nho thần quan niệm chỉ có Nho giáo mới là đạo thánh nhân, còn Phật giáo thì chỉ có hại cho quốc gia. Hơn nữa, đối với bản thân Phật giáo thời này, khi mà một giáo hội dựa quá nhiều vào sự ủng hộ của triều đình mà quên đi thế đứng thật sự cần được cắm sâu trong dân gian, sự suy giảm của nó là sẽ đến lúc không thể tránh khỏi.

    ***

    Tóm lại, sau thời kỳ đầu du nhập ở thế kỷ thứ nhất và thứ hai, trực tiếp từ nguồn gốc Ấn Độ, điều đã cho phép sự phát triển Phật giáo rất sớm ở Việt Nam, vào những thế kỷ sau, Phật giáo Việt Nam đã có sự giao tiếp với Phật giáo Trung Hoa, tiếp nhận những thâm nhập mới. Trong giai đoạn du nhập, Phật giáo Việt Nam đã bước đầu tự hình thành nên tư tưởng thiền định đầu tiên. Cùng với sự thâm nhập của Phật giáo phương Bắc sau đó, các thiền phái như Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường đã phát triển mạnh mẽ. Trong bối cảnh của một dân tộc bị đô hộ, nhà chùa Phật giáo đã tự nhận lấy cho mình trách nhiệm chăm lo đối với dân chúng. Họ, những sư sãi Phật giáo, đã nhận phần công việc dạy học, hốt thuốc, trị bệnh, ma chay, tế lễ, định việc xây cất, làm ăn… cho mọi người, và bao trùm lên tất cả, là sự hun đúc một tinh thần độc lập dân tộc. Chính là từ chỗ tinh thần về một nền độc lập đó vẫn tồn tại, nên cho dù đã 1.000 năm bị đô hộ mà Đinh Bộ Lĩnh đã có thể hoàn tất việc xây dựng một triều đại độc lập đầu tiên sau ách thống trị phương Bắc. Trải qua Đinh, Lê, Lý, Trần, dù các tăng sĩ chỉ can dự trực tiếp vào chính sự ở giai đoạn đầu, nhưng vị trí, vai trò của Phật giáo đã ngày càng phát triển, đạt đến độ cực thịnh vào thời Trần, và chỉ suy thoái từ nửa sau thế kỷ 14.

    Sự phát triển của Phật giáo trong những thời kỳ lịch sử này, với tinh thần nhập thế thể hiện ở những mức độ khác nhau, không hề đứng trên tư tưởng thống trị, quyền lực và quyền lợi, Phật giáo đã thực thi một tinh thần khoan dung, độ lượng, hòa hợp đối với dân chúng, đối với kẻ địch, và cả đối với những tư tưởng-giáo lý khác. Những điều này không những làm cho Phật giáo đứng ở trung tâm của hoạt động chính trị, văn hóa, xã hội giai đoạn thế kỷ 10 – 14, thậm chí có những lúc là quyết định vận mệnh quốc gia (trường hợp Lý Công Uẩn lên ngôi), mà đối với bản thân, nó đã xây dựng cho mình một tư tưởng Phật giáo, một giáo hội Phật giáo Việt Nam độc lập, mang bản sắc riêng, và lớn hơn thế nữa, nó còn tạo nên bản sắc văn hóa, bản sắc chính trị trong giai đoạn lịch sử này, tạo nên bản sắc của dân tộc ta khi đó. Sự đi xuống của Phật giáo sau đó, từ nửa sau thế kỷ 14, là một điều hoàn toàn hợp tính quy luật, khi mà một hệ tư tưởng tôn giáo không còn có sự ủng hộ của những quyền lực thế tục. Nhưng dù vậy, tinh thần hòa hợp Phật giáo – dân tộc đó mãi mãi là một trong những trang sử đậm nét nhất của dân tộc ta.

    Lời tác giả: Tiểu luận này hoàn toàn chỉ như một tổng kết ngắn gọn của vấn đề được nêu, từ các tài liệu lịch sử và sử liệu Phật giáo rất có giá trị của các học giả lớn trên lĩnh vực này. Một vài nhận định cỏn con của tôi từ đó thật sự không đáng gì so với các nguồn học thuật này, nhưng là kết quả của cảm giác thú vị trong khám phá khi nhận ra những điều thật sự thú vị của lịch sử Phật giáo nước nhà giai đoạn này. Mong rằng cảm giác này truyền được sang những bạn đọc có quan tâm đến đề tài nhưng lại không có nhiều thời gian để đọc lại toàn bộ sử liệu. Tôi mang ơn Nguyễn Lang, tác giả của bộ Việt Nam Phật giáo sử luận, nguồn cung cấp tư liệu chủ lực cho tiểu luận này.

    Khi đó ở Đông Hán, Lão giáo còn mang nhiều yếu tố thần tiên. Câu chuyện “hóa Hồ” cho rằng Lão Tử sau khi biệt tăm ở miền Tây đã sang Hồ (Ấn Độ) và giáo hóa, chinh phục người Hồ, và chính ông trở thành… Phật Thích Ca.

    Theo Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo Sử luận, in lần thứ 3, Nxb Văn hóa, HàNội, 1992, tr. 469, 470

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ảnh Hưởng Của Phật Giáo Đến Đời Sống Tinh Thần Người Việt
  • Ảnh Hưởng Của Phật Giáo Với Con Người Việt Nam
  • Luận Văn Ảnh Hưởng Của Tình Hình Kinh Tế , Chính Trị Đến Sự Phát Triển Du Lịch Ở Việt Nam
  • Tác Động Của Du Lịch Đến Kinh Tế
  • 10 Nguyên Tắc Du Lịch Một Mình
  • Ảnh Hưởng Của Văn Hóa Trung Quốc Đến Việt Nam Như Thế Nào ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Du Lịch Văn Minh Là Gì? 7 Lưu Ý Dành Cho Những Du Khách Có Trách Nhiệm
  • Vật Dụng Cần Nhất Thiết Khi Đi Du Lịch Gồm Những Gì?
  • Những Lưu Ý Khi Mua Vé Máy Bay Đi Du Lịch Nhật Bản
  • Vé Máy Bay Đi Đà Nẵng Giá Rẻ Vietjet, Vietnam Airlines, Bamboo Airways & Pacific Airlines
  • Vé Máy Bay Đi Đà Nẵng
  • Có thể giải thích lý do ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc tới Việt Nam với các nguyên nhân sau:

    Nguyên nhân lịch sử

    • Việt Nam đã trải qua ngàn năm bắc thuộc và rất nhiều cuộc đấu tranh để chống lại kẻ thù là “người hàng xóm to con” nay là Trung Quốc.
    • Chính những yếu tố lịch sử này đã tạo điều kiện tiếp xúc văn hóa giữa Việt Nam và Trung Quốc.

    Nguyên nhân thứ hai chính là vị trí địa lý: Nước ta và Trung Quốc có vị trí địa lý rất gần nhau không tránh khỏi những giao thoa về văn hóa.

    Cưới hỏi là chuyện trọng đại của đời người. Bạn có bao giờ thắc mắc liệu phong tục cưới hỏi của người Hoa như thế nào chưa? Có rất nhiều điều đặc biệt trong nghi lễ quan trọng này ở đất nước tỷ dân đấy. Bạn đã biết chưa?

    Những ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc đến Việt Nam

    Ảnh hưởng về mặt tư tưởng

    Nho giáo từ thời Khổng Tử cùng với Đạo giáo Trung Hoa ảnh hưởng rất lớn đến hệ tư tưởng của những người trí thức nước ta thời xưa.

    • Miếu thờ Khổng Tử xuất hiện thời nhà Lý sau một thời gian Nho giáo du nhập vào nước ta.
    • Nho giáo là hệ tư tưởng chính đời nhà Lê.
    • Đông Á Trung Hoa trở thành mô hình chính của ở chế độ quân chủ tập quyền.
    • Khoa cử được tổ chức quy củ.
    • Tầng lớp Nho sĩ ngày càng phát triển phải kể đến như Chu Văn An, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu,…

    Ảnh hưởng nghệ thuật

    Một trong những yếu tố mà văn hóa Trung Quốc ảnh hưởng đến Việt Nam chính là kiến trúc. Kiến trúc Trung Hoa có sự ảnh hưởng rất lớn đến các công trình lịch sử nổi tiếng của nước ta như: Văn Miếu Quốc Tử Giám, thành nhà Hồ, hoàng thành Thăng Long,…

    Điêu khắc nước ta cũng chịu ảnh hưởng nhất định từ nước bạn biểu hiện thông qua rất nhiều những bức tượng Phật, tượng rồng cùng rất nhiều vật điêu khắc khác.

    Hội họa đặc sắc của Trung Hoa không những có sức ảnh hưởng ảnh hưởng mạnh mẽ đến Việt Nam mà lan sang nhiều nước khác ở châu Á. Những bức bạch họa, bản họa, bích họa của Trung Quốc sống động như thật.

    Ảnh hưởng của Hán tự

    Nhân dân Việt Nam đã sáng tạo nên chữ Nôm trên cơ sở cải biến chữ Hán. Người trí thức xưa ai cũng biết chữ Nôm và giai đoạn đó nó được xem là Quốc ngữ. Tuy nhiên, không phải ai cũng học được loại chữ này vì nó rất khó so với bản gốc là tiếng Hán. Nguyễn Trải là một trong những nho sĩ rất am hiểu về chữ Nôm.

    Ảnh hưởng về chính trị xã hội

    • Tổ chức bộ máy chính quyền ở nước ta thời xưa khá giống với Trung Quốc với các tể tướng, tướng quân,…
    • Trang phục, kiểu tóc,… dân ta ngày xưa cũng chịu ảnh hưởng rất nhiều.
    • Tương đồng về những tư tưởng văn hóa như: âm dương, ngũ hành,…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mối Tương Quan Giữa Văn Hóa Và Du Lịch
  • Những Yếu Tố Nào Ảnh Hưởng Đến Văn Hóa Ẩm Thực Mỗi Quốc Gia?
  • Cao Đẳng Văn Hóa Nghệ Thuật Và Du Lịch Sài Gòn Tuyển Sinh 2022
  • Xây Dựng Thành Phố Huế Văn Hóa Và Du Lịch Thông Minh
  • Văn Hóa Du Lịch Hà Nội
  • Du Lịch Việt Nam Sụt Giảm Do Ảnh Hưởng Của Virus Corona

    --- Bài mới hơn ---

  • 6 Điểm Đến Lý Tưởng Để Đi Du Lịch Vào Tháng 1 Ở Việt Nam
  • Khách Du Lịch Đến Việt Nam Tăng Vọt Trong Tháng 1/2018
  • Du Lịch Tháng 10 Ở Đâu Đẹp Và Lý Tưởng?
  • Tháng 10, Du Lịch Việt Nam Đón Lượng Khách Quốc Tế Cao Kỷ Lục
  • Top 10 Địa Điểm Du Lịch Tháng 11/2021 Không Nên Bỏ Lỡ
    • Chia sẻ

    Thống kê cho thấy, năm 2022, tổng lượng khách du lịch Trung Quốc ra nước ngoài là 170 triệu lượt người (so với 20 triệu tại thời điểm diễn ra dịch SARS năm 2003) với tổng chi tiêu lên đến 260 tỉ USD (theo ANZ). Các quốc gia Đông Nam Á, Nhật Bản, Hàn Quốc là những quốc gia chịu ảnh hưởng nhiều từ sự sụt giảm khách du lịch từ Trung Quốc, đặc biệt là Thái Lan với tỷ trọng đóng góp của ngành du lịch trên GDP ở mức 11,2%.

    Việt Nam cũng không phải ngoại lệ, khi số liệu từ Tổng cục Du lịch cho thấy, lượng khách Trung Quốc đến Việt Nam trong năm 2022 tính theo từng tháng luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu khách quốc tế, trung bình 30-50%. Trước khi các lệnh cấm đón khách từ vùng dịch được ban hành, trong tháng 1/2020, ngành du lịch Việt Nam ghi nhận lượng khách quốc tế đến ước đạt gần 2 triệu lượt người, tăng 32,8% so với cùng kỳ năm trước, cao nhất từ trước đến nay. Trong đó, tăng mạnh nhất là khách Trung Quốc, tăng 72,6%, đạt 644.700 lượt khách.

    Tuy nhiên, từ khi dịch viêm phổi cấp bùng phát ở Trung Quốc, lượng khách từ thị trường này giảm nghiêm trọng. Đặc biệt, khoảng 1 tháng sau khi dịch viêm phổi cấp do chủng mới của virus Corona (nCoV) được phát hiện lần đầu tiên tại TP. Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc, ngày 27/1, Chính phủ nước này đã ban lệnh cấm các chuyến đi du lịch ra nước ngoài theo nhóm. Điều này kéo theo việc, từ ngày 28/1, nhiều doanh nghiệp du lịch Trung Quốc bắt đầu hủy tour đến Việt Nam.

    Đại diện Công ty du lịch Vietravel thông tin dịp Tết Nguyên đán 2022, Vietravel đã hủy khoảng 60 đoàn khách Trung Quốc sang Việt Nam (khoảng 1.000 khách). Hiện tại công ty đã hủy tất cả tour từ Trung Quốc sang Việt Nam đến hết tháng 3/2020. Vị này dự đoán để tình hình có thể ổn định, dịch bệnh được kiểm soát và phục hồi thì phải đến khoảng tháng 6/2020. Do đó chắc chắn các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực du lịch thời gian tới sẽ gặp khó khăn và thiệt hại đáng kể.

    Tương tự, sự bùng phát mạnh mẽ của virus Corona trong thời gian gần, cùng với khuyến cáo của các cơ quan chức trách về việc cấm tụ tập ở những địa điểm đông người như sân bay, trạm tàu, trạm xe buýt và cả các nhà hàng hay khu vực vui chơi giải trí cũng khiến nhu cầu đi lại, du lịch của khách hàng nội địa sụt giảm đáng kể.

    Khách Việt Nam cũng sẽ ngần ngại trước nhiều tour du lịch nước ngoài. Đặc biệt các tour đi Trung Quốc tính đến thời điểm này đã hủy hết, thậm chí nhiều công ty lữ hành còn hủy tour Trung Quốc đến hết tháng 3 để nghe ngóng tình hình. Tính đến thời điểm hiện tại, 142 lượt khách du lịch quốc tế đến Việt Nam đã hủy tour, mặt khác 1.663 lượt khách Việt Nam cũng đã hủy tour đi du lịch nước ngoài, chủ yếu đăng ký đi du lịch Trung Quốc.

    Báo cáo tại cuộc họp, về công tác phòng, chống dịch bệnh viêm đường đường hô hấp cấp do chủng mới của virus Corona của UBND TP. Hà Nội, Giám đốc Sở Du lịch TP Trần Đức Hải cho biết, tính riêng tại TP đã có hơn 12 nghìn trường hợp hủy phòng khách sạn; hơn 3100 khách lữ hành hủy đến các lễ hội. Nhìn chung tại các điểm đến du lịch đều giảm từ 30-50% lượng khách.

    Không chỉ khách Trung Quốc sụt giảm mạnh, mà lượng khách nước ngoài đến Việt Nam từ các thị trường Âu, Mỹ cũng đang có xu hướng hủy tour do lo ngại Việt Nam nằm trong vùng dịch.

    Một số điểm đến du lịch như Thái Lan, Indonesia và Việt Nam sẽ phải đối mặt với sự sụt giảm du khách đến từ châu Âu, Úc, Mỹ,… do khách đến từ các quốc gia này có khả năng cao sẽ hủy hoặc hoãn thời gian du lịch do ảnh hưởng của dịch bệnh.

    Khu vực Đông Nam Á, sau một giai đoạn tăng trưởng mạnh mẽ về thu hút khách quốc tế (138 triệu khách quốc tế trong năm 2022 với tỷ lệ tăng trưởng kép hàng năm đạt mức ấn tượng 7,8% trong vòng 9 năm trở lại đây) thì dự kiến trong thời gian tới sẽ phải đối mặt với sự sụt giảm khách quốc tế tương đối lớn.

    Ông Cao Trí Dũng, Chủ tịch Hiệp hội Du lịch cũng bày to quan điểm, lo ngại dịch viêm phổi virus Corona ảnh hưởng ngày càng lớn đến ngành du lịch, không chỉ khách Trung Quốc suy giảm, mà các nguồn khách khác cũng bị ảnh hưởng, như khách Hàn Quốc, Thái Lan, Đài Loan giảm từ 10 – 30%, khách nội địa cũng giảm.

    Dịch viêm phổi cấp do virus Corona khởi phát tại Vũ Hán từ tháng 12/2019, lan ra 31 tỉnh thành Trung Quốc. Thời gian ủ bệnh trong khoảng 14 ngày, virus có thể lây lan qua dịch thể khi ho và hắt hơi trước khi xuất hiện các triệu chứng giống những bệnh viêm đường hô hấp khác.

    Cơ quan y tế Hồ Bắc sáng nay (4/2) cho biết hiện đã có thêm 64 người chết vì dịch viêm phổi do virus Corona tại Trung Quốc, qua đó nâng tổng số trường hợp tử vong trên toàn cầu lên 426 người (425 người ở Trung Quốc và 1 người ở Philippines)

    Theo số liệu được cập nhật, hiện trên thế giới đã xác nhận 20.622 trường hợp nhiễm bệnh do virus Corona, trong đó bao gồm: 20.438 người ở Trung Quốc, 15 người ở Hong Kong, 8 người ở Ma Cao, 10 người ở Đài Loan, 96 người ở các nước châu Á khác, 21 người ở châu Âu, 15 người ở Bắc Mỹ, 12 người ở châu Đại Dương và 7 người ở các nước khác.

    Tại Việt Nam, tính đến ngày 4/2 đã ghi nhận 9 trường hợp mắc virus corona. Cả nước đã có tổng số 304 trường hợp nghi ngờ đã được cách ly theo dõi, trong đó có 214 trường hợp đã xét nghiệm loại trừ, còn 90 trường hợp nghi ngờ đang được cách ly điều trị chờ kết quả xét nghiệm, phòng chống lây nhiễm tại cơ sở y tế. Số tiếp xúc gần đang theo dõi là 270 trường hợp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giới Thiệu Du Lịch Việt Nam Tại Singapore
  • Tăng Cường Hợp Tác Du Lịch Việt Nam Singapore
  • Tải Về Du Lịch Việt Nam Qua 26 Di Sản Thế Giới Epub
  • Du Lịch Việt Nam Qua 26 Di Sản Thế Giới
  • Để Du Lịch Việt Nam Phát Triển Bứt Phá
  • Du Lịch Đến Đất Nước Phật Giáo Bhutan

    --- Bài mới hơn ---

  • Du Lịch Butan Tháng 4
  • Đi Du Lịch Thái Lan, Cha Con Chết Bất Thường
  • Top 15 Địa Điểm Du Lịch Gần Hà Nội 2 Ngày 1 Đêm Cho Cuối Tuần
  • 10 Địa Điểm Du Lịch Gần Hà Nội Cho Cuối Tuần Hào Hứng
  • Bỏ Túi 8 Địa Điểm Du Lịch Gần Sài Gòn Để Đi
  • Có những nỗi nhớ về một vùng đất lại khiến ta nhói trong tim mỗi khi chạm vào mảnh ký ức đẹp đẽ. Với tôi, chuyến du lịch Bhutan đã xảy ra như một cơ duyên.

    Chuyến đi hạnh phúc

    Sau gần 5h bay với hãng hàng không Hoàng gia Bhutan-Drukair từ Bangkok, tôi đặt chân tới Paro – thành phố có sân bay quốc tế duy nhất của Bhutan với sự háo hức trong tâm thế của khách du lịch về một đất nước nhỏ bé trên dãy Himalaya chưa tới 700 ngàn dân, nằm giữa hai nền văn hóa lớn và đông dân nhất thế giới Trung Quốc, Ấn Độ và đặc biệt là quốc gia duy nhất không thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc.

    Ấn tượng đầu tiên là trang phục truyền thống của người Bhutan, gho (dành cho nam) và kira (dành cho nữ) được người dân mặc mọi lúc mọi nơi một cách đầy tự hào. Leki, chàng hướng dẫn du lịch Bhutan trẻ trung sành điệu với cặp kính Rayban, dùng smartphone đời mới, đeo đồng hồ G-Shock vuốt nhẹ vạt áo kể về bộ gho đang mặc dệt bằng tay mà may mắn bạn được thừa hưởng từ ông nội. Lòng tôi chùng xuống, bỗng thấy mình không hẳn còn là khách phương xa khi nhớ tới hình ảnh con gái tôi trong tà áo

    Là quốc gia lấy đạo Phật làm quốc giáo, nơi nền Phật giáo Kim cương thừa vẫn được bảo tồn gần như nguyên vẹn. Lịch sử văn hóa được ảnh hưởng bao trùm bởi văn hóa Tây Tạng nhưng có lẽ do đóng cửa biên giới với Trung Quốc nên nơi đây vẫn giữ được tính thuần khiết của nền văn hóa truyền thống đó mà không bị lai tạp. Khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ không hề bị tác động bởi bàn tay con người.

    Là vùng đất của những đền đài, tu viện nên đi đến đâu cũng thấy cờ phướn của nhà Phật tung bay. Người Bhutan đôn hậu nhân ái và thân thiện, họ suy nghĩ đơn giản và trong veo về cuộc sống, nhẹ nhàng đón nhận niềm vui cũng như nỗi buồn như việc tất yếu tự nhiên. Họ tin vào luật nhân quả và duyên kiếp, điều này khiến họ sống một cuộc sống từ bi, làm việc tốt cho người khác và không sát sinh.

    Sau khi thấy sự gần gũi trìu mến giữa tôi với những chú chó mà tôi đã gặp, Leki cười hiền nói: “Người Bhutan tin vào thuyết luân hồi tái sinh, nên ở kiếp trước có thể bạn là một trong những chú chó này”. Nhận xét đó làm tôi bật cười và suy nghĩ mông lung. Quả là mọi sinh linh đều bình đẳng trước tự nhiên, cát bụi rồi cũng trở về với cát bụi, tại sao con người cứ làm khổ mình và làm

    Có lẽ bởi trung thành với triết lý Phật giáo nên trên những chặng đường đã qua, nơi đâu tôi cũng gặp nụ cười nồng hậu chào đón, từ những cô bé ríu rít tới trường, bà mẹ trẻ địu con ngồi bên cửa, những người đang rảo bước, còn cậu bé ở Trongsa thậm chí kéo cả anh trai ra nhiệt tình mời tôi vào thăm nhà sau khi đã cùng đi bộ một đoạn đường, rồi nấn ná vẫy tay từ biệt cùng lời chúc an lành cho chuyến đi của tôi. Nhìn vào những đôi mắt nâu dịu dàng hồn nhiên ngập tràn hạnh phúc ấy, tôi thấy mình trở nên bé mọn khi những toan tính theo thói quen đã khiến tôi không thể mở lòng sớm hơn và “virus hạnh phúc” đã lan nhanh khiến cả chuyến đi của tôi ngập tràn tiếng cười như chưa từng được vui đến thế.

    Bhutan không còn quá cách biệt

    Sau nhiều năm tự cô lập đóng cửa với thế giới bên ngoài, Bhutan hiện nay đã gần hơn với thế giới văn minh, Internet, truyền hình

    Dọc theo hành trình từ Tây sang Đông len lỏi dưới những cánh rừng nguyên sinh, trên con đường duy nhất rộng 2,5m gập ghềnh cheo leo miệng vực nối 2 miền đất nước, Paro, Thimpu, Punakha, Trongsa, Jakar (Bumthang) là những điểm tôi đã dừng chân, nơi đâu cũng ngập tràn không khí yên bình, trong trẻo với ngàn sắc hoa lá cỏ cây và những khung cảnh hết sức độc đáo tuy không

    Điểm độc đáo không đâu có của Bhutan là rất nhiều tu viện được xây dựng giữa lưng chừng các ngọn núi mà điển hình là tu viện Paro Taktsang, một trong những nơi linh thiêng nhất ở Bhutan (tên tiếng Anh: The Tiger’s Nest). Bumthang là điểm cuối cùng trong chuyến đi, đến bây giờ tôi vẫn Học sinh tới trường trong bộ gho – trang phục truyền thống Điệu múa mặt nạ tại lễ hội Paro

    Với thảm cỏ trải rộng, hoa cỏ mùa Xuân nở rộ, những khu rừng linh sam rải rác bao quanh những căn nhà tuyệt đẹp, tiếng nước chảy róc rách của dòng suối khi băng qua tảng đá, những lá cờ Phật giáo bay phấp phới trên cao, tu viện cũ với những bức tranh vẽ trên tường, bóng áo cà sa đỏ thư thái ung dung… tôi thấy thời gian dường như đọng lại. Chốn này tôi đã để lại một phần trái tim mình cho một bé gái nhỏ xíu, theo triết lý Phật giáo, có lẽ là cô con gái ở kiếp sau của tôi.

    Email của người bạn gặp trên đường hành hương đến tu viện Tiger’s Nest đã tới. Bạn viết rằng mong ước một ngày nào đó được đón tôi thăm nhà, cùng nhau uống trà, chơi với mấy đứa con của bạn, cùng thả mình trong sự yên bình trên các miền đất du lịch Bhutan và bạn luôn cầu nguyện cho điều ấy sớm thành hiện thực. Vậy tôi còn băn khoăn gì nữa. Bhutan sẽ không chỉ là nỗi nhớ…

    (Theo Ellen.vn)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tour Du Lịch Du Bai
  • Những Trải Nghiệm Tuyệt Vời Ở Thiên Đường Du Lịch Abu Dhabi
  • Thủ Tục Xin Visa Du Lịch Ba Lan Đầy Đủ
  • Thủ Tục Xin Visa Du Lịch Thụy Điển Đầy Đủ Chi Tiết Tỷ Lệ Đỗ 99%
  • Dịch Vụ Làm Visa Đi Argentina Nhanh
  • Ảnh Hưởng Của Văn Hóa Nước Ngoài Trên Văn Hóa Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Nên Đi Phú Quốc Bằng Phương Tiện Gì
  • Tầm Nhìn Trong Chiến Lược Phát Triển Du Lịch Quảng Ninh
  • Du Lịch Phú Quốc Bằng Phương Tiện Gì?
  • Mẹo Chuẩn Bị Hành Lý Khi Đi Du Lịch Thái Lan
  • Mẹo Vặt Khi Đi Du Lịch Thái Lan Để Không Bị Bỡ Ngỡ
  • Việt Nam là một nước được coi như là điểm hội tụ của các nền văn hóa Đông – Tây và dĩ nhiên cũng là nước chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của hai nền văn hóa Phương Đông.

    Khi nói đến văn hóa Phương Đông cũng như nói đến sự ảnh hưởng của nó lên văn hóa Việt Nam thì người ta nghĩ ngay đến nền văn hóa vĩ đại Trung Hoa. Nền văn hóa Trung Hoa vừa mang tính cách đa dạng cả về văn hóa tinh thần lẫn văn hóa vật chất vừa có bề dày lịch sử vào hàng nhất nhì thế giới. Văn hóa Trung Hoa đã ảnh hưởng một cách sâu đậm đến hầu như toàn bộ khu vực Đông Nam Á. Đặc biệt đối với văn hóa Việt Nam thì văn hóa Trung Hoa đã để lại nhiều dấu ấn và chứng tích đậm nét ăn sâu vào cả văn hóa tinh thần lẫn văn hóa vật chất. Nó đã gắn liền với các sinh hoạt trong đời sống của người dân Việt Nam từ xưa tới nay.

    Hoàn cảnh và thời gian thâm nhập vào Việt Nam

    Song song với mục tiêu chính trị – quân sự và thương mại, văn hóa Trung Hoa đã du nhập vào Việt Nam theo bước chân của các đạo quân xâm lược qua các thời kỳ xâm chiếm Việt Nam. Theo lịch sử Việt Nam, Trung Hoa xâm lược và cai trị Việt Nam trên một ngàn năm qua ba thời kỳ chính:

    – Thời kỳ thứ nhất, thời nhà Triệu, từ năm 207 – 39 TCN

    – Thời kỳ thứ hai, thời Đông Ngô, từ năm 43 – 543

    – Thời kỳ thứ ba, thời nhà Đường, từ năm 603 – 939

    Ba cuộc xâm lược kéo dài này, là thời gian văn hóa Trung Hoa luôn hiện diện trên đất nước Việt Nam, còn người Việt thì luôn phải tiếp cận và phải sống với nền văn hóa khổng lồ này để rồi nó đi sâu vào trong máu thịt của hàng trăm thế hệ người Việt Nam và chiếm lĩnh hầu hết vị trí của văn hóa thuần túy Việt Nam. Ngoài ba cuộc xâm lược kéo dài này, còn có một số cuộc xâm chiếm khác nữa đã làm cho văn hóa Việt Nam trở nên điêu tàn nhường chỗ cho văn hóa Phương Tây.

    Trong mấy thế kỷ tiếp xúc và giao lưu với văn hóa Phương Tây, văn hóa Việt Nam đã chịu ảnh hưởng khá sâu đậm vào nhiều lĩnh vực, cả trên văn hóa tinh thần lẫn văn hóa vật chất. Thế nhưng tùy lúc tùy nơi, người Việt có thể chấp nhận hay chống đối, nhưng bao giờ cũng là một sự thâu hóa linh hoạt, tiếp nhận những gì có ích và biến đổi cho phù hợp với tính cách, điều kiện và nhu cầu của người dân.

    Thời gian và hoàn cảnh thâm nhập

    Thời gian thâm nhập của văn hóa Phương Tây có thể manh nha từ thế kỷ XVI – XVII khi các giáo sĩ Phương Tây đến truyền đạo Kitô giáo. Ngoài ra, song song với tôn giáo, văn hóa Phương Tây còn đi vào Việt Nam bằng con đường chính trị, kinh tế, thương mại,… Chúng ta có thể chia thời gian và hoàn cảnh thâm nhập của văn hóa Phương Tây thành 4 thời kỳ chính:

    – Khởi đầu là thời kỳ thâm nhập của Kitô giáo

    – Thời kỳ thực dân xâm lược và giao lưu với văn hóa Pháp (1858 – 1945)

    – Thời kỳ giao lưu với văn hóa XHCN Max-Lênin (1945 trở đi)

    – Thời kỳ hiện tại, giao lưu với văn minh văn hóa nhân loại.

    PHẬT GIÁO

    Quá trình xâm nhập, phát triển và những bước thăng trầm của Phật giáo ở Việt Nam

    Đầu công nguyên (thế kỷ II) các nhà sư Ấn Độ đã đến Việt Nam theo đường biển và thiết lập ở Luy Lâu, trị sở quận Giao Chỉ, một trung tâm Phật giáo lớn.

    Đến thế kỷ IV – Việt Nam lại có thêm luồng Phật giáo Đại Thừa Bắc Tông từ Trung Hoa tràn vào Việt Nam và chẳng mấy chốc nó đã lấn át và thay thế luồng Nam Tông có từ trước đó. Vì thâm nhập vào Việt Nam trong bầu khí hòa bình nên Phật giáo đã phổ biến rộng khắp ngay từ thời Bắc Thuộc và tiếp tục phát triển sau này.

    Đến thời Lý – Trần Phật giáo Việt Nam phát triển tới mức cực thịnh. Nhiều chùa chiền được xây khắp cả nước. Dân chúng tô tượng, đúc chuông, sùng bái Phật Thích Ca.

    Sang đời nhà Lê, nhà nước tuyên bố lấy Nho giáo làm quốc giáo; Phật giáo bị phái Nho công kích, triều đình không săn sóc nên Phật giáo đi vào con đường suy thoái.

    Đến thời Pháp thuộc Phật giáo càng bị chèn ép và suy kém rất nhiều. Tuy nhiên cho đến nay số tín đồ Phật giáo vẫn chiếm một con số rất lớn tại Việt Nam và có nhiều ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống của người dân Việt Nam.

    Ảnh hưởng của Phật giáo đến văn hóa Việt Nam

    Phật giáo với tư cách là những giáo lý cao sâu, trừu tượng, thuần túy mang tính bác học hầu như lại ít ảnh hưởng tới đại đa số quần chúng. Cái ảnh hưởng lên lớp bình dân lại là những tư tưởng cơ bản nhưng đơn giản, dễ hiểu, nếp sống đạo đức, tác phong của các nhà sư.

    Từ khi du nhập, theo suốt chiều dài lịch sử, Phật giáo luôn có mặt, gắn bó mật thiết với dân tộc và hầu như đã thấm sâu vào máu thịt của con người Việt Nam. Bởi vậy dù trực tiếp hay gián tiếp, hầu hết người Việt đều chịu ảnh hưởng của Phật giáo.

    a/. Con người Việt Nam và thuyết nhân quả của Phật giáo

    Phật giáo cho rằng mối quan hệ cơ bản phổ biến của mọi sự vật hiện tượng là quan hệ nhân quả. Quan niệm này có ảnh hưởng rất lớn đến quan niệm về thế giới quan và nhân sinh quan của đại đa số người Việt. Người ta luôn nói với nhau: “gieo nhân nào thì gặt quả ấy”, “gieo gió gặt bão”, xem cái gì cũng là kết quả của một cái trước. Mỗi khi gặp sự việc gì xảy đến cho bản thân, người Việt dễ cho là phải có một nguyên nhân nào đó. Luật nhân quả có tác dụng trực tiếp là khuyên người ta làm thiện, tránh ác vì nhân nào thì quả ấy, thiện giả thiện báo, ác giả ác báo. Từ đây cũng dẫn đến quan niệm làm phúc để lại cho con cháu; cha ăn mặn, con khát nước. Trong nhiều trường hợp động lực thúc đẩy người Việt sống lương thiện chính là để tích đức lại cho con cháu.

    b/. Người Việt và quan niệm về cái Tâm của Phật giáo

    Phật giáo cho rằng cái tâm con người rất quan trọng, nó chi phối tất cả con người ta, “nhất thiết duy tâm tạo”, mọi thứ đều do tâm tạo ra. Quan niệm này đã ảnh hưởng sâu xa đến cách cư xử của người Việt Nam. Ngay trong quan hệ giữa người với người ở nước ta từ xưa đến nay dân ta đều coi trọng cái tâm. Trong mọi việc, vấn đề quan trọng là tấm lòng, là thành tâm, thực bụng. Đây là truyền thống quý báu của người Việt Nam với sự góp phần rất lớn của Phật giáo. Nguyễn Du đã thấm nhuần tinh thần này của Phật giáo và đã thốt lên trong tác phẩm của mình: “Thiện căn ở tại lòng ta. Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”.

    c/. Lòng từ bi của Phật giáo và tâm hồn khoan dung của con người Việt Nam

    Lòng từ bi của Phật giáo đã thấm nhập vào tâm hồn người Việt vốn mang trong mình hòa tính và nữ tính – nét đặc trưng của văn hóa nông nghiệp – để tạo nên bản tính hiếu hòa, khoan dung nơi tâm hồn người Việt. Điều này được chứng nghiệm qua các cuộc chiến tranh ở nước ta. Các cuộc chiến tranh xảy ra ở nước ta đều xuất phát từ ý đồ xâm lược của kẻ ngoại xâm, người Việt chỉ chiến đấu để bảo vệ chủ quyền của đất nước mình mà thôi. Trong các cuộc chiến khi mà kẻ địch không còn khả năng chống cự, người Việt không nỡ lòng nào giết họ. Trong nhiều trường hợp các tướng không những không giết quân giặc mà còn cấp thuyền, ngựa, lương thực cho họ được về nước. Tư tưởng này còn thể hiện rõ trong thái độ của Nguyễn Trãi: “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn. Lấy chí nhân để thay cường bạo”.

    Quan niệm “nhu thắng cương”, “nhược thắng cường” đã được các thế hệ cha ông ta truyền lại cho nhau thể hiện rõ lòng khoan dung của người Việt, nhờ sự góp phần không nhỏ của Phật giáo.

    d/. Phật giáo và các lễ hội ở Việt Nam

    Lễ hội đóng một vai trò quan trọng trong sinh hoạt văn hóa của người Việt. Trong số những lễ hội lớn có một phần đóng góp không nhỏ của Phật giáo. Đến ngày hội dân chúng không những tại địa phương mà có khi còn từ các tỉnh khác tới tham dự lễ hội rất đông. Nhiều lễ hội có nguồn gốc từ Phật giáo đã trở nên như máu thịt, như một phần không thể thiếu trong sinh hoạt văn hóa của người Việt Nam. Một trong số những lễ hội đó có thể kể đến như Hội Chùa Hương ở tỉnh Hà Tây. Hội mở từ đầu tháng Giêng cho đến hết tháng Hai, ngày hội chính là ngày rằm tháng Hai. Hội Chùa Thầy mở vào ngày mồng bảy tháng ba âm lịch hằng năm tại tỉnh Hà Tây. Hội Đền Linh Sơn Thánh Mẫu tại núi Bà Đen, Tây Ninh. Hằng năm vào dịp xuân, từ mồng 10 tháng Giêng dân chúng các nơi tới hành hương lễ bái rất đông, nhất là ngày 15 tháng Giêng. Hội Miếu Bằng Lăng được tổ chức hằng năm vào ngày 15 và 16 tháng Ba âm lịch tại tỉnh An Giang,…

    NHO GIÁO Nho giáo và sự phát triển tại Việt Nam

    Ngay từ đầu công nguyên Nho giáo đã được truyền bá vào Việt Nam. Tuy nhiên, vì đây là thứ văn hóa của kẻ xâm lược áp đặt nên, ngoài một số người Việt đỗ đạt được bổ nhiệm làm quan trong bộ máy cai trị Trung Hoa, trong suốt thời kỳ Bắc thuộc (207 – 906 TCN), Nho giáo tuy đã được đưa vào Việt Nam nhưng chưa có chỗ đứng trong xã hội Việt Nam.

    Đến thời tự chủ, Nho giáo bắt đầu phát triển tại Việt Nam. Với sự kiện Lý Thái Tổ (Lý Nhân Tông) cho lập văn miếu thời Khổng Tử năm 1070, có thể coi đây là lúc Nho giáo được tiếp nhận chính thức.

    Nho giáo được xem là thịnh hành nhất trong thời nhà Lê khi mà Nho giáo được coi như là Quốc giáo. Nho giáo còn hưng thịnh cho đến thời Pháp thuộc từ năm 1858 thì bị Pháp lấn át và bãi bỏ các kỳ thi về Nho học. Và cứ như thế, Nho giáo dần mất chỗ đứng không những trong xã hội mà còn phai nhạt dần trong lòng người Việt.

    Ảnh hưởng của Nho giáo tại Việt Nam

    Nho giáo đã có một sự ảnh hưởng khá sâu rộng lớn đến nhiều mặt của cuộc sống của người Việt trong một thời gian dài. Nhiều khi Nho giáo lại uyển chuyển để thích nghi với nền văn hóa của Việt Nam để rồi bị Việt Nam hóa. Vì thế có nhiều điểm ta không biết được đâu là văn hóa thuần Việt Nam và đâu là ảnh hưởng của Nho giáo. Tuy thế Nho giáo đã để lại nhiều ảnh hưởng rõ nét trên hai bình diện chính là gia đình và xã hội.

    Có thể khẳng định rằng văn hóa truyền thống của người Việt mang tính mẫu hệ giống như một số dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay như Chăm, Êđê, … Chính Nho giáo đã mang vào Việt Nam quan niệm phụ hệ.

    Nho giáo coi gia đình là đơn vị để xây nên sự vững mạnh cho đất nước nên gia đình cần phải có trật tự trên dưới rõ ràng. Với địa vị độc tôn của người cha trong gia đình, có quyền quyết định mọi việc trong nhà giống như một ông vua có quyền tuyệt đối trên các quan và thần dân.

    Trong gia đình con cái phải tuyệt đối vâng lời cha mẹ, ngay cả trong việc hôn nhân con cái cũng phải theo sự hướng dẫn của cha mẹ: cha mẹ đặt đâu con ngồi đó. Ngoài ra con cái phải sống với cha mẹ cho tròn chữ hiếu và hiếu là một việc bắt buộc đối với bổn phận làm con: “Một lòng thờ mẹ kính cha. Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”.

    Thế nào là sống tròn chữ hiếu? Con cái được xem là có hiếu khi biết săn sóc, phụng dưỡng cha mẹ thật chu đáo khi còn sống khỏe mạnh cũng như lúc đau yếu, khi về già. Lúc cha mẹ qua đời còn phải chu toàn chữ hiếu bằng cách lo tang tế đàng hoàng, lại còn phải nhang khói đầy đủ để thờ phượng cha mẹ nữa.

    Người phụ nữ bị xem là bị lệ thuộc vào người đàn ông trong suốt cuộc đời của mình. Với quan niệm tam tòng: tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử, nghĩa là ở gia đình phải theo cha, lấy chồng phải theo chồng và chồng chết thì phải theo con. Quan niệm nam tôn nữ ti hay trọng nam khinh nữ, mặc dù đã bị khúc xạ do bản chất mẫu hệ của văn hóa Việt Nam, nhưng đã một thời ảnh hưởng rất mạnh và nay vẫn còn hằn sâu trong tâm thức của người Việt, nhất là ở các vùng quê: nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô.

    Nho giáo nhấn mạnh đến vấn đề đạp nghĩa trong cuộc sống thường ngày giữa người với người, đề cao chữ nhân trong cách ứng xử của con người vì nhân và nghĩa là hai đức tính được đề cao hàng đầu trong Ngũ thường (Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín). Người Việt đã chịu ảnh hưởng sâu xa của quan niệm này, vì thế cho đến ngày nay người Việt vẫn luôn coi trọng đạo nghĩa. Sống với nhau phải có đạo nhân, nghĩa, không làm những việc trái với luân lý, nghĩa là trái với những điều được vạch ra trong Ngũ thường. Hơn nữa, trong các mối quan hệ thì phải biết tôn trọng lẫn nhau, lại phải biết kính trên, nhường dưới.

    Một nét ảnh hưởng nữa có thể kể đến là các loại nghi thức tế tự. Bao nhiêu nghi thức tiết lễ của Nho giáo đã dần được áp dụng trong việc phụng thờ của các tôn giáo khác, đáng kể hơn hết là trong đạo Thờ Phụng Tổ Tiên, đạo thờ Thần,…

    III. ĐẠO GIÁO (LÃO GIÁO) Bối cảnh hình thành Lão giáo và sự truyền bá vào Việt Nam

    Vào thời Lão Tử, người đời chuộng lễ nghĩa, chú ý rất nhiều đến những điều vụn vặt, làm bận tâm trí con người và vì những điều câu nệ tỉ mỉ đã làm mất đi cái khoáng đạt của tâm hồn. Trước tệ đoan đó, Lão Tử có ý muốn sửa đổi lại để con người sống theo lẽ tự nhiên. Vì thế với tôn chỉ vô vi, Lãi Tử đã lập nên Lão giáo.

    Lão giáo thâm nhập vào Việt Nam vào khoảng cuối thế kỷ II qua các đạo sĩ chạy lánh nạn đến Việt Nam. Ngay khi đến Việt Nam, Lão giáo đã tìm thấy những tín ngưỡng tương đồng đã có sẵn từ lâu vì người Việt từ xa xưa đã rất sùng bái ma thuật, phù phép; họ tin rằng các lá bùa, những câu thần chú có thể chữa bệnh, đuổi tà ma, tăng sức mạnh,… Đến thời Đinh Tiên Hoàng, văn hóa Lão giáo khá phát triển, nhưng không thịnh bằng đạo Phật và đạo Nho. Lão giáo ở Việt Nam chia làm hai phái chính: Lão giáo phù thủy và Lão giáo thần tiên.

    Ảnh hưởng của Lão giáo tại Việt Nam

    Vì Lão giáo được chia làm hai nhánh chính nên ảnh hưởng của nó tại Việt Nam cũng chia làm hai hướng rõ rệt, mối hướng ảnh hưởng lên từng tầng lớp khác nhau trong xã hội.

    Lão giáo phù thủy tác động khá sâu sắc đến tầng lớp bình dân khi họ tiếp cận văn hóa Lão giáo ở khía cạnh thần tiên, huyền bí; họ tin vào phép bói toán, tu luyện, phù thủy,… Do vậy, lối tiếp cận này đã dần mê tín dị đoan như xem bói, cúng, quảy, làm phép để trừ khử ma quỷ, lập đền miếu để thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế, Hải Thượng Lãn Ông,… và qua hệ thống đồng cốt để cầu xin giàu sang phú quý và chữa bệnh. Đền Ngọc Sơn (Hà Nội), điện Hòn Chén (Huế), điện Bà Chúa Xứ (An Giang) và các đền miếu khác là những nơi tín đồ Lão giáo thường tụ họp vào ngày rằm, mồng một hoặc các ngày lễ lớn khác để cầu xin, lên đồng, chữa bệnh,…

    Lão giáo thần tiên lại ảnh hưởng lên tầng lớp trí thức, đặc biệt là một số nhà Nho Việt Nam. Sinh không gặp thời, gặp chuyện bất bình ở chốn quan trường hay chỉ đơn giản là thích cuộc sống nhàn hạ, phóng khoáng, chán chường danh lợi, “nhìn xem phú quí tựa chiêm bao”, nên khi về già thường lui về sống ẩn dật, vui thú với thiên nhiên, bên chén rượu, bàn cờ, ngâm thơ; sống điều độ với tinh thần thanh thản trong khung cảnh thiên nhiên. Tiêu biểu có các nhà Nho như Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phan Huy Ích, Nguyễn Công Trứ,…

    KITÔ GIÁO

    Có tài liệu cho rằng chân phước Ordorico Di Pordenone đã đến Chiêm Thành (Việt Nam ngày nay) vào tiền bán thế kỷ XIV. Tuy nhiên không có bằng chứng chắc chắn là Kitô giáo đã được truyền vào Việt Nam thời đó.

    Từ sau năm 1550 một số tu sĩ Đaminh đã vào Việt Nam truyền giáo, đến năm 1586 lại có thêm các tu sĩ dòng Phanxicô vào Việt Nam, nhưng việc truyền giáo kém hiệu quả vì vấn đề bất đồng ngôn ngữ.

    Sang đầu thế kỷ XVII có thêm các tu sĩ Dòng Tên vào truyền giáo tại Việt Nam. Nhiều giáo sĩ Dòng Tên thông thạo tiếng Việt Nam, lại hoạt động khôn khéo nên mặc dù gặp khó khăn phức tạp, có khi đổ máu nhưng thu hút được khá nhiều người theo đạo và cứ thế việc truyền giáo phát triển với số Kitô hữu tăng lên đều đặn.

    Đến thế kỷ XVIII việc cấm đạo trở nên gay gắt, với các sắc chỉ cấm đạo của các chúa Minh Vương, Võ Vương, đặc biệt trong ba đời vua của triều Nguyễn là Minh Mệnh, Thiệu Trị và Tự Đức có tất cả 14 sắc chỉ cấm đạo Công Giáo. Nhiều nhà thờ bị đốt phá, giáo dân bị tù đày, giáo sĩ bị giết,…

    Sau khi chiếm được Việt Nam, nhất là sau khi thiết lập được chế độ thống trị, Pháp đã dành cho các giáo sĩ của Hội Thừa Sai Paris nhiều điều kiện thuận lợi cho việc truyền giáo. Vì thế hàng ngàn cơ sở tôn giáo được triển khai xây dựng, số tín hữu ngày càng tăng nhanh.

    Mãi đến năm 1933, sau hơn 400 năm truyền đạo, Giáo hội Việt Nam mới được quyền tự quản với vị giám mục đầu tiên là Nguyễn Bá Tòng. Năm 1960 hàng giáo phẩm Việt Nam được chính thức thành lập và từng bước xây dựng và phát triển cho đến ngày nay.

    ***

    PHẦN II: SỰ ẢNH HƯỞNG VỀ NGÔN NGỮ

    Tiếng Việt ngày nay chịu ảnh hưởng khá lớn từ hai dòng chính là Trung Hoa và Tây Âu

    TRUNG HOA

    Ngay từ đầu công nguyên, từ khi có sự đô hộ phương Bắc, tiếng Hán đã được sử dụng ở Giao Châu với tư cách một sinh ngữ. Người Hán muốn đồng hóa tiếng nói của dân tộc Việt, nhưng tiếng Việt vốn đã có cơ sở vững vàng từ trước vẫn tiếp tục tồn tại. Tuy nhiên, trải qua hàng ngàn năm, một số lẻ tẻ từ Hán thường dùng đã được người Việt vay mượn để lấp chỗ thiếu hụt trong tiếng Việt như: buồng, buồn, muộn, mây, muỗi, đục, đuốc,… Cuối thời đô hộ, người Hán mở nhiều trường học, văn ngôn Hán được truyền bá rộng rãi cùng với kinh, sử, tử, tập. Sang thời tự chủ, tiếng Hán và chữ Hán vẫn được các triều đại phong kiến Việt Nam tiếp tục sử dụng trong cơ quan hành chính, trường học, khoa cử cũng như trong sáng tác văn chương. Nhưng lúc này tiếng Hán đã mất tính cách là một sinh ngữ; tiếng Hán không được đọc theo âm Hán của người Hán. Người Việt đã tạo ra âm Hán Việt là cách đọc chữ Hán của riêng người Việt trên địa bàn Việt Nam. Âm Hán Việt đã tạo điều kiện để chuyển tải hàng loạt từ Hán du nhập vào tiếng Việt. Những từ này có thể giữ nguyên nghĩa, cũng có thể chuyển đổi nghĩa theo hướng Việt hóa.

    Vào những thế kỷ cuối cùng, các nước châu Á bắt đầu chịu ảnh hưởng của tư tưởng tư sản châu Âu qua cửa ngõ Nhật Bản. Người Nhật đã dùng chữ Hán trong văn tự của họ để phiên dịch các khái niệm của châu Âu, sau đó người Hán lại đọc các từ đó theo âm Hán và người Việt Nam lại đọc các từ này theo âm Hán Việt, ví dụ như các từ: dân chủ, cộng hòa, giác ngộ, giai cấp, kinh tế, chính trị, xã hội, cách mạng, quần chúng, quyền lợi, tư sản,…

    Từ đầu thế kỉ XX và đặc biệt sau Cách mạng tháng Tám 1945, những từ này đã ồ ạt đi vào tiếng Việt cùng với những từ Hán Việt để tạo thành những từ riêng của mình như đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn, đại bác, phi công, náo động, thiếu tá, trung tá,…

    Sau khi âm Hán Việt đã hình thành, trong tiếng Việt vẫn có những biến đổi ngữ âm. Những biến đổi này có thể tác động vào một bộ phận tự Hán Việt, nhất là những từ sinh hoạt, làm cho những từ này phát sinh ra âm mới như: gan, gương, dừng, vốn, vạch,… Những từ này cũng có những nét ngữ nghĩa và phong cách riêng khác với từ Hán Việt và thường được gọi là từ Hán Việt Việt Hóa.

    TÂY ÂU

    Hậu bán thế kỷ XVII các nhà truyền giáo người Tây Ban Nha, Ý, Pháp sang truyền giáo tại Việt Nam thì khó khăn họ gặp phải đầu tiên là vấn đề ngôn ngữ. Vì thế, với sự góp công to lớn của giáo sĩ Alexandre de Rhodes và một số giáo sĩ khác, họ đã dùng mẫu tự Latinh, có bổ sung thêm các dấu phụ để ghi âm tiếng Việt; và thứ chữ đó được gọi là chữ Quốc ngữ. Hơn nữa họ còn soạn nhiều cuốn từ điển như Việt – Bồ, Bồ – Việt, Việt – Bồ – La, nhờ đó người Việt có thể học chữ quốc ngữ dễ dàng hơn nhiều so với chữ Nôm trước đó. Vì dễ học, dễ nhớ nên chữ Quốc ngữ ngày càng được nhiều người học và nó đã góp phần rất lớn trong việc phổ cập giáo dục và nâng cao dân trí của người Việt Nam lúc bấy giờ. Kết quả là nhiều tác phẩm bằng chữ Quốc ngữ đã ra đời và đến năm 1856 khoa báo chí bằng tiếng Việt được hình thành. Tờ báo đầu tiên do Ernest Potteaux làm chánh tổng tài được phát hành, số đầu tiên ra ngày 15-01-1865. Tờ báo này được gọi là Gia Định báo.

    ***

    PHẦN III: SỰ ẢNH HƯỞNG VỀ GIÁO DỤC

    ẢNH HƯỞNG CỦA TRUNG HOA

    Giáo dục gia đình

    Theo truyền thống cổ truyền, dân tộc ta sống theo chế độ gia tộc mẫu hệ, tức là người con sinh ra chỉ biết có người mẹ mà ít quan tâm đến người cha, và người cha không có quyền gì đối với vợ con cả. Tuy nhiên chế độ này ngày nay hầu như đã mất hẳn, và thay vào đó là chế độ phụ hệ. Theo các nhà sử học Việt Nam, chế độ phụ hệ là do giáo lý Khổng – Mạnh truyền sang. Chế độ phụ hệ là tập tục cha truyền con nối. Người con sinh ra là phải lấy theo họ cha, và xem họ hàng bên cha là họ nội, họ hàng bên mẹ là họ ngoại.

    Từ chế độ phụ hệ đưa đến chế độ phụ quyền, nghĩa là nam tôn nữ ty, trọng nam khinh nữ. Người đàn ông nắm quyền làm chủ gia đình, còn phụ nữ chỉ phụ thuộc. Chế độ này ảnh hưởng nhiều nhất trong tầng lớp quan lại thượng lưu thời xưa. Còn trong thời đại hôm nay, chế độ này ảnh hưởng rất ít vì một phần do tiếp xúc với lối sống tự do bình đẳng của phương Tây, cộng thêm sự trở lại chế độ Mẫu hệ truyền thống, nên các gia đình hầu như đã tiếp nhận và dung hòa giữa các chế độ với nhau và đưa ra một chế độ bình đẳng bình quyền như hôm nay. Họ quan niệm “Thuận vợ thuận chồng tát bể đông cũng cạn”.

    Việc giáo dục gia đình trong Nho giáo có một vị trí rất quan trọng. Mạnh tử nói: “Thiên hạ gốc ở nước, nước gốc ở nhà, nhà gốc ở thân mình” và “nhà mình không thể dạy mà dạy được người ta điều không có. Trị quốc, Bình thiên hạ làm được hay không phụ thuộc vào việc tề gia”,… Như vậy, việc tề gia trở thành vấn đề quốc sách chứ không còn là việc của cá nhân hay của một gia đình, một dòng họ nữa.

    Giáo dục hiếu đễ

    “Con có hiếu với cha mẹ, em kính nể anh chị được coi là đức tính quí báu nhất, là tình cảm tất yếu, tự nhiên của con người”. Chữ hiếu đi liền với chữ trung. Chữ tình phải nhẹ hơn chữ hiếu. Mặc dù đạo hiếu quá khắt khe, có phần độc đoán, song có những điểm đáng trân trọng, giữ gìn. Và chính những điểm đó vẫn còn đọng lại trong nền giáo dục gia đình Việt Nam hôm nay.

    “Con cái phải có trách nhiệm nuôi dưỡng, kính trọng ông bà, cha mẹ, luôn luôn làm những điều thiện để cha mẹ được vui lòng”. Khổng Tử coi việc con cái nuôi nấng cha mẹ mà không kính thì không khác gì nuôi súc vật.

    “Thờ phụng tổ tiên là biểu hiện lòng hiếu thảo của con cháu, các thế hệ sau đối với người đã khuất, sự thờ phụng đó là để tỏ lòng tưởng nhớ, biết ơn đối với cha ông, gìn giữ và phát huy những di sản, thanh danh tốt đẹp của tiên tổ”.

    Ngoài ra con cái trong gia đình phải “tiên học lễ, hậu học văn”. Trước hết phải biết kính trọng, lễ phép sau đó mới học chữ nghĩa. Hơn nữa quan điểm Tam Cương Ngũ Thường trong Nho giáo phần nào vẫn còn ảnh hưởng trong giáo dục gia đình Việt Nam hôm nay.

    Giáo dục đối với người phụ nữ

    Ngày xưa xã hội phong kiến đòi buộc người phụ nữ vào chuẩn mực “tam tòng tứ đức”. Tam tòng có nghĩa là: người phụ nữ suốt đời chỉ là người phụ thuộc: tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử (ở nhà theo cha, lấy chồng theo chồng, chồng chết ở với con). Nền giáo dục này hầu như không có một chút gì ảnh hưởng trong nền giáo dục của xã hội hôm nay. Song bên cạnh đó, tứ đức lại là mặt giáo dục tích cực vẫn còn đọng lại và đòi buộc người con gái cần phải có: Công là nết làm ăn cần cù, thức khuya dậy sớm, tài đảm đang nội trợ của người con gái khi còn ở nhà, của người phụ nữ với địa vị làm vợ, làm dâu, làm mẹ. Dung là sự chăm chút mộ cách kín đáo nhan sắc của mình sao cho dễ coi, duyên dáng. Ngôn là giữ lời ăn tiếng nói dịu dàng, nhỏ nhẹ khiêm tốn, không khoe khoang, cười đùa ầm ĩ. Hạnh là phẩm chất đạo đức, sự chung thủy với chồng được coi là tiêu chuẩn cao nhất về đạo đức của người con gái.

    ẢNH HƯỞNG CỦA TÂY ÂU

    Khi trình bày về sự ảnh hưởng văn hóa Tây phương trên lãnh vực giáo dục học đường Việt Nam, chúng ta thấy sự ảnh hưởng sâu đậm đó là hệ thống giáo dục của Pháp. Hầu như hệ thống giáo dục Việt Nam hiện đại đều chịu ảnh hưởng của Pháp.

    Sau khi Pháp thực sự đô hộ trên đất Việt (từ 1858 – 1945), đã áp đặt một hệ thống giáo dục của Pháp lên nền giáo dục Việt Nam. Và mãi tới hôm nay, tuy hệ thống giáo dục nước ta phần nào có sự thay đổi về nhiều mặt: hình thức tổ chức, bằng cấp, chương trình học, thi cử,… nhưng sâu xa vẫn bị ảnh hưởng hệ thống giáo dục của Pháp thời ấy.

    Về các cấp học và danh xưng

    – Bậc Ấu học gồm 2 lớp: lớp Đồng Ấu và lớp Dự Bị tương đương với 2 lớp: lớp Mầm Non và lớp Vỡ Lòng ngày nay.

    – Bậc Tiểu Học: tương đương với trường cấp I ngày nay, trong Nam có thời gọi đệ tam cấp, ngày nay cũng có nơi lấy lại danh xưng Trường Tiểu Học.

    – Bậc Trung Học: tương đương với trường cấp I và cấp II hay là trường Phổ Thông Cơ Sở và trường Phổ Thông Trung Học hiện nay.

    – Bậc Đại Học: ngày nay cũng lấy lại y như vậy

    Ảnh hưởng trên hình thức thi cử và bằng cấp

    – Kỳ thi lấy bằng Sơ Học Yếu Lược

    – Kỳ thi lấy bằng Tiểu Học

    – Kỳ thi lấy bằng cao đẳng Tiểu Học có thời đổi là bằng Thành Chung

    – Kỳ thi vào Đại Học

    Tuy nhiên các kỳ thi này hiện nay vẫn được sử dụng nhưng có một số bổ sung và thay đổi cho phù hợp với thời đại. Chẳng hạn chia cấp: cấp I, cấp II, cấp III tương đương với Tiểu học và Trung học thời Pháp.

    – Học hết cấp I cũng có kỳ thi lấy bằng Tiểu học để bước vào học chương trình Phổ thông Cơ sở

    – Hết cấp II, có kỳ thi tốt nghiệp Phổ thông Cơ sở, nếu đậu mới được dự thi chuyển cấp, tức là vào học chương trình Phổ thông Trung học

    – Hết chương trình Phổ thông Trung học, có kỳ thi lấy bằng tốt nghiệp Phổ thông Trung học hay gọi là bằng Tú Tài. Đậu kỳ thi này mới được dự thi Đại học

    – Hết chương trình Đại học, có kỳ thi lấy bằng cử nhân

    – Sau Đại học, có kỳ thi lấy bằng Thạc sĩ và Tiến sĩ

    ***

    PHẦN IV: SỰ ẢNH HƯỞNG TRÊN VĂN CHƯƠNG

    ẢNH HƯỞNG CỦA TRUNG HOA

    Hơn 10 thế kỷ dưới chế độ phong kiến, văn hóa Trung Hoa trong đó có chữ Hán, phần nhiều phổ biến ở tầng lớp trên của xã hội như vua chúa, quan lại, nho sĩ, và quí tộc. Do đó văn hóa tam giáo từ Trung Hoa du nhập vào văn hóa Việt Nam qua từng thành phần trên một cách sâu đậm hơn tầng lớp bình dân. Hiện tượng này không những chỉ thể hiện trong đời sống gia đình, xã hội và bộ máy nhà nước, mà còn phản ánh trong đời sống văn học, nhất là những tác phẩm Hán văn; văn hóa tam giáo biểu hiện khi sâu đậm khi bàng bạc qua dòng văn học chữ Hán, nhưng ít có những tác phẩm trường thiên, phần nhiều là những bài thơ, bài kịch, bài kệ,… thông qua thi pháp Trung Hoa với các thể thơ cổ phong, đường luật. Tầng lớp tri thức Việt Nam hội nhập văn hóa Tam giáo vào các tác phẩm của mình.

    1/. Ảnh hưởng của Nho giáo trong văn thơ: Có Đoạn trường tân thanh, Lục Vân Tiên, thơ của Nguyễn Công Trứ,…

    2/. Ảnh hưởng Phật giáo trong văn thơ: Có Cung oán ngâm khúc, Quan Âm Thị Kính,…

    3/. Ảnh hưởng của Lão giáo trong văn thơ: Có Thơ Nhàn, Bích câu kì ngộ.

    Và sau đây là một số bài thơ đơn cử nói lên ảnh hưởng của quan điểm cũng như tư tưởng của tam giáo vào trong nền văn học Việt Nam.

    – Phật giáo

    Có bài thơ “Thi đệ tử” của nhà sư Vạn Hạnh, phản ánh triết lý hư vô của đạo Phật rất khái quát. Theo học thuyết của đạo Phật, con người có rồi không, không rồi có, cũng như cây cỏ lúc xanh tươi, khi tàn úa, rồi sự đời thịnh rồi lại suy, chẳng có gì vĩnh hằng trong thế gian.

    Thân như điện ảnh hữu hoàn vô,

    Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô,

    Nhiệm vận thính uy vô bố úy,

    Thịnh suy như lộ khảo đầu khô”.

    Dịch:

    Thân như bóng chớp có rồi không,

    Cây cối xuân tươi thu não nùng,

    Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãi,

    Kìa kìa ngọn cỏ giọt sương đông”.

    – Nho giáo:

    Trong bài “Quân Đạo”, Lê Thánh Tông đã bộc lộ đạo vừa theo tinh thần văn hóa dân tộc vừa phảng phất quan niệm tu thân của văn hóa Nho giáo:

    Chế trị bảo bang tư kế thuật

    Thanh tâm quả dục tuyệt du điền”.

    Dịch:

    “Chánh dựng nước bền mau nối dõi

    Tâm thanh dục ít dứt chơi săn”.

    Hay trong bài “Thần Tiết” thì tác giả bộc lộ quan điểm “tu, tề, trị, bình” của Nho giáo khá rõ:

    “Nội ninh ngoại phủ hồi thiên lực

    Hậu lạc tiên ưu tế thế tâm”.

    Dịch:

    “Lo trước vui sau lòng tế thế

    Ngoài yên trong trị sức hồi thiên”.

    ẢNH HƯỞNG CỦA TÂY ÂU

    Văn hóa Việt Nam vốn nằm trong bối cảnh văn hóa Phương Đông, nhưng đến những năm hậu bán thế kỷ XIV trở đi, qua sự giao lưu với phương Tây, chữ Quốc Ngữ phát triển và hình thành dòng văn học Quốc Ngữ. Mặt khác trong quá trình xâm lăng và định trị trên đất Việt bắt đầu từ 1858 – 1945, người Pháp trực tiếp truyền văn hóa, tư tưởng Âu Tây vào Việt Nam, trong đó nền văn học Quốc Ngữ đóng vai trò chủ yếu.

    Hơn một trăm năm chữ Quốc ngữ ra đời đã để lại và ảnh hưởng trên nền văn học nước ta chủ yếu là hai hình thức: văn vần, văn xuôi và thơ mới, nhưng văn xuôi chiếm ưu thế. Ngoài các thể thơ văn truyền thống như: ca dao, hò, vè,… chữ Quốc Ngữ rất thuận lợi trong quá trình tiếp biến văn hóa nước ngoài, từ đó thơ mang nhiều hình thức và thi pháp mới, mà ta thường gọi phong trào thơ mới.

    Tuy nhiên văn học Việt Nam không chỉ ảnh hưởng trên mặt hình thức mà còn ảnh hưởng trên cả đời sống quan điểm và tư tưởng của người dân Việt Nam nữa.

    1/. Ảnh hưởng tư tưởng lãng mạn: Tác phẩm “Tố Tâm” của Hoàng Ngọc Phách; “Hồn Bướm Mơ Tiên” của Khải Hưng; “Thơ Say” của Vũ Hoàng Chương;…

    2/. Ảnh hưởng tư tưởng tự do dân chủ: Tác phẩm “Quân Tự Chủ Nghĩa” và “Dân Tự Chủ Nghĩa” của Phan Châu Trinh, “Cao Vọng Thanh Niên” của Nguyễn An Ninh; “Đoạn Tuyệt” của Nhất Linh,…

    3/. Ảnh hưởng của tôn giáo: Thơ Hàn Mặc Tử,…

    “Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ,

    Thủa tung hoành hóng hạch những ngày xưa.

    Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già,

    Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi.

    (Nhớ Rừng – Thế Lữ)

    Ta muốn say cánh mướn với tình yêu

    Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều”.

    Hay:

    “Trong vườn đêm ấy nhiều trăng qua,

    Ánh sáng tuôn đầy các lối đi,

    Tôi với người yêu qua nhè nhẹ…

    Im lìm không dám nói năng chi”.

    (Trăng – Xuân Diệu)

    Trong thời đại ngày hôm nay hầu như các thể thức của nền văn học nước ta đều chịu ảnh hưởng của Tây, tuy nhiên các tác giả vẫn giữ được các cốt lõi, cái thâm sâu nhất của truyền thống Á Đông.

    ***

    PHẦN V: SỰ ẢNH HƯỞNG VỀ THỂ THAO VÀ GIẢI TRÍ

    ẢNH HƯỞNG CỦA TRUNG HOA

    Thời xưa, nước ta chỉ có mấy lối cờ bình dân như cờ chiếu tướng, cờ ngũ hành, cờ chân chó,… Và sau này có thêm cờ tướng là một trò chơi giải trí thanh cao tao nhã, dễ chơi được nhiều người yêu thích, nhất là các cụ ông khi về già thường tụ tập nhau lại để cùng vui chơi. Mỗi ván cờ là một cuộc đấu trí vừa gay go và vừa thú vị mà người chơi phải suy nghĩ chăm chú vào đó rất nhiều. Chuyện kể rằng: Bấy giờ dưới đời vua Trần Dụ Tôn (1341 – 1369), nước ta đang ở trong thời kỳ bị nước Tàu “dòm ngó”, muốn xâm lăng. Vua Tàu sai sứ giả sang nước ta để thách đố đánh cờ với vua Dụ Tôn. Vua Dụ Tôn không dám từ chối, nhưng thật tình rất lo ngại. Nhà vua sai đi tìm người tài giỏi để đấu cờ với sứ Tàu. Khi ấy ở làng Mộ Trạch, huyện Đường An có ông Vũ Huyền là một hảo thủ tượng kỳ. Ông Vũ Huyền vào yết kiến nhà vua, cam đoan giúp nhà vua thắng sứ Tàu, nhưng cuộc cờ phải bắt đầu vào đúng giờ ngọ, và xin nhà vua cho Vũ Huyền được đứng hầu cận trong lúc đánh cờ.

    Cờ chơi ở ngoài trời, kẻ hầu cận phải che lọng cho vua và sứ giả Trung Hoa. Lọng Vũ Huyền che cho nhà vua đã dùi lủng một lỗ để ánh sáng mặt trời lọt qua. Vua cứ theo tia nắng ở lỗ lọng chiếu xuống mà đi cờ, nên đã thắng sứ giả Trung Hoa. Nhờ sự thắng cờ này, Trung Hoa cho nhà vua là người tài giỏi và không dám gây cuộc binh đao. Qua mẩu chuyện nhỏ này chúng ta có thể nói rằng cờ tướng đã có ở nước ta cũng khá lâu rồi.

    Cờ tướng là một trò giải trí phát xuất từ nước Trung Hoa, nhưng đây là một trò tiêu khiển lành mạnh mà ai cũng có thể chơi được, chỉ cần biết đường đi của từng con cờ. Ngày nay trò giải trí này cũng được đưa vào chương trình thi đấu quốc tế.

    ẢNH HƯỞNG CỦA TÂY PHƯƠNG Cờ – bài

    Nói đến cờ bạc là nói đến mất nhà, mất cửa, mất ruộng, mất trâu, và mất cả quần lẫn áo:

    Cờ bạc nó đã quấy anh

    Áo quần bán hết một manh chẳng còn

    Buổi gió sương chui vào đống rạ

    Hở mông ra cho quạ nó moi

    Anh còn cờ bạc nữa thôi”.

    Mặc dù cờ – bài nguyên bản chất không xấu nhưng qua mấy câu ca dao trên, ta đủ thấy thế nào là tác hại của cờ – bài khi nó mất đi tính văn hóa. Chơi cờ – bài, có khi là để giải buồn, có khi để ăn tiền, nhưng thực ra, ai biết đâu mà giới hạn giải buồn tiêu khiển với những cuộc “đỏ đen” bóc lột. Cờ bạc cũng có lối chơi cần suy xét, cũng có lối chơi trông cậy ở cả đỏ đen may rủi.

    Không rõ cơ – bài đã du nhập vào Việt Nam khi nào nhưng có thể thấy một số loại cờ bài phổ biến ở Việt Nam hiện nay như: Tú-lơ-khơ, cờ vua, Đô-mi-nô,… còn việc chơi và thưởng thức loại hình giải trí này tuỳ thuộc vào tầng lớp và trình độ.

    Bóng đá

    Theo một số tài liệu xưa, bóng đá du nhập vào Việt Nam năm 1896, tức là năm đánh dấu Olympic hiện đại lần đầu tiên tổ chức tại Athen, Hy Lạp. Lúc đó một nhóm người mang quốc tịch Châu Âu mỗi tuần tụ họp nhau lại tại Jardin de la ville (Tao Đàn, Thành phố Hồ Chí Minh) để giải trí. Họ cùng đùa giỡn tranh nhau một đấu giày trên cỏ.

    Từ năm 1896 – 1905 các đội bóng có người Việt Nam tham gia được thành lập do giới thống trị của Pháp lập nên, mỗi đội chỉ có một vài người Việt Nam. Năm 1906, một nhóm người Việt Nam bàn nhau lập riêng cho mình một đội bóng và lấy tên đội là Gia Định Sport.

    Sau Đại Chiến Thế Giới Thứ II tốc độ phát triển bóng đá thế giới rất nhanh, mạnh và đều khắp thế giới. Bóng đá không còn là lãnh vực dành riêng cho Trung Mỹ và Châu Âu nữa mà phát triển mạnh sang Châu Á – Phi, Bắc Nam mới trở thành hội viên chính thức của FIFA, do Tiệp Khắc và Bungarie giới thiệu theo điều lệ của FIFA. Từ đó trở đi đội bóng của Nước ta phát triển và có cơ hội giao đấu với một số các nước bạn.

    Đến 1966, đội tuyển nước ta đã làm cho khán giả trên sân Merdeka, thủ đô Kualalumpur, Malaysia ngây ngất bởi tài nghệ của mình và đã đem về cho đất nước chiếc cúp Merdeka. Ngày nay bóng đá trở thành một môn thể thao của toàn thế giới được mọi người yêu thích và bất cứ tầng lớp nào cũng có thể chơi được.

    Ngoài những môn thể thao giải trí nói trên còn có một số môn quen thuộc khác như bóng chuyền, bóng bàn, cầu lông, quần vợt,…

    ***

    PHẦN VI: SỰ ẢNH HƯỞNG VỀ ẨM THỰC

    ẢNH HƯỞNG CỦA TRUNG HOA

    Các món ăn

    Từ xưa, người nước ta vẫn sinh hoạt bằng nghề cày cấy và nghề chài lưới, cho nên đồ ăn chủ yếu của ta là gạo và cá. Gạo là hoa màu chính của đồng ruộng Việt Nam cũng như cá là sản phẩm chính của sông ngòi và biển cả đất nước. Ngoài hai thứ đồ ăn chủ yếu trên, ta còn ăn nhiều thứ rau đậu trồng ở vườn hay mọc tự nhiên ở đồng (rau cải, rau dền, ray đay, rau mồng tơi, rau muống, rau ngổ, đậu, cà, khoai, sắn,…), thịt các thứ gia súc gà, vịt, lợn,… và thỉnh thoảng có thêm một ít thịt trâu bò và một gia cầm, dã thú đánh hoặc săn được như: cò, chim mỏ thác, le le, cun cút, đa đa, hươu, nai, chồn, cáo thỏ, lợn rừng. Trước kia người vùng quê dùng các thứ thức ăn này trong các dịp lễ hội, Tết, ngày giỗ. Nhưng nay thời thế đã đổi khác cũng là do ảnh hưởng của Tàu nên các món ăn của ta cũng thay đổi, buổi sáng có thêm một số món ăn như bánh bao, xíu mại, phở, miến canh, cháo gà, còn trong những dịp lễ lạc hay đãi khách với người dân vùng quê thì nấu các món ăn bình dân, người khá giả hơn thì nấu các món ăn đặc biệt và ngon hơn. Những nhà sang trọng thì dùng sơn hào hải vị nấu toàn các món ăn của Tàu như: Da tê, gân hươu, yến sào, bào ngư, hải sâm, bong bóng, vây cá,…

    Trà – Nghệ thuật uống trà

    Người Việt Nam thường uống nước hay uống trà sau bữa ăn cốt để súc miệng, hoặc uống để giải khát khi trời nóng. Nhưng không nghĩ rằng uống trà là cả một nghệ thuật. Là nghệ thuật vì uống trà có một sự cầu kỳ khác, uống trà Tàu không giống như uống trà sen. Muốn thưởng thức hương vị của trà, không phải uống bất kỳ lúc nào cũng thấy ngon và càng không phải uống với bất cứ ai cũng thưởng thức được hương vị thơm ngon của trà. Ta cứ tưởng tượng buổi sáng trời lạnh với một ấm trà và buổi tối trời lạnh với một ấm trà sen thì sẽ thấy hương vị uống trà khác nhau.

    – Cách thức uống trà và hai loại trà tiêu biểu: trà Tàu và trà Sen

    Cũng như bất cứ dân tộc nào trên thế giới, đồ uống trước tiên là nước, rồi nước đó được đem pha chế thành các đồ uống khác. Nước, ta thường dùng là nước làm sạch. Người Việt Nam thường uống nước đã đun sôi hay với lá chè xanh, trà, lá vối, gạo rang,… làm nước uống hằng ngày.

    Nói đến đồ uống, không thể bỏ qua được trà Tàu. Đây cũng là búp những cây trà được người Tàu hái rồi phơi ủ chế cho thành một thứ trà ngon, khi pha ra thì có một mùi vị tuyệt vời.

    Qua nếp sống của ta, trong công việc giao tiếp chén nước trà dự phần rất nhiều. Về việc uống trà đã được người Trung Hoa nghiên cứu rất kỹ lưỡng từ xưa, và tạo ra những đồ ấm chén, lò siêu dành riêng để pha trà. Những đồ ấm chén này có từ thời nhà Tống đến nhà Minh và sang nhà Thanh. Chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa, ta có lối uống trà của người Tàu rất hợp với mình, nhất là ở miền Bắc về mùa lạnh.

    Người sành uống trà biết phân biệt hương vị các thứ trà lại hiểu khí chất mỗi loại, loại nào phải pha chế thế nào uống mới đậm nước nồng hương, loại nào cần uống thật đặc, loại nào uống đặc vừa cho hợp. Ấm pha thế nào thì tốt, chén uống thế nào thì ngon, cho đến lò than và siêu nước cũng phải nấu thế nào cho mau. Đấy là những điều khó khăn của nghệ thuật pha trà. Người không nghiện và sành uống trà thì không sao hiểu được. Cần phải có nghiên cứu và biết tinh tường.

    Ở nước ta uống trà Tàu sành là một biểu tượng phong lưu. Nhiều người nghiện trà Tàu, hễ sáng không có một chén trà đậm thì không làm được gì cả. Có người nhịn ăn thì được nhưng không thể nào nhịn được trà.

    Trong các loài trà ướp hoa, chỉ có trà ướp hoa sen là chuộng hơn cả. Uống trà Tàu cầu kỳ ở chỗ pha trà, trái lại uống trà sen thì cầu kỳ lại chính là ở chỗ ướp trà với hoa sen. Trà sen ướp thì công phu cầu kỳ như vậy, nhưng đến lúc uống thì rất giản dị, không phức tạp như uống trà Tàu. Trà sen pha vào ấm nào cũng được và có thể uống bất kỳ chỗ nào, thời gian nào cũng đều có thể thưởng thức được ấm trà sen.

    ẢNH HƯỞNG CỦA TÂY PHƯƠNG Thức ăn – Uống

    Xưa nay bất cứ ở đâu dinh dưỡng vẫn là nguồn lương thực cần thiết để duy trì sự sống. Người ta không ai nhịn ăn, nhịn uống mà sống mãi được. Ta có câu “Dân dĩ thực vi tiên”, người dân lấy ăn làm đầu, và Tây Phương cũng nói ăn để mà sống. Người xưa thường nói: “ăn lấy no, uống lấy khỏi khát”. Ăn uống là điều cần thiết của con người.

    Dân Việt Nam ăn mỗi ngày ba bữa: bữa sáng hay còn gọi là bữa ăn điểm tâm, bữa trưa và bữa chiều. Người ở vùng quê, họ cho cả ba đều là bữa ăn chính; còn người dân sống ở thành thị, người thương gia, buôn bán chỉ ăn hai bữa chính, họ coi bữa sáng chỉ là bữa ăn phụ, bữa ăn lót dạ mà thôi. Vì không phải làm việc đồng áng, việc nặng nhọc vất vả do ảnh hưởng lối sống Tây Phương, người ta ăn bánh mì, sữa là những món ăn có thời Pháp thuộc cũng được người Việt dùng để ăn điểm tâm.

    Trong cách ăn, mâm cơm của người Việt Nam dọn ra bao giờ cũng có đồng thời nhiều món: cơm, canh, rau, dưa,… Với người nông dân ở vùng quê, bữa sáng người ta cũng ăn nhiều như hai bữa kia. Và người ta theo đúng câu tục ngữ “Ăn lấy chắc mặc lấy bền”, người ta phải ăn no, ăn những thức ăn no lâu để có thể chịu đựng được với công việc làm. Những người nhà nông thường họ rất ít ăn cháo, ăn xôi hay bánh trái gì mà người ta ăn cơm hoặc một thứ ngũ cốc hay hoa màu khác để thay cơm: ngô khoai, củ mì, củ sắn,…

    Bữa trưa: trong bữa này, gia đình quây quần bên mâm cơm, tạo nên cảnh gia đình đoàn tụ cùng với cơm nóng, canh nóng làm cho bữa ăn của cả nhà vui vẻ và ngon miệng. Bữa ăn thường là thịt, cá, dưa, xáo, rán hoặc nấu canh tuỳ theo từng gia đình. Một số gia đình dùng theo lối Tây, dùng cơm Tây, ăn bánh mì thay cơm, món này ta thường gặp trong các nhóm đi chơi, đi du lịch, tham quan,…

    Cũng giống bữa trưa, buổi chiều là bữa ăn chính của người Việt Nam. Từ thức ăn đến đồ ăn đều giống như bữa trưa, nghĩa là cơm, cá, thịt, rau,… Trong bữa ăn, người thành thị sống kiểu Tây Phương họ thường dọn, cá, thịt,…

    Người Việt Nam không những chịu ảnh hưởng về các món ăn của Tây mà ngay cả đồ uống cũng bị Tây hoá. Về đồ uống ngoài các loại mà người dân Việt Nam thường dùng thì ngày nay trong những bữa tiệc như tiệc cưới hỏi, sinh nhật, tiếp đãi khách,… thì có bia, nước ngọt,… nếu tiệc sang trọng hơn thì có các loại rượu Tây như Champapne, whisky, cognae,…

    Cách thức tổ chức tiệc

    Người dân Việt Nam thường tổ chức tiệc mừng, tiệc đãi khách tại nhà để tiện cho việc bếp núc, nhưng với những gia đình khá giả thì họ lại thích tổ chức tiệc tại nhà hàng vừa lịch sử vừa đỡ phải bận rộn với việc nấu nướng. Ngày nay ở các nơi thành thị các món ăn đã chịu ảnh hưởng ít nhiều của Tây Phương, họ ăn các món Tây và sắp xếp tổ chức bữa tiệc theo kiểu Tây. Vì thế mà các món ăn được dọn lên cho khách mời theo thực đơn từng món một để tiện việc ăn uống. Bên cạnh đó, một số nơi còn tổ chức tiệc đứng, thường họ dọn các món ăn và đồ uống ra cùng lúc để khách tự chọn và tự phục vụ các món ăn đồ uống theo sở thích.

    ***

    PHẦN VII: SỰ ẢNH HƯỞNG VỀ NGHỆ THUẬT

    Về lãnh vực nghệ thuật, chúng ta thấy, mặc dầu văn hóa và người Trung Hoa ngự trên đất nước Việt Nam hơn một ngàn năm qua nhiều thời kỳ nhưng hầu như không thấy để lại dấu ấn nào rõ nét từ âm nhạc – sân khấu – hội hoạ cho tới thời trang, điện ảnh,v.v… trong khi đó văn hóa phương Tây mới du nhập vào Việt Nam mấy thế kỷ gần đây nhưng thực sự đã ảnh hưởng đến văn hóa Việt Nam trên lãnh vực này khá rõ. Nó đã để lại những dấu ấn nghệ thuật ăn sâu vào trong đời sống của người Việt Nam mà nhiều khi ta không biết.

    Nghệ thuật hội hoạ điêu khắc

    Trong nghệ thuật hội hoạ – điêu khắc, văn hóa Việt Nam đã thực sự chịu ảnh hưởng và tiếp nhận từ nền hội hoạ – điêu khắc phương Tây rất nhiều như mang tính cách bút pháp tả thực và đã có những thể loại tranh sơn dầu, tranh bột màu có giá trị (Vd. Tranh sơn dầu và tranh bột màu xuất hiện ở phương Tây từ thế kỷ XV).

    Nghệ thuật sân khấu

    Với bút pháp tả thực của nghệ thuật phương Tây lại thêm tính phân biệt rõ ràng các thể loại bi, hài kịch cũng đã xuất hiện trên sân khấu Việt Nam với thể loại kịch nói và tác động đến sự ra đời của nghệ thuật cải lương.

    Vào những năm 20 cuối thể kỷ XX, Nam Bộ chịu ảnh hưởng của văn hóa phương Tây sớm nhất nên đã hình thành nghệ thuật cải lương, một sản phẩm của việc cải cách sân khấu hát bội truyền thống. Trong sân khấu cải lương, ảnh hưởng của bút pháp tả thực phương Tây, hát được giảm bớt thay vào đó là nói được tăng lên; các điệu bộ ước lệ, biểu trưng được giảm bớt và thay vào đó là các động tác giống như thật ngoài đời; phong cảnh đạo được chú trọng hơn.

    Như vậy cải lương và kịch nói cũng là kết quả của sự ảnh hưởng và giao lưu văn hóa với phương Tây mà có đôi lúc người ta cứ tưởng như là văn hóa thuần tuý của mình.

    Nghệ thuật âm nhạc

    Song song với các nghệ thuật khác, đối với âm nhạc kể cả nhạc cụ của phương tây đã thực sự có chỗ đứng trong sinh hoạt đời sống văn hóa – xã hội Việt Nam. Nhất là những năm gần đây, âm nhạc và nhạc cụ phương Tây được công chúng Việt Nam đón nhận rất nồng nhiệt. Nó đã trở thành như một lĩnh vực sinh hoạt văn hóa trong đời sống cộng đồng. Đặc biệt, đối với giới trẻ thì âm nhạc phương Tây có thể nói được là một phần không thể thiếu đối với họ. Từ các thể loại như nhạc Jazz – Disco – Pop – Rock,… đều trở nên quen thuộc và phổ biến với giới trẻ Việt Nam. Các tác phẩm cổ điển của Môzart, Bethoven, Chopin,… cũng được người Việt Nam tiếp nhận cách trân trọng từ người thưởng thức cũng như người biểu diễn.

    Ở các nhạc viện, các phân khoa nhạc hiện đại và nhạc cổ điển phương Tây đã được đưa vào chương trình giảng dạy từ lâu.

    Âm nhạc ảnh hưởng của phương Tây hay còn gọi là tân nhạc phát sinh trong nền âm nhạc Việt Nam các thể loại mang tính phụng tự của Kitô giáo, nhạc ca khúc, nhạc sôlô, nhạc hoà tấu, nhạc kịch.

    Tất cả những loại nói trên là kết quả của sự ảnh hưởng từ phương Tây.

    Nghệ thuật điện ảnh

    Cùng với sự du nhập của các lãnh vực nghệ thuật khác, điện ảnh cũng sớm có mặt ở Việt Nam. Lãnh vực nghệ thuật này là hoàn toàn của phương Tây, Việt Nam không có. Nó được manh nha vào năm 1879 do một người Anh tên là Eadweard Muybridge và đến năm 1895 thì anh em nhà August và Luois Lurminer, người Pháp phát minh thành hệ thống chiếu và được đưa ra trình diện ở Paris. Nghệ thuật điện ảnh ra đời từ đấy, không biết nó vào Việt Nam từ khi nào nhưng rạp chiếu bóng đầu tiên ra đời ở Việt Nam là rạp Pathe – Hà Nội vào năm 1920. Đối với Sài Gòn xưa, buổi chiếu phim đầu tiên cũng là đầu tiên ở Việt Nam được tổ chức vào khoảng cuối tháng 9-1898 trước dinh Tổng đốc chợ Lớn (nay là đường Lê Quang Liêm). Đến ngày nay thì điện ảnh không còn xa lạ đối với người dân Việt Nam nữa. Điện ảnh được xem như món ăn tinh thần của mọi thành phần trong xã hội.

    Nghệ thuật nhiếp ảnh

    Nhiếp ảnh là hình nghệ thuật mà người Việt Nam được tiếp cận do sự du nhập từ văn hóa phương Tây. Nhiếp ảnh ra đời do Etiên Marrey, người Pháp, phát minh máy chụp ảnh vào lúc đầu chỉ là chụp ảnh thông thường nhưng dần dần phát triển thành ngành nghệ thuật nhiếp ảnh lan rộng khắp thế giới. Cũng giống như điện ảnh, nhiếp ảnh du nhập vào Việt Nam không rõ lúc nào nhưng hiện nay ở các thành phố, thành thị và các gia đình khá giả việc chụp ảnh trong các dịp lễ hội đã trở thành như một nhu cầu, nhất là đối với giới trẻ.

    Hiện Việt Nam đã có rất nhiều câu lạc bộ nhiếp ảnh và hội nhiếp ảnh chuyên nghiệp, bán chuyên nghiệp. Việt Nam đã có những nhiếp ảnh gia nổi tiếng.

    Thời trang

    Thuần tuý văn hóa Việt Nam, trang phục xưa cho tới thời Pháp thuộc, thường là áo tứ thân, yếm, guốc gỗ dành cho phụ nữ; khố, quần áo sớ, áo ngắn,… giày dành cho nam giới. Chất liệu của các trang phục nói trên thường là tơ tằm truyền thống và các chất liệu khác như đay, gai,… miễn làm sao càng bền càng tốt. Người Việt Nam xưa có một quan niệm về trang phục thật thiết thực “ăn lấy chắc, mặc lấy bền”. Nói vậy nhưng do khoa học và công nghệ phát triển cùng với sự hiện diện của văn hóa và con người phương Tây mà Việt Nam đã có nhiều sự đổi thay trong trang phục cách nhanh chóng.

    Từ khi phương Tây vào Việt Nam thì cùng lúc trang phục kiểu phương Tây và thời trang của họ cũng bắt đầu hiện diện ở Việt Nam và từ từ được người Việt Nam tiếp nhận càng ngày càng mạnh mẽ từ quần Tây áo Veston, quần Jean, Jupe, giày dép,v.v… Đây thực sự là một sự tiếp nhận trọn vẹn chứ không phải là ảnh hưởng. Còn sự ảnh hưởng văn hóa phương Tây và kết quả đầu tiên của nó là vào những năm 30 của thế kỷ XX này chiếc áo dài cổ truyền Việt Nam đã được cải tiến thành áo dài tân thời ngày nay. Đây là bước mở cho quá trình phát triển thời trang ở Việt Nam. Đến nay thời trang đã trơ thành ngành học ở các trường mỹ thuật. Trên phương tiện thông tin đại chúng (truyền hình) có chương trình Thời Trang & Cuộc Sống. Ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh thường có biểu diễn thời trang.

    ***

    PHẦN VIII: SỰ ẢNH HƯỞNG VỀ CÁC NGÀY LỄ HỘI

    Do chịu ảnh hưởng và kế thừa nhiều nền văn hóa trong đó văn hóa Trung Hoa và phương Tây là chủ yếu, đã tạo cho Việt Nam một nền văn hóa với nhiều lễ tết khác nhau mang nhiều nội dung khác nhau. Ở đây chúng ta chỉ tìm hiểu những ngày lễ tết khá nổi bật và phổ biến trong năm có nguồn gốc từ hai nền văn hóa lớn này.

    Sự ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa để lại cho văn hóa Việt Nam một số lễ hội đặc biệt như sau.

    Tết Nguyên Đán

    Ăn theo lịch âm, vào ngày mồng 1 tháng Giêng gọi là Tết; tết là do người Việt Nam đọc trại từ chứ Tiết. Theo lịch sử Trung Hoa thì lịch Âm có từ đời nhà Hà và lấy tên 12 chi đặt cho 12 tháng; tháng đầu là tháng Dần tức tháng Giêng được chọn làm tháng đầu năm và người ta ăn Tết vào ngày đầu của tháng Dần. Về sau nhà Ân thay đổi lấy tháng Sửu làm đầu năm, đến thời nhà Chu lại lấy tháng Tý nhưng đến thời nhà Tần lại lấy tháng Hợi và đến thời nhà Hán Vũ Đế lại đổi lại tháng Dần và được cố định từ đó đến nay.

    Như vậy Tết Nguyên Đán mà Việt Nam có bây giờ có nguồn gốc sâu xa từ Trung Hoa. Nó là kết quả sự ngự trị của văn hóa Trung Hoa trên đất nước Việt Nam suốt cả ngàn năm.

    Lễ Thượng Nguyên (rằm tháng Giêng)

    Theo Phật giáo, nguồn gốc của lễ Thượng Nguyên như sau: tất cả những ngày mồng Một và ngày Rằm mỗi tháng đều được coi là ngày của Phật. Trong những ngày mồng Một và ngày Rằm Phật tử tăng ny có bổn phận làm lễ cúng Phật, đi lễ chùa tụng kinh. Đúng ra người ta phải lấy ngày mồng Một tháng Giêng làm lễ Thượng Nguyên mới phải vì đây là ngày đầu năm nhưng ngày này trời về đêm lại quá tối nên mới trọn ngày Rằm tháng Giêng vì đây là Rằm đầu tiên. Phật tử đi lễ chùa tụng kinh niệm Phật như là kể lại các sự tích của Phật và chư vị Bồ Tát. Người Phật giáo tin rằng trong ngày rằm Đức Phật sẽ giáng lâm trước các chùa để chứng độ lòng thành của Tăng Ny Phật Tử. Tuy nhiên người Việt Nam thuần tuý thờ ông bà, tổ tiên vì yêu mến sự thiện cũng như ảnh hưởng và đã lấy ngày này để cúng tỏ lòng biết ơn ông bà tổ tiên đồng thời cũng để tỏ lòng biết ơn Đức Phật, Thổ Công,…

    Như vậy nguồn gốc của lễ Thượng Nguyên là từ đạo Phật tức là Trung Hoa đưa sang và người Việt Nam đã tiếp nhận rồi làm thay đổi từ từ cho đến ngày nay đã thành phổ biến đối với tất cả những ai theo đạo ông bà ở Việt Nam.

    Tết Đoan Ngọ (5-5 Âm lịch)

    Cũng như những ngày lễ khác, người Việt Nam đã bắt chước người Trung Hoa ăn Tết Đoan Ngọ từ thời rất xa xưa.

    Về sự tích tết Đoan Ngọ, thực ra ban đầu đây chỉ là ngày người dân làm lễ để đánh dấu một thời tiết mới, mừng sự trong sáng quang đãng của khí trời nhưng về sau để cho ngày này thêm phần ý nghĩa tín ngưỡng – tôn giáo, người ta kỷ niệm luôn ngày Khuất Nguyên tự vẫn. Về sau ngươi ta kỷ niệm luôn sự tích Lưu – Nguyễn, hai người đi hái lá thuốc lạc vào cõi thiên thai.

    Khuất Nguyên làm chức tả đồ nước Sở dưới triều Hoài Vương thời Thất Quốc bên Trung Hoa (307 – 246 TCN). Ông là người có tài, liêm chính hay ngăn cản nhà vua. Sau khi vua Hoài Vương qua đời Tương Vương lên ngôi và thường bị Khuất Nguyên can ngăn khi làm việc chẳng hay nên Tương Vương bắt Khuất Nguyên đi đày. Khuất Nguyên làm bài thơ Hoài Sơn rồi buộc đá vào mình nhảy xuống sông Mịt Loan tự tử khi đi qua đó, hôm đó nhằm ngày 5 tháng 5 âm lịch. Nghe tin đó vua rất ân hận thương tiếc cho Khuất Nguyên và làm cỗ đưa ra bờ sông cúng Khuất Nguyên. Cũng xong vua bỏ lễ xuống sông nhưng tôm cá ăn hết sau đó Khuất Nguyên hiện về nói nếu sau này còn cúng thì khi bỏ lễ xuống sông nhớ gọi lại lấy dây buộc chặt khỏi cá tôm ăn hết. Từ đấy về sau cứ ngày mồng 5 tháng 5 là dân chúng khắp nơi làm cỗ đưa ra các bờ sông để cúng Khuất Nguyên và đến ngày nay cũng thế. Theo sự tích này, ở Việt Nam ngày nay kỷ niệm hay làm giỗ Khuất Nguyên không phải là chủ yếu trong tết Đoan Ngọ. Dân Việt Nam sáng tạo ra nhiều tập tục phù hợp với những sự tích và rất thực tế như giết sâu bọ, hái thuốc vào giờ ngọ, tắm sông vào giờ ngọ… Đến ngày này học sinh đi tết thầy cô giáo, bệnh nhân đi tết thầy lang, con rể đi tết ông bà,… và có giỗ cúng gia tiên.

    Tết Đoan Ngọ đã đi vào cuộc sống của người Việt Nam từ xa xưa và nay có vẻ như càng ngày càng lớn mạnh hơn. Tuy nhiên cách thức ăn tết này lại rất khác nhau, nó hầu như tuỳ thuộc vào tín ngưỡng, tôn giáo, địa phương.

    Tết Trung Thu

    Tết Trung Thu còn được gọi là tết trông trăng và có khi lại gọi là tết trẻ con vì người ta thường sắm nhiều đồ chơi cho trẻ trong những ngày này.

    Tết Trung Thu có từ thời Đường Minh Hoàng; tích truyền rằng vào đêm rằm tháng Tám nằm mơ thấy đạo sỹ đưa lên cung trăng chơi nhà vua đăm mình trong cảnh đẹp thần tiên lộng lẫy. Tan giấc mộng, vua nuối tiếc cảnh trăng thu ở cung trăng bèn đặt ra tết Trung Thu để về sau vào ngày đó ngắm trăng, ngâm vịnh. Bắt đầu từ triều đình rồi phổ biến trong toàn dân và sau đó nó theo chân của những đạo quân sang xâm chiếm Việt Nam và trở thành một ngày Tết như của người Việt Nam vậy.

    Ngày nay, Tết Trung Thu càng ngày càng in đậm vào đời sống dân Việt Nam không phân biệt tôn giáo tín ngưỡng nào. Nó đã được biến đổi theo tính cách của người Việt Nam và rất gần gũi với mọi người dân.

    Trước hết là tết Dương lịch, ngày Tết này thuộc là tết cổ truyền của phương Tây. Nhưng do tính cách hội nhập toàn cầu và sự ảnh hưởng mạnh mẽ của lịch tây mà Việt Nam cũng đã ăn Tết này theo phương Tây. Tuy nhiên người Việt Nam ăn tết này không lớn lắm, chỉ có ở học đường, công sở nhà nước và tầng lớp công nhân viên mới ăn tết này thôi vì họ được hưởng quyền lợi (nghỉ làm nhưng lại được hưởng lương trong ngày này).

    Sau tết Dương lịch là lễ Noel, song hành với sự du nhập của Kitô giáo lễ Noel đã được tổ chức ở Việt Nam từ những năm đầu khi các nhà truyền giáo có mặt. Nhưng trước đây lễ Noel mang duy nhất một tính chất tôn giáo dành riêng cho các Kitô hữu. Gần đây, khi Việt Nam giao lưu văn hóa, mở rộng quan hệ với phương Tây và tiếp nhận nền văn minh từ phương Tây vào thì lễ Noel, ngoài ý nghĩa tôn giáo, đã trở thành lễ hội cho cộng đồng nhất là đối với giới trẻ và dân thành thị.

    Ngoài hai lễ tết này ra còn có những ngày khác nữa mà những năm gần đây rất được nhiều người quan tâm như ngày 14 tháng 2; 8 tháng 3; 1 tháng 4; 1 tháng 5 ;…

    Tóm lại, hai nền văn hóa Đông – Tây, đã để lại những dấu ấn rõ nét trên lãnh vực lễ hội trong văn hóa Việt Nam và những dấu ấn này có lẽ chẳng bao giờ mất đi nhưng sẽ được phát triển mang tính chất Việt Nam hơn. Điều này còn phụ thuộc vào cách tiếp nhận của cộng đoàn.

    THAY LỜI KẾT

    Hoàng Thiên, OP.

    (catechesis)

    (Nguồn: lamhong.org)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Du Lịch Sydney Nên Đi Đâu? Những Địa Điểm Phải Đến Tại Xứ Sở Chuột Túi
  • Kinh Nghiệm Khi Đi Du Lịch Hà Nội Bạn Cần Biết
  • Văn Hóa Du Lịch
  • ​những Điều Cần Biết Khi Đi Du Lịch Hà Nội Theo Tháng
  • Bãi Tắm Du Lịch Tại Cát Bà
  • Luận Văn Ảnh Hưởng Của Tình Hình Kinh Tế , Chính Trị Đến Sự Phát Triển Du Lịch Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Ảnh Hưởng Của Phật Giáo Với Con Người Việt Nam
  • Ảnh Hưởng Của Phật Giáo Đến Đời Sống Tinh Thần Người Việt
  • Sự Du Nhập Của Phật Giáo Vào Nước Ta Và Ảnh Hưởng Của Nó Trong Tk 10
  • Luận Văn Tiểu Luận Ảnh Hưởng Của Triết Học Phật Giáo Đến Đời Sống Tinh Thần Của Người Việt Nam
  • Toàn Cảnh Khu Du Lịch Lá Phong Với Bộ Album Ảnh Cực Chất
  • Xu thế hội nhập , quốc tế hoá trong khu vực và trên thế giới đang diễ ra hết sức mạnh mẽ . Hoà trong xu thế này , du lịch Việt Nam đang đứng trước nhiều thời cơ cũng nhu thách thức mới trong quá trình phát triển và khẳng định mình . Sự bất ổn về kinh tế chính trị tại một loạt các quốc gia trên thế giới trong những năm gần đây , phần nào có những tác động xấu đến du lịch Việt Nam . Tình hình này đặt nghành du lịch non trẻ của nước ta trước những thách thức khó khăn lớn . Nhưng bên cạnh đó , chính những bất ổn này , ở một khía cạnh nào đó lại là một cơ hội cho du lịch Việt Nam có những bước bứt phá . Để làm được điều đó , không phải dễ , nó đòi hỏi nguồn lực từ nhiều cơ quan , bộ , nghành , từ phía doanh nghiệp và chính những ngừơi dân . Tình hình kinh tế chính trị của mỗi quốc gia ảnh hưởng đến du lịch của quốc gia đó như thế nào và ở Việt Nam ra sao . Phân tích những tác động này, không chỉ cho chúng ta thấy được thực trạng đó , mà quan trọng hơn chúng ta thây được nhứng điểm mạnh , điểu yếu của du lịch Việt nam , đâu là thời cơ và đâu là thách thức . Chỉ có hiểu rõ như thế , chúng ta mới có thể đưa ra các đường lối , chính sách phát triển đúng đắn , nhằm khai thác và tận dụng tốt những nguồn lực , tiềm năng của đất nước phục vụ phát triển nhân lực . Phát triển du lịch là phát triển trong một tổng thể của nền kinh tế quốc dân , ổn định và hài hoà đối với các nghành , lĩnh vực kinh tế khác , phát triển du lịch đồng thời phải đảm bảo giữ gìn tình hình chính trị , an toàn xã hội của đất nước . Có thể nói phân tích những ảnh hưởng của nền kinh tế ,chính trị đến sự phát triển du lịch Việt Nam là một yêu cầu tất yếu trong bất cứ giai đoạn nào nhất là giai đoạn hiện nay , là một sinh viên em mong muốn được đặt mình và cương vị một nhà quản lý du lịch , nhìn nhận và đánh giá thực trạng này ở Việt Nam , đưa ra một vài kiến nghị nhỏ . Không phải với hy vọng định hướng cho du lịch Việt Nam phát triển mà là hy vọng qua đây có thể nhận thức đúng đắn hơn về tầm quan trọng của tình hình kinh tế chính trị với sự phát triển của du lịch . Đó là lý do em chọn đề tài “Ảnh hưởng của tình hình kinh tế , chính trị đến sự phát triển du lịch ở Việt Nam I, C¬ së lý luËn chung

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tác Động Của Du Lịch Đến Kinh Tế
  • 10 Nguyên Tắc Du Lịch Một Mình
  • Là Người Trẻ, Hãy Thử Đi Du Lịch Một Mình Ít Nhất Một Lần Trong Đời
  • Xem Ngày Đẹp Đi Du Lịch Và Giờ Xuất Hành Tốt Nhất Tháng 1/2021 * Du Lịch Số
  • Cuối Năm Nên Đi Du Lịch Ở Đâu? Chọn Điểm Đến Theo Phong Cách Của Bạn!
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100