Phát Triển Du Lịch Biển Việt Nam

--- Bài mới hơn ---

  • Những Nguyên Nhân Khiến Bạn Bị Xin Visa Du Lịch Úc?
  • Một Mình Ở Singapore
  • Tour Bà Nà Trong Ngày Chất Lượng Cao Tại Đà Nẵng
  • Du Lịch Một Mình Ở Singapore Trong 2022: Hướng Dẫn Thưởng Thức Những Điều Tuyệt Vời Nhất Ở Châu Á
  • Đặc Sản Đảo Bình Ba, Ăn Gì Khi Du Lịch Đảo Bình Ba?
  • Published on

    Phát triển du lịch biển.

    Cơ hội và thách thức cho Việt Nam

    Bãi biển đỏ tuyệt đẹp này nằm ở Bàn Cẩm, tỉnh Liêu Ninh, thuộc đông bắc Trung Quốc. Nơi đây cũng được coi là vùng đất ngập nước lớn nhất và tốt nhất bảo vệ những bãi đầm lầy hiếm có, quý giá của thế giới.

    1. 1. PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CHO VIỆT NAM NHÓM THỰC HIỆN: NHÓM 4 GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: THS NGUYỄN TỐ UYÊN
    2. 2. CƠ HỘI NẰM Ở ĐÂU?
    3. 3. VỊ TRÍ ĐỊA LÍ  Bờ Tây của Biển Đông – biển lớn và thuộc loại quan trọng nhất của khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.  Vùng biển rộng 1 triệu km  Biển Đông bao bọc toàn bộ sườn phía Đông và phía Nam Việt Nam  Nhiều đảo, quần đảo
    4. 4. QUÀ CỦA TẠO HÓA  Tài nguyên khoáng sản, dầu mỏ. (Mỏ Bạch Hổ ở Bà Rịa – Vũng Tàu).  Hang động, vũng vịnh trên đảo.  Nguồn hải sản phong phú  Nhiều bãi tắm, bờ biển đẹp
    5. 5. NHẬN BIẾT ĐƯỢC NHỮNG CƠ HỘI VÀ TIỀM NĂNG NHƯ VẬY, ĐẢNG TA CÓ ĐỊNH HƯỚNG GÌ?
    6. 6. CÁC KÌ ĐẠI HỘI TRƯỚC ĐÂY  “Coi trọng phát triển kinh doanh du lịch biển, tổ chức tốt việc cung ứng cho tàu biển nước ngoài và các dịch vụ khác” – (Đại hội đảng IV.)  “Khai thác sự hấp dẫn của thiên nhiên, oo di sản văn hoá phong phú và các lợi thế khác của đất nước, mở rộng hợp tác với nước ngoài để phát triển mạnh du lịch”. – (Đại hội đảng VII.)
    7. 7. CÁC KÌ ĐẠI HỘI TRƯỚC ĐÂY  Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tương xứng với tiềm năng du lịch (theo hướng du lịch văn hóa, sinh thái môi trường)  Huy động các nguồn lực tham gia kinh doanh du lịch, ưu tiên xây dựng kết cấu hạ tầng ở những khu vực du lịch tập trung, ở các trung tâm lớn.  Nâng cao trình độ văn hóa và chất lượng dịch vụ phù hợp với các loại khách du lịch khác nhau. (Đại hội Đảng VIII)
    8. 8. CÁC KÌ ĐẠI HỘI TRƯỚC ĐÂY  Đưa ngành du lịch thành một ngành kinh tế mũi nhọn. – (Đại hội Đảng IX)  “Phát triển mạnh và nâng cao chất lượng hoạt động du lịch, đa dạng hoá sản phẩm và các loại hình du lịch”. – (Đại hội Đảng X)
    9. 10. NHÌN VÀO THỰC TẾ HIỆN NAY
    10. 11. DU LỊCH BIỂN Nhiều điểm du lịch biển nổi tiếng đã được đầu tư phát triển như:  Vịnh Hạ Long, bãi biển Trà Cổ, Vân Đồn, Quan Lạn, Minh Châu (Quảng Ninh);  đảo Cát Bà (Hải Phòng);  bãi biển Sầm Sơn (Thanh Hóa);  bãi biển Cửa Lò (Nghệ An);  bãi biển Nhật Lệ (Quảng Bình);  vịnh Lăng Cô (Thừa Thiên-Huế);  Bãi biển Non Nước, Mỹ Khê (Đà Nẵng);  bãi biển Cửa Đại (Quảng Nam);  bãi Dài, vịnh Nha Trang, vịnh Cam Ranh (Khánh Hòa);  bãi biển Mũi Né (Bình Thuận);  Vũng Tàu (Bà Rịa – Vũng Tàu);  đảo Phú Quốc, Hà Tiên (Kiên Giang)..
    11. 12. Biển Lăng Cô Huế
    12. 13. BÀ RỊA – VŨNG TÀU
    13. 14. XÁC ĐỊNH THÁCH THỨC
    14. 15. HẠN CHẾ  Trong một thời gian dài, tỷ trọng khách du lịch, thu nhập từ du lịch biển so với du lịch cả nước không có sự thay đổi đáng kể, mặc dù vùng ven biển là lãnh thổ có nhiều thuận lợi hơn những vùng lãnh thổ khác về tài nguyên du lịch.  Du lịch biển Việt Nam vẫn chưa tạo được sự hấp dẫn đặc biệt đối với khách du lịch, đặc biệt là du khách quốc tế.
    15. 16. NGUYÊN NHÂN  Công tác tuyên truyền và quảng bá về du lịch biển Việt Nam lâu nay chưa được quan tâm đúng mức.  Du lịch Việt Nam chưa tham gia các hội nghị, hội chợ chuyên về du lịch biển và du lịch tàu biển trên thế giới.  Không ít địa phương do nóng vội đã đưa ra các chiến lược phát triển thiếu tính bền vững.
    16. 17. NGUYÊN NHÂN  Tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên ngành du lịch còn thấp, trình độ chuyên môn chưa cao, khả năng giao tiếp kém.  Sự đầu tư của Nhà nước và sự huy động các nguồn vốn phục vụ cho du lịch chưa tương xứng với yêu cầu phát triển  Cơ chế quản lý nhà nước về du lịch chưa toàn diện, chưa chặt chẽ, chưa theo kịp với thực tế phát sinh.
    17. 18. BÀI HỌC CÁC QUỐC GIA ĐI TRƯỚC
    18. 20. THÁI LAN: CÁC BÃI BIỂN ĐẸP TẠI THÁI LAN Phuket Pattaya Nhảy dù
    19. 21. THÁI LAN: CHIẾN DỊCH QUẢNG BÁ VÀ XÚC TIẾN ĐA DẠNG  Ngành du lịch là nguồn thu ngoại tệ chủ yếu và cao hơn các ngành sản xuất khác.  Khuyến khích phát triển nguồn nhân lực, tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ du lịch cả về số lượng và chất lượng  Có những chính sách cụ thể với từng ngành  Thúc đẩy hợp tác giữa khu vực nhà nước và tư nhân  Khôi phục và giữ gìn các tài nguyên du lịch
    20. 22. TRUNG QUỐC
    21. 23. TRUNG QUỐC  Du lịch một ngành kinh tế trọng điểm, trụ cột cần ưu tiên đầu tư phát triển.  Trung Quốc phấn đấu đến năm 2022 sẽ trở thành một cường quốc về du lịch trên thế giới  Chủ đề du lịch được sắp xếp theo từng năm
    22. 24. NĂM CHỦ ĐỀ 1992 Năm Du lịch Trung Quốc (lần I) 1993 Năm Du lịch phong cảnh 1994 Năm Du lịch di tích văn vật cổ 1995 Năm Du lịch phong tục dân gian 1996 Năm Du lịch nghỉ dưỡng nghỉ mát 1997 Năm Du lịch Trung Quốc (lần II) 1998 Năm Du lịch thành phố – làng quê Hoa Hạ 1999 Năm Du lịch môi trường sinh thái 2000 Năm Du lịch Thế kỷ Thần Châu 2001 Năm Du lịch Thể dục sức khoẻ 2002 Năm Du lịch văn hóa nghệ thuật dân gian Trung Quốc 2003 Năm Du lịch vương quốc ẩm thực Trung Hoa 2004 Năm Du lịch đời sống dân dã Trung Quốc 2005 Năm Du lịch Trung Quốc (lần III) 2006 Nông thôn mới, du lịch mới, thể nghiệm mới, thời thượng mới
    23. 25. MALAYSIA : CHÚ TRỌNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI
    24. 26. MALAYSIA : CHÚ TRỌNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI
    25. 27. MALAYSIA : CHÚ TRỌNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI  Thường xuyên nâng cấp trang thiết bị cho ngành du lịch  Duy trì phát triển văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái.  Coi trọng công tác quảng bá sản phẩm du lịch trên cơ sở đa dạng sản phẩm – thỏa mãn khách hàng  Hiện nay Malaysia là quốc gia có nền kinh tế du lịch phát triển vào bậc nhất Đông Nam Á. Chỉ trong vài năm, với chính sách đầu tư hợp lý, ngành du lịch Malaysia đã vươn lên dẫn đầu khu vực.
    26. 28. GIẢI PHÁP CHO DU LỊCH BIỂN VIỆT NAM
    27. 29. PHẠM VI CẢ NƯỚC  Thẳng thắn nhận diện những hạn chế còn tồn tại.  Tập trung vào một số thị trường tiềm năng, đồng thời tìm thị trường mới.  Du lịch Việt Nam quyết tâm tăng cường bám biển, hướng tới mục tiêu phát triển nhanh và bền vững
    28. 30. HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU 1. Đẩy mạnh đầu tư hạ tầng (năng lượng điện, nước sạch, vừa phát triển du lịch, vừa phục vụ nhu cầu của cư dân) 2. Hỗ trợ về giá, thuế cho các doanh nghiệp. Hỗ trợ liên kết phát triển du lịch với các ngành thủy sản, vận tải biển,… 3. Triển khai các dự án phát triển du lịch biển song song với việc bảo vệ môi trường
    29. 31. HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU 4. Tôn vinh văn hóa biển, ẩm thực biển 5. Triển khai tuyến du lịch vì chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc (Hoàng Sa, Trường Sa) 6. Đưa khu bảo tồn biển quốc gia vào danh sách khu bảo tồn thiên nhiên thế giới (UNESCO) 7. Có các chế tài nghiêm khắc xử lí việc khai thác quá mức cho phép hoặc gây ô nhiễm môi trường.
    30. 32. PHẠM VI ĐỊA PHƯƠNG CỤ THỂ  PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DU LỊCH  Sản phẩm du lịch gắn với khai thác giá trị văn hóa, tài nguyên nhân văn  Sản phẩm du lịch gắn với thể thao, giải trí, nghỉ dưỡng biển  Sản phẩm du lịch – tham quan, nghiên cứu về sinh thái
    31. 33. PHẠM VI ĐỊA PHƯƠNG CỤ THỂ  PHÁT TRIỂN KHÔNG GIAN DU LỊCH  Không gian du lịch sinh thái biển đảo  Không gian du lịch sinh thái ven biển  Không gian du lịch văn hóa – lịch sử  Không gian du lịch nghỉ dưỡng, thể thao, giải trí tổng hợp biển
    32. 34. TRỌNG ĐIỂM PHÁT TRIỂN DU LỊCH  Móng Cái – Hạ Long – Cát Bà – Đồ Sơn: Tập trung nhiều tài nguyên du lịch đặc sắc, tiêu biểu là di sản thiên nhiên vịnh Hạ Long, VQG Cát Bà; các bãi biển nổi tiếng như Trà Cổ, Quan Lạn, Cát Bà…
    33. 35. TRỌNG ĐIỂM PHÁT TRIỂN DU LỊCH  Huế – Đà Nẵng – Hội An: Tập trung nhiều tài nguyên du lịch đặc sắc của vùng du lịch Bắc Trung Bộ tiêu biểu là di sản văn hóa thế giới; hệ sinh thái đầm phá lớn nhất Việt Nam; các cảnh quan đặc sắn đèo Hải Vân, Ngũ Hành Sơn…
    34. 36. TRỌNG ĐIỂM PHÁT TRIỂN DU LỊCH  Văn Phong – Nha Trang – Ninh Chữ – Phan Thiết: Tài nguyên du lịch đặc sắc tiêu biểu vịnh Văn Phong, Nha Trang, Cam Ranh với nhiều bãi biển đẹp như Đạ Lãnh, Nha Trang, Cam Ranh….; các hệ sinh thái biểu, hệ sinh thái cát ven biển; 2 khu du lịch tổng hợp vịnh Văn Phong – Đại Lãnh với Nha Trang và khu du lịch biển chuyên đề Phan Thiết – Mũi Né
    35. 37. TRỌNG ĐIỂM PHÁT TRIỂN DU LỊCH  Long Hải – Vũng Tàu – Cần Giờ -Côn Đảo: Ngoài lợi thế về tiềm năng du lịch đặc sản mà tiêu biểu là cảnh quan, các giá trị đa dạng sinh học thì đây được xem là không gian du lịch cuối tuần đặc biệt quan trọng của thành phố HCM và phụ cận – thị trường du lịch lớn nhất Việt Nam.
    36. 38. TRỌNG ĐIỂM PHÁT TRIỂN DU LỊCH  Rạch Giá – Hà Tiên – Phú Quốc: Có vị trí quan trọng đặc biệt đối với phát triển du lịch vùng đồng bằng sông Cửu Long với các giá trị đặc sắc về du lịch tiêu biểu là bãi biền Hòn Chông, Mũi Nai, Phú Quốc…; các hệ sinh thái rừng Tràm, rừng nhiệt đới trên đảo, san hô…; các cảnh quan hòn Phụ Tử, quần đảo Phú Quốc….
    37. 39. PHÁT TRIỂN ĐỒNG BỘ CƠ SỞ HẠ TẦNG DU LỊCH  Đường bộ  Đường không  Đường sắt  Đường biển
    38. 40. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA ĐẤT NƯỚC TRONG TƯƠNG LAI NẰM Ở CHÍNH CÁC BẠN! Ý tưởng Quyết tâm Kiên trì, bền bỉ
    39. 41. CẢM ƠN CÁC BẠN ĐÃ LẮNG NGHE

    --- Bài cũ hơn ---

  • Du Lịch Biển Việt Nam
  • 20 Món Đặc Sản Hà Nội Làm Quà Và Địa Chỉ Mua
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Bụi Tự Túc Đảo Quan Lạn (Phần 1)
  • Tour Cần Thơ 2 Ngày 1 Đêm
  • Nên Chơi Ở Đâu Và Ăn Gì Khi Đi Du Lịch Brussels, Bỉ ?
  • Phát Triển Du Lịch Xanh Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Phiêu Với Những Khu Du Lịch Xanh Mát Giữa Mùa Nắng Sài Thành
  • Tiềm Năng Du Lịch Xanh Của Việt Nam
  • “du Lịch Xanh” Phố Cổ Níu Lòng Du Khách
  • Phát Triển Du Lịch Bằng Xe Đạp Ở Việt Nam
  • 5 Tour Du Lịch Bằng Xe Đạp Tuyệt Vời Nhất Tại Việt Nam
  • Du lịch xanh

    Trước hết, chúng ta cần hiểu khái niệm du lịch xanh là gì? Du lịch xanh là loại hình du lịch dựa vào tự nhiên và văn hóa, có giáo dục môi trường, đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, có sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương. Có thể nói, phát triển du lịch xanh là chìa khóa để phát triển du lịch có trách nhiệm, đảm bảo du lịch bền vững.

    Cốt lõi của du lịch xanh là sản phẩm du lịch xanh. Để đảm bảo là sản phẩm xanh cần đạt các tiêu chí sau: sản phẩm được tạo ra từ các vật liệu thân thiện với môi trường; sản phẩm đem đến những giải pháp an toàn đối với môi trường và sức khỏe; sản phẩm giảm tác động đến môi trường trong quá trình sử dụng; sản phẩm tạo ra một môi trường thân thiện và an toàn đối với sức khỏe. Như vậy, tất cả các dịch vụ, sản phẩm du lịch như tour, sản phẩm, dịch vụ của khách sạn, nhà hàng muốn được công nhận là sản phẩm du lịch xanh đều phải đạt (thực hiện) được các nội dung cơ bản của các tiêu chí trên. Mức độ “xanh” của một sản phẩm du lịch sẽ phụ thuộc nhiều vào mức độ thân thiện môi trường của những yếu tố có khả năng ảnh hưởng đến tính chất tham gia vào việc hình thành nên sản phẩm du lịch.

    Với cách tiếp cận trên, sản phẩm du lịch xanh được hiểu là những sản phẩm du lịch có hàm lượng cao các yếu tố đặc biệt là dịch vụ, thân thiện môi trường, được phát triển phù hợp với các nguyên tắc bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

    Trong xu thế hiện nay, khi sự quan tâm của du khách đến môi trường tự nhiên ngày tăng thì việc phát triển những sản phẩm du lịch xanh có chất lượng cao sẽ góp phần quan trọng vào việc tạo ra tính cạnh tranh và hấp dẫn cao của điểm đến du lịch bên cạnh một số yếu tố khác như mức độ thuận lợi trong tiếp cận điểm đến (thủ tục ra, vào phương tiện); hình ảnh, thông tin về điểm đến.

    Du lịch xanh được áp dụng trong hệthống khách sạn, đơn vị vận chuyển, kinh doanh lữ hành, nhà hàng bằng các biện pháp bảo vệ môi trường: xử lý nước thải tránh ô nhiễm, thu gom triệt để rác thải, giảm tiếng ồn, hạn chế sử dụng túi ni lông, trồng cây xanh.

    Sự phát triển du lịch xanh ở Việt Nam những năm qua

    Việt Nam có tài nguyên du lịch tự nhiên và văn hóa – nhân văn rất phong phú, đa dạng. Đó là điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch xanh. Mặt khác, Việt Nam cũng là một quốc gia chịu ảnh hưởng lớn của biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Do vậy, chúng ta càng cần phải phát triển du lịch xanh, góp phần phát triển một nền kinh tế xanh bền vững.

    Thời gian qua, một số địa phương, công ty lữ hành, khách sạn đã có sự chú phát triển du lịch xanh, như một số tỉnh Tây Bắc, Quảng Bình, Nghệ An… phát triển du lịch cộng đồng; Huế phát triển du lịch nhà vườn; Nha Trang phát triển du lịch biển đảo; một số tỉnh Nam Bộ phát triển du lịch miệt vườn. Nhiều công ty lữ hành xây dựng các tour du lịch xanh; khách sạn đạt chứng chỉ xanh…

    Tuy nhiên, hoạt động du lịch còn tồn tại một số vấn đề khiến cho du lịch xanh chưa được phát triển, cụ thể: phát triển du lịch chưa gắn với khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên, hiệu suất sử dụng tài nguyên thấp; phát triển du lịch chưa gắn kết chặt chẽ với bảo vệ môi trường; phát triển du lịch chưa tính đến biến đổi khí hậu… Việc phát triển quá nhanh đã gây nhiều ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường du lịch. Tại nhiều khu, điểm du lịch xuất hiện các chất thải rắn, rác thải, nước thải chưa thu hồi, xử lý triệt để, việc phát triển du lịch làm gia tăng mức độ tắc nghẽn giao thông, ô nhiễm không khí, nước, tiếng ồn, thay đổi cảnh quan thiên nhiên và thay đổi quân bình môi sinh đối với môi trường sống của sinh vật. Ngày càng có nhiều cơ sở lưu trú, dịch vụ du lịch xây dựng trên các đảo không theo quy hoạch, đã làm tăng nguy cơ xói mòn đường bờ biển, làm suy thoái hệ sinh thái biển đảo. Nước thải chưa qua xử lý từ các cơ sở lưu trú, dịch vụ du lịch xả trực tiếp vào môi trường, làm tăng mức độ hữu cơ nước biển ven bờ. Sự xung đột về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể kinh tế và các ngành, tầm nhìn ngắn hạn và hạn chế về công nghệ dẫn tới một số tài nguyên du lịch bị tàn phá, sử dụng sai mục đích; những tệ nạn xã hội, văn hóa ngoại lai và những hạn chế trong nhận thức về bảo vệ môi trường đã làm giảm hiệu quả kinh tế do du lịch mang lại, làm môi trường xuống cấp, gây ảnh hưởng xấu tới hình ảnh và sự phát triển bền vững của Du lịch Việt Nam. Đây là nguy cơ chính cho du lịch trong giai đoạn tới.

    Bên cạnh đó, vì mục đích kinh tế, với mục tiêu kinh doanh ngắn hạn là nhằm giảm chi phí và tăng thu, tăng lợi nhuận, nhiều công ty du lịch thay vì phải tiến hành điều tra khảo sát xây dựng chương trình tour, đánh giá cung – cầu… để xây dựng sản phẩm du lịch phù hợp với xu thế hướng tới du lịch xanh đã tiến hành việc “sao chép” sản phẩm du lịch của các công ty khác mà chưa thực sự chú ý đến bảo vệ môi trường và sự phát triển lâu dài, bền vững. Đây là tình trạng khá phổ biến hiện nay ở Việt Nam trong phát triển sản phẩm du lịch.

    Chiến lược phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030 đã xác định: “Tập trung đầu tư phát triển các loại hình, sản phẩm du lịch có thể là thế mạnh về tài nguyên du lịch của đất nước và của từng địa phương. Ưu tiên phát triển loại hình du lịch gắn với biển, hải đảo; nhấn mạnh yếu tố văn hóa và sinh thái đặc sắc trong sản phẩm du lịch. Tập trung phát triển các khu du lịch biển tầm cỡ, chất lượng cao, tạo thương hiệu và có sức cạnh tranh trong khu vực và trên thế giới”.

    Những năm vừa qua, khách du lịch đến Việt Nam có xu hướng chọn các tour, các khách sạn, khu du lịch và các dịch vụ, hàng hóa bền vững, có nhãn sinh thái, thân thiện với môi trường. Đó là xu hướng của khách du lịch quốc tế, nhất là khách đến từ các nước châu Âu, Bắc Mỹ, Nhật Bản, Thái Lan. Họ có ý thức và nhu cầu cao về an toàn và sức khỏe, ngày càng nhiều người muốn quay về với thiên nhiên. Theo nghiên cứu của Tổ chức SNV của Hà Lan, 52% du khách có xu hướng thích đặt tour qua các hãng lữ hành được chứng nhận có điều kiện làm việc tốt, tham gia bảo vệ môi trường và hỗ trợ hoạt động từ thiện ở địa phương. Nghiên cứu của Tổ chức Trip Advisor cho thấy, 34% du khách sẵn sàng chi trả thêm để ở những khách sạn thân thiện với môi trường và cho các lựa chọn du lịch bền vững (WEF), 50% du khách quốc tế sẵn sàng chi trả thêm cho những công ty mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương và hoạt động bảo tồn (CESD và TIES). Vì vậy, các cơ sở lưu trú du lịch cần triển khai thực hiện và tập trung tuyên truyền cho những chương trình, dịch vụ thân thiện với môi trường để thu hút khách.

    Từ chiến lược, chính sách phát triển du lịch của Đảng và Nhà nước ta cũng như xu hướng nhu cầu của du lịch thế giới như trên, có thể thấy rằng việc phát triển du lịch xanh được đặt ra như một nội dung chiến lược quan trọng của Du lịch Việt Nam nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong quá trình hội nhập của Du lịch Việt Nam với khu vực và quốc tế và phát triển du lịch xanh, tăng trưởng xanh là hướng phát triển du lịch bên vững của tương lai.

    Để thực hiện được chiến lược trên cần phải thực hiện nhiều giải pháp. Bài viết này chỉ xin nêu một số giải pháp chủ yếu:

    Hai là, nhận thức trên cần được biến thành hành động cụ thể trong việc xây dựng, tổ chức thực hiện và quản lý quy hoạch, trong thẩm định và thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản phẩm du lịch ở các cấp từ trung ương đến địa phương trên phạm vi toàn quốc.

    Những chương trình này cần được xây dựng trên cơ sở những nghiên cứu cơ bản có định hướng về tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn đặc thù, đặc biệt chú trọng đến việc khai thác giá trị di sản thế giới gắn với các văn hóa bản địa; các giá trị văn hóa truyền thống của các vùng, miền, các làng quê Việt Nam và gắn với quá trình xây dựng nông thôn mới. Mặt khác, nhà nước cần có chính sách khuyến khích tăng cường tính “xanh” trong phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, trong các dịch vụ du lịch với những điều kiện cụ thể ở mỗi nơi như ứng dụng năng lượng gió, mặt trời, sử dụng vật liệu tái chế, vật liệu tự nhiên, chế biến rác thải, xử lý nước thải, giảm thiểu tiêu hao xăng, dầu trong giao thông, trong tiêu dùng, an toàn vệ sinh thực phẩm… hoặc khuyến khích các chương trình bảo tồn và truyền bá văn hóa dân gian, dân tộc trong phát triển du lịch. Cần kết hợp chặt chẽ giữa quá trình xây dựng nông thôn mới với phát triển du lịch xanh.

    Ba là, Nhà nước cần xây dựng và ban hành “bộ tiêu chí du lịch xanh”. Trên cơ sở đó các cơ quan quản lý, các doanh nghiệp du lịch vận dụng trong quá trình đầu tư, quy hoạch và kinh doanh. Đồng thời đó cũng là căn cứ để công nhận sản phẩm du lịch xanh như “tour xanh”, “khách sạn xanh”, “nhà hàng xanh”, “khu nghỉ dưỡng xanh”…

    Bốn là, Nhà nước cần tiếp tục mở rộng, phát triển các ý tưởng và tham gia tích cực vào các hoạt động của Công ước quốc tế về bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu, xây dựng nền kinh tế xanh. Phối hợp với UNESCO để làm tốt hơn công tác bảo tồn, phát huy, quảng bá nền văn hóa Việt Nam ra thế giới. Tiếp cận nhanh những kiến thức xanh và công nghệ sạch của cộng đồng khoa học thế giới, của các nước có nền du lịch xanh phát triển, từ đó vận dụng vào phát triển du lịch xanh Việt Nam. Ứng dụng những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 vào việc quản lý phát triển du lịch xanh, chú ý đến quản lý sức chứa của các điểm, khu du lịch; lựa chọn các nguồn khách có chất lượng và khả năng thanh toán cao để giảm quá tải, ô nhiễm cho những vùng nhất định. Có kế hoạch đào tạo ở nước ngoài đối với các cán bộ chuyên môn và cán bộ quản lý để quản lý du lịch xanh, tăng trưởng xanh và kinh tế xanh.

    Năm là, Nhà nước cũng như doanh nghiệp cần đẩy mạnh hơn nữa và đầu tư xứng đáng cho quảng bá, xúc tiến mạnh hơn về du lịch xanh trong phạm vi toàn xã hội, cho khách du lịch bằng nhiều hình thức khác nhau, phương tiện khác nhau nhằm xây dựng một hình ảnh du lịch xanh Việt Nam, một điểm đến thân thiện thu hút đối với du khách.

    Mặc dù có tiềm năng phát triển, song du lịch xanh ở Việt Nam mới ở giai đoạn khởi đầu. Đối với nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam, du lịch xanh còn là loại hình du lịch mới cả về khái niệm lẫn tổ chức quản lý và khai thác tài nguyên phục vụ cho mục đích du lịch. Do đó, nâng cao nhận thức, có chiến lược, có giải pháp đúng đắn để phát triển du lịch xanh là điều có ý nghĩa lý luận và thực tiễn hết sức quan trọng.

    Phát triển du lịch xanh, tăng trưởng xanh là cơ hội và cũng là thách thức, là mục tiêu quan trọng trong phát triển du lịch bền vững, góp phần phát triển kinh tế đất nước.

    2. Trang thông tin của TCDL Việt Nam, Viện NCPT Du lịch

    3. Web: chúng tôi 10/02/2018…

    GS.TS. Nguyễn Văn Đính

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xu Hướng ‘thực Hành Xanh’ Trong Các Khách Sạn Tại Việt Nam
  • Hội Nghị Xúc Tiến Đầu Tư Vào Lĩnh Vực Du Lịch Xanh Vùng Đbscl
  • Khám Phá Cồn Mỹ Phước
  • Khám Phá Cồn Mỹ Phước Điểm Du Lịch Xanh Tại Sóc Trăng
  • Du Lịch Xanh Ở Cần Thơ
  • Phát Triển Sản Phẩm Du Lịch Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • 7 Tàu Du Lịch Trên Sông Sài Gòn Và Sông Mê Kông
  • Cho Thuê Tàu Du Lịch Theo Giờ Giá Rẻ Sông Sài Gòn
  • Top 5 Thành Phố Phải Đến Du Lịch Và Trải Nghiệm Ở Việt Nam
  • Thủ Tục Xin Visa Du Lịch Hàn Quốc
  • Các Tổ Chức Mà Sinh Viên Ngành Du Lịch Nhất Định Cần Biết
  • Theo nhận định của các chuyên gia du lịch, Việt Nam có hệ thống sản phẩm du lịch khá đa dạng và có nhiều điểm mạnh: đa dạng về sản phẩm tại điểm đến (du lịch biển, du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, du lịch mạo hiểm, du lịch thành phố…); giàu giá trị truyền thống văn hóa với hệ thống di sản, di tích, lễ hội đặc sắc; có thế mạnh nổi trội về du lịch biển đảo; chất lượng dịch vụ, cơ sở lưu trú du lịch ngày càng được nâng cao; giá cả hợp lý; thị trường du lịch nội địa ổn định, tạo cơ sở vững chắc cho việc phát triển du lịch bền vững; có thế mạnh trong việc liên kết phát triển các sản phẩm du lịch nội vùng và liên vùng…

    Tuy nhiên, bên cạnh những điểm mạnh, sản phẩm Du lịch Việt Nam vẫn tồn tại nhiều điểm yếu như: sản phẩm du lịch nghèo nàn, đơn điệu và trùng lặp, chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có, chưa được khai thác hiệu quả; chưa tạo ra được những sản phẩm du lịch chủ lực đặc thù, phù hợp cho từng phân khúc thị trường khách du lịch… Để khắc phục hạn chế này, các cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp du lịch, du khách, cộng đồng dân cư… cần thực thi đồng bộ nhiều giải pháp nhằm phát huy điểm mạnh, hạn chế giảm thiểu những điểm yếu, phát triển sản phẩm du lịch Việt Nam ngày càng phong phú, đa dạng và thúc đẩy Du lịch Việt Nam phát triển bền vững.

    Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập ngày càng sâu và toàn diện, Du lịch Việt Nam đứng trước những cơ hội và thách thức đan xen, sự tham gia của Du lịch Việt Nam trong hoạt động của các tổ chức, cơ chế khu vực và quốc tế như ASEAN, APEC, ASEM, UNWTO, PATA, GMS, Hành lang kinh tế Đông – Tây… ngày càng trở nên tích cực và hiệu quả. Đây là cơ hội để Việt Nam tiếp cận các thị trường du lịch quốc tế, tiếp nhận những cơ chế đào tạo nguồn nhân lực du lịch, từ đó đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu ngày càng cao của khách du lịch. Quan hệ ngoại giao tích cực của Việt Nam với thế giới cũng đang mở ra cơ hội thu hút đầu tư vốn và cộng nghệ vào Việt Nam nói chung và đầu tư du lịch nói riêng… Bên cạnh đó là những thách thức không nhỏ như: nguy cơ khủng khoảng kinh tế; diễn biến phức tạp an ninh, chính trị trên bình diện quốc tế; sức ép cạnh tranh ngày càng gay gắt… đòi hỏi Việt Nam phải nhạy bén, nắm bắt kịp thời và chính xác những xu hướng của du lịch thế giới; đồng thời, cần nâng cao sức cạnh tranh cho sản phẩm du lịch với lợi thế quốc gia và sự độc đáo của văn hóa dân tộc để khẳng định mình trong quá trình hội nhập du lịch quốc tế và cạnh tranh toàn cầu.

    Chiến lược phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030 xác định ưu tiên phát triển mạnh các sản phẩm du lịch theo ưu thế nổi trội về tài nguyên tự nhiên và văn hóa; mở rộng các loại hình du lịch mới (du thuyền, caravan, MICE, du lịch giáo dục, du lịch dưỡng bệnh, du lịch làm đẹp, du lịch ẩm thực); liên kết tạo sản phẩm du lịch vùng, liên kết ngành hàng không, đường sắt, tàu biển tạo sản phẩm đa dạng; phát triển sản phẩm du lịch theo đặc trưng 7 vùng lãnh thổ, bao gồm:

    Vùng trung du, miền núi Bắc Bộ: du lịch văn hóa, sinh thái gắn với tìm hiểu bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số.

    Vùng đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc: du lịch danh lam thắng cảnh biển, du lịch văn hóa, du lịch đô thị, du lịch MICE.

    Vùng Bắc Trung Bộ: tham quan tìm hiểu các di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, du lịch biển, du lịch sinh thái, du lịch văn hóa – lịch sử và du lịch đường biên.

    Vùng duyên hải Nam Trung Bộ: du lịch nghỉ dưỡng biển đảo, tìm hiểu các di sản văn hóa thế giới, văn hóa biển và ẩm thực biển.

    Vùng Tây Nguyên: du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, du lịch văn hóa.

    Vùng Đông Nam Bộ: du lịch đô thị, du lịch MICE, du lịch văn hóa – lịch sử, du lịch nghỉ dưỡng và sinh thái biển, đảo.

    Vùng đồng bằng sông Cửu Long: du lịch sinh thái, khai thác các giá trị văn hóa sông nước miệt vườn, nghỉ dưỡng và sinh thái biển, đảo, du lịch MICE.

    Theo đó,cần có sự đầu tư nghiên cứu để tạo nên các sản phẩm có khả năng cạnh tranh cao, có tính đặc thù rõ nét; ưu tiên phát triển các sản phẩm du lịch có thế mạnh như: du lịch biển, du lịch văn hóa, du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng…; ưu tiên phát triển sản phẩm du lịch nghỉ dưỡng cao cấp, hướng tới thu hút khách chi trả cao và lưu trú dài ngày…

    Theo nhận định của Tổ chức Du lịch thế giới, trong những năm tới, du lịch vẫn là ngành có nhiều triển vọng. Xu thế dòng khách quốc tế sẽ tiếp tục chuyển dịch đến khu vực châu Á – Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam. Đây sẽ là cơ hội để Du lịch Việt Nam bứt phá ngoạn mục về tăng trưởng khách; hình ảnh thương hiệu du lịch quốc gia, chất lượng sản phẩm, dịch vụ và nguồn nhân lực… Để làm được điều đó, ngành Du lịch cần tập trung vào một số giải pháp chủ yếu sau: kiên quyết xử lý các vấn nạn đang tồn tại trong hoạt động kinh doanh du lịch, như làm ăn chộp giật, chặt chém khách, tiến tới chấm dứt một loạt hình ảnh xấu của môi trường du lịch; huy động tổng hợp nguồn lực và đẩy mạnh hơn nữa công tác quảng bá, xúc tiến du lịch theo hướng chuyên nghiệp; thay đổi cách thức xây dựng sản phẩm du lịch để tạo ra các sản phẩm có chất lượng, giàu bản sắc, có sức cạnh tranh cao…

    Tài liệu tham khảo

    1. Chính phủ (2013), Quy hoạch tổng thể phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030;

    2. Nguyễn Trùng Khánh (2011), Phát triển dịch vụ lữ hành du lịch trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế: kinh nghiệm của một số nước Đông Nam Á và gợi ý chính sách cho Việt Nam, Luận án Tiến sỹ kinh tế;

    3. chúng tôi Phạm Trung Lương (2015), Phát triển Du lịch Việt Nam trong bối cảnh hội nhập, V iện Nghiên cứu Phát triển Du lịch;

    4. Dwyer L, Forsyth P, Rao P (2000), The price competitiveness of travel and tourism: A comparison of 19 destinations, Tourism Management.

    5. J. R. Brent Ritchie, Geoffrey I. Crouch (2003), The competitive destination: A sustainable tourism perspective, CABI.

    6. Hassan SS (2000),

    Determinants of market competitiveness in an environmentally sustainable tourism industry, Journal of Travel.

    ThS. Nguyễn Đức Tân

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sản Phẩm Du Lịch Gồm Những Gì? Những Sản Phẩm Du Lịch Tiêu Biểu
  • Sản Phẩm Du Lịch Là Gì
  • Thành Phố Hội An Phát Triển Đa Dạng Các Sản Phẩm Du Lịch
  • Củng Cố Sản Phẩm Du Lịch Hội An
  • Tổng Hợp Danh Sách Các Nước Miễn Visa Du Lịch Cho Người Việt Nam
  • Phát Triển Du Lịch Ẩm Thực Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Du Lịch Thiên Đường Biển Maldives 5 Ngày Trọn Gói Giá Rẻ
  • Khái Quát Đôi Nét Về Văn Hóa, Du Lịch Lào,khai Quat Doi Net Ve Van Hoa Du Lich Lao
  • Xây Dựng Và Bán Chương Trình Du Lịch Đi Lào Dành Cho Thị Trường Khách Hà Nội Của Chi Nhánh Công Ty
  • Tour Du Lịch Hải Phòng Huế Chạy Hằng Ngày Từ 2 Khách
  • Thi Thể 2 Bố Con Người Việt Tử Vong Khi Đi Du Lịch Thái Lan Được Đưa Về Việt Nam
  • Du khách quốc tế trải nghiệm gói bánh chưng Việt Nam. Ảnh: Hồng Lĩnh

    Trong xu thế phát triển ngày càng đa dạng về nhu cầu du lịch, ẩm thực không chỉ đóng vai trò là yếu tố phục vụ khâu ăn uống đơn thuần của du khách, mà còn được xác định là một trong những mục đích chính của các chuyến du lịch.

    Theo báo cáo toàn cầu về du lịch ẩm thực của Tổ chức Du lịch thế giới, du khách thường chi trung bình 1/3 ngân sách chuyến đi cho ẩm thực. Ðồng thời, có tới hơn 80% số đơn vị, tổ chức du lịch khi được điều tra đều xác định du lịch ẩm thực là yếu tố chiến lược đối với điểm đến, là động lực quan trọng cho phát triển du lịch. Bên cạnh việc thưởng thức, mang đến những trải nghiệm vị giác khác lạ, ẩm thực còn giúp du khách cảm nhận được nét văn hóa bản địa đặc sắc của từng vùng, miền, địa phương, từ đó tăng cường ấn tượng về điểm đến. Với những quốc gia có nền ẩm thực đa dạng, hấp dẫn, nếu bỏ qua việc tận dụng lợi thế về ẩm thực có nghĩa là đã bỏ qua cả “mỏ vàng” để phát triển du lịch. Du lịch ẩm thực chính là cơ hội lớn để thúc đẩy kinh tế địa phương và đất nước, tạo điều kiện gia tăng chuỗi giá trị trong nông nghiệp, sản xuất chế biến thực phẩm, đồng thời giữ gìn và quảng bá văn hóa quốc gia ra thế giới… Những năm qua, di sản văn hóa ẩm thực được hình thành qua hàng ngàn năm của Việt Nam đã làm say lòng bao khách du lịch nước ngoài khi đến thăm dải đất hình chữ S. Hàng chục món ăn nổi tiếng của Việt Nam như phở, bún chả, bánh mì, nem… đã được các tổ chức thế giới, tạp chí ẩm thực, kênh truyền thông quốc tế uy tín vinh danh. Không chỉ đa dạng, hài hòa, tinh tế, dễ thưởng thức, ẩm thực nước ta còn chứa đựng tính nghệ thuật cao, thể hiện sự khéo léo, tinh tế, nhân văn trong chế biến. Ðiều này cho thấy, Việt Nam có đầy đủ điều kiện và thế mạnh để phát triển thương hiệu du lịch quốc gia một cách bền vững thông qua ẩm thực.

    Nhằm khai thác lợi thế của ẩm thực trong phát triển du lịch, thời gian gần đây, một số công ty du lịch trong nước đã bắt đầu xây dựng những tua khám phá ẩm thực cho du khách, như đưa khách đi cùng đầu bếp ra chợ để chọn thực phẩm, cùng tham gia vào quá trình chế biến; hay tổ chức các lớp học nấu ăn (kéo dài nửa ngày, một ngày) với sự hướng dẫn của các đầu bếp nổi tiếng; hoặc dẫn khách tới những khách sạn lớn trải nghiệm món ăn theo yêu cầu… Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Thường Quân, Chủ tịch Hội Ðầu bếp Việt Nam (Hiệp hội Du lịch Việt Nam), du lịch ẩm thực mới chỉ bắt đầu được phát huy ở một số địa phương là trọng điểm du lịch như Hà Nội, Hội An (Quảng Nam), Ðà Nẵng, TP Hồ Chí Minh…; các địa phương còn lại dù giàu tiềm năng vẫn lúng túng và gặp khó khăn trong phát triển du lịch ẩm thực. Nhiều người làm du lịch còn hạn chế về kiến thức ẩm thực nên cũng khó để xây dựng những sản phẩm thật sự hấp dẫn. Ðối với hình thức du lịch này, đòi hỏi từ người xây dựng tua tới người dẫn tua, hướng dẫn viên đều phải am hiểu về ẩm thực và văn hóa ẩm thực mới có thể mang đến những trải nghiệm giá trị cho du khách.

    Du lịch ẩm thực không chỉ đơn giản là để du khách được thưởng thức những món ăn, đồ uống ngon, độc đáo, mà còn là cung cấp những trải nghiệm, khám phá về bản sắc văn hóa, sinh hoạt cộng đồng của điểm đến gắn với từng món ăn, đồ uống đó. Nên theo các chuyên gia, việc xây dựng những sản phẩm du lịch ẩm thực cần tính tới khả năng liên kết theo mô hình từ trang trại đến bàn ăn để khách du lịch có được những trải nghiệm thực tế sinh động. Không chỉ dừng lại ở cung cấp món ăn ngon, trải nghiệm, những người làm du lịch cần quan tâm chia sẻ với du khách về không gian ăn, hay những văn hóa ứng xử trong khi ăn theo truyền thống của người Việt, từ đó nâng hành trình khám phá du lịch ẩm thực lên một tầm cao mới, cũng là để quảng bá những nét đẹp trong văn hóa ẩm thực Việt Nam.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chi Phí Đi Mộc Châu 2 Ngày 1 Đêm Hết Bao Nhiêu?
  • Tổng Hợp 8 Địa Điểm Du Lịch Đẹp Và Hot Nhất Kiên Giang
  • Nên Hay Không Nên Đi Du Lịch Đà Nẵng Tháng 11?
  • Khu Du Lịch Phú Ninh Quảng Nam ” Viên Ngọc Xanh” Giữa Miền Trung
  • Khu Du Lịch Đại Bình Quảng Nam
  • Việt Nam Phát Triển Du Lịch Tàu Biển

    --- Bài mới hơn ---

  • Khai Thác Thị Trường Du Lịch Tàu Biển
  • Thu Hút Khách Du Lịch Tàu Biển Vào Việt Nam
  • Tìm Hiểu 7 Tàu Du Lịch Trên Sông Sài Gòn Và Sông Mê Kông
  • Du Lịch Tây An Trung Quốc
  • Chuyến Du Lịch Tây Bắc Trong 5 Ngày Của Dân Văn Phòng Mê Phượt
  • Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

    Hoàng Tuấn Anh phát biểu khai mạc Hội nghị

    Tiềm năng và thực trạng du lịch tàu biển

    Việt Nam là quốc gia có lãnh thổ giáp biển lớn ở khu vực Đông Nam Á, đứng thứ 27/156 quốc gia có đường bờ biển dài trên toàn thế giới với hơn 3260km và hệ thống cảng biển đủ tiêu chuẩn đón các tàu khách quốc tế cỡ lớn như cảng Hòn Gai, Hải Phòng, Chân Mây, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Vũng Tàu, Sài Gòn, Côn Đảo, Phú Quốc cùng hàng trăm bãi biển, vịnh biển đẹp trải dọc từ Bắc chí Nam như vịnh Hạ Long, Trà Cổ, Cửa Lò, Thiên Cầm, Lăng Cô, Mỹ Khê, Nha Trang, Mũi Né, Vũng Tàu… Ngoài ra, nước ta còn có hàng nghìn hòn đảo trong đó có nhiều hòn đảo nổi tiếng Cát Bà, cù lao Chàm, Côn Đảo, Phú Quốc. Khoảng cách đến các điểm tham quan du lịch chính của Việt Nam đều tương đối gần các cảng biển. Vì vậy, du khách có thể dễ dàng tiếp cận các điểm tham quan và các di sản thế giới như vịnh Hạ Long, cố đô Huế, di tích Mỹ Sơn, phố cổ Hội An… So với các quốc gia trong cùng khu vực, Việt Nam nằm trên tuyến đường giữa hai trung tâm du lịch tàu biển Singapore và Hồng Kông nên có nhiều lợi thế để phát triển du lịch tàu biển. Tuy có nhiều thuận lợi, nhưng trong những năm qua, lượng khách du lịch tàu biển mới chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam: 9% năm 2004, 5,8% năm 2005, 6,3% năm 2006 và 5,43% trong 11 tháng năm 2007.

    Những định hướng và giải pháp phát triển du lịch tàu biển

    Chính phủ và các Bộ, Ngành đã có nhiều chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho thu hút khách tàu biển vào Việt Nam như việc cải cách thủ tục hành chính tại cảng biển; giảm cảng phí cho các tàu vào Việt Nam định tuyến hoặc nhiều lần; mở cửa đảo Phú Quốc và Côn Đảo cho khách nước ngoài vào tham quan du lịch; miễn visa cho khách du lịch đến đảo Phú Quốc trong vòng 15 ngày; giảm lệ phí visa còn 5USD/khách tàu biển; đầu tư, nâng cấp, hiện đại hoá một số cảng biển quan trọng… Theo đánh giá của Vụ trưởng Vụ Lữ hành Tổng cục Du lịch Vũ Thế Bình, năm 2007 hứa hẹn sự thành công đối với du lịch tàu biển với tốc độ tăng trưởng 11 tháng đạt 27,9%, tương đương 207.162 lượt khách. Trong tháng 12/2007, các doanh nghiệp đón khách tàu biển của Việt Nam sẽ liên tục đón nhiều tàu du lịch đến Việt Nam, trong đó Saigontourist ký tiếp được hợp đồng với hãng tàu biển Star Cruise sau 2 năm không đưa khách đến Việt Nam. Riêng đối với thị trường khách du lịch tàu biển Trung Quốc ước đạt 100.000 lượt khách, chiếm 44% tổng lượng khách du lịch tàu biển tới Việt Nam trong năm 2007. Kể từ năm 2006 đã có các chuyến tàu từ Bắc Hải, Hải Nam tới Hạ Long và sắp tới sẽ có thêm các tuyến du lịch đường biển từ Trung Quốc tới các tỉnh miền Trung nước ta.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Du Lịch Lạng Sơn Tân Thanh 1 Ngày
  • Tour Hà Nội Tân Thanh Lạng Sơn
  • Mua Sắm ” Thả Ga” Ở Chợ Tân Thanh Lạng Sơn
  • Du Lịch Lạng Sơn Tân Thanh 2 Ngày 1 Đêm
  • Vườn Quốc Gia Xuân Sơn
  • Phát Triển Du Lịch Biển, Đảo Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Phát Triển Du Lịch Biển Đảo Việt Nam
  • Du Lịch Biển Đảo Quảng Ninh: Cơ Hội Và Thách Thức
  • Bình Định Phát Triển Đa Dạng Loại Hình Du Lịch
  • Liên Kết Phát Triển Du Lịch Bình Định
  • Tiềm Năng Du Lịch Vùng Đất Cà Mau
  • Sở dĩ du lịch biển, đảo của chúng ta chưa phát triển tương xứng với tiềm năng và chưa mang lại hiệu quả cao là vì khâu quy hoạch, đầu tư, chuẩn bị các nguồn lực cần thiết cho việc phát triển du lịch còn nhiều hạn chế, yếu kém. Trong đó có 3 hạn chế lớn nhất, đó là: cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực và thiếu tư duy chiến lược phát triển du lịch biển, đảo hợp lý.

    Nhiều năm trước đây, bãi biển Trà Cổ thuộc TP. Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh có chiều dài gần 20km, được đánh giá là một trong những bãi biển đẹp nhất ở Việt Nam. Thế nhưng cho đến nay, vẻ đẹp và sự quyến rũ ấy đã bị biến dạng hoàn toàn. Khắp nơi trên bãi biển Trà Cổ tràn ngập vỏ cua, vỏ ghẹ, vỏ sò, vỏ ốc và các loại rác, túi nilon. Người dân kê bàn, dựng ô và bày bán hàng hóa vô tội vạ ở mọi nơi. Bãi biển Trà Cổ bề bộn như là một cái chợ quê lúc tan tầm. Đây là hậu quả của sự thiếu quản lý của chính quyền và cách làm du lịch, dịch vụ manh mún, lộn xộn, không có quy hoạch, hướng dẫn, mạnh ai nấy tiến của người dân nơi đây.

    Trong chiến lược phát triển du lịch tổng thể tỉnh Thái Bình giai đoạn 2001 – 2010 và định hướng đến 2022, khu vực bãi biển Đồng Châu đã được xác định xây dựng trở thành khu du lịch nghỉ dưỡng cuối tuần, trung tâm du lịch, dịch vụ thể thao biển, nghỉ dưỡng chữa bệnh của Tỉnh. Mục đích đã được xác định rõ ràng như vậy, nhưng do thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm và đặc biệt là thiếu sự quản lý, bảo vệ nên đến nay, môi trường, bộ dạng của khu du lịch Đồng Châu (xã Đông Minh, huyện Tiền Hải) đã bị xâm hại, phá vỡ nghiêm trọng. Trong đó, nguy hại nhất là tình trạng người dân đua nhau ra đào hố, hút cát làm bãi nuôi ngao, dựng nhà. Mặt bãi biển Đồng Châu bỗng chốc trở nên loang lổ, tan hoang. Bãi biển Đồng Châu giống như một công trường đang xây dựng dở dang.

    Cách bãi biển Đồng Châu không xa là khu du lịch Cát Bà thuộc TP. Hải Phòng. Nơi đây được xác định là một trong những trung tâm du lịch biển, đảo lớn của Việt Nam. Những năm gần đây, TP. Hải Phòng và nhiều thành phần kinh tế khác đã liên tục đầu tư cho Cát Bà về cơ sở hạ tầng. Thế nhưng, cứ đến mùa du lịch biển là ở đây xảy ra tình trạng thiếu nước ngọt và “cháy” phòng nghỉ. Hầu hết những người làm du lịch ở Cát Bà đều chưa được đào tạo. Các cơ sở lưu trú ở đây chủ yếu là do nhà dân cơi nới rồi tự gắn biển khách sạn và “phong sao” cho mình. Giao thông kết nối giữa đất liền và khu du lịch đảo Cát Bà thực sự còn nhiều hạn chế. Chính vì điều này mà du lịch Cát Bà vẫn ì ạch không sao bứt phá lên được.

    Về thăm Hải Phòng, Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Nguyễn Văn Tuấn thẳng thắn cho rằng: Du lịch Hải Phòng chưa phát triển cùng tốc độ với sự phát triển kinh tế – xã hội Thành phố. Hạ tầng du lịch chưa được đầu tư tương xứng, nhất là hai trọng điểm du lịch biển, đảo Đồ Sơn và Cát Bà. Du lịch Hải Phòng vẫn mang nặng tính thời vụ khi tập trung “khai thác” vài tháng mùa hè nên khó tránh khỏi kiểu làm du lịch chụp giật. Điều đó kéo theo việc đầu tư cho du lịch cũng ít được quan tâm, nếu có cũng manh mún, mạnh ai nấy làm và chưa có hướng đi đột phá để tạo ra sản phẩm du lịch chất lượng cao. Cái vòng luẩn quẩn vẫn chưa có lối thoát.

    Thực ra không riêng gì du lịch biển, đảo của Hải Phòng đang ở trong vòng luẩn quẩn, lãng phí tiềm năng mà rất nhiều các địa phương khác có lợi thế về du lịch biển, đảo cũng đang ở trong tình trạng như vậy. Chính vì điều này mà tại hội thảo quốc gia về phát triển du lịch Việt Nam nhân kỷ niệm 50 năm thành lập ngành Du lịch Việt Nam diễn ra tại Hà Nội, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Khoan đã phải thốt lên rằng: ông cảm thấy buồn và tiếc lắm khi các bãi biển của Việt Nam, từ Trà Cổ, Đồ Sơn đến Cửa Lò đều đang đánh mất dần vẻ đẹp vốn có.

    Ông Bally – một chuyên gia du lịch Pháp đã nhiều lần đến Việt Nam cho rằng: Việt Nam là một quốc gia có tiềm năng du lịch biển, đảo đa dạng vào loại bậc nhất trên thế giới. Thế nhưng Việt Nam chưa khai thác được lợi thế này một cách bài bản và đang để tiềm năng, lợi thế biển, đảo bị tàn phá từng ngày do sự thiếu ý thức bảo vệ môi trường, cảnh quan của người dân. Theo ông, đã đến lúc Việt Nam cần làm ngay một quy hoạch tổng thể có tầm nhìn dài hạn cho khu vực biển, đảo Việt Nam, trong đó những bãi biển đẹp, hòn đảo có tiềm năng du lịch phải được khoanh vùng bảo vệ. Hiện giờ, Việt Nam còn hạn chế về vốn, kinh nghiệm thì nên đầu tư tập trung cho từng điểm du lịch biển, đảo một. Làm đến đâu chắc đến đó, tránh tuyệt đối sự dàn trải, manh mún. Những bờ biển, hòn đảo đẹp có tiềm năng du lịch nhưng chưa có điều kiện đầu tư phát triển thì phải có kế hoạch giữ gìn, bảo vệ tuyệt đối, tránh sự tàn phá về môi trường và cảnh quan.

    Biển đẹp, đảo xanh chờ ngày đánh thức

    Theo thống kê, hàng năm, các khu du lịch biển, đảo của nước ta thu hút khoảng 70% số lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam, trên 50% số lượt khách du lịch nội địa, đóng góp khoảng 70% tổng thu nhập từ du lịch của cả nước.

    Mặc dù đã có bước phát triển mạnh mẽ nhưng cho đến nay, du lịch biển, đảo Việt Nam vẫn chưa tạo được sự hấp dẫn đặc biệt đối với khách du lịch. Bên cạnh đó, du lịch biển Việt Nam chưa thu hút được nhiều du khách quốc tế đi bằng đường biển. Việt Nam chưa được xem là điểm đến hấp dẫn trong hành trình du lịch tàu biển khu vực và quốc tế. Điều này chứng tỏ du lịch biển Việt Nam chưa hình thành những sản phẩm du lịch biển đặc sắc, có sức cạnh tranh cao trong khu vực và quốc tế.

    Hiện nay, cả nước chưa có khu du lịch biển tổng hợp đạt trình độ quốc tế; tình trạng trùng lặp về sản phẩm du lịch ảnh hưởng đến mức độ hấp dẫn và thu nhập du lịch. Ngoài ra, việc đầu tư khai thác hệ thống các đảo, trước hết là đầu tư phát triển du lịch cho các đảo ven bờ còn nhiều hạn chế. Việc khai thác tài nguyên du lịch ở vùng ven biển còn thiếu bền vững do tình trạng chồng chéo trong quản lý. Biểu hiện cụ thể nhất là việc khai thác rừng ngập mặn, vật liệu xây dựng (cát biển, núi đá…), nước ngầm, thủy sản… làm suy giảm tài nguyên vùng ven biển, ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch bền vững…

    Trong chiến lược biển Việt Nam xác định: phấn đấu đến năm 2022, kinh tế trên biển và ven biển đóng góp khoảng 53 – 55% GDP cả nước, trong đó du lịch biển và kinh tế đảo đóng góp khoảng 14 – 15% GDP của nền kinh tế biển quốc gia; đồng thời là một trong 5 đột phá về kinh tế biển, ven biển.

    Để đạt được mục tiêu đề ra, đã đến lúc du lịch biển, đảo của Việt Nam cần được quan tâm đầu tư, phát triển hợp lý và chuyên nghiệp. Theo các chuyên gia về kinh tế biển, cần có những giải pháp đồng bộ như vấn đề quy hoạch và quản lý quy hoạch phát triển du lịch biển, đảo. Phải tăng cường đầu tư phát triển các loại hình du lịch biển gắn với bảo vệ môi trường biển, đảo; đồng thời củng cố và mở rộng thị trường khách du lịch tàu biển. Để du lịch biển, đảo phát triển chuyên nghiệp, hiệu quả cần tiến hành xây dựng hoàn thiện chương trình đào tạo toàn diện nguồn nhân lực phục vụ phát triển du lịch biển. Phát triển du lịch biển, đảo dứt khoát phải coi trọng sự tham gia của cộng đồng cư dân.

    Cùng với đó, để du lịch biển, đảo Việt Nam phát triển bền vững phải nhanh chóng xây dựng các tiêu chí về du lịch biển, đảo phân theo vùng, như: du lịch nghỉ dưỡng, chữa bệnh, du lịch thể thao giải trí biển, du lịch biển, đảo dã ngoại, du lịch biển bình dân, du lịch biển phức hợp… Trên cơ sở những tiêu chí đó, các địa phương muốn khai thác du lịch biển, đảo sẽ quy hoạch, khai thác đảm bảo phát triển bền vững; các cơ quan quản lý nhà nước căn cứ vào những tiêu chí đó để đánh giá, xếp hạng… cho từng vùng du lịch biển, từng khu du lịch cũng dễ dàng hơn. Mặt khác, sự phân vùng này sẽ giảm thiểu sự thiếu đồng bộ trong đầu tư phát triển du lịch biển, đảo tạo nên sự đa dạng trong các sản phẩm du lịch biển, góp phần thu hút, kéo dài thời gian lưu trú du khách và tăng thu nhập từ du lịch cho các địa phương…

    Ths. Nguyễn Thị Tình

    --- Bài cũ hơn ---

  • Du Lịch Bền Vững: Thực Trạng, Khung Lý Thuyết Và Gợi Ý Hướng Phát Triển Cho Tỉnh Đồng Nai
  • Phát Triển Du Lịch Biển Bền Vững Tại Việt Nam
  • Phát Triển Du Lịch Bền Vững Tại Cù Lao Chàm
  • Phát Triển Du Lịch Bền Vững Là Gì?
  • Giải Pháp Cho Bài Toán Phát Triển Du Lịch Bền Vững Ở Khánh Hòa
  • Phát Triển Du Lịch Thiền Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Tại Sao Du Lịch Thiền Viện Trúc Lâm Vĩnh Phúc Là Một Chuyến Đi Đáng Nhớ
  • Những Điều Cần Biết Khi Du Lịch Thổ Nhĩ Kỳ
  • Những Kinh Nghiệm Du Lịch Thổ Nhĩ Kỳ Bạn Cần Biết
  • Những Điều Cần Biết Trước Khi Bạn Đi Du Lịch Thổ Nhĩ Kỳ
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ Tổng Hợp
  • THIỀN VÀ TRIẾT LÝ SỐNG THEO ĐẠO THIỂN

    Thiền là một tông phái thuộc phật giáo Đại Thừa, khởi nguyên từ một phương pháp tu tập của Ấn Độ giáo và được phật tổ Thích Ca Mâu Ni sử dụng như một cách thức tư duy để chứng nghiệm chân lý. Thế kỷ 6, vị tổ thứ 28 của phật giáo là Bồ Đề Đạt Ma khi truyền đạo phật từ Ấn Độ sang Trung Hoa đã đưa phép thiền theo. Tại đây, phép thiền và triết lý phật giáo đã hấp thụ nền văn hóa Trung Hoa, kết hợp với những tư tưởng của đạo giáo trở thành một tông giáo lớn.

    Tới thời Đường và đầu thời Tống, thiền không chỉ là một tôn giáo phổ biến mà còn trở thành một triết lý sống có ảnh hưởng mạnh mẽ tới mọi mặt của đời sống xã hội Trung Hoa. Đây cũng là thời kỳ thiền tông được truyền sang các nước Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam (mặc dù trước đó, từ thế kỷ 6, thiền tông đã được truyền sang Việt Nam từ Ấn Độ, nhưng thiền tông Trung Quốc thì phải tới thời kỳ này mới được phổ biến tại Việt Nam).

    Khi được truyền sang các nước Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam, thiền tông nhanh chóng được nhiều người theo. Nhiều dòng thiền mới được thiết lập. Lúc này, thiền đã trở thành một lối tư duy, một triết lý sống có ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều mặt của đời sống xã hội.

    Cốt lõi của triết lý sống thiền là dựa trên quan điểm về sự hướng nội của mỗi cá nhân. Sống theo triết lý thiền là sống với “cái thực tại”, bỏ đi những căng thẳng, lo âu của quá khứ và tương lai, tập trung vào hiện tại, vào hoạt động đang làm. Hiện nay, giá trị của triết lý sống thiền đã được các nhà tâm – sinh lý học hiện đại chứng minh: thiền giúp người ta rèn luyện nội tâm, làm chủ các cảm xúc, thư giãn tuyệt đối, từ đó có thể điều chỉnh dòng ý thức và tập trung tư tưởng vào công việc đang làm. Thiền cũng thúc đẩy các cá nhân tham gia nhiều hơn vào các hoạt động mang tính thiền định, giúp con người thoát khỏi những căng thẳng của đời sống thường ngày, tìm ra được những điều chân, thiện, mỹ của thế giới và từ đó có thái độ tốt đẹp hơn với với cuộc sống, với thiên nhiên và với con người.

    DU LỊCH THIỀN VÀ TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH THIỀN CỦA VIỆT NAM

    Một số nhà làm du lịch đã tổ chức các chương trình du lịch khai thác các giá trị tốt đẹp của thiền. Họ gọi các chương trình kiểu này bằng rất nhiều tên gọi khác nhau: Zen tour (tour thiền), Spiritual t our (tour tâm linh)… Nội dung của các chương trình này là tổ chức cho khách tham quan các thiền viện, các công trình kiến trúc thiền, tham gia vào cuộc sống, sinh hoạt giống như các thiền sư, thưởng thức, chiêm ngưỡng, cảm nhận những nét đặc sắc của các loại hình nghệ thuật thiền như cắm hoa, trà đạo, bonsai, ngắm hoa, ẩm thực, họa thiền… Khách du lịch trong suốt thời gian tham gia chương trình sẽ hoàn toàn được tách ra khỏi cuộc sống căng thẳng thường ngày. Họ được học, được hiểu về thế giới thiền. Các chương trình du lịch đã nhanh chóng thu hút được sự chú ý của khách du lịch. Ngoài ra, người ta cũng thấy bóng dáng của một số hoạt động thiền trong các chương trình du lịch thông thường. Ví dụ như trong một hành trình đi bộ (hiking) thông thường, du khách có thể viếng thăm các khu rừng lá đỏ, ngồi lặng lẽ trong các am cỏ, nghe suối chảy róc rách, lắng nghe hơi thở của mình. Hoặc sau một hành trình dài tham quan các ngôi chùa, leo núi, ngắm cảnh, khách du lịch sẽ được ngồi tĩnh lặng bên cạnh những gốc anh đào, uống rượu và ngắm hoa nở.

    Số liệu thống kê của Tổ chức du lịch quốc gia Nhật Bản cho thấy, hàng năm, nhờ vào việc tổ chức cho khách du lịch tham gia vào các chương trình du lịch thiền, ngành du lịch Nhật Bản đã thu tới 30 tỷ USD. Các chương trình kiểu này đặc biệt thu hút khách du lịch của các nước Tây Âu, Bắc Mỹ và Đông Bắc Á, mặc dù giá của các tour này đều đắt hơn so với các chương trình du lịch thông thường khác. Tiếp sau Nhật Bản, các nhà làm du lịch Trung Quốc, Hàn Quốc và Thái Lan cũng đã bắt tay vào tổ chức loại hình du lịch Thiền và đều thành công. Hiện nay, Trung Quốc nổi tiếng với chương trình du lịch tham quan, tập võ sinh và tìm hiểu về cuộc sống của các thiền sư Thiếu Lâm. Thái Lan thu hút khách du lịch thiền thông qua chương trình “Thailand Zen tour” (đã được Công ty Dịch vụ Du lịch Chợ Lớn giới thiệu tại Việt Nam).

    Ở Việt Nam, loại hình du lịch này hầu như chưa được quan tâm đầu tư nghiên cứu phát triển, mặc dầu, có thể thấy rõ tiềm năng để phát triển du lịch thiền của chúng ta là rất lớn.

    Về tài nguyên:

    Việt Nam là đất nước thiền tông được truyền vào từ rất sớm. Dòng thiền tu thứ nhất trong lịch sử phật giáo Việt Nam do nhà sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi truyền sang. Ông là người Ấn Độ, qua Trung Quốc rồi đến Việt Nam truyền đạo tại chùa Dâu (Bắc Ninh) vào năm 580. Dòng thiền tu thứ hai do Vô Ngôn Thông, người Trung Quốc truyền sang vào năm 820 tại chùa Kiến Sơ (Hà Nội). Dòng thiền thứ ba do Thảo Đường, người Trung Quốc, vốn là tù binh bị bắt tại Chiêm Thành và được vua Lý Thánh Tông giải phóng khỏi kiếp nô lệ và cho truyền đạo tại chùa Khai Quốc (nay là chùa Trấn Quốc – Hà Nội) vào năm 1069. Năm 1299, vua Trần Nhân Tông, dưới sự hướng dẫn của thiền sư Tuệ Trung Thượng Sỹ, đã thống nhất các thiền phái tồn tại trước đó ở Việt Nam và lập nên thiền phái Trúc Lâm.

    Tư tưởng cơ bản của các dòng thiền Việt Nam rất phù hợp với triết lý sống thiền, tư duy thiền của thời hiện đại. Các dòng thiền Việt đều tập trung đề cao cái “tâm”, cho rằng “phật tại tâm”, đạt “chân tâm” ấy là tới Niết Bàn.

    Chính vì xuất hiện từ rất sớm và tồn tại khá lâu ở Việt Nam nên các triết lý thiền tông có ảnh hưởng mạnh mẽ đến văn hóa của người Việt. Chùa chiền và các công trình thiền giáo được xây dựng trên khắp cả nước. Theo thống kê hiện nay ở Việt Nam có khoảng gần 120 thiền viện. Trong đó có những ngôi chùa thiền nổi tiếng đã được đưa vào các chương trình du lịch như: chùa Dâu (Bắc Ninh), chùa Bà Đá, chùa Trấn Quốc (Hà Nội), Trúc Lâm Tây Thiên (Vĩnh Phúc), Bích Động (Ninh Bình), Trúc Lâm Yên Tử (Quảng Ninh), Từ Đàm, Thiên Mụ, Từ Hiếu (Thừa Thiên – Huế), Từ Ân,Giác Lâm, Giác Viên (TP. Hồ Chí Minh)…

    Không những thế, lối ứng xử và các giá trị văn hóa, nghệ thuật của người Việt Nam đều ít nhiều chịu ảnh hưởng của tư duy thiền, của triết lý thiền. Chúng ta có cả một hệ phái thơ thiền rất nổi tiếng và cũng có rất nhiều tác phẩm tranh thiền, tượng thiền độc đáo. Đặc biệt, chúng ta có rất nhiều loại hình nghệ thuật chịu ảnh hưởng của triết lý thiền như nghệ thuật thưởng trà, nghệ thuật ẩm thực, nghệ thuật sắp đặt vườn nhà, nội thất, nghệ thuật gốm méo, môn võ thái cực trường sinh đạo. Những loại hình nghệ thuật này đều là cơ sở để phát triển thành du lịch thiền phục vụ du khách.

    Về nguồn khách

    Hiện nay, nhu cầu tham dự các chương trình du lịch mang tính thiền tại các nước phát triển như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức… là rất lớn. Trong khi đó, mới chỉ có một vài quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan quan tâm phát triển loại hình du lịch này. Đây chính là một điều kiện rất thuận lợi về nguồn khách quốc tế đối với Việt Nam.

    Bên cạnh đó, Việt Nam cũng có nguồn khách nội địa rất lớn cho phát triển du lịch thiền. Ngày càng có nhiều khách du lịch đặc biệt là cư dân của các thành phố lớn, các trung tâm công nghiệp thương mại, có nhu cầu muốn tham gia vào các hoạt động Thiền nhằm giải tỏa bớt những căng thẳng của cuộc sống công nghiệp hóa, đô thị hóa. Bởi thế mà tại các thành phố lớn như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, các quán Cà phê Thiền (Zen Café), Trà Thiền (Zen Tea), Công viên Thiền (Zen Park), hay các Zen spa trong một số khách sạn lớn luôn thu hút được một lượng rất đông khách tham gia thường xuyên.

    Hy vọng trong tương lai, du lịch thiền Việt Nam sẽ được quan tâm nghiên cứu chuyên sâu để có thể phát triển đúng hướng, làm sao vừa tận dụng được những thế mạnh sẵn có về tài nguyên, về môi trường vừa tạo nên những sản phẩm du lịch thiền mang đặc trưng của Việt Nam, thể hiện dấu ấn văn hóa thiền Việt Nam. Đây là một trong những cách góp phần làm phong phú thêm các loại hình sản phẩm du lịch của Việt Nam, đồng thời cũng là cách để giới thiệu những nét đặc trưng của văn hóa, con người Việt Nam với thế giới./.

    Khoa Văn hóa Du lịch Đại học Văn hóa TP. Hồ Chí Minh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Du Lịch Thiên Nhiên Đà Nẵng Và Những Điểm Đến Đẹp Mê Hồn
  • Khám Phá Thiên Nhiên Đà Nẵng
  • 5 Thế Mạnh Phát Triển Du Lịch Thị Xã La Gi
  • Du Lịch Thị Xã La Gi 2 Ngày 1 Đêm
  • Hành Trình Khám Phá Những Mùa Hoa Đỏ Ở Việt Nam
  • Phát Triển Du Lịch Mice Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Mua Bếp Ga Du Lịch Ở Hà Nội
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Buôn Ma Thuột (Cập Nhật 09/2020)
  • Xe Du Lịch Đi Gò Công
  • Xin Visa Nhật Bản Du Lịch, Công Tác & Thăm Thân
  • Cách Xin Visa Du Lịch Nhật Bản Tự Túc 2022
  • --- Bài cũ hơn ---

  • Du Lịch Nhật Bản
  • Cập Nhật Bản Đồ Du Lịch Ninh Bình 2022 Cho Du Khách
  • Du Lịch Mộc Châu 2 Ngày 1 Đêm
  • Du Lịch Chiang Mai Tự Túc 2022
  • Tour Du Lịch Đà Nẵng 4 Ngày 3 Đêm
  • Bia Sagota Thành Thương Hiệu Đồ Uống Tiêu Biểu Của Du Lịch Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Visa Cho Người Nước Ngoài Tại Việt Nam
  • Dịch Vụ Visa Nhập Cảnh Việt Nam Cho Người Nước Ngoài
  • Mua Quà Gì Khi Đi Du Lịch Mỹ ?
  • Những Mẫu Xe Ô Tô Rẻ Nhất Việt Nam: Hàng Hiệu Chỉ 300 Triệu
  • Phong Tục Và Con Người Sài Gòn Như Thế Nào?
  • Hiệp hội Du lịch Việt Nam đã chọn bia SAGOTA của Công ty CP Tập đoàn bia Sài Gòn – Bình Tây được làm từ 100% lúa mạch nhập khẩu, không sử dụng chất bảo quản là sản phẩm phục vụ khách du lịch.

    Đối với các nước có du lịch phát triển, đồ uống luôn được du khách quan tâm và nhiều đồ uống đã trở thành thương hiệu quốc gia như: Sake của Nhật Bản, rượu Soju của Hàn Quốc, bia Heineken của Hà Lan… Để phát triển nhanh, đưa du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước, việc xây dựng thương hiệu du lịch Việt Nam, trong đó có ẩm thực là rất cần thiết.

    Để triển khai xây dựng thương hiệu đồ uống Việt Nam, phục vụ cho khách du lịch, Hiệp hội Du lịch Việt Nam vừa có văn bản đề nghị Hiệp hội Du lịch các tỉnh, TP triển khai việc sử dụng bia SAGOTA trong các hoạt động đối ngoại, các sự kiện du lịch tại địa phương và sử dụng logo SAGOTA trong các ấn phẩm quảng bá du lịch của mình, từng bước đưa bia SAGOTA trở thành thương hiệu đồ uống tiêu biểu của du lịch Việt Nam.

    Vừa qua Hiệp hội Du lịch Việt Nam đã chọn bia SAGOTA của Công ty CP bia Sài Gòn – Bình Tây, sản phẩm trong nước có chất lượng cao tương đương với bia Heineken, được làm từ 100% lúa mạch nhập khẩu, không sử dụng chất bảo quản là sản phẩm phục vụ khách du lịch.

    Hiệp hội Du lịch Việt Nam phối hợp với Công ty CP bia Sài Gòn – Bình Tây triển khai một chiến dịch tuyên truyền giới thiệu rộng rãi đồ uống này cho du khách du lịch quốc tế và nội địa với Slogan “SAGOTA – Bia của Du lịch Việt Nam”.

    Theo nguồn: http://cand.com.vn/Xa-hoi/Bia-SAGOTA-thanh-thuong-hieu-do-uong-tieu-bieu-cua-du-lich-VN-221898/

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ngành Du Lịch Hành Động Để Tháo Gỡ Khó Khăn Do Covid
  • Nắm Bắt Hình Dịch Covid
  • Học Từ Vựng Tiếng Nhật Chủ Đề: Du Lịch
  • 10 Thương Hiệu Ô Tô Bán Chạy Nhất Việt Nam Năm 2022
  • 10 Xe Ô Tô Đắt Khách Nhất Việt Nam Tháng 2/2021
  • Phát Triển Du Lịch Nông Thôn Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Du Lịch Lâm Đồng Say Men Rượu Cần Ở Lạc Dương
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Hà Giang Bằng Xe Máy
  • Kinh Nghiệm Phượt Hà Giang Bằng Xe Máy Tự Túc Từ Hà Nội
  • Tour Du Lịch Đảo Ngọc Phú Quốc Khởi Hành Từ Hà Nội 4 Ngày
  • Tour Phú Quốc 3 Ngày 2 Đêm: Hà Nội
  • Du lịch nông thôn (Rural Tourism) là một thuật ngữ được dùng khá phổ biến ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Ở Việt Nam, thuật ngữ này còn khá mới mẻ, chưa được phổ biến và sử dụng rộng rãi. Việt Nam là quốc gia có tiềm năng để phát triển du lịch nông thôn rất lớn. Bài viết là kết quả nghiên cứu tài liệu về sự hình thành và quan niệm du lịch nông thôn của một số quốc gia trên thế giới, nhằm làm rõ hơn khái niệm du lịch nông thôn ở nước ta.

    Từ khóa: Du lịch nông thôn, quan niệm, hình thành, du lịch.

    1. Giới thiệu

    Ngành Du lịch Việt Nam trong những năm gần đây đã phát triển rất nhanh, phần lớn là nhờ vào nguồn tài nguyên du lịch của nước ta vô cùng đa dạng và phong phú. Trong các nguồn tài nguyên đó, có trên 3/4 các khu di tích văn hóa, lịch sử, khu bảo tồn thiên nhiên, cảnh quan thiên nhiên là nằm tại các vùng nông thôn. Ngày càng nhiều các điểm đến du lịch là ở vùng nông thôn. Thế nhưng, hoạt động của ngành Du lịch nội địa chỉ mới chủ yếu mang lại lợi ích cho Nhà nước và khu vực tư nhân, còn những người dân sống ở vùng nông thôn – chủ nhân tài nguyên nông thôn, những người đã đưa di sản sinh thái và văn hóa của mình tham gia vào nguồn tài nguyên cho hoạt động du lịch thì lại thu được rất ít từ những hoạt động này.

    Trong khi ở nhiều nước trên thế giới, du lịch đã được thiết lập như là một nguồn thu nhập và việc làm cho người dân nông thôn, mang lại giá trị về nhiều mặt cho công cuộc phát triển nông thôn.

    Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do quan niệm về du lịch nông thôn ở nước ta chưa rõ ràng, chưa đứng trên góc độ tài nguyên để xác định chủ thể của các nguồn tài nguyên đó. Mục đích của việc phát triển các điểm đến du lịch ở vùng nông thôn chưa được quan tâm đúng mức. Trong giới hạn bài báo này phân tíchmột số nét chính về sự hình thành và quan niệm du lịch nông thôn ở một số nước trên thế giới. Từ đó, vận dụng chúng vào điều kiện hoàn cảnh của nước ta, để chúng ta có cách nhìn rõ hơn về du lịch nông thôn ở nước ta.

    2. Con đường hình thành du lịch nông thôn

    2.1. Du lịch nông thôn các quốc gia đang phát triển

    Theo kinh nghiệm của các quốc gia này, nhất là các nước trong khu vực châu Á, việc người dân tổ chức kinh doanh dịch vụ du lịch ở những vùng nông thôn dưới sự hỗ trợ của chính phủ đã đem lại những đóng góp đáng kể cho công cuộc phát triển nông thôn ở những quốc gia này. Ở Hàn Quốc, du lịch nông thôn bắt đầu vào những năm 1994 từ một dự án của chính phủ nhằm tăng thu nhập cho nông dân, loại hình phục vụ cơ bản là nghỉ dưỡng ở các trang trại do người nông dân làm chủ. Năm 2002, Bộ Nông Lâm Hàn Quốc tiếp tục triển khai tiếp 2000 dự án về phát triển du lịch nông thôn trên đất nước này. Ở Nhật Bản, năm 1995, Bộ Nông Lâm Thủy sản Nhật Bản đã thiết lập một chương trình nhà nghỉ nông thôn trên khắp đất nước. Các nhà nghỉ nông thôn này chủ yếu do các nông hộ hay trang trại cá thể đứng ra tổ chức. Du khách được phục vụ các dịch vụ ăn nghỉ tại nhà nghỉ nông thôn hoặc tham gia vào các hoạt động hằng ngày ở đây như việc trồng trọt, gặt hái hay câu cá… Chương trình này đã góp phần làm hồi sinh vùng nông thôn của Nhật Bản vốn được xem là già cỗi và trì trệ từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai. Ở Đài Loan, năm 1998, du lịch nông thôn đã trở thành một phần của phát triển nông thôn, góp phần tác động tích cực đến sự phát triển nông nghiệp, tăng thu nhập cho người nông dân và cải thiện mức sống ở những vùng nông thôn một cách có ý nghĩa.

    Từ năm 2004, Nepal đã được Tố chức Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) hỗ trợ một dự án phát triển du lịch nông thôn nhằm xóa đói giảm nghèo. Tương tự, UNDP cũng hỗ trợ chính phủ đất nước Ấn Độ thực hiện một chương trình du lịch nông thôn có tính chiến lược và dài hơi trên khắp đất nước, nhằm chống đói nghèo ở khu vực nông thôn

    Trung Quốc là quốc gia có qui mô tổ chức du lịch nông thôn lớn nhất thế giới. Từ năm 2006, chính phủ Trung Quốc đã tổ chức năm du lịch quốc gia về du lịch nông thôn, với chủ đề “Chống đói nghèo bằng con đường phát triển du lịch nông thôn”, nhằm thực hiện tốt mối quan hệ tương hỗ giữa thành thị và nông thôn.

    Như vậy, ở các quốc gia đang phát triển, nơi mà nền nông nghiệp còn chiếm ưu thế, nền công nghiệp và đô thị hoóa đang trên đà hình thành và phát triển, du lịch nông thôn chỉ mới khởi đầu trong những năm giữa thập kỷ 90 của thế kỷ 20 trở lại đây. Phát triển du lịch nông thôn được nhìn nhận như một cách làm tăng nguồn thu nhập, hỗ trợ chống đói nghèo và tái tổ chức lại nông thôn thông qua sự phát triển du lịch nông như một ngành nghề phi nông nghiệp. Phần lớn ở các quốc gia này, phát triển du lịch nông thôn đã là một phần trong chương trình phát triển quốc gia của chính phủ. Cộng đồng cư dân nông thôn là lực lượng chính tổ chức các hoạt động kinh doanh du lịch ở nông thôn, dựa trên nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhân văn và xã hội của vùng nông thôn đó.

    2.2. Du lịch nông thôn ở các quốc gia phát triển

    Có thể nói, lịch sử du lịch nông thôn đã manh nha hình thành từ các nước phát triển, kể từ những năm của thế kỷ thứ 19, khi nền công nghiệp cơ khí bắt đầu phát triển mạnh. Tuy nhiên, cho mãi đến những năm đầu của thập kỷ 80, du lịch nông thôn được khởi xướng đầu tiên ở các nước thuộc châu Âu và châu Mỹ, phổ biến nhất phải kể đến các quốc gia như Canada, Hungary, Hà Lan… Hình thức du lịch này chủ yếu nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch ngày một đa dạng của khách du lịch.

    • Ở Canada, từ năm 1961, một bộ luật về khai khẩn và qui hoạch đất nông nghiệp đã được ban bố, một bản kê khai các loại tài nguyên thiên nhiên thích hợp cho sử dụng vào mục đích giải trí ngoài trời đã được thực hiện. Qua đó, chính quyền địa phương các vùng nông thôn đã thu thập những thông tin cần thiết để vạch ra các chiến lược và những chương trình hành động cụ thể.
    • Ở Pháp, chủ trương về quy hoạch các khu vực nông thôn đã khuyến khích một số hoạt động thúc đẩy du lịch nông thôn. Năm 1976, chính phủ Pháp kết hợp với Hiệp hội nông dân và tổ chức hoạt động du lịch ở vùng nông thôn. Chương trình này đã làm tăng giá trị vùng nông thôn. Có tới 100 chiến dịch vùng đất đón khách đã được phát động tại Pháp trong giai đoạn này. Điều quan trọng là 1/3 số sáng kiến đã được đề xuất từ địa phương. Kết quả năm 1982, 1/4 số khách du lịch Pháp đã hướng về các tuyến du lịch nông thôn, đã hình thành một hiện tượng mang tính đại chúng của du lịch trong không gian nông thôn
    • Ở Ý, năm 1966, Hiệp hội toàn quốc về nông nghiệp và du lịch đã được sáng lập từ những người nông dân trẻ và các nhà kinh tế. Mục tiêu hoạt động của tổ chức này hướng đến vấn đề nhạy cảm đang được xã hội quan tâm là bảo tồn thiên nhiên và bảo vệ vùng nông thôn.
    • Vương quốc Bỉ với địa hình đa dạng, khung cảnh thiên nhiên thơ mộng. Đặc biệt, vùng nông thôn có nhiều rừng, đồng cỏ xen lẫn với những lâu đài cổ kính, tòa lâu đài, nhà cổ, làng cổ… Nhiều dự án quy hoạch phát triển du lịch nông thôn ở nước này được tiến hành. Cơ sở vật chất lưu trú ở vùng nông thôn của Bỉ thực chất là những ngôi nhà của cư dân địa phương hoặc nhà nghỉ thứ hai được tu bổ để đón khách du lịch.
    • Hiện tại Anh, Mỹ, Đức và Áo là những quốc gia thống trị thị trường du lịch nông thôn toàn cầu với 20 – 30 ngàn doanh nghiệp trên mỗi nước.

    3. Quan niệm du lịch nông thôn

    Song song với các quan điểm về sự hình thành du lịch nông thôn như đã nêu ở trên, Còn có nhiều quan niệm du lịch nông thôn trên khắp các quốc gia trên thế giới. Có thể đơn cử một số định nghĩa và quan niệm du lịch nông thôn như sau: Theo OCDE (Organisation for Economic Co-operation and Development), trong ấn phẩm Chiến lược du lịch và phát triển nông thôn, xuất bản tại Paris năm 1994, thì: Du lịch nông thôn là du lịch diễn ra ở nông thôn. Tuy nhiên, xem xét sâu hơn, có quan điểm cho rằng, không có một định nghĩa về du lịch nông thôn nào mang tính chung nhất cho tất cả các vùng các quốc gia. Theo cộng đồng châu Âu năm 1986 thì: Bất kỳ hoạt động nào ngành du lịch tổ chức ở những vùng nông thôn đều là du lịch nông thôn. Còn tác giả Meinhard Breiling, 2006 cho rằng: du lịch nông thôn là tất cả những gì không thuộc về du lịch đô thị. Oppermann, 1996 thì phát biểu: du lịch nông thôn gồm du lịch nông trại và những vùng có cộng đồng sinh sống, không bao gồm những hoạt động trong những vùng giải trí ngoài trời như những vườn quốc gia, rừng hay những vùng nơi hoang dã.

    Tùy vào điều kiện nông thôn và mục đích phát triển du lịch nông thôn của từng quốc gia mà ở mỗi nước con đường hình thành và hoạt động cũng như nền tảng cho hoạt động du lịch nông thôn cũng rất khác nhau. Từ đó vai trò chủ đạo, lực lượng thực hiện phát triển du lịch nông thôn cũng khác.

    4. Kết luận

    Trong thực tế và lý thuyết, có sự khác biệt lớn về du lịch nông thôn ở các quốc gia phát triển và quốc gia đang phát triển. Ở các quốc gia đang phát triển, người ta xem du lịch nông thôn như một công cụ tái tổ chức lại khu vực ở nông thôn, đa dạng hóa thu nhập từ nông nghiệp, góp phần chống đói nghèo, phát huy sức mạnh nội lực của cộng đồng và phát huy bảo tồn các giá trị di sản văn hóa cộng đồng, cũng như việc bảo vệ môi trường. Còn ở các quốc gia phát triển thì du lịch nông thôn lại phát triển theo chiều sâu, nhằm mục đích phục vụ nhu cầu du lịch trong điều kiện ngày càng khan hiếm các khu vực nông thôn.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO:

    1. Akca, H. 2006. Assessment of rural tourism in Turkey using SWOT analysis. Journal of Applied Sciences 6 (13): 2837-2839.
    2. Arahi, Y. 2008. Rural Tourism in Japan: The regeneration of rural communities.
    3. Knowd, I. 2001. Rural Tourism: Panacea and Paradox. Exploring the Phenomenon of Rural Tourism and Tourism’s Interaction with Host Rural Communities. Retrieved on 6 August 2010 from,
    4. MacDonald, R., and Jolliffe, L., 2003. Cultural rural tourism evidence from Canada. Annals of Tourism Research, 30 (2): 307-322.
    5. Rattanasuwongchai, N. 2000. Rural Tourism-the impact on rural communities II. Thailand.
    6. Rátz, T, L. Puczkó. 1998. Rural Tourism and Sustainable Development in Hungary; In: D. Hall – L. O’Hanlon eds.: “Rural Tourism Management: Sustainable Options” International Conference, Conference Proceedings; Scottish Agricultural College, Auchincruive, Ayr, Scotland, UK, pp.450-464.

    THE ESTABLISHMENT AND CONCEPTS OF THE RURAL TOURISM IN SOME COUNTRIES IN THE WORLD – EXPERIENCE FOR VIETNAM TO DEVELOP THE RURAL TOURISM

    Ph.D BUI THI LAN HUONG

    Department of Agriculture Exstension and Rural Development

    School of agriclutral management and rural development officials II

    ABSTRACT:

    Rural tourism is a widely used term in most countries around the world. In Vietnam, despite the country has great potential for the rural tourism development, the rural tourism term is quite new and is not widely used. By reviewing and studying the establishment and concepts of the rural tourism in some countries in the world, this article is to clarify the concept of the rural tourism in Vietnam.

    Keywords: Rural tourism, concept, establishment, tourism.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Hãng Xe Đi Campuchia Tốt Nhất Năm 2022
  • Đi Campuchia Nên Đi Xe Nào ? Công Ty Bán Vé Xe Đi Campuchia
  • Đi Du Lịch Singapore Tự Túc Cần Bao Nhiêu Tiền
  • Du Lịch Nha Trang Bằng Ô Tô
  • Phí Xin Visa Du Lịch Úc Là Bao Nhiêu
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100