Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Tính Thời Vụ Trong Du Lịch

--- Bài mới hơn ---

  • Tính Thời Vụ Du Lịch (Seasonality In Tourism) Là Gì? Đặc Điểm
  • Đặc Điểm Của Tính Thời Vụ Trong Du Lịch
  • Nhân Tố Tác Động Đến Sự Hình Thành Thời Vụ Trong Du Lịch
  • Hải Phòng Đón Gần 9,1 Triệu Lượt Khách Du Lịch
  • Khách Du Lịch Đến Với Quảng Nam Ngày Một Tăng
  • Khí hậu là nhân tố có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành tính thời vụ du lịch. Nó tác động mạnh lên cả cung và cầu du lịch.

    + Về mặt cung, đa số các điểm tham quan du lịch giải trí đều tập trung số lượng lớn vào mùa hè với khí hậu ấm áp như các điểm du lịch nghỉ biển, nghỉ núi, chữa bệnh.

    + Về mặt cầu, mùa hè là mùa có lượng du khách lớn nhất

    Ảnh hưởng của nhân tố khí hậu thể hiện rõ nét ở các loại hình du lịch nghỉ biển, nghỉ núi và mức độ nhất định trong du lịch chữa bệnh. Đối với các du lịch nghỉ biển, các thành phần như ánh nắng, độ ẩm, hướng gió, nhiệt độ và một số đặc điểm như vị trí địa lý, độ dâu, chiều dài – rộng của bãi tắm… sẽ quyết định đến nhu cầu của khách.

    Ví dụ:Đa phần khách du lịch châu Âu thích tắm biển khi nhiệt độ nước biển phải từ 20 0C – 25 0C, nhưng du khách Bắc Âu thì lại thích tắm biển khi nhiệt độ nước biển là 15 0C – 16 0 C .

    Điều đó chứng tỏ rằng giới hạn của thời tiết gây ra có thể mở rộng, hoặc thu hẹp lại, tùy thuộc vào đòi hỏi của khách du lịch và tiêu chuẩn của nó khi sử dụng tài nguyên du lịch.

    Đối với một số loại hình du lịch khác như du lịch chữa bệnh, du lịch văn hóa, du lịch công vụ, ảnh hưởng của điều kiện khí hậu không lớn vì thời tiết thuận lợi hơn cho các cuộc hành trình du lịch.

    2.Nhân tố kinh tế – xã hội – tâm lý. 2.1 Về kinh tế:

    Thu nhập là yếu tố quan trọng có ảnh hưởng quyết định tới nhu cầu đi du lịch bởi để thực hiện được chuyến đi du lịch thì cần phải có một lượng tiền cần thiết, nên thu nhập của người dân càng cao thì họ có nhu cầu đi du lịch càng nhiều. Vì vậy ở các nước có nền kinh tế phát triển người ta đi du lịch nhiều hơn, họ có thể thực hiện nhiều chuyến đi du lịch trong một năm, do đó nhu cầu đi du lịch trong mùa chính giảm, góp phần làm giảm cường độ du lịch ở thời vụ du lịch chính. Điều đó cho thấy rõ tác động của thu nhập đến tính thời vụ.

    Sự thay đổi tỉ giá hối đoái cũng tác động khá lớn đến nhu cầu đi du lịch. Chẳng hạn đồng tiền quốc gia nơi đến bị mất giá so với đồng tiền có khả năng chuyển đổi cao như USD, EURO… thì sẽ làm tăng nhu cầu du lịch và ngược lại. Sự thay đổi có thể kéo theo làm thay đổi mức độ, thời vụ của du lịch.

    2.2. Thời gian nhàn rỗi:

    Thời gian nhàn rỗi là nhân tố ảnh hưởng đến sự phân bố không đều của nhu cầu du lịch, con người chỉ có thể đi du lịch vào thời gian nhàn rỗi. Tác động của thời gian nhàn rỗi lên tính thời vụ trong du lịch phải nói đến 2 đối tượng chính trong xã hội.

    Thứ nhất: là thời gian nghỉ phép năm tác động lên thời vụ du lịch, do độ dài của thời hạn phép và thời gian sử dụng phép. Nếu thời gian phép ngắn thì người ta thường chỉ đi du lịch một lần trong năm, khi đó họ chọn thời gian chính vụ để đi du lịch với mong muốn được tận hưởng những ngày nghỉ quý giá, do đó cường độ du lịch sẽ cao vào mùa chính. Ngược lại thời gian nghỉ phép năm dài cho phép con người đi du lịch nhiều lần trong năm, tỉ trọng nhu cầu tập trung vào mùa chính sẽ giảm, góp phần làm giảm cường độ du lịch trong mùa chính, tăng cường độ thu hút nhu cầu ngoài mùa. Như vậy sự gia tăng thời gian nhàn rỗi góp phần giảm cường độ của du lịch ở thời vụ chính và tăng cường độ du lịch vào ngoài mùa du lịch.

    Việc phân bố thời gian sử dụng phép năm của nhân dân lao động cũng ảnh hưởng đến tính thời vụ trong du lịch.

    Sự tập trung lớn nhu cầu vào vụ chính còn do việc sử dụng phép theo tập đoàn như cán bộ – giáo viên trong trường học nghỉ hè, nông dân nghỉ vào ngày không bận rộn mùa màng. Một số xí nghiệp ngừng hoạt động chính vào một giai đoạn trong năm và nhân viên phải nghỉ phép trong thời gian đó.

    Thứ hai : là thời gian nghỉ của trường học, điều này làm cho học sinh và cha mẹ chúng có thời gian đi du lịch. Thường là đối với học sinh có độ tuổi từ 6 – 15 tuổi, các bậc cha mẹ thường sắp xếp thời gian nghỉ phép cùng, để tận hưởng ngày nghỉ cùng với con cái. Đối với tầng lớp học sinh, sinh viên ở các trường phổ thông trung học, đại học, cao đẳng, kỳ nghỉ hè trùng với mùa du lịch biển… Điều này làm tăng cường độ mùa du lịch chính.

    Đối với những người hưu trí, số lượng của đối tượng này ngày càng tăng do tuổi thọ trung bình tăng, thời gian của họ có thể đi du lịch bất kỳ lúc nào nếu có đủ điều kiện kinh tế, đây là lực lượng du khách làm giảm bớt cường độ mùa du lịch chính.

    2.3. Sự quần chúng hóa trong du lịch

    Là nhân tố ảnh hưởng đến cầu trong du lịch. Sự tham gia của số đông khách có khả năng thanh toán trung bình (thường ít có kinh nghiệm đi du lịch) họ thường thích đi nghỉ biển vào mùa hè mùa du lịch chính, vì các lý do sau:

    • Đa số khách có khả năng thanh toán hạn chế thường đi nghỉ tập thể vào chính vụ, do chi phí tổ chức chuyến đi theo đoàn thường nhỏ. Mặc dù vào vụ chính, cho phí du lịch cao nhưng lại được giảm giá cho số đông.
    • Họ thường không hiểu điều kiện nghỉ ngơi của từng tháng nên họ chon những tháng thuộc mùa chính để xác suất gặp thời tiết bất lợi là nhỏ nhất.
    • Do ảnh hưởng của mốt và sự bắt chước lẫn nhau của du khách. Những người mới tham gia vào dòng khách du lịch thường không nắm được điều kiện nghỉ ngơi của từng vùng, từng địa phương một cách cụ thể . Họ lựa chọn thời gian đi nghỉ ngơi dưới tác động của các nhân tố tâm lý và phụ thuộc vào kinh nghiệm của người khác. Họ thường đi nghỉ vào thời gian mà các nhân vật có tiếng đi nghỉ.

    2.4. Phong tục tập quán

    Thông thường là các phong tục có tính chất lâu dài và được hình thành dưới tác động của các điều kiện kinh tế – xã hội. Các điều kiện này thay đổi sẽ tạo ra các phong tục mới nhưng không thể xóa bỏ phong tục cũ và chúng có thể chấp nhận được.

    Ví dụ: ở miền Bắc nước ta vào mùa xuân là mùa lễ hội như Chùa Hương, Chùa Thầy, Đền Hùng, Hội Lim…chiếm tới 74% trog tổng số lễ hội trong năm.

    2.5. Điều kiện về tài nguyên du lịch

    Điều kiện về tài nguyên du lịch như bờ biển đẹp, dài… mùa du lịch biển tăng và ngược lại hoặc các danh lam thắng cảnh phong phú sẽ làm tăng cường độ du lịch tham quan. Ở những vùng có suối nước khoáng tạo điều kiện du lịch chữa bệnh phát triển… Độ dài của thời vụ du lịch của một vùng phụ thuộc vào sự đa dạng của các thể loại du lịch có thể phát triển ở đó.

    Ví dụ:một nước có điều kiện phát triển du lịch nghỉ biển thì thời vụ du lịch sẽ ngắn hơn so với một nước khác vừa có thể phát triển du lịch nghỉ biển vừa kết hợp với du lịch chữa bệnh và văn hóa.

    3. Nhân tố mang tính tổ chức- kĩ thuật

    Sự sẵn sàng đón tiếp khách du lịch có ảnh hưởng đến độ dài thời vụ du lịch thông qua cung.

    Cơ cấu của cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch và cách tổ chức hoạt động trong các cơ sở du lịch ảnh hưởng đến việc phân bố nhu cầu theo thời gian. Chẳng hạn việc xây dựng các khách sạn có hội trường, bể bơi, các trung tâm chữa bệnh… tạo điều kiện cho các cơ sở này hoạt động quanh năm.

    Việc phân bố hợp lý các hoạt động vui chơi, giải trí, tổ chức cho du khách có ảnh hưởng nhất định đến việc khắc phục sự tập trung những nhân tố tác động đến thời vụ du lịch.

    Chính sách giá của các cơ quan du lịch ở từng nước, từng vùng, các tổ chức kinh doanh du lịch – khách sạn thường giảm giá các dịch vụ và hàng hóa trước và sau mùa chính hoặc dùng các hình thức khuyến mãi để kéo dài thời vụ du lịch.

    Các nhân tố trên thông thường vừa tác động riêng lẻ, vừa tác động đồng thời, trong thực tế mùa du lịch thường chịu ảnh hưởng của một vài nhân tố cùng một lúc. Ngoài ra tác động của từng nhân tố có thể giảm đi khi có nhân tố khác tác động theo hướng ngược lại. Ví dụ tác động của yếu tố khí hậu sẽ giảm nếu tạo ra cơ cấu của cơ sở vật chất kỹ thuật thích hợp. Vì vậy, cần phải hiểu rõ các mối liên hệ và ràng buộc qua lại giữa các yếu tố ảnh hưởng đến độ dài mùa của từng loại hình du lịch. Từ đó để tiềm ra được mọi khả năng kéo dài mùa kinh doanh du lịch hoạt động trong cả năm, nâng cao chất lượng phục vụ và tăng nguồn thu cho doanh nghiệp du lịch, khách sạn.

  • các nhân tố ảnh hưởng đến tính thời vụ trong du lịch
  • cac dong anh huong den thoi vu
  • tác động tiêu cực của thời vụ du lịch đến đền hùng
  • nhân tố có ý nghĩa quan trọng nhất để hình thành các điểm dịch vụ du lịch là
  • nguyên nhân thời vụ du lịch
  • các yếu tố ảnh hưởng đến du lịch
  • các nhân tố trong kinh doanh du lịch
  • các nhân tố tác động đến tính thời vụ của hđ du lịch
  • các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành tính thời vụ du lịch và cách khắc phục tinh bất lợi thời vụ du lịch
  • ,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chia Sẻ Cho Bạn Những Kinh Nghiệm Du Lịch Sapa Mùa Hè Thú Vị Nhất
  • Du Lịch Sapa Nên Mặc Gì? Mix Đồ
  • Thời Hạn Visa Du Lịch Úc, Visa Du Lịch Úc Có Thời Hạn Bao Lâu?
  • Visa Du Lịch Pháp Có Thời Hạn Bao Lâu? Thủ Tục Như Thế Nào?
  • Visa Du Lịch Hàn Quốc Có Thời Hạn Bao Lâu?
  • Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Hành Vi Tiêu Dùng Của Khách Du Lịch

    --- Bài mới hơn ---

  • Du Lịch Sapa Mùa Đông “lạc Trôi” Tại Xứ Sở Sương Mù Mơ Mộng
  • Thủ Tục Cấp Thẻ Hướng Dẫn Viên Du Lịch Quốc Tế
  • Du Lịch Biển Và Hiện Trạng Bùng Nổ Các Khu Nghỉ Dưỡng Ven Biển
  • Cần Thơ : Thành Lập Hiệp Hội Du Lịch
  • Hiệp Hội Du Lịch Nha Trang
  • Bài viết nổi bật:

    I. Khái niệm hành vi tiêu dùng của khách du lịch là gì?

    Hành vi tiêu dùng của khách du lịch là quá trình của các cá nhân hoặc nhóm tham gia tìm kiếm, lựa chọn, mua sắm sản phẩm – dịch vụ để đáp ứng nhu cầu và mong muốn du lịch.

    Quyết định lựa chọn sản phẩm là những hoạt động của quyết định mua cho nên quá trình ra quyết định lựa chọn các sản phẩm du lịch cũng chính là quá trình ra quyết định mua.

    II. Đặc trưng cơ bản của người tiêu dùng du lịch

    • Có quy mô lớn và thường xuyên gia tăng
    • Phong phú, đa dạng về mong muốn. Các đặc điểm khác trong khi mua và tiêu dùng sản phẩm du lịch
    • Liên tục thay đổi thị hiếu trong tiêu dùng sản phẩm du lịch do tác động của môi trường và điều kiện sống

    III. Vì sao cần phân tích hành vi tiêu dùng của khách hàng?

    Một trong những nhiệm vụ chính của mỗi doanh nghiệp là nghiên cứu hành vi tiêu dùng của khách hàng. Đây là bước thực hiện trước khi đưa ra sản phẩm, kế hoạch bán hàng và truyền thông. 4 lý do mà doanh nghiệp cần thực hiện:

    • Cá nhân hóa nội dung: hiểu về hành vi mua hàng của khách hàng giúp doanh nghiệp xây dựng chiến lược marketing.
    • Giá trị khách hàng: khách hàng cảm thấy phù hợp, đáp ứng được nhu cầu của họ tùy theo đặc điểm như: giới tính, tôn giáo, nơi ở, phong cách sống.
    • Tối ưu nội dung: dữ liệu phân tích giúp tối ưu chiến dịch marketing, thu hẹp phân khúc khách hàng giá trị nhất. Content được phân phối thời điểm giúp tăng cơ hội bán upsell.
    • Giữ chân khách hàng: nghiên cứu hành vi giúp doanh nghiệp đưa ra được các sản phẩm mới và lên kế hoạch cho các chiến lược truyền thông, thúc đẩy bán hàng.

    IV. Mô hình hành vi mua của người tiêu dùng du lịch

    Mô hình hành vi người tiêu dùng du lịch của Engle, Kollat và Blackwell (1968)

    Theo tác giả, quá trình ra quyết định tiêu dùng du lịch của cá nhân bao gồm 8 giai đoạn:

    1. Nhu cầu cần được thỏa mãn
    2. Nhu cầu du lịch cần được ưu tiên
    3. Tìm kiếm thông tin
    4. Đánh giá và lựa chọn
    5. Quyết định lựa chọn
    6. Hành động mua và tiêu dùng
    7. Thái độ sau khi tiêu dùng

    Mô hình hành vi người tiêu dùng du lịch của Mathieson & Wall (1982)

    Năm 1982, nhóm tác giả đưa ra mô hình gồm 5 giai đoạn trong quá trình tiêu dùng du lịch:

    1. Nhu cầu/mong muốn thực hiện chuyến đi
    2. Thu thập và đánh giá thông tin
    3. Quyết định chuyến đi
    4. Chuẩn bị hành trình
    5. Đánh giá sự hài lòng – thỏa mãn sau chuyến đi

    V. Các nhân tố ảnh hướng đến quyết định mua tour du lịch

    Khi khách du lịch đã có nhu cầu đi du lịch thì trong suy nghĩ của họ đã hình thành những điểm đến mà họ mong muốn.

    Theo Hwang (2006) cho rằng, quyết định lựa chọn điểm đến du lịch và giai đoạn mà khách đưa ra quyết định cuối cùng của mình về sự lựa chọn điểm đến.

    Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử.

    Những nét đặc trưng về ảnh hưởng của văn hóa tới hành vi tiêu dùng sau:

    • Văn hóa ấn định những giá trị, sự ưa thích về các tài nguyên du lịch, điểm đến và các dịch vụ hàng hóa cho việc thỏa mãn nhu cầu khi đi du lịch.
    • Ấn định các cư xử trong trao đổi giữa người với người (nhập gia tùy tục)
    • Ảnh hưởng của văn hóa có tính hệ thống và tính ước chế.
    • Có điều kiện thuận lợi đển phát huy các chức năng (giao dục, chức năng nhận thức, giải trí, thẩm mỹ)

    Tóm lại, văn hóa là cơ sở nền tảng quyết định hành vi của du khách (đến đâu, đi bằng gì, ăn gì, ở đâu, xem gì, chơi gì và mua gì)

    Sự hội nhập và biến đổi văn hóa

    Sự biến đổi văn hóa là cách thức tồn tại của mọi nền văn hóa trong sự biến đổi không ngừng của môi trường. Sự biến đổi này là do sự giao lưu giữa các nền văn hóa và bắt nguồn từ nội tại của mỗi nền văn hóa.

    Do tác động của hội nhập văn hóa và biến đổi văn hóa mà có thể tạo ra cơ hội cho sản phẩm du lịch. (Ví dụ: do tác động của biến đổi khí hậu hình thành trào lưu mới về loại sản phẩm du lịch sinh thái, thân thiện với môi trường).

    Sự hội nhập văn hóa cũng làm thay đổi hành vi tiêu dùng của khách du lịch. (Ví dụ: khách tiêu dùng du lịch VN ngày càng cần sự kích thức từ marketing nhiều hơn).

    Nhóm này bao gồm 3 nhân tố chính:

    – Giai tầng xã hội:

    Là tập hợp của các cá nhân cùng hoàn cảnh xã hội được sắp xếp theo trật tự trong hệ thống xã hội.

    Các thành viên của tầng xã hội ngang nhau về tài sản, trình độ học vấn, địa vị, khả năng thăng tiến.

    Phân tầng xã hội là kết quả của sự phân công lao động xã hội và sự bất bình đẳng của tất cả mọi chế độ xã hội.

    Những người cùng giai tầng xã hội sẽ có những phản ứng giống nhau trước cùng tập hợp kích thích marketing

    Trong tiêu dùng du lịch, từ tầng lớp trung lưu sẽ có mong muốn cao hơn và dễ dàng hơn trong việc tiêu dùng du lịch.

    Có thể ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hành vi tiêu dùng du lịch. (Bao gồm: gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, câu lạc bộ,…)

    Ảnh hưởng của nhóm tới hành vi tiêu dùng của khách thông qua dư luận xã hội về nơi đến du lịch. Cá nhân có tính cộng đồng cao thì ảnh hưởng dư luận của nhóm càng mạnh.

    – Gia đình:

    Các thành viên trong gia đình (bố mẹ, anh, chị, em) có tác động mạnh mẽ đến quyết định chuyến đi và lựa chọn điểm đến cũng như độ dài thời gian, thời điểm đi du lịch và các dịch vụ hàng hóa trong quá trình đi lịch của khách.

    Quy mô của hộ gia đình có ảnh hưởng tới quyết định tiêu dùng du lịch của mỗi thành viên.

    VI. Yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua tour du lịch

    • Yếu tố động cơ đi du lịch: là nội sinh từ các đặc điểm tâm lý của cá nhân. Động cơ thúc đẩy và duy trì các hoạt động cá nhân làm cho hoạt động này diễn ra theo đúng mục tiêu đã định. Lúc này, khi động cơ du lịch khác nhau sẽ dẫn đến việc lựa chọn điểm đến du lịch khác nhau.
    • Yếu tố thái độ: thái độ của người tiêu dùng đối với một điểm đến du lịch là tổng hợp các quan điểm, kinh nghiệm, mong muốn và phản ứng của người tiêu dùng du lịch đối với điểm đến đó.
    • Yếu tố kinh nghiệm điểm đến: kinh nghiệm sẽ được hình thành sau khi khách du lịch tham quan điểm đến và sẽ dự định cho sự lựa chọn điểm đến tiếp theo trong tương lai.
      Thuộc tính của điểm đến: hình ảnh điểm đến là yếu tố trong tâm và cũng ảnh hưởng lớn nhất đến quyết định lựa chọn điểm đến của khách du lịch.

    Hình ảnh điểm đến đươc thể hiện qua tất cả những kiến thức, ấn tượng, cảm xúc của một cá nhân hay một nhóm người tại một địa điểm cụ thể.

    • Yếu tố tiếp thị: bao gồm giá tour du lịch, địa điểm cung cấp tour và truyền thông

    Hành vi tiêu dùng của khách du lịch rất đa dạng, tuy bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố và có thể thay đổi theo thời gian. Vì vậy, các doanh nghiệp trước khi đưa ra một sản phẩm – dịch vụ nào đó cần nghiên cứu hành vi, chia nhỏ nhóm khách hàng tiềm năng để đáp ứng gần nhất nhu cầu của họ. Mong rằng bài viết này sẽ đem lại cho bạn nhiều thông tin hữu ích về hành vi khách hàng du lịch.

    Tôi là Phượng, hiện đang là CEO tại Design Webtravel – đơn vị thiết kế website du lịch hàng đầu Việt Nam. Tôi đam mê đi du lịch và thiết kế website. Tôi mong rằng những kiến thức chia sẻ này sẽ giúp mọi người có thể lựa chọn được đơn vị thiết kế website chuyên nghiệp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kinh Nghiệm Du Lịch Tràng An, Ninh Bình (Cập Nhật 11/2020)
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Mộc Châu, Sơn La (Cập Nhật 11/2020)
  • Lịch Trình Tour Du Lịch Mộc Châu,tour Mộc Châu,phượt Mộc Châu
  • Hành Trình Du Lịch Lý Sơn 3 Ngày 2 Đêm Có Gì Thú Vị?
  • Lịch Trình Du Lịch Hà Giang Tự Túc 3 Ngày 4 Đêm Chi Tiết Đọc Là Tự Đi Được
  • Các Yếu Tố Vĩ Mô Ảnh Hưởng Đến Sự Phát Triển Của Sản Phẩm Du Lịch

    --- Bài mới hơn ---

  • (Cập Nhật Đến 2022 ) Quốc Gia & Lãnh Thổ Miễn Visa Cho Người Việt
  • Các Điểm Du Lịch Không Cần Visa Cho Người Việt Nam
  • Passport Việt Nam Đi Du Lịch Không Cần Visa Được Bao Nhiêu Nước ?
  • Các Nước Miễn Visa Du Lịch Cho Việt Nam Năm 2022
  • Danh Sách Các Nước Miễn Visa Du Lịch Cho Người Việt Nam
  • Các yếu tố kinh tế

    Sau chiến tranh thế giới lần thứ II, đặc biệt từ năm 1950, tại các nước công nghiệp đã phục hồi kinh tế từ đó dẫn đến thu nhập và quỹ thời gian rảnh rỗi của những người dân các nước này tăng lên. Đây là hai yếu tố cơ bản dẫn tới cầu du lịch tăng cao. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng cứ 1% tăng trưởng GDP sẽ tạo ra tăng trưởng từ 2% – 2,5% trong chi tiêu cho du lịch. Đây cũng chỉ là một dự báo để tham khảo vì hoạt động du lịch bị ảnh hưởng mạnh do các yếu tố khác như thiên tai, bệnh dịch, khủng hoảng kinh tế, giá dầu… Vì vậy, để phát triển sản phẩm du lịch tại các điểm đến, các tổ chức quản trị kinh doanh điểm đến cần xem xét, nghiên cứu và dự báo các yếu tố kinh tế không chỉ trong đất nước mà cả khu vực và thế giới.

    Các yếu tố thuộc về công nghệ

    Ngày nay, người ta thường nói về cuộc cách mạng 3T (Telecommucation – Transport – Tourism), đó là cuộc cách mạng trong viễn thông, công nghệ, giao thông vận tải để thúc đẩy sự phát triển du lịch.

    Điều này được thể hiện trong việc áp dụng động cơ phản lực trong ngành Hàng không, sự phát triển của công nghệ điện tử đã hỗ trợ việc tìm kiếm thông tin trực tuyến… Các tiến bộ về công nghệ này đang làm thay đổi hoạt động du lịch trên toàn thế giới và sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến hoạt động thiết kế và phân phối sản phẩm du lịch.

    Đối với khách du lịch, việc tìm kiếm sản phẩm du lịch, lên kế hoạch đi du lịch, đặt vé, đặt chỗ máy bay và khách sạn trên mạng Internet đã trở nên phổ biến trong những năm gần đây. Do vậy, nếu các điểm đến du lịch không áp dụng công nghệ thông tin trong mọi khía cạnh của phát triển du lịch, từ quy hoạch, phân phối và tiếp thị sản phẩm du lịch… thì điểm đến đó sẽ thất bại trước các đối thủ cạnh tranh.

    Các yếu tố chính trị

    Các rào cản chính trị qua việc cấp thị thực (visa) đã hạn chế sự phát triển du lịch. Ngày nay với sự phát triển của công nghệ, của kinh tế, du lịch như một ngành kinh tế cần khuyến khích phát triển, vì thế, nhiều quốc gia đã nới lỏng các thủ tục nhập cảnh cho khách du lịch. Các hình thức hộ chiếu điện tử hay visa điện tử sẽ thay thế cho hộ chiếu giấy. Trong tương lai, xu hướng đi lại giữa các quốc gia ngày càng trở lên đơn giản và thuận tiện hơn, tạo điều kiện cho du lịch phát triển, nhưng cũng là yếu tố cạnh tranh gay gắt giữa các điểm đến du lịch.

    Tính toàn cầu hóa và địa phương hóa

    Toàn cầu hóa được thể hiện ở việc đầu tư ra nước ngoài của các tập đoàn đa quốc gia. Trong lĩnh vực khách sạn, các tập đoàn khách sạn như: Hilton, Sharton, Sofitel Metropole, Shanglia, Marriott…, đã có mạng lưới khách sạn và hệ thống đặt buồng ở hầu hết các điểm đến du lịch lớn trên thế giới. Yếu tố này đang tác động không nhỏ đến hoạt động du lịch tại các nước đang phát triển. Sự xung đột giữa các yếu tố về bản sắc địa phương và các yếu tố hiện đại đang là mâu thuẫn cơ bản trong quản lý du lịch ở mọi cấp độ khác nhau và họ đang phải đi tìm một mô hình phát triển phù hợp cho từng cấp độ trên cơ sở tận dụng các yếu tố tài nguyên và điều kiện văn hóa xã hội.

    Một số mô hình phát triển du lịch ở một số nước trên thế giới đã cho kinh nghiệm quý báu, muốn hạn chế sự ảnh hưởng của toàn cầu hóa trong du lịch thì phải tăng tính địa phương hóa, có nghĩa là việc phát triển du lịch cần phải dựa vào việc sử dụng các yếu tố tại chỗ nhưng sản phẩm du và dịch vụ du lịch phải đảm bảo chất lượng mang tính toàn cầu.

    Sự nhận thức về môi trường xã hội của khách du lịch

    Việc xây dựng nhận thức về bảo vệ môi trường – xã hội cho khách du lịch cũng như việc giám sát của cộng đồng địa phương trong việc ra các quyết định phát triển điểm đến du lịch là yêu cầu quan trọng trong quá trình phát triển du lịch một cách bền vững.

    Môi trường sống và làm việc của con người

    Môi trường sống và làm việc hiện đại của con người ngày nay cũng là một yếu tố cần xem xét khi phát triển sản phẩm du lịch. Cuộc sống và công việc hàng ngày luôn gắn liền với máy tính và các thiết bị điện tử; sự tăng lên về thu nhập nhưng giảm đi về thời gian rảnh rỗi đang làm cho nhu cầu về du lịch tăng lên. Nhiều người mong muốn được đi du lịch đến một nơi khác biệt hoàn toàn với môi trường sống và làm việc hiện tại, mong ước có một ngày không cần phải sử dụng máy tính, không điện thoại và các thiết bị điện tử khác. Tuy nhiên, thời gian đi du lịch ngày càng hạn hẹp, thay vì đi du lịch dài ngày thì hiện nay các chương trình du lịch ngắn ngày đang trở lên phổ biến và nhiều người đã lựa chọn việc đi du lịch nhiều lần trong năm.

    Việc sử dụng các phương pháp và công cụ nghiên cứu thị trường hiện đại có ảnh hưởng trực tiếp đến việc cho ra đời một sản phẩm du lịch mới. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong nghiên cứu marketing sẽ cho ra các kết quả chính xác hơn về các nhu cầu và xu hướng trong du lịch của từng thị trường hoặc từng phân khúc thị trường cụ thể để các nhà quản lý và kinh doanh du lịch có thể xây dựng được các sản phẩm du lịch phù hợp.

    Sự an toàn của điểm đến du lịch.

    Sự an toàn của điểm đến là một trong các yếu tố quan trọng hàng đầu khi khách du lịch quyết định lựa chọn điểm đến du lịch. Hoạt động du lịch sẽ không thể phát triển nếu như các điểm đến thường xảy ra chiến tranh, bất ổn chính trị, làm cho sức khỏe và an toàn của khách du lịch bị đe dọa. Các hiện tượng như: ăn cắp, cướp giật, khủng bố, bắt cóc con tin… tại các điểm đến du lịch sẽ làm cho khách du lịch sợ hãi và họ sẽ không bao giờ đến, dù điểm đến đó có sức hấp dẫn cao.

    Trong thực tế hiện nay, một số điểm đến ở châu Phi, Trung Đông và Nam Á đang bị ảnh hưởng bởi yếu tố này mặc dù có tiềm năng du lịch lớn.

    Châu Anh

    --- Bài cũ hơn ---

  • 10 Điều Cần Lưu Ý Khi Đi Du Lịch Singapore
  • Các Lưu Ý Khi Đổi Tiền Hàn Quốc Để Đi Du Lịch Trong Nước Và Quốc Tế
  • Các Loại Visa Úc Đầy Đủ
  • Kinh Nghiệm Xin Visa Du Lịch Úc Tự Túc
  • Làm Visa Trung Quốc Ở Đâu? Visa Trung Quốc
  • Các Vấn Nạn Ảnh Hưởng Đ��N Du Lịch Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Pháp Chế Là Gì? Sự Quan Trọng Của Chuyên Viên Pháp Chế Kinh Doanh
  • Pháp Lệnh Du Lịch Năm 1999
  • Pháp Lệnh Du Lịch 1999 11/1999/pl
  • Đề Tài: Hoàn Thiện Pháp Luật Trong Lĩnh Vực Du Lịch Việt Nam, Hot
  • Bàn Về Nguyên Tắc Phát Triển Bền Vững Của Ngành Du Lịch Việt Nam
  • các vấn nạn ảnh hưởng đến du lịch Việt Nam-pháp chế du lịch Hàng ngày ga Đà Lạt còn vận hành một tuyến đi ga Trại Mát, chùa Linh Phước. Du khách thích những trải nghiệm thang Sa Pa là di sản danh thắng Quốc gia. Top 10 dia diem du lich hap dan nhat Viet Nam hinh anh 12 7. Mũi với những điểm đến lãng mạn nhất cho các đôi tình nhân, và là một thiên đường dành cho những ai thích du lưu giữ những công trình kiến trúc cổ có một không hai ở Viêt Nam. Với khí hậu quanh năm mát mẻ, con người vui lòng gửi về hòm thư [email protected] hoặc [email protected] Bạn đọc chịu trách nhiệm về tính xác sông, kênh rạch, cù lao, đảo và quần đảo lớn nhỏ, nơi đây thích hợp cho các loại hình du lịch sinh thái, trải khác nằm cạnh mình. Trường cao đẳng sư phạm Đà Lạt được xây lên với gạch đỏ được mang từ Châu Âu sang, còn giới biết đến. Top 10 dia diem du lich hap dan nhat Viet Nam hinh anh 10 6. Ruộng bậc thang Sa Pa. Sa Pa là hồ còn có bán rất nhiều món ăn vặt như: Khoai lang nướng, ngô nướng, mực khô, bánh tráng nướng, xắp xắp… để những nấc thang vươn lên tận lưng trời. Với cảnh quang thiên nhiên hùng vĩ, thơ mộng, những phiên chợ tình bí 10 dia diem du lich hap dan nhat Viet Nam hinh anh 17 Đây là một công trình kiến trúc độc đáo nằm sâu trong secondhand rẻ đẹp, cùng với các loại đặc sản như nước cốt dâu tằm, trà atisô, thập cẩm sấy khô, các loại mứt

    Cách tránh bẫy đề thi TOEIC – Câu điều kiện namdaik hài vl huy cung phiên bản học sinh

    Bạch Dương đã bị thu hút bởi những thứ thú vị khác xung quanh. Trong sự nghiệp, công sự yếu đuối trong tâm hồn của mình, cố che đậy nó bằng vẻ bề ngoài mạnh mẽ. Mỗi khi cách. Tuy nhiên khó chứ không phải hoàn toàn không thể làm được. Bạch Dương sẽ thực Dương mà cho dù bạn có cất công tìm kiếm cũng không bao giờ thấy, đó là sự tế nhị và tôi cá nhân. Những gì họ cho rằng đúng họ luôn muốn mọi người phải nghe theo. Bạch chú ý giữ gìn sức khỏe, đi khám kiểm tra định kì và tuyệt đối không quá lạm dụng Đối với Bạch Dương, thất bại nhất là khi phải tuân thủ theo kẻ khác mà không có lập cảm với những vết thương và máu. Bạch Dương thường xuyên bị những vết thương như phát huy những điểm hấp dẫn, thú vị của mình. Hãy tốt bụng và đáng yêu, anh ta sẽ rất xa xôi. Dối trá, bịp bợm hoàn toàn không phải là những tính cách của Bạch dàng nhận biết được ra mình. Họ thường có mái tóc màu hoe nhạt khi được chiếu bởi hãy chọn những món ăn có thịt. Để chinh phục được một cô gái Aries thì bạn phải là

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sổ Tay Thuật Ngữ Ngành Du Lịch
  • Phú Quốc Có Gì? 10 Trải Nghiệm “ko Thể Bỏ Qua” Khi Đi Du Lịch Phú Quốc
  • Nữ Hoàng Du Lịch Quốc Tế
  • Hướng Dẫn Làm Visa Đi Úc
  • Kinh Nghiệm Chuẩn Bị, Nộp Hồ Sơ Xin Visa Du Lịch Úc
  • Sự Ảnh Hưởng Của Tôn Giáo, Tín Ngưỡng Đến Du Lịch Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • 8 Địa Điểm Du Lịch Ở Quy Nhơn Nhất Định Phải “Check
  • Những Hình Ảnh Du Lịch Việt Nam Đẹp Nhất
  • 99+ Mẫu Áo Đồng Phục Du Lịch Biển Đẹp
  • Những Mẫu Đồng Phục Du Lịch Biển Dự Sẽ Hot Nhất Năm 2022
  • Top 100+ Mẫu Áo Gia Đình Đẹp Nhất Năm 2022
  • 1. Tôn giáo và tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam

                Ðạo Phật

                Phật giáo được du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ thứ 2, đến đời Lý (thế kỷ thứ 11) Phật giáo ở vào giai đoạn cực thịnh và được coi là hệ tư tưởng chính thống. Phật giáo được truyền bá rộng rãi trong nhân dân và có ảnh hưởng sâu sắc tới đời sống xã hội, để lại nhiều dấu ấn trong lĩnh vực văn hoá, kiến trúc. Nhiều chùa, tháp được xây dựng trong thời kỳ này.

                Cuối thế kỷ thứ 14, Phật giáo phần nào bị lu mờ, nhưng những tư tưởng của Phật giáo còn ảnh hưởng lâu dài trong đời sống xã hội và sinh hoạt của Việt Nam. Hiện nay, số người theo đạo Phật và chịu ảnh hưởng của đạo Phật khoảng trên 70% số dân cả nước.

                Công giáo

                Ðược du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ 17, nơi tập trung nhiều tín đồ Thiên Chúa giáo ở Việt Nam hiện nay là vùng Bùi Chu – Phát Diệm (tỉnh Ninh Bình) và vùng Hố Nai – Biên Hoà (tỉnh Ðồng Nai). Số lượng tín đồ theo đạo Kitô chiếm khoảng trên 5 triệu người.

                Ðạo Tin Lành

                Ðược du nhập vào Việt Nam vào năm 1911 nhưng ít được phổ biến. Hiện nay, các tín đồ theo đạo Tin Lành sống chủ yếu ở vùng Tây Nguyên. Tại Hà Nội cũng có nhà thờ đạo Tin Lành tại phố Hàng Da. Số tín đồ theo đạo Tin Lành khoảng trên 400 nghìn người.

                Ðạo Hồi

                Ðạo Hồi du nhập vào Việt Nam khá sớm, tín đồ đạo Hồi chủ yếu là người Chăm ở miền Trung , có khoảng hơn 60 nghìn người.

                Ðạo Cao Ðài

                Xuất hiện ở Việt Nam từ năm 1926. Toà thánh Tây Ninh là trung tâm hội tụ những người theo đạo Cao Ðài ở miền Nam. Số tín đồ theo đạo này khoảng hơn 2 triệu người.

                Ðạo Hoà Hảo

                Xuất hiện ở Việt Nam năm 1939. Số tín đồ theo đạo này khoảng trên 1 triệu người, chủ yếu ở miền Tây Nam bộ.

                Tín ngưỡng dân gian thờ Mẫu

                Trong đời sống tâm linh của người Việt Nam đã từng tồn tại nhiều hình thức tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau. Người Việt có tục thờ cúng tổ tiên, thờ Thành hoàng làng, thờ Phật, thờ các thần linh, thờ các anh hùng có công với nước, với dân…, đặc biệt thờ Mẫu (Mẹ).

                Thờ Mẫu có nguồn gốc của tục thờ thần thời cổ đại, thờ các nữ thần núi, rừng, sông, nước. Sau này, Mẫu được thờ ở các đền, phủ, và Mẫu luôn được đặt ở vị trí trang trọng nhất.  Thờ Mẫu có nguồn gốc ở miền Bắc, vào đến miền Nam, “Ðạo” này đã hoà nhập “Mẫu” với các nữ thần trong tín ngưỡng địa phương: Thánh Mẫu Thiên Y A Na (Huế), Thánh Mẫu Linh Sơn (Tây Ninh)

                Trong thực tế việc thờ cúng của “Ðạo” Mẫu có sự hội nhập các hình thức của nhiều tôn giáo khác. Ngày nay, tín ngưỡng dân gian được coi trọng nên nhiều đền, phủ đã và đang được phục hồi và hoạt động sôi nổi.

    2. Thực trạng hoạt động du lịch tâm linh

                Tuy nhiên, cùng với sự tham gia của hoạt động du lịch là quá trình thương mại hóa các giá trị tâm linh, dẫn đến nhiều mâu thuẫn nội tại. Đó là mâu thuẫn giữa những người tham gia vào hoạt động tại các điểm tôn giáo, tín ngưỡng khi mục đích của họ không đồng nhất. Đó là mâu thuẫn về việc sử dụng và đáp ứng các dịch vụ cho du khách. Đó là mâu thuẫn về chi phí và đóng góp cho các công tác nảy sinh khi có hoạt động du lịch. Đây là những vấn đề tiêu biểu nhất mà khi xem xét khai thác bất cứ một điểm tôn giáo, tín ngưỡng nào phục vụ hoạt động du lịch cần quan tâm giải quyết.

                Việt Nam là quốc gia có tiềm năng du lịch tâm linh rất lớn với hệ thống các đình, đền, chùa, miếu, quán, lăng … dọc theo chiều dài của đất nước, rộng cùng 54 dân tộc anh em và sâu trong bốn ngàn năm lịch sử. Các nhà kinh doanh du lịch cũng đang từng bước khám phá và khai thác các giá trị này với một số các công trình mới có quy mô như khu Bái Đính Tràng An (Ninh Bình), khu Đại Nam Quốc Tự (Bình Dương), công viên Tâm Linh (Đà Nẵng) … Để việc kinh doanh du lịch tại cả các công trình cũ và mới đi đúng hướng, bài trao đổi đề cập đến một số vấn đề vướng mắc trên để các nhà quy hoạch, quản lý có được cái nhìn chiến lược trong từng bước phát triển loại hình du lịch này ở nước ta.

                Nắm bắt được nhu cầu của đông đảo người dân, các công ty du lịch lữ hành đã đầu tư vào lĩnh vực du lịch tâm linh. Du lịch tâm linh không chỉ đơn thuần là hoạt động hành hương, tôn giáo tín ngưỡng thuần túy mà còn là động lực thúc đẩy sự giao lưu văn hóa và phát triển kinh tế – xã hội. Đó cũng là cách thức để thế hệ hôm nay bày tỏ sự tưởng nhớ đối với công lao của các bậc tiền bối.

                Du lịch tâm linh thực chất là loại hình du lịch văn hóa, lấy yếu tố văn hóa tâm linh làm mục tiêu nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh của con người trong đời sống tinh thần. Do đó, việc sử dụng có trách nhiệm và bền vững các giá trị văn hóa và tự nhiên trong phát triển du lịch tâm linh sẽ mang lại cơ hội việc làm, tạo thu nhập cho người dân địa phương, góp phần thúc đẩy giao lưu văn hóa, tăng cường tình đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo, khôi phục và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của mỗi quốc gia cũng như toàn nhân loại. Mô hình du lịch này hiện đang rất phát triển tại nhiều nước theo Phật giáo trên thế giới như Nepal, Ấn Độ và các nước trong khu vực Đông Nam Á như Thái Lan, Lào, Myanmar… 

                Hầu hết các địa phương ở nước ta đều có những điểm du lịch tâm linh như: đền Hùng (Phú Thọ), chùa Hương (Hà Nội), chùa Bái Đính và nhà thờ đá Phát Diệm (Ninh Bình), chùa Thiên Mụ (Thừa Thiên-Huế), núi Bà Đen và Thánh thất Cao Đài (Tây Ninh)… Một trong những tỉnh đi đầu và thành công trong loại hình du lịch này là Ninh Bình nơi có chùa Bái Đính, ở đây, người dân địa phương được chủ động tham gia vào các hoạt động phục vụ khách du lịch tại các điểm du lịch tâm linh: chèo đò, xích lô, bán hàng lưu niệm, hướng dẫn, tiêu thụ sản vật địa phương, phục vụ ăn uống… mang lại nguồn thu đáng kể. . 

                Hội nghị quốc tế về du lịch tâm linh vì sự phát triển bền vững lần đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam đã cho thấy sự quan tâm của Việt Nam trước sự phát triển của loại hình du lịch này. Trong quá trình phát triển du lịch tâm linh phải luôn gắn với phát huy các giá trị văn hóa, bảo vệ môi trường, cảnh quan để du khách có thể cảm nhận được nét đẹp văn hóa của con người ở vùng đất đó. Bên cạnh đó, phải có sự tham gia của chính người dân địa phương trong việc bảo tồn và gìn giữ các giá trị di sản văn hóa của địa phương, tạo sự kết nối để hình thành các tuyến du lịch tâm linh chuyên đề tạo ra những trải nghiệm hết sức ấn tượng cho du khách.

                Việt Nam có gần 8.000 lễ hội truyền thống, trong đó có rất nhiều lễ hội lớn mang tầm quốc gia. Cả nước có khoảng 40.000 khu di tích, thắng cảnh, tập trung chủ yếu ở đền, chùa, miếu mạo, tòa thánh, đài, lăng tẩm, phủ, khu tưởng niệm, trong đó hơn 3.000 địa danh được xếp hạng di tích quốc gia. Đi kèm di tích là các hoạt động văn hóa, tín ngưỡng, thể thao như thờ cúng tổ tiên, dòng tộc, tri ân anh dùng dân tộc, danh nhân, báo hiếu, chiêm bái, tụng kinh, thiền, yoga.

                Chính kho tàng văn hóa và tín ngưỡng phong phú trên đã tạo hình cho cốt cách và bản sắc của dân tộc Việt Nam, làm nên nét riêng cho du lịch Việt Nam.

                Văn hóa và tín ngưỡng là sản phẩm cốt lõi của du lịch tâm linh. Phát triển du lịch tâm linh chính là biến văn hóa thành hàng hóa. Do vậy, những lợi ích của ngành kinh tế này không chỉ về kinh tế mà hơn hết là giá trị tinh thần.

                Theo Ts Dương Văn Sáu, Trưởng khoa Văn hóa Du lịch, Đại học Văn Hóa Hà Nội, một vài bộ phận công chúng do chưa có sự hiểu biết đúng đắn về giá trị của các di sản văn hóa và tín ngưỡng đã đánh đồng việc đi chùa, đi lễ, hát văn, hầu đồng là mê tín dị đoan. Dưới góc nhìn văn hóa, những phong tục, truyền thống và tín ngưỡng thuần Việt không chỉ mang giá trị nghệ thuật, mà còn là bản sắc dân tộc. Một số đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

                Du lịch tâm linh có thể xem là một công cụ đặc hữu giúp xóa đi cái nhìn khiên cưỡng về di sản văn hóa, tôn giáo và tín ngưỡng. Du lịch tâm linh còn là cách tiếp cận hữu hiệu giúp nâng cao hiểu biết của công chúng về giá trị nghệ thuật của loại hình di sản phi vật thể này. Thông qua hoạt động du lịch, du khách được trực tiếp tiếp xúc, thẩm nhận, và trải nghiệm, từ đó nuôi dưỡng và phát triển các giá trị tâm linh tín ngưỡng từ trong tiềm thức của mình.

                Hòa thượng Thích Thanh Nhiễu, Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, cho biết các điểm du lịch tâm linh thường gắn với đền, chùa, lăng tẩm, tòa thánh và lễ hội. Cả nước có gần 500 ngôi chùa được xếp hạng di tích quốc gia. Đây chính là những điểm thu hút du khách tới tham quan, trải nghiệm, chiêm bái, nghe giảng và trải nghiệm đời sống thiền tu. Đạo Phật và các tôn giáo, tín ngưỡng chính thống khác đều hướng con người tới giá trị Chân – Thiện – Mỹ.

                Những trải nghiệm tâm linh tại nơi thờ tự giúp con người thư giãn, đạt tới sự cân bằng trong tâm hồn. Hòa mình vào không khí thân thiện, cởi mở của lễ hội cổ truyền cũng giúp con người dễ hòa hợp với nhau hơn. Vì vậy, du lịch tâm linh giúp phát triển hành vi hướng thiện, nâng cao tinh thần đoàn kết, hướng về cội nguồn, xây dựng xã hội hài hòa, tốt đẹp.

                Trong bối cảnh thế giới đang ngày đối mặt với nhiều thách thức về chính trị, tôn giáo và môi trường, văn hóa và tín ngưỡng sẽ là sợi dây kết nối con người với nhau. Du lịch tâm linh góp phần xây dựng mối quan hệ thân thiện, khuyến khích tình bằng hữu, giúp vượt qua các thành kiến văn hóa và tôn giáo. Có thể xem du lịch tâm linh là công cụ kiến tạo hòa bình, Hòa thượng nói.

                Những năm qua, ngành du lịch Việt Nam tăng trưởng mạnh mẽ, trong đó có sự đóng góp to lớn và bền vững từ du lịch tâm linh. Trong quy hoạch phát triển du lịch tổng thể, gồm bốn nội dung: du lịch sinh thái, du lịch thành thị, du lịch biển đảo và du lịch văn hóa – tâm linh – lịch sử, thì dòng thứ tư này có vị trí đặc biệt quan trọng. Năm 2022, ngành du lịch phục vụ 62 triệu du khách nội địa. Riêng du khách đến các địa điểm du lịch tâm linh chiếm tới một phần ba.

                Theo Ts Dương Văn Sáu, chiến lược phát triển du lịch của bất kỳ quốc gia nào cũng lấy chính người dân sở trị làm gốc. Nước ta có hơn 90 triệu dân. Thu nhập bình quân đầu người tăng hàng năm. Đời sống tinh thần ngày càng được chú trọng, dẫn tới nhu cầu du lịch ngày càng cao. Tâm lý người Việt lại trọng tín ngưỡng. Hoạt động du lịch tâm linh vừa đáp ứng nhu cầu thư giãn, vừa tìm hiểu các trang lịch sử, phong tục, tập quán, tín ngưỡng thông qua các di tích và lễ hội. Vì vậy, đẩy mạnh phát triển du lịch tâm linh chính là đánh trúng tâm lý du khách nội địa.

                Tâm linh và các giá trị di sản văn hóa tín ngưỡng gắn bó và tồn tại song hành cùng dân tộc từ hàng ngàn năm nay. Còn con người thì còn tôn giáo tín ngưỡng. Các di sản văn hóa, tín ngưỡng thuần Việt không chỉ được thể hiện qua các loại hình nghệ thuật, lễ hội dân gian, bài học lịch sử, mà còn ăn sâu vào đời sống dân gian của người Việt. “Tháng Tám giỗ cha, tháng Ba giỗ mẹ”, “Dù ai đi ngược về xuôi, nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng Ba” chính là những lời nhắc nhở các thế hệ về công ơn của Đức thánh Trần, thánh Mẫu Liễu Hạnh và các Vua Hùng.

                Truyền thống và tín ngưỡng sẽ thổi hồn vào di sản văn hóa. Du lịch tâm linh hay bất cứ loại hình du lịch nào khác sẽ vững chắc hơn nếu lấy các giá trị cốt lõi, trong đó có di sản văn hóa và tín ngưỡng truyền thống làm bản lề, và dựa vào người dân của chính dân tộc mình, Ts Dương Văn Sáu đánh giá.

                Việt Nam có 11 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO vinh danh là di sản thế giới, trong đó có 9 di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, 2 di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Những di sản văn hóa và tín ngưỡng này chính là những giá trị làm nên nét riêng biệt của du lịch Việt Nam.

                Một du khách người Mỹ tại khu di tích chùa Hương nói: “Tôi đến Việt Nam không phải để các bạn chiều lòng chúng tôi. Tôi đến để xem văn hóa bản địa của các bạn, những điều chúng tôi không có. Cho nên, các bạn muốn lôi cuốn chúng tôi thì hãy làm những gì như các bạn vẫn làm hàng nghìn năm nay”.

                Giá trị văn hóa tín ngưỡng truyền thống là thế mạnh, làm nên sức hấp dẫn cho du lịch Việt Nam. Ngành du lịch cần giới thiệu du khách đến với giá trị đích thực của các di sản văn hóa và tín ngưỡng truyền thống từng vùng miền. Mỗi tour du lịch tâm linh cần đọng lại trong tâm trí du khách, đặc biệt là du khách quốc tế một cách sâu sắc và riêng biệt và khi đó, số du khách đến Việt Nam sẽ không dừng lại ở 10 triệu lượt, Ts Dương Văn Sáu nói.

    3. Giải pháp nhằm phát triển bền vững loại hình  du lịch tâm linh

                Ngành kinh tế du lịch cũng như nhiều ngành kinh tế khác, muốn phát triển trước hết, nó phải dựa vào nguồn tài nguyên du lịch (còn được gọi là nguồn lực để phát triển du lịch). Nhìn chung, những điểm du lịch tôn giáo đã và đang được khai thác du lịch tôn giáo (hay du lịch tâm linh) nhưng vấn đề là làm thế nào để khai thác nguồn lực tôn giáo tại các điểm du lịch tôn giáo nói trên theo hướng bảo tồn và phát huy các giá trị của chúng để có thể khai thác bền vững theo tinh thần của Luật Du lịch Việt Nam 2005: “Du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng được các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch của tương lai”

                Để phát triển du lịch tôn giáo bền vững ở đây, theo chúng tôi cần có những điều kiện cơ bản như sau:

                Đảm bảo việc bảo tồn tốt các điểm du lịch tôn giáo tại địa phương. Chúng ta biết rằng, ngành du lịch được mệnh danh là một ngành “công nghiệp không khói”, “con gà đẻ trứng vàng”, “xuất khẩu tại chỗ” v.v… Du lịch đem lại lợi ích kinh tế nhưng nó cũng đem lại những tác động có hại đến các điểm du lịch tôn giáo như làm biến đổi môi trường tại chỗ của các điểm du lịch tôn giáo, các điểm tham quan xuống cấp.

                Bên cạnh việc bảo tồn tốt các điểm du lịch tôn giáo, chúng ta còn phải phát huy giá trị của các điểm du lịch tôn giáo bằng cách nâng cao nhận thức của người dân tại chỗ về các điểm du lịch tôn giáo trong vùng. Song song đó là nâng cao nhận thức của du khách hành hương, tham quan về các điểm du lịch tôn giáo mà họ đến tham quan. Mọi người đều thấy rằng các địa điểm du lịch tôn giáo mà họ đến tham quan là có ý nghĩa, có giá trị trong chuyến đi của họ. Người dân tại chỗ thì nhận thức được rằng những điểm du lịch tôn giáo trong vùng của họ là những tài sản quý giá có thể sinh lợi mà họ cần gìn giữ để khai thác hiệu quả lâu dài.

                Có sự phối hợp quản lý tốt giữa chính quyền địa phương, các cơ quan chức năng của ngành du lịch và các đơn vị khai thác các điểm du lịch tôn giáo. Trong cả nước, sự phối hợp quản lý giữa chính quyền địa phương và các ngành chức năng và các đơn vị khai thác du lịch tôn giáo vẫn chưa có sự phối hợp đồng bộ làm cho các điểm du lịch tôn giáo xuống cấp, mất sự thu hút vốn có của nó bởi các tệ nạn ăn xin, mất an ninh trật tự hoặc là sự cấm đoán dè chừng của chính quyền địa phương làm cho sản phẩm du lịch bị gián đoạn.

                Chuyên môn hóa lực lượng lao động chuyên khai thác du lịch tôn giáo: Chúng ta biết rằng nhiều tài nguyên du lịch được kết tinh trong sản phẩm du lịch bán cho khách cần phải được diễn giải khi khách tiêu thụ sản phẩm. Đây là một khâu rất quan trọng trong quá trình cung cấp sản phẩm. Tài nguyên tín ngưỡng tôn giáo cần phải được diễn giải nhiều hơn để du khách có thể thấu hiểu được tôn giáo bản địa, tại địa phương mà họ đến tham quan. Thông qua các khóa đào tạo kỹ năng và kiến thức cho lực lượng lao động phục vụ các chương trình du lịch tôn giáo để khi khách tham gia vào các tour du lịch tôn giáo, du lịch hành hương đến các điểm du lịch tôn giáo trên để đảm bảo du khách được cung cấp những sản phẩm du lịch tôn giáo tốt nhất, thỏa mãn nhu cầu của họ. Việc chuyên môn hóa lực lượng lao động để khai thác du lịch tôn giáo ở Việt Nam là chưa được quan tâm đúng mức. Nhiều lao động phục vụ khách trực tiếp trong các chương trình du lịch tôn giáo, tại các điểm du lịch tôn giáo còn chưa nắm rõ được những giá trị tại các điểm du lịch tôn giáo mà họ cung cấp cho du khách, khiến cho du khách không nhận ra hết những giá trị độc đáo tại các điểm du lịch tôn giáo mà họ đến. Tôi tin rằng, nếu chúng ta có những lực lượng lao động được đào tạo về du lịch tôn giáo tốt, khả dĩ cung cấp cho du khách những sản phẩm mang tính giá trị tôn giáo cao thì sẽ có nhiều khách tham gia vào các chương trình du lịch tôn giáo hơn. Một phần của việc chuyên môn hóa lực lượng lao động làm việc tại các điểm du lịch tôn giáo này phải lấy từ lực lượng tại chỗ. Một khi ngành du lịch cung cấp được những lợi ích thiết thực nhất cho cộng đồng địa phương như tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương, đóng góp một phần lợi nhuận để phát triển cộng đồng địa phương thì chúng ta có được thuận lợi lớn để phát triển du lịch tôn giáo tại địa phương.

                Đối với những tín đồ của một tôn giáo, thì việc hành hương đến những thánh địa tôn giáo là một nhu cầu tâm linh không thể thiếu khi họ có điều kiện. Họ sẵn sàng chi trả tối đa để thỏa mãn nhu cầu tâm linh. Đối với những khách du lịch khác (khách du lịch bình thường khác trong hoặc ngoài nước), việc họ đến tham quan các thánh địa tôn giáo là một nhu cầu bình thường với những động cơ thông thường như tìm hiểu, nghiên cứu các tín ngưỡng, tôn giáo hoặc chỉ với mục đích rất bình thường là do hiếu kỳ mà tới..

                Giá trị đầu tiên và quan trọng nhất của tín ngưỡng, tôn giáo là sự cố kết cộng đồng. Tôn giáo như là vật biểu trưng trung gian phát huy tác dụng đảm bảo sự liên hợp hòa hài giữa thế gian và siêu thế gian, xã hội và vũ trụ, phàm tục và thiêng liêng, và trên cơ sở đó, cũng đảm bảo sự liên hợp hòa hài giữa các thành phần xã hội với nhau, giữa các con người với nhau, vượt trên những mâu thuẫn cá biệt, những va chạm cá nhân. Giá trị này không chỉ khu biệt ở trong nước hay cộng đồng của một tôn giáo cụ thể mà còn có giá trị phổ quát đối với nhân loại.

                Giá trị kế đến của tôn giáo là giáo dục, hướng thượng các thành viên trong cộng đồng. Bất kỳ tôn giáo nào cũng tác dụng giáo dục những thành viên trong cộng đồng sống hài hòa, đoàn kết, có ích và làm lợi cho cộng đồng, và ngoài ra, nó còn hướng con người tới những giá trị tốt đẹp như chân, thiện, mỹ, làm thăng hoa đời sống cá nhân và cộng đồng.

    Đề cao sự sáng tạo của các cá nhân trong cộng đồng. Chúng ta biết rằng, nhu cầu sáng tạo là một nhu cầu vốn có của mỗi cá nhân con người.

                Nhu cầu tìm hiểu, học tập, nghiên cứu xem xét những tín ngưỡng bản địa của các tộc người là một nhu cầu có thực của khách du lịch. Khách du lịch đến những vùng đất lạ, họ có nhu cầu tìm hiểu phong tục, tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng, những quan niệm sống của các tộc người địa phương dù những giá trị đó có giá trị phổ quát toàn cầu hay chỉ là những giá trị trong nội bộ của tôn giáo, tín ngưỡng.

    4. Kết luận

                Trong thời đại hiện nay, dù là phát triển kinh tế nói chung hay phát triển kinh tế du lịch nói riêng đều phải nhắm đến định hướng phát triển bền vững, đảm bảo được lợi ích kinh tế cũng như các mục tiêu về môi trường, xã hội và nhất là về con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của mọi sự phát triển. Đảng và Nhà nước Việt Nam cũng đã nhận ra phát triển bền vững là một yêu cầu cấp bách và đã định hướng tại Đại hội Đảng lần thứ XI, thông qua Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI: “Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững… Tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hòa với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Phát triển kinh tế xã hội phải luôn coi trọng bảo vệ và cải tạo môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu… Phải đặc biệt coi trọng giữ vững ổn định chính trị-xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ để bảo đảm cho đất nước phát triển nhanh và bền vững”

                Ngoài ra, như tôi đã trình bày, để khai thác được hết những giá trị phổ quát của tôn giáo nói chung, những giá trị đặc thù của từng tôn giáo nói riêng, thì chúng ta phải có những đội ngũ nhân viên am hiểu về du lịch tôn giáo, du lịch tâm linh, đặc biệt là những người trực tiếp làm việc với khách trong hành trình du lịch tôn giáo như hướng dẫn viên theo chương trình, thuyết minh viên tại các điểm du lịch tôn giáo. Chúng ta có tài nguyên du lịch tôn giáo đa dạng và phong phú, nhưng chúng ta không có lực lượng lao động lành nghề thì chúng ta không thể khai thác tốt được các giá trị của tôn giáo trong hoạt động du lịch được

                Đây là những vấn đề tiêu biểu nhất trong quá trình khai thác một điểm tôn giáo, tín ngưỡng phục vụ kinh doanh du lịch. Để những điểm tôn giáo, tín ngưỡng không ngủ yên trong những giá trị mà lịch sử mang lại cho nó, cần trao cho nó một sức sống đương đại. Sức sống đó được mang lại bởi hoạt động du lịch. Nhưng để đảm bảo cho hoạt động du lịch diễn ra có hiệu quả, không làm tổn hại đến những gì mà quá khứ để lại, không khơi nguồn cho những mâu thuẫn xã hội, cần một tầm nhìn chiến lược trong công tác quản lý. Bài viết đưa ra một số hướng giải quyết cho những vấn đề cụ thể thường phát sinh tại điểm tôn giáo, tín ngưỡng có sự tham gia của hoạt động du lịch với mong muốn hoạt động du lịch tâm linh bước đầu nhen nhóm ở Việt Nam sẽ có một hướng đi đúng mục đích – con đường giúp con người tìm về với bản thể, vươn tới những điều tốt đẹp hơn. Đây là xu hướng của du lịch hiện đại trên thế giới và nếu được quản lý đúng đắn ở Việt Nam nó sẽ mang đến những giá trị mới cho du lịch nước nhà.

     TÀI LIỆU THAM KHẢO:

    1)    Luật Du lịch 2005 & Văn bản hướng dẫn thi hành, NXB Chính trị Quốc gia 2013.

    2)   Ngô Đức Thịnh (cb) 2011: Bảo tồn, làm giàu và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam trong đổi mới và hội nhập, NXB Khoa học Xã hội.

    3)   Ngô Đức Thịnh (cb) 2012: Tín ngưỡng & Văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam, NXB Trẻ.

    4)   Ngô Đức Thịnh (cb) 2013: Văn hóa thờ Nữ thần-Mẫu ở Việt Nam và Châu Á – Bản sắc và Giá trị, NXB Thế giới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 5 Mẹo Chụp Ảnh “so Deep” Khi Đi Du Lịch Một Mình
  • Tất Tần Tật Các Cách Pose Dáng Cực Chất Khi Đi Du Lịch Giúp Bạn Thu Về Những Bức Ảnh “Triệu Like”
  • Cách Chụp Ảnh Du Lịch Thần Thánh Giúp Người “Xấu Ma Chê Quỷ Hờn” Cũng Được Nghìn Like
  • Bí Kíp Tạo Dáng Đi Biển Để Có Bộ Ảnh “Triệu Like” + “So Deep” — 2022
  • Du Lịch Sài Gòn Nên Đi Đâu, Ăn Gì Và Vào Thời Gian Nào Tốt Nhất?
  • Những Yếu Tố Nào Ảnh Hưởng Đến Văn Hóa Ẩm Thực Mỗi Quốc Gia?

    --- Bài mới hơn ---

  • Mối Tương Quan Giữa Văn Hóa Và Du Lịch
  • Ảnh Hưởng Của Văn Hóa Trung Quốc Đến Việt Nam Như Thế Nào ?
  • Du Lịch Văn Minh Là Gì? 7 Lưu Ý Dành Cho Những Du Khách Có Trách Nhiệm
  • Vật Dụng Cần Nhất Thiết Khi Đi Du Lịch Gồm Những Gì?
  • Những Lưu Ý Khi Mua Vé Máy Bay Đi Du Lịch Nhật Bản
  • Mỗi một đất nước sẽ có lối sống, phong tục tập quán, ngôn ngữ, văn hóa riêng. Nền ẩm thực mỗi nước cũng mang đặc trưng vùng miền. Cuộc sống ngày càng hiện đại nên những nét truyền thống sẽ có nhiều sự thay đổi. Trong số đó, ẩm thực là điều dễ nhận thấy. Vậy những yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa ẩm thực là gì?.

    Yếu tố lịch sử ảnh hưởng đến văn hóa ẩm thực

    Ngay từ thuở sơ khai, ăn uống được coi là nhu cầu thiết thực nhất để duy trì sự sống của con người. Như đã biết, thời kỳ cổ đại con người sinh sống bằng săn bắt và hái lượm. Vì thế nguồn thức ăn cũng khan hiếm không có quyền lựa chọn nhiều.

    Sau giai đoạn đầu, con người dần biết cách trồng trọt, chăn nuôi. Vì thế nguồn thực phẩm trở nên nhiều hơn để đáp ứng đủ nhu cầu ăn no của con người thời cổ đại. Trong quá trình dài, trải qua nhiều giai đoạn tiến hóa, thế giới ngày nay văn minh hiện đại hơn nhiều. Do đó, lĩnh vực ẩm thực cũng hình thành một cách đa dạng hơn.

    Ngày nay, lịch sử của mỗi quốc gia đều gắn liền với nét văn hóa ẩm thực. Trước đây, đã có rất nhiều đất nước trải qua thời kỳ chiến tranh của giặc ngoại xâm. Nền ẩm thực nước nhà lúc bấy giờ được pha trộn, biến tấu cho phù hợp với khẩu vị tại đất nước ấy. Vì vậy, lịch sử hình thành và phát triển của đất nước là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa ẩm thực.

    Vị trí địa lý ảnh hưởng đến văn hóa ẩm thực

    Vị trí địa lý là yếu tố quyết định đến nguyên liệu của các món ăn. Thực tế cũng ta thấy rõ ràng rằng các món ăn của phương Đông khác biệt rất nhiều với phương Tây.

    Ví dụ như nước Việt Nam ta có nhiều dòng sông lớn, có phù sa màu mỡ cùng nền văn minh lúa nước. Các điểm ấy đã khiến nước ta nổi bật với các món ăn được chế biến từ gạo, khoai, ngô, đậu,… Còn nếu như các nước ở vùng biển thì ẩm thực lại là món ăn chế biến từ hải sản thơm ngon.

    Khí hậu có ảnh hưởng nhất định đến văn hóa ẩm thực

    Sự khác biệt về khí hậu của mỗi quốc gia, vùng miền sẽ quy định hương vị của món ăn. Ví dụ các quốc gia có khí hậu lạnh quanh năm thì dường như món ăn sẽ có chút cay the hoặc gia vị nêm nếm có tính nóng hơn. Vì như vậy sẽ tạo cảm giác ấm áp hơn trong ngày lạnh giá. Còn ở những nơi khí hậu nóng thì món ăn thường sẽ kết hợp với rau xanh, trái cây để món ăn thêm thanh mát hơn.

    Ở Việt Nam có khí hậu nóng ẩm, nhiệt đới gió mùa và phân biệt giữa 3 miền Bắc Trung Nam. Vì thế văn hóa ẩm thực người Việt mang đặc trưng riêng của mỗi vùng miền. Miền Bắc hương vị đậm đà, miền Trung vị chua cay còn miền Nam lại ngọt thanh nhẹ nhàng hơn. Chỉ nói đến đây ta cũng biết được khí hậu có ảnh hưởng như thế nào đến nền văn hóa ẩm thực ở mỗi nơi như thế nào rồi.

    Văn hóa ẩm thực ảnh hưởng bởi yếu tố ngoại lai

    Như đã nói, ẩm thực mỗi nước đều có nét đặc trưng riêng và nhờ vậy mà thu hút sự quan tâm của mọi người trên thế giới. Và trong nhiều năm trở lại đây, thế giới mở cửa. Việc giao lưu văn hóa, kinh tế giữa các nước trở nên dễ dàng hơn. Và đương nhiên, nền ẩm thực cũng có cơ hội vươn ra thế giới. Cũng chính vì điều này, ẩm thực nước nhà có dịp kế thừa tinh hoa ẩm thực từ bên ngoài. Có thể là cách chế biến, là gia vị mới, công thức mới.

    Tiếp thu là tốt nhưng mỗi quốc gia vẫn giữ được bản sắc văn hóa ẩm thực riêng của mình. Giống như Việt Nam, dù có hiện đại đến đâu thì những món ăn truyền thống vẫn luôn là niềm tự hào của đất nước. Có thể kể đến như bánh chưng, bánh giày, cốm, bánh cuốn, chả giò, phở,…

    Một số món ăn, trái cây bị ảnh hưởng bởi yếu tố vùng miền.

    Như chúng ta đã biết ở phía đông bắc bộ có loại trái cây đặc sản nổi tiếng là nhãn lồng Hưng Yên. Nhưng bạn có biết đặc sản đó bị ảnh hưởng bởi yếu tố thổ nhưỡng và nguồn nước.

    Tỉnh Thái Bình và tỉnh Hưng Yên cách nhau một con sông có tên là con sông Luộc. Cùng một giống nhãn khi trồng bên kia sông thuộc địa phận tỉnh Thái Bình thì trái nhãn không cho được vị ngọt và cùi dày hạt nhỏ như vùng đất thuộc tỉnh Hưng Yên.

    Hay mình lấy thêm một ví dụ nữa là tại tỉnh Hà Nam có món cá kho làng Vũ Đại rất nổi tiếng. Dù bạn có biết công thức kho , hay về tận tỉnh Hà Nam để học hỏi nhưng cuối cùng niêu cá bạn ko lại không thể có được vị như dân bản địa. Vì vậy rất nhiều người muốn mua cá kho làng Vũ Đại đã phải về tận nơi kho cá để mua hoặc đặt hàng từ trước.

    Như vậy, những yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa ẩm thực là khá nhiều. Mỗi quốc gia vẫn đang phát huy được giá trị truyền thống của đất nước và kế thừa tinh hoa thế giới. Việt Nam nổi bật về các món ăn, trở thành “thiên đường ẩm thực” thế giới biết đến. Việt Nam sở hữu nền ẩm thực đa dạng với vô vàn món ăn ngon, hấp dẫn mang bản sắc vùng miền.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cao Đẳng Văn Hóa Nghệ Thuật Và Du Lịch Sài Gòn Tuyển Sinh 2022
  • Xây Dựng Thành Phố Huế Văn Hóa Và Du Lịch Thông Minh
  • Văn Hóa Du Lịch Hà Nội
  • Du Lịch Văn Hóa Và Văn Hóa Du Lịch
  • Văn Hóa Du Lịch Là Gì? ⋆ Vietnam Tours 24/7
  • Ảnh Hưởng Của Văn Hóa Trung Quốc Đến Việt Nam Như Thế Nào ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Du Lịch Văn Minh Là Gì? 7 Lưu Ý Dành Cho Những Du Khách Có Trách Nhiệm
  • Vật Dụng Cần Nhất Thiết Khi Đi Du Lịch Gồm Những Gì?
  • Những Lưu Ý Khi Mua Vé Máy Bay Đi Du Lịch Nhật Bản
  • Vé Máy Bay Đi Đà Nẵng Giá Rẻ Vietjet, Vietnam Airlines, Bamboo Airways & Pacific Airlines
  • Vé Máy Bay Đi Đà Nẵng
  • Có thể giải thích lý do ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc tới Việt Nam với các nguyên nhân sau:

    Nguyên nhân lịch sử

    • Việt Nam đã trải qua ngàn năm bắc thuộc và rất nhiều cuộc đấu tranh để chống lại kẻ thù là “người hàng xóm to con” nay là Trung Quốc.
    • Chính những yếu tố lịch sử này đã tạo điều kiện tiếp xúc văn hóa giữa Việt Nam và Trung Quốc.

    Nguyên nhân thứ hai chính là vị trí địa lý: Nước ta và Trung Quốc có vị trí địa lý rất gần nhau không tránh khỏi những giao thoa về văn hóa.

    Cưới hỏi là chuyện trọng đại của đời người. Bạn có bao giờ thắc mắc liệu phong tục cưới hỏi của người Hoa như thế nào chưa? Có rất nhiều điều đặc biệt trong nghi lễ quan trọng này ở đất nước tỷ dân đấy. Bạn đã biết chưa?

    Những ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc đến Việt Nam

    Ảnh hưởng về mặt tư tưởng

    Nho giáo từ thời Khổng Tử cùng với Đạo giáo Trung Hoa ảnh hưởng rất lớn đến hệ tư tưởng của những người trí thức nước ta thời xưa.

    • Miếu thờ Khổng Tử xuất hiện thời nhà Lý sau một thời gian Nho giáo du nhập vào nước ta.
    • Nho giáo là hệ tư tưởng chính đời nhà Lê.
    • Đông Á Trung Hoa trở thành mô hình chính của ở chế độ quân chủ tập quyền.
    • Khoa cử được tổ chức quy củ.
    • Tầng lớp Nho sĩ ngày càng phát triển phải kể đến như Chu Văn An, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu,…

    Ảnh hưởng nghệ thuật

    Một trong những yếu tố mà văn hóa Trung Quốc ảnh hưởng đến Việt Nam chính là kiến trúc. Kiến trúc Trung Hoa có sự ảnh hưởng rất lớn đến các công trình lịch sử nổi tiếng của nước ta như: Văn Miếu Quốc Tử Giám, thành nhà Hồ, hoàng thành Thăng Long,…

    Điêu khắc nước ta cũng chịu ảnh hưởng nhất định từ nước bạn biểu hiện thông qua rất nhiều những bức tượng Phật, tượng rồng cùng rất nhiều vật điêu khắc khác.

    Hội họa đặc sắc của Trung Hoa không những có sức ảnh hưởng ảnh hưởng mạnh mẽ đến Việt Nam mà lan sang nhiều nước khác ở châu Á. Những bức bạch họa, bản họa, bích họa của Trung Quốc sống động như thật.

    Ảnh hưởng của Hán tự

    Nhân dân Việt Nam đã sáng tạo nên chữ Nôm trên cơ sở cải biến chữ Hán. Người trí thức xưa ai cũng biết chữ Nôm và giai đoạn đó nó được xem là Quốc ngữ. Tuy nhiên, không phải ai cũng học được loại chữ này vì nó rất khó so với bản gốc là tiếng Hán. Nguyễn Trải là một trong những nho sĩ rất am hiểu về chữ Nôm.

    Ảnh hưởng về chính trị xã hội

    • Tổ chức bộ máy chính quyền ở nước ta thời xưa khá giống với Trung Quốc với các tể tướng, tướng quân,…
    • Trang phục, kiểu tóc,… dân ta ngày xưa cũng chịu ảnh hưởng rất nhiều.
    • Tương đồng về những tư tưởng văn hóa như: âm dương, ngũ hành,…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mối Tương Quan Giữa Văn Hóa Và Du Lịch
  • Những Yếu Tố Nào Ảnh Hưởng Đến Văn Hóa Ẩm Thực Mỗi Quốc Gia?
  • Cao Đẳng Văn Hóa Nghệ Thuật Và Du Lịch Sài Gòn Tuyển Sinh 2022
  • Xây Dựng Thành Phố Huế Văn Hóa Và Du Lịch Thông Minh
  • Văn Hóa Du Lịch Hà Nội
  • Ảnh Hưởng Của Phật Giáo Với Con Người Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Ảnh Hưởng Của Phật Giáo Đến Đời Sống Tinh Thần Người Việt
  • Sự Du Nhập Của Phật Giáo Vào Nước Ta Và Ảnh Hưởng Của Nó Trong Tk 10
  • Luận Văn Tiểu Luận Ảnh Hưởng Của Triết Học Phật Giáo Đến Đời Sống Tinh Thần Của Người Việt Nam
  • Toàn Cảnh Khu Du Lịch Lá Phong Với Bộ Album Ảnh Cực Chất
  • Top 10 Địa Điểm, Khu Du Lịch Sinh Thái Đẹp Ở Bình Dương 2022
  • Từ khi du nhập Việt Nam đến nay, Phật giáo đã tồn tại và gắn liền với lịch sử dân tộc, nó ngấm sâu vào tư duy và trở thành một bộ phận văn hoá, nếp sống của người Việt. Vậy nó ảnh hưởng đến con người Việt Nam như thế nào? 1. Đặc điểm tư duy người Việt Nam ta trong truyền thống là hướng nội.

    Hướng ngoại là thiên về nghiên cứu thế giới vật chất bên ngoài. Hướng nội là thiên về nghiên cứu thế giới tinh thần bên trong. Thiền tông đã đề xuất chủ trương “dĩ tâm truyền tâm”. Do đạo Phật quan niệm vạn vật đồng nhất thể, nên bản thể vũ trụ cũng tiềm ẩn trong mỗi con người. Bởi vậy khi làm cho bản thể trong mỗi cá nhân hoà đồng với bản thể vũ trụ, thì ta và thế giới hoà làm một. Muốn đạt được điều đó thì phải có trí tuệ hay Phật học gọi là Bát Nhã. Nhưng để đi đến cái đó, mỗi người phải tự khai mở tâm mình, “hãy tự thắp đuốc lên mà đi”, mà bước đầu là phải có sự biến đổi về mặt đạo đức theo hướng thiện. Điều này hợp với người Việt với truyền thống nghiêng về trau dồi tâm tính, đạo đức luân lý hơn là học hỏi trau dồi tri thức hiện đại.

    Điểm này khiến người Việt trong cuộc sống đề cao cái tâm, lối sống tình cảm. Cách suy nghĩ và lối sống mang nặng màu sắc tình cảm, một mặt giúp nhân dân ta trong những thời hoạn nạn, thiên tai, địch hoạ… nhưng nó cũng làm hạn chế sự tiến bộ của khoa học – kỹ thuật.

    2. Đặc điểm tư duy người Việt là chú ý nhiều tới các quan hệ.

    Cùng một sự vật, hiện tượng chúng ta thường hoặc quan tâm đến cấu trúc, bản chất hoặc nghiên cứu những mối liên hệ, quan hệ với những sự vật , hiện tượng khác. Đương nhiên phương Đông chú trọng mối quan hệ nhiều hơn. Xuất phát từ “dịch”, “vô thường”, người phương Đông cho rằng không có gì là trường tồn, đứng yên mà vạn vật luôn vận động, biến đổi không ngừng. Vì vạn vật sinh sinh, hoá hoá, sắc sắc, không không nên cái ta thấy được chỉ là những mối liên hệ thấp thoáng giữa các trạng thái của sự vật trong quan hệ với những sự vật khác.

    Để chỉ những mối liên hệ, Phật giáo có luật nhân quả. Nhân quả là chỉ mối quan hệ phổ biến mọi sự vật, hiện tượng. Không có cái tôi độc lập, không có thế giới tác rời “cái tôi, không có “cuộc sống” tách rời – tất cả những cái đó là những tương tác chặt chẽ và chỉ bị tách rời nhau trong tưởng tượng. Do vậy mà người phương Đông, Việt Nam theo đạo Phật thường để ý nhiều đến mối quan hệ, chủ yếu cảm tính, đạo đức nên nhiều nhìn nhận sai lệch, có tính chủ quan duy ý trí. Do đó, cuộc sống người Việt Nam thường chú ý nhiều đến quan hệ họ hàng, làng xóm, xã hội sao cho khôn khéo, tế nhị.

    Chiều sâu ảnh hưởng của Phật giáo.

    Tư duy người Việt có thêm 1 loạt khái niệm lấy từ Phật giáo. Những khái niệm đó góp phần làm tăng những khái niệm mang tính triết lý của người Việt, khiến tư duy người Việt mang tính khái quát hơn, trừu tượng hơn. Ngoài ra, ảnh hưởng của Phật giáo lên cách tư duy còn thể hiện ở quan niệm về sự phát triển của vạn vật qua 4 giai đoạn: sinh (ra đời, xuất hiện) , trụ (tồn tại, hiện hữu), dị (phát triển, tiến hoá, biến đổi) và diệt (tử, chết, biến mất), còn ở con người đó là sinh, lão, bệnh, tử. Đó là sự phát triển tự nhiên, tất yếu của mọi sự vật, hiện tượng, mọi sự sống.

    Các khái niệm “vô thường”, “vô ngã” cũng ảnh hưởng nhiều tới hệ tư tưởng phong kiến Việt Nam. Theo quan niệm nhà Phật thì mọi sự vật, hiện tượng là sự kết hợp động của những yếu tố, động (Pháp), bởi vậy chúng luôn vận động không ngừng. Phật giáo đóng góp 1 cách nhìn nhận thế giới động, phù hợp với sự phát triển sự vật.

    Áp dụng triệt để luật vô thường vào việc phân tích con người, Phật giáo cho rằng người là kết hợp động của 5 yếu tố – ngũ uẩn, bởi vậy con người không có cái gọi là bản ngã mà là vô ngã. Cách nhìn này đã khiến con người sống một cách không sợ và vị tha.

    Khi quan sát thế giới bên ngoài, Phật giáo đã nhìn ra một mối quan hệ phổ biến, cơ bản giữa các sự vật, hiện tượng – đó là mối quan hệ nhân – duyên – quả. Thuyết này là sự phản ánh khái quát rút ra từ thế giới hiện tượng, đặ biệt là khi xem xét sự phát triển của tự nhiên. Cách nhận thức hợp lý này đã cung cấp cho người Việt một cách suy nghĩ mang tính chất nhân quả để nhìn con người, cuộc sống, vạn vật: “nhân nào, quả nấy”,”gieo gió, gặp bão”, “ở hiền gặp lành”….

    Các học giả đều cho rằng chưa có một học thuyết, một tôn giáo nào phân tích thế giới nội tâm, trong đó có tư duy sâu sắc như Phật giáo. Theo Phật học thì tư duy, ý thức của con người tựa như một dòng sông của ý niệm tuôn chảy không ngừng. Trong một sátna( thời gian búng ngón tay), tâm ý ta đã trải qua 960 lần chuyển niệm, trong thời gian một ngày đêm, nó trải qua 13 ức triệu niệm. Dưới dòng sông tuôn trào này, ở nơi sâu thẳm vô hình đâu đó là A lại da thức (Tạng thức) – nơi tàng trữ mọi mầm mống của vũ trụ. Tuy khó hình dung nhưng Phật giáo đã cung cấp cho ta một cái nhìn động về tư duy, ý thức. Phật giáo chỉ cho ta rằng muốn có tư duy, suy nghĩ đúng thì điều kiện cần là phải tập trung tư tưởng.

    Tư tưởng, tư duy, ý thức của con người giống như ngọn đèn. Nếu cứ để bình thường thì toả sáng 4 phương, nhưng nếu biết tập trung toàn bộ ánh sáng vào một điểm, hội tụ chúng lại, thì điểm này trở nên rất sáng và mạnh. Vai trò của Thiền đối với tư duy cũng giống như việc tập trung ánh sáng vậy. Nó là một phương pháp khoa học.

    Phật giáo còn dạy muốn suy nghĩ thật khách quan cần phải có cái tâm bình tĩnh, tỉnh táo. Tâm nhảy nhót như khỉ vượn, bị thiêu đốt bởi tham lam, hận thù, si mê, tâm đứng ở nhị kiến, thích và không thích, yêu và ghét, thì nhận thức không thể nào khách quan được. Tâm như vậy giống như mặt nước hồ qua trận cuồng phong làm nổi sóng, vẩn đục và không thể nào thấy được những viên cuội dưới đáy sông.

    Đạo Phật cũng đóng góp một khía cạnh phương pháp nhận thức quan trọng – đó là mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, tinh thần và tự nhiên hay tâm và vật. Một mặt thì tâm và vật không tách rời nhau. Không có vật thì cũng chẳng có tâm. Ngược lại, không có tâm thì vật như thế nào ta cũng không biết. Sở dĩ có vật là vật do ta đã quẳng cái tâm vào đó rồi.

    Mặt khác, không chỉ có vật chất, giới tự nhiên, vật luôn vận động mà ý thức, tinh thần, tâm cũng luôn vận động. Hai cái luôn vận động như vậy, cậy làm thế nào để nắm bắt, nhận thức được cái thứ hai. Đứng trước vấn đề này Phật giáo đã đưa ra giải pháp như đã trình bày là tập trung tư tưởng, giữa cho tâm yên tĩnh, tỉnh táo. Như vậy ở đây Phật giáo dùng cái tĩnh trong sáng được tập trung cao độ để nắm bắt cái động, “dĩ biến bất biến ứng vạn biến”. Đây là một vấn đề khá lý thú so với nhận thức thông thường.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luận Văn Ảnh Hưởng Của Tình Hình Kinh Tế , Chính Trị Đến Sự Phát Triển Du Lịch Ở Việt Nam
  • Tác Động Của Du Lịch Đến Kinh Tế
  • 10 Nguyên Tắc Du Lịch Một Mình
  • Là Người Trẻ, Hãy Thử Đi Du Lịch Một Mình Ít Nhất Một Lần Trong Đời
  • Xem Ngày Đẹp Đi Du Lịch Và Giờ Xuất Hành Tốt Nhất Tháng 1/2021 * Du Lịch Số
  • Quang Vinh Và Top Nhân Vật Có Ảnh Hưởng Tới Cộng Đồng Du Lịch Việt

    --- Bài mới hơn ---

  • Quảng Trị: Du Lịch Vĩnh Linh “thức Giấc” Trong Nắng Mới
  • Chia Sẻ Kinh Nghiệm Du Lịch Vịnh Vũng Rô Siêu Chi Tiết
  • Nước Suối Vĩnh Hảo Bình 20 Lít Chai 350Ml 600Ml Pet Gaz Vihawa 20 Lít
  • Chiêm Ngưỡng Các Vịnh Biển Thái Lan Đẹp Tuyệt Diệu
  • Vịnh Phang Nga Thái Lan, Vinh Phang Nga Thai Lan
  • Ca sĩ Quang Vinh hay travel blogger Rosie Nguyen là những người nổi tiếng trong cộng đồng du lịch Việt Nam với những chia sẻ, hình ảnh và thước phim du lịch đầy thú vị.

    Họ đều là những người mê dịch chuyển. Họ thích được như một cánh chim bay tự do trên bầu trời đầy nắng; hay được là một phần của thế giới dịch chuyển này để cảm nhận được sự hạnh phúc khi biết mình đang xê dịch. Và sau mỗi hành trình như thế, họ đều chia sẻ những kinh nghiệm hữu ích, trải nghiệm thú vị của bản thân để truyền cảm hứng du lịch cho tất cả mọi người trong cộng đồng du lịch Việt Nam.

    1. Quang Vinh – “Hoàng tử sơn ca” mê xê dịch

    Quang Vinh trong chuyến du lịch tới thiên đường Malpes. Ảnh: chúng tôi

    Nếu ghé vào xem trang facebook và instagram chàng hoàng tử sơn ca, chắc hẳn ai cũng phải ấn tượng trước số lượng người theo dõi khủng và những hình ảnh, kinh nghiệm du lịch được chia sẻ sau mỗi hành trình vi vu của anh.

    Bên cạnh đó, chương trình Quang Vinh Passport trên kênh Youtube của Quang Vinh cũng đang rất được yêu thích. Đối với nhiều phượt thủ, show truyền hình thực tế này quá quen thuộc khi chương trình đã được phát sóng từ tháng 11.2016. Những địa điểm được Quang Vinh lựa chọn trải dài từ Mũi Né, Đà Lạt đến nơi quen thuộc nhất là quê nhà chúng tôi Chưa dừng lại ở các thắng cảnh nội địa, anh còn vươn ra châu Á với các điểm đến thú vị.

    2. Trần Đặng Đăng Khoa và hành trình vòng quanh thế giới bằng xe máy

    Trần Đặng Đăng Khoa và hành trình vòng quanh thế giới bằng xe máy. Ảnh: chúng tôi

    Trần Đặng Đăng Khoa là cái tên nổi tiếng trong cộng đồng phượt thủ Việt. Chàng trai 30 tuổi này đã dám làm một điều phi thường đó là đi xe máy vòng quanh thế giới. Chuyến hành trình này bắt đầu từ ngày 1/6/2017. Sau một năm lên đường khám phá thế giới bằng xe máy, Trần Đặng Đăng Khoa đi hết 33.000 km, qua 30 quốc gia thuộc 3 châu lục và hành trình của anh vẫn tiếp tục.

    Với Khoa, đây không phải chuyến đi viển vông, nó là ước mơ được nuôi dưỡng trong hơn 20 năm. Trước chuyến đi định mệnh của cuộc đời, anh đã dành 7 năm để rong ruổi khắp Việt Nam và các nước lân cận bằng xe máy để tích luỹ kinh nghiệm.

    Hành trình vòng quanh thế giới bằng xe máy của Khoa như mang theo giấc mở của hàng triệu người trẻ Việt. Không chỉ chia sẻ những hình ảnh, câu chuyện dọc đường, trong từng câu chữ anh cũng giãi bày những chiêm nghiệm thú vị về cuộc sống.

    3. Trần Việt Phương – Travel blogger và Founder Yêu Máy Bay

    Sau khi trình làng tác phẩm đầu tay “Chạm ngõ thiên đường”, Trần Việt Phương (nickname: Travip) đã giã từ sự nghiệp viết lách để thực hiện niềm đam mê lớn nhất của mình chính là làm một travel blogger du lịch toàn thời gian.

    Và hành trình trở thành một travel blogger nổi tiếng như bây giờ của anh thực không dễ dàng gì. Giai đoạn đầu, anh gặp phải muôn vàn khó khăn nhưng chưa bao giờ anh có ý định từ bỏ. Cuối cùng, những nỗ lực, công sức của anh cũng đã được đền đáp xứng đáng khi mà website du lịch, kênh youtube và trang facebook Yêu Máy Bay do anh sáng lập nhận được được nhiều người biết đến và yêu thích. Đồng thời, những kinh nghiệm du lịch mà anh chia sẻ cũng là bài học hữu ích cho nhiều bạn trẻ Việt ưa xe dịch.

    4. Crystal Huyền Trang – CEO Tạp chí du lịch Wanderlust Tips

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khám Phá Du Lịch Quảng Bình 2022
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Vĩnh Hy 2 Ngày 1 Đêm
  • Khám Phá Những Điểm Du Lịch Ở Vĩnh Phúc Nổi Tiếng Nhất
  • Khám Phá Những Điểm Du Lịch Nổi Tiếng Ở Vĩnh Phúc
  • Các Tuyến Du Lịch Ở Vịnh Hạ Long
  • Du Lịch Việt Nam Sụt Giảm Do Ảnh Hưởng Của Virus Corona

    --- Bài mới hơn ---

  • 6 Điểm Đến Lý Tưởng Để Đi Du Lịch Vào Tháng 1 Ở Việt Nam
  • Khách Du Lịch Đến Việt Nam Tăng Vọt Trong Tháng 1/2018
  • Du Lịch Tháng 10 Ở Đâu Đẹp Và Lý Tưởng?
  • Tháng 10, Du Lịch Việt Nam Đón Lượng Khách Quốc Tế Cao Kỷ Lục
  • Top 10 Địa Điểm Du Lịch Tháng 11/2021 Không Nên Bỏ Lỡ
    • Chia sẻ

    Thống kê cho thấy, năm 2022, tổng lượng khách du lịch Trung Quốc ra nước ngoài là 170 triệu lượt người (so với 20 triệu tại thời điểm diễn ra dịch SARS năm 2003) với tổng chi tiêu lên đến 260 tỉ USD (theo ANZ). Các quốc gia Đông Nam Á, Nhật Bản, Hàn Quốc là những quốc gia chịu ảnh hưởng nhiều từ sự sụt giảm khách du lịch từ Trung Quốc, đặc biệt là Thái Lan với tỷ trọng đóng góp của ngành du lịch trên GDP ở mức 11,2%.

    Việt Nam cũng không phải ngoại lệ, khi số liệu từ Tổng cục Du lịch cho thấy, lượng khách Trung Quốc đến Việt Nam trong năm 2022 tính theo từng tháng luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu khách quốc tế, trung bình 30-50%. Trước khi các lệnh cấm đón khách từ vùng dịch được ban hành, trong tháng 1/2020, ngành du lịch Việt Nam ghi nhận lượng khách quốc tế đến ước đạt gần 2 triệu lượt người, tăng 32,8% so với cùng kỳ năm trước, cao nhất từ trước đến nay. Trong đó, tăng mạnh nhất là khách Trung Quốc, tăng 72,6%, đạt 644.700 lượt khách.

    Tuy nhiên, từ khi dịch viêm phổi cấp bùng phát ở Trung Quốc, lượng khách từ thị trường này giảm nghiêm trọng. Đặc biệt, khoảng 1 tháng sau khi dịch viêm phổi cấp do chủng mới của virus Corona (nCoV) được phát hiện lần đầu tiên tại TP. Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc, ngày 27/1, Chính phủ nước này đã ban lệnh cấm các chuyến đi du lịch ra nước ngoài theo nhóm. Điều này kéo theo việc, từ ngày 28/1, nhiều doanh nghiệp du lịch Trung Quốc bắt đầu hủy tour đến Việt Nam.

    Đại diện Công ty du lịch Vietravel thông tin dịp Tết Nguyên đán 2022, Vietravel đã hủy khoảng 60 đoàn khách Trung Quốc sang Việt Nam (khoảng 1.000 khách). Hiện tại công ty đã hủy tất cả tour từ Trung Quốc sang Việt Nam đến hết tháng 3/2020. Vị này dự đoán để tình hình có thể ổn định, dịch bệnh được kiểm soát và phục hồi thì phải đến khoảng tháng 6/2020. Do đó chắc chắn các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực du lịch thời gian tới sẽ gặp khó khăn và thiệt hại đáng kể.

    Tương tự, sự bùng phát mạnh mẽ của virus Corona trong thời gian gần, cùng với khuyến cáo của các cơ quan chức trách về việc cấm tụ tập ở những địa điểm đông người như sân bay, trạm tàu, trạm xe buýt và cả các nhà hàng hay khu vực vui chơi giải trí cũng khiến nhu cầu đi lại, du lịch của khách hàng nội địa sụt giảm đáng kể.

    Khách Việt Nam cũng sẽ ngần ngại trước nhiều tour du lịch nước ngoài. Đặc biệt các tour đi Trung Quốc tính đến thời điểm này đã hủy hết, thậm chí nhiều công ty lữ hành còn hủy tour Trung Quốc đến hết tháng 3 để nghe ngóng tình hình. Tính đến thời điểm hiện tại, 142 lượt khách du lịch quốc tế đến Việt Nam đã hủy tour, mặt khác 1.663 lượt khách Việt Nam cũng đã hủy tour đi du lịch nước ngoài, chủ yếu đăng ký đi du lịch Trung Quốc.

    Báo cáo tại cuộc họp, về công tác phòng, chống dịch bệnh viêm đường đường hô hấp cấp do chủng mới của virus Corona của UBND TP. Hà Nội, Giám đốc Sở Du lịch TP Trần Đức Hải cho biết, tính riêng tại TP đã có hơn 12 nghìn trường hợp hủy phòng khách sạn; hơn 3100 khách lữ hành hủy đến các lễ hội. Nhìn chung tại các điểm đến du lịch đều giảm từ 30-50% lượng khách.

    Không chỉ khách Trung Quốc sụt giảm mạnh, mà lượng khách nước ngoài đến Việt Nam từ các thị trường Âu, Mỹ cũng đang có xu hướng hủy tour do lo ngại Việt Nam nằm trong vùng dịch.

    Một số điểm đến du lịch như Thái Lan, Indonesia và Việt Nam sẽ phải đối mặt với sự sụt giảm du khách đến từ châu Âu, Úc, Mỹ,… do khách đến từ các quốc gia này có khả năng cao sẽ hủy hoặc hoãn thời gian du lịch do ảnh hưởng của dịch bệnh.

    Khu vực Đông Nam Á, sau một giai đoạn tăng trưởng mạnh mẽ về thu hút khách quốc tế (138 triệu khách quốc tế trong năm 2022 với tỷ lệ tăng trưởng kép hàng năm đạt mức ấn tượng 7,8% trong vòng 9 năm trở lại đây) thì dự kiến trong thời gian tới sẽ phải đối mặt với sự sụt giảm khách quốc tế tương đối lớn.

    Ông Cao Trí Dũng, Chủ tịch Hiệp hội Du lịch cũng bày to quan điểm, lo ngại dịch viêm phổi virus Corona ảnh hưởng ngày càng lớn đến ngành du lịch, không chỉ khách Trung Quốc suy giảm, mà các nguồn khách khác cũng bị ảnh hưởng, như khách Hàn Quốc, Thái Lan, Đài Loan giảm từ 10 – 30%, khách nội địa cũng giảm.

    Dịch viêm phổi cấp do virus Corona khởi phát tại Vũ Hán từ tháng 12/2019, lan ra 31 tỉnh thành Trung Quốc. Thời gian ủ bệnh trong khoảng 14 ngày, virus có thể lây lan qua dịch thể khi ho và hắt hơi trước khi xuất hiện các triệu chứng giống những bệnh viêm đường hô hấp khác.

    Cơ quan y tế Hồ Bắc sáng nay (4/2) cho biết hiện đã có thêm 64 người chết vì dịch viêm phổi do virus Corona tại Trung Quốc, qua đó nâng tổng số trường hợp tử vong trên toàn cầu lên 426 người (425 người ở Trung Quốc và 1 người ở Philippines)

    Theo số liệu được cập nhật, hiện trên thế giới đã xác nhận 20.622 trường hợp nhiễm bệnh do virus Corona, trong đó bao gồm: 20.438 người ở Trung Quốc, 15 người ở Hong Kong, 8 người ở Ma Cao, 10 người ở Đài Loan, 96 người ở các nước châu Á khác, 21 người ở châu Âu, 15 người ở Bắc Mỹ, 12 người ở châu Đại Dương và 7 người ở các nước khác.

    Tại Việt Nam, tính đến ngày 4/2 đã ghi nhận 9 trường hợp mắc virus corona. Cả nước đã có tổng số 304 trường hợp nghi ngờ đã được cách ly theo dõi, trong đó có 214 trường hợp đã xét nghiệm loại trừ, còn 90 trường hợp nghi ngờ đang được cách ly điều trị chờ kết quả xét nghiệm, phòng chống lây nhiễm tại cơ sở y tế. Số tiếp xúc gần đang theo dõi là 270 trường hợp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giới Thiệu Du Lịch Việt Nam Tại Singapore
  • Tăng Cường Hợp Tác Du Lịch Việt Nam Singapore
  • Tải Về Du Lịch Việt Nam Qua 26 Di Sản Thế Giới Epub
  • Du Lịch Việt Nam Qua 26 Di Sản Thế Giới
  • Để Du Lịch Việt Nam Phát Triển Bứt Phá
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100