Các Vùng Du Lịch Việt Nam

--- Bài mới hơn ---

  • 4 Địa Điểm Du Lịch Gần Hà Nội Siêu Hấp Dẫn
  • 4 Địa Điểm Du Lịch Gần Hà Nội Trong 1 Ngày Vô Cùng Lý Tưởng
  • Top 4 Địa Điểm Du Lịch Biển Gần Hà Nội Đẹp Rẻ Nên Đến Nhất
  • Gợi Ý 4 Địa Điểm Du Lịch Gần Hà Nội 2 Ngày 1 Đêm Cho Gia Đình
  • 4 Địa Điểm Du Lịch Đẹp Gần Gia Lâm Hà Nội
  • Bạn đã từng đi hết lãnh thổ Việt Nam sẽ thấy mỗi vùng du lịch có những đặc sắc riêng tạo ra bản sắc vùng không thể trộn lẫn.

    Lược đồ các vùng du lịch Việt Nam

    Với tiềm năng của mình, Việt Nam đề ra chiến lược phát triển du lịch theo hướng chuyên nghiệp,hiện đại, có trọng tâm, trọng điểm; chú trọng phát triển theo chiều sâu đảm bảo chất lượng và hiệu quả, khẳng định thương hiệu và khả năng cạnh tranh.Phát triển du lịch bền vững gắn chặt với việcbảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc; giữ gìn cảnh quan, bảo vệ môitrường; bảo đảm an ninh, quốc phòng, trật tự an toàn xã hội; đảm bảo hài hòa tương tác giữa khai thác phát triển du lịch với bảo vệ giá trị tài nguyên tựnhiên và nhân văn. Để đặt được mục tiêu đó, các chính sách về du lịch đã được đề ra và trong đó lãnh thôt nước ta được chia làm 7 vùng du lịch trọng điểm (Theo văn bản số 210/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 22 tháng 1 năm 2013 “Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển du lịch VIệt Nam năm 2022, tầm nhìn năm 2030”).

    Ruộng bậc thang, khí hậu trong lành là hai đặc điểm nỏi bật của vùng du lịch Trung du, miền núi Bắc Bộ (ảnh ST)

    2. Vùng đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc gồm 11 tỉnh/thành phố: Hà Nội, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, TháiBình, Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định, Hải Phòng và Quảng Ninh.

    Quảng Ninh, điểm nhấn của vùng du lịch đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc (ảnh ST)

    3. Vùng Bắc Trung Bộ gồm 6 tỉnh, thành phố: ThanhHóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế.

    Huế, điểm du lịch quen thuộc của vùng Bắc Trung Bộ – Ảnh chúng tôi

    gồm 8 tỉnh, thànhphố: Thành phố Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa,Ninh Thuận, Bình Thuận.

    Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ với Đà Nẵng là điểm nhấn (ảnh ST)

    Đây là vùng với văn hóa đặc sắc của bà con dân tộc Tây Nguyên (ảnh ST)

    gồm 6 tỉnh, thành phố: Thành phốHồ Chí Minh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh.

    Thành Phố Hồ Chí Minh, trái tim của miền Nam trung bộ một địa danh du lịch hết sức lí thú (ảnh ST)

    gồm 13 tỉnh, thànhphố: Thành phố Cần Thơ, Long An, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Cà Mau, BạcLiêu, Sóc Trăng, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Tiền Giang, Hậu Giang.

    Đây là cùng nước nổi với những chợ nổi thu hút đông đảo khách du lịch (ảnh ST)

    Nếu bạn là người đam mê du lịch, thích trải nghiệm và đam mê khám phá thì Phòng vé máy bay Việt Nam VHA sẵn sàng đồng hành cùng bạn trên tất cả mọi chuyến bay để thỏa sức khám phá các vùng du lịch Việt Nam. Hãy gọi đến số Hotline 1900 58 58 90 của chúng tôi bất cứ lúc nào bạn cần hộ trợ về dịch vụ hàng không.

    Bạn có thể săn vé máy bay giá rẻ hoặc vé máy bay 0 đồng đến bất cứ nơi đâu từ phòng vé máy bay giá rẻ trực tuyến Việt Nam VHA để bắt đầu cuộc hành trình chinh phục và khám phá khắp nơi bạn muốn.

    Website BÁN VÉ MÁY BAY TRỰC TUYẾN : http://vha.vn

    FANPAGE : https://www.facebook.com/PHONGVEMAYBAYVHA/

    CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI VHA VIỆT NAM

    Add : Số 5/3 Lệ Mật Str., Hà Nội

    Add : P103 TT Bô Công An, Lane 198 Xã Đàn Str., Hà Nội

    Add : 232 Nguyễn Thái Bình Str., Hồ Chí Minh

    Add : 680 Bình Giã, phường 10, TP Vũng Tầu

    Hotline : 1900585890

    Tel HAN: (84-24)32058989

    Tel SGN: (84-8) 88 14 33 88

    Fax : (84-24) 36.950.283

    Mail : [email protected]

    Map : https://goo.gl/maps/gBZFFe8o6jRLnHyaA

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Điều Đặc Sắc Nhất Đến Từ 7 Vùng Du Lịch Việt Nam
  • Đặc Sắc Ba Vùng Du Lịch Của Kiên Giang
  • Vùng Du Lịch Của Việt Nam
  • 20 Khoảnh Khắc Cho Thấy Ran
  • 20 Địa Điểm Du Lịch Thú Vị Tại Đà Nẵng Và Gần Đà Nẵng
  • Các Vùng Du Lịch Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Chia Sẻ Kinh Nghiệm Du Lịch Iran Tự Túc
  • Quy Hoạch Chung Xây Dựng Khu Du Lịch Quốc Gia Mộc Châu
  • Du Lịch Hà Nội Nên Ở Khách Sạn Nào
  • Du Lịch Huế Ăn Gì “ngon
  • Cho Thuê Xe Du Lịch Giá Rẻ Đi Tam Đảo Từ Hà Nội
  • Các vùng du lịch Việt Nam là tiêu chí phân vùng trên cơ sở tuyến hay điểm du lịch và dựa trên sự liên kết những điểm tương đồng hay các điểm du lịch. Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2022 chia ra 7 vùng du lịch thay vì 3 vùng như chiến lược đến năm 2010, các vùng du lịch gồm: Trung du miền núi phía Bắc, vùng đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc, vùng Bắc Trung Bộ, vùng duyên hải Nam Trung Bộ, vùng Tây Nguyên, vùng Đông Nam Bộ và vùng Tây Nam Bộ.

    Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030” đã được thủ tướng chính phủ Việt Nam phê duyệt ngày 30/12/2011

    Các tiêu chí phân vùng du lịch (Việt Nam)

    • Loại hình sản phẩm du lịch độc đáo.
    • Điều kiện môi trường tự nhiên về du lịch.
    • Điều kiện môi trường nhân văn, đặc biệt là các di sản văn hóa, lịch sử, các lễ hội truyền thống.
    • Định hướng phát triển kinh tế – xã hội, phát triển đô thị hóa và mức thu nhập bình quân đầu người.
    • Điều kiện kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật chuyên ngành, đặc biệt là hệ thống khách sạn, nhà hàng, tổ chức vui chơi giải trí, đi lại, thông tin liên lạc.

    “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030” ngày 22/1/2013 xác định rõ Việt Nam có 7 vùng du lịch với 24 trung tâm du lịch như sau:

    Bao gồm 14 tỉnh Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Yên Bái, Phú Thọ, Lào Cai, Tuyên Quang, Hà Giang, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn và Bắc Giang. Vùng này có 5 trọng điểm du lịch là:

    1. Sơn La – Điện Biên: gắn với Mộc Châu, hồ Sơn La, cửa khẩu quốc tế Tây Trang, di tích lịch sử Điện Biên Phủ và Mường Phăng.
    2. Lào Cai gắn với cửa khẩu quốc tế Lào Cai, khu nghỉ mát Sa Pa, Phan Xi Phăng và vườn quốc gia Hoàng Liên.
    3. Phú Thọ gắn với lễ hội Đền Hùng và hệ thống di tích thời đại Hùng Vương, du lịch hồ Thác Bà.
    4. Thái Nguyên – Lạng Sơn gắn với hồ Núi Cốc, di tích ATK Định Hóa, Tân Trào, khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng, khu nghỉ mát Mẫu Sơn.
    5. Hà Giang gắn với công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn, cảnh quan Mèo Vạc, Mã Pí Lèng, Na Hang…

    Gồm Thủ đô Hà Nội và các tỉnh Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định, Hải Phòng và Quảng Ninh, gồm 3 trọng điểm du lịch là:

    1. Thủ đô Hà Nội gắn với hệ thống di tích lịch sử văn hóa nội thành và các cảnh quan tự nhiên vùng phụ cận.
    2. Quảng Ninh – Hải Phòng gắn với cảnh quan biển đảo Đông Bắc đặc biệt là Hạ Long – Cát Bà, Vân Đồn, Đồ Sơn.
    3. Ninh Bình gắn với Tam Cốc – Bích Động, Hoa Lư, Tràng An, Vân Long, Cúc Phương, Tam Chúc – Ba Sao và quần thể di tích, cảnh quan vùng phụ cận.

    Gồm các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế. Vùng này có 3 địa bàn trọng điểm du lịch là:

    1. Thanh Hóa và phụ cận gắn với điểm du lịch quốc gia Thành Nhà Hồ, Lam Kinh, Bến En và đô thị du lịch Sầm Sơn.
    2. Nam Nghệ An – Bắc Hà Tĩnh gắn với Cửa Lò, Kim Liên, Đồng Lộc, cửa khẩu Cầu Treo, núi Hồng – sông Lam, Xuân Thành…
    3. Quảng Bình – Quảng Trị gắn với Phong Nha – Kẻ Bàng, biển Cửa Tùng – Cửa Việt, đảo Cồn Cỏ, cửa khẩu Lao Bảo và hệ thống di tích chiến tranh chống Mỹ.
    4. Thừa Thiên Huế

    Gồm các tỉnh Quảng Nam, TP. Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận. Vùng này có 3 địa bàn trọng điểm du lịch là:

    1. Đà Nẵng – Quảng Nam gắn với Sơn Trà, Hải Vân, Hội An, Mỹ Sơn…
    2. Bình Định – Phú Yên – Khánh Hòa gắn với các bãi biển Phương Mai, Đầm Ô Loan, vịnh Nha Trang, Cam Ranh…
    3. Bình Thuận gắn với biển Mũi Né, đảo Phú Quý…

    gồm các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng. Vùng này có 3 trọng điểm du lịch là:

    1. Thành phố Đà Lạt gắn với hồ Tuyền Lâm, Đan Kia – Suối Vàng.
    2. Đắk Lắk gắn với vườn quốc gia Yokđôn và không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
    3. Gia Lai – Kon Tum gắn với cửa khẩu quốc tế Bờ Y, Măng Đen, Yaly.

    Gồm TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Phước, Tây Ninh. Vùng này có 3 trọng điểm du lịch:

    1. Thành phố Hồ Chí Minh gắn với khu rừng sác Cần Giờ và hệ thống di tích lịch sử văn hóa nội thành.
    2. Tây Ninh gắn với cửa khẩu quốc tế Mộc Bài, núi bà Đen, hồ Dầu Tiếng.
    3. Thành phố Vũng Tàu gắn với Long Hải, Phước Hải, Côn Đảo.

    Gồm các tỉnh Long An, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Tiền Giang, Hậu Giang và TP. Cần Thơ. Vùng này có 4 trọng điểm du lịch:

    1. Tiền Giang – Bến Tre gắn với du lịch miệt vườn Thới Sơn.
    2. Cần Thơ – Kiên Giang gắn với biển đảo Phú Quốc, Hà Tiên.
    3. Đồng Tháp – An Giang gắn với Tứ giác Long Xuyên, vườn quốc gia Tràm Chim.
    4. Cà Mau gắn với U Minh – Năm Căn – mũi Cà Mau.
    • Theo viện nghiên cứu phát triển du lịch Việt Nam – Tài liệu Quy hoạch Du lịch.
    • Quy hoạch du lịchTrần Văn Thông – Đại học Văn Lang.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kinh Nghiệm Du Lịch Thái Lan Ghép Đoàn
  • Bản Đồ Tham Quan Phố Cổ Hội An Kèm Điểm Du Lịch Hấp Dẫn Nhất
  • Cẩm Nang Du Lịch Biển Vũng Tàu Bạn Cần Biết
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Vũng Tàu Mà Bạn Cần Biết
  • Du Lịch Yogyakarta Indonesia Nên Tham Quan Gì?
  • Vùng Du Lịch Của Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Đặc Sắc Ba Vùng Du Lịch Của Kiên Giang
  • Những Điều Đặc Sắc Nhất Đến Từ 7 Vùng Du Lịch Việt Nam
  • Các Vùng Du Lịch Việt Nam
  • 4 Địa Điểm Du Lịch Gần Hà Nội Siêu Hấp Dẫn
  • 4 Địa Điểm Du Lịch Gần Hà Nội Trong 1 Ngày Vô Cùng Lý Tưởng
  • 7 vùng du lịch của Việt Nam

    1. Vùng trung du, miền núi phía Bắc

    Bao gồm các tỉnh Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Yên Bái, Phú Thọ, Lào Cai, Tuyên Quang, Hà Giang, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn và Bắc Giang gắn với các hành lang kinh tế và các cửa khẩu quan trọng với Trung Quốc và Thượng Lào

    Các địa bàn trọng điểm: TP. Lào Cai – Sa Pa – Phan Xi Păng; TP. Điện Biên Phủ và phụ cận; TP. Lạng Sơn và phụ cận Đền Hùng, vùng ATK.

    2. Vùng đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc

    Gồm Thủ đô Hà Nội và các tỉnh Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định, Hải Phòng và Quảng Ninh gắn với vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc.

    Các địa bàn trọng điểm: tứ giác du lịch của vùng được xác định gồm: Hà Nội – Quảng Ninh – Ninh Bình và Hải Phòng

    3. Vùng bắc Trung Bộ

    Gồm các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế gắn với hệ thống cửa khẩu quốc tế với Lào, với du lịch hành lang Đông Tây và hệ thống biển, đảo Bắc Trung Bộ.

    Các địa bàn trọng điểm: Huế và phụ cận; Kim Liên – Vinh – Cửa Lò – Cầu Treo.

    4. Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ

    Gồm các tỉnh Quảng Nam, TP. Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận gắn với vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, với hệ thống biển đảo Nam Trung Bộ.

    Các địa bàn trọng điểm: Đà Nẵng – Quảng Nam, Nha Trang – Ninh Chữ, Phan Thiết – Mũi Né.

    5. Vùng Tây Nguyên

    Gồm các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng gắn với Tam giác phát triển Việt Nam – Lào – Campuchia

    Các địa bàn trọng điểm: TP Đà Lạt và phụ cận, TP. Buôn Mê Thuột và phụ cận; Khu vực Bờ Y- TX. Kon Tum – TP. Pleiku.

    6. Vùng Đông Nam Bộ

    Gồm TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Phước, Tây Ninh gắn với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và hành lang du lịch xuyên Á.

    Các địa bàn trọng điểm: Thành phố Hồ Chí Minh – Tây Ninh, Vũng Tàu – Côn Đảo.

    7. Vùng Tây Nam Bộ

    Gồm các tỉnh Long An, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Tiền Giang, Hậu Giang và TP. Cần Thơ gắn với du lịch tiểu vùng sông Mêkông.

    Các địa bàn trọng điểm: Vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL gồm Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang, Cà Mau, đồng thời cũng là tứ giác du lịch của châu thổ sông Cửu Long

    --- Bài cũ hơn ---

  • 20 Khoảnh Khắc Cho Thấy Ran
  • 20 Địa Điểm Du Lịch Thú Vị Tại Đà Nẵng Và Gần Đà Nẵng
  • Địa Điểm Du Lịch Đà Nẵng Hội An
  • Top 20 Địa Điểm Tổ Chức Du Lịch Mice Tại Đà Nẵng Lý Tưởng
  • Những Địa Điểm Du Lịch Ở Đà Nẵng Không Thể Bỏ Qua 2022
  • Các Bãi Biển Đẹp Từ Bắc Vào Nam Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Điểm Danh Các Bãi Biển Du Lịch Đẹp Ở Việt Nam
  • Âm Nhạc Cho Các Chuyến Đi: 10 Bài Hát Nghe Là Muốn Xách Balo Lên Và Đi
  • [Đăng Lại Các Bài Viết Hay Về Du Lịch Ở Mỗi
  • Tiến Tới Đại Hội Đảng Bộ Thành Phố Đà Nẵng Lần Thứ Xxii, Nhiệm Kỳ 2022
  • Lịch Sử Tổ Chức Bộ Máy Du Lịch Việt Nam
  • Điểm danh các bãi biển đẹp từ Bắc vào Nam Việt Nam

    VietsenseTravel xin giới thiệu với bạn đọc các bãi biển đẹp từ Bắc vào Nam Việt Nam

    Mách Bạn 10 Trải Nghiệm Cho Chuyến Du Lịch Côn Đảo Dịp Lễ

    Địa đầu Móng Cái có bãi biển Trà Cổ: Vốn dĩ xưa kia biển chỉ là một eo biển nhỏ, phải vượt qua đầm lầy mới vào tới nơi, chạy dài theo hướng Đông Bắc – Tây Nam. Một mặt hướng về Vịnh Bắc Bộ, một mặt nhìn sang Trung Quốc.

    Đến Hạ Long có Tuần Châu, Quan Lạn, Bãi Cháy: Là ba bãi biển tiêu biểu thỏm sâu trong hệ thống các hòn đảo nhỏ. Chúng là những bãi biển tiến, biển lùi được hình thành do sự kiến tạo của tự nhiên cách đây khoảng 500 triệu năm trở về trước.

    Sầm Sơn ở Thanh Hóa: Cách trung tâm thành phố Thanh Hóa khoảng 16 km về hướng Đông, được coi là vùng biển có những con sóng dữ dằn đứng đầu trên cả nước.

    Cửa Lò ở Thành phố Vinh: Là một trong những bãi biển nổi tiếng thuộc khu vực Bắc Trung Bộ, biết đến với bãi biển dài và trong veo, sóng yên tĩnh trời nắng cao long lanh mặt biển.

    Hà Tĩnh có Thiên Cầm: Bãi biển lừng danh nằm tại chân núi Thiên Cầm, dưới có những làn sóng nhấp nhô, trên có bàn cờ tiên và dấu chân của người không lồ.

    Đồng Hới có Nhật Lệ: Trấn thủ tại cửa sông Nhật Lệ thuộc thành phố Đồng Hới tỉnh Quảng Bình, vẫn còn mang nhiều nét hoang sơ, mặt biển xanh ngắt, gió mát vi vu, ba bề chứa nhiều cảnh đẹp.

    Biển Lăng Cô ở Huế: Yên bình trên thị trấn Lăng Cô huyện Phú Lộc tỉnh Thừa Thiên Huế, một trong những bãi tắm nằm dưới chân đèo Hải Vân. Có chiều dài khoảng 10 km, cảnh quan hùng vĩ, bãi biển tuyệt đẹp.

    Đà Nẵng ta có Mỹ Khê là đẹp nhất: Nằm cách trung tâm thành phố không xa là mấy, nơi có con đường mát lộng gió biển, nơi có những hàng dừa thẳng đứng đung đưa, nơi có từng quán cà phê độc lạ không tưởng và là nơi có mọi góc nhìn đẹp nhất khi đứng trên cao.

    Nha Trang có Bãi Dương và bãi Hòn Chồng: Bản thân là hai thắng cảnh được hình thành bởi tự nhiên, thuộc khóm Hòn Chồng, phường Vĩnh Phúc. Bao gồm nhiều bãi đá xếp chồng lên nhau theo các hình thù kỳ lạ, vừa mang vẻ tự nhiên lại vừa đem đến những thú vui bất ngờ khi dạo biển.

    Phan Thiết có Đồi Dương – Thương Chánh: Chúng không chỉ là những bãi biển bình thường, thậm chí còn được người ta ví như là một công viên nước. Có cấu tạo thoải dần từ trên ra biển, kiến tạo thành một địa điểm không chỉ tắm biển mà còn vui chơi thư giãn.

    Vũng Tàu có bãi Sau, bãi Trước, bãi Dâu, bãi Dứa , ..v…v: Hầu hết các bãi biển thuộc Vũng Tàu đều hoang sơ, ít cây cối, nếu có thì lại ăn sâu vào đất liền khoảng 10m. Cát trắng mịn do hứng nắng nhiều, biển trong xanh nhờ phản chiếu tia nắng và sóng khá êm dễ dàng cho việc tắm biển.

    Cuối cùng là Cà Mau có Cát Bà , Phú Quốc, Côn Đảo: Cát Bà và Phú Quốc thì không còn gì để bàn, chúng đẹp miên man khiến nhiều đã đi chỉ muốn trở lại. Thế nhưng với du lịch Côn Đảo thì lại khác, biển nơi nàyđẹp ở từng hòn đảo nhỏ, hoang sơ ở từng khu vực và trong lành yên tĩnh trên từng bãi tắm.

    Và trên đấy chính là những bãi tắm tuyệt vời nhất chạy dọc từ Bắc xuống Nam, nếu để so sánh bãi biển nào đẹp nhất thì không thể tính toán được. Bởi vì, theo chương trình “Cái đẹp là do mỗi con mắt nhìn nhận của từng người”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 10 Bãi Biển Miền Bắc Nên Đến Hè Này: Cát Bà, Hòn Dấu, Thiên Cầm, Cô Tô
  • Điểm Danh Các Bãi Biển Đẹp Ở Miền Bắc Việt Nam Đáng Để Vi Vu
  • Top 5 Bãi Biển Đẹp Nhất Ở Miền Bắc
  • Top 5 Các Bãi Biển Đẹp Ở Miền Bắc Việt Nam Nên Đi Nhất 2022
  • Buffet Lễ Giỗ Tổ Và 30/4
  • Vùng Tây Bắc (Việt Nam)

    --- Bài mới hơn ---

  • Kinh Nghiệm Du Lịch Sihanoukville: Đi Lại, Ăn Ở & Chơi Gì?
  • Du Lịch Bụi Penang Malaysia
  • 11 Điểm Du Lịch Mùa Hè Ở Việt Nam Không Thể Bỏ Qua
  • Các Địa Điểm Hút Khách Du Lịch Nhất Tại Đảo Bali,cac Dia Diem Hut Khach Du Lich Nhat Tai Dao Bali
  • Hàng Loạt Các Địa Điểm Check
  • Vùng Tây Bắc hay Tây Bắc Bộ là vùng miền núi phía tây của miền Bắc Việt Nam, có chung đường biên giới với Lào và Trung Quốc. Vùng này là một trong 3 tiểu vùng địa lý tự nhiên của Bắc Bộ Việt Nam (2 tiểu vùng kia là Vùng Đông Bắc và Đồng bằng sông Hồng).

    Không gian địa lý của vùng Tây Bắc hiện còn chưa được nhất trí. Một số ý kiến cho rằng đây là vùng phía nam (hữu ngạn) sông Hồng. Một số ý kiến lại cho rằng đây là vùng phía nam của dãy núi Hoàng Liên Sơn. Nhà địa lý học Lê Bá Thảo cho rằng vùng Tây Bắc được giới hạn ở phía đông bởi dãy núi Hoàng Liên Sơn và ở phía tây là dãy núi Sông Mã.

    Địa hình Tây Bắc núi cao và chia cắt sâu, có nhiều khối núi và dãy núi cao chạy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam. Dãy Hoàng Liên Sơn dài tới 180 km, rộng 30 km, với một số đỉnh núi cao trên từ 2800 đến 3000 m. Dãy núi Sông Mã dài 500 km, có những đỉnh cao trên 1800 m. Giữa hai dãy núi này là vùng đồi núi thấp lưu vực sông Đà (còn gọi là địa máng sông Đà). Ngoài sông Đà là sông lớn, vùng Tây Bắc chỉ có sông nhỏ và suối gồm cả thượng lưu sông Mã. Trong địa máng sông Đà còn có một dãy cao nguyên đá vôi chạy suốt từ Phong Thổ đến Thanh Hóa, và có thể chia nhỏ thành các cao nguyên Tà Phình, Mộc Châu, Nà Sản. Cũng có các lòng chảo như Điện Biên, Nghĩa Lộ, Mường Thanh.

    Lịch sử hình thành vùng Tây Bắc bắt đầu từ cách đây 500 triệu năm và đến bây giờ vẫn tiếp tục. Thuở ban đầu, vùng này là biển và chỉ có một số đỉnh ở dãy Hoàng Liên Sơn và dãy Sông Mã là nổi lên trên mặt biển. Biển liên tục rút ra xa rồi lại lấn vào suốt hàng trăm triệu năm. Trong quá trình ấy, đã có những sự sụt lún mạnh, góp phần hình thành các tầng đá phiến và đá vôi. Vào cuối đại Cổ sinh (cách đây chừng 300 triệu năm), dãy Hoàng Liên Sơn và dãy Sông Mã đã được nâng hẳn lên. Địa máng sông Đà lúc đó vẫn chìm dưới biển. Cho đến cách đây 150 triệu năm, chu kỳ tạo núi Indochina làm cho hai bờ địa máng từ từ tiến lại gần nhau, khiến cho trầm tích trong địa máng uốn lên thành những nếp uốn khổng lồ, đồng thời làm cho tầng đá vôi có tuổi cổ hơn lại trồi lên trên tầng đá phiến, tạo thành những cao nguyên đá vôi ngày nay. Trong quá trình tạo núi, còn có sự xâm nhập của macma. Kết quả là, vùng Tây Bắc được nâng lên với một biên độ đến 1000 mét.

    Vì là địa máng, vùng vỏ rất động của trái đất, nên Tây Bắc là vùng có nguy cơ động đất cao nhất Việt Nam.

    Mặc dù nền khí hậu chung không có sự khác biệt lớn giữa các khu vực, nhưng sự biểu hiện của nó không giống nhau theo chiều nằm ngang và theo chiều thẳng đứng. Dãy núi cao Hoàng Liên Sơn chạy dài liền một khối theo hướng Tây Bắc – Đông Nam đóng vai trò của một bức trường thành ngăn không cho gió mùa đông (hướng đông bắc – tây nam) vượt qua để vào lãnh thổ Tây Bắc mà không bị suy yếu nhiều, trái với vùng Đông bắc có hệ thống các vòng cung mở rộng theo hình quạt làm cho các đợt sóng lạnh có thể theo đó mà xuống đến tận đồng bằng sông Hồng và xa hơn nữa về phía nam. Vì vậy, trừ khi do ảnh hưởng của độ cao, nền khí hậụ Tây Bắc nói chung ấm hơn Đông Bắc, chênh lệch có thể đến 2-3 O C. Ở miền núi, hướng phơi của sườn đóng một vai trò quan trọng trong chế độ nhiệt – ẩm, sườn đón gió (sườn đông) tiếp nhận những lượng mưa lớn trong khi sườn tây tạo điều kiện cho gió “phơn” (hay quen được gọi là “gió lào”) được hình thành khi thổi xuống các thung lũng, rõ nhất là ở Tây Bắc. Nhìn chung, trong điều kiện của trung du và miền núi, việc nghiên cứu khí hậu là rất quan trọng vì sự biến dạng của khí hậu xảy ra trên từng khu vực nhỏ. Những biến cố khí hậu ở miền núi mang tính chất cực đoan, nhất là trong điều kiện lớp phủ rừng bị suy giảm, và lớp phủ thổ nhưỡng bị thoái hoá. Mưa lớn và tập trung gây ra lũ nhưng kết hợp với một số điều kiện thì xuất hiện lũ quét; hạn vào mùa khô thường xảy ra nhưng có khi hạn hán kéo dài ngoài sức chịu đựng của cây cối.

    Về mặt hành chính, vùng Tây Bắc hiện nay gồm 6 tỉnh với diện tích trên 5,645 triệu ha (tỷ lệ 10,5% so với tổng diện tích cả nước) với 4.713.048 dân (tỷ lệ 15,5% so với tổng dân số cả nước), bình quân khoảng 88 người trên 1 cây số vuông.

      Mục dân số và diện tích ghi theo số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam trên trang Wikipedia của các tỉnh thành Việt Nam.

    Một số phần của Phú Thọ và 2 tỉnh Lào Cai, Yên Bái nằm ở hữu ngạn sông Hồng, do dòng sông chảy qua giữa địa phận các tỉnh này, song phạm vi hành chính của vùng Tây Bắc không bao gồm Phú Thọ, đôi khi 2 tỉnh Lào Cai, Yên Bái cũng được xếp vào Đông Bắc Bộ. Tuy nhiên, hiện nay trụ sở của Ban chỉ đạo Tây Bắc nằm ở thành phố Yên Bái, tỉnh lỵ của tỉnh Yên Bái.

    Về cơ bản, vùng Tây Bắc là không gian văn hóa của dân tộc Thái, nổi tiếng với điệu múa xòe tiêu biểu là điệu múa xòe hoa rất nổi tiếng được nhiều người biết đến. Mường là dân tộc có dân số lớn nhất vùng. Ngoài ra, còn khoảng 20 dân tộc khác như H’Mông, Dao, Tày, Kinh, Nùng,… Ai đã từng qua Tây Bắc không thể quên được hình ảnh những cô gái Thái với những bộ váy áo thật rực rỡ đặc trưng cho Tây Bắc. tây bắc là vùng có sự phân bố dân cư theo độ cao rất rõ rệt: vùng rẻo cao(đỉnh núi) là nơi cư trú của các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Mông – Dao, Tạng Miến,với phương thức lao động sản xuất chủ yếu là phát nương làm rẫy, phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên; vùng rẻo giữa(sườn núi) là nơi cư trú của các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer, phương thức lao động sản xuất chính là trồng lúa cạn, chăn nuôi gia súc và một số nghề thủ công; còn ở vùng thung lũng, chân núi là nơi sinh sống của các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Việt – Mường, Thái – Kadai,điều kiện tự nhiên thuận lợi hơn để phát triển nông nghiệp và các ngành nghề khác. sự khác biệt về điều kiện sinh sống và phương thức lao động sản xuất cũng gây ra sự khác biệt văn hóa rất lớn! mặc dù văn hóa chủ thể và đặc trưng là văn hóa dân tộc Mường.

    Năm 1014, tướng nước Đại Lý là Đoàn Kính Chí đem quân vào chiếm đóng châu Vị Long và châu Đô Kim (nay thuộc Tuyên Quang), vua Lý Thái Tổ sai con là Dực Thánh Vương đi đánh dẹp, quân Đại Lý đại bại, nhân cơ hội đó nhà Lý sáp nhập luôn khu vực ngày nay là Hà Giang vào Đại Cồ Việt.

    Năm 1159, nhân khi nước Đại Lý suy yếu, vua Lý Anh Tông và Tô Hiến Thành đã tiến hành thu phục vùng đất của các tù trưởng dân tộc thiểu số người Thái (châu Văn Bàn, châu Thủy Vĩ) ở bắc Yên Bái, nam Lào Cai vào lãnh thổ Đại Việt.

    Năm 1294, thượng hoàng Trần Nhân Tông, cùng Phạm Ngũ Lão, đi đánh bại Ai Lao thu nạp đất đai. Năm 1297, Trần Anh Tông sai Trần Nhật Duật đánh A Lộc (Ai Lao), Trần Quốc Tảng đánh Sầm Tử, Phạm Ngũ Lão đánh tan Ai Lao thu lại đất cũ ở sông Chàng Long. Năm 1301, Phạm Ngũ Lão đánh Ai Lao ở Mường Mai (Châu Mai, nay là đất Mai Châu). Các vùng đất thu nạp được thời kỳ này nhà Trần đặt làm huyện Mông đạo Đà Giang, đến đời thuộc Minh là đất hai huyện Mông và Tư Mang, sang thời nhà Lê sơ là toàn bộ châu Mộc (Mộc Châu (nay là Mộc Châu, Vân Hồ), Đà Bắc, Mã Nam (nay là huyện Sop Bao Lào)), và châu Mai phủ Gia Hưng.

    Năm 1329, thượng hoàng Trần Minh Tông đi đánh mán Ngưu Hống, thổ tù Mường Mỗi, tại Mang Việt đạo Đà Giang thu nạp đất châu Yên (Mang Việt), Phù Hoa, Mường Mỗi (châu Thuận) là các vùng đất nay là các huyện Yên Châu, Phù Yên, Thuận Châu, Tuần Giáo, Sơn La, Mai Sơn tỉnh Sơn La.

    Theo Minh sử, năm 1405, Đèo Cát Hãn dâng sớ lên triều đình nhà Minh tố cáo nhà Hồ đánh chiếm 7 trại Mãnh Man thuộc châu Ninh Viễn dưới quyền Đèo Cát Hãn, vốn thuộc phủ Lâm An của tỉnh Vân Nam, giết con rể của ông, bắt con gái của ông để khống chế. Trong các nguyên do mà nhà Minh viện ra khi sang đánh nhà Hồ có lý do này. Nhà Hồ lúc đó yếu thế phải trả lại Đèo Cát Hãn các trại này. Châu Ninh Viễn đến thời Lê sơ gọi là Mường Lễ.

    Đến năm 1431, Lê Lợi thu phụ Đèo Cát Hãn, có thêm châu Phục Lễ (Mường Lễ), vùng thượng lưu sông Đà do Đèo Cát Hãn cai quản, từng là châu Ninh Viễn của Vân Nam, nhập về. Mường Lễ sau đổi Thành Phục Lễ phủ An Tây gồmː đất Mường Lễ (châu Lai), Tuy Phụ (Mường Tè), Hoàng Nham (Mường Toong, Mường Nhé), Chiêu Tấn (Phong Thổ), Lễ Tuyền (Mường Boum), Hợp Phì (Xiềng My, nay là Giả Mễ huyện Kim Bình, Vân Nam), Khiêm Châu (Mường Tinh), Quảng Lăng (Mường La, nay là Mường Lạp huyện Kim Bình, Vân Nam), Tung Lăng (Phù Phang), Luân Châu (Mường Báng), Quỳnh Nhai (Mường Chăn).

    Năm 1467 Lê Thánh Tông thu nạp vùng sách Câu Lộng (Mã Giang) từ Ai Lao (nay là khoảng huyện Sông Mã tỉnh Sơn La).

    Năm 1478, vua Lê Thánh Tông, sau khi thu phục tiểu vương quốc Bồn Man đã sáp nhập vùng phía tây Sơn La (thượng lưu sông Mã, nay là khoảng các huyện Sốp Cộp, Sông Mã tỉnh Sơn La), các huyện phía tây Thanh Hóa, Nghệ An và tỉnh Hủa Phăn của Lào ngày nay vào đất Đại Việt. Đến thời Lê Thánh Tông, cơ bản vùng Tây Bắc Việt Nam đã hình thành và thuộc vào lãnh thổ Đại Việt. Và từ đây cho đến cuối thế kỷ 19, toàn bộ vùng Tây Bắc Việt Nam đều tương đương với cương vực của một địa danh duy nhất mang tên Hưng Hóa, ban đầu là thừa tuyên Hưng Hóa, rồi đến xứ Hưng Hóa, sau đó là trấn Hưng Hóa và cuối cùng là tỉnh Hưng Hóa.

    Đến cuối triều Lê trung hưng, trong những năm 1684- 1777, khoảng 7 châu của trấn Hưng Hóa Đại Việt, giáp giới với tỉnh Vân Nam đã bị mất về lãnh thổ Trung Quốc, gồm: Mường La-Quảng Lăng, Mường Tè-Tuy Phụ, Mường Tong-Hoàng Nham, Phong Thổ-Chiêu Tấn, Mường Boum hoặc M.Léo-Lễ Tuyền, Tché My (Xiềng My)-Hợp Phì, Khiêm Châu – Mường Tinh (M.Tía), Tung Lăng – Phù Phang (Pou Fang gần Mường Nhé (M.Nhié)) hoặc Quảng Lăng (Ta Leng Po).

    Năm 1768-1769, quân nhà Lê- Trịnh, tiến đánh Hoàng Công Chất cát cứ Mường Thanh của Lào Lung, thu nạp đất này lập ra châu Ninh Biên ( Điện Biên Phủ) thuộc trấn Hưng Hóa.

    Cũng cuối nhà Lê trung hưng, triều Lê Hiển Tông niên hiệu Cảnh Hưng 36 (1776), châu Mộc chia tách thành 3 châu làː châu Đà Bắc, châu Mộc (nay là huyện Mộc Châu và Vân Hồ), châu Mã Nam. Sau đó khoảng những năm 1780 đến đầu thời nhà Tây Sơn, Thổ tù các châu này vốn là anh em họ Xa, bất hòa. Thổ tù châu Mã Nam về theo châu Xiềng Khô của Vương quốc Luang Phrabang (Lào Lung). Từ đó vùng lãnh thổ của trấn Hưng Hóa Đại Việt nằm bên bờ nam sông Mã là châu Mã Nam (nay là khoảng huyện Sop Bao) tiếp giáp phía nam tỉnh Sơn La ngày nay trở thành lãnh thổ Lào, mà không còn thuộc Tây bắc Việt Nam nữa.

    Sang thời nhà Nguyễn vùng Tây Bắc Việt Nam là vùng lãnh thổ thuộc trấn Hưng Hóa (1802-1831) sau là tỉnh Hưng Hóa (1831-1884). Tuy nhiên, thời này vùng Tây Bắc Việt Nam không bao gồm các vùng lãnh thổ Hưng Hóa mất sang nhà Thanh Trung Quốc (7 châuː Tung Lăng, Quảng Lăng, Tuy Phụ, Hoàng Nham, Lễ Tuyền, Hợp Phì, Khiêm) và châu Mã Nam mất về Lào).

    Tháng Tư năm 1884 quân Pháp dưới sự chỉ huy của Thiếu tướng Brière de l’Isle mở cuộc hành chinh đánh lấy thành Hưng Hóa. Quân nhà Nguyễn cùng quân Cờ Đen thấy không giữ được nên nổi lửa đốt thành rồi bỏ ngỏ đồn lũy, rút lên mạn ngược (khu vực sau là các tỉnh Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái). Chiếm được Hưng Hóa, người Pháp cho phân định lại địa giới, cắt thêm những tỉnh mới cùng tiểu quân khu để dễ dàng cai trị: tháng 5 năm 1886 thành lập tỉnh Chợ Bờ (tức tỉnh Mường, sau đổi thành tỉnh Hòa Bình); ngày 7 tháng 1, 1899 thành lập đạo quân binh IV bao gồm Tiểu quân khu Yên Bái và Tiểu quân khu Lào Cai, Tiểu quân khu Vạn Bú… Lào Cai là đạo lỵ (về sau đổi thành các tỉnh dân sự như: tỉnh Yên Bái (1895), tỉnh Vạn Bú (1895, sau đổi thành tỉnh Sơn La), tỉnh Lào Cai (tháng 7 năm 1907) và tỉnh Lai Châu (tháng 6 năm 1909)…

    Sau khi cắt đi 16 châu, 4 phủ và hai huyện Trấn Yên, Văn Chấn để thành lập đạo quan binh IV với các tiểu quân khu, khu quân sự… Tỉnh Hưng Hoá chỉ còn lại huyện Tam Nông và huỵện Thanh Thuỷ. Toàn quyền Đông Dương đã điều chỉnh một số huyện của tỉnh Sơn Tây sang, cộng với 2 huyện còn lại để thành lập tỉnh Hưng Hoá mới.

    Năm 1887, Pháp ký kết với nhà Thanh công ước Pháp-Thanh hoạch định biên giới, quy định cắt toàn bộ khu vực lãnh thổ châu Chiêu Tấn phủ An Tây tỉnh Hưng Hóa nhà Nguyễn (tức là khu vực các huyện Sìn Hồ, Phong Thổ, Tam Đường, Nậm Nhùn tỉnh Lai Châu, huyện Bát Xát tỉnh Lào Cai) về cho nhà Thanh. Khu vực này cùng với khu vực 6 châu phủ An Tây Đại Việt đã mất vào thời nhà Lê là Mường Tè (Tuy Phụ), Mường Nhé (Hoàng Nham), Mường Chà (Khiêm Châu), Hợp Phì, Lễ Tuyền, Tung Lăng, Mường La (Quảng Lăng) vốn là đất thế tập tự trị của dòng họ Đèo người Thái trắng. Châu Chiêu Tấn, đương thời do Đèo Văn Trị cần vương kháng Pháp cai quản, bị Pháp chuyển cho nhà Thanh.

    Ngày 8 tháng 9 năm 1891, ba huyện Sơn Vi, Thanh Ba, Phù Ninh thuộc phủ Lâm Thao, tỉnh Sơn Tây nhập vào tỉnh Hưng Hoá.

    Ngày 9 tháng 12 năm 1892 huyện Cẩm Khê thuộc phủ Lâm Thao, tỉnh Sơn Tây nằm trong địa bàn tiểu quân khu Yên Bái nhập về tỉnh Hưng Hoá.

    Ngày 5 tháng 6 năm 1893, huyện Hạ Hòa thuộc phủ Lâm Thao, tỉnh Sơn Tây nằm trong địa bàn tiểu quân khu Yên Bái được nhập vào tỉnh Hưng Hoá.

    Năm 1895, cùng với sự đầu hàng của Đèo Văn Trị và sự suy yếu của nhà Thanh, Pháp đã ký kết với nhà Thanh công ước hoạch định biên giới sửa đổi, quy định lấy lại phần đất tỉnh Hưng Hóa cũ đã mất cho nhà Thanh trong công ước năm 1887, và lấy thêm các phần đất nay là các huyện Mường Tè tỉnh Lai Châu, Mường Nhé, Mường Chà tỉnh Điện Biên về cho xứ Bắc Kỳ thuộc Pháp. Phần đất các huyện Mường Tè, Mường Nhé, Mường Chà này là một phần (3/6 châu) của 6 châu (Tuy Phụ, Hoàng Nham, Khiêm Châu, Tung Lăng, Lê Tuyền, Hợp Phì) đã mất cho nhà Thanh Trung Quốc từ thời nhà Lê trung hưng, đến suốt thời nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn độc lập chưa lấy lại được. Các phần đất này sau nhập vào tỉnh Lai Châu thời Pháp thuộc. Tuy nhiên, đổi lại Pháp cắt cho Trung Quốc phần còn lại sau công ước 1887 của vùng đất Tụ Long Hà Giang, nơi có nhiều mỏ khoáng sản quý.

    Ngày 17 tháng 7 năm 1895, hai châu Thanh Sơn và Yên Lập thuộc khu quân sự Đồn Vàng chuyển về tỉnh Hưng Hoá.

    Ngày 24 tháng 8 năm 1895 hai huyện Hùng Quan và Ngọc Quan của phủ Đoan Hùng thuộc tiểu quân khu Tuyên Quang; đạo quan binh 3 Yên Bái nhập vào tỉnh Hưng Hoá.

    Như vậy tỉnh Hưng Hóa mới gồm 2 phủ 10 huyện và 2 châu. Trong đó 2 huyện Tam Nông, Thanh Thủy và 2 châu Thanh Sơn, Yên Lập vốn là đất cũ của tỉnh Hưng Hoá; phủ Đoan Hùng với 2 huyện Hùng Quan và Ngọc Quan, phủ Lâm Thao và 6 huyện: Sơn Vi, Thanh Ba, Phù Ninh, Cẩm Khê, Hạ Hòa, Hạc Trì là những phủ, huyện mới từ tỉnh Sơn Tây chuyển sang. Tỉnh lỵ tỉnh Hưng Hoá đặt tại thị xã Hưng Hóa (thành lập ngày 1 tháng 5 năm 1895, vốn là thành Hưng Hóa), đóng tại xã Trúc Khê, huyện Tam Nông (nay là thị trấn Hưng Hóa, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ).

    Ngày 5 tháng 5 năm 1903 tỉnh Hưng Hóa mới (phần còn lại) được đổi tên thành tỉnh Phú Thọ.

    Tại vùng Tây Bắc thời Pháp thuộc đã lập ra xứ Thái tự trị. Năm 1955, Khu tự trị Thái-Mèo được thành lập, gồm 3 tỉnh Lai Châu, Sơn La và Nghĩa Lộ, và đến năm 1962 gọi là Khu tự trị Tây Bắc. Khu tự trị này giải thể năm 1975.

    Vùng Tây Bắc có vị trí chiến lược trong an ninh-quốc phòng. Hiện nay, vùng Tây Bắc do Quân khu 2, Quân khu 3 bảo vệ.

    Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, nơi đây đã diễn ra nhiều trận đánh và chiến dịch quân sự ác liệt mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ. Ngoài ra còn có trận Nà Sản cũng trong thời kì Chiến tranh Đông Dương

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kinh Nghiệm Du Lịch Georgia Tự Túc
  • Đi Du Lịch Cát Bà Cần Chuẩn Bị Những Gì
  • Tổng Hợp Kinh Nghiệm Du Lịch Georgia 2022
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Lagi Bình Thuận 2022: Giá Vé, Chơi Gì, Ăn Gì,…
  • Tìm Hiểu Lịch Sử Của Du Lịch Y Tế Và 3 Loại Hình Du Lịch Y Tế
  • Các Loại Hình Du Lịch Biển Ở Việt Nam?

    --- Bài mới hơn ---

  • 6. Các Loại Hình Du Lịch Biển Ở Việt Nam?
  • Bình Định: 6 Loại Hình Du Lịch Ưu Tiên Xúc Tiến Đầu Tư
  • Phát Triển Sản Phẩm Du Lịch Tây Nguyên
  • Các Loại Hình Du Lịch Ở Việt Nam
  • Tất Cả Các Loại Visa Trung Quốc Và Đối Tượng Được Cấp
  • (Tin Môi Trường) – Du lịch biển phát triển góp phần thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành kinh tế khác; tạo thêm nhiều việc làm cho xã hội dải ven biển, nơi hiện có khoảng 21,2 triệu người trong độ tuổi lao động và góp phần đảm bảo an ninh quốc phòng, bảo vệ môi trường biển.

    Với tư cách là một trong 5 lĩnh vực kinh tếtrí của mình đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước nói chung và đối với bản thân sự phát triển ngành biển quan trọng được xác định tại Nghị quyết số 09-NQ/TW của Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về Chiến lược du lịch nói riêng. biển Việt Nam đến năm 2022, du lịch và kinh tế đảo ngày càng khẳng định vị

    Du lịch biển phát triển góp phần thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành kinh tế khác; tạo thêm nhiều việc làm cho xã hội dải ven biển, nơi hiện có khoảng 21,2 triệu người trong độ tuổi lao động và góp phần đảm bảo an ninh quốc phòng, bảo vệ môi trường biển.

    Ở Việt Nam du lịch biển có vị trí đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển du lịch của cả nước. Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2010 và Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2010 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đã xác định 7 khu vực trọng điểm ưu tiên phát triển du lịch, trong số đó đã có tới 5 khu vực thuộc vùng ven biển. Mặc dù cho đến nay, nhiều tiềm năng du lịch biển đặc sắc, đặc biệt là hệ thống đảo ven bờ, chưa được đầu tư khai thác tương xứng, nhưng ở khu vực ven biển đã phát triển khoảng 70% các khu điểm du lịch trong cả nước, hàng năm thu hút từ 70 – 80% lượng khách du lịch. Thu nhập từ hoạt động du lịch biển chiếm tỷ trọng cao trong thu nhập du lịch cả nước.

    Điều này đã khẳng định vai trò của du lịch biển đối với sự phát triển chung của du lịch Việt Nam.

    Căn cứ vào đặc điểm địa lý lãnh thổ nơi diễn ra hoạt động du lịch, có thể được chia thành du lịch biển, du lịch núi, du lịch cao nguyên,… Du lịch biển là hoạt động du lịch được tổ chức phát triển trên lãnh thổ vùng ven biển và vùng biển ven bờ (bao gồm cả các đảo ven bờ) và vì vậy hoạt động phát triển du lịch biển chủ yếu dựa vào đặc điểm tự nhiên và tiềm năng du lịch của lãnh thổ địa lý này.

    Biển, vùng ven biển và hải đảo nước ta đa dạng về cảnh quan thiên nhiên, giàu có về đa dạng sinh học và các hệ sinh thái cho nên các loại hình du lịch cũng khá phong phú và đa dạng. Bao gồm du lịch ngắm xem (bằng du thuyền và lặn), du ngoạn, nghỉ dưỡng, tắm biển, văn hóa biển, khoa học biển, du lịch hang động, du lịch sinh thái gắn với các khu bảo tồn biển, đảo; du lịch thể thao biển (còn chưa phát triển nhiều) và các loại hình du lịch picnic,…

    Bắt đầu từ ngày 29/12/2013, Tin Môi Trường sẽ lần lượt giới thiệu nội dung phần hỏi- đáp được trích từ cuốn sách “100 câu hỏi đáp về biển, đảo dành cho tuổi trẻ Việt Nam” do Ban Tuyên giáo xuất bản, nhằm giúp các bạn trẻ Việt Nam hiểu thấu đáo các vấn đề về tài nguyên và môi trường biển; về không gian biển, đảo của đất nước; về chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia đối với các vùng biển, đảo; về chủ trương, chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước đối với những vấn đề biển, đảo và Biển Đông.

    Trên cơ sở những nhận thức đúng đắn, đầy đủ và sâu sắc, những người Việt Nam trẻ tuổi sẽ là những sứ giả tạo nên sự kết nối, sức lan tỏa trong toàn xã hội, thúc đẩy, tạo nên những hành động thiết thực trong cộng đồng, vì biển, đảo quê hương.

    Gửi ý kiến bạn đọc về: Các loại hình du lịch biển ở Việt Nam?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tràng An Ở Đâu? Khu Du Lịch Tràng An Ninh Bình Có Gì Đẹp, Có Gì Chơi?
  • Du Lịch Tiền Giang: Ghé Thăm 8 Điểm Đến Không Thể Bỏ Qua
  • 12 Địa Điểm Du Lịch Ninh Bình Bạn Nhất Định Phải Đến Khi Về Vùng Đất Cố Đô
  • 10 Điểm Du Lịch Sinh Thái Tại Việt Nam Tuyệt Đẹp Khắp Ba Miền Bắc
  • Đổi Gió Qua 5 Khu Du Lịch Sinh Thái Ở Đà Nẵng
  • 7 Vùng Du Lịch Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Chọn Máy Ảnh Du Lịch Canon Phù Hợp Cho Bạn
  • Cách Chụp Ảnh Khi Đi Du Lịch Đẹp Thần Thánh Với 13 Tuyệt Chiêu Cực Độc
  • 5 Cách Chụp Ảnh Ngoài Trời Đẹp Khi Đi Du Lịch
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Bụi Phú Quốc Tiết Kiệm Nhất
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Côn Đảo Cho Người Đi Lần Đầu
  • Vùng du lịch là các tiêu chí được đặt ra nhằm phân loại các khu vực nhằm phát triển du lịch dựa trên những đặc điểm tương đồng về tuyến hay điểm du lịch trong khu vực đó. Trước đây các cơ quan chức năng có thẩm quyền trong ngành du lịch phân ra 3 vùng. Tuy nhiên để có thể phát triển sâu rộng và tối ưu hơn trong việc quản lí, Việt Nam nay đã được chia ra làm 7 vùng du lịch với chiến lược phát triển tới năm 2022.

    Các tiêu chí để phân loại vùng du lịch

    • Loại hình sản phẩn
    • Điều kiện môi trường tự nhiên
    • Điều kiện môi trường nhân văn
    • Định hướng phát triển kinh tế – xã hội
    • Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch

    7 Vùng du lịch – 24 trọng điểm du lịch

    Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030″ ngày 22/1/2013 xác định rõ Việt Nam có 7 vùng du lịch với 24 trung tâm du lịch như sau:

    Bao gồm 14 tỉnh Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Yên Bái, Phú Thọ, Lào Cai, Tuyên Quang, Hà Giang, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn và Bắc Giang.

    Vùng này có 5 trọng điểm du lịch là:

    1. Sơn La – Điện Biên: gắn với Mộc Châu, hồ Sơn La, cửa khẩu quốc tế Tây Trang, di tích lịch sử Điện Biên Phủ và Mường Phăng.
    2. Lào Cai gắn với cửa khẩu quốc tế Lào Cai, khu nghỉ mát Sa Pa, Phan Xi Phăng và vườn quốc gia Hoàng Liên.
    3. Phú Thọ gắn với lễ hội Đền Hùng và hệ thống di tích thời đại Hùng Vương, du lịch hồ Thác Bà.
    4. Thái Nguyên – Lạng Sơn gắn với hồ Núi Cốc, di tích ATK Định Hóa, Tân Trào, khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng, khu nghỉ mát Mẫu Sơn.
    5. Hà Giang gắn với công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn, cảnh quan Mèo Vạc, Mã Pí Lèng, Na Hang…

    Vùng đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc

    Gồm Thủ đô Hà Nội và các tỉnh Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định, Hải Phòng và Quảng Ninh,

    Gồm 3 trọng điểm du lịch là:

    1. Thủ đô Hà Nội gắn với hệ thống di tích lịch sử văn hóa nội thành và các cảnh quan tự nhiên vùng phụ cận.
    2. Quảng Ninh – Hải Phòng gắn với cảnh quan biển đảo Đông Bắc đặc biệt là Hạ Long – Cát Bà, Vân Đồn, Đồ Sơn.
    3. Ninh Bình gắn với Tam Cốc – Bích Động, Hoa Lư, Tràng An, Vân Long, Cúc Phương, Tam Chúc – Ba Sao và quần thể di tích, cảnh quan vùng phụ cận.

    Vùng Bắc Trung Bộ

    Gồm các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế.

    Vùng này có 4 địa bàn trọng điểm du lịch là:

    1. Thanh Hóa và phụ cận gắn với điểm du lịch quốc gia Thành Nhà Hồ, Lam Kinh, Bến En và đô thị du lịch Sầm Sơn.
    2. Nam Nghệ An – Bắc Hà Tĩnh gắn với Cửa Lò, Kim Liên, Đồng Lộc, cửa khẩu Cầu Treo, núi Hồng – sông Lam, Xuân Thành…
    3. Quảng Bình – Quảng Trị gắn với Phong Nha – Kẻ Bàng, biển Cửa Tùng – Cửa Việt, đảo Cồn Cỏ, cửa khẩu Lao Bảo và hệ thống di tích chiến tranh chống Mỹ.
    4. Thừa Thiên Huế

    Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ

    Gồm các tỉnh Quảng Nam, TP. Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận. Vùng này có 3 địa bàn trọng điểm du lịch là:

    1. Đà Nẵng – Quảng Nam gắn với Sơn Trà, Hải Vân, Hội An, Mỹ Sơn…
    2. Bình Định – Phú Yên – Khánh Hòa gắn với các bãi biển Phương Mai, Đầm Ô Loan, vịnh Nha Trang, Cam Ranh…
    3. Bình Thuận gắn với biển Mũi Né, đảo Phú Quý…

    Vùng Tây Nguyên

    Gồm các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng. Vùng này có 3 trọng điểm du lịch là:

    1. Thành phố Đà Lạt gắn với hồ Tuyền Lâm, Đan Kia – Suối Vàng.
    2. Đắk Lắk gắn với vườn quốc gia Yokđôn và không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
    3. Gia Lai – Kon Tum gắn với cửa khẩu quốc tế Bờ Y, Măng Đen, Yaly.

    Vùng Đông Nam Bộ

    Gồm TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Phước, Tây Ninh. Vùng này có 3 trọng điểm du lịch:

    1. Thành phố Hồ Chí Minh gắn với khu rừng sác Cần Giờ và hệ thống di tích lịch sử văn hóa nội thành.
    2. Tây Ninh gắn với cửa khẩu quốc tế Mộc Bài, núi bà Đen, hồ Dầu Tiếng.
    3. Thành phố Vũng Tàu gắn với Long Hải, Phước Hải, Côn Đảo.

    Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long

    Gồm các tỉnh Long An, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Tiền Giang, Hậu Giang và TP. Cần Thơ. Vùng này có 4 trọng điểm du lịch:

    1. Tiền Giang – Bến Tre gắn với du lịch miệt vườn Thới Sơn.
    2. Cần Thơ – Kiên Giang gắn với biển đảo Phú Quốc, Hà Tiên.
    3. Đồng Tháp – An Giang gắn với Tứ giác Long Xuyên, vườn quốc gia Tràm Chim.
    4. Cà Mau gắn với U Minh – Năm Căn – mũi Cà Mau.

    Chiến lược phát triển các vùng du lịch

    Định hướng phát triển 7 vùng du lịch

    • Vùng Trung du miền núi phía Bắc phát triển theo hướng du lịch sinh thái và tìm hiểu văn hóa các dân tộc thiểu số
    • Vùng đồng bằng Sông Hồng và duyên hải Đông Bắc gắn liền với các sản phẩm là di sản thiên nhiên thế giới và nền văn minh sông Hồng
    • Vùng Bắc Trung Bộ tập trung phát triển sản phẩm du lịch là di sản thiên nhiên, di sản văn hóa thế giới, di tích lịch sử cách mạng Việt Nam
    • Vùng duyên hải Nam Trung Bộ gắn liền với du lịch biển đảo
    • Vùng Tây Nguyên sẽ tập trung phát triển và khai thác du lịch văn hóa Tây Nguyên và sinh thái cao nguyên đất đỏ
    • Vùng Đông Nam Bộ gắn với du lịch MICE, du lịch đô thị, tìm hiểu lịch sử cách mạng Việt Nam
    • Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long gắn với du lịch sông nước, miệt vườn

    Với những định hướng phát triển dựa trên lợi thế, điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng, dân cư có sẵn. Mục đích được đặt ra chính là định vị thương hiệu du lịch Việt Nam trên trường quốc tế, phát triển du lịch bền vững, có giá trị gia tăng cao, đảm bảo được cảnh quan, văn hóa, môi trường, bản sắc. Tầm nhìn đến năm 2030 sẽ hoàn thành 4 dòng sản phẩm du lịch, có thương hiệu và sức cạnh tranh trong khu vực Đông Nam Á cũng như trên quốc tế.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khám Phá Nét Đặc Trưng Của 7 Vùng Du Lịch Việt Nam
  • “liên Kết Phát Triển Du Lịch Tây Nguyên Và Nam Trung Bộ” Tiếp Theo 5
  • Sơ Đồ Tuyến Điểm Du Lịch Miền Bắc
  • Tour Du Lịch Từ Đà Lạt Đi Đà Nẵng Bằng Máy Bay Hội An
  • Những Con Số Biết Nói Về Cuộc Đời Sự Nghiệp Của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp
  • 6. Các Loại Hình Du Lịch Biển Ở Việt Nam?

    --- Bài mới hơn ---

  • Bình Định: 6 Loại Hình Du Lịch Ưu Tiên Xúc Tiến Đầu Tư
  • Phát Triển Sản Phẩm Du Lịch Tây Nguyên
  • Các Loại Hình Du Lịch Ở Việt Nam
  • Tất Cả Các Loại Visa Trung Quốc Và Đối Tượng Được Cấp
  • Những Điều Bạn Cần Phải Biết Về Các Loại Visa Trung Quốc
  • Với tư cách là một trong 5 lĩnh vực kinh tế biển quan trọng được xác định tại Nghị quyết số 09-NQ/TW của Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2022, du lịch và kinh tế đảo ngày càng khẳng định vị trí của mình đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước nói chung và đối với bản thân sự phát triển ngành du lịch nói riêng.

    Du lịch biển phát triển góp phần thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành kinh tế khác; tạo thêm nhiều việc làm cho xã hội dải ven biển, nơi hiện có khoảng 21,2 triệu người trong độ tuổi lao động và góp phần đảm bảo an ninh quốc phòng, bảo vệ môi trường biển.

    Ở Việt Nam du lịch biển có vị trí đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển du lịch của cả nước. Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2010 và Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2010 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đã xác định 7 khu vực trọng điểm ưu nên phát triển du lịch, trong số đó đã có tới 5 khu vực thuộc vùng ven biển. Mặc dù cho đến nay, nhiều tiềm năng du lịch biển đặc sắc, đặc biệt là hệ thống đảo ven bờ, chưa được đầu tư khai thác tương xứng, nhưng ở khu vực ven biển đã phát triển khoảng 70% các khu điểm du lịch trong cả nước, hàng năm thu hút từ 70 80% lượng khách du lịch. Thu nhập từ hoạt động du lịch biển chiếm tỷ trọng cao trong thu nhập du lịch cả nước. Điều này đã khẳng định vai trò của du lịch biển đối với sự phát triển chung của du lịch Việt Nam.

    Căn cứ vào đặc điểm địa lý lãnh thổ nơi diễn ra hoạt động du lịch, có thể được chia thành du lịch biển, du lịch núi, du lịch cao nguyên,… Du lịch biển là hoạt động du lịch được tổ chức phát triển trên lãnh thổ vùng ven biển và vùng biển ven bờ (bao gồm cả các đảo ven bờ) và vì vậy hoạt động phát triển du lịch biển chủ yếu dựa vào đặc điểm tự nhiên và tiềm năng du lịch của lãnh thổ địa lý này. Biển, vùng ven biển và hải đảo nước ta đa dạng về cảnh quan thiên nhiên, giàu có về đa dạng sinh học và các hệ sinh thái cho nên các loại hình du lịch cũng khá phong phú và đa dạng. Bao gồm du lịch ngắm xem (bằng du thuyền và lặn), du ngoạn, nghỉ dưỡng, tắm biển, văn hóa biển, khoa học biển, du lịch hang động, du lịch sinh thái gắn với các khu bảo tồn biển, đảo; du lịch thể thao biển (còn chưa phát triển nhiều) và các loại hình du lịch picnic,…

    Theo “100 câu hỏi – đáp về biển, đảo dành cho tuổi trẻ Việt Nam” (Nxb Thông tin và Truyền thông – 2013)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Loại Hình Du Lịch Biển Ở Việt Nam?
  • Tràng An Ở Đâu? Khu Du Lịch Tràng An Ninh Bình Có Gì Đẹp, Có Gì Chơi?
  • Du Lịch Tiền Giang: Ghé Thăm 8 Điểm Đến Không Thể Bỏ Qua
  • 12 Địa Điểm Du Lịch Ninh Bình Bạn Nhất Định Phải Đến Khi Về Vùng Đất Cố Đô
  • 10 Điểm Du Lịch Sinh Thái Tại Việt Nam Tuyệt Đẹp Khắp Ba Miền Bắc
  • Liên Kết Vùng Trong Phát Triển Du Lịch Các Tỉnh Tây Bắc Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Khảo Sát, Kết Nối Du Lịch Các Tỉnh Tây Nguyên (Đắk Lắk, Gia Lai) Với 02 Tỉnh Thanh Hóa
  • Du Lịch Các Tỉnh Tây Nguyên: Khi Nào Mới Liên Kết, Phát Huy Để Phát Triển?
  • Ứng Dụng Cntt::hướng Đi Đúng Của Ngành Du Lịch Ở Các Tỉnh Tây Nguyên
  • Ghé Thăm Vườn Trái Cây Cái Mơn
  • Vườn Trái Cây Cái Mơn
  • Thứ hai, 26 Tháng 8 2022 09:32

    (LLCT) – Liên kết vùng để tạo các sản phẩm du lịch đặc thù và độc đáo nhằm thu hút du khách đã và đang được triển khai tại nhiều nơi trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Đối với vùng Tây Bắc, liên kết đang là xu hướng tốt, được nhiều địa phương tích cực tham gia để phát triển du lịch, một số mô hình liên kết đã cho kết quả bước đầu. Bài viết này nhằm đưa ra một số gợi ý về chính sách liên kết vùng để phát triển du lịch vùng Tây Bắc trên cơ sở phân tích những kết quả đã đạt được cũng như hạn chế cần khắc phục của hoạt động này thời gian qua của các tỉnh Tây Bắc.

    Ngày nay, du lịch đã trở thành một ngành kinh tế lớn nhất thế giới, theo Hội đồng Lữ hành và Du lịch quốc tế, doanh thu từ kinh tế du lịch đã vượt trên cả ngành sản xuất ô tô, thép, điện tử và nông nghiệp. Tại nhiều quốc gia, du lịch là một trong ba ngành kinh tế hàng đầu. Du lịch không còn là vấn đề của riêng một vùng hay một quốc gia, mà nó đã trở thành vấn đề toàn cầu. Nhiều nước đã dùng tiêu chí du lịch như một tiêu chí để đánh giá sự phát triển kinh tế cũng như đánh giá chất lượng cuộc sống của người dân quốc gia mình. Du lịch đối với mỗi quốc gia là nguồn thu ngoại tệ quan trọng nhất trong các hoạt động thu ngoại tệ.

    Trong giai đoạn toàn cầu hóa hiện nay, xu hướng liên kết là một quy luật tất yếu của sự phát triển. Liên kết chính là phương châm cho sự phát triển du lịch trong giai đoạn tới nhằm đón đầu xu hướng thế giới dịch chuyển nguồn khách du lịch từ châu Âu sang châu Á. Liên kết vùng để tạo các sản phẩm du lịch mang tính đặc thù và độc đáo nhằm thu hút sự quan tâm của du khách đã và đang được tiến hành triển khai tại nhiều nơi trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Việc liên kết vùng khiến sản phẩm du lịch có thể tận dụng được nhiều thế mạnh, nâng cao tính cạnh tranh và có độ bền vững cao. Liên kết vùng, tiểu vùng trong phát triển du lịch góp phần tạo ra lợi thế về quy mô, tiết kiệm các chi phí trong quảng bá, tổ chức các tour du lịch, cũng như đầu tư kết cấu hạ tầng, chi phí đào tạo…; hạn chế tính cạnh tranh giữa các địa phương trong vùng có sản phẩm du lịch giống nhau; tăng giá trị gia tăng cho các sản phẩm du lịch. Tuy nhiên, việc liên kết vùng trong du lịch yêu cầu các thành phần liên kết cần thuận lợi về không gian lãnh thổ và điểm tương đồng về tài nguyên để có thể phát huy điểm mạnh và tận dụng tối đa các tài nguyên du lịch cũng như cơ sở vật chất đáp ứng cho sản phẩm du lịch.

    1. Một số mô hình liên kết phát triển du lịch của vùng Tây Bắc

    Vùng Tây Bắc Việt Nam là một địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, chiếm 1/3 diện tích cả nước với hơn 10 triệu dân. Tây Bắc được thiên nhiên ban tặng một vẻ đẹp hùng vĩ, độc đáo về địa hình, khí hậu, địa chất, cảnh quan và hệ sinh thái có giá trị và sức hấp dẫn du lịch, với nhiều phong cảnh đẹp như: Cao nguyên đá Đồng Văn, Mù Căng Chải, đỉnh Phansipan, đèo Mã Pì Lèng, đèo Pha đin, hồ Pá Khoang, hồ sông Đà, Thác Bà, Na Hang, Núi Cốc, Thác Bản Giốc, hang Pắc Pó, động Ngườm Ngao… Những vườn quốc gia có giá trị như: Hoàng Liên, Ba Bể, Xuân Sơn, Pù Mát… và nơi có các nguồn khoáng nóng như: Kim Bôi, Thanh Thủy, Mỹ Lâm, Uva…; các vùng khí hậu ôn hòa như Sapa, Mộc Châu, Mẫu Sơn, Sìn Hồ… cùng nền văn hóa đa sắc màu với vốn ẩm thực độc đáo. Tây Bắc còn gắn với những giá trị về lịch sử dựng nước và giữ nước như: di tích Đền Hùng, bãi đá cổ Sa Pa, Xín Mần, Điện Biên Phủ, Chiến khu Tân Trào, An toàn khu Định Hóa, Bắc Mê…

    Mục tiêu phát triển du lịch Tây Bắc đó là trở thành vùng du lịch đặc trưng, là điểm đến có thương hiệu với những giá trị trải nghiệm đặc sắc về văn hóa, lịch sử và sinh thái cảnh quan hùng vĩ, đóng góp quan trọng vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển kinh tế – xã hội của cả vùng. Mục tiêu đến năm 2022, Tây Bắc sẽ đón 2,3 triệu lượt khách quốc tế, 14 triệu lượt khách nội địa, với 1.900 cơ sở lưu trú và 40.000 buồng lưu trú; tổng thu du lịch đạt 22.000 tỷ đồng(1).

    Đối với vùng Tây Bắc, liên kết đang là xu hướng tốt, được nhiều địa phương tích cực tham gia để phát triển du lịch, một số mô hình liên kết đã cho kết quả bước đầu. Việc đẩy mạnh liên kết hợp tác sẽ tạo điều kiện cho du lịch Tây Bắc phát triển cả về chiều sâu và chiều rộng, trên cơ sở phát huy tiềm năng, thế mạnh của mỗi địa phương. Thí dụ, mô hình liên kết giữa 3 tỉnh Lào Cai – Yên Bái – Phú Thọ trong chương trình “Du lịch về cội nguồn”. Theo Ban tổ chức, kể từ khi xây dựng sản phẩm “Du lịch về cội nguồn”, diện mạo kinh tế, xã hội và văn hóa của 3 tỉnh Lào Cai, Yên Bái và Phú Thọ đã có nhiều thay đổi. Nếu như trước đây, du khách không thể tìm thấy khách sạn hạng sang tại Nghĩa Lộ (Yên Bái) hay Sapa (Lào Cai) thì nay nhiều khách sạn cao cấp mọc lên. Trên địa bàn 3 tỉnh đã có gần 1.000 cơ sở lưu trú, trong đó hơn 100 cơ sở từ 1 đến 4 sao, trên 500 khách sạn và 260 nhà hàng phục vụ du khách.

    Bên cạnh đó, các sản phẩm du lịch đặc trưng phát triển nhờ việc kết nối các tour, tuyến, điểm du lịch, như “Cội nguồn đất Tổ”, “Đất ngọc Lục Yên”, “Cội nguồn Tây Bắc”, “Sắc màu vùng cao” đã thu hút du khách. Du khách được tìm hiểu phong tục tập quán, các lễ hội truyền thống, thưởng thức những món đặc sản dân tộc độc đáo, khám phá hang động tại vùng cao Tây Bắc.

    Chương trình du lịch “Qua những miền di sản Việt Bắc” lần thứ VI, năm 2014 là sự kiện lớn có quy mô cấp vùng với nhiều hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch phong phú nhằm thúc đẩy tuyên truyền, giới thiệu, quảng bá về miền đất, con người, tiềm năng văn hóa, du lịch của 6 tỉnh vùng chiến khu Việt Bắc nói chung và tỉnh Thái Nguyên nói riêng. Trên cơ sở đó tăng cường mối quan hệ giao lưu, hợp tác giữa các tỉnh, đồng thời thu hút các nhà đầu tư đến liên kết, khai thác tiềm năng phát triển du lịch và thu hút khách du lịch đến với Việt Bắc ngày càng tăng.

    2. Những hạn chế trong phát triển du lịch của vùng Tây Bắc

    Có thể thấy, tiềm năng về tài nguyên du lịch của Tây Bắc rất phong phú và đa dạng, tuy nhiên đến nay đây vẫn là vùng trũng trong phát triển du lịch, vẫn chưa khai thác hiệu quả và phát triển bền vững, chưa phát triển xứng tầm cả về quy mô và tính chất của vùng, sức cạnh tranh kém so với các vùng du lịch khác trong cả nước. Thực tế cho thấy, Tây Bắc là địa bàn phát triển muộn hơn, đồng thời cũng là vùng có nhiều khó khăn nhất so với các vùng khác trên cả nước, nên số lượng khách du lịch đến vùng còn hạn chế. Hiệu quả kinh tế du lịch còn khiêm tốn, chiếm tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu kinh tế địa phương. Tăng trưởng bình quân hàng năm của ngành du lịch Tây Bắc chỉ khoảng trên 10%, thấp hơn so với mức bình quân chung cả nước. Theo thống kê, lượng khách du lịch đến Tây Bắc hàng năm chỉ chiếm khoảng 7% lưu lượng khách cả nước, mặc dù số lượng du khách đã tăng dần theo từng năm, nhưng vẫn còn thấp so với các vùng khác. Năm 2013, khách du lịch quốc tế đến Tây Bắc chỉ khoảng 1,23 triệu lượt người (chiếm 16% tổng lượng khách quốc tế đến Việt Nam) và tổng doanh thu du lịch của cả vùng chỉ chiếm 3,6% tổng thu du lịch cả nước. Thống kê của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch năm 2022, số khách du lịch quốc tế đến Tây Bắc là 1,6 triệu lượt so với con số hơn 7,9 triệu lượt khách quốc tế của cả nước(4). Theo đánh giá của Ban Chỉ đạo chương trình hợp tác phát triển du lịch 8 tỉnh Tây Bắc, điều kiện hạ tầng còn nhiều khó khăn, hoạt động du lịch còn manh mún, nhỏ lẻ, sản phẩm du lịch còn đơn sơ, rời rạc, chất lượng chưa cao, chưa có thương hiệu thu hút thị trường trong và ngoài nước; nhân lực ngành du lịch còn thiếu và yếu, phần lớn chưa qua đào tạo sâu về chuyên môn nghiệp vụ. Về loại hình du lịch cộng đồng, chưa quy hoạch một cách khoa học, bài bản, nhiều điểm ở Tây Bắc sản phẩm tương tự nhau, chưa xây dựng được các khu du lịch sinh thái.

    Trong thời gian qua, việc khai thác du lịch nói chung và tài nguyên du lịch tự nhiên nói riêng ở Tây Bắc còn nhiều bất cập. Các tài nguyên tự nhiên như các hang động, hồ, sông, suối khoáng và các khu rừng nguyên sinh… đang được khai thác chưa bền vững. Hiện tại các vấn đề môi trường ở các tỉnh Tây Bắc do hoạt động du lịch chưa đến mức quá ngưỡng, tuy nhiên, các vấn đề môi trường nảy sinh từ các hoạt động khác cũng ảnh hưởng đến du lịch như vấn đề thiếu nước mùa khô, vấn đề rác thải không được xử lý, diện tích rừng, đặc biệt rừng nguyên sinh ngày càng bị thu hẹp, đa dạng sinh học suy giảm, thiên tai làm cản trở việc tiếp cận các điểm du lịch,… Sự gia tăng du khách cũng gây ra hiện tượng quá tải chất thải tại một số điểm du lịch, dẫn đến hiện tượng suy thoái môi trường.

    Những kết quả trong hợp tác quốc tế còn khiêm tốn so với tiềm năng và triển vọng phát triển của vùng bởi những trở ngại, thách thức do cả khách quan và chủ quan mang lại, như: điều kiện giao thông cách trở, kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội còn nhiều yếu kém, nguồn lực hạn chế, năng lực, trình độ của một bộ phận cán bộ địa phương còn chưa đáp ứng yêu cầu quá trình hội nhập, toàn cầu hóa.

    Liên kết phát triển du lịch ở vùng Tây Bắc hầu như mới chỉ dừng lại ở hình thức, trao đổi kinh nghiệm, chưa huy động được nguồn lực và khuyến khích sáng tạo để đầu tư, hiệu quả đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế. Chưa phát huy lợi thế riêng có của vùng đó là du lịch cộng đồng đặc trưng gắn với văn hóa dân tộc và các điểm du lịch đặc thù, như du lịch nghỉ dưỡng, chữa bệnh; du lịch cộng đồng gắn với di tích lịch sử… Mặt khác, các hoạt động hợp tác trong liên kết phát triển du lịch vùng Tây Bắc vẫn thiếu sự tư vấn của các chuyên gia; các doanh nghiệp du lịch lớn chưa thực sự vào cuộc để chung tay với khối cơ quan quản lý nhà nước trong phát triển du lịch và dịch vụ. Các sản phẩm du lịch chưa thực sự phong phú và mang đậm bản sắc các dân tộc Tây Bắc. Cơ chế hợp tác giữa 8 tỉnh chưa thể hiện rõ sự ràng buộc trách nhiệm của các tỉnh trong việc tham gia vào các hoạt động chung, dẫn đến kết quả triển khai các hoạt động chưa cao. Bên cạnh đó, việc nâng cấp cơ sở hạ tầng du lịch tại các vùng giáp danh giữa các tỉnh chưa được quan tâm, ảnh hưởng đến việc liên kết tổ chức các tuyến du lịch trong khu vực(5).

    3. Một số gợi ý về giải pháp tăng cường liên kết vùng trong phát triển du lịch Tây Bắc thời gian tới

    Thứ nhất, xây dựng được cơ chế liên kết hiệu quả.

    Tây Bắc là vùng rộng lớn với địa hình hiểm trở, khó có điều kiện để liên kết phát triển du lịch toàn vùng. Muốn liên kết phát triển du lịch về không gian phải có sự kết nối của các tuyến đường giao thông thuận lợi, về thời gian phải có sự thống nhất tương đồng. Tuy nhiên, vùng Tây Bắc có nhiều loại hình tiểu vùng khác nhau và được kết nối bởi các tuyến đường giao thông tương đối thuận tiện cho phát triển tuyến du lịch. Để du lịch vùng Tây Bắc phát triển cần xác định liên kết nhiều cấp độ.

    Đối với liên kết theo cấp độ tiểu vùng: các tỉnh miền núi phía bắc do đặc điểm địa hình, giao thông, kinh tế, xã hội đã hình thành một số tiểu vùng như sông Đà (4 tỉnh: Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình), sông Hồng (Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ), sông Lô (Hà Giang, Tuyên Quang), tiểu vùng Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn. Mỗi tiểu vùng đều có tuyến đường giao thông huyết mạch chạy qua như đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai, quốc lộ 6 (Hòa Bình – Sơn La – Điện Biên), quốc lộ 2 (Hà Giang – Tuyên Quang), quốc lộ 4 (Cao Bằng – Lạng Sơn)… Ngoài ra, còn các tuyến đường giao thông khác như đường Hồ Chí Minh, 32, 279… các tuyến đường này trở thành cơ sở hạ tầng quan trọng để xây dựng tuyến du lịch liên kết. Bộ máy quản lý của tiểu vùng cần được xây dựng gồm có Chủ tịch tỉnh, Giám đốc Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch, Chủ tịch hiệp hội các doanh nghiệp du lịch, lãnh đạo phòng nghiệp vụ du lịch… với nhiệm vụ là đề xuất các phối hợp liên kết về du lịch trong thời gian hàng năm và 5 năm. Đồng thời lãnh đạo tiểu vùng còn định hướng những giải pháp, tổ chức thực hiện các đề án, dự án phát triển du lịch mang tính chất liên vùng.

    Cùng với liên kết nội vùng, các tỉnh Tây Bắc còn cần phải liên kết với những địa phương trọng điểm du lịch như Hà Nội, Quảng Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh và liên kết phát triển du lịch qua biên giới thu hút khách du lịch từ Trung Quốc, Lào, nhất là các địa phương có cửa khẩu quốc tế là Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên. Hệ thống doanh nghiệp làm du lịch ở các tỉnh Tây Bắc còn ít và chủ yếu quy mô nhỏ nên bên cạnh việc tự nâng cao năng lực thì yếu tố liên kết có ý nghĩa rất quan trọng để tận dụng thế mạnh của nhau về thông tin, sản phẩm, quảng bá…

    Thực tế cho thấy, trong nhiều năm qua, khối hợp tác phát triển du lịch 8 tỉnh Tây Bắc mở rộng với sự quan tâm của Trung ương, sự chủ động sáng tạo của các địa phương trong vùng, sự hỗ trợ kỹ thuật của các tổ chức như Tổ chức phát triển Hà Lan (SNV), Dự án EU… đã thu được những kết quả rất tích cực: góp phần phát triển du lịch bền vững, giảm nghèo cho các cộng đồng được hỗ trợ trực tiếp từ phát triển du lịch; hỗ trợ nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý và nhân lực du lịch tại các địa phương 8 tỉnh; xây dựng những sản phẩm du lịch đặc thù, độc đáo, không trùng lặp ở các địa phương… mang lại những hiệu quả thiết thực góp phần vào sự thúc đẩy phát triển du lịch vùng và của từng địa phương.

    Thứ hai, các tỉnh liên kết nghiên cứu xây dựng các thương hiệu và các sản phẩm du lịch mang bản sắc của mỗi vùng, mỗi địa phương.

    Thực tiễn ở nhiều vùng, sự liên kết du lịch khó hiệu quả vì các địa phương đều có các sản phẩm du lịch na ná nhau, thí dụ cùng thưởng thức ẩm thực Thái, ngủ nhà sàn Thái, mua thổ cẩm của người Thái… Nhưng khi triển khai kế hoạch liên kết, mỗi tỉnh cần lựa chọn những nét đặc thù của địa phương, bước đầu quảng bá và tạo sản phẩm du lịch. Tuy cùng là cao nguyên, cùng là loại hình du lịch sinh thái núi nhưng các hoạt động du lịch của Mộc Châu khác hẳn với Sa Pa và cũng không giống với cao nguyên đá Đồng Văn. Mỗi tỉnh tìm ra lợi thế riêng, tạo sản phẩm riêng về du lịch là vấn đề quan trọng để phát huy thế mạnh của liên kết vùng.

    Thứ ba, cần coi trọng vấn đề quảng bá, xúc tiến du lịch.

    Trước đây, quảng bá du lịch ở Tây Bắc theo hướng tự phát ở mỗi địa phương, nhưng từ khi thực hiện liên kết, được sự giúp đỡ của các chuyên gia SNV và dự án EU, 8 tỉnh Tây Bắc mở rộng đã nghiên cứu xây dựng logo, trang website riêng bằng tiếng Việt và tiếng Anh và tổ chức tham gia nhiều hội chợ quốc tế… Nhờ quảng bá chung nên các tỉnh đã tạo ra hiệu quả trong công tác quảng bá, xúc tiến. Bên cạnh đó, các tỉnh trong vùng cần chú trọng đầu tư cho công tác nghiên cứu thị trường, thực hiện các chương trình xúc tiến điểm đến chung Tây Bắc tại các sự kiện, hội chợ chuyên ngành trong nước và quốc tế; tổ chức các sự kiện, diễn đàn phát triển du lịch Tây Bắc gắn với thu hút thị trường khách từ Hà Nội, vùng đồng bằng sông Hồng, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng… Các tỉnh trong vùng Tây Bắc cần có chính sách ưu đãi nhằm tạo ra đội ngũ nhân lực chất lượng cao, trong đó tập trung phát triển kỹ năng nghề, nâng cao nhận thức về du lịch cộng đồng, du lịch có trách nhiệm; bố trí nguồn vốn để thực hiện các dự án phát triển giao thông có tính chất động lực phát triển vùng nhằm tạo sự liên kết về không gian giữa các điểm du lịch quan trọng trên địa bàn miền núi phía Bắc…

    Thứ tư, đầu tư nghiên cứu quy hoạch vùng và quy hoạch các điểm, tuyến du lịch của mỗi tỉnh và toàn vùng, từ đó tìm ra vẻ đẹp, bản sắc riêng của mỗi địa phương để xây dựng thế mạnh liên kết.

    Vùng Tây Bắc có 30 dân tộc sinh sống, khi xây dựng các điểm du lịch cộng đồng, mỗi tỉnh cần lựa chọn một dân tộc có bản sắc riêng để xây dựng. Các điểm du lịch cộng đồng này cần được quy hoạch thống nhất, không xây dựng tràn lan, tránh sự trùng lặp về sản phẩm du lịch. Trước mắt, các tỉnh Tây Bắc cần nghiên cứu, xây dựng những khu du lịch trọng điểm mang sắc thái riêng của từng tỉnh như Sa Pa (Lào Cai), cao nguyên Mộc Châu (Sơn La), cao nguyên đá Đồng Văn (Hà Giang), hồ Ba Bể (Bắc Cạn)… Trong mỗi khu du lịch cần phát huy tài nguyên du lịch riêng, sắc thái riêng của từng địa phương để xây dựng các sản phẩm du lịch mang tính đặc thù.

    Bài đăng trên Tạp chí Lý luận số 4-2019

    (1) https://www.thiennhien.net/2014/05/07/du-lich-vung-tay-bac-day-manh-lien-ket-de-phat-trien.

    (2) http://www.baovanhoa.vn/du-lich/artmid/ 416/articleid/1898/hợp-t225c-ph225t-triển-du-lịch-8-tỉnh-tây-bắc-mở-rộng-năm-2018-tập-trung-xây-dựng-sản-phẩm-đặc-thù.

    (3) http://www.tourdulichsapa.vn/103 tin-du-lich-sapa/1011_khoi-sac-du-lich-tay-bac-tu-mo-hinh-lien-ket-phat-trien-du-lich.html.

    (4) https://congthuong.vn/tay-bac-huong-toi-vung -du-lich-dac-trung-68228.html.

    (5) http://www.tourdulichsapa.vn/103_tin-du-lich-sapa/1011_khoi-sac-du-lich-tay-bac-tu-mo-hinh-lien-ket-phat-trien-du-lich.html.

    TS Hoàng Ngọc Hải

    Học viện Chính trị khu vực I

    TS Hồ Thanh Thủy

    Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Liên Kết Phát Triển Sản Phẩm Du Lịch Các Tỉnh Tây Bắc
  • Các Điểm Du Lịch Quanh Hà Nội Trong Bán Kính 80Km Đi Về Trong Ngày
  • “đi Trốn Với Anh” 15 Điểm Du Lịch Quanh Hà Nội 200Km Cực Lãng Mạn!
  • Miền Nam Có Bao Nhiêu Tỉnh Thành
  • Rét Đậm, Băng Tuyết Bao Phủ Các Tỉnh Miền Bắc
  • 3 Vùng Du Lịch Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Công Ty Du Lịch Uy Tín Đà Nẵng
  • Những Tip Nhỏ Cần Lưu Ý Trước Khi Đi Du Lịch Lào
  • ​du Lịch Nha Trang Có Gì Hay?
  • Đi Du Lịch Nhật Bản Cần Bao Nhiêu Tiền, Chi Phí Đi Tự Túc?
  • Cẩm Nang Du Lịch Chùa Hương Mùa Thu Tự Túc Chi Tiết Nhất
  • Việt Nam là một đất nước xinh đẹp khá thu hút với các du khách nước ngoải đến với đất nước chúng ta. Việt Nam được chia ra làm ba vùng miền chính và mỗi vùng có một vẻ đẹp riêng thu hút rất nhiều du khách tới du lịch tham quan, cảnh sắc thiên nhiên không chỉ thu hút với các khách nước ngoài mà người dân của đất nước chúng ta cũng có các địa danh để chúng ta du lịch và nghỉ dưỡng vào các dịp lễ lớn.

    1. Du lịch miền bắc

    Khi nhắc tới miền bắc các bạn sẽ liên tưởng ngay tới các khu du lịch nằm trên các dãy núi cao, địa hình cao hiểm trở, các bản làng người dân tộc thân thiện, cảnh sắc thiên nhiên hoang sơ và rất thiên nhiên nhưng rất cuốn hút. Hay với thủ đô Hà Nội, Sơn La, cao bằng, thanh hóa, bắc Ninh,…Tất cả các tỉnh thành nằm ở phía bắc nước ta có rất nhiều cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ và thu hút, có nhiều nét đẹp mang đậm chất người xưa được lưu truyền lại. Khi đi du lịch tại miền bắc các bạn sẽ cảm nhận được không khí lạnh nơi đây khi đến với các tình thành vùng cao, hay tham quan các địa danh nổi tiếng như vịnh Hạ long, động Phong Nha, hay tham quan 36 phố tại Hà Nội, ngắm hồ gươm và thăm Lăng Bác,..

    2. DU lịch miền trung

    Miền trung của nước ta đa số bao gồm các tỉnh thành nằm ven biển, nên các địa danh du lịch chủ yếu tại miền trung là nằm ngoài biển đảo và các bãi biển trong xanh dọc theo các tỉnh thành ven biển. Mổi địa danh lại có rất nhiều địa điểm du lịch cho các du khách lựa chọn có thể du lịch biển hay lên cao nguyên các bạn sẽ có nhiều lựa chọn hơn cho chuyến du lịch của cac bạn như ngắm thành phố hoa Đà Lạt, tham quan các địa danh nổi tiếng tại các tỉnh thành nằm ở tây nguyên, khá mới lạ với núi rừng bạt ngàn và vô số các địa danh du lịch hoang sơ nhưng rất xinh đẹp cho tất cả các du khách khi đến miền trung của nước ta. Hay tham quan các địa danh lịch sử mang đậm chất dấu ấn lịch sự hào hùng của dân tộc việt nam tại thành phố Huế, các du khách sẽ có rất nhiều kiến thức mới và cùng cảm nhận được các quá trình lịch sử hào hùng của đất nước việt nam ngày xưa.

    3. Du lịch miền nam

    Miền nam là địa danh cuối cùng của nước ta, miền nam có khí hậu nắng nóng nhất trong 3 vùng miền của nước ta. Khi du lịch tại miền nam các bạn sẽ cảm nhận được cuộc sống chân thật và vô cùng dân giã của người dân nơi đây.Cuộc sống mộc mạc và bình dị của người dân nơi đây trên dọc miền sông nước khá lênh đênh và có nhiều khó khăn, tuy nhiên thiên nhiên nơi đây lại rất phong phú và rất đáng yêu, khi đến với du lịch miền nam các bạn sẽ được khám phá những con người và cuộc sống rất lạ của con người nơi đây cùng thưởng thức các món ăn rất nam bộ và đặc sản nơi đây.

    Chúng tôi chỉ đơn giản khái quát các đại danh du lịch chủ yếu và các nét đẹp đặc trưng của đất nước chúng ta. Các du khách muốn cảm nhận chân thực hơn và phù hợp hơn với các nhu cầu và mong muốn của các bạn, hãy lựa chọn địa danh du lịch trong 3 vùng miền của nước ta để có kì nghỉ dưỡng thật vui và thú vị cùng gia đình khám phá và cảm nhận những nét đẹp trù phú mà thiên nhiên đã ban tặng cho mỗi vùng miền của nước ta.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đà Nẵng Định Hướng Phát Triển Du Lịch Thông Minh
  • Xu Hướng Phát Triển Ngành Du Lịch Việt Nam
  • Cách Đi Du Lịch Bụi Thái Lan, Cẩm Nang Hướng Dẫn Kinh Nghiệm Phượt Thái Lan Giá Rẻ 2022
  • Hé Hộ Ngay Những Kinh Nghiệm Du Lịch Hongkong Tự Túc Bạn Nên Biết
  • Cẩm Nang Kinh Nghiệm Du Lịch Hongkong Tự Túc
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100