Chiến Lược Của Biển Đảo Việt Nam

--- Bài mới hơn ---

  • Tuyển Dụng Việc Làm Nhà Hàng Khách Sạn Đà Nẵng Tuyển Gấp
  • Việt Nam Học (Chuyên Ngành: Hướng Dẫn Du Lịch)
  • Học Ngành Hướng Dẫn Viên Du Lịch Ra Trường Làm Gì ?
  • Ngành Hướng Dẫn Viên Du Lịch Cần Học Gì?
  • Học Chuyên Ngành Văn Hóa Việt Nam, Chúng Tôi Làm Gì?
  • Vị trí địa lý, địa – kinh tế, địa – chính trị, địa – chiến lược của biển đảo Việt Nam 

    Vị trí địa lý của biển Đông

    Biển Đông nằm ở phía Đông Việt Nam, trải dài từ vĩ tuyến 3 Bắc đến vĩ tuyến 26 Bắc và từ kinh tuyến 100 Đông đến kinh tuyến 121 Đông. Có 9 nước và một vùng lãnh thổ tiếp giáp biển Đông, gồm Việt Nam, Trung Quốc và Philippines, Indonesia, Brunei, Malaysia, Singapore, Thái Lan, Campuchia và Đài Loan.

    Việt Nam giáp với biển Đông từ 3 phía: Đông, Nam và Tây Nam. Bờ biển Việt Nam dài 3.260km, từ tỉnh Quảng Ninh đến tỉnh Kiên Giang, với các vùng biển và thềm lục địa, trung bình cứ 100km đất liền thì có 1km bờ biển. Biển Đông có khoảng vài nghìn đảo lớn nhỏ, trong đó có trên 250 cấu trúc địa lý mà mỗi cấu trúc có diện tích khoảng 1km2 gồm các đảo san hô, rạn san hô, rạn san hô vòng, bãi cạn và bãi ngầm, phần lớn không có người sinh sống, đa phần bị ngập trong nước biển khi triều cường, một số nằm ngầm dưới mặt nước. Các cấu trúc được chia thành 3 nhóm quần đảo là: quần đảo Đông Sa ở phía Bắc, quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Trong đó hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cùng hơn 2.570 hòn đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam ở giữa biển Đông hợp thành phòng tuyến bảo vệ đất nước từ hướng biển.

    Biển Đông là một trong những khu vực có tầm quan trọng chiến lược đối với các nước thuộc khu vực châu Á – Thái Bình Dương, châu Mỹ và nhiều quốc gia trên thế giới. Biển Đông có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của khoảng 300 triệu người.

    Biển Đông được coi là con đường huyết mạch chiến lược để giao thông thương mại và vận chuyển quân sự quốc tế.

    Biển Đông nằm trên tuyến đường giao thông biển huyết mạch nối liền Thái Bình Dương – Ấn Độ Dương, châu Âu – châu Á, Trung Đông – châu Á. Biển Việt Nam là điều kiện thuận lợi để ngành giao thông vận tải biển nước ta phát triển, thúc đẩy giao lưu kinh tế, văn hóa giữa Việt Nam với các nước khác trong khu vực và trên thế giới.

     

    Biển Việt Nam có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của đất nước

    Thềm lục địa Việt Nam có nhiều bể trầm tích chứa dầu khí và có nhiều triển vọng khai thác nguồn khoáng sản này. Tổng trữ lượng dầu khí ở biển Việt Nam lớn. Tuy mới ra đời, nhưng ngành dầu khí của ta đã trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn, có tiềm lực kỹ thuật, vật chất lớn và hiện đại nhất trong những ngành khai thác biển, đồng thời cũng là một trong những ngành xuất khẩu và thu nhiều ngoại tệ nhất cho đất nước. Ngành công nghiệp khai thác dầu khí phát triển kéo theo sự phát triển của một số ngành khác như công nghiệp hóa dầu, giao thông vận tải, thương mại trong nước và khu vực. Ngoài dầu mỏ, biển Việt Nam còn có nhiều mỏ sa khoáng và cát thủy tinh có trữ lượng khai thác công nghiệp và làm vật liệu xây dựng…tiềm năng về khí-điện-đạm và năng lượng biển cũng rất lớn như năng lượng gió, năng lượng mặt trời, thủy triều, sóng và cả thủy nhiệt.

    Vùng biển nước ta có điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên thuận lợi cho phát triển nhiều loại hình du lịch

    Đất nước Việt Nam chạy dài trên 15 vĩ độ địa lý nhưng lại hẹp về chiều ngang, khí hậu phân hóa, phong phú về tập quan dân tộc, bờ biển dài có nhiều bãi cát rộng, vũng, vịnh, hang động tự nhiên đẹp, các dãy núi đá vôi vươn ra sát bờ biển tạo nhiều cảnh quan thiên nhiên sơn thủy rất đa dạng, các bán đảo và các đảo lớn nhỏ liên kết với nhau thành một quần thể du lịch hiếm có trên thế giới, tiêu biểu là quần thể núi và hang động đá vôi ở Vịnh Hạ Long đã được UNESCO xếp hạng là di sản thiên nhiên của thế giới.

    Ngoài ra còn có các thắng cảnh tự nhiên trên đất liền nổi tiếng như Phong Nha – Kẻ Bàng, Thiên Đường, Sơn Đoòng, Bích Động, Non Nước… Ngày nay sức thu hút của du lịch biển, đảo đã vượt ra ngoài các loại hình du lịch truyền thống, phát triển với nhiều loại hình đa dạng hơn, phong phú hơn. Biển Việt Nam có đầy đủ điều kiện để phát triển như:

    – Nghỉ ngơi, dưỡng bệnh, tắm biển, tham quan ở vùng duyên hải hay ở ngoài đảo;

    – Du lịch sinh thái nghiên cứu khoa học vùng duyên hải, hải đảo trong lòng biển;

    – Du lịch thể thao với các hoạt động ngoài trời như: bơi, lặn sâu, lướt ván, nhảy sóng, đua thuyền..Loại hình du lịch này ngày càng hấp dẫn, thu hút đông đảo du khách vì sự gắn kết giữa rèn luyện sức khỏe và nghĩ dưỡng;

    – Du lịch hội nghị, hội thảo trong nước và quốc tế.

    Biển Việt Nam còn là địa bàn quan trọng để phát triển kinh tế đất nước

    Hiện có trên 31% dân số cả nước sinh sống ở 28 tỉnh thành phố ven biển, Đa số các thành phố, thị xã đều nằm ở ven sông, cách biển không xa, nhất là thành phố, thị xã ở miền Trung Việt Nam nằm ven biển, có đường quốc lộ 1A chạy qua. Khu vực ven biển cũng là nơi tập trung các trung tâm công nghiệp lớn có nhiều sân bay, cảng biển quan trọng, các căn cứ hải quân, kho tàng, các công trình kinh tế, quốc phòng khác. Các tỉnh, thành phố ven biển có các cảng, cơ sở sửa chữa, đóng tàu, đánh bắt hoặc chế biến hải sản, làm muối… thu hút hơn 13 triệu lao động, giải quyết công việc làm ăn, góp phần to lớn vào việc ổn định tình hình kinh tế, chính trị, xã hội và an ninh quốc phòng.

    Biển Việt Nam có vai trò quan trọng trong xây dựng thế trận quốc phòng – an ninh của đất nước

    Với các vùng biển rộng lớn, bờ biển dài, địa hình bờ biển quanh co, khúc khủy, có nhiều dãy núi chạy ra biển, chiều ngang đất liền có nơi chỉ rộng khoảng 50km (tỉnh Quảng Bình) nên việc phòng thủ từ hướng biển luôn mang tính chiến lược. Mạng lưới sông ngòi chằng chịt chảy qua các miền của đất nước, chia cắt đất liền thành nhiều khúc, cắt ngang các tuyến giao thông chiến lược Bắc – Nam. Ở nhiều nơi, núi chạy lan ra sát biển, tạo thành những địa hình hiểm trở, những vùng kín, xen lẫn với những bờ biển bằng phẳng, thuận tiện cho việc trú đậu tàu thuyền và chuyển quân bằng đường biển.

    Hệ thống quần đảo và đảo trên vùng biển nước ta cùng với dải đất liền ven biển thuận lợi cho việc xây dựng các căn cứ quân sự, điểm tựa, pháo đài, trạm gác tiền tiêu, hình thành tuyến phòng thủ nhiều tầng, nhiều lớp, với thế bố trí chiến lược hợp thế trên bò, dưới nước, tạo điều kiện thuận lợi để bảo vệ, kiểm soát và làm chủ vùng biển nước ta. Biển là chiến trường rộng lớn để ta triển khai thế trận quốc phòng toàn dân – thế trận an ninh nhân dân trên biển để phòng thủ bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn trật tự an ninh từ xa đến gần, trong đó có các khu vực biển trọng điểm như Vịnh Bắc Bộ, vùng biển quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa; khu du lịch kinh tế kỹ thuật dầu khí DK1, DK2, vùng biển Tây Nam.

    Những bãi biển du lịch nổi tiếng của Việt Nam

    Một số bãi biển đẹp của các tỉnh như là: Trà Cổ (Quảng Ninh), Quan Lạn (Quảng Ninh), Thanh Lân (Quảng Ninh), Cát Cò (Hải Phòng), Đồ Sơn (Hải Phòng), Sầm Sơn (Thanh Hóa), Cửa Lò (Nghệ An), Cửa Hội (Nghệ An), Thiên Cầm (Hà Tĩnh), Đá Nhảy (Quảng Bình), Cửa Tùng (Quảng Trị), Lăng Cô (Thừa Thiên Huế), Mỹ Khê (Đà Nẵng), Quy Nhơn (Bình Định), Nha Trang (Khánh Hòa), Ninh Chữ (Ninh Thuận), Mũi Né (Bình Thuận), Bãi Trước (Vũng Tàu), Bãi Sau (Vũng Tàu), Phú Quốc (Kiên Giang)…

    Bãi biển là yếu tố rất quan trọng đối với phát triển du lịch biển ở một xứ sở nhiệt đới, đặc biệt là bãi biển nhỏ nhưng gắn với hải đảo hoang sơ, các vùng biển tĩnh lặng như ở quần đảo Cát Bà (Hải Phòng). Mỗi bãi biển đều có những nét đẹp và lợi thể riêng, thu hút du khách trong và ngoài nước. Nằm trong vùng nhiệt đới, ấm nóng quanh năm nên vùng ven biển và hải đảo nước ta quanh năm chan hòa ánh nắng mặt trời, cùng với các bãi cát trắng mịn trải dài ven sóng. Vì thế, việc quy hoạch sử dụng hợp lý và quản lý hiệu quả các bãi biển sẽ góp phần duy trì được lợi thế trong phát triển du lịch biển, đảo bền vững.

    Hệ thống đảo, quần đảo và đặc điểm của chúng

    Việt Nam không chỉ có phần lục địa “hình chữ S” mà còn có các đảo, quần đảo, các vùng biển và thềm lục địa rộng lớn trong biển Đông thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia.

    Các đảo của vùng biển Việt Nam phân bố không đều, nằm rải rác từ gần bờ đến xa bờ. Hệ thống đảo hình thành vòng cung rộng lớn chạy suốt từ Vịnh Bắc Bộ đến quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, quần đảo phía Nam và Tây Nam của đất nước.

    Tổng diện tích các đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam vào khoảng 1.636,6 km2, trong đó có khoảng 82 đảo có diện tích lớn hơn 1km2, chiếm 92% tổng diện tích các đảo; 23 đảo có diện tích trên 10km2 và 3 đảo có diện tích trên 100km2.

    Có thể phân hệ thống đảo, quần đảo thành 3 tuyến:

    – Tuyến xa bờ: Là những đảo nằm ở vị trí tiền tiêu, cửa ngõ, phên dậu quốc gia, là hệ thống phòng thủ từ xa, ở đó có thể bố trí mạng thông tin tiền tiêu, đặt các trạm quan sát, các trận địa phòng không…để kiểm tra, kiểm soát bảo vệ lãnh thổ quốc gia, bao gồm vùng đất, vùng biển, vùng trời của Tổ quốc. Những đảo, những quần đảo lớn trong hệ thống này như: quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa, Bạch Long Vĩ, Côn Đảo, Thổ Chu…

    – Tuyến giữa: là những đảo có diện tích khá lớn và điều kiện tự nhiên thuận lợi, có thể xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ tốt cho đời sống nhân dân và phát triển cho việc xây dựng các công trình chiến đấu phòng thủ, các hải cảng, sân bay…

    – Tuyến ven bờ: Gồm những đảo gần đất liền, thuận lợi cho phát triển ngư nghiệp, nông nghiệp, tạo thành nơi trú đậu, tránh bão cho tàu thuyền, có vai trò quan trọng trong việc giữ gìn trật tự an ninh trên vùng biển ven bờ. Những đảo lớn trong hệ thống này là các đảo: Cái Bầu, Cát Bà, Cồn Cỏ, Hòn Tre, Hòn Khoai…

    Mỗi vùng biển nước ta đều có từng cụm đảo khá liên hoàn, cả ba hệ thống đảo trở thành thế trận phòng thủ nhiều lớp nhiều tầng, giàu tiềm năng về kinh tế và vững về thế trận quốc phòng, an ninh của Tổ quốc.

    Một số nhiệm vụ chủ yếu trong Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2022

    Để đẩy mạnh phát triển kinh tế biển, Đảng và Nhà nước ta đã định hướng triển khai các nhiệm vụ cơ bản, lâu dài và xuyên suốt là:

    – Hình thành một số lĩnh vực kinh tế mạnh gắn với xây dựng các trung tâm kinh tế hướng biển, làm động lực thúc đẩy sự phát triển của đất nước.

    – Giải quyết tốt các vấn đề xã hội, từng bước nâng cao đời sống dân cư vùng ven biển, trên các đảo và những người lao động trên biển.

    – Phát triển kinh tế biển gắn với quản lý và bảo vệ biển đảo.

    Nhiệm vụ trước mắt đến năm 2022, tiếp tục phát triển thành công, có bước đột phá đối với các ngành kinh tế biển, ven biển như:

    – Khai thác và chế biến dầu khí, kinh tế hằng hải, khai thác chế biến hải sản, du lịch biển và kinh tế hải đảo, xây dựng các khu kinh tế, các khu công nghiệp tập trung và khu chế xuất ven biển gắn với phát triển các khu đô thị ven biển.

    – Tạo điều kiện cần thiết đảm bảo an ninh, an toàn cho những người dân sinh sống ở những vùng thường bị thiên tai.

    – Xây dựng các cơ sở bảo vệ môi trường biển.

    Giải pháp chiến lược biển Việt Nam đến năm 2022:

    – Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục sâu rộng, thường xuyên và có hệ thống trong nhân dân nhằm nâng cao và tạo sự chuyến biến mạnh mẽ trong nhận thức của các cấp, các ngành, các tầng lớp nhân dân về vị trí vai trò của biển đối với sự nghiệp phát triển kinh tế, bảo vệ Tổ quốc.

    – Cơ cấu lại ngành, lĩnh vực kinh tế biển hợp lý gắn với xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân. Khuyến khích nhân dân định cư ổn định trên đảo và làm ăn dài ngày trên biển.

    – Đẩy mạnh điều tra cơ bản và phát triển khoa học công nghệ biển mạnh và hiện đại, tăng cường năng lực giám sát quan trắc, giảm thiểu và xử lý các thảm họa thiên tai, sự cố môi trường biển, ven biển và hải đảo.

    – Triển khai quy hoạch khai thác, sử dụng biển, hải đảo ở cấp độ khác nhau đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030, tiến tới chấm dứt việc khai thác tự phát, giảm thiểu mâu thuẫn lợi ích trong sử dụng.

    – Quản lý nhà nước có hiệu lực và hiệu quả về biển và hải đảo trên cơ sở hoàn thiện hệ thống pháp luật về biển, làm cơ sở xác lập chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia, quản lý khai thác sử dụng các vùng biển, ven biển và hải đảo.

    – Tăng cường hội nhập quốc tế về biển để tranh thủ công nghệ tiên tiến, thu hút thêm nguồn lực cho phát triển kinh tế, khoa học và công nghệ biển, cho khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên biển, quản lý và bảo vệ môi trường biển. Nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngành kinh tế biển và sản phẩm biển Việt Nam trên trường quốc tế.

    – Đảm bảo chất lượng môi trường biển cho phát triển bền vững kinh tế – xã hội. Phòng ngừa và sẵn sàng ứng cứu các sự cố môi trường biển.

    Thanh Nhàn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đại Lý Bán Vé Tàu Tại Quảng Bình
  • Vé Tàu Hỏa Đi Đồng Hới Quảng Bình Giá Rẻ Của Tàu Lửa Thống Nhất
  • Vé Tàu Lửa Hà Nội Đi Đồng Hới Quảng Bình Khoang Ghế Cứng Trên 300.000
  • Hướng Dẫn Đi Tàu Điện Ở Nhật Bản: Cách Mua Vé, Quy Tắc Ứng Xử Trên Tàu Và Những Mẫu Câu Tiếng Nhật Thường Dùng
  • Vé Tàu Đường Sắt Nhật Bản Japan Rail Pass
  • Chiến Lược Phát Triển Của Du Lịch Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Chiến Lược Rút Ra Từ Chương Trình Truyền Thông Quốc Tế Của Sở Du Lịch Đà Nẵng Trên Kênh Bbc Global
  • Tiktok Hợp Tác Chiến Lược Với Sở Du Lịch Đà Nẵng Ra Mắt Trào Lưu #hellodanang Nhằm Quảng Bá Du Lịch Đà Nẵng Đến Đối Tượng Người Dùng Trẻ
  • Chiến Lược Quảng Bá Du Lịch Việt Nam Qua Điện Ảnh
  • Chiến Lược Quảng Bá Du Lịch Thông Minh Nhất Thế Giới
  • Du Lịch Thái Lan [Trọn Gói
  • (VOV5) Slogan “Việt Nam – vẻ đẹp bất tận” (Vietnam – timeless charm) với biểu tượng cánh hoa sen đang hé nở chính thức trở thành biểu tượng của chương trình xúc tiến du lịch quốc gia giai đoạn 2012-2015.

    Biểu tượng là bông hoa sen cách điệu với năm cánh và năm màu sắc tượng trưng cho những sản phẩm du lịch chính của Việt Nam: du lịch biển đảo; du lịch sinh thái, thiên nhiên; du lịch văn hóa, lịch sử; du lịch khám phá, mạo hiểm. Theo Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Việt Nam Nguyễn Văn Tuấn, sau khi công bố logo mới ngành du lịch sẽ có chương trình quảng bá hình ảnh logo tới khách quốc tế trong và ngoài nước, coi đây là trọng tâm và đột phá của năm 2012 và những năm tiếp theo.

    Ông Nguyễn Văn Tuấn cho biết: ” Năm 2012 khó khăn, thách thức còn rất nhiều, thế giới và trong nước tiềm ẩn những yếu tố bất thường nhưng những yếu tố thuận lợi cũng đã được tạo dựng trong thời gian vừa qua. Đặc biệt là việc Vịnh Hạ Long được công nhận là một trong bảy kỳ quan thiên nhiên của thế giới sẽ tạo ra động lực để thu hút khách du lịch đến Hạ Long. Nếu như một khách đến Hạ Long chỉ lưu trú từ một đến hai ngày thì người ta bỏ từ năm đến bảy ngày cho điểm đến khác cho nên chúng ta tận dụng cơ hội này quảng bá không chỉ cho Hạ Long mà còn cho du lịch Việt Nam. Đây là yếu tố tạo ra sự đột phá cho năm 2012. Trong một cách tiếp cận như thế thì chúng tôi phấn đấu năm 2012 sẽ đạt được khoảng 6,5 đến 6,6 triệu khách quốc tế và phục vụ khoảng 32 triệu khách du lịch nội địa, thu nhập từ du lịch đạt khoảng 150 ngàn tỷ đồng”.

    2012, là năm ngành du lịch chính thức triển khai, phổ biến và thực hiện Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2022 tầm nhìn 2030 và Triển khai quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2022 tầm nhìn 2030, đồng thời xây dựng một loạt các quy hoạch phát triển vùng, đặc biệt là bảy vùng du lịch trọng điểm.Chiến lược này được xem như đòn bẩy thúc đẩy ngành du lịch phát triển hơn nữa, đưa Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn, có đẳng cấp trong khu vực và trên thế giới. Mục tiêu tổng quát của chiến lược đến năm 2022, du lịch Việt Nam cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có tính chuyên nghiệp, có hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật tương đối đồng bộ, hiện đại; sản phẩm du lịch có chất lượng cao, đa dạng, có thương hiệu, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, cạnh tranh được với các nước trong khu vực.

    Ông Nguyễn Văn Tuấn cho rằng: ” Ngành du lịch sẽ đột phá vào vấn đề tăng cường quản lý điểm đến thông qua vấn đề kiểm soát chất lượng dịch vụ và quản lý môi trường du lịch. Tiếp tục đẩy mạnh hoạt động quảng bá xúc tiến trong nước và nước ngoài và các hoạt động về nghiệp vụ thì vẫn duy trì theo kế hoạch đặt ra. Cái chúng tôi đặt ra là bài học mà ngành du lịch rút ra được từ chiến lược 10 năm trước là hiệu quả về kinh tế xã hội mới là mục tiêu cuối cùng. Doanh nghiệp chính là động lực để đảm bảo cho sự phát triển bền vững . Liên kết sẽ là một phương châm. Lấy việc xây dựng sản phẩm và quảng bá thương hiệu là yếu tố đột phá. Và bài học rút ra từ 10 năm trước là rất sâu sắc để chúng ta bước vào phát triển du lịch vào thập kỷ tới”.

    Chiến lược “Phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2022 tầm nhìn 2030” có nhiều điểm mới và mang tính đột phá. Tính đột phá thể hiện trong quan điểm phát triển du lịch bền vững theo hướng có chất lượng, có thương hiệu, chuyên nghiệp, hiện đại; khai thác hiệu quả, có trọng tâm, trọng điểm mọi nguồn lực và lợi thế quốc gia; phát huy tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa với vai trò động lực của các doanh nghiệp… Điểm mới trong chiến lược là đã đặt nhiệm vụ phát triển thương hiệu trở thành yếu tố then chốt trong cạnh tranh quốc tế và nâng cao hiệu quả; phấn đấu hình thành và phát triển một số thương hiệu nổi bật của du lịch Việt Nam trong khu vực và trên thế giới. Điều này thể hiện rõ nhất ở việc tập trung xây dựng các sản phẩm, loại hình du lịch có hệ thống, có kiểm soát chất lượng và có tính đặc trưng, đặc sắc; phát triển mạnh du lịch biển với quy mô, tầm cỡ quốc tế; phát triển du lịch văn hóa làm nền tảng; phát triển du lịch sinh thái, du lịch xanh, du lịch có trách nhiệm và liên kết phát triển sản phẩm vùng, khu vực.

    Là trung tâm du lịch của Việt Nam, ngành du lịch thành phố Hồ Chí Minh luôn biết làm mới mình. Theo ông Lã Quốc Khánh, Phó giám đốc Sở văn hóa Thể thao và Du lịch thành phố Hồ Chí Minh, trọng tâm trong những năm tiếp theo của ngành du lịch thành phố tiếp tục phát triển các sản phẩm du lịch xanh. Ông Lã Quốc Khánh cho biết: ” Ttrong năm 2012, sẽ có nhiều chương trình du lịch cho tuyến tầm trung như từ thành phố Hồ Chí Minh ra chấn biên Đồng Nai, dọc sông Đồng Nai, theo tuyến từ thành phố HCM đi Củ Chi, Bình Dương, dọc theo sông Sài Gòn. Đặc biệt tuyến du lịch dọc từ thành phố xuống Cần Giờ, chúng ta đang xây dựng phát triển các tuyến du lịch bằng du thuyền. trong đó có du thuyền khảo sát, phát hiện tham gia vào du lịch sinh thái hơn 40 nghìn ha rừng sinh thái tại Cần Giờ. Đây là loại du lịch cao cấp vừa tham gia tìm hiểu phát hiện sinh thái nhưng bảo đảm giữ gìn mỗi trường và phát triển bền vững, phải tạo ra những sản phảm cao cấp, đầu tư các bến cảng, nơi cung cấp dịch vụ cho du thuyền, giải quyết được vấn đề vệ sinh, nước thải”.

    Ngành du lịch xác định thị trường theo mục đích du lịch và khả năng thanh toán, ưu tiên thu hút khách du lịch có khả năng chi trả cao, có mục đích du lịch thuần tuý, lưu trú dài ngày. Phát triển mạnh thị trường nội địa, chú trọng khách nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, nghỉ cuối tuần, công vụ, mua sắm. Đối với thị trường quốc tế, tập trung thu hút phát triển mạnh thị trường khách quốc tế cao cấp: Đông Bắc Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc), Đông Nam Á và Thái Bình Dương (Singapore, Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Australia); tăng cường khai thác thị trường khách cao cấp đến từ Tây Âu (Pháp, Đức, Anh, Hà Lan, Ý, Tây Ban Nha, Scandinavia), Bắc Mỹ (Mỹ, Canada) và Đông Âu (Nga, Ucraina); mở rộng thị trường mới từ Trung Đông. Mục tiêu năm 2022, Việt Nam đón 10,5 triệu khách du lịch quốc tế và 48 triệu lượt khách du lịch nội địa. Đạt tổng doanh thu từ khách du lịch khoảng 19 tỷ USD, đóng góp 7% GDP cả nước và tạo ra 3 triệu việc làm. Đến năm 2030 thì tổng thu từ khách du lịch tăng gấp hai lần năm 2022./. Lan Anh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hội Thảo “chiến Lược Phát Triển Công Nghiệp Du Lịch Tàu Biển Việt Nam”
  • Giúp Huế Trong Chiến Lược Phát Triển
  • Sẵn Sàng Chiến Lược Phát Triển 10 Năm
  • Quảng Nam Định Vị Phát Triển Du Lịch Xanh, Mở Rộng Không Gian Điểm Đến
  • Chiến Lược Đột Phá Cho Du Lịch Quảng Nam
  • Chiến Lược Phát Triển Sản Phẩm Du Lịch Tỉnh Kiên Giang

    --- Bài mới hơn ---

  • Sản Phẩm Du Lịch Là Gì? Các Yếu Tố Cấu Thành Sản Phẩm Du Lịch
  • Lễ Hội Với Phát Triển Kinh Tế Du Lịch
  • Phát Triển Du Lịch Mice Gắn Với Trải Nghiệm Sản Phẩm Du Lịch Văn Hóa
  • Mice Là Gì? Du Lịch Mice Có Lợi Ích Như Thế Nào?
  • Việt Nam Quảng Bá Nhiều Sản Phẩm Du Lịch Mới Tại Wtm 2014
  • Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang vừa ban hành Quyết định số 3095/QĐ-UBND ngày 30/12/2013 phê duyệt “Chiến lược phát triển sản phẩm du lịch tỉnh Kiên Giang đến năm 2022 và định hướng đến năm 2030”.

    Mục tiêu nhằm góp phần cụ thể hóa việc thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ tăng trưởng du lịch Kiên Giang đã được xác định trong Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Kiên Giang cũng như Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế – xã hội của địa phương theo các nghị quyết của Tỉnh ủy tỉnh Kiên Giang.

    Về chiến lược bao gồm các chiến lược thâm nhập thị trường, phát triển sản phẩm, phát triển thị trường và chiến lược đa dạng hóa sản phẩm du lịch. Định vị cạnh tranh của 5 loại sản phẩm du lịch chính của tỉnh Kiên Giang so với các tỉnh trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Bên cạnh đó, sẽ triển khai 16 định hướng liên kết tuyến, điểm du lịch quốc tế với các nước trong khu vực ASEAN, đặc biệt với nước láng giềng có đường biên giới trên địa phận tỉnh Kiên Giang bằng cả đường bộ, đường biển và đường hàng không. Song song đó cũng sẽ có 7 định hướng liên kết với các tuyến, điểm du lịch nội địa với các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long, Tp. Hồ Chí Minh và các địa phương khác bằng cả đường thủy, đường không và đường bộ.

    Về thị trường khách du lịch nội địa: Chú trọng các thị trường khách với mục đích nghỉ dưỡng, giải trí, nghỉ cuối tuần, mua sắm và du lịch gia đình. Tập trung thu hút có lựa chọn các phân đoạn thị trường khách du lịch có khả năng chi trả cao và lưu trú dài ngày. Thị trường khách du lịch nội địa được phân đoạn theo tiêu chí mục đích du lịch bao gồm nghỉ dưỡng, các kỳ nghỉ hè, nghỉ lễ, nghỉ phép; lễ hội, khách du lịch tâm linh; du lịch cuối tuần, mua sắm; khuyến thưởng; kết hợp công vụ; sinh thái, mạo hiểm, thể thao, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe, làm đẹp v.v…

    Về thị trường khách quốc tế: tập trung thu hút, phát triển mạnh thị trường khách quốc tế gần như: Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc; khu vực Đông Nam Á. Đồng thời tăng cường khai thác thị trường khách cao cấp đến từ Tây Âu (Pháp, Đức, Anh, Hà Lan, Bắc Âu, Bắc Mỹ (Mỹ, Canada) và Đông Âu (Nga, Ukraina), Thái Bình Dương (Australia, New Zealand), mở rộng thị trường mới: Trung Đông, Ấn Độ.

    Cũng theo quyết định này, hệ thống sản phẩm du lịch Kiên Giang sẽ tập trung theo 3 nhóm sản phẩm:

    Sản phẩm đặc thù: Du lịch nghỉ dưỡng biển cao cấp; du lịch hội nghị cao cấp; tham quan Khu bảo tồn động vật hoang dã trên đảo; tham quan hệ sinh thái núi đá vôi (karst) giao thoa biển và đồng bằng; tham quan và mua sắm tại trang trại nuôi trồng và cửa hàng bán sản phẩm ngọc trai; tham quan trại nuôi giống chó xoáy Phú Quốc và xem đua chó;

    Sản phẩm du lịch chính: Du lịch nghỉ dưỡng biển trung cấp; du lịch nghỉ dưỡng biển đại trà; tham quan Trại giam tù binh cộng sản Việt Nam/Phú Quốc; du lịch xem vườn chim; câu cá, câu mực; tham quan các làng chài biển, làng nghề trồng tiêu, sản xuất nước mắm, làng nghề đan bàng, làng nghề gốm; tham quan khu di tích Hòn Đất và khu mộ AHLLVTND Phan Thị Ràng (chị Sứ); khu di tích lịch sử cách mạng U Minh Thượng; lặn biển xem san hô và sinh vật biển.

    Sản phẩm du lịch bổ sung: tham quan, nghiên cứu khoa học hệ sinh thái rừng tràm ven biển; hoạt động du lịch sinh thái ở rừng tràm ven biển; tham quan và tắm suối; tham quan cơ sở sản xuất nước mắm; tham quan các làng nghề; tham quan chợ cá sáng; tham quan chợ đêm…

    Chiến lược cũng xác định lộ trình phát triển sản phẩm du lịch của tỉnh theo 2 giai đoạn từ 2014 – 2022 và giai đoạn 2022 – 2030.

    Để tổ chức triển khai đạt hiệu quả, Chiến lược đã đề ra các giải pháp cơ bản về cơ chế chính sách cho xây dựng sản phẩm du lịch; đầu tư phát triển hệ thống sản phẩm du lịch; liên kết phát triển sản phẩm du lịch; xây dựng thương hiệu và xúc tiến quảng bá sản phẩm du lịch; đào tạo phát triển nguồn nhân lực; hợp tác quốc tế trong phát triển sản phẩm du lịch; quản lý chất lượng sản phẩm du lịch; tăng cường vai trò của Hiệp hội Du lịch; hạn chế ảnh hưởng của việc Phú Quốc trở thành đặc khu hành chính – kinh tế trực thuộc Trung ương đến phát triển du lịch.

    Thái Nguyên

    --- Bài cũ hơn ---

  • Du Lịch Kiên Giang Còn Nhiều Dư Địa Phát Triển
  • Sản Phẩm Du Lịch Huế Quá Rẻ
  • Hội An Biến Rác Thải Thành Sản Phẩm Du Lịch
  • Hà Giang Ưu Tiên Phát Triển Sản Phẩm Du Lịch Mang Bản Sắc Văn Hóa
  • Hà Giang: Tăng Cường Phát Triển Sản Phẩm Du Lịch Đặc Trưng Trong Liên Kết Vùng
  • Chiến Lược Marketing Du Lịch Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Cho Thuê Xe Du Lịch Tại Bến Tre
  • Bảng Giá Thuê Xe Tại Bến Tre
  • Bảng Giá Cho Thuê Xe Cà Mau
  • Bảng Giá Thuê Xe Hải Phòng
  • Cho Thuê Xe 4 Chỗ
  • Với cơ sở là Chiến lược Phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2022, Tầm nhìn đến năm 2030, Chiến lược Marketing hướng tới phát triển các sản phẩm chất lượng dựa vào những lợi thế tự nhiên của bảy vùng du lịch và tập trung vào du lịch biển/bãi biển, du lịch văn hóa, du lịch dựa vào tài nguyên thiên nhiên (sinh thái).

    Chiến lược Marketing cho ngành Du lịch Việt Nam hướng tới ba mục tiêu về kinh tế, xã hội và môi trường.

    Mục tiêu kinh tế: Thu hút được từ 10-10,5 triệu lượt khách du lịch quốc tế vào năm 2022 (tăng trưởng hàng năm đạt 7,6%), đáp ứng được 48 triệu lượt khách nội địa (tăng trưởng đạt 5,3% hàng năm). Doanh thu từ du lịch đến năm 2022 sẽ tăng đến 18-19 tỉ đô la Mỹ (đạt 13,8%/năm vào năm 2022 và 12%/năm vào các năm tiếp theo), đóng góp 6,5 – 7% GDP vào năm 2022, thu hút 42,5 tỉ đô la Mỹ vốn đầu tư, tăng nguồn cung buồng lưu trú đến 580.000 buồng từ nay đến năm 2022.

    Mục tiêu xã hội: Tăng tổng số lao động trong ngành du lịch lên hơn 3 triệu lao động, trong đó có 870.000 lao động trực tiếp, đảm bảo phát triển du lịch sẽ góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa Việt Nam, cải thiện cuộc sống cho người dân.

    Mục tiêu môi trường: Phát triển du lịch Xanh, gắn hoạt động du lịch với giữ gìn và phát huy các giá trị tài nguyên, bảo vệ môi trường, đảm bảo các dự án phát triển du lịch phải tuân thủ luật môi trường.

    Chiến lược cũng tập trung phát triển du lịch và marketing tại những thị trường Châu Á – Thái Bình Dương, thị trường phía Tây – Tây Âu, những thị trường mới như Trung Đông và Ấn Độ.

    Tải xuống: http://esrt.vn/data/filedownload/file/FileDownload23.pdf 

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bỏ Túi Kinh Nghiệm Du Lịch Quảng Bình Tự Túc Chi Tiếp Nhất – Quảng Bình – Trang Tin Về Du Lịch Quảng Bình
  • Chi Phí Du Lịch Koh Rong 3 Ngày 2 Đêm Bao Nhiêu Tiền
  • Kinh Nghiệm Lên Kế Hoạch Và Tìm Hiểu Chi Phí Đi Maldives
  • Đánh Giá Chất Lượng Lao Động Nghề Du Lịch Của Việt Nam
  • Trường Cao Đẳng Du Lịch
  • Chiến Lược Marketing Cho Du Lịch Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Kinh Nghiệm Đi Du Lịch Bụi Hội An
  • Du Lịch Nhật Bản Tiết Kiệm Nhất Chỉ 10 Triệu
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Nhật Bản Tiết Kiệm
  • Giới Thiệu Các Khu Du Lịch Ở Cam Ranh
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Đài Loan Tự Túc Giá Rẻ 5 Ngày 4 Đêm ! Blog Du Lịch.
  • Xây dựng chiến lược quảng bá điểm đến Việt Nam TS. Phạm Từ, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch

    “Bên cạnh những thành tựu và cơ hội phát triển, du lịch Việt Nam còn bộc lộ những yếu kém và khó khăn cần khắc phục. Trong khi thị phần khách đến Việt Nam bằng đường không chiếm tới 70% nhưng Việt Nam hiện chỉ là điểm đến cuối, chưa phải là điểm trung chuyển khách, là cửa ngõ vào khu vực. Hạ tầng phục vụ du lịch còn kém.

    Chất lượng dịch vụ du lịch còn nhiều vấn đề. Sản phẩm du lịch nói chung chưa mang tính cạnh tranh cao… Nhưng việc quảng bá điểm đến Việt Nam hiện đang ở thời điểm rất thuận lợi. Thương hiệu Việt Nam đang được khẳng định và ngày càng được đánh bóng, đề cao. Việt Nam đang nổi lên như một điểm đến hấp dẫn, an toàn trong khu vực.

    Năm 2006, Nhà nước đã tạo ra diễn đàn rất thuận lợi để quảng bá du lịch Việt Nam. 21 nền kinh tế với hàng vạn nhân vật quan trọng, doanh nhân sẽ đến làm việc và du lịch tại Việt Nam. Tổng cục Du lịch Việt Nam đã có đề án quảng bá du lịch xác định: “Năm 2006 là năm chất lượng, năm quảng bá du lịch tại chỗ”.

    Tháng 10-2006 tại Hội An sẽ diễn ra sự kiện quan trọng là Hội nghị Bộ trưởng du lịch APEC, lần đầu được tổ chức tại Việt Nam. Chương trình hành động quốc gia về du lịch 2006-2010 sẽ được phát động, triển khai. Chiến dịch quảng bá mới của du lịch Việt Nam đã và đang được phát động. Tiêu đề và biểu tượng mới “Việt Nam – Vẻ đẹp tiềm ẩn” đang được quảng bá rộng rãi và được áp dụng trong toàn ngành, thu hút được sự quan tâm, đánh giá cao của công luận, của các nhà chuyên nghiệp.

    Như vậy hiện vị thế đã được nâng lên, sân chơi đã rộng mở, luật chơi đã rõ. Vấn đề còn lại là cách đặt vấn đề của các cơ quan quản lý du lịch tỉnh, thành với chính quyền địa phương, để ra được các chủ trương, kế hoạch, tiền của, lực lượng nhằm xúc tiến quảng bá điểm đến từng vùng, miền, từng địa phương; sự liên kết phối hợp liên ngành, liên vùng và khả năng nghề nghiệp của các chuyên gia xúc tiến du lịch trong toàn ngành cũng là những yếu tố quan trọng để đẩy mạnh hoạt động quảng bá xúc tiến du lịch.

    Các doanh nghiệp sẽ quảng bá thương hiệu, bán sản phẩm đặc thù của mình trong môi trường quảng bá điểm đến đã thuận lợi. Hãy đưa ra những sản phẩm có chất lượng đúng với thương hiệu và những gì đã quảng bá. Các hãng thông tấn báo chí trong và ngoài nước đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong quảng bá điểm đến Việt Nam”.

    Bốn giải pháp quảng bá du lịch Ông Nguyễn Quốc Kỳ, Tổng giám đốc Công ty Vietravel

    “Để hoạt động marketing mang tính hiệu quả cao, du lịch Việt Nam cần thực hiện đồng bộ bốn giải pháp cơ bản. Thứ nhất là quảng bá du lịch Việt Nam ra thế giới bằng các phương thức quảng bá và cung cấp thông tin thông qua cấp lãnh đạo và các cơ quan chuyên trách, thuê công ty PR chuyên nghiệp của nước ngoài quảng bá về du lịch Việt Nam.

    Thứ hai là nhóm giải pháp quảng bá qua các công cụ chính. Quảng bá qua Website, E-mail nhằm giới thiệu chung về hình ảnh đất nước, con người, những cảnh quan thiên nhiên, phong tục tập quán, lễ hội, sự kiện văn hóa du lịch nổi tiếng, hấp dẫn của Việt Nam; kết nối các đoạn chương trình giới thiệu của các doanh nghiệp du lịch, trình bày bằng nhiều ngôn ngữ và hình ảnh để khách hàng dễ dàng truy cập, nắm bắt thông tin, liên kết với nhau và với các trang Web nổi tiếng như Google, MSN, infoseek,… để du khách nước ngoài dễ dàng tìm kiếm.

    Thứ ba là giải pháp quảng bá qua các lễ hội, sự kiện có chọn lọc trong và ngoài nước (các sự kiện thể thao lớn của khu vực, thế giới, các hội nghị của lãnh đạo cấp cao các nước: ASEM, APEC,…).

    Thứ tư là việc xây dựng thương hiệu Việt Nam qua đó tạo điều kiện quảng bá du lịch. Cần phải nhận thức đúng đắn và nắm bắt cơ hội để xây dựng hình ảnh về đất nước Việt Nam”.

    Tiếp thị du lịch văn hóa và sinh thái Bà Võ Thị Thu, Giám đốc Công ty Du lịch – Dịch vụ Hội An

    Từ đó đến nay, du khách đến tham quan, lưu trú tại Hội An ngày càng đông. Đô thị cổ Hội An cũng vừa chính thức đón vị khách quốc tế thứ hai triệu đến tham quan. Khai thác giá trị văn hóa và sinh thái này, các chương trình tour tại Hội An đã mang một sắc thái mới, riêng có và hấp dẫn.

    Đặc biệt, nhiều chương trình mới như tour các làng nghề truyền thống Quảng Nam, Hội An, Mỹ Sơn huyền thoại, khám phá Cù Lao Chàm, lặn biển, tham quan rừng dừa Bảy Mẫu… đã được công ty chúng tôi xây dựng và báo giá tour trọn gói.

    Nét văn hoá độc đáo mà ít nơi nào còn giữ được khi phát triển du lịch đó là phong cách sống của người Hội An, thân thiện, hiền hoà, dễ gần, mến khách, tạo cho du khách cảm giác gần gũi như đang sống trong ngôi nhà mình. Luôn trân trọng và có ý thức giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa vật thể cũng như phi vật thể mà cha ông để lại.

    Trong xây dựng cơ sở vật chất phục vụ du khách, công ty chúng tôi luôn tổ chức thiết kế, trang trí theo phong cách kiến trúc truyền thống Việt Nam và đặc biệt chú trọng đến phong cách kiến trúc truyền thống Hội An.

    Trong từng ngôi nhà ở phố, bạn có thể nhận ra sự hoà trộn nhuần nhuyễn các phong cách kiến trúc của cả người Việt, người Hoa lẫn người Nhật. Những chi tiết kiến trúc, hoa văn trên ghế ngồi, hoa văn trang trí khăn trải giường… đều mang phong cách của người Hội An, do chính những nghệ nhân của các làng nghề truyền thống như mộc Kim Bồng, gốm Thanh Hà chế tác”.

    Theo xu hướng quốc tế hoá sản phẩm du lịch Ông Nguyễn Quang Hiển, Giám đốc Kinh doanh và Phát triển Phở 24, Nam An Group

    “Chúng ta thử hình dung sự ảnh hưởng tích cực đối với hình ảnh Việt Nam như thế nào nếu như ngay tại trung tâm các thành phố lớn trên thế giới như New York, Washington D.C, Sydney, Tokyo, Paris, Luân Đôn, Bắc Kinh…, xuất hiện các nhà hàng, quán cà phê, cửa hàng bán lẻ mang thương hiệu Việt Nam và của Việt Nam “đưa” sang.

    Chắc chắn rằng, mặc dù có thể rất nhiều người chưa từng đi du lịch tới Việt Nam nhưng thông qua những cửa hiệu “Việt Nam” tại đất nước của họ, rất có thể một ngày nào đó họ sẽ đi du lịch tới Việt Nam để khám phá một đất nước tràn đầy sức sống với những con người thân thiện và nguồn tài nguyên văn hóa và du lịch phong phú.

    Tạo mối quan hệ giữa doanh nghiệp và thị trường Bà Lê Hoài Anh, Tổng giám đốc Công ty TNHH Thương mại và Xây dựng Thuỷ Lộc

    Tùy theo từng khu vực, từng lĩnh vực, từng mục đích mà người ta nêu những định nghĩa về Marketing du lịch khác nhau. Nhưng chắc chắn, dù khác nhau thế nào đi nữa, những cốt lõi và nguyên lý cơ bản của Marketing du lịch cũng được dựa trên những cốt lõi và nguyên lý của Marketing nói chung.

    Khi những giá trị của Hal’S Group đã đạt được những chuẩn mực này và trở nên phổ biến, vấn đề phân vùng thị trường quốc tế và nội địa trong sự phát triển của Hal’S Group mới được đặt ra. Nhưng dù thế nào đi nữa, những chuẩn mực giá trị của HAL’S Group sẽ luôn nhất quán và không thay đổi”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khu Du Lịch Làng Yến, Tiền Giang
  • Kinh Nghiệm Cần Biết Để Có Chuyến Du Lịch Bali Tiết Kiệm
  • Chi Phí Du Lịch Bali Hết Bao Nhiêu Tiền? Du Lịch Bali Tiết Kiệm
  • Tour Du Lịch Huế Lăng Cô Từ Đà Nẵng 1 Ngày Đón Tiễn Theo Yêu Cầu
  • Tour Du Lịch Hàn Quốc Tháng 1
  • 4 Chiến Lược Phát Triển Du Lịch Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Top 5 Địa Điểm Du Lịch Gần Sài Gòn Cho Mùa Hè Này
  • Top 6 Quán Ăn Ngon Quận 11
  • 5 Địa Điểm Câu Cá Giải Trí Cuối Tuần
  • Top 5 Địa Điểm Du Lịch Làm Mê Mẩn Du Khách Khi Vi Vu Đến Đài Trung Hè Này
  • Lập Team Đi Du Lịch Gần Hà Nội Trong Ngày Với 5 Hòn Đảo Thiên Đường
  • Năm 2013, Hiệp hội Du lịch Việt Nam có nhiều hoạt động sôi nổi, đã thực sự giúp cơ quan định hướng và quản lý Nhà nước của Bộ VHTTDL, Tổng cục Du lịch và các Doanh nghiệp Du lịch Việt Nam. Tạo cơ hội mới phát triển như Bảo vệ quyền lợi Doanh nghiệp Du lịch, trong bối cảnh còn thiếu các văn bản Luật pháp hỗ trợ cho các Doanh nghiệp hoạt động du lịch như: thuế đất, vận chuyển, chế độ miễn giảm Visa Du lịch. Đặc biệt là việc tổ chức tốt các tuyến điểm du lịch quốc gia hấp dẫn giới thiệu với các Tổ chức du lịch quốc tế.

    Để hấp dẫn du khách nước ngoài đến Việt Nam nhiều hơn nữa theo Ông, Ngành Du lịch Việt Nam cần tập trung vào lĩnh vực nào?

    Đặc biệt, năm 2013 cũng là năm đầu tiên Hiệp hội Du lịch Việt Nam tổ chức Triển lãm Hội chợ Du lịch Quốc tế lần thứ I (VITM) tại Hà Nội đã có sự tham gia trưng bày của 400 gian hàng, trong đó có các gian hàng triển lãm của 25 Quốc gia và Vùng lãnh thổ: Thái Lan, Lào, Campuchia, Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc, Philippines, Indonesia… Theo kế hoạch, vào tháng 4 năm 2014, Triển lãm Hội chợ Du lịch quốc tế lần 2 tổ chức tại Hà Nội, dự kiến có sự tham gia của 50 gian hàng quốc tế và Vùng lãnh thổ, cùng các Doanh nghiệp Du lịch trong nước. Ban Tổ chức sẽ thực hiện nhiều chuyến Farmtrip cho các doanh nghiệp quốc tế ở cả 3 miền Bắc – Trung – Nam, để các Doanh nghiệp quốc tế có điều kiện tạo mối quan hệ, liên kết với Ngành Du lịch địa phương.

    – Tất cả quốc gia trên Thế giới khai thác Du lịch đều tập trung vào 4 chiến lược:

    1. An ninh, an toàn: Để du khách yên tâm, có cơ chế bảo vệ du khách. Vừa qua, ngày 4/11/2013 tại Đà Nẵng, Bộ trưởng Bộ VHTTDL, Tổng Cục Du lịch và Hiệp hội Du lịch Việt Nam đã đề xuất thành lập Trung tâm Bảo vệ Du khách, Chính phủ, Bộ đã thống nhất cao và là mô hình chủ đạo cần triển khai ở các địa phương khác… Trên thế giới, việc bảo vệ – an ninh – an toàn cho du khách quốc tế phải có tổ chức riêng, như các nước có Cảnh sát Du lịch (CSDL) như Thái Lan, Campuchia, Singapore…Vì cơ chế nước ta hiện nay chưa đủ điều kiện để thành lập CSDL như ở nước bạn, nhưng tại TP Hồ Chí Minh và một số địa phương khác đã có sáng kiến thành lập Lực lượng Bảo vệ Du khách với cùng mục đích và nhiệm vụ như CSDL. Để tạo an toàn – an tâm cho du khách quốc tế, các Trung tâm Bảo vệ Du khách trên cả nước dự kiến chọn 1 số Điện thoại Khẩn cấp (cộng với mã vùng) để kịp thời hỗ trợ du khách khi cần thiết.

    2. Sản phẩm Du lịch: Việc du khách lựa chọn đến địa điểm du lịch nào, không phải là vì dự định ban đầu, mà là tìm một nơi phù hợp với sở thích của họ. Thí dụ, du khách thích chơi Golf sẽ tìm đến điểm đến nào có sân golf đẹp; hoặc thích Spa thì sẽ tìm đến nơi có dịch vụ chăm sóc sức khỏe, sử dụng các loại thảo dược thiên nhiên; Chính vì vậy, một tuyến điểm hấp dẫn là một tuyến điểm có nội dung phù hợp với ý thích của du khách. Bên cạnh đó, còn phải nhờ vào các chất lượng dịch vụ du lịch ở nơi lưu trú Khách sạn, Nhà hàng, và chất lượng dịch vụ khác như vận chuyển, giao thông vận tải, visa để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho du khách khi đến Việt Nam. Xây dựng sản phẩm mới phải có ý thức bảo vệ môi trường

    3. Chiến lược quảng bá, tiếp thị: Khi đã có được những yếu tố trên, việc xây dựng chiến lược quảng bá là bước kế tiếp cần phải thực hiện, nhưng cần phải quảng bá, xây dựng chiến lược tiếp thị với kế hoạch cụ thể cho từng địa phương.

    Ông có nhận xét gì về Ngành Du lịch TPHCM trong các hoạt động đa dạng và nhạy bén phục vụ du khách nội địa và quốc tế? Ông có tâm sự gì nhân ngày Tết với các doanh nghiệp du lịch trên cả nước?

    4. Nguồn nhân lực: Cần đào tạo đội ngũ cán bộ, nhân viên du lịch chuyên nghiệp, có ngoại ngữ giỏi, có khả năng tiếp cận kiến thức nhân loại, hội nhập nhanh. Mỗi đơn vị, Công ty có nguồn nhân lực có ngoại ngữ thông thạo, sẽ làm tăng giá trị tài sản hàng triệu đô la.

    Xin cám ơn Ông, Kính chúc Ông cùng các thành viên Hiệp hội Du lịch Việt Nam năm mới, thắng lợi mới!

    – TP Hồ Chí Minh là đơn vị Du lịch lớn nhất nước, có sự chỉ đạo sâu sát và nhạy bén của Thành Ủy, UBND TPHCM và sự năng động, sáng tạo của Sở VHTTDL TPHCM, Hiệp hội Du lịch TPHCM và các doanh nghiệp. Đặc biệt, các doanh nghiệp Du lịch lớn mạnh đều đóng chân trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là một lực lượng giỏi, năng động, sáng tạo, tạo sự sôi nổi, phối hợp phát triển Du lịch trên cả nước. Trong năm 2013, đã có nhiều hoạt động có sức lan tỏa đến các vùng, miền Du lịch trên cả nước, giúp các doanh nghiệp Du lịch đoàn kết, phát triển. Đặc biệt TPHCM cần tăng cường chiến lược bảo vệ an ninh – an toàn cho du khách quốc tế. Tháng 10/2013, Ngành Du lịch Thái Lan đã tổ chức Hội nghị Bảo vệ Du khách, đến tham dự có lãnh đạo Cảnh sát Du lịch quốc tế, các doanh nghiệp. TPHCM đạt số lượng 4,1 triệu khách quốc tế trong năm 2013, chúng ta cần có kinh nghiệm thực tiễn, phát triển và xây dựng an ninh – an toàn cho du khách quốc tế đến Việt Nam – TP. Hồ Chí Minh. Nếu TP. Hồ Chí Minh tổ chức Hội nghị Quốc tế này, sẽ là dịp để thế giới khẳng định Việt Nam là đất nước an ninh – an toàn – thân thiện, dư luận và truyền thông thế giới sẽ góp phần quảng bá cho Du lịch Việt Nam – TP. Hồ Chí Minh.

    – Tiềm năng Du lịch quốc gia, địa phương trong kế hoạch chiến lược phát triển Du lịch Việt Nam đã được Chính phủ phê duyệt đến năm 2022, tầm nhìn đến 2030. Thực sự tiềm năng Du lịch Việt Nam không thua bất cứ nước nào trên khu vực Châu Á và thế giới, có nơi còn nổi trội hơn như Đồng bằng Sông Cửu Long – Tây Bắc – Sapa, Duyên hải miền Trung, Đồng bằng Sông Hồng. Riêng với Sapa, vừa qua chính phủ đã chỉ đạo quyết tâm bảo vệ môi trường và an ninh, an toàn trước sự kiện xây dựng hệ thống Cáp treo Sapa dài 7km, với sự đầu tư của quốc tế là 36 triệu USD. Hiện nay, là thời đại công nghệ thông tin, nên các Doanh nghiệp Du lịch Việt Nam đều cần phải cơ cấu lại tài chính, hoạt động kịp thông tin thời đại. Chúng ta phải cơ cấu lại để kinh tế Du lịch phát triển, tiềm năng trở thành thế mạnh phải đạt 4 yếu tố chiến lược, tạo bước nhảy vọt cho Du lịch Việt Nam. Trong khu vực ASEAN, 5 quốc gia đạt số lượng khách quốc tế cao: 1-Malaysia, 2-Thái Lan, 3-Singapore, 4-Indonesia, 5-Việt Nam. Chúng ta phấn đấu trong 10 năm tới, Việt Nam sẽ là điểm đến hấp dẫn nhất khu vực.

    Ÿ Ông là thành viên trong Hội đồng Cố vấn của Tạp Chí Du lịch TPHCM trong nhiều năm qua, Ông có điều gì tâm đắc?

    Tạp Chí Du lịch TPHCM hiện nay, là bước phát triển của Tạp chí Người Du lịch của Tổng Công ty Du lịch Sài Gòn, được Bộ Văn hóa-Thông tin và UBND TPHCM cấp Quyết định thành lập được xuất bản từ năm 1994. Đến năm 1997, Tạp Chí Người Du lịch được chuyển về Sở Du lịch TPHCM, đổi tên thành Tạp Chí Du lịch TPHCM. Từ ấy đến nay, Tạp Chí Du lịch TPHCM đã tròn 20 tuổi. Sự tồn tại và phát triển của Tạp Chí Du lịch TPHCM cùng trang web hiện nay cho thấy tập thể Cán bộ lãnh đạo, Phóng viên, Tạp Chí Du lịch TPHCM hết sức yêu Ngành, yêu Nghề, đã quyết tâm phấn đấu trong 20 năm qua. Tập thể đã cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và phát triển của Ngành Du lịch Việt Nam,Ngành Du Lịch TPHCM. Văn hóa kiệt xuất Nguyễn Công Trứ đã nói: “Ví phỏng đường đời bằng phẳng cả. Anh hùng hào kiệt có hơn ai”! Theo tôi, sự gian khổ là cần thiết để có thể thành công hôm nay. Tôi may mắn là người gắn bó với Tạp Chí từ năm 1994 đến nay – 2014. Mong rằng dịp Kỷ niệm 20 năm hình thành và phát triển Tạp Chí Du lịch TPHCM, có thêm những thành tích mới. Xin chúc mừng năm mới đến Ban Biên tập, Phóng viên, Tạp Chí Du lịch TPHCM, Năm mới Giáp Ngọ – 2014: Sức khỏe-Thành đạt!

    --- Bài cũ hơn ---

  • 5 Năm Thực Hiện Chiến Lược Phát Triển Du Lịch Việt Nam Đến Năm 2022, Tầm Nhìn Đến Năm 2030
  • Hội Thảo 5 Năm Thực Hiện Chiến Lược Phát Triển Du Lịch Việt Nam Đến Năm 2022, Tầm Nhìn Đến Năm 2030
  • 5 Năm Thực Hiện Chiến Lược Phát Triển Du Lịch Việt Nam
  • 4 Địa Điểm Du Lịch Hấp Dẫn Gần Sài Gòn
  • Top 4 Địa Điểm Du Lịch Gần Sài Gòn Thư Giãn Cuối Tuần
  • Chiến Lược Marketing Của Vietravel

    --- Bài mới hơn ---

  • Kinh Nghiệm Phát Triển Du Lịch Của Thái Lan Và Một Số Gợi Ý Đối Với Việt Nam
  • An Giang Phát Triển Du Lịch Trở Thành Điểm Đến Hấp Dẫn
  • Chính Sách Hỗ Trợ Đầu Tư Phát Triển Du Lịch
  • Một Số Vấn Đề Trong Phát Triển Du Lịch Bền Vững Đảo Phú Quốc, Kiên Giang
  • Thực Hiện Chính Sách Phát Triển Du Lịch Từ Thực Tiễn Tỉnh Quảng Nam (Luận Văn
  • Du lịch Việt Nam để đạt được những thành công như hiện nay, chắc chắn phải có sự góp sức không nhỏ từ chiến lược marketing của Vietravel được đề ra từ ban lãnh đạo của doanh nghiệp. Vậy chiến lược marketing của Vietravel là gì?

    Vietravel là ai? Sứ mệnh và mục tiêu của Vietravel

    Vietravel tiền thân là trung tâm du lịch – tiếp thị và dịch vụ đầu tư Tracodi Tourism, được thành lập vào năm 1995 chỉ với 7 thành viên. Trải qua hơn 20 năm hình thành và phát triển, Vietravel không ngừng nỗ lực để mang lại cho khách hàng chất lượng dịch vụ tốt nhất, liên tục thay đổi và ứng dụng công nghệ mới vào trong quy trình vận hành. Nhờ vậy mà Vietravel có thể đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách nhanh chóng và kịp thời mọi lúc mọi nơi. Tất cả đã góp phần để đưa Vietravel trở thành doanh nghiệp du lịch lữ hành hàng đầu Việt Nam hiện nay.

    Sứ mệnh và mục tiêu của Vietravel

    Vietravel hướng tới trở thành một nhà tổ chức du lịch chuyên nghiệp, với sứ mệnh là Mang lại cảm xúc thăng hoa cho du khách trong mỗi hành trình.” Doanh nghiệp luôn nỗ lực và cam kết sẽ mang tới khách hàng những trải nghiệm du lịch đúng như sứ mệnh của mình. Vietravel muốn trở thành một người bạn đồng hành của du khách trong những chuyến du lịch, cùng nhau tạo ra những giá trị tốt đẹp. Có thể rút gọn 3 thuộc tính từ Vietravel lại như sau:

    Mục tiêu của Vietravel trong năm 2022 chính là: Trở thành công ty du lịch lữ hành đa quốc gia đầu tiên của Việt Nam, cũng như lọt top 10 công ty du lịch hàng đầu khu vực châu Á.

    Chiến lược Marketing của Vietravel

    thực ra không có gì quá phức tạp hay cao siêu, thực chất nó rất rõ ràng bởi lẽ doanh nghiệp đã áp dụng chiến lược Chiến lược marketing của Vietravel Marketing-mix. Thông thường, một chiến lược Marketing-mix sẽ có 2 dạng: 4P hoặc 7P, ở đây Vietravel đã sử dụng 7P cho chiến lược Marketing của mình. Đúng như tên gọi của mình, chiến lược Marketing Mix của Vietravel sẽ được chia theo 7 mục nhỏ ứng với 7 chữ cái P.

    Chữ cái P đầu tiên trong chiến lược marketing của Vietravel ứng với Product – hay còn gọi là chiến lược sản phẩm. Ở Vietravel có ba nhóm sản phẩm chính là:

    Trong kinh doanh nói chung và chiến lược Marketing-mix nói riêng, giá (Price) luôn là yếu tố quan trọng bởi lẽ nó là thứ tạo ra doanh thu cho công ty. Đó là chưa kể, giá thành còn là yếu tố được khách hàng cân nhắc hàng đầu trước khi đưa ra quyết định mua hàng và Vietravel hiểu được điều này. Doanh nghiệp luôn tìm cách để mang lại cho khách hàng những sản phẩm, dịch vụ tốt nhất xứng với giá tiền, nhờ vậy khách hàng mới cảm thấy thỏa mãn với số tiền đã bỏ ra. Ngoài ra, Vietravel còn xây dựng được cách xác định giá chương trình du lịch, tạo sự minh bạch và tăng niềm tin cho khách hàng. Cơ sở để Vietravel xây dựng được chính là họ có thể định giá sản phẩm dựa trên ba yếu tố sau:

    Place (Chiến lược phân phối)

    Trong chiến lược marketing của Vietravel, phần chiến lược phân phối sẽ có đôi chút khác biệt do đặc thù sản phẩm của doanh nghiệp là dịch vụ, không phải sản phẩm hữu hình nên kênh phân phối của Vietravel sẽ như sau:

    Promotion (Chiến lược tiếp thị)

    Để đưa hình ảnh thương hiệu đến đông đảo với công chúng, Vietravel đã ứng dụng sự phát triển của công nghệ và Internet thông qua hai phiên bản bán tour trực tuyến trên hai nền tảng: máy tính và điện thoại di động.

    Physical Evidence (Cơ sở vật chất – kỹ thuật)

    Đây là một trong 3P mở rộng trong Marketing-mix, vậy thành tố Physical Evidence được thể hiện như nào trong chiến lược Marketing của Vietravel?

    Rõ ràng nhất chính là sự phủ sóng của 16 chi nhánh trên khắp các tỉnh thành, chưa kể Vietravel còn sở hữu 5 văn phòng đại diện tại nước ngoài. Nhờ vậy mà sự hiện diện của Vietravel trước mặt mọi người tăng lên nhanh chóng. Vietravel còn sở hữu hệ thống phương tiện vận chuyển tiện nghi và đa dạng. Ngoài ra, Vietravel còn tự hào là đại lý bán vé máy bay chính thức của tất cả các hãng hàng không nổi tiếng đang có mặt tại Việt Nam.

    People Strategy (Chiến lược con người)

    Bất kỳ doanh nghiệp dù tài chính vững mạnh đến mấy nhưng nếu yếu tố con người không được đảm bảo, chắc chắn doanh nghiệp đó không thể phát triển lâu dài và bền vững được. Với Vietravel thì đó là một câu chuyện hoàn toàn khác, ban lãnh đạo luôn có những chính sách đầu tư vào nguồn nhân lực một cách hợp lý. Vietravel sở hữu đội ngũ hướng dẫn viên du lịch có trình độ chuyên môn cao, thông thạo ngoại ngữ, trẻ trung, tận tình. Tất cả để mang lại một trải nghiệm tốt nhất, thoải mái nhất tới du khách cho mỗi chuyến đi. Chưa kể, Vietravel luôn tạo điều kiện để nhân viên được đào, tập huấn kỹ năng và nâng cao chuyên môn.

    Process (Quy trình thực hiện)

    Một doanh nghiệp muốn kinh doanh được thì họ cần thiết lập quy trình thực hiện bài bản, chuyên nghiệp để việc vận hành được trơn tru. Với Vietravel, là một doanh nghiệp lâu đời nên ban lãnh đạo đã xây dựng được cho công ty những quy trình vô cùng “chuẩn chỉ”, đóng vai trò như kim chỉ nam để nhân viên theo dõi và làm theo. Chưa kể điều này còn có lợi cho phía khách hàng, họ sẽ biết được cách xử lý vấn đề của doanh nghiệp mỗi khi có những thắc mắc, khiếu nại về dịch vụ. Vietravel hiện nay có 3 quy trình thực hiện, đó là:

    Tuấn Anh – MarketingAI

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chiến Lược Mới Cho Sự Phát Triển Của Du Lịch Quảng Ninh
  • Quảng Nam Phát Triển Du Lịch Nông Nghiệp
  • Xây Dựng Chiến Lược Phát Triển Du Lịch Việt Nam: Rõ Định Hướng, Rõ Hiệu Quả Lâu Dài
  • Bài Cuối: Du Lịch Đà Nẵng
  • Triển Khai Đề Án Chiến Lược Phát Triển Du Lịch Ninh Bình
  • Đi Tìm Sản Phẩm Đặc Biệt Của Du Lịch Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Sản Phẩm Văn Hóa Du Lịch Ở Hội An
  • Để Phát Huy Tốt Hơn Các Sản Phẩm Và Điểm Tham Quan Du Lịch Ở Huế
  • Thêm Nhiều Sản Phẩm Du Lịch Mới Tại Thừa Thiên Huế
  • Phát Triển Phong Phú Các Sản Phẩm Du Lịch Ở Cà Mau
  • Việt Nam Giới Thiệu Các Sản Phẩm Du Lịch Đến Người Dân Indonesia
  • Hầu như du lịch Việt Nam chỉ khai thác những gì đã có sẵn như tài nguyên thiên nhiên ưu đãi, du lịch lịch sử và tâm linh, và một số đặc trưng văn hoá truyền thống, nhưng bào mòn dần những gì thiên nhiên, lịch sử và văn hoá truyền thống để lại.

    Những sản phẩm du lịch sáng tạo thêm thì hầu như chỉ đơn lẻ, rải rác, nhằm phục vụ nhu cầu của khách đến nghỉ dưỡng là chính, chứ không phải được thiết kế để kéo khách đến và khách trở lại.

    Lễ hội pháo hoa Đà Nẵng, Festival Huế, Phố cổ Hội An… chừng đó còn rất khiêm tốn. Các lễ hội khác, đa phần giá trị là sự kiện giải trí tại chỗ, phục vụ người địa phương và khách du lịch ngẫu nhiên có mặt, chứ ít khi họ đến vì các lễ hội đó. Bài toán hấp dẫn khách du lịch và kéo họ trở lại nhiều lần là rất khó. Hiện tại, tỷ lệ khách quay lại chỉ đạt từ 5 – 6%.

    Đối với một điểm đến, cho dù đó là một điểm đến quốc gia, hay một điểm đến địa phương, bài toán luôn là giải pháp phát triển bền vững, có trọng tâm phát triển không những phải hấp dẫn mà còn phải khác biệt so với các điểm đến khác.

    Song song với chiến lược đó là một kế hoạch cụ thể, chi tiết, có tầm nhìn dài hạn. Mục tiêu là tạo một sức hút riêng biệt đối với khách du lịch, và khiến họ quay trở lại nhiều lần nữa, và sẵn sàng chi trả cho những trải nghiệm riêng có của điểm đến.

    Muốn cạnh tranh hiệu quả, bền vững, thì phải nhìn thẳng vào các yếu điểm mang tính chiến lược đó để xây dựng chiến lược cho ngành du lịch.

    Trước hết, chúng ta thử nhìn nhận cách thức đầu tư cho du lịch của cả khối dịch vụ công và doanh nghiệp trong thời gian qua. Đối với nhà nước, phần lớn sự tham gia là xây dựng các chính sách hỗ trợ phát triển du lịch như chính sách miễn visa cho 5 nước Tây Âu và một số khu vực truyền thống, quy hoạch hạ tầng, đầu tư nâng cấp mở rộng sân bay, đường xá, và chủ trì hoạt động quảng bá xúc tiến du lịch. Đây là những nỗ lực khá lớn, xong chưa toàn diện và chưa đủ để tạo sức chuyển biến lớn, hỗ trợ thúc đẩy du lịch phát triển như kỳ vọng.

    Đối với khối doanh nghiệp, các dự án đầu tư chủ yếu tập trung vào các dự án lưu trú, khách sạn, khu nghỉ dưỡng, sân golf, hoặc một số dự án khu phức hợp giải trí. Một vài hãng hàng không ra đời, cũng đóng góp thêm vào vận tải hàng không đang có nhu cầu tăng cao. Bên cạnh đó, các công ty lữ hành cũng có những sự phát triển nhất định. Cá biệt có những dự án sân bay do tư nhân đầu tư ở Cam Ranh và Vân Đồn.

    Tuy nhiên, nhìn chung, các dự án đầu tư đều không dựa trên một định hướng chiến lược phát triển điểm đến của từng địa phương, mà là các dự án đơn lẻ, không hoàn toàn kết nối với nhau để tạo thành một điểm nhất khác biệt trong chiến lược cạnh tranh.

    Thử điểm qua các thành phố, các địa phương khác trên thế giới phát triển như thế nào.

    Suốt từ năm 2003, thành phố Las Vegas với chiến lược xây dựng định vị là trung tâm của sự tự do không giới hạn, không bị kiểm soát, với câu khẩu hiệu “What Happens in Vegas, Stays in Vegas” – “Cái gì xảy ra ở Vegas sẽ ở lại với Vegas”. Thành phố Las Vegas được xây dựng thành một hệ sinh thái, phục vụ cho mục tiêu định vị trở thành trung tâm giải trí dành cho người lớn, trung tâm tổ chức sự kiện, hội họp và MICE.

    Họ xây dựng khách sạn nhưng phải kết hợp với các dịch vụ giải trí đa dạng, phục vụ nhiều tầng lớp khác du lịch. Các tiện ích, dịch vụ hỗ trợ xung quanh cũng tập trung phục vụ cho nhu cầu giải trí của du khách. Họ kết hợp với vùng phụ cận, khai thác các tour dài hơi, như dịch vụ bay trực thăng ở Grand Canyon, hoặc chuyến tour đập Hoover Dam, bên cạnh những khách sạn lung linh trên The Strip của đại lộ Las Vegas.

    Tổng cục Du lịch Singapore đổi mới tagline của họ thành “Passion Made Possible” – “Đam mê biến mọi điều thành có thể”, vào tháng 8 năm ngoái, để tiếp thị hình ảnh quốc tế của Singapore cho mục đích du lịch và kinh doanh. Thương hiệu mới nhằm mục đích cung cấp cơ hội và nền tảng cho người dân Singapore và cả những người định cư khác để thể hiện tinh thần cởi mở và kiên trì của họ đối với thế giới, và phục vụ như một thương hiệu thống nhất cho Singapore trên mặt trận quốc tế.

    Họ thể hiện điều đó bằng cách nào? Đó là những toà nhà kỳ vỹ, lấn biển, vươn lên trời cao, những công trình siêu tưởng, với công nghệ cao, nghệ thuật tuyệt đẹp. Và nhất là, họ trở thành chủ nhà của những sự kiện khổng lồ, đầy sức hấp dẫn, thu hút hàng trăm ngàn du khách, như giải đua Công thức 1 trên đường phố duy nhất vào ban đêm, hay chương trình World City Summit – hội nghị thượng đỉnh các thành phố trên thế giới. Giám đốc điều hành STB Lionel Yeo nói rằng, mega events – những đại sự kiện khổng lồ, là sức hút mạnh mẽ nhất đối với Singapore.

    Như vậy, một điểm đến phải bắt đầu được xây dựng hoặc là từ một ý tưởng phát triển định vị thương hiệu, một ý tưởng trung tâm, là cái lõi hình thành lên một hệ sinh thái bao quanh nó. Hoặc nó được xây dựng xung quanh một sản phẩm du lịch chiến lược lõi, và sự hình thành của điểm đến là xây dựng một hệ sinh thái bao quanh sản phẩm chiến lược đó.

    Hệ sinh thái của điểm đến

    Ở bình diện của một đất nước hay một địa phương, hệ sinh thái điểm đến có thể ít nhất bao gồm các lĩnh vực: dịch vụ lữ hành, vận chuyển, lưu trú, giải trí, mua sắm, hậu cần, các sản phẩm du lịch chiến lược và các sản phẩm du lịch hỗ trợ.

    Hệ sinh thái du lịch cần được bắt đầu từ sự lựa chọn một ý tưởng trung tâm để phát triển định vị thương hiệu. Nó phải là một ý tưởng mới lạ, khác biệt, hoặc ít nhất là có thể tổ chức theo cách khác một ý tưởng đã có ở đâu đó trên thế giới.

    Ý tưởng tổ chức đua xe Công thức 1 (Formula One) trên đường phố là không mới, nhưng tổ chức vào ban đêm là đặc sản của Singapore, cộng thêm một hệ thống các hoạt động hỗ trợ như là các sân khấu ca nhạc với các ngôi sao thượng thặng, hay hệ thống dịch vụ thương mại trải dài hàng chục cây số quanh trường đua. Người ta sẽ còn đến Singapore nhiều lần, mỗi năm đều quay lại vì Formula One, nhưng cũng là để chiêm ngưỡng những dự án, những công trình kỳ vỹ tạo nên từ sự đam mê, và những mega events khác.

    Đà Nẵng có lễ hội pháo hoa quốc tế. Nhưng nếu chỉ dừng ở một sự kiện lớn như vậy mỗi năm thì vẫn chưa rõ được định vị của Đà Nẵng là gì. Với một công trình cung hội nghị Ariyana – Furama phục vụ APEC 2022, có thể nghĩ đến một thành phố của hội nghị và sự kiện như Cannes được không?

    Khánh Hoà cần tìm ra một ý tưởng trung tâm riêng, một định vị riêng cho chiến lược phát triển du lịch. Nha Trang có thể là một điểm đến của các lễ hội biển được không? Những lễ hội định kỳ, được tổ chức chuyên nghiệp và bài bản, và nâng cấp dần để trở thành những sự kiện quốc tế.

    Tất nhiên, cùng với đó là hệ thống hạ tầng như sân bay, bến du thuyền, xe buýt hai tầng, dịch vụ lưu trú, y tế và du lịch biển.

    Một kỳ nghỉ, hai vùng di sản

    Khi có một hệ sinh thái đặc trưng, việc xây dựng thương hiệu cho điểm đến trở thành dễ dàng hơn, cụ thể hơn, truyền thông cho thương hiệu sẽ hiệu quả hơn. Và quan trọng nhất là chúng ta sẽ có một chiến lược phát triển điểm đến theo một quy hoạch nhất định, chủ động đầu tư vào các dự án làm giàu thêm hệ sinh thái.

    Với thế mạnh của một hệ sinh thái, với các dự án cơ sở lưu trú, dịch vụ lữ hành, vận chuyển hành khách và sản phẩm du lịch đặc trưng, Crystal Bay đang xây dựng một sản phẩm du lịch đặc biệt mà chúng tôi gọi là “Một kỳ nghỉ – hai vùng di sản”.

    Bản chất của khái niệm sản phẩm này là kết nối hai vùng di sản thiên nhiên của vùng Đông Bắc với khu vực miền Trung, kết nối vịnh Hạ Long với khu thánh địa Mỹ Sơn và cả vùng văn hoá Chăm của Nha Trang, Ninh Thuận. Khánh hàng quốc tế của chúng tôi, hiện tại đa phần là khách Nga, sẽ được mở rộng với chiến lược phát triển điểm đến sắp tới, khi đến Việt Nam, sẽ có thể tham gia vào hành trình trải nghiệm cả hai miền di sản này.

    Như vậy, chúng tôi đã đưa ra một khái niệm liên kết điểm đến, một bước mở rộng hơn chiến lược phát triển điểm đến ở mỗi vùng du lịch. Khái niệm này, có thể mở rộng thành sự liên kết của các điểm đến trong toàn quốc, khi mà mỗi điểm đến có một hệ sinh thái khác biệt sẽ cung cấp cho du khách những trải nghiệm khác nhau, làm phong phú thêm cho hành trình của họ, cũng là tạo sự hấp dẫn đặc biệt, lôi cuốn du khách.

    Một điểm đến, với một hệ sinh thái riêng, có chiến lược phát triển bền vững, bản thân nó đã là một sức hút mạnh mẽ cho du khách đến, ở lại dài hơn và quay trở lại trong tương lai. Nhưng hai hoặc ba điểm đến liên kết với nhau, sẽ là một sản phẩm du lịch hết sức đặc biệt, nơi du khách vừa có thể chiêm ngưỡng kỳ quan thiên nhiên vịnh Hạ Long và vịnh Bái Tử Long trên du thuyền, vừa có thể đắm mình trong trầm mặc của tháp Chàm và những bãi biển cát trắng của Nha Trang, Cam Ranh, Ninh Thuận.

    “Một kỳ nghỉ – Hai vùng di sản” khác hoàn toàn với các tour du lịch tuyến như “Con đường di sản miền Trung”. Với các tour tuyến, đó là hành trình thăm quan các di sản thiên nhiên và văn hoá trong một hành trình nhất định. Sản phẩm được thiết kế nhiều trải nghiệm khác nhau trong một khoảng thời gian du lịch nhất định, trong đó, các tour tuyết chỉ là một trong các sản phẩm được cung ứng. Như vậy, du khách sẽ có cớ kéo dài hơn thời gian dự định của họ tại Việt Nam, và cũng hưởng thụ sự đa dạng những sản phẩm du lịch trong hành trình thú vị này.

    --- Bài cũ hơn ---

  • “việt Nam Ngày Nay”: Giới Thiệu Các Sản Phẩm Du Lịch Đẳng Cấp Thế Giới Của Việt Nam
  • Danh Sách Các Nước Miễn Visa Cho Việt Nam 2022
  • Danh Sách Các Nước Miễn Visa Du Lịch Cho Người Việt Nam
  • Các Nước Miễn Visa Du Lịch Cho Việt Nam Năm 2022
  • Passport Việt Nam Đi Du Lịch Không Cần Visa Được Bao Nhiêu Nước ?
  • Đánh Giá Khả Năng Cạnh Tranh Sản Phẩm Du Lịch Của Việt Nam Với Sản Phẩm Du Lịch Của Trung Quốc

    --- Bài mới hơn ---

  • Tour Du Lịch Thái Lan Vietravel
  • Đề Án Phát Triển Du Lịch Đồng Tháp Phát Huy Hiệu Quả
  • Địa Điểm Du Lịch Một Mình Gần Hà Nội
  • Du Lịch Gần Hà Nội 2 Ngày 1 Đêm Nên Đi Những Đâu?
  • Những Lưu Ý Khi Đi Du Lịch Amsterdam
  • Trung Quốc là một đất nước rộng lớn, với rất nhiều công trình văn hóa – lịch sử nổi tiếng trên thế giới. Trong vài năm trở lại đây, Trung Quốc đã phát triển nhanh chóng và đang trở thành một trong những cường quốc về kinh tế và quân sự trên thế giới. Là người bạn gần gũi và quen thuộc với của nhân dân Việt Nam, có sự tương đồng về văn hóa nên nhiều sản phẩm du lịch văn hóa có tính tương đồng, nằm ngay sát với Việt nam nên ít nhiều các sản phẩm du lịch của Trung Quốc có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp tới thị trường khách du lịch đến Việt Nam. Đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm du lịch Việt Nam với sản phẩm du lịch của Trung Quốc để ngành du lịch của chúng ta biết được cần phải làm những gì để có thể nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm du lịch của mình và ngày càng thu hút được nhiều khách du lịch quốc tế đến với Việt Nam.

    * Một số chỉ tiêu kinh tế của hai nước

    Việt Nam là đất nước nhỏ bé so với Trung Quốc, theo thống kê năm 2005 thì dân số của Việt Nam chỉ bằng 6,8% dân số của Trung Quốc. Về diện tích thì Việt Nam chỉ bằng khoảng 3,5% diện tích của Trung Quốc. Điều đó cho thấy Trung Quốc là một đất nước rộng lớn và đông dân hơn rất nhiều so với Việt Nam.

    Một số chỉ tiêu phát triển kinh tế của Trung Quốc cũng rất ấn tượng, theo thống kê năm 2005 giá trị GDP của Trung Quốc đạt 2.234,1 tỷ USD trong khi đó chỉ số này ở Việt Nam mới chỉ là 51,4 tỷ USD chỉ bằng 2,3% tổng giá trị GDP mà Trung Quốc tạo ra. Trong đó tốc độ tăng trưởng GDP của Trung Quốc đạt 10,2% trong khi đó tóc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam chỉ đạt 8,4%. Những con số này cho thấy Trung Quốc là nền kinh tế lớn và phát triển hơn rất nhiều so với nền kinh tế của Việt Nam.

    * Một số chỉ tiêu du lịch:

    Năm 2005, giá trị GDP mà ngành du lịch Trung Quốc tạo ra là 63.424 triệu USD trong khi đó với chỉ tiêu này thì ngành du lịch Việt Nam tạo ra được 1.834 triệu USD chỉ chiếm khoảng 2,9% giá trị GDP mà ngành du lịch Trung Quốc tạo ra. Theo dự báo của tổ chức du lịch và lữ hành quốc tế thì trong giai đoạn 2007 đến 2022 thì tốc độ tăng trưởng GDP của Trung Quốc sẽ là 8,7% trong khi đó cũng theo dự báo của tổ chức này thì tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam sẽ chỉ là 6,2%. Với quy mô rất lớn cộng với tốc độ tăng trưởng dự kiến lớn hơn nhiều so với Việt Nam thì trong giai đoạn 2007 đến 2022 thì du lịch Trung Quốc càng vượt rất xa so với du lịch của Việt Nam.

    Năm 2005, du lịch Trung Quốc đã tạo ra 17.383 ngàn việc làm trực tiếp từ các hoạt động du lịch, trong khi đó số lao động trực tiếp mà ngành du lịch Việt Nam tạo ra là 953 ngàn lao động chỉ chiếm 5,5% lực lượng lao động mà ngành du lịch Trung Quốc tạo ra, điều này càng khẳng định du lịch Trung Quốc có quy mô rất lớn so với du lịch Việt Nam. Lượng lao động mà ngành du lịch Trung Quốc tạo ra chiếm 10,3% lượng lao động của toàn bộ nền kinh tế trong khi đó lượng lao động mà ngành du lịch Việt Nam tạo ra chỉ chiếm 2,5% lượng lao động trong toàn bộ nền kinh tế. Điều đó cho thấy vai trò của ngành du lịch Trung Quốc có ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế của Trung Quốc, còn du lịch Việt Nam thì mức độ ảnh hưởng là thấp hơn nhiều.

    Đánh giá một số tiêu chí cạnh tranh giữa sản phẩm du lịch của Trung Quốc với sản phẩm du lịch của Việt Nam:

    * Các yếu tố nội hàm:

    a- Tính hấp dẫn của tài nguyên du lịch:

    a- Tính hấp dẫn của tài nguyên du lịch:

    Tiêu chí về tài nguyên văn hóa thì Trung Quốc thực sự có lợi thế rất lớn so với Việt Nam. Theo đánh giá của tổ chức du lịch và lữ hành quốc tế năm 2007 thì Trung Quốc được xếp hạng thứ 60 và đạt số điểm 4,4 trong khi đó Việt Nam kém tới 24 bậc và được xếp hạng thứ 84 và chỉ đạt số điểm là 3,8 điểm.

    Tiêu chí đánh giá các khu vực được quốc gia bảo vệ thì Trung Quốc được đánh giá ở vị trí khá xếp thứ 56 trong khi đó du lịch Việt Nam được đánh giá ở mức thấp xếp thứ 88. Tiêu chí đánh giá về số lượng di sản thế giới thì Trung Quốc được đánh giá rất cao và đây là một trong 3 cường quốc có số lượng lớn về di sản thế giới, với tiêu chí này Việt Nam chỉ đứng thứ 48.

    Điều này cho thấy Trung Quốc có lợi thế vượt trội so với Việt Nam về tài nguyên du lịch văn hóa, với lợi thế to lớn này thì Việt Nam khó có thể cạnh tranh với du lịch Trung Quốc về loại sản phẩm du lịch mà dựa trên yếu tố tài nguyên du lịch văn hóa.

    b- Khả năng tiếp cận sản phẩm du lịch:

    Về tiêu chí thủ tục Visa, Theo đánh giá của tổ chức du lịch và lữ hành thì tiêu chí này của Việt Nam và Trung Quốc là tương đương nhau và được xếp ở vị trí thứ 94.

    Tiêu chí về cơ sở vận chuyển hàng không: đây là tiêu chí khá quan trọng đối với hoạt động du lịch trong thời kỳ hội nhập và mở cửa với thế giới, nó rút bớt khoảng cách về mặt không gian, đồng thời có thể tiết kiệm về mặt thời gian và tiền bạc cho du khách. Với tiêu chí này thì Trung Quốc được đánh giá khá cao xếp thứ 36, trong khi đó tiêu chí này của Việt Nam chỉ được đánh giá ở mức yếu và được xếp ở hạng 90.

    Tiêu chí về cơ sở vận chuyển đường bộ: cũng là tiêu chí có ảnh hưởng lớn tới năng lực cạnh tranh của sản phẩm du lịch của mỗi quốc gia. Tiêu chí này, Trung Quốc cũng được đánh giá là khá tốt, được xếp hạng 45 trong khi đó chỉ tiêu này của Việt Nam được đánh giá ở mức thấp xếp thứ 85.

    Tiêu chí về phương tiện vận chuyển đường sắt: cũng là một trong những tiêu chí có ảnh hưởng lớn đến chất lượng dịch vụ du lịch. Theo đánh giá của tổ chức du lịch và lữ hành quốc tế thì tiêu chí về phương tiện vận chuyển đường sắt của Trung Quốc được xếp thứ 33 trong khi đó tiêu chí này của Việt Nam là 70 điều này cho thấy khả năng cạnh tranh về phương tiện vận chuyển đường sắt của Việt Nam so với Trung Quốc là khó có thể cạnh tranh được trong thời gian ngắn.

    Tiêu chí về cơ sở hạ tầng hỗ trợ phát triển du lịch của Trung Quốc và Việt Nam đều bị đánh giá ở mức yếu kém, Trung Quốc xếp thứ 113 thì Việt Nam chỉ đứng trên có 3 nước xếp hạng thứ 121. Đây là tiêu chí cần phải được quan tâm để nâng cao lợi thế cạnh tranh cho sản phẩm du lịch tại mỗi điểm đến.

    c- Giá cả:

    Tiêu chí về giá sản phẩm du lịch của Việt Nam và Trung Quốc đều được đánh giá ở mức cao, Trung Quốc xếp thứ 11 thì tiêu chí này của Việt Nam xếp thứ 10. Điều đó cho thấy về giá thì sản phẩm du lịch của Việt Nam và Trung Quốc đều có lợi thế rất lớn về giá, mặc dù sản phẩm du lịch Việt Nam có lợi thế hơn một chút về giá so với sản phẩm du lịch Trung Quốc tuy nhiên tiêu chí cạnh tranh này chưa thực sự rõ ràng bởi lợi thế về giá giữa sản phẩm du lịch Trung Quốc và Việt Nam là gần như tương đương nhau. Có thể lấy ví dụ: giá vé vào các khu du lịch ở Trung Quốc không rẻ như ở Việt Nam vé vào cổng vạn Lý Trường thành hay vào Cố Cung giá tới 90 nhân dân tệ, tương đương với 170 ngàn đồng Việt Nam, nhưng bù lại, du khách lại được thong dong, ở khu du lịch nào cũng có hướng dẫn viên du lịch biết tiếng địa phương hay ngoại ngữ để du khách “thuê” hướng dẫn, được sử dụng toilet sạch sẽ và quan trọng nhất là một môi trường sạch, các khu du lịch có quy mô đồ sộ, nhưng không có rác trên đường. Điều này làm cho yếu tố về giá sản phẩm du lịch giữa hai nước là không có lợi thế vượt trội.

    d- Chất lượng phục vụ:

    Chi tiêu của du khách phần nhiều vào ăn nghỉ, thường chi phí này chiếm từ 20 đến 30% tổng chi phí cho toàn bộ chuyến du lịch, chính vì thế đối với du khách và những nhà nghiên cứu thì tiêu chí đánh giá về cơ sở vật chất ngành du lịch rất được quan tâm. Tiêu chí về hệ thống phòng khách sạn của Việt Nam và Trung Quốc được đánh giá tương đương nhau trong khi Trung Quốc được xếp hạng thứ 87 thì Việt Nam được xếp hạng thứ 88. Điều này cho thấy khả năng cạnh tranh về phòng khách sạn của 2 nước là tương đương nhau, không có sự trênh lệch nhiều.

    Nguồn nhân lực có vai trò quan trọng đối với hoạt động du lịch, nó có tính quyết định lớn tới chất lượng các loại hình dịch vụ du lịch và là nhân tố cần thiết đảm bảo khả năng thực thi các hoạt động du lịch tại mỗi điểm đến. Theo đánh giá, về nguồn nhân lực của du lịch Trung Quốc đứng thứ 74/124 nước, số điểm đánh giá là 5 điểm. Trong khi đó nguồn lao động của Việt Nam đứng thứ 81 kém Trung Quốc 7 bậc và có được số điểm là 4,9 điểm.

    Về chất lượng giáo dục và đào tạo trong ngành du lịch thì Trung Quốc được xếp thứ 72 và có được số điểm là 4,6 điểm, cũng theo tiêu chí này thì Việt Nam chỉ đứng thứ 82 kém Trung Quốc 10 bậc và có được số điểm theo đánh giá là 4,3 điểm.

    Tiêu chí số lượng người lao động trong ngành du lịch được đào tạo sơ cấp thì Trung Quốc được đánh giá ở vị trí rất cao, xếp vị trí thứ nhất. Điều đó cho thấy sự phổ cập giáo dục về du lịch của Trung Quốc là rất tốt mà Việt Nam cần phải học tập để giáo dục du lịch tại các điểm đến. Trong khi đó giáo dục đào tạo sơ cấp về du lịch cho đội ngũ nhân viên du lịch của Việt Nam được đánh giá ở mức yếu chỉ đứng thứ 94.

    Đánh giá tiêu chí về các loại hình dịch vụ đào tạo và khả năng nghiên cứu du lịch tại mỗi điểm đến. Tiêu chí này thì Trung Quốc được đánh giá ở vị trí thứ 46 trong khi đó Việt Nam được đánh giá ở mức thấp hơn xếp vị trí thứ 76, kém Trung Quốc tới 30 bậc điều đó cho thấy những yếu kém và bất cập trong công tác nghiên cứu và đào tạo du lịch của Việt Nam so với Trung Quốc. Số lượng lao động trong ngành du lịch được đào tạo trung cấp về nghiệp vụ du lịch của Việt Nam được đánh giá cao hơn một chút so với Trung Quốc, song cả 2 nước đều đứng ở mức thấp, Việt Nam được xếp thứ 81 thì Trung Quốc được xếp thứ 83.

    Về tiêu chí trình độ chuyên môn nghiệp vụ du lịch thì du lịch Trung Quốc có tính chuyên nghiệp cao hơn so với Việt Nam, theo đánh giá xếp hạng thì tiêu chí này của Trung Quốc được xếp thứ 79 và đạt 6,0 điểm, còn Việt Nam chỉ đứng thứ 83 và số điểm chỉ đạt 5,9 điểm.

    Tiêu chí đánh giá thái độ của cộng đồng dân cư tại điểm đến đối với khách du lịch thì Việt Nam có lợi thế hơn hẳn so với Trung Quốc trong khi Việt Nam xếp ở vị trí thứ 66 thì Trung Quốc được đánh giá rất thấp xếp thứ 112.

    e- Khả năng được đầu tư, xúc tiến:

    Vai trò của chính phủ trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp của nước ngoài tại Việt Nam trong mấy năm gần đây được cải thiện rất nhiều, đầu tư trực tiếp của nước ngoài trong lĩnh vực du lịch đã có được nhiều tiến bộ lớn song do thời gian mở cửa nền kinh tế của Việt Nam chưa lâu do vậy mà tiêu chí này của Việt Nam còn thấp xếp thứ 73 trong khi đó tiêu chí này của Trung Quốc được đánh giá ở mức khá xếp thứ 42. Đây là tiêu chí khá quan trọng và cần thiết để tạo động lực to lớn cho hoạt động du lịch phát triển. Chính vì vậy mà chính phủ và ngành du lịch Việt Nam cần quan tâm tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài có môi trường tốt để họ có thể đầu tư vào lĩnh vực du lịch của Việt Nam đồng thời nâng cao được khả năng cạnh tranh cho sản phẩm du lịch Việt Nam trên trường quốc tế.

    Tiêu chí đánh giá sự ưu tiên của chính phủ trong hoạt động du lịch, trong đó đánh giá sự ưu tiên của chính phủ đối với các hoạt động du lịch thì Trung Quốc và Việt Nam đều được đánh giá ở mức khá. Theo đánh giá thì tiêu chí này của Trung Quốc có phần trội hơn so với Việt Nam được xếp thứ 49 trong khi đó Việt Nam được xếp thứ 61.

    Trong tiêu chí cạnh tranh về khung pháp lý thì tiêu chí về chiến lược ưu tiên đối với phát triển du lịch tại mỗi điểm đến giữa Trung Quốc và Việt Nam được xếp hạng như sau: tiêu chí này thì Trung Quốc được xếp hạng thứ 33 trong khi đó tại Việt Nam thì tiêu chí này là 76, thấp hơn 43 bậc, điều đó cho thấy sự quan tâm, đầu tư của nhà nước và chiến lược ưu tiên phát triển du lịch của Trung Quốc rất được quan tâm.

    Tiêu chí đánh giá sự tham gia các hội trợ du lịch quốc tế nhằm quảng bá hình ảnh và thương hiệu sản phẩm du lịch cho một điểm đến. Đây là một tiêu chí nhằm đánh giá các hình thức quảng bá về đất nước con người và các sản phẩm du lịch đặc trưng của một điểm đến. Với tiêu chí này, Du lịch Trung Quốc được đánh giá rất cao, xếp hạng thứ 4 trong khi đó du lịch Việt Nam chỉ được đánh giá ở mức trung bình khá và xếp hạng thứ 48.

    f – Vấn đề tổ chức sản phẩm:

    Môi trường kinh doanh du lịch là nhân tố tác động đến đối tượng cung du lịch, nó có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm du lịch tại mỗi điểm đến. Một điểm đến mà có môi trường kinh doanh thông thoáng, lành mạnh, đảm bảo sự kinh doanh công bằng và có sự bảo vệ của nhà nước trong hoạt động du lịch là yếu tố thực sự cần thiết và là cơ sở để cho các hoạt động du lịch tại điểm đến có cơ hội hoạt động và phát triển. Theo tổ chức du lịch và lữ hành quốc tế đánh giá thì tiêu chí về sự nghiêm ngặt trong các quy định về môi trường kinh doanh du lịch thì Việt Nam được xếp hạng thứ 108 tức là ở mức yếu kém, trong khi đó cũng chỉ tiêu này thì Trung Quốc được xếp hạng thứ 97 tức là hơn Việt Nam 11 bậc. Tuy nhiên với tiêu chí này thì cả Việt Nam và Trung Quốc đều được đánh giá ở mức yếu kém.

    Tiêu chí về sự ổn định và minh bạch trong các quy định về môi trường kinh doanh du lịch thì Trung Quốc được đánh giá ở mức 76 trong khi đó Việt Nam được đánh giá ở mức yếu kém về tính minh bạch và xếp ở mức 101.

    Tiêu chí về sức khỏe và vệ sinh an toàn thực phẩm tại mỗi điểm đến thì du lịch Trung Quốc được xếp hạng thứ 84 trong khi đó chỉ tiêu này của Việt Nam chỉ là 94 thấp hơn 10 bậc, điều này cho thấy vấn đề vệ sinh đảm bảo sức khỏe cho du khách tại mỗi điểm đến của Việt Nam cần phải được đầu tư và quan tâm nhiều hơn nữa để có thể cải thiện vệ sinh đảm bảo sức khỏe cho du khách tại mỗi điểm đến mới mong có thể cạnh tranh được với sản phẩm du lịch của Trung Quốc.

    Tiêu chí về các biện pháp của chính phủ nhằm làm giảm rủi ro về sức khỏe cho du khách từ các dịch bệnh, đây là một trong những tiêu chí khá quan trọng vì nó đảm bảo tính mạng cho du khách khi tham gia các hoạt động du lịch tại mỗi điểm đến. Tiêu chí này mà cao thì du khách cảm thấy sẽ được an tâm trong hành trình du lịch của mình, chính điều này làm cho thương hiệu về sản phẩm du lịch được nâng cao hơn. Với tiêu chí này thì Việt Nam và Trung Quốc đều được đánh giá ở mức tốt tuy nhiên với tiêu chí này Việt Nam được đánh giá cao hơn so với Trung Quốc. Việt Nam được xếp thứ 15 trong khi đó Trung Quốc được xếp ở hạng 24.

    Tiêu chí về các biện pháp của chính phủ và các địa phương nhằm cải thiện nguồn nước uống đây chính là một trong những tiêu chí về vệ sinh an toàn thực phẩm đối với mỗi điểm đến. Với tiêu chí này Việt Nam được xếp hạng thứ 83 cao hơn với cùng tiêu chí này của Trung Quốc là 6 bậc. Tiêu chí về mật độ bác sỹ thì Việt Nam được xếp ở vị trí thứ 92 trong khi đó Trung Quốc được đánh giá ở mức cao hơn 13 bậc và xếp ở vị trí thứ 79.

    Hệ thống các trạm ATM ngày nay càng trở nên cần thiết đối với du khách, đặc biệt là du khách quốc tế, với tiêu chí này thì Việt Nam được đánh giá ở mức thấp hơn nhiều so với Trung Quốc. Trong khi Trung Quốc được xếp ở thứ 85 thì Việt Nam được xếp ở hạng 93, khoảng cách này cho thấy Việt Nam cũng bị mất lợi thế cạnh tranh về tiêu chí này so với Trung Quốc.

    Trong thời đại của công nghệ thông tin và truyền thông thì tiêu chí về cơ sở hạ tầng thông tin liên lạc có ảnh hưởng nhiều tới hoạt động du lịch tại mỗi điểm đến. Với tiêu chí này thì Trung Quốc được xếp ở mức trung bình xếp thứ 63 trong khi đó tiêu chí này của Việt Nam xếp ở mức 88 tức là ở mức yếu.

    Sự phát triển nhanh chóng của ngành công nghệ thông tin của Việt Nam trong mấy năm trở lại đây được bạn bè quốc tế đánh giá rất cao, song việc ứng dụng internet cho hoạt động du lịch của Việt Nam vẫn bị đánh giá thấp về quy mô sử dụng, Việt Nam chỉ được xếp hạng thứ 111 trong khi đó Trung Quốc được xếp hạng thứ 75. Hiện tại khả năng cạnh tranh của Việt Nam về tiêu chí này so với Trung Quốc là chưa thể, song với sự phát triển nhanh chóng và vượt bậc của ngành viễn thông của Việt Nam trong thời gian tới thì trong tương lai tiêu chí này của Việt Nam sẽ được cải thiện nhanh chóng và có thể đây sẽ là một lợi thế mà Việt Nam có thể cạnh tranh được với Trung Quốc.

    * Các yếu tố ảnh hưởng:

    a- Thương hiệu:

    a- Thương hiệu:

    Tiêu chí về quyền sở hữu là tiêu chí cho thấy sự đảm bảo của nhà nước và chính phủ của nước sở tại cho môi trường hoạt động du lịch tại mỗi điểm đến, nó tạo ra sự bình đẳng và công bằng trong các hoạt động kinh doanh du lịch tại mỗi điểm đến. Theo tổ chức du lịch và lữ hành quốc tế thì tiêu chí này của Việt Nam là khá tốt đứng thứ 69 trong khi đó tiêu chí này của Trung Quốc đứng thứ 82 đây là một lợi thế mà Việt Nam cần phải phát huy và nâng cao hơn nữa để có thể nâng cao lợi thế so sánh đối với sản phẩm du lịch của mình.

    Về tiêu chí đánh giá ấn tượng về thị trường và thương hiệu từ thị trường khách du lịch thì tiêu chí này của Việt Nam và Trung Quốc đều được đánh giá ở mức khá tuy nhiên Việt Nam có nhỉnh hơn một chút. Việt Nam xếp thứ 56 trong khi Trung Quốc xếp thứ 57. Điều này cho thấy thị trường và thương hiệu sản phẩm du lịch của Trung Quốc và Việt Nam rất có triển vọng để phát triển du lịch.

    Có thể lấy ví dụ như du khách tìm hiểu lịch sử và thưởng ngoạn cảnh quan thiên nhiên của đất nước Trung Hoa, Ngành du lịch từ trung ương tới địa phương luôn tạo ấn tượng cho du khách bằng cái tên ấn tượng cho mỗi điểm đến như: Bắc Kinh còn đó vàng son của quá khứ hay Bắc Kinh trái tim hồng của Trung Quốc, Vân Nam lẩn khuất mây trời hay vùng đất phía Nam những tầng mây, Nam Ninh hiện đại và giàu bản sắc, Côn Minh xa mà gần, Quế Lâm thành phố Quế Hoa, Thượng Hải xưa và nay đồng hiện, Tô Châu cổ kính và hiện đại,…

    b- Chu kỳ sống của sản phẩm:

    Trong khi đó ở Việt Nam các công trình văn hóa chưa được quan tâm nhiều, nhiều nơi còn để cho các di tích chuyển thành phế tích, công tác quy hoạch chưa được chú trọng, việc bảo vệ và tôn tạo các di tích cũng bị buông lỏng, làm cho nhiều tài nguyên du lịch văn hóa bị xuống cấp, nhiều di tích bị xâm hại nghiêm trọng, điều này làm rút ngắn chu kỳ sống đối với từng sản phẩm du lịch đơn lẻ. Từ những yếu tố đó cho thấy sản phẩm du lich Trung Quốc có được lợi thế hơn hơn nhiều về chu kỳ sống của sản phẩm du lịch.

    Việc khai thác sản phẩm du lịch như thế nào để không làm ảnh hưởng đến môi trường xung quanh và ảnh hưởng trực tiếp đến sản phẩm du lịch của một điểm đến. Theo đánh giá của tổ chức du lịch và lữ hành quốc tế thì tiêu chí đánh giá các hoạt động kinh doanh du lịch làm ảnh hưởng đến môi trường và hệ sinh thái tại mỗi điểm đến của Việt Nam được xếp hạng thứ 99 trong khi đó Trung Quốc lại được đánh giá cao hơn xếp ở vị trí thứ 85, điều này cho thấy việc bảo về môi trường sinh thái đối với các hoạt động du lịch tại mỗi điểm đến của Trung Quốc là tốt hơn so với Việt Nam.

    Tiêu chí đánh giá về sự ô nhiễm môi trường do khí điôxit các bon gây ra thì Trung Quốc bị đánh giá ở mức thấp xếp thứ 104 trong khi đó Việt Nam được đánh giá ở mức cao hơn song cũng bị xếp vào những nước mà môi trường bị ô nhiễm nặng do hoạt động công nghiệp khai thác gây ra và xếp ở vị trí thứ 98. Tiêu chí này có thể đe dọa đến tuổi thọ của sản phẩm du lịch.

    c- Tính tương đồng với tâm lý thị trường:

    Khi đời sống của con người ngày càng cao, thì sự ham muốn khám phá những nền văn hóa lớn trên thế giới ngày càng nhiều, đó chính là điều kiện cần thiết để nảy sinh nhu cầu du lịch của du khách đến với các nền văn hóa lớn trên thế giới. Hầu hết các du khách đều muốn khám phá tất cả những “hương vị” tinh hoa văn hóa của loài người, sự khám phá này càng được rõ nét hơn nếu họ được tận mắt nhìn thấy những công trình lịch sử vĩ đại, với quy mô hoành tráng, nét điêu khắc tinh sảo, nghệ thuật kiến trúc và bản sắc dân tộc độc đáo…

    Trung Quốc là đất nước có nền văn hóa – lịch sử rất lâu đời và ít nhiều có ảnh hưởng đến văn minh của nhân loại. Đây là nền văn hóa có ảnh hưởng lớn tới văn hóa phương Đông đặc biệt là khu vực Châu Á. Văn hóa Trung Quốc mang đệm nét của văn minh Hoàng Hà còn văn hóa Việt Nam mang đậm nét văn minh Sông Hồng tuy nhiên đều có sự tương đồng đó là văn hóa mang phong cách phương Đông. Xét về khía cạnh lịch sử thì nền văn hóa của Trung Quốc được đánh giá lâu đời hơn so với Việt Nam thông qua các di tích lịch sử được lưu giữ, chính vì vậy mà đối với khách du lịch khi đánh giá sản phẩm du lịch dựa trên yếu tố văn hóa – lịch sử thì họ thường cho rằng sản phẩm này của Trung Quốc thường được đánh giá cao hơn so với Việt Nam.

    d – Tiêu chí nổi trội:

    Tiêu chí về an ninh, an toàn tại các điểm đến thì Việt Nam được đánh giá khá cao so với Trung Quốc, với tiêu chí này thì Việt Nam được xếp thứ 51 trong khi đó Trung Quốc được đánh giá xếp thứ 83. Đây có thể là một lợi thế mà sản phẩm du lịch Việt Nam cần tận dụng cho tốt để khai thác sản phẩm du lịch có tính cạnh tranh với sản phẩm du lịch của Trung Quốc.

    * Kết luận:

    – Trung Quốc thực sự có lợi thế hơn hẳn so với Việt Nam về tài nguyên du lịch nhân văn. Chính vì thế để nâng cao khả năng cạnh tranh cho sản phẩm du lịch của Việt Nam so với sản phẩm du lịch của Trung Quốc thì ngành du lịch Việt Nam cần phải lựa chọn các sản phẩm du lịch dựa trên các nguồn tài nguyên tự nhiên độc đáo mà sản phẩm du lịch Trung Quốc không có hoặc không có lợi thế như: sản phẩm du lịch biển, sản phẩm du lịch rừng ngập mặn, sản phẩm du lịch dựa trên các nguồn tài nguyên lịch sử trong thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Pháp và Mỹ,….

    – Chất lượng dịch vụ du lịch của Việt Nam cần được nâng cao, cần đa dạng hóa các loại hình dịch vụ du lịch tại mỗi điểm đến, nâng cao tính chuyên nghiệp trong quản lý du lịch. Chính vì yếu tố dịch vụ kém mà làm cho hình ảnh của du lịch Việt Nam ngày càng đi xuống. Cần quan tâm tới vấn đề đào tạo nghiệp vụ chuyên môn về du lịch cho lực lượng lao động trong ngành du lịch đây là yếu tố có ảnh hưởng nhiều đến chất lượng dịch vụ du lịch.

    – Để có thể nâng cao khả năng cạnh tranh cho sản phẩm du lịch của Việt Nam trong dài hạn thì điều cần quan tâm đó là phải xác định cho được vị trí và tầm quan trọng của ngành du lịch trong nền kinh tế quốc dân. Xây dựng một chiến lược thực sự có tầm để phát triển du lịch trong ngắn hạn cũng như trong dài hạn, điều này sẽ làm cho các hoạt động du lịch phát triển đúng hướng. Đầu tư vào du lịch có chọn lọc, trọng tâm và dựa vào lợi thế sẵn có về tài nguyên du lịch nổi trội để đem lại hiệu quả kinh tế cao tại các điểm đến, đồng thời nâng cao lợi thế cạnh tranh cho sản phẩm du lịch của Việt Nam trong dài hạn.

    – Vấn đề vệ sinh, an ninh, an toàn thực phẩm tại mỗi điểm đến của Việt Nam cần phải được quan tâm đầu tư, giáo dục cộng đồng dân cư và du khách về giữ vệ sinh bảo đảm môi trường sinh thái của mỗi điểm đến.

    – Công tác xúc tiến quảng bá hình ảnh du lịch củaViệt Nam trên trường quốc tế cần được quan tâm, coi trọng. Phải có chiến lược quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam với từng loại thị trường khách, để làm sao nâng cao hiệu quả trong công tác tuyên truyền quảng bá du lịch, tạo được ấn tượng tốt cho khách du lịch, ngày càng thu hút được nhiều khách du lịch quốc tế đến và quay trở lại Việt Nam.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đánh Giá Máy Ảnh Du Lịch Sony Cyber
  • Những Tiềm Năng Góp Phần Phát Triển Du Lịch Quảng Bình
  • 10 Kinh Nghiệm Hay Khi Đi Du Lịch Hàn Quốc
  • Việt Nam Chính Thức Có Tân Đại Sứ Du Lịch Tại Pháp
  • Đại Lý Du Lịch Ở Tại Quảng Ngãi
  • Vị Trí Chiến Lược Của Việt Nam Trong Sự Phát Triển Du Lịch Tàu Biển

    --- Bài mới hơn ---

  • Quần Thể Danh Thắng Tràng An Trong Chiến Lược Phát Triển Du Lịch Ninh Bình
  • Giải Pháp Xây Dựng Thương Hiệu Điểm Đến Du Lịch Ninh Bình
  • Chiến Lược Phát Triển Du Lịch Việt Nam Đến Năm 2030
  • Ra Mắt Hội Đồng Tư Vấn Du Lịch Giúp Huế Trong Chiến Lược Phát Triển
  • Du Lịch Huế Cần Thêm Sản Phẩm Đột Phá
  • Bài viết phân tích sự phát triển của du lịch tàu biển khu vực châu Á và vị trí chiến lược của Việt Nam đối với các tuyến du lịch tàu biển tại khu vực.

    Du lịch tàu biển khu vực châu Á phát triển

    Năm 2022 tại khu vực châu Á có 52 tàu du lịch biển, hoạt động trên 1065 chương trình khác nhau với khả năng vận chuyển 2,17 triệu lượt khách, tăng 19% về năng lực vận chuyển, 10% về thời gian lưu trú trên tàu. Khách du lịch tàu biển hiện nay chủ yếu từ Mỹ, Vương quốc Anh, Đức, Tây Ban Nha, Italia, Canada và các nước châu Đại dương (Australia, New Zealand). Tổng số khách du lịch tàu biển châu Á khoảng hơn 1,5 triệu lượt người, gần bằng số lượng khách du lịch tàu biển của Đức và hơn 1/7 so với Mỹ. Tuy nhiên, dự báo số lượng khách du lịch tàu biển Trung Quốc, Nhật Bản và các nước khác sẽ tăng mạnh mẽ trong thời gian tới (Cruise Lines International Association, 2022; Singapore Tourism Board, 2022).

    Đối với thị trường Trung Quốc, năm 2012 có khoảng 0,47 triệu lượt khách Trung Quốc đi du lịch bằng tàu biển, dự kiến đến năm 2022, con số này lên đến 1,6 triệu lượt người, đạt tốc độ tăng trưởng trung bình 14,8% năm (theo dự báo của Hiệp hội Du lịch tàu biển châu Á); thậm chí có thể đạt 4,5 triệu lượt người, tăng trưởng trung bình 33%/năm (theo dự báo của Bộ Giao thông Vận tải Trung Quốc). Hàn Quốc và Nhật Bản hiện đang là những điểm đến du lịch tàu biển phổ biến nhất đối với khách du lịch tàu biển Trung Quốc (Yamaguchi, 2022).

    Khách Trung Quốc đi du lịch tàu biển ngày càng tăng do mức thu nhập cao, có nhiều ngày nghỉ được hưởng lương trong năm. Mặt khác, du lịch tàu biển là loại hình ngày càng hấp dẫn đối với các gia đình Trung Quốc, được coi là một phong cách mới trong việc hưởng thụ cuộc sống. Điều này cũng do tàu biển du lịch ngày nay có kích thước lớn hơn, trên tàu nhiều hoạt động vui chơi, giải trí hiện đại hơn và nhiều cảng biển được xây dựng để đón khách du lịch tàu biển.

    Đối với thị trường Nhật Bản, ba hãng tàu du lịch đang cung cấp các sản phẩm du lịch tàu biển chất lượng cao là MS. Pacific Venus, MS.Nippon-Maru và MS.Asuka-2, giá vé khoảng 400 – 600USD/đêm hạng tiêu chuẩn. Theo ông Naohiko Yamaguchi, Giám đốc điều hành của Hãng du lịch tàu biển Mitsui O.S.K. Passenger Line, Ltd., phân khúc khách du lịch tàu biển chất lượng cao chỉ chiếm khoảng 5% thị phần khách du lịch tàu biển Nhật Bản, phổ biến là các cặp vợ chồng lớn tuổi, những người có khả năng tài chính và biết cách hưởng thụ sản phẩm du lịch tàu biển. Bên cạnh các hãng tàu biển du lịch của Nhật Bản, một số hãng tàu biển du lịch nước ngoài đã bắt đầu khai thác thị trường Nhật Bản thông qua các đại lý lớn.

    Vị trí của Việt Nam đối với các tuyến du lịch tàu biển châu Á và một số vấn đề đặt ra

    Việt Nam có vị trí chiến lược nằm giữa ba trung tâm du lịch tàu biển khu vực, bao gồm Thượng Hải, Hongkong và Singapore nên có ưu thế trong việc đón nhiều tàu biển du lịch cập các cảng dọc bờ biển từ Bắc đến Nam. Hiện nay, hầu hết các tuyến du lịch liên khu vực Đông Nam Á – Đông Á đều đi qua Việt Nam, đến các điểm phổ biến là Hạ Long, Đà Nẵng, Nha Trang, Bà Rịa – Vũng Tàu, TP. Hồ Chí Minh.

    Các chương trình du lịch tàu biển đến Việt Nam hiện nay gồm ba loại chính: (1) Chương trình ngắn ngày, 3 – 7 đêm trên tàu, từ Singapore; (2) Chương trình ngắn ngày, 3 – 6 đêm trên tàu, từ Hongkong; (3) Chương trình dài ngày, 8 – 12 đêm trên tàu, giữa Singapore – Hongkong/Thượng Hải. Bên cạnh đó, các hãng tàu biển du lịch Nhật Bản đã khai thác các tuyến kết nối Nhật Bản – ASEAN trong thời gian từ 20 ngày đến hơn 01 tháng.

    Theo các chuyên gia du lịch tàu biển, để phát triển du lịch tàu biển, cần có cơ sở hạ tầng cần thiết phục vụ tàu du lịch biển và các sản phẩm kết nối với các cảng biển, bên cạnh các điều kiện khác như có thị trường đủ lớn, sự hợp tác hiệu quả giữa các cơ quan nhà nước và các doanh nghiệp. Từ các yêu cầu nêu trên, một số vấn đề đặt ra đối với sự phát triển của du lịch tàu biển Việt Nam như sau:

    Một là, phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch tàu biển, đặc biệt là cảng tàu biển du lịch. Đây là thách thức lớn nhất đối với Du lịch Việt Nam. Với các cảng hàng hóa hiện nay, ngoài việc không phù hợp trong việc phục vụ khách du lịch, các tàu lớn (trên 3500 khách, khoảng 1200 thủy thủ đoàn) không thể cập cảng. Do đó, du lịch tàu biển Việt Nam sẽ có cơ hội phát triển mạnh mẽ với việc khởi công cảng tàu biển du lịch Dương Đông trong năm 2022. Cần quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2022, định hướng đến năm 2030 như cảng Hòn Gai (Quảng Ninh), Chân Mây (Thừa Thiên – Huế), Tiên Sa (Đà Nẵng), Nha Trang (Khánh Hòa), Sao Mai – Bến Đình (Bà Rịa – Vũng Tàu).

    Hai là, phát triển các sản phẩm du lịch trên bờ. Các sản phẩm cụ thể có vai trò quan trọng trong việc thỏa mãn nhu cầu khách du lịch tàu biển và quyết định lợi ích thu được từ phát triển du lịch tàu biển. Theo khảo sát của Viện nghiên cứu Fujitsu, Nhật Bản, đối với khách du lịch tàu biển trên tuyến kết nối các điểm đến ASEAN và Nhật Bản, Hạ Long đứng đầu các điểm đến về mức độ hấp dẫn tổng thể trong số các điểm đến bao gồm Yokohama, Kobe, Hong Kong, Hạ Long, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh, Singapore, Yangon (Myanmar), Penang (Malaysia), Muara (Brunei), Kota Kinabalu (Malaysia) Manila (Philippines) và Keelung (Đài Loan). Tuy nhiên, vấn đề đặt ra đối với các cơ quan quản lý điểm đến và các doanh nghiệp là Hạ Long lại đứng vị trí cuối cùng về mức chi tiêu của khách du lịch.

    Tài liệu tham khảo

    1. Cruise Lines International Association. (2015). State of Industry Report 2022.

    2. Sakano, N. (2015). Economic Impact of Calling Cruise & Major Cruise Itineraries in Japan [MLIT Research Report]. Kuala Lumpur: Fujitsu Research Institute, The 4th Experts Group Meeting on ASEAN-Japan Cruise Promotion Strategy.

    3. Singapore Tourism Board. (2015). Cruise Tourism in Southeast Asia. Kuala Lumpur: Singapore Tourism Board, The 4th Experts Group Meeting on ASEAN-Japan Cruise Promotion Strategy.

    ThS. Lê Thị Bích Hạnh

    TS. Lê Tuấn Anh

    (Tạp chí Du lịch)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hội Thảo Về Chiến Lược Phát Triển Công Nghiệp Du Lịch Tàu Biển Việt Nam
  • Hội Thảo Chiến Lược Phát Triển Công Nghiệp Du Lịch Tàu Biển Vn
  • Xây Dựng Chiến Lược 4P (Mix) Trong Marketing Du Lịch
  • 6 Chiến Lược Marketing Du Lịch Chi Phí Thấp Mang Lại Hiệu Quả Cho Doanh Nghiệp Vừa Và Nhỏ
  • 4 Chiến Lược Marketing Hiệu Quả Nhất Trong Kinh Doanh Du Lịch
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100