Chính Sách Phát Triển Du Lịch Nhật Bản Và Những Bài Học Cho Xây Dựng Chính Sách Phát Triển Du Lịch Việt Nam

--- Bài mới hơn ---

  • Sự Phát Triển Thần Kỳ Của Du Lịch Nhật Bản
  • Học Hỏi Các Chính Sách Phát Triển Du Lịch Từ Nhật Bản
  • Nhật Ký Du Lịch Bụi Lào (7): Gia Đình Người Úc
  • Du Lịch Cần Giờ Có Điểm Đến Nào Hấp Dẫn?
  • Ngày 5: Tham Quan Di Tích Lịch Sử Hiroshima
  • Khách du lịch quốc tế đến Nhật Bản đạt kỷ lục 28,7 triệu lượt năm 2022, tăng 19% so với năm trước và đang dần tiến tới mục tiêu của chính phủ Nhật là đón 40 triệu lượt khách du lịch quốc tế đến năm 2022.

    Chi tiêu của khách du lịch quốc tế đến Nhật năm 2022 đạt 4.400 tỷ Yên, tăng 17% so với năm 2022. Du lịch quốc tế hiện là nhân tố chính khiến giá đất tại Nhật tăng cao ở các điểm đông khách du lịch.

    Hoa anh đào nở rộ bên bờ sông Matsukawa ở Toyama (JNTO)

    Theo Cơ quan du lịch quốc gia Nhật Bản, khoảng 75% khách du lịch quốc tế đến Nhật chọn lưu trú tại khách sạn, 18% ở tại các khách sạn kiểu Nhật, 12% ở nhà dân và phòng trọ gọi là “minpaku” cho khách du lịch thuê. Tỷ lệ kín phòng ở các khách sạn trong thành phố và khách sạn công vụ đạt khoảng 80% trên toàn quốc, nhưng thường kín phòng tại Tokyo và các thành phố chính như Nagoya, Osaka và Fukuoka và các khu vực phụ cận. Tuy nhiên, tỷ lệ kín phòng của các khách sạn truyền thống kiểu Nhật vẫn khá thấp, đạt khoảng 50-60%, lý do thường bởi các khách sạn này không ở địa điểm thuận tiện hoặc có dịch vụ phù hợp với khách du lịch nước ngoài.

    Chiến lược phát triển Du lịch Mới của Nhật Bản nhằm thúc đẩy nền kinh tế Nhật Bản (tháng 3/2016)

    Chiến lược đặt mục tiêu: ” Ngành công nghiệp du lịch đẳng cấp thế giới!” Nhật Bản sẵn sàng đón khách du lịch quốc tế trên toàn quốc gia. Chính phủ mong muốn khuyến khích sự giao lưu văn hóa đa quốc gia để Nhật Bản có thể thực sự mở cửa với thế giới, nhanh chóng phát triển dịch vụ mới và các sáng kiến trong lĩnh vực du lịch để từ đó hình thành động lực cho phát triển kinh tế và công nghiệp của các vùng.

    – Lượng khách du lịch quốc tế đến đạt 40 triệu người năm 2022, 60 triệu người năm 2030 (Mục tiêu cũ: 20 triệu năm 2022 và 30 triệu năm 2030)

    – Chi tiêu của khách du lịch quốc tế đến Nhật Bản đạt 8.000 tỷ Yên năm 2022, 15.000 tỷ Yên năm 2030 (Mục tiêu cũ: 4.000 tỷ Yên trong năm đầu tiên có 20 triệu khách QT)

    – Số đêm khách quốc tế nghỉ ngoài 3 khu đô thị chính đạt 70 triệu đêm/2020 và 130 triệu đêm/2030.

    – Lượng khách du lịch quốc tế quay lại Nhật đạt 24 triệu năm 2022 và 36 triệu năm 2030.

    – Chi tiêu của khách du lịch nội địa cho du lịch đạt 21.000 tỷ Yên năm 2022 và 22.000 tỷ Yên năm 2030.

    Để đạt được các mục tiêu đề ra và khắc phục vấn đề hiện tại, chiến lược đưa ra 3 tầm nhìn và 10 vấn đề cần cải cách:

    – Tầm nhìn 1: Tối đa hóa sự hấp dẫn của các tài nguyên du lịch để đưa du lịch thành nền tảng cho sự khôi phục cấp vùng.

    + Thu hút khách du lịch nội địa và quốc tế vào tham quan các điểm di sản công

    + Điều chỉnh sự cân bằng trong chính sách di sản từ “chỉ tập trung vào công tác bảo tồn” sang khuyến khích khách du lịch tìm hiểu nhiều hơn về điểm di sản (sử dụng tài sản văn hóa là cốt lõi cho 200 trung tâm du lịch; hình thành khoảng 1.000 dự án xây dựng hướng dẫn thông tin dễ hiểu cho du khách đa ngôn ngữ).

    + Nâng cấp các vườn quốc hiện tại thành các vườn quốc gia đẳng cấp thế giới (mục tiêu 5 vườn quốc gia của Nhật Bản).

    + Xây dựng các kế hoạch cải tạo cảnh quan cho các khu vực du lịch chính.

    – Tầm nhìn 2: Tạo điều kiện thuận lợi cho sự sáng tạo trong du lịch để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế và đưa du lịch thành một trong những ngành công nghiệp chính.

    + Rà soát các quy định và quy tắc để ngành du lịch đạt hiệu quả cao hơn.

    + Tập trung phát triển các thị trường mới, thời gian lưu trú dài ngày hơn (thị trường Châu Âu, Mỹ, Úc; thị trường khách MICE).

    + Cải tạo và nâng cấp các khu resort nước suối khoáng nóng và các khu thị trấn địa phương thông qua cải cách phương án quản lý (xây dựng các mô hình DMOs đẳng cấp thế giới).

    – Tầm nhìn 3: Đảm bảo tất cả du khách có trải nghiệm thoải mái, thỏa mãn và stress-free.

    + Nâng cấp toàn bộ hệ thống cơ sở hạ tầng cứng và mềm đề khách du lịch có thể hưởng thụ môi trường cơ sở lưu trú tốt nhất trên thế giới.

    + Hoàn thành việc xây dựng “hành lang khôi phục cấp vùng” để khách du lịch có thể di chuyển một cách thoải mái tới tất cả các điểm đến trên nước Nhật (khách du lịch quốc tế được mua Thẻ đi tàu toàn quốc khi tới Nhật, nâng cấp các tuyến tàu cao tốc Shinkansen, xây mới các sân bay nội địa).

    + Hoàn thiện hệ thống “ngày làm việc” và “ngày nghỉ” tạo điều kiện cho người dân Nhật có kỳ nghỉ dài để đi du lịch.

    Để thực hiện các tầm nhìn và giải pháp trên, mỗi tầm nhìn sẽ có 8 đến 10 Dự án chính để có thể triển khai Chiến lược đạt mục tiêu đề ra. Các Dự án chính được thực hiện bởi nhiều dự án nhỏ với thời gian, địa điểm và quy mô dự án cụ thể được đưa ra.

    Ví dụ: với Tầm nhìn 1 – Tối đa hóa sự hấp dẫn của các tài nguyên du lịch để đưa du lịch thành nền tảng cho sự khôi phục cấp vùng, hành động cần làm là Thu hút khách du lịch nội địa và quốc tế vào tham quan các điểm di sản công.

    Dự án cần thực hiện sẽ là: Các điểm di sản nổi bật về giá trị lịch sử và truyền thống của Chính phủ sẽ được mở cửa cho tất cả các đối tượng du khách, như Nhà khách chính phủ ở Kyoto, Nhà khách Chính phủ ở Akasaka.

    Các dự án nhỏ: 1) Mở cửa tự do cả năm vào thăm Nhà khách Chính phủ ở Akasaka, bắt đầu từ 19/4/2016, trừ khi nơi này được sử dụng cho các sự kiện của chính phủ; 2) Mở cửa thử nghiệm từ ngày 28/4 đến 9/5 cho Nhà khách chính phủ ở Kyoto, dựa vào đó, mở cửa quanh năm muộn nhất vào cuối tháng 7/2016; 3) Việc mở cửa tự do cho các điểm của chính phủ khác sẽ được cân nhắc nếu có giá trị khai thác cho du lịch.

    Một số chính sách cụ thể hỗ trợ phát triển du lịch của Chính phủ Nhật Bản thời gian qua

    – Coi du lịch là động lực để phát triển cho các khu vực phụ cận vào nông thôn (không phải là các trung tâm đô thị chính);

    – Năm 2013, thực hiện thỏa thuận “Bầu trời mở”, cho phép tăng chuyến bay tới các sân bay quốc tế;

    – Năm 2014, miễn thị thực cho công dân của Thái Lan và Malaysia. Năm 2022, đơn giản hóa thủ tục xin visa cho công dân Trung Quốc, theo đó, người Trung Quốc với mức thu nhập trên mức quy định có thể có visa 5 năm vào Nhật Bản;

    – Hạ giá trị đồng Yên xuống 30% so với đồng Đô la Mỹ trong giai đoạn 2012-2015

    Bài học kinh nghiệm cho du lịch Việt Nam

    – Xây dựng chiến lược với tầm nhìn, giải pháp, kế hoạch thực hiện nhất quán, đồng bộ để đạt được mục tiêu chung đề ra.

    – Các giải pháp/hành động cụ thể, rõ ràng, với hoạt động cụ thể, thực hiện được, xác định được thời gian.

    – Các chính sách phát triển được thực hiện đồng bộ, sự kết hợp liên ngành thể hiện rõ ràng trong từng chính sách, trong đó đặt phát triển du lịch là trọng tâm.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thủ Tục Xin Visa Du Lịch Úc
  • Dịch Vụ Làm Visa Đi Nhật Trọn Gói Tại Tphcm
  • Khi Nhận Hồ Sơ Xin Visa Du Lịch Nhật Bản, Happyvisa Cam Kết Đậu 99,9%
  • Thủ Tục Xin Visa Du Lịch Nhật Bản
  • Nhận Làm Visa Du Lịch Hàn Quốc Vắng Mặt
  • Thủ Tục Và Chính Sách Xin Visa Philippines Cho Người Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Cách Gia Hạn Visa Du Lịch Ở Philippines
  • Kế Hoạch Cho Chuyến Du Lịch Rumani Tự Túc
  • Cẩm Nang Chia Sẻ Kinh Nghiệm Du Lịch Rumani Từ A
  • Cách Xin Visa Du Lịch Sri Lanka Như Thế Nào?
  • Dịch Vụ Làm Visa Sri Lanka
  • Visa Philippines cho người Việt Nam

    ASEAN là cộng đồng các nước nằm trong khu vực Đông Nam Á, ngày nay Philippnes và Việt Nam đã chính thức ký với nhau nhiều thỏa thuận để cùng phát triển, trong đó có vấn đề về việc xuất nhập cảnh của công dân 2 nước. Vào cuối tháng 12 năm 2022 AEC (Cộng đồng kinh tế của ASEAN) đã chính thức có hiệu lực. Việc này sẽ góp phần làm cho các quốc gia khu vực trở nên gần nhau hơn và xóa mờ thêm không gian lãnh thổ.

    Hồ sơ xin Visa Philippines

    Hồ sơ xin visa của chúng ta sẽ bao gồm:

    • 02 hình 4×6 cm (có phông nền trắng và ảnh chụp có thời gian không quá 6 tháng)
    • Hộ chiếu gốc phải còn thời hạn sử dụng trên 6 tháng, đã ký tên ở trang 3 và phải còn ít nhất 3 trang trống để dán visa (với trường hợp đã đổi hộ chiếu mới thì phải mang cả hộ chiếu cũ).
    • Mẫu đơn khai xin visa đi Philippines.
    • Chứng minh nhân dân, giấy khai sinh (nộp bản sao và có công chứng)
    • Sổ hộ khẩu (nộp bản sao và đã công chứng toàn bộ các trang)
    • Sơ yếu lý lịch (có sự xác nhận của chính quyền địa phương không quá 6 tháng kể từ ngày cấp)
    • Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.

    Các thủ tục bổ sung

    Xin Visa du học

    • Giấy xác nhận nhập học của trường ở Philippines.
    • Giấy tờ chứng minh khả năng tài chính của bản thân để du học tự túc.

    Xin Visa công tác

    Thư giới thiệu của công ty (phải nêu rõ mục đích đến Philippines).

    Visa du lịch và Visa thăm người thân

    Thư mời thăm thân của người mà chúng ta sẽ đến thăm, hình thức hỗ trợ mà người mời phải cung cấp đó là bản chính và có sự xác nhận của chính quyền thành phố đất nước sở tại, thời hạn không quá 3 tháng kể từ ngày cấp.

    Giấy tờ chứng minh lưu trú ở nước ngoài (bao gồm vé máy bay và khách sạn chúng ta ở khi đến Philippines).

    Giấy chứng minh mối quan hệ của chúng ta với người mà bản thân đến thăm.

    Giấy tờ về tình trạng cư trú của người mà chúng ta sẽ thăm (bao gồm: bản sao hộ chiếu có công chứng, hoặc hộ chiếu nước ngoài của người đó).

    • Nếu cha/mẹ hay người giám hộ hợp pháp của bạn không cùng đi, thì họ phải ký tên vào giấy đồng ý cho phép bạn đi du lịch đến Philippines và được chính quyền địa phương xác nhận. Khi làm hồ sơ thì bạn cần phải nộp bản gốc của giấy này.
    • Bản sao có công chứng của hộ chiếu hoặc chứng minh thư của cha/mẹ.

    Visa xuất khẩu lao động:

    • Giấy phép lao động.
    • Giấy tờ xác nhận bạn đang làm việc tại công ty.

    Thời gian cấp visa đi Philippines

    Thời gian trả kết quả xin visa Philippines là 5 ngày kể từ ngày nộp đơn (có một số trường hợp sẽ kéo dài hơn ). Thời gian cấp visa không tính thứ 7 và Chủ nhật.

    Lệ phí làm visa sẽ tùy vào từng trường hợp cấp visa cụ thể sẽ cho ra mức giá khác nhau, vì thế khoản phí này sẽ do đại sứ quán đề cập khi chúng ta đến làm hồ sơ.

    Một số lưu ý khi xin visa đi Philippines

    Người Việt Nam có mang hộ chiếu công vụ hoặc ngoại giao còn hiệu lực sẽ được miễn visa và có thể nhập cảnh Philippines với thời gian lưu trú là 90 ngày.

    – Người Việt Nam có hộ chiếu phổ thông sẽ được miễn visa nhập cảnh trong vòng 30 ngày tại Philippines.

    – Đối với các trường hợp có thời gian lưu trú ngắn hạn, sẽ cho phép việc xin visa Philippines nhiều lần.

    Visa nhiều lần: là loại visa mà trong một thời gian nhất định, chúng ta có thể sử dụng bao nhiêu lần tùy ý.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xin Visa Đi Pháp Mất Bao Lâu
  • Thủ Tục Xin Visa Pháp Du Lịch Có Khó Không?
  • Kinh Nghiệm Xin Visa Du Lịch Nhật Bản Tự Túc Nhanh Chóng Nhất
  • Không Có Thư Mời Thì Xin Visa Du Lịch Nhật Bản Tự Túc Được Không?
  • Dịch Vụ Visa Na Uy
  • Phát Triển Sản Phẩm Du Lịch Việt Nam: Một Số Gợi Ý Chính Sách

    --- Bài mới hơn ---

  • Bảo Hiểm Du Lịch Nước Ngoài Là Gì, Phi Như Thế Nào
  • Chi Phí Đi Nha Trang: 2 Người, 3
  • Bảng Giá Dịch Vụ Xin Visa Trung Quốc
  • Tất Tần Tật Bí Kíp Và Quy Trình Xin Visa Trung Quốc Đầy Đủ Từ A
  • Phí Làm Visa Đi Hàn Quốc Bao Nhiêu Tiền?
  • Việt Nam là một trong những quốc gia có hệ thống sản phẩm du lịch khá đa dạng và có nhiều điểm mạnh. Nguồn: Internet.

    Thực tế phát triển du lịch giai đoạn 2005-2015

    Đánh giá tiềm năng phát triển du lịch Việt Nam trong giai đoạn 10 năm (2005-2015), các chuyên gia cho rằng, Việt Nam là một trong những quốc gia có hệ thống sản phẩm du lịch khá đa dạng và có nhiều điểm mạnh: Đa dạng về sản phẩm tại điểm đến (du lịch biển, du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, du lịch mạo hiểm, du lịch thành phố…); giàu giá trị truyền thống văn hóa với hệ thống di sản, di tích, lễ hội đặc sắc; có thế mạnh nổi trội đối với sự phát triển các sản phẩm du lịch biển đảo; giàu giá trị lịch sử văn hóa, gắn liền với các địa danh nổi tiếng và kỳ tích lịch sử qua các thời kỳ; chất lượng dịch vụ, cơ sở lưu trú du lịch ngày càng được nâng cao; giá cả hợp lý; thị trường du lịch nội địa ổn định, tạo cơ sở vững chắc cho việc phát triển du lịch bền vững; có thế mạnh trong việc liên kết phát triển các sản phẩm du lịch nội vùng và liên vùng…

    Bên cạnh những điểm mạnh, sản phẩm du lịch của Việt Nam vẫn còn khá nhiều tồn tại như: Sản phẩm du lịch còn nghèo nàn, đơn điệu và trùng lặp, chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có, chưa được thống kê, đánh giá để quản lý khai thác một cách bền vững, hiệu quả; Sự hạn chế, yếu kém trong nghiên cứu sản phẩm du lịch cả ở tầm vĩ mô và ở cấp doanh nghiệp; Chưa có được những sản phẩm du lịch chủ lực đặc thù mang đậm bản sắc dân tộc, phù hợp cho từng phân khúc thị trường khách du lịch…

    Trong xu thế phát triển du lịch chung, du lịch Việt Nam đang đứng trước những cơ hội và thách thức đan xen. Diễn biến kinh tế, chính trị, an ninh thế giới có tác động mạnh hơn, khi Việt Nam hội nhập ngày càng sâu và toàn diện.

    Sự tham gia của du lịch Việt Nam trong hoạt động của các tổ chức, cơ chế khu vực và quốc tế như: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương, Diễn đàn hợp tác Á – Âu, Tổ chức Du lịch Thế giới, Hiệp hội Du lịch châu Á – Thái Bình Dương, Sáng kiến Hợp tác kinh tế tiểu vùng Mê Công mở rộng, Hành lang kinh tế Đông – Tây… ngày càng trở nên tích cực và hiệu quả hơn.

    Đây là cơ hội rất tốt để Việt Nam tiếp cận các thị trường du lịch quốc tế, tiếp nhận những cơ chế đào tạo nguồn nhân lực du lịch, từ đó đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu ngày càng cao của khách du lịch. Quan hệ ngoại giao tích cực của Việt Nam với thế giới cũng đang mở ra cơ hội thu hút đầu tư vốn và cộng nghệ vào Việt Nam nói chung và đầu tư du lịch nói riêng…

    Bên cạnh những cơ hội kể trên, du lịch của Việt Nam cũng sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức trong quá trình hội nhập du lịch toàn cầu như: Ứng phó với khủng khoảng kinh tế, bất ổn an ninh, chính trị trên bình diện quốc tế; Sức ép cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, đòi hỏi sự nhạy bén, nắm bắt kịp thời và chính xác những xu hướng của du lịch thế giới…

    Những thách thức trên đòi hỏi Việt Nam phải đầu tư nâng cao sức cạnh tranh cho sản phẩm du lịch với lợi thế quốc gia và sự độc đáo của văn hóa dân tộc, để khẳng định mình trong quá trình hội nhập du lịch quốc tế và cạnh tranh toàn cầu.

    Nâng cao sức cạnh tranh cho sản phẩm du lịch Việt Nam

    Chiến lược Phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030 xác định, đối với những giải pháp phát triển sản phẩm du lịch Việt Nam trong điều kiện hội nhập, cần ưu tiên phát triển mạnh các sản phẩm du lịch theo ưu thế nổi trội về tài nguyên tự nhiên và văn hóa; mở rộng các loại hình du lịch mới như: Du thuyền, caravan, du lịch kết hợp (MICE), du lịch giáo dục, du lịch dưỡng bệnh, du lịch làm đẹp, du lịch ẩm thực; Liên kết tạo sản phẩm du lịch vùng, liên kết theo loại hình chuyên đề, liên kết khu vực gắn với các hành lang kinh tế, liên kết ngành hàng không, đường sắt, tàu biển tạo sản phẩm đa dạng; Phát triển sản phẩm du lịch theo đặc trưng 7 vùng lãnh thổ, bao gồm:

    – Vùng trung du, miền núi Bắc Bộ: Du lịch văn hóa, sinh thái gắn với tìm hiểu bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số.

    – Vùng đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc: Du lịch danh lam thắng cảnh biển, du lịch văn hóa, du lịch đô thị.

    – Vùng Bắc Trung bộ: Tham quan tìm hiểu các di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, du lịch biển, du lịch sinh thái, du lịch văn hóa – lịch sử và du lịch đường biên.

    – Vùng duyên hải Nam Trung bộ: Du lịch nghỉ dưỡng biển đảo, tìm hiểu các di sản văn hóa thế giới, văn hóa biển và ẩm thực biển.

    – Vùng Tây Nguyên: Du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, du lịch văn hóa.

    – Vùng Đông Nam bộ: Du lịch đô thị, du lịch MICE, du lịch văn hóa – lịch sử, du lịch nghỉ dưỡng và sinh thái biển, đảo.

    – Vùng đồng bằng sông Cửu Long: Du lịch sinh thái, khai thác các giá trị văn hóa sông nước miệt vườn, nghỉ dưỡng và sinh thái biển, đảo, du lịch MICE.

    Ưu tiên phát triển sản phẩm du lịch nghĩ dưỡng cao cấp, hướng tới thu hút khách chi trả cao và lưu trú dài ngày; Đa dạng hóa sản phẩm và loại hình du lịch để phù hợp với từng phân khúc thị trường khác nhau; Phát huy các thế mạnh liên vùng, tạo dựng các liên kết trong phát triển sản phẩm; từng bước đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.

    Theo nhận định của Tổ chức Du lịch Thế giới, năm 2022 và những năm tiếp theo, du lịch vẫn là Ngành Việt Nam cần chú trọng phát triển. Xu thế dòng khách quốc tế sẽ tiếp tục chuyển dịch đến khu vực châu Á – Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam. Đây sẽ là cơ hội để Du lịch Việt Nam bứt phá ngoạn mục, xây dựng hình ảnh, thương hiệu du lịch quốc gia, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và dịch vụ.

    Để làm được điều đó, ngành Du lịch cần tập trung vào một số giải pháp chủ yếu sau: Ngăn chặn, xử lý kiên quyết, tập trung giải quyết căn bản các vấn nạn, tiến tới chấm dứt một loạt hình ảnh xấu của môi trường du lịch; Huy động tổng hợp nguồn lực và đẩy mạnh hơn nữa công tác quảng bá, xúc tiến du lịch theo hướng chuyên nghiệp; Thay đổi cách thức xây dựng sản phẩm du lịch, để tạo ra các sản phẩm có chất lượng, giàu bản sắc, có sức cạnh tranh cao…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ngành Du Lịch Yên Bái Đang Được Đánh Thức
  • Phát Triển Du Lịch Y Tế Việt Nam Như Thế Nào Ở Thời 4.0?
  • Phát Triển Du Lịch Y Tế: Không Dừng Lại Ở Tiềm Năng
  • Phát Triển Du Lịch Vùng Tây Bắc
  • Thành Phố Vũng Tàu Nổ Lực Trong Việc Phát Triển Du Lịch Chất Lượng Cao
  • Hội Thảo Bàn Về Chính Sách Phát Triển Du Lịch Cộng Đồng Tại Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Phú Quốc Đẩy Mạnh Phát Triển Du Lịch Biển
  • Phú Quốc Phát Triển Du Lịch Gắn Với Bảo Vệ Môi Trường Biển
  • Từng Bước Khẳng Định Thương Hiệu Du Lịch Quảng Bình
  • Liên Kết, Hợp Tác Phát Triển Du Lịch “quảng Bình
  • Chặng Đường Phát Triển Du Lịch Quảng Nam
  • (TITC) – Sáng ngày 3/8/2018, tại Mai Châu, Hòa Bình, Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch (Tổng cục Du lịch) đã chủ trì tổ chức hội thảo “Chính sách phát triển du lịch cộng đồng và đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho phát triển du lịch cộng đồng tại Việt Nam”.

    Tham dự hội thảo có ông Từ Mạnh Lương – Vụ trưởng Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Bộ VHTTDL; ông Nguyễn Anh Tuấn – Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển du lịch; bà Nguyễn Thanh Bình – Phó Vụ trưởng Vụ Khách sạn, Tổng cục Du lịch cùng hơn 50 đại biểu là các nhà khoa học, giảng viên các trường du lịch, đại diện các Sở VHTTDL, các doanh nghiệp, các hộ gia đình kinh doanh du lịch cộng đồng và các cơ quan thông tấn báo chí.

    Phát biểu tại hội thảo ông Từ Mạnh Lương – Vụ trưởng Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Bộ VHTTDL nhấn mạnh du lịch cộng động hiện nay là loại hình du lịch hấp dẫn phát triển mạnh trên toàn cầu và mang lại nhiều lợi ích cho cộng động địa phương, góp phần xóa đói giảm nghèo.

    Những năm gần đây tại Việt Nam, du lịch cộng đồng đang phát triển ở nhiều địa phương như: Hòa Bình, Lào Cai, Quảng Nam… tuy nhiên nhìn chung so với tiềm năng, thế mạnh về cảnh quan thiên nhiên, văn hóa, việc phát triển du lịch cộng đồng chưa tương xứng, có nhiều nơi còn tự phát, thiếu chuyên nghiệp, sự tham gia của cộng đồng địa phương vào quá trình tổ chức du lịch cộng đồng còn thụ động, chính quyền chưa tạo được chính sách để người dân được hưởng lợi chính đáng từ những hoạt động du lịch cộng đồng của mình.

    Ông Lương mong muốn hội thảo là diễn đàn cho các nhà quản lý, chính quyền địa phương, các chuyên gia, các doanh nghiệp và các hộ kinh doanh du lịch bàn thảo, chia sẻ kinh nghiệm về 2 vấn đề: (1) Đánh giá đúng thực trạng phát triển du lịch cộng đồng trên cả nước và ở từng vùng, địa phương, chỉ ra những tồn tại hạn chế và đề xuất các chính sách, giải pháp phù hợp để đẩy mạnh phát triển du lịch cộng đồng; (2) Tập trung vào vấn đề đào tạo phát triển nguồn nhân lực cho cộng đồng, từ đó đưa ra đề xuất kiến nghị với cơ quan quản lý ở nhà nước và chính quyền địa phương để xây dựng những chính sách giải pháp hỗ trợ phù hợp cho công tác đào tạo nguồn nhân lực.

    Theo ông Nguyễn Anh Tuấn – Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển du lịch, trong những năm qua du lịch cộng đồng có sự phát triển nhanh, có nhiều đột phá trong thu hút khách du lịch cũng như xây dựng các sản phẩm du lịch mới, không chỉ đóng góp trực tiếp vào việc định hướng phát triển bền vững, bảo tồn và phát huy các giá trị tự nhiên, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc của từng cộng đồng địa phương, mà còn nâng cao đời sống cho người dân địa phương. Tuy nhiên du lịch cộng đồng cũng bộc lộ những hạn chế như: bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa bản địa trong điều kiện khai thác phục vụ du lịch vẫn còn hạn chế; nhiều sản phẩm du lịch cộng đồng mang tính đại trà, ít có điểm nhấn thể hiện bản sắc độc đáo của cộng đồng địa phương; điều kiện vệ sinh môi trường ở nhiều điểm du lịch cộng đồng chưa thực sự đảm bảo để đáp ứng phục vụ khách du lịch; vấn đề phân phối, chia sẻ lợi ích từ hoạt động cung cấp dịch vụ du lịch tại các điểm du lịch cộng đồng còn nhiều bất cập; nhân lực cho phát triển du lịch cộng đồng hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu.

    Tại hội thảo các chuyên gia du lịch cũng đã nêu lên nhiều giải pháp và chia sẻ các kinh nghiệm về du lịch cộng đồng. TS. Đoàn Mạnh Cương (Vụ Đào tạo, Bộ VHTTDL) đã nêu lên giải pháp phát triển du lịch cộng đồng nhằm xóa đói giảm nghèo theo hướng bền vững. Để làm được điều này cần phải có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp du lịch, doanh nghiệp lữ hành lựa chọn sản phẩm do người dân địa phương làm ra. Cộng đồng phải được chia sẻ lợi ích từ việc phát triển du lịch. Tại mỗi địa phương cần xây dựng phương án lựa chọn loại hình sản phẩm để làm định hướng phát triển du lịch cộng đồng. Chính quyền địa phương giúp đỡ hướng dẫn các xóm, bản tổ chức đón tiếp, ứng xử văn minh với khách du lịch; bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, giữ gìn vệ sinh môi trường.

    Bà Nguyễn Thanh Bình – Phó Vụ trưởng Vụ Khách sạn, Tổng cục Du lịch đã gợi ý giải pháp định hướng phát triển loại hình du lịch cộng đồng Vùng Tây Bắc theo tiêu chuẩn chung của cộng đồng các nước ASEAN. Tại Việt Nam có 3 điểm du lịch cộng đồng đã được trao giải thưởng Du lịch cộng đồng ASEAN là điểm du lịch cộng đồng xóm Pom Coọng, thị trấn Mai Châu, huyện Mai Châu, Hòa Bình; điểm du lịch Thanh Toàn, xã Thanh Thủy, huyện Hương Thủy, Thừa Thiên – Huế; điểm du lịch cộng đồng làng Triêm Tây, huyện Điện Bàn, Quảng Nam.

    Trao đổi tại hội thảo, TS. Nguyễn Tư Lương – Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội đã đưa ra các vấn đề về công tác đào tạo nhân lực địa phương để phát triển du lịch cộng đồng. Việc đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho phát triển du lịch cộng đồng được tiến hành với nhiều nội dung như: cung cấp các dịch vụ phục vụ khách du lịch; vấn đề đảm bảo an ninh và an toàn cho khách; giới thiệu các điểm đến, phương thức giao tiếp, ứng xử với khách du lịch…

    Ông Lưu Huy Linh – Phó Giám đốc Sở VHTTDL Hòa Bình chia sẻ, huyện Mai Châu là địa phương đầu tiên phát triển du lịch cộng đồng từ những năm 1990 và đến nay huyện đã có 7 điểm hoạt động và phát triển du lịch cộng đồng điển hình. Tỉnh Hòa Bình cũng đã xây dựng quy hoạch các điểm du lịch cộng đồng, đẩy mạnh công tác bảo tồn văn hóa bản địa, kêu gọi đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, hướng dẫn người dân bảo đảm vệ sinh môi trường nhằm thu hút ngày càng nhiều khách du lịch đến với Hòa Bình.

    Tại hội thảo, đại diện các hộ kinh doanh du lịch cộng đồng cũng đã nêu lên những hạn chế, khó khăn trong việc kinh doanh phát triển du lịch cộng đồng ngay tại địa phương mình như: người dân khó tiếp cận với các nguồn vốn vay ưu đãi để đầu tư phát triển, cơ chế chính sách phát triển chưa đồng bộ, người dân còn thiếu kiến thức và năng lực để quảng bá sản phẩm du lịch của mình…

    Phát biểu kết luận hội thảo, ông Nguyễn Anh Tuấn – Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch nhận định rằng du lịch cộng đồng đang là xu thế phát triển tất yếu, nhưng chưa phát triển tương xứng với tiềm năng của các địa phương, còn thiếu cơ chế, chính sách cho phát triển du lịch cộng đồng. Do đó Nhà nước cần xây dựng cơ chế, chính sách cụ thể về chiến lược, quy hoạch du lịch cộng đồng, hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng. Bên cạnh đó cần có các giải pháp đào tạo nguồn nhân lực để phát triển du lịch cộng đồng mạnh hơn, đồng thời vẫn giữ gìn, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của mỗi địa phương. Qua đó, tạo sức bật cho du lịch cộng đồng phát triển, góp phần vào việc thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội và tạo điều kiện xóa đói giảm nghèo cho người dân ở nhiều vùng còn khó khăn.

    Nguồn: http://vietnamtourism.gov.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chính Sách Phát Triển Vùng Ảnh Hưởng Như Nào Đến Vinpearl Nam Hội An?
  • Đưa Chính Sách Phát Triển Du Lịch Vào Cuộc Sống
  • Hội An Phát Triển Du Lịch Bền Vững
  • Thái Lan Điều Chỉnh Chính Sách Phát Triển Du Lịch
  • Bài Học Kinh Nghiệm Tổ Chức Quản Lý Phát Triển Du Lịch Của Một Số Nước
  • Chính Sách Phát Triển Du Lịch Thái Lan Và Bài Học Cho Việt Nam Ra Sao ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Kinh Nghiệm Du Lịch Bụi Mỹ Tho Bến Tre
  • Chi Tiết Khu Du Lịch Suối Mơ Đà Nẵng, Giá Vé, Ăn Gì, Chơi Gì?
  • Tour Du Lịch Nha Trang Đi Từ Hà Nội Giá Rẻ
  • Kinh Nghiệm Đi Du Lịch Từ Hà Nội Đến Nha Trang Với Giá Siêu Tiết Kiệm
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Mũi Né 2022 Cập Nhật Siêu Đầy Đủ
  • Theo Samthienha.com Hà Văn Hội thì Chính Sách Phát Triển Du Lịch của Thái Lan, đã mang tới một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam ra sao ? Cùng với xu hướng toàn cầu hóa, du lịch nói chung và du lịch quốc tế nói riêng, đã trở thành một ngành dịch vụ quan trọng, chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong GDP của mỗi quốc gia. Đây là hoạt động kinh doanh mang lại nhiều lợi nhuận có triển vọng phát triển trong xã hội hiện đại, và được coi là một ngành ” công nghiệp không khói” là ngành ” dịch vụ xuất khẩu tại chỗ”.

    Thái Lan là một quốc gia có ngành du lịch phát triển. Với lợi thế và tiềm năng sẵn có, Thái Lan đã rất chú trọng đầu tư và phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch quốc tế. Nghiên cứu, tìm hiểu chính sách phát triển du lịch quốc tế của Thái Lan sẽ mang lại bài học kinh nghiệm bổ ích, thúc đẩy phát triển dịch vụ du lịch của Việt Nam trong thời gian tới.

    I. Sơ lược về ngành du lịch Thái Lan trong những năm gần đây

    Thái Lan là khởi nguồn của cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997, nhưng chỉ vài năm sau, vào đầu thập niên 2000, ngành công nghiệp du lịch Thái Lan đã gượng dậy nhanh chóng, so với nhiều nước trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Nguồn thu từ du lịch chiếm 6% tổng sản phẩm quốc nội của Thái Lan, với khoảng 7 triệu lượt khách/năm thì doanh thu 7 tỷ USD, đem lại nguồn ngoại tệ không nhỏ cho Thái Lan hàng năm, và là chỗ dựa cứu nguy thời khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 – 1998.

    Năm 2002, việc thành lập Bộ Du Lịch Thông Tin Thái Lan, đã có tác dụng góp phần đẩy mạnh hơn nữa ngành ” công nghiệp không khói” này. Năm 2006, Thái Lan đón 13.811.802 lượt khách quốc tế, tăng 20% so với năm 2005. Với đà tăng trưởng của nền kinh tế từ năm 2006, Thái Lan đã đạt mục tiêu đón 14,93 triệu lượt khách quốc tế năm 2007, tăng 8% so với năm 2006 và đã mang lại 1,6 tỷ USD.

    Đứng đầu nhóm khách nước ngoài đến Thái Lan trong năm 2007 là người Nhật Bản ( một triệu lượt khách ), Hàn Quốc ( 760.000 lượt khách ), và Trung Quốc ( 705.000 lượt khách). Mặc dù, du lịch Thái Lan luôn tăng trưởng, nhưng Chính quyền Thái Lan không ngừng cải tiến ngành du lịch. Vì vậy, bất chấp trận sóng thần vào cuối năm 2004, cúm gia cầm, đảo chính năm 2006 và cuộc nổi dậy của phe Hồi giáo ly khai chiến bạo lực gia tăng tại miền Nam Thái Lan, lượng khách du lịch thế giới vẫn đổ về Thái Lan. Trong đó, đảo Phuket nổi tiếng với những bãi biển tuyệt đẹp, lý tưởng cho những môn thể thao dưới nước hàng đầu châu Á, với hơn 5 triệu lượt du khách đến thăm mỗi năm.

    Ngành du lịch Thái Lan vốn tự hào với danh xưng “đất nước nụ cười” và nụ cười của người Thái Lan để lại ấn tượng khó phai mờ trong du khách. Nếu năm 1998, lượng khách tới Thái Lan là 7,76 triệu lượt người với tổng doanh thu gần 250 tỷ baht ( 6 tỷ USD tính theo tỷ giá trung bình ) thì 10 năm sau, năm 2008, con số này đã tăng gấp hai lần, tới 14,5 triệu lượt người với doanh thu 540 tỷ baht ( 16,38 tỷ USD ).

    Tuy từ nửa cuối năm 2008, tới nửa đầu năm 2009, những biến động chính trị cũng như những tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu … làm lượng khách du lịch cũng như doanh thu từ du lịch của nước này sụt giảm, nhưng du lịch Thái Lan vẫn được coi là điểm đến của du khách du lịch quốc tế. Trong năm 2009, lượt khách du lịch Lào đến Thái Lan đạt 639,692 tăng 2,92% so với năm 2008.

    II. Một số biện pháp thu hút khách quốc tế, đẩy mạnh phát triển du lịch

    Đạt được những thành công như đã nêu trên là do Chính Phủ Thái Lan đã rất chú trọng phát triển ngành du lịch. Đặc biệt, chính phủ Thái Lan rất coi trọng việc thu hút khách du lịch quốc tế, bởi đây là một phương thức xuất khẩu dịch vụ có hiệu quả cao. Trong 4 phương thức xuất khẩu dịch vụ theo phân loại của GATS, du lịch Thái Lan chủ yếu thực hiện theo phương thức 2: “tiêu dùng dịch vụ ngoài lãnh thổ”, tức là cung cấp dịch vụ du lịch cho khách nước ngoài đến Thái Lan, cộng với hình thức xuất khẩu tại chỗ các mặt hàng lưu niệm cho khách du lịch quốc tế. Để tăng cường thu hút khách du lịch quốc tế, chính phủ Thái Lan đã thực thi nhiều chính sách cụ thể:

    – Thứ nhất, coi trọng xây dựng chiến lược, kế hoạch và các chính sách thúc đẩy phát triển du lịch

    Chính phủ Thái Lan nhận thức rằng, muốn đưa du lịch trở thành một trong những ngành kinh tế hàng đầu, thì phải đặt nó trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia. Chiến lược ưu tiên phát triển du lịch này phải thông qua một hệ thống cơ chế chính sách đồng bộ, nhằm huy động mọi nguồn lực để thực hiện, đưa du lịch phát triển với tốc độ cao và vững chắc.

    Hệ thống cơ chế chính sách phải xuất phát từ những đặc trưng của du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, có tính liên ngành, liên vùng, xã hội hóa cao, mang tính toàn cầu hóa, khu vực hóa. Du lịch càng phát triển thì tính chất xã hội hóa của nó càng cao, sự liên ngành và phạm vi hoạt động của nó càng rộng rãi. Ngoài ra, cơ chế và các chính sách phát triển du lịch phải thích ứng với điều kiện lịch sử, tận dụng được thời cơ và vận hội ở từng thời điểm.

    Những chính sách và chương trình phát triển du lịch của Thái Lan được thể hiện trong chiến lược phát triển du lịch hằng năm của Chính phủ. Vào cuối tháng 9/2010, Tổng Cục Du Lịch Thái Lan ( gọi tắt là TAT ) đã công bố chiến lược phát triển du lịch Thái Lan năm 2011. Khẩu hiệu ” Amazing ThaiLand” vốn đã mang lại thành công lớn cho ngành du lịch Thái Lan, vẫn được sử dụng.

    Tuy nhiên, lần này khẩu hiệu được chú ý hơn nữa với khẩu hiệu đi kèm ” Alway Amazes You” ( có nghĩa là Luôn Luôn Mang Đến Sự Bất Ngờ ). Với khẩu hiệu này, TAT cam kết sẽ củng cố, khẳng định thêm những diện mạo của ” THAINESS” ( còn gọi là những điều tạo nên chất “Thái” đã được đông đảo du khách trên thế giới bình chọn.

    Trong năm 2011, đối tượng du lịch mà TAT nhắm đến là tầng lớp thanh niên, nên qua những chiến lược marketing trên các kênh Video Amazing ThaiLand, trên Youtube, hoặc sử dụng sách điện tử và tờ rơi mạng cùng ứng dụng IThai để cập nhật du lịch trên Iphone, ngành du lịch Thái Lan đã thành công trong việc xây dựng mạng lưới thành viên ” ThaiLand Fanclub” ở thị trường Châu Âu và Trung Đông, và đang tiếp tục lan rộng ở châu Á.

    Chiến lược Amazing ThaiLand, luôn luôn mang đến sự bất ngờ, sẽ tập trung vào các hoạt động riêng biệt vốn đã quen thuộc với du khách đến từ thị trường Châu Á như ” Thái Lan – Thiên Đường Mua Sắm“, TAT sẽ phối hợp với các trung tâm mua sắm cung cấp phiếu giảm giá cho các du khách và các công ty du lịch có tổ chức gói mua sắm.

    Ngoài ra, TAT còn thúc đẩy các hoạt động khác như gofl, du lịch xanh, …. Với thị trường du lịch nội địa, TAT còn lên kế hoạch lập ra những khóa ngắn hạn có giá trị, và hiểu biết cho người dân Thái Lan, về việc những đóng góp quan trọng của du lịch nội địa đối với nền kinh tế quốc dân. Giá trị cốt lõi mà TAT hướng tới là du lịch với nhận thức ( niềm tự hào ), du lịch bằng óc sáng tạo ( phát triển ý tưởng và tầm nhìn mới, cùng nhau đi du lịch để khuyến khích sự đoàn kết và tôn trọng sự đa dạng).

    Du lịch với sự hiểu biết ( thu thập kiến thức và sự hiểu biết ), và cuối cùng là du lịch bằng cả trái tim ( cảm nhận sự yêu thương và lưu giữ từng khoảnh khắc đã trải qua ). Điều này cho thấy, chính phủ Thái Lan có cả một ngành công nghiệp du lịch với chiến lược rõ ràng, với những hoạt động quảng bá mang tính chuyên nghiệp rất cao, và họ hiểu rõ phương châm “muốn thu hoạch phải đầu tư”.

    – Thứ hai, tăng cường đầu tư và phát triển cơ sở hạ tầng du lịch

    *** Đầu tư quy hoạch và phát triển đường giao thông

    Đường giao thông của Thái Lan đều được quy hoạch có hệ thống và rất hiện đại. Do vậy, việc vận chuyển trong du lịch thường ít gặp khó khăn. Vì đường sá tốt, do đó tốc độ di chuyển của các phương tiện giao thông cao, và rút ngắn thời gian trên ô tô của du khách, nên chắc chắn du khách có nhiều thời gian hơn để thăm quan, để mua sắm và để tiêu tiền. Hơn nữa, do đường tốt nên khách du lịch không thấy mệt du đi quãng đường dài. Chính điều này, đã tạo điều kiện cho nhiều đối tượng khách du lịch có thể đến du lịch tại Thái Lan.

    Trong một chiến lược lâu dài, Thái Lan từ lâu đã tìm cách khai thác lợi thế địa lý của mình, như là một cửa ngõ vào khu vực sông Mê Kông, vị trí này sẽ được tăng cường mở rộng hơn nữa trong tương lai, như là mối liên kết giao thông vận tải. Việc nâng cấp đường giao thông khu vực sông Mê Kông, sân bay, bến cảng, cầu và đường thủy, tất cả các yếu tố quan trọng của phát triển kinh tế tổng thể, sẽ có lợi cho ngành du lịch bằng cách cho phép các công ty tư nhân cung cấp trọn gói bao gồm đường bay – cảng biển – du lịch – tàu hỏa đến một số địa điểm kỳ thú nhất trên thế giới.

    Hầu hết, những gói này đều gắn với chiến lược du lịch Thái Lan. Gói phát triển đầu tiên giai đoạn 2006 – 2022, được phát triển với sự trợ giúp của Ngân Hàng Phát Triển Châu Á, để tiếp cận toàn diện và phối hợp nhằm phát triển du lịch, bao gồm cả việc ưu tiên thực hiện các dự án nâng cấp cơ sở hạ tầng giao thông. Bên cạnh đó, lịch trình các chuyến bay giữa Thái Lan và các quốc gia khu vực Tiểu Vùng Sông Mê Kông mở rộng ( GMS ) theo số liệu tháng 9 năm 2010.

    Từ sân bay Suvarnabhumi sân bay quốc tế thứ hai của Bangkok, sẽ tiếp tục nâng cao vai trò thủ đô của Thái Lan như một trung tâm hàng không, và cửa ngõ quốc tế lớn trong khu vực. Đồng thời, chính phủ Thái Lan đang chú trọng nhiều vào phát triển Chiang Mai, thành một trung tâm hàng không phía Bắc, và Phuket là một trung tâm phía Nam. Nhiều sân bay lớn trong khu vực đang được nâng cấp đáng kể, và thu hút các hãng hàng không mới, đặc biệt là với mức chi phí thấp.

    Việc liên kết giao thông đường bộ, cũng như cải thiện như dịch vụ đường sắt giữa Thái Lan và Lào ( Nong Khai – Thanalaeng ) được khai thông hồi tháng 3 năm 2009. Việc kết nối trực tiếp này, sẽ tiếp tục đẩy mạnh thương mại và du lịch song phương, dễ dàng hơn cho khách du lịch quốc tế đến thăm hai nước. Song song với các biện pháp trên, TAT đã tổ chức cuộc họp bàn về sự hợp tác đầu tiên giữa tỉnh Vân Nam ( Trung Quốc ) , Luang Prabang, Bokeo, Louang Namtha, Chiang Mai, Chiang Rai tại Jinghong vào tháng 3 năm 2010.

    Tại đây, 6 bên đã ký một biên bản ghi nhớ, nhằm thúc đẩy việc liên kết du lịch và vận tải. Trong tháng 3 năm 2010, TAT và Hiệp Hội Du Lịch Chiang Mai, đã dẫn đầu một sự kiện có quy mô lớn có tên gọi là “Kunning-Bangkok Self-Driving Cars Delegation” của 130 thành viên đến thăm Jinghong và Côn Minh, và tổ chức hoạt động xúc tiến du lịch. Đồng thời, việc liên kết đường bộ với châu Á cũng được xúc tiến. Hai tuyến đường hiện đã hoàn tất và mở cửa lưu thông.

    *** Đầu tư mở rộng cơ sở lưu trú và vui chơi giải trí

    Trong xây dựng cơ sở vật chất chuyên ngành, ngoài việc chú trọng xây dựng khách sạn, Thái Lan đặc biệt chú ý đến xây dựng cơ sở vui chơi, giải trí, các khu du lịch và các quần thể du lịch ( vườn thú Safari – Công viên đại dương của Thái Lan, … ) để giữ khách lưu lại lâu hơn, tăng nguồn thu và tăng khả năng hấp dẫn khách đến nhiều lần. Các nguồn vốn để thực hiện chủ yếu là liên doanh với nước ngoài, vốn vay và huy động trong dân.

    Để đảm bảo cân đối trong xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, Thái Lan rất coi trọng công tác quy hoạch, gắn quy hoạch du lịch với quy hoạch kinh tế – xã hội của cả nước và của từng địa phương. Trên cơ sở quy hoạch kinh tế – xã hội chung, họ tiến hành quy hoạch từng vùng, trong quy hoạch từng vùng, từng khu vực thường là quy hoạch cả không gian ( mô hình ) và các dự án cụ thể. Từ đó, mới đề ra các chính sách để đầu tư ( đấu thầu, cho thuê trọn, cổ phần ). Do vậy, những khu công nghiệp mới, các thành phố đều gắn với các điểm du lịch, đảm bảo được tính đồng bộ trong quy hoạch xây dựng.

    Chính phủ Thái Lan, cũng rất mạnh dạn đầu tư các khoản tiền lớn vào việc trùng tu, tôn tạo các di tích lịch sử, tận dụng địa hình nhiều đảo cùng các danh lam thắng cảnh khác, hoàn thành sân bay mới để mở rộng thêm nhiều đường bay từ các quốc gia khác, mặc dù sân bay quốc tế cũ của Thái Lan đã rất lớn và hiện đại. Bên cạnh đó, chính phủ Thái Lan còn có chính sách hỗ trợ phát triển những nhà hàng Thái, với những quy mô khác nhau ở khắp thế giới, với khoảng 7000 nhà hàng.

    Một chiến dịch như vậy, đã mang hương vị Thái Lan đến tận những người ít quan tâm tới đất nước này nhất, buộc họ phải chú ý và đi du lịch Thái Lan. Việc mở rộng các nhà hàng Thái trên khắp thế giới cũng góp phần xuất khẩu gạo thơm của Thái, các công nghệ chuyển giao và làm bùng nổ ngành du lịch của Thái.

    Chính phủ Thái Lan lập một công ty mới là Global THai Restaurant để quảng bá các nhà hàng Thái trên thế giới. Song song, với các chiến dịch ngắn hạn thiên về bề nổi như trên, Cục Xúc Tiến phối hợp với công ty CAD xuất bản ấn phẩm Tin Tức về nhà hàng Thái, và tổ chức hội thảo để giúp các nhà đầu tư Thái phát triển thương hiệu nhà hàng Thái ở nước ngoài.

    *** Đầu tư phát triển nguồn nhân lực du lịch

    Để có thể để lại ấn tượng tốt đẹp đối với khách du lịch quốc tế, bên cạnh yếu tố cơ sở hạ tầng du lịch, một trong yếu tố quan trọng đó là nguồn nhân lực du lịch. Trong đó, hướng dẫn viên du lịch là yếu tố rất quan trọng. Hướng dẫn viên du lịch là người quan trọng nhất, để đưa nền văn hóa của nước mình, giới thiệu cho các du khách quốc tế.

    Họ là đại diện của nước đón khách, do vậy khách có yêu quý đất nước họ đến hay không, có ấn tượng tốt và muốn quay trở lại hay không, thì công sức lớn là từ người hướng dẫn viên. Do vậy, Tổng Cục Du Lịch Thái Lan rất chú trọng đào tạo và hình thành một đội ngũ hướng dẫn viên du lịch chuyên nghiệp.

    Ở Thái Lan, để được trở thành hướng dẫn viên chuyên nghiệp, được cấp thẻ phải học rất vất vả, và trải qua quá trình thi cử cũng rất khó khăn. Chính vì vậy, Thái Lan hiện có đội ngũ hướng dẫn viên rất “nhà nghề”. Đội ngũ hướng dẫn viên này rất biết cách chào mời, và dẫn khách đến nhưng nơi giải trí, những nơi bán hàng để làm giàu thêm cho những cơ sở kinh doanh đi kèm với du lịch ở đất nước mình.

    – Thứ ba, loại bỏ các phiền toái và lo lắng cho du khách trong chuyến du lịch

    An ninh du lịch và an toàn cá nhân, là mối quan tâm hàng đầu của du khách quốc tế. Mặc dù an ninh du lịch không bằng Singapore, nhưng cho đến hiện nay, cũng chưa có trường hợp nào khách du lịch quốc tế đến Thái Lan bị bắt cóc, tống tiền hay nguy hiểm đến tính mạng. Chính phủ Thái Lan cũng đã áp dụng, những biện pháp kiên quyết và triệt để nhằm không gây phiền toái đến khách quốc tế. Đó là tại các điểm tham quan không bao giờ có trường hợp khách bị chèo kéo, để sử dụng dịch vụ và ăn xin. Đây là một yếu tố khiến khách du lịch quốc tế hài lòng và đánh giá cao.

    Tư tưởng chỉ đạo hoạt động du lịch của Thái Lan là luôn tìm cách thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, về vật chất, tinh thần và tâm lý. Khẩu hiệu phục vụ khách hàng là gây ấn tượng tốt cho khách, ngay từ bước chân đầu tiên đến Thái lan, và làm cho khách hài lòng đến điểm cuối cùng. Với 80% số người nước ngoài vào Thái lan, chỉ cần ghi tên là xong, không phải cần nhiều thủ tục phiền hà. Do đó, dưới con mắt khách du lịch quốc tế, du lịch Thái Lan là điểm đến hấp dẫn và phù hợp với việc giải trí, thư giản.

    – Thứ tư, có chính sách giá dịch vụ hợp lý

    Để có được giá tour du lịch cho khách quốc tế rẻ như vậy, là do bất cứ chương trình tour nào các công ty du lịch Thái Lan cũng cài thêm các điểm mua sắm bắt buộc. Và chính tiền hoa hồng từ việc mua sắm của khách, là số tiền họ bù vào việc giá tour bán rẻ của họ. Du khách được đưa đến, các điểm thăm quan dù họ có mua sắm hay không, thì bên công ty du lịch đón khách vẫn được một khoản tiền nhất định.

    Giữa các nhà cung cấp dịch vụ đi kèm, du lịch và các công ty du lịch ở Thái Lan, có sự quan hệ chặt chẽ và cùng nhau tìm cách thu được thật nhiều tiền từ du khách quốc tế, mà vẫn làm du khách hài lòng. Lý do, làm du khách vẫn hài lòng khi mua sắm, là những điểm mua sắm này, họ luôn luôn có những màn trình diễn và có những dịch vụ đi kèm hấp dẫn, để làm thỏa mãn du khách, chứ không phải họ chỉ có bán hàng hóa không thôi.

    – Thứ năm, tăng cường marketing du lịch với sự tham gia của Chính Phủ

    Bên cạnh việc không ngừng áp dụng, nhiều biện pháp như : cải tiến thủ tục, giảm lệ phí visa, gia tăng các loại hình dịch vụ đặc sắc, xây dựng mạng lưới cửa hàng siêu thị đa dạng, mở nhiều điểm tham quan mới, bên cạnh việc trùng tu những thắng cảnh truyền thống, thì điều đáng ghi nhận là những chương trình tiếp thị tận gốc của chính phủ Thái Lan. Một nét nổi bật trong chính sách du lịch ở Thái Lan là Chính Phủ trực tiếp “xắn tay áo” làm tiếp thị du lịch.

    Các quan chức Thái Lan luôn đặt mục tiêu tìm kiếm khách hàng thường xuyên cho ngành du lịch nước nhà. Chẳng hạn, năm 2004, chính Phó Thủ Tướng Thái Lan ông Somkid Jatusripitak đã dẫn một phái đoàn thương mại đến Nhật Bản, để khai thác thị trường du lịch của nước này. Điều đặc biệt, là phái đoàn thương mại không ký kết một văn bản nào với Chính Phủ Nhật Bản, mà lại ký bản ghi nhớ với 19 công ty lớn của Nhật Bản, để cam kết thực hiện việc đưa các nhân viên của các công ty này đến du lịch tại Thái Lan.

    Thái Lan là nước rất chú trọng đến việc đi tiếp thị tại nước ngoài. Chính phủ Thái Lan khuyến khích việc đặt đại diện du lịch quốc gia, dưới hình thức văn phòng hay đại diện du lịch ở nước ngoài, để làm công tác xúc tiến, quảng bá, nghiên cứu thị trường thu hút khách vào nước mình, coi đây là phương tiện quan trọng xúc tiến quốc tế. Hiện tại, Thái Lan có khoảng 13 văn phòng và 12 đại diện như vậy. Việc xuất khẩu dịch vụ du lịch theo phương thức “hiện diện thương mại” này cũng góp phần không nhỏ trong việc thu hút khách quốc tế đến Thái Lan.

    Hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch Thái Lan Samthienha.com được coi là điểm mấu chốt của sự thành công, và đưa ngành công nghiệp du lịch nước ngoài này, trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong sự phát triển kinh tế – xã hội của Thái Lan. Trong hoạt động xúc tiến, quảng bá hình ảnh du lịch Thái Lan, chính phú Thái Lan rất chú trọng việc quảng bá ẩm thực Thái Lan ra nước ngoài, và xem đây như là một giải pháp có tầm quan trọng trong việc phát triển du lịch quốc tế.

    Trong nhiều năm qua, chính phủ Thái Lan đã thực hiện hàng loạt các chiến dịch xây dựng quảng bá thương hiệu quốc gia như: Bangkok Fashion City ( Thành phố thời trang Bangkok ), Health Hub of Asia ( Trung tâm sức khỏe Châu Á ), …. và một trong những chiến dịch này là tập trung riêng để quảng bá nền ẩm thực Thái Lan mang tên ThaiLand – Kitchen to thư World ( Thái Lan – bếp ăn của thế giới ) được thực hiện từ năm 2005 – 2010.

    Mục tiêu chính, của chiến dịch này nhằm khuyếch trương ẩm thực Thái Lan, được thực hiện trên quy mô toàn cầu, và cả trong nước. Chiến dịch này được Chính Phủ, các bộ , ngành của Thái Lan, các trung tâm thương mại, các nhà hàng Thái Lan ở nước ngoài, … hỗ trợ.

    III. Một số gợi ý đối với Việt Nam trong việc thúc đẩy xuất khẩu dịch vụ du lịch

    Từ kinh nghiệm của Thái Lan cho thấy, Việt Nam muốn tăng cường thu hút khách du lịch quốc tế, thúc đẩy xuất khẩu du lịch tại chỗ cần phải thực hiện một số giải pháp cơ bản sau :

    – Trước hết, ngành du lịch Việt Nam cần khẩn trương hoàn thành và trình cấp có thẩm quyền ban hành Chiến Lược Phát Triển Du Lịch Việt Nam, giai đoạn 2011 – 2022 tầm nhìn 2030. Đây là cơ sở quan trọng để du lịch Việt Nam phát triển, và thật sự trở thành ngành kinh tế quan trọng của đất nước. Trên cơ sở đó, xây dựng các quy hoạch, kế hoạch, đề án phát triển du lịch cho giai đoạn tới phù hợp với mục tiêu , nhiệm vụ mà chiến lược đã đặt ra, cần đặc biệt chú ý quy hoạch, phát triển du lịch ở những nơi có tiềm năng phát triển du lịch biển đảo.

    – Thứ hai, Việt Nam cần có chính sách đầu tư phát triển có cơ sở hạ tầng du lịch theo hướng hiện đại và chuyên nghiệp. Cơ sở hạ tầng du lịch gồm các hệ thống giao thông, các địa danh du lịch trọng điểm, các khách sạn, … Hệ thống đường giao thông vào các khu du lịch chưa được quan tâm chú trọng đầu tư.

    Việc đảm bảo xây dựng cơ sở hạ tầng đòi hòi nhà nước Việt Nam, và Tổng Cục Du Lịch Việt Nam, cần ban hành các quy chế quản lý hợp lý, khai thác và quy hoạch khu du lịch, các hoạt động du lịch đồng bộ. Kinh nghiệm từ Thái Lan cho thấy, cơ sở hạ tầng du lịch hiện đại, với những khu vui chơi giải trí nổi tiếng, là một trong những yếu tố rất quan trọng giữ chân khách du lịch quốc tế. Trong 5 yếu tố, tạo nên sự thành công của ngành du lịch ( phương tiện giao thông, cơ sở tiện nghi, điểm thắng cảnh, các dịch vụ hỗ trợ và điều hành của chính phủ ), việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng du lịch sẽ đáp ứng được 3 trong số 5 điều kiện trên.

    Vì vậy, chính phủ cần ưu tiên cho ngành du lịch vay vốn để đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng du lịch, so với các ngành nghề khác, những ngành không được coi là ngành mũi nhọn, không thuộc nhóm ngành nghề có khả năng cạnh tranh. Chính phủ cũng nên ưu tiên phát triển những cơ sở vui chơi giải trí hiện đại, có quy mô lớn ở những thành phố, và điểm du lịch chính để thu hút thêm khách du lịch, kéo dài thêm thời gian lưu trú của họ, để đến mục đích cuối cùng là làm du khách chi tiêu nhiều hơn ở Việt Nam.

    – Thứ ba, đảm bảo chính sách thông thoáng, an toàn, thuận tiện cho sự đi lại, ăn ở của du khách trong suốt quá trình lưu trú. Trong kinh doanh du lịch, điều quan trọng trước hết là phải biết tạo điều kiện thuận lợi nhất, để thu hút được khách du lịch trong và ngoài nước, kéo dài thời gian lưu trú của khách du lịch. Việc hạn chế miễn giảm visa của Việt nam trong thời gian qua, đã làm giảm mất nhiều cơ hội cho phát triển du lịch.

    Chế độ visa thông thường, phí dịch vụ visa nhanh của Việt Nam ở nước ngoài, cũng góp phần làm tăng giá các tour du lịch vào Việt Nam, làm giảm sức cạnh tranh của thị trường du lịch Việt Nam. Bên cạnh đó, cần có quy định hợp lý đảm bảo an toàn cho khách nước ngoài trong quá trình lưu trú tại Việt Nam.

    – Thứ tư, là cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, Tổng Cục Du Lịch Việt Nam cần thực hiện tốt hơn nữa công tác xúc tiến, quảng bá du lịch Việt Nam nhằm cung cấp thông tin du lịch Việt Nam tới du khách quốc tế, một cách thường xuyên, mọi lúc, mọi nơi. Muốn vậy, phải tìm hiểu và nghiên cứu kỹ nhu cầu thị trường bên ngoài, các thị hiếu về sản phẩm và dịch vụ du lịch của thị trường các nước trong khu vực và thế giới. Từ đó, có cách quản lý và phục vụ riêng cho phù hợp với từng loại khách hàng. Những nghiên cứu này, rất thiết thực nhằm hạn chế tình trạng khách du lịch chỉ đến Việt Nam một lần duy nhất, và không bao giờ quay trở lại.

    – Thứ năm, nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực và khả năng cạnh tranh cho ngành du lịch. Đây là vấn đề có ý nghĩa quyết định, đối với nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành du lịch, góp phần nhanh chóng đưa du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Nguồn nhân lực phải được phát triển một cách có hệ thống, cả về số lượng và chất lượng.

    Hiện tại, chất lượng lao động cũng chưa đáp ứng được yêu cầu, Số có trình độ Đại Học trở lên, chỉ chiếm hơn 3%. Số lao động biết ngoại ngữ không nhiều, chỉ chiếm khoảng gần 1/2. Tính chuyên nghiệp của lực lượng lao động trong ngành du lịch chưa cao. Vì vậy, ngoài việc đào tạo mới thì việc đào tạo lại nhằm nâng cao chất lượng của đội ngũ lao động hiện tại cũng cần được chú trọng.

    Đội ngũ cán bộ quản lý và giám sát du lịch, cũng cần được đào tạo chuyên sâu, và có bài bản về trình độ chuyên môn, kỹ năng giao tiếp ngoại ngữ, tin học và có sự hiểu biết về pháp luật. Chỉ có thể phát triển du lịch nhanh, và bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu và toàn diện, nếu có đội ngũ lao động chất lượng cao, số lượng đủ, cơ cấu hợp lý gồm đông đảo những hướng dẫn viên du lịch lành nghề, những nhà khoa học công nghệ du lịch tài năng, giỏi chuyên môn nghiệp vụ, tháo vát và có trách nhiệm cao.

    ĐĂNG KÝ TOUR DU LỊCH THÁI LAN 5 NGÀY 4 ĐÊM

    #tourdulichthailan #tourthailan #tampacific

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Hợp Kinh Nghiệm Du Lịch Hàn Quốc Mùa Hè Hữu Ích Nhất
  • Du Lịch Bụi Đà Nẵng Cần Bao Nhiêu Tiền?
  • Review Chi Tiết Từ A
  • Tour Du Lịch Sài Gòn
  • Bảo Hiểm Du Lịch Nước Ngoài Của Pvi Có Đủ Điều Kiện Xin Visa Không?
  • Sách Hướng Dẫn Du Lịch Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Kinh Nghiệm Du Lịch Buôn Mê Thuột 2022
  • Khóa Học Nghiệp Vụ Hướng Dẫn Du Lịch Tại Cà Mau
  • Hướng Dẫn Du Lịch Cần Thơ
  • Hướng Dẫn Du Lịch Chùa Hương, Tìm Hiểu Về Chùa Hương
  • Tour Du Lịch Côn Đảo 2 Ngày 2 Đêm
  • Dulichbui’s Blog – “Sách cẩm nang hướng dẫn du lịch Việt Nam” là một dự án mà Dulichbui’s Blog đã ấp ủ rất lâu rồi nhưng đến bây giờ mới dám bắt tay vào làm.

    Cuốn sách đầu tiên trong bộ sách “cẩm nang hướng dẫn du lịch Việt Nam” sẽ giới thiệu về cẩm nang hướng dẫn du lịch tại một số Tỉnh, thành phố gần khu vực thành phố Hồ Chí Minh như tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, Tỉnh Bình Thuận, Tỉnh Ninh Thuận, Tỉnh Bình Dương, Tỉnh Đồng Nai, Tỉnh Lâm Đồng, Tỉnh Tây Ninh, Tỉnh Khánh Hòa…

    Thông tin được đề cập đến trong cuốn sách bao gồm:

    • Thông tin về các tuyến điểm du lịch, các lễ hội,…

    • Thông tin hướng dẫn du lịch: đi & về, bản đồ, dịch vụ lưu trú, ăn uống, các dịch vụ khác như: vui chơi giải trí, ngân hàng, chợ, bệnh viện…

    • Cùng với đó là những phần NOTEs nhỏ cho từng điểm đến.

    Theo dự kiến, đến cuối tháng 11 (chậm nhất là đầu tháng 12), một phần của cuốn sách sẽ được giới thiệu đến các bạn (download miễn phí dưới dạng file PDF) trên http://www.dulichbui.org/

    Để cuốn sách mang tính cập nhật nhất có thể, Dulichbui’s Blog cũng đang liên hệ với các đơn vị vận chuyển, lưu trú, dịch vụ tham quan, ăn uống,… để cập nhật giá và các thông tin cần thiết.

    Mong muốn của Dulichbui’s Blog là sẽ có một cuốn travel guide đúng nghĩa dành cho người Việt với những thông tin bổ ích, cần thiết.

    Tuy nhiên, hiện tại Dulichbui’s Blog cũng đang gặp một số khó khăn như: đội ngũ biên tập rất ít, số lượng hình ảnh tại các điểm du lịch còn hạn chế (sách không sử dụng ảnh có sẳn trên internet), và đặc biệt là vấn đề đầu ra cho cuốn sách.

    Rất mong nhận được các ý kiến đóng góp, hỗ trợ của các bạn cho cuốn sách này.

    Mọi chi tiết xin liên hệ:

    Nguyễn Tùng Lâm

    Email: [email protected] – Celll: 0985.792.559

    Liên hệ đặt tour: 0902 43 11 77

    About me

    “Tôi không phải là dân du lịch chuyên nghiệp bởi kinh nghiệm mà tôi có được không nhiều, số lượng các điểm mà tôi đã đặt chân đến cũng không là bao, tôi nhận thấy mình chỉ là một người yêu thích du lịch và muốn chia sẻ mà thôi.” Tôi yêu những chuyến đi, tôi yêu công việc viết blog và tôi đang cố gắng để có thể trở thành một travel blogger/travel writter…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Du Lịch Côn Đảo
  • Những Lưu Ý Khi Phượt Cần Giờ Ai Cũng Nên Biết
  • Hướng Dẫn Du Lịch Đảo Bình Ba Để Có Kỳ Nghỉ Đáng Nhớ, An Toàn
  • Hướng Dẫn Du Lịch Bình Ba Theo Cuối Tháng 8/2014
  • Hướng Dẫn Du Lịch Bà Nà Hills
  • Sách Cẩm Nang Du Lịch Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Ninh Thuận Đón Hai Dự Án Du Lịch Lớn Trong Năm 2022
  • Phú Yên Sẽ Có Khu Du Lịch Sinh Thái Biển Đảo Cao Cấp Sunrise 1.500 Tỷ Đồng
  • Dự Án Du Lịch Mũi Tấn Quy Nhơn
  • Du Lịch Việt Nam Hậu Covid
  • Du Học Nhật Bản Ngành Du Lịch
  • Cẩm Nang Du Lịch Việt Nam, những trang sách cẩm nang du lịch. Dải đất Việt Nam cong cong hình chữ S, mềm mại duyên dáng như cô gái dịu dàng, lưng tựa vào dãy Trường Sơn hùng vĩ, mặt hướng ra biển Đông xanh thẳm. Dọc theo khắp chiều dài đất nước, có biết bao những thắng cảnh thú vị thu hút khách tham quan: Sapa mờ sương phủ, thủ đô Hà Nội xanh cổ kính, Hạ Long núi đá vôi xếp tầng, Huế mộng mơ, một Đà Nẵng rực rỡ, hội an lặng lẽ suy tư hoài cổ. Những chùm thác Tây Nguyên ngày đêm tung bọt trắng xoá, Đà Lạt thơ mộng với hồ Than Thở và thung lũng Tình Yêu, biển trời Nha Trang xanh thẳm, Tháp Chàm độc đáo, Thành Phố Hồ Chí Minh phồn hoa, sôi động, Cà Mau với rừng U Minh hùng vĩ, hoang sơ trên dải đất phì nhiêu.

    Du lịch Việt Nam đáng để du khách bốn phương chiêm ngưỡng và thưởng ngoạn cảnh đẹp lung linh đặc sắc. Biển, sông, rừng núi đất đai màu mỡ. Cảnh quan thiên nhiên kì thú, đa dạng, phong phú cùng truyền thống hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước hào hùng. Thời gian và con người đã tạo nên vô số những chứng tích văn hoá và lịch sử vô cùng sâu xa và đặc sắc.

    Việt Nam đang là điểm dừng chân yêu thích của nhiều khách du lịch từ khắp thế giới và là điểm đến của thiên niên kỉ mới. Ngoài những di sản tự nhiên, lịch sử, chính con người Việt Nam, người Kinh và 53 dân tộc thiểu số sống khắp mọi miền đất nước, và đời sống sinh hoạt xã hộ cộng đồng đa dạng nhiều màu sắc đã tạo nên nhiều không gian du lịch sinh thái văn hoá lí thú.

    Có thể nói Việt Nam là một đất nước du lịch. Mọi loại hình du lịch đều có mặt nời đây: Việt Nam và những đặc sắc mà cảnh quan, đất nước, con người, văn hóa lịch sử… du lịch thám hiểm, sinh thái, văn hoá… Việt Nam với nhiều đề tài về du lịch luôn phong phú cho những cuốn sách Cẩm Nang Du Lịch Việt Nam của nhiều tác giả dày công biên soạn sẽ giới thiệu đến độc giả những cảnh sắc, văn hóa đặc sắc đó của non nước Việt Nam.

    Việt Nam, đất nước giàu tiềm năng du lịch.

    Ngày nay trong xu thế hội nhập toàn cầu hoá kinh tế, chúng ta đang từng bước hội nhập với khu vực và thế giới trên nhiều lĩnh vực, trong đó du lịch với tư cách là một ngành công nghiệp xanh đóng vai trò hết sức quan trọng. Nó vừa là một ngành kinh tế mũi nhọn, vừa đảm đương chức nang thông tin, tuyên truyền, trong mối quan hệ giao lưu văn hoá. Đáng kể Việt Nam là cửa ngõ thông ra vùng Đông Nam Á. Đất nước Việt Nam là một quốc gia có hàng ngàn năm văn hiến với bao danh lam thắng cảnh, con người, di tích lịch sử, văn hoá rộng khắp đất nước. Việt nam cha ông ta đã để lại trên nước non này biết bao thành quách, đền đài, chùa chiền, miếu mạo…, lớp nọ nối tiếp lớp kia. Cả đất nước là một bảo tàng lịch sử, văn hoá của 54 dân tộc cùng chung lưng đấu cật xây dựng nên đất nước này.

    Để góp phần quảng bá nền văn hoá và tiềm năng du lich Việt Nam, cẩm nang du lịch chia sẻ cuốn sách đọc do Nhà xuất bản Thông tấn cho ra mắt bạn đọc cuốn sách ‘Việt Nam Văn hoá du lịch’ của soạn giả Trần Mạnh Thường. Với non một nghìn trang sách, từ nhiều nguồn tư liệu phong phú, soạn giả gới thiệu với bạn đọc một bức tranh toàn cảnh về nền văn hoá đa dạng và lâu đời của dân tộc Việt Nam từ địa lý, danh am thắng cảnh, di tích lịch sử văn hoá đến lễ hội, phong tục, tập quán… của 64 tỉnh thành trên cả nước. Với nội dung cuốn sách sẽ là một cẩm nang quý cho bạn đọc trong và ngoài nước muốn tìm hiểu về văn hoá và du lịch Việt Nam.

    viettrip.net Kinh Nghiệm Du Lịch, Cẩm Nang Du Lịch

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ngành Du Lịchđạt Doanh Thu ‘khủng’ Hơn 140 Nghìn Tỷ Đồng
  • Công Ty Du Lịch Tiếng Anh Là Gì? Đặc Điểm Của Công Ty Du Lịch
  • Các Công Ty Du Lịch Lữ Hành Là Gì?
  • Kinh Doanh Du Lịch Là Gì? Các Vấn Đề Xoay Quanh Ngành Nghề Du Lịch
  • Chia Sẻ Kinh Nghiệm Du Lịch Đà Nẵng
  • Hệ Thống Chính Trị Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Con Người Đi Du Lịch Từ Khi Nào?
  • Nhà Hàng Ra Đời Khi Nào?
  • Quỹ Khuyến Học Việt Nam Ra Đời Khi Nào, Hoạt Động Nhằm Mục Đích Gì?
  • Những Điều Cần Biết Về Lịch Sử Ngành Khách Sạn Thế Giới Và Việt Nam
  • Nơi Thuê Xe Du Lịch Biên Hòa Đồng Nai Giá Rẻ Nhất Việt Nam, Giá 0Đ, Người Bán Chị Huế , Điện Thoại 0997 767 426
  • Trước khi trả lời cho câu hỏi Hệ thống chính trị Việt Nam ra đời khi nào? Điều cần được làm rõ chính là hệ thống chính trị là gì? Hệ thống chính trị chính là toàn bộ các tổ chức chính trị được lập ra để thực hiện quyền lực chung của xã hội – quyền lực chính trị.

    Một đất nước muốn tồn tại và phát triển chắc chắn phải được sự che chở dưới một danh nghĩa độc lập, vững chắc – nhà nước. Sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là sự tất yếu trong thời điểm những năm 1945. Từ đây, lần lượt các tổ chức chính trị nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Cũng chính giai đoạn này, là lúc mà nhà nước ta cần làm việc một cách có tổ chức, nề nếp. Điều này dẫn đến sự ra đời của hệ thống chính trị Việt Nam. Hệ thống từng bước được hoàn thiện và phát triển. Để đến ngày hôm nay, hệ thống chính trị này vẫn tiếp tục điều hành đất nước Việt Nam với một tên gọi khác – Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

    Hệ thống chính trị Việt Nam ra đời với mục tiêu thống nhất mọi tầng lớp và giai cấp

    Có thể nói hệ thống chính trị Việt Nam TCT nước ta về cơ bản được tổ chức gần giống như hệ thống chính trị nhiều nước. Trước hết tiểu hệ thống thể chế của nó bao gồm Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và một số tổ chức chính trị – xã hội… Các bộ phận này được kết nối với nhau theo những quan hệ, những cơ chế và nguyên tắc vận hành nhất định, trong một môi trường văn hóa chính trị đặc thù.

    Các giai cấp vẫn còn trong mối quan hệ mâu thuẫn gay gắn, chưa một tố chức nào có thể thống nhất và giải quyết được mâu thuẫn này.

    Nhìn lại Việt Nam trong những năm vừa mới thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa, đó chính là một đất nước còn non trẻ, vừa mới qua giai đoạn chiến tranh tàn phá thảm khốc. Một cách cụ thể hơn, Việt Nam đang đứng trước những thử thách gian khổ:

    Tuy trên danh nghĩa đã hình thành nhà nước và trở thành một một quốc gia độc lập nhưng miền Nam lúc bấy giờ vẫn còn đang trong trạng thái chiến tranh diễn ra từng ngày, từng giờ. Việc hoạch định đường lối kháng chiến là hoàn toàn chưa được chú trọng đến.

    Vừa mới thành lập, tất cả mọi lĩnh vực đều còn rất non trẻ, chính vì vậy, việc xây dựng một kế hoạch cụ thể cho sự phát triển của toàn đất nước đang là một trọng trách chưa một tổ chức, cá nhân nào đủ quyền thực hiện.

    Vậy, hệ thống chính trị Việt Nam ra đời khi nào? Đây có phải là điều tất yếu?

    Chắc chắn, hệ thống chính trị Việt Nam ra đời là điều tất yếu, giải quyết những gian nan, thử thách đang đặt ra trước mắt đối với sự tồn tại và phát triển của nước ta lúc bấy giờ.

    Một cuộc họp thường kì hoạch định đường lối chiến lược cho đất nước

    Sách chính trị tài chính – những cái nhìn tổng quát và cụ thể về chính trị Việt Nam.

    Những văn kiện giá trị khuyến khích bạn nên tham khảo

    --- Bài cũ hơn ---

  • Top 25 Web Xem Phim Online Chuẩn Hd Tốt Nhất Việt Nam 2022 List.vn
  • Khung Cảnh Làng Quê Cổ Đẹp Tại Kdl Con Sẻ Tre Nha Trang
  • Hướng Dẫn Viên Bản Địa Cho Khách Khám Phá Khu Chinatown
  • Top 10 Địa Điểm Du Lịch Nổi Tiếng Đẹp Nhất Việt Nam
  • Top 10 Các Website Du Lịch Nổi Tiếng Nhất Việt Nam
  • Chính Sách Phát Triển Du Lịch Nhật Bản Và Những Bài Học Cho Xây Dựng Chính Sách Phát Triển Du Lịch Việt Nam – Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch (Itdr)

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhu Cầu Của Khách Du Lịch Và Những Đặc Trưng Của Nó
  • 【Tokyo】 Top 10 Điểm Tham Quan Có Phong Cảnh Hùng Vĩ Ở Khu Vực Phía Tây Tokyo (Tama – Okutama)
  • Những Địa Điểm Tham Quan Đẹp Ở Kyoto
  • 15 Địa Điểm Check In Miễn Phí Ở Đà Nẵng Không Phải Ai Cũng Biết!
  • 10 Địa Điểm Du Lịch Đà Nẵng Miễn Phí Và Cực Kỳ Thú Vị
  •    Khách du lịch quốc tế đến Nhật Bản đạt kỷ lục 28,7 triệu lượt năm 2022, tăng 19% so với năm trước và đang dần tiến tới mục tiêu của chính phủ Nhật là đón 40 triệu lượt khách du lịch quốc tế đến năm 2022.

    Lượng khách du lịch quốc tế đến Nhật Bản giai đoạn 1964-2016

    Cơ cấu thị trường khách du lịch quốc tế đến Nhật Bản năm 2022

       Khách du lịch đến từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan và Hồng Kông chiếm 70% tổng lượng khách du lịch quốc tế đến Nhật Bản. Số lượng khách du lịch Trung Quốc tăng 15% đạt 7,35 triệu, Hàn Quốc tăng 40% đạt 7,14 triệu lượt[3]. Tuy nhiên, trong quá khứ, lượng khách du lịch từ 2 quốc gia này đột ngột giảm khi mối quan hệ giữa Nhật Bản và 2 nước này bị ảnh hưởng từ các vấn đề chính trị. Vì vậy, để tránh việc phụ thuộc vào 2 thị trường lớn và nhạy cảm với chính trị này, Chính phủ Nhật Bản tập trung vào các thị trường như các quốc gia khác ở Châu Á, Mỹ, Châu Úc, Châu Âu.

    Chiến lược phát triển Du lịch Mới của Nhật Bản nhằm thúc đẩy nền kinh tế Nhật Bản (tháng 3/2016)

       Chiến lược đặt mục tiêu: “Ngành công nghiệp du lịch đẳng cấp thế giới!” Nhật Bản sẵn sàng đón khách du lịch quốc tế trên toàn quốc gia. Chính phủ mong muốn khuyến khích sự giao lưu văn hóa đa quốc gia để Nhật Bản có thể thực sự mở cửa với thế giới, nhanh chóng phát triển dịch vụ mới và các sáng kiến trong lĩnh vực du lịch để từ đó hình thành động lực cho phát triển kinh tế và công nghiệp của các vùng.

       Mục tiêu cụ thể:

       – Lượng khách du lịch quốc tế đến đạt 40 triệu người năm 2022, 60 triệu người năm 2030 (Mục tiêu cũ: 20 triệu năm 2022 và 30 triệu năm 2030)

       – Chi tiêu của khách du lịch quốc tế đến Nhật Bản đạt 8.000 tỷ Yên năm 2022, 15.000 tỷ Yên năm 2030 (Mục tiêu cũ: 4.000 tỷ Yên trong năm đầu tiên có 20 triệu khách QT)

       – Số đêm khách quốc tế nghỉ ngoài 3 khu đô thị chính đạt 70 triệu đêm/2020 và 130 triệu đêm/2030.

       – Lượng khách du lịch quốc tế quay lại Nhật đạt 24 triệu năm 2022 và 36 triệu năm 2030.

       – Chi tiêu của khách du lịch nội địa cho du lịch đạt 21.000 tỷ Yên năm 2022 và 22.000 tỷ Yên năm 2030.

       Để đạt được các mục tiêu đề ra và khắc phục vấn đề hiện tại, chiến lược đưa ra 3 tầm nhìn và 10 vấn đề cần cải cách:

       – Tầm nhìn 1: Tối đa hóa sự hấp dẫn của các tài nguyên du lịch để đưa du lịch thành nền tảng cho sự khôi phục cấp vùng.

       + Thu hút khách du lịch nội địa và quốc tế vào tham quan các điểm di sản công

       + Điều chỉnh sự cân bằng trong chính sách di sản từ “chỉ tập trung vào công tác bảo tồn” sang khuyến khích khách du lịch tìm hiểu nhiều hơn về điểm di sản (sử dụng tài sản văn hóa là cốt lõi cho 200 trung tâm du lịch; hình thành khoảng 1.000 dự án xây dựng hướng dẫn thông tin dễ hiểu cho du khách đa ngôn ngữ).

       + Nâng cấp các vườn quốc hiện tại thành các vườn quốc gia đẳng cấp thế giới (mục tiêu 5 vườn quốc gia của Nhật Bản).

       + Xây dựng các kế hoạch cải tạo cảnh quan cho các khu vực du lịch chính.

       – Tầm nhìn 2: Tạo điều kiện thuận lợi cho sự sáng tạo trong du lịch để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế và đưa du lịch thành một trong những ngành công nghiệp chính.

              + Rà soát các quy định và quy tắc để ngành du lịch đạt hiệu quả cao hơn.

              + Tập trung phát triển các thị trường mới, thời gian lưu trú dài ngày hơn (thị trường Châu Âu, Mỹ, Úc; thị trường khách MICE).

              + Cải tạo và nâng cấp các khu resort nước suối khoáng nóng và các khu thị trấn địa phương thông qua cải cách phương án quản lý (xây dựng các mô hình DMOs đẳng cấp thế giới).

    – Tầm nhìn 3: Đảm bảo tất cả du khách có trải nghiệm thoải mái, thỏa mãn và stress-free.

       + Nâng cấp toàn bộ hệ thống cơ sở hạ tầng cứng và mềm đề khách du lịch có thể hưởng thụ môi trường cơ sở lưu trú tốt nhất trên thế giới.

       + Hoàn thành việc xây dựng “hành lang khôi phục cấp vùng” để khách du lịch có thể di chuyển một cách thoải mái tới tất cả các điểm đến trên nước Nhật (khách du lịch quốc tế được mua Thẻ đi tàu toàn quốc khi tới Nhật, nâng cấp các tuyến tàu cao tốc Shinkansen, xây mới các sân bay nội địa).

       + Hoàn thiện hệ thống “ngày làm việc” và “ngày nghỉ” tạo điều kiện cho người dân Nhật có kỳ nghỉ dài để đi du lịch.

       Để thực hiện các tầm nhìn và giải pháp trên, mỗi tầm nhìn sẽ có 8 đến 10 Dự án chính để có thể triển khai Chiến lược đạt mục tiêu đề ra. Các Dự án chính được thực hiện bởi nhiều dự án nhỏ với thời gian, địa điểm và quy mô dự án cụ thể được đưa ra.

       Ví dụ: với Tầm nhìn 1 – Tối đa hóa sự hấp dẫn của các tài nguyên du lịch để đưa du lịch thành nền tảng cho sự khôi phục cấp vùng, hành động cần làm là Thu hút khách du lịch nội địa và quốc tế vào tham quan các điểm di sản công.

       Dự án cần thực hiện sẽ là: Các điểm di sản nổi bật về giá trị lịch sử và truyền thống của Chính phủ sẽ được mở cửa cho tất cả các đối tượng du khách, như Nhà khách chính phủ ở Kyoto, Nhà khách Chính phủ ở Akasaka.

       Các dự án nhỏ: 1) Mở cửa tự do cả năm vào thăm Nhà khách Chính phủ ở Akasaka, bắt đầu từ 19/4/2016, trừ khi nơi này được sử dụng cho các sự kiện của chính phủ; 2) Mở cửa thử nghiệm từ ngày 28/4 đến 9/5 cho Nhà khách chính phủ ở Kyoto, dựa vào đó, mở cửa quanh năm muộn nhất vào cuối tháng 7/2016; 3) Việc mở cửa tự do cho các điểm của chính phủ khác sẽ được cân nhắc nếu có giá trị khai thác cho du lịch.

       Một số chính sách cụ thể hỗ trợ phát triển du lịch của Chính phủ Nhật Bản thời gian qua

       – Coi du lịch là động lực để phát triển cho các khu vực phụ cận vào nông thôn (không phải là các trung tâm đô thị chính);

       – Năm 2013, thực hiện thỏa thuận “Bầu trời mở”, cho phép tăng chuyến bay tới các sân bay quốc tế;

       – Năm 2014, miễn thị thực cho công dân của Thái Lan và Malaysia. Năm 2022, đơn giản hóa thủ tục xin visa cho công dân Trung Quốc, theo đó, người Trung Quốc với mức thu nhập trên mức quy định có thể có visa 5 năm vào Nhật Bản;

       – Hạ giá trị đồng Yên xuống 30% so với đồng Đô la Mỹ trong giai đoạn 2012-2015

       Bài học kinh nghiệm cho du lịch Việt Nam

       – Xây dựng chiến lược với tầm nhìn, giải pháp, kế hoạch thực hiện nhất quán, đồng bộ để đạt được mục tiêu chung đề ra.

       – Các giải pháp/hành động cụ thể, rõ ràng, với hoạt động cụ thể, thực hiện được, xác định được thời gian.

       – Các chính sách phát triển được thực hiện đồng bộ, sự kết hợp liên ngành thể hiện rõ ràng trong từng chính sách, trong đó đặt phát triển du lịch là trọng tâm.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Đối Thủ Cạnh Tranh Của Du Lịch
  • “Giấy Bảo Hành” Cho Môi Trường Du Lịch
  • Kích Cầu Du Lịch Bằng Âm Nhạc
  • Bạn Có Chắc Phân Biệt Được Khách Sạn, Nhà Nghỉ, Homestay & Resort?
  • Phân Biệt Nhà Nghỉ Du Lịch & Nhà Nghỉ Bình Dân Có Gì Khác Nhau
  • Chính Sách Phát Triển Du Lịch Đô Thị Của Một Số Nước Và Bài Học Cho Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Bước Phát Triển Của Ngành Du Lịch Việt Nam
  • Bộ Văn Hóa Thể Thao Và Du Lịch
  • Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Gắn Với Các Sự Kiện Thể Thao Tại Việt Nam
  • Top 10 Giải Pháp Để Phát Triển Ngành Du Lịch Việt Nam 2022
  • Top 6 Địa Chỉ Cho Thuê Xe Hà Nội Uy Tín, Chất Lượng
  • Chính sách phát triển du lịch đô thị của một số nước và bài học cho Việt Nam

    (Bài tham luận cho Hội thảo Nghiên cứu phát triển sản phẩm du lịch Việt Nam, tháng 8-2018)

    1- Thực trạng và triển vọng phát triển du lịch đô thị

    Kể từ du lịch phát triển trong những năm 1960 thì du lịch ở nhiều thành phố trên thế giới phát triển nhanh nhất, lượng khách du lịch đến các thành phố không ngừng tăng về số lượng và tính chất dẫn đến đẩy nhanh số lượng và chất lượng sản phẩm du lịch cung cấp cho khách tại các thành phố này.Hiệu quả và lợi ích từ kinh tế du lịch mang lại không nhỏ các nơi này.Trong giai đoạn 2007-2015, trên toàn thế giới số lượng thành phố các chuyến đi tăng 82% và đạt được thị phần 22%, đặc biệt là trong cả các ngày lễ, ngày nghỉ của cư dân hay các sự kiện quan trọng như thể thao, văn hóa, văn nghệ hay nhân vật được được “suy tôn”(IPK International, 2022/2016, tr. 8). Trong năm 2022, thì khách du lịch đến các thành phố đạt được 21%Châu Âu, 17% ở Bắc Mỹ, 25% ở châu Á-Thái Bình Dương và 22% ở châu Mỹ Latinh (1).

    Xem xét nguồn khách du lịch các nước trên thế giới cho thấy: Lượng khách đến các đô thị, thành phố cổ kính chủ yếu tham, nghiên cứu thường thức giá trị các di sản, di tích lịch sử, công trình kiến, cũng như giá trị phong tục tập quán, lễ hội… được bảo tồn lưu lại qua nhều thế hệ. Còn khách đến tham quan các thành phố, đô thị mới tập trung tham quan, thưởng thức giá trị dịch vụ cao cấp như cơ sở lưu trú, dịch vụ vui chơi giải trí cao cấp.Do sự hình thành, phát triển, tác động của bộ máy quản lý, đặc điểm xã hội của hai thời kỹ khác nhau dẫn đến tính chất đặc điểm đô thị, thành phố cũng khác nhau cũng khác nhau tạo ra giá trị tài nguyên cũng khác nhau nên sự thu hút khách du lịch, sự kiến tạo, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho du lịch có tính chất khác nhau.

    Đối với đô thị cổ kính với kiến trúc cổthì sự mở rộng không gian khó khăn, lượng cư dân ít có thay đổi thì số lượng khách lựa chọn và các điểm tham quan đã thu hút khách du lịch quốc tế nhiều hơn so với khách du lịch nội địa; cònthành phố hiện đại gắn liền với quá trình đô thị hoá thay đổi kết cấu hạ tầng với không gian mở,cộng thêm sự phát triển các ngành công nghiệp, phát triển khoa học công nghệ đã thu hút một số số lượng cư dân sống ở các thành phố ngày càng tăngvà áp lực công việc, quá trình đô thị hóa; cũng như sự hình thành nên các khu dịch vụ vui chơi giải trí cao cấp…dẫn đến xu hướng cư dân trong khu vực tận dung để nghỉ nghơi ngắn hạn sau thời gian lao động mệt mỏi với cuộc sống ồn ào đô thị, đồng thời cũng kích thíchvà thu hút số lượng khách du lịch nội địa đến thm quan nghỉ ngơi nhiều hơn; phân đoạn ngày càng tăng của hiện tượng du lịch ở các nước có nền kinh tế đang phát triển (2).

    Theo sự tính toán và dự báo của các chuyên gia và Tổ chức du lịch thế giới thì lượng khách quốc tế đến các thành phố hay đi qua các thành phố trung tâm trên toàn thế giới dự kiến ​​sẽ đạt 1,4 triệu vào năm 2022 và 1,8 tỷ năm 2030 (3), (4). Một nghiên cứu tại Châu Âu với hơn 2.600 người dân tại thành phố Copenhagen – Đan Mạch, thành phố Berlin, Munich- Đức, thành phố Amsterdam – Hàn Lan và thành phố Barcelona và Lisbon – Tây Ban nha là khu vực có cả thành phố cổ kính và hiện đại đều đánh giá: Khu vực phố cổ, số lượngkhách du lịch quốc tế đến thành phố ngày càng tăng và còn khách du lịch trong nước đến tham quan các trung tâm công nghiệp mới, hiện đại gắn liền với phát triển khoa học công nghệ; du lịch cũng đã mang lại ý nghĩa cho cuộc sống của họ, cơ sở để góp phần thúc đẩy người dân bảo vệ và phục hồi các phần lịch sử của thành phố và kiến ​​trúc truyền thống (5).

    Trong chính sách 2022, UNWTO đã đưa ra quan điểm thúc đẩy tầm nhìn chung và phương pháp tiếp cận chiến lược để tái xác định các công cụ để thích ứng với các mô hình mới trong du lịch đô thị trong khi đạt được sự gắn kết giữa các hoạt động du lịch, chính sách phát triển đô thị, lợi ích kinh tế và xã hội cho người dân địa phương để thúc đẩy quản trị hiệu quả, quản lý kiến ​​thức và tính chuyên nghiệp trong hoạt động tại các du lịch đô thị.

    2- Khái niệm du lịch đô thị và đô thị du lịch

    Để làm rõ vấn đề trên cần phải phân tích bản chất đô thị, du lịch và mối quan hệ trong nội dung này:

    2.1. Đô thị, phân loại đô thị trên quan điểm phát triển du lịch

    Hiện nay,nhiều chuyên gia đô thị, kinh tế du lịch của các nước trên thế giới đã đưa ra khái niệm đô thị, đô thị du lịch trên góc nhìn và thực trạng của từng nước như:

    Tại Canada:Đô thị được phân chia thành đô thị hiện đại và đô thị cổ, đối với đô thị hiện đạiđược quy định bởi một vùng có trên 400 người trên một cây số vuông và tổng số dân phải trên 1.000 người; nếu có hai đô thị hoặc nhiều hơn trong phạm vi 2 km của nhau, các đô thị này được nhập thành một đô thị duy nhất. Các ranh giới của một đô thị không bị ảnh hưởng bởi ranh giới của các khu tự quản (thành phố) hoặc thậm chí là ranh giới tỉnh bang. Đô thị cổ là khu vực nơi trải qua nhiều triều đại nhà nước quản lý với tàn tích cổ đại, này lại nằn trong hay liền kề với đô thị hiện đại, những khu này không rang buộc bởi yếu tố dân cư và tính hiện đại. Đây là khu vực có nhiều lợi thếtiềm năng thu hút khách du lịch như: Tài nguyên du lịch, khách du lịch, cơ sở dịch vụ nằm trong Vùng (8).

    Tại Trung quốc, đô thị du lịch gồm đô thị du lịch cổ gồm các kiến trúc, các đặc trưng vốn có được hình thành và xây dựng qua nhiều triều đại nhà nước phong kiến trước đời nhà Thanh, không phụ thuộc vào diện tích, quy mô dân số; đô thị du lịch hiện đại là một khu thành thị, thành phố và thị trấn có mật độ dân số hơn 1.500 người trên một cây số vuông. Đối với các khu thành thị có mật độ dân số ít hơn 1.500 người trên một cây số vuông thì chỉ dân số sống trong các đường phố, nơi có dân cư đông đúc, các làng lân cận nhau được tính là dân số thành thị ; đây là khu vực có nhiều điểm tài nguyên du lịch, khu dịch vụ và đang thu hút khách du lịch(9)

    Tại Pháp, một đô thị du lịch là một khu vực bao gồm một vùng phát triển do xây cất như một “đơn vị thành thị”và đặc điểm về tài nguyên về kiến trúc, dịch vụ, số lượng khách đến tham quan đạt trên 1 triệu khách cho một năm (10)

    Tại Thụy Sĩ, đô thị du lịch được cho là đơn vị hành chánh được gọi là thành phố, hoặc là nó có hơn 10 ngàn dân hoặc dưới thời Trung cổ nó được ban cho quyền được gọi là thành phố. Phân loại đô thị cổ và đô thị công nghiệp, nơi thu hút được trên 01 triệu khách du lịch hàng năm (11).

    Tại Nhật Bản, các đô thị được định nghĩa như là các vùng cận kề nhau gồm các khu dân cư đông đúc. Điều kiện cần thiết là đô thị du lịch phải có mật độ dân số trên 4.000 người trên một cây số vuông, với tiềm năng tài nguyên và dịch vụ du lịch đạt tiêu chuẩn. Phân loại đô thị du lịch cổ gắn liền với di tích, thành phố cổ của các triều đại Nhật Hoàng, có các điểm tham quan là cung điện, nhà, di tích cổ… và đô thị du lịch mới, hiện đại được hình thành phát triển với kiến trúc mới với khoa học, công nghệ phát triển, dân số đông, mới và có các dịch vụ du lịch hiện đại với nhiều khu vui chơi giải trí (12).

    Tại Hoa Kỳ, xác định hai loại khu đô thị. Thuật từ urbanized area in tourism dùng để chỉ một khu đô thị có từ 50.000 dân trở lên, hay độ thị công nghiệp với phát triển du lịch. Các khu đô thị dưới 50.000 dân, có tổng mật độ dân số ít nhất là 500 người trên một dặm vuông hay 193 người trên một cây số vuông dân được gọi là urban cluster in tourism, găn liền với các khu vực cổ gắn với tài nguyên du lịch và khách du lịch đến tham quan (13).

    Đối với Việt Nam, theo Nghị định số 42/2009/NĐ-CP, một đơn vị hành chính được công nhận là đô thị thì phải có các tiêu chuẩn cơ bản như sau: Có chức năng đô thị; quy mô dân số toàn đô thị đạt 4 nghìn người trở lên; mật độ dân số phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng loại đô thị và được tính trong phạm vi nội thành, nội thị, riêng đối với thị trấn thì căn cứ theo các khu phố xây dựng tập trung; tỷ lệ lao động phi nông nghiệp (tính trong phạm vi ranh giới nội thành, nội thị, khu vực xây dựng tập trung) phải đạt tối thiểu 65% so với tổng số lao động; đạt được các yêu cầu về hệ thống công trình hạ tầng đô thị (gồm hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật); đạt được các yêu cầu về kiến trúc, cảnh quan đô thị. Còn đô thị du lịch được nếu tại văn bản Luật du lịch 2005,đô thị có đủ các điều kiện sau đây được công nhận là đô thị du lịch: Có tài nguyên du lịch hấp dẫn trong ranh giới đô thị hoặc trong ranh giới đô thị và khu vực liền kề; có cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất – kỹ thuật du lịch đồng bộ, đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch; có cơ cấu lao động phù hợp với yêu cầu phát triển du lịch; ngành du lịch có vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế, đạt tỷ lệ thu nhập từ du lịch trên tổng thu nhập của các ngành dịch vụ theo quy định của Chính phủ. Nếu xem xét khái niệm trên cho thấy: Đô thị du lịch Việt Nam quy định chưa cụ thể về phạm vi, diện tích đô thị có thể phát triển du lịch; chưa xác định về số lượng khách, đặc điểm số lượng và cơ sở vật chất, dịch vụ du lịch đáp ứng nhu cầu khách.

    Trên góc độ chuyên gia xã hội học của một số nước châu Âu đưa ra các đặc trưng đặc trưng cơ bản về du lịch đô thị và so sánh với du lịch nông thôn sau ( ):

    • Về các nhóm giai cấp, tầng lớp xã hội thì ở đô thị đặc trưng chủ yếu là giai cấp công nhân, ngoài ra còn có các tầng lớp giai cấp khác như tư sản, thợ thủ công, viên chức, trí thức, v.v… Còn đối với nông thôn thì đặc trưng chủ yếu ở đây là nông dân, ngoài ra ở từng xã hội còn có các giai cấp, tầng lớp như địa chủ, phú nông, nhóm thợ thủ công nghiệp, buôn bán nhỏ, v.v…Nhóm giai cấp đó đã tạo ra những giá trị về phong tục tập quán, sinh hoạt, kiến trúc…thu hút được khách, người lạ đến tham quan
    • Về lĩnh vực sản xuất chủ yếu ở đô thị có đặc trưng là sản xuất công nghiệp; ngoài ra, còn có các lĩnh vực khác như dịch vụ du lịch, thương nghiệp, sản xuất tinh thần, v.v… Còn đối với nông thôn thì đặc trưng rõ nét nhất là sản xuất nông nghiệp; ngoài ra, còn phải kể đến cấu trúc phi nông nghiệp bao gồm: dịch vụ du lịch, buôn bán, tiểu thủ công nghiệp mà có vai trò rất lớn đối với lĩnh vực sản xuất nông nghiệp.
    • Về lối sống, văn hóa của từng loại cộng đồng, thì đối với nông thôn thường rất đặc trưng với lối sống văn hóa của cộng đồng làng xã mà được phân biệt rất rõ ràng với lối sống thị dân đặc trưng cho khu vực đô thị. Đặc trưng này có rất nhiều khía cạnh để chỉ ra sự khác biệt giữa đô thị và nông thôn: từ hệ thống dịch vụ, sự giao tiếp, đời sống tinh thần, phong tục, tập quán, hệ giá trị, chuẩn mực cho hành vi,… đến khía cạnh dân số, lối sống gia đình, sinh hoạt kinh tế,… ngay cả đến hệ thống đường sá, năng lượng, nhà ở đều nói lên đây là hai cộng đồng có các khía cạnh văn hóa, lối sống tách biệt nhau. Đây là đã tạo ra bản sắc riêng, diện mạo riêng cho hai hệ thống xã hội đô thị và nông thôn, lối sống văn hóa cộng động tạo tiền đề cho tài nguyên du lịch và thu hút khách du lịch.

    Đô thị hay thành phố là một khu vực có mật độ gia tăng các công trình kiến trúc do con người xây dựng so với các khu vực xung quanh nó. Đô thị là một trung tâm dân cư đông đúc, có thể là thành phố, thị xã hay thị trấn.

    2.2. Du lịch đô thị và tiêu chí cơ bản xác định du lịch đô thị

    Dựa trên quan điểm của các chuyên gia kinh tế, nhà quản và chuyên gia xã hội học của các nước cho thấy:

    Du lịch đô thị là loại hình du lịch được hình thành trong các đô thị (cổ hoặc hiện đại), nơi đó đã từng phát triển không gian vềhệ thống cơ sở hạ tầng xã hội và hệ thống tài nguyên du lịch (có thể kiến trúc cổ hoặc hiện đại; có tài nguyên du lịch văn hóa: phong tục tập quán lễ hội được bảo tồn, giá trị đời sống, sinh hoạt cộng đồng…) và được gắn kết với hệ thống cơ sở vật chất, dịch vụ thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch khi đến tham quan.

    Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) đã đưa ra quan điểm Du lịch Đô thị như một loại hoạt động du lịch diễn ra trong không gian đô thị với các thuộc tính vốn có của nó đặc trưng bởi nền kinh tế phi nông nghiệp như quản lý, sản xuất, thương mại và dịch vụ. vận tải. Các điểm đến đô thị / thành phố cung cấp một loạt các trải nghiệm và sản phẩm văn hóa, kiến ​​trúc, công nghệ, xã hội và tự nhiên đồng nhất và đa dạng để giải trí, kinh doanh. Vì vậy, UNWTO kiến nghị cần phải đưa ra giải pháp thúc đẩy tầm nhìn chung và phương pháp tiếp cận chiến lược để tái xác định các công cụ, biện pháp để thích ứng với các mô hình du lịch trong đô thị trong khi đạt được sự gắn kết giữa các hoạt động du lịch, chính sách phát triển đô thị và lợi ích kinh tế và xã hội cho người dân địa phương. quản trị hiệu quả, quản lý kiến ​​thức và tính chuyên nghiệp trong hoạt động ( 6).

    Từ những nội dung trên, một số nước đã đưa ra quan điểm về tiêu chí xác định du lịch đô thị hay đô thị được cho là phát triển du lịch là;

    • Phải là thành phố, thị trấn, nơi đó có kiến trúc mang màu sắc đô thị (có thể là kiến trúc cổ hoặc thành phố hiện đại) với hệ thống các khu phố được gắn kết với hệ thống hạ tầng giao thông, điện, nước…
    • Là khu vực, vùng có các ngành nghề quản lý, sản xuất, thương mại, các dịch vụ gắn liền với trao đổi mua bán, trao đổi…
    • Có số lượng dân cư nhất định với lối sống, sinh hoạt, phong tục tập quán mang đặc trưng của vùng, khu vực
    • Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, dịch vụ du lịch phù hợp với đặc điểm khu đô thị.
    • Thu hút được lượng khách du lịch đến tham quan, lưu trú nhất định.

    3- Một sốđịnh hướng, chính sách phát triển du lịch đô thị của một số nước và bài học cho du lịch Việt Nam.

    3.1. Mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ có định hướng lựa chọn một số thành phố để phát triển du lịchngay từ khi có sự manh nha, xu hướng khách du lịch đến tham quan tăng.

    – Hầu hết ở các nước phát triển như Pháp, Anh, Đan Mạnh…đã lựa chọn thủ đô các nước, nơi gắn kết giữa đô thị cũ và mới, là trung tâm đầu kinh tế, chính trị hiện nay với đầu mối cơ sở hạ tầng giao thông cả nước và quốc tế.Thủ đô ở các nước phát triển thường là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của nhiều giai đoạn lịch sử, nhiều triều đại, nhà nước trước đó nên được đầu tư phát triển so với các khu vực khác trong cùng thời kỳ;vùng, khu vực đó có hệ thống cơ sở hạ tầng hơn các khu vực khác, giá trị tài nguyên du lịch, dịch vụ vượt trội hơn các khu vực khác. Hiện nay, thủ đô mỗi nước đều được ưu tiên đầu tư xây dựng nhiều công trình, cơ sở hạ tầng có chất lượng cao; là khu vực được ưu tiên các dịch vụ như điện nước, hệ thống thông tin…là điều kiện để phát triển du lịch; đối với cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch như: cơ sở lưu trú, vận chuyển, cơ sở dịch vụ vui chơi giải trí chất lượng cao đã được ưu tiên đầu tư .

    – Một số nước khu vực châu Á như Trung Quốc, Malaisia, Thái Lan, Lào, Campuchia…lựa chọn các khu vực, nơi đó là cố đô của các triều đại trước đó để phát triển du lịch. Vì các khu vực này phản ánh lên được quá trình lịch sử phát triển của một nước, một dân tộc thông qua hệ thống kiến trúc hạ tầng, nhà cửa, đền thờ, phong tục, tập quán, lễ hội, lối sống, sinh hoạt cộng đồng…, đặc biệt để lại nhiều di sản, các di tích lịch sử, nhiều phong cảnh… thu hút được nhiều khách du lịch (14).

    – Một số nước ASEAN, Bắc Á và Trung Đông đã lựa chọn các thành phố buôn bán, trung tâm thương mại…để phát triển du lịch đô thị. Vì, các khu vực này thu hút được một số lượng khách du lịch đến tham quan, kết hợp trao đổi mua bán hàng hóa được một số; trong quá trình hình thành phát triển các khu vực này đã được khuyến khích đầu tư phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch trở thành đô thị du lịch đáp ứng nhu cầu khách đến mua bán. Sự sầm uất và hình thành nên nét văn hóa trao đổi mua bán bán hàng hóa tại các khu phố chợ, trung tâm thương mại đã tạo nên tính đặc sắc về tài nguyên du lịch.

    – Một số nước có trình độ khoa học phát triển, hay là các nước đang phát triển mạnh về công nghiệp, kỹ thuật đã lựa chọn các thành phố công nghiệp trở thành các đô thị du lịch. Các khu vực này có kiến trúc hạ tầng hiện đại, được ưu tiên các dịch vụ như điện nước, vệ sinh môi trường đảm bảo đáp ứng nhu cầu, nơi đây cũng được đầu tư dịch vụ vui chơi giải trí, cơ sở vật chất kỹ thuật là điểm nhấn cho khu vực đô thị.

    3.2. Chính sách phát triển du lịch tại các khu vực đô thị, thành phố.

    – Các khu vực đô thị phát triển du lịch đều có quy hoạch tổng thể và cụ thể gắn liền với định hướng phát triển du lịch .

    Theo các chuyên gia các nước, do tích chất đặc điểm các thành phố, cố đô, thị trấn có sự khác nhau: Đối với đô thị cổ thì đặc điểm về hệ thống đường xá, nhà cửa, công trình công cộng, trung tâm thương mại…được hình thành lâu đời, trải qua nhiều giai đoạn lịch sử nên có không gian đều hẹp, khó điều chỉnh và được gắn kết với nhau, gắn kết với cuộc sống, phong tục tập quán, kiến trúc và nghệ thuật cư dân trong từng khu vực, từng dân tộc nên khó xây dựng mới, khó điều chỉnh và lồng ghép các cơ sở dịch vụ và hạ tầng cho du lịch. Do tính chất trên nếu phát triển thêm về hạ tầng, các công trình cộng cộng dễ dẫn đến phá vỡ kiến trúc cũ đã hình thành nên sản phẩm du lịch. Đối với các thành phố mới hiện đại có đặc điểm bắt đầu xây dựng, có định hướng phát triển từ đầu, có không gian kiến trúc rộng.Vì vậy, cần xây dựng quy hoạch từ đầu là cơ sở định hướng cho phát triển sản phâm du lịch, bảo tồn giá trị tài nguyên cho du lịch.

    – Ưu tiên bảo tồn giá trị di sản, di tích cho các đô thị cổ và chú trọng công tác bảo vệ tài nguyên môi trường cho các đô thị mới.

    Do kiến trúc các đô thị cũ đã được hình thành và định hình trải qua nhiều năm, nhiều triều đại khác nhau không gian đô thị cũ chất hẹp; do tác động điều kiện tự nhiên, con người và yếu tố thời gian nên một số tài nguyên dễ bị mất đi hư hỏng, đặc biệt tài nguyên nằm dưới đất, nước và tài nguyên dẽ bị thất lạc như các vật cổ; do nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội và nhu cầu cuộc sống cơ dân nên không gian dễ bị phá vở. Vì vậy, cần thiết xây dựng các bản quy hoạch nhằm xác định rõ khu vực cần được ưu tiên; cần sớm đưa các kế hoạch về thời gian, tài chính, nguồn nhân lực cho việc tìm kiếm, khảo cổ để lưu giữ hiện vật và bảo tồn giá trị tài nguyên.

    Đối với các thành phố đô thị mới, hiện đại với ưu thế về diện tích, không gian mở nên việc định hình các dịch vụ, cơ sở hạ tầngdu lịch đễ dang hơn, đặc biệt là khu vui chơi giải trí, không viên cây xanh cần được đưa vào với quy mô diện tích lớn được định hình trong quy hoạch để đảm bảo các dịch vụ du lịch hài hòa trong không gian thành phố hiện đại. Thường các thành phố mới tốc độ phát triển đô thị nhanh do nhu cầu dân cư và phát triển kinh tế nếu không có quy hoạch chi tiết dễ dẫn đến phá vỡ cảnh quan.

    -Phát triển hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch và dịch vụ du lịch phải hài hòa về quy mô, số lượng, kiến trúc, mỹ thuật đối với các đô thị, thành phố cổ

    Trên góc nhìn của các chuyên gia các nước: Cái giá trị thành phố, đô thị cổ đối với xã hội hiện đại là “không được thêm bới”. Do tính chất đặc điểm hình thành thành phố cổ luôn gắn liền với kiến trúc thượng tầng của mỗi chế độ trong từng giai đoạn nay, mỗi giai đoạn phát triển lịch sử, xã hội đều để lại hay là phản ánh lên giá trị văn hóa, nghệ thuật, nến văn hóa, phong tục tập quán, tốn giáo tín ngưỡng xã hội lúc đó, nay có thể trở thành tài nguyên được khách du lịch lựa chọn để tham quan nghiên cứu. Do thời gian ra đời các tài nguyên đó khác nhau lại được thiết kế, xây dựng trong giai đoạn với các quan điểm, tầm nhìn và ảnh hưởng, tác động bởi quản lý xã hội, chi phối tín ngưỡng, tôn giáo, dân tộc khác nhau nên có các hiện vật cũng rất khác nhau. Bên cạnh đó, động cơ mục đích và nhu cầu của khách du lịch khi đến các khu vực đó là để tham quan, nghiên cứu, tìm kiếm giá trị nguyên sơ, giá trị cổ kính. Vì vậy, phát triển xã hội nói chung và các dịch vụ đáp ứng nhu cầu của khách du lịch phải được ẩn “mình” và hài hòa trong giá trị tài nguyên sẵn có.

    – Phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật và dịch vụ ở các thành phố mới, hiện đại cần phải có quy mô, hiện đại và đạt chất lượng cao

    Theo các các điểm các chuyên gia thì các thành phố mới phát triển sau thường năm ngoài hoặc liền kề với các đô thị cổ có điều kiện không gian, chưa bị áp lực về cơ sở hạ tầng xã hội, ngành nghề và kỹ thuật nên cơ hội mở cho cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan đầu tư và các doanh nghiệp du lịch tính toán xây dựng phát triển các dịch vụ, cơ sở kinh doanh có chất lượng cao trước đòi hỏi về nhu cầu của khách du lịch có mức chi tiêu cao. Xây dựng phát triển quy mô về hệ thống vật chất kỹ thuật du lịch phải tuân thủ theo quy hoạch đô thị gắn liền với phát triển du lịch đã được phê duyệt về loại hình, quy mô và chất lượng. Việc lựa chọn các nhà đầu tư tại các đô thị mới cần được tính toán đến năng lực các nhà đầu tư cả về tài chính và chuyên môn.

    Chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho tiếp cận điểm đếntài nguyên trong không gian đô thị

    – Chính sách xã hội hóa du lịchtài nguyên du lịch trong các đô thị, thành phố cổ

    Do tính chất hình thành các đô thị cổ trải qua nhiều thời gian, nhiều chế độ xã hội khác nhau, sự ảnh hưởng, tác động của quan điểm, cách nhìn của cộng đồng và cơ quan quản lý cũng khác nhau nên dẫn đến tài nguyên không thuộc sở hữu nhất định của cơ quan quản lý nhất định mà có thể thuộc sở hữu của rất nhiều đối tượng khác nhau, trong đó tập trung sở hữu và quản lýcộng đồng dân cơ chiếm tỷ lệ không nhỏ. Để tạo ra sự đa dạng tài nguyên cổ và để phản ánh lên giá trị tài nguyên trong từng thời kỳ cần có ự tập hợp tính đang dạng tì nguyên thông qua công tác xã hội hóa và cộng tác của cộng đồng.Vì vậy, cần có chính sách xã hội hóa của cơ quan quản lý nhà nước để động viên cộng đồng, cơ quan đoàn thể, tổ chức xã hội tham gia. Các nước đã đưa ra nhiều chính sách xã hội hóa như: Phối hợp nghiên cứu, khảo sát và đầu tư tài chính, nguồn lực cho việc khôi phục bảo tồn tài nguyên thuộc sở hữu của cộng đồng; chính sách phối hợp khai thác và cùng hưởng lợi ích chung; chính sách quản bá, giới thiệu giá trị tài nguyên; chính sách mua bán chuyển sở hữu từ nhân sang sở hữu cộng đồng, nhà nước quản lý…

    – Chính sách hợp tác nghiên cứu, tìm kiếm đối với tài nguyên tại các khu phố cổ và đầu tư phát triển tài nguyên tại các khu phố, đô thị mới

    Chuyên gia các nước khẳng định: Giá trị tài nguyên ở các đô thị cổ trải qua nhiều giai đoạn lịch sở, mỗi giai đoạn đều ứng với nền văn minh khác nhau nên một chuyên gia hoặc các chuyên gia mỗi nước đều không thể hiểu biết hết giá trị tài nguyên ở các khu đô thị cổ nên cần có sự hợp tác chuyên gia khoa học, hợp tác của các nước để cùng nghiên cứu, tìm kiếm và khai thác mới dưa ra hết thông tin giá trị tài nguyên. Đối với thành phố hiện đại, thành phố mới, các tài nguyên và cơ sở hạ tầng mới bắt đầu nên nhu cầu đầu tư rất lớn, đặc biệt là tài nguyên, cơ sở hạ tầng kỹ thuật du lịch có quy mô lớn, trang thiết bị hiện đại cần có nhu cầu đầu tư lớn, vốn nhiều nên cần có sự hợp tác của các bên có quan tâm.

    Phát triển du lịch đô thị không phải là vấn đề mới đối với nhiều nước trên thế giới vì họ xem đô thị và các yếu tố tạo nên đô thị là tài nguyên du lịch trên góc độ kinh tế du lịch, một số nước đã xem du lịch đô thị là loại hình thu hút khách du lịch quan trong và mang lại hiệu quả cao trong phát triển bền vững kinh tế, xã hội và môi trường. Trong thực tế của một chuyến đi du lịch, khách bao giờ cũng trải nghiệm ít nhất một lần thăm quan du lịch, đi qua hoặc được biết đến thành phố nào đó khi đến một quốc gia và lãnh thổ. Thành phố hay đô thị phát triển phụ thuộc vào lịch sử từng quốc gia, trong sự phát triển đó đã tạo nên các loại tài nguyên du lịch ở các dạng khác nhau mà chỉ có các chuyên gia du lịch mới nhận biết. Còn việc khai thác tài nguyên đó cho phát triển du lịch đô thị phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố trong đó cơ quan quản lý nhà nước, các ngành, cộng đồng dân cư của từng quốc gia. Nếu coi đó là tài nguyên du lịch thì hãy chung tay cùng với ngành du lịch khai thác tài nguyên đó cho du lịch phát triển trong đô thị, thành phố. Bên cạnh đó, du lịch là ngành tham mưu cần phải có chiến lược, quy hoạch và kế hoạch khai thác và bảo tồn để định hướng đưa đô thị, thành phố trở thành một trong những điểm đến của khách du lịch.

    1 – Report of IPK International, 2022

    2 – The Ashworth, 1989; Jansen-Verbeke, 1986; Maitland và Ritchie, 2009; Selby, 2004

    3 – The report of UNWTO, 2022

    4 – TheBrooks, 2022; Terzibasoglu, 2022

    5 – Koens và Postma-2017

    6 – The report of UNWTO, 2022

    7 – Australian Bureau of Statistics.

    8 – Canada Statist-2013

    9 – Scenario Analysis on Urbanization and Rural-Urban Migrantion in China -2016

    10 – Nomenclatures D’efinitions-M’thodes-Aire Unbaine-2017

    11 – Polish official population ps-2016

    12 – Japan statistics-2016

    13 – USA statistics-2015

    14 – UrbanTourisminDevelopingCountriescases ofMalaisia, Laos, China, Gemany, Austalia…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trăn Trở Những Đô Thị Du Lịch
  • Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Đô Thị Ở Việt Nam
  • Những Điều Kiện Để Phát Triển Du Lịch
  • Các Điều Kiện Cơ Bản Để Phát Triển Du Lịch
  • Các Địa Điểm Vui Chơi Tham Quan Du Lịch Nên Đi Ở Vũng Tàu
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100