Top 13 # Đóng Góp Của Ngành Du Lịch Vào Gdp Việt Nam / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Samthienha.com

Đóng Góp Của Du Lịch Vào Gdp / 2023

Thực tế cho thấy, ngày nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đều xác định du lịch là một trong những ngành kinh tế quan trọng, đóng góp đáng kể và hiệu quả vào sự nghiệp phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa,… của đất nước.

Theo công bố mới đây tại Hội nghị Bộ trưởng Du lịch G20 vừa diễn ra ngày 16 tháng 5 năm 2012 tại Mexico, ngành du lịch chiếm 9% thu nhập GDP thế giới. Du lịch là một trong những ngành kinh tế có tốc độ phát triển nhanh nhất. Năm 2011, mặc dù trong bối cảnh nền kinh tế thế giới tăng trưởng không lấy gì làm tốt đẹp và ổn định, ngành du lịch toàn thế giới vẫn tăng 4,6%, đón được 982 triệu lượt khách và thu nhập du lịch tăng 3,8%. Dự báo du lịch thế giới sẽ tiếp tục tăng trưởng một cách bền vững trong những năm tới, đạt 1 tỷ lượt khách trong năm 2012 và 1,8 tỷ lượt năm 2030.

Bên cạnh những chỉ số đóng góp ấn tượng trên, du lịch cũng được đánh giá là ngành quan trọng tạo nhiều việc làm cho xã hội, chiếm 8% lao động toàn cầu. Cứ mỗi một việc làm trong ngành du lịch ước tính tạo ra 2 việc làm cho các ngành khác. Ngành du lịch cũng sử dụng lao động nhiều vượt trội so với ngành công nghiệp khác, gấp 6 lần ngành sản xuất ô tô, gấp 4 lần ngành khai khoáng, và gấp 3 lần ngành tài chính. Du lịch cũng đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy mậu dịch quốc tế. Năm 2011, xuất khẩu thông qua du lịch quốc tế bao gồm cả vận chuyển hành khách đạt 1,2 nghìn tỷ USD, chiếm 30% xuất khẩu toàn thế giới.

Tổng giá trị đóng góp du lịch vào GDP của quốc gia gồm:

Đóng góp trực tiếp (1) + Đóng góp gián tiếp (2) + Đóng góp phát sinh (3).

(1). Đóng góp trực tiếp: Tổng chi tiêu (trên phạm vi quốc gia) của khách du lịch quốc tế, khách du lịch nội địa (cả mục đích kinh doanh và nghỉ dưỡng), chi tiêu của Chính phủ đầu tư cho các điểm tham quan như công trình văn hóa (bảo tàng) hoặc các khu vui chơi giải trí (công viên quốc gia); thu nhập của các doanh nghiệp lữ hành, khách sạn, cơ sở lưu trú, vận chuyển (đường bộ, đường không, đường thủy,..), cầu cảng, sân bay, dịch vụ vui chơi giải trí, các điểm tham quan du lịch, các cửa hàng bán lẻ, các khu dịch vụ văn hóa, thể thao, giải trí. Trừ phần chi phí mà các cơ sở cung cấp dịch vụ này mua các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ để phục vụ cho khách du lịch.

(2). Đóng góp gián tiếp:

+ Chi tiêu đầu tư vật chất cho du lịch: Ví dụ như đầu tư mua máy bay mới, xây dựng khách sạn mới;

+ Chi tiêu công của chính phủ: ví dụ như đầu tư kinh phí xúc tiến, quảng bá, hàng không, chi phí cho công tác quản lý nhà nước chung, chi phí cho phục vụ an toàn an ninh, vệ sinh môi trường…

+ Chi phí do các đơn vị, cơ sở cung cấp dịch vụ mua sắm trong nước đối với hàng hóa, dịch vụ để phục vụ khách du lịch. Ví dụ: chi phí mua sắm thực phẩm, dịch vụ giặt là trong khách sạn, chi phí mua xăng dầu, dịch vụ cho hàng không, dịch vụ tin học, kết nối mạng trong các hãng lữ hành…

(3). Đóng góp phát sinh: Đây là khoản chi tiêu cá nhân của tổng đội ngũ, lực lượng lao động tham gia cả trực tiếp và gián tiếp vào ngành du lịch trên toàn quốc, gồm cả các cấp quản lý nhà nước và cơ sở cung cấp dịch vụ, hãng lữ hành, khách sạn…

Ví dụ: Chi tiêu cho ăn uống, tham gia hoạt động vui chơi, giải trí, mua sắm quần áo, vật dụng cá nhân, nhà ở…

Với cách tính trên, theo dự báo của Hội đồng Du lịch và Lữ hành Thế giới, năm 2012, giá trị đóng góp trực tiếp vào GDP của ngành du lịch Việt Nam sẽ tăng 6,6% so với năm 2011 và sẽ tăng bình quân 6,1% hàng năm tính đến năm 2022; tổng giá trị đóng góp của toàn ngành (trực tiếp, gián tiếp và phát sinh) vào GDP tăng 5,3% năm 2012 và sẽ tăng bình quân 6,0% tới năm 2022. Về tạo việc làm, năm 2012, tổng lao động trong ngành du lịch Việt Nam tăng 1,4% tương đương 4.355.000 gồm cả lao động trực tiếp và gián tiếp và sẽ tăng trung bình 1,1% hàng năm và sẽ đạt 4.874.000 vào năm 2022. Về xuất khẩu du lịch tại chỗ trong năm 2012, tăng 5% và bình quân tăng 6% hàng năm, tới năm 2022 đạt 4,3% tổng kim ngạch xuất khẩu quốc gia. Về đầu tư du lịch trong năm 2012 sẽ tăng 0,5%, trong vòng 10 năm tới con số này sẽ đạt 7,7% trong tổng đầu tư toàn quốc.

Với những chỉ số dự báo ấn tượng và khả quan trên, có thể thấy ngành du lịch Việt Nam đang đứng trước một tương lai đầy hứa hẹn. Đó là dấu hiệu đáng mừng, tuy nhiên cũng còn phải đương đầu với không ít thách thức và khó khăn phía trước, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa và khu vực hóa ngày càng diễn ra mạnh mẽ. Mức độ cạnh tranh ngày càng khốc liệt, phức tạp hơn và không chỉ giới hạn ở phạm vi cấp quốc gia mà còn lan tỏa trên toàn khu vực. Để có thể phát triển du lịch thực sự là ngành kinh tế mũi nhọn, có sức hấp dẫn và cạnh tranh cao, bên cạnh nỗ lực của riêng bản thân ngành du lịch, rất cần có sự quan tâm đầu tư, hỗ trợ nhiều hơn nữa từ tất cả các cấp, các ngành. Trong đó cần phải có đột phá ngay từ khâu nhận thức về du lịch, mọi quyết định phát triển du lịch cần phải nâng lên thành quyết tâm và ý chí chính trị cấp quốc gia. Du lịch Việt Nam đã bước ra khỏi giai đoạn phát triển ban đầu và đang tiến vào giai đoạn chuyển tiếp trước khi bứt phá. Toàn ngành du lịch, trực tiếp đối với các cấp quản lý nhà nước về du lịch, từ trung ương tới địa phương, cần phải chủ động nghiên cứu, bám sát diễn biến của thị trường, nhạy bén hơn nữa với những biến động của tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ở trong nước và quốc tế. Nghiên cứu đề xuất áp dụng các công nghệ hiện đại vào công tác quảng bá, xúc tiến du lịch, đặc biệt về tài khoản vệ tinh du lịch, qua đó sẽ giúp công tác dự báo xu hướng thị trường và đánh giá chính xác hơn về hiệu quả và vai trò đóng góp của ngành du lịch trong nền kinh tế quốc dân. Đồng thời, đề xuất các chính sách, văn bản quy phạm pháp luật, các kế hoạch, quy hoạch du lịch phù hợp và khả thi, mang lại lợi ích thiết thực cho doanh nghiệp. Với những định hướng cơ bản trên, nếu vận dụng và thực thi tốt, chắc chắn sẽ tạo cơ sở vững chắc để thúc đẩy ngành du lịch phát triển theo hướng chất lượng, bền vững, đạt mục tiêu đề ra.

Phạm Quang HưngNguyên Vụ trưởng Vụ HTQT – TCDL

Các bài viết khác

Ngành Du Lịch Đến Năm 2022 Đóng Góp 8% Gdp / 2023

TIN ĐỌC NHIỀU

TIN MỚI NHẬN

(Chinhphu.vn) – Khẳng định vị trí là ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước, ngành Du lịch dự kiến đến năm 2020 đóng góp 8% GDP, cao hơn 2 lần mức 4% hiện nay.

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân tin tưởng ngành du lịch Việt Nam sẽ ngày càng phát triển và sớm khẳng định vị trí là ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước – Ảnh: Chinhphu.vn

Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày thành lập ngành Du lịch Việt Nam (9/7/1960 – 9/7/2010) đã diễn ra trọng thể tại Hà Nội sáng nay (6/7). Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân, Trưởng Ban chỉ đạo Nhà nước về du lịch đã tham dự.

Trong 6 tháng đầu năm 2010, mặc dù gặp nhiều khó khăn do khủng hoảng kinh tế và tài chính toàn cầu, ngành Du lịch Việt Nam đã đón được 2,5 triệu lượt khách quốc tế, 17 triệu lượt khách nội địa, thu nhập du lịch đạt khoảng 45 nghìn tỷ đồng.

Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân đánh giá cao những đóng góp của đội ngũ cán bộ, công nhân viên chức ngành Du lịch đã góp phần đưa du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng của đất nước.

Phó Thủ tướng cho rằng, giai đoạn 2011-2020, ngành Du lịch Việt Nam sẽ còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức và sự cạnh tranh ngày càng gay gắt. Để Du lịch Việt Nam phát triển và thật sự trở thành ngành kinh tế quan trọng của đất nước, cần khẩn trương xây dựng và trình cấp có thẩm quyền ban hành chiến lược phát triển Du lịch Việt Nam giai đoạn 2011-2020 tầm nhìn 2030 để triển khai thực hiện.

Trên cơ sở đó, xây dựng các quy hoạch, kế hoạch, đề án phát triển du lịch cho giai đoạn tới phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ mà chiến lược đã đặt ra, cần đặc biệt chú ý quy hoạch phát triển du lịch ở những nơi có tiềm năng phát triển du lịch biển đảo.

Công tác xúc tiến quảng bá du lịch cần được đẩy mạnh, nhất là ở nước ngoài dưới nhiều hình thức, biện pháp linh hoạt trên cơ sở huy động các nguồn lưc từ các thành phần kinh tế. Công tác đào tạo nguồn nhân lực du lịch đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập quốc tế.

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân bày tỏ tin tưởng với đà phát triển và những thành tựu đã đạt được trong 50 năm qua, với chính sách ưu tiên phát triển du lịch của Chính phủ, với quyết tâm của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, ngành Du lịch Việt Nam sẽ ngày càng phát triển và sớm khẳng định vị trí là ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước.

Thay mặt toàn ngành Du lịch, Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Nguyễn Văn Tuấn bày tỏ biết ơn sự quan tâm của lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Trong chặng đường 50 năm xây dựng và phát triển, ngành Du lịch đã nỗ lực vượt qua khó khăn đạt được những thành tựu đáng ghi nhận và ngày càng khẳng định vai trò của mình trong sự phát triển kinh tế của đất nước.

Từ những ngày đầu mới thành lập, ngành Du lịch mới chỉ dừng lại ở việc đón tiếp và phục vụ cho các đoàn chuyên gia nước ngoài. Đến nay, du lịch đã trở thành ngành kinh tế quan trọng của đất nước, dự kiến đến năm 2020 chiếm 8% GDP.

Nếu như năm 1990, Du lịch Việt Nam mới đóng được 250 nghìn khách quốc tế thì đến nay đã đón được 4 triệu lượt khách quốc tế, đứng thứ 5 trong khu vực. Du lịch nội địa phát triển nhanh chóng, năm 1990 mới đón được hơn 1 triệu khách thì đến năm 2009, đã đón trên 25 triệu lượt, mở ra một hướng phát triển quan trọng cho Du lịch Việt Nam. Nguồn thu nhập từ du lịch đạt 70 nghìn tỷ đồng, đóng góp trên 4% GDP của quốc gia.

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân trao huân chương Độc Lập hạng Nhì cho Nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Việt Nam Nguyễn Thị Thắng – Ảnh: Chinhphu.vn

Nhân dịp này, thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã trao huân chương Độc Lập hạng Nhì cho bà Nguyễn Thị Thắng, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục du lịch Việt Nam.

Từ Lương

Đóng Góp Khoảng 10% Vào Gdp, Ngành Du Lịch Cần Được Tập Trung Phục Hồi Phát Triển / 2023

Ngày 1-9, tại Hà Nội, Đoàn công tác của Quốc hội do Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển làm Trưởng đoàn đã làm việc với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về kết quả thực hiện nhiệm vụ chủ yếu, tình hình thực hiện dự toán ngân sách nhà nước (NSNN) hàng năm và Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016 – 2020, dự kiến kế hoạch ngành và Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021 – 2025.

Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển phát biểu tại buổi làm việc

Tại cuộc họp, lãnh đạo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho biết, triển khai các Nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ, giai đoạn 2016 – 2020, ngành du lịch cơ bản đã trở thành ngành mũi nhọn với số lượng khách quốc tế tăng nhanh từ 10 triệu lượt năm 2016 lên 18 triệu lượt năm 2019. Những tháng đầu năm 2020 do dịch bệnh Covid -19 nên lượng khách đến chỉ đạt 3,8 triệu lượt người, giảm 61,6% so với cùng kỳ năm 2019. Công tác bảo tồn, phát huy di sản văn hóa đã góp phần thúc đẩy phát triển du lịch, nhất là du lịch tín ngưỡng, văn hóa. Trong lĩnh vực thể dục, thể thao cũng đã có nhiều chuyển biến, đạt thành tích ở một số môn thể thao Olympic, duy trì vị trí tốp 3 quốc gia dẫn đầu tại các kỳ SEA Games…

Đề cập đến kế hoạch công tác thời gian tới, Lãnh đạo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch kiến nghị cần sớm sửa đổi, ban hành Nghị định thay thế Nghị định số 16/2015/NĐ-CP của Chính phủ về quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập; tăng cường đầu tư kinh phí để thực hiện chống xuống cấp cơ sở vật chất, thay thế trang thiết bị phục vụ các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, tập luyện, thi đấu cho vận động viên, huấn luyện viên các đội tuyển; sớm có cơ chế, chính sách đặc thù cho các văn nghệ sĩ hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật…

Đóng góp khoảng 10% vào GDP, ngành du lịch cần được tập trung phục hồi phát triển

Đánh giá cao những kết quả ngành văn hóa, thể thao và du lịch đã đạt được, trong đó, chỉ riêng ngành du lịch đã đóng góp khoảng 10% vào GDP, song Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển lưu ý về một số tồn tại của ngành và nhấn mạnh quan điểm coi con người là trung tâm trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

“Không có văn hóa sẽ không có sự ổn định, không thể phát triển kinh tế. Vì vậy, ngành văn hóa, thể thao và du lịch cần đặc biệt coi trọng đầu tư cho văn hóa, văn hóa phải đi trước và cần kết hợp văn hóa với phát triển kinh tế”, Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển nói.

ANH PHƯƠNG

Vào Aec, Ngành Du Lịch Việt Nam Sẽ Ra Sao? / 2023

Với dân số hơn 500 triệu dân, trong những năm qua, các thị trường nguồn du lịch thuộc khu vực ASEAN đóng góp khoảng 20% tổng số khách du lịch quốc tế đến 

Tuy nhiên, đây là quá trình vừa hợp tác, vừa cạnh tranh, theo đó lợi ích đối với mỗi nước phụ thuộc vào nỗ lực và khả năng của từng nước. Mặc dù vậy, lợi ích của nước này không làm ảnh hưởng đến lợi ích của các nước khác mà ngược lại tạo cơ hội cho các nước khác.

Vịnh Hạ Long – một trong những điểm đến lý tưởng cho du khách.

Mặt khác, quá trình hợp tác để hình thành AEC đã góp phần nâng cao sự hiện diện và uy tín của du lịch Việt Nam trong khu vực. Đồng thời, Du lịch Việt Nam được tiếp cận nhiều thông tin và bài học kinh nghiệm quý báu về phát triển du lịch và nhận được sự hỗ trợ tích cực của các nước có ngành Du lịch phát triển hơn như Thái Lan, Malaysia, Singapore… AEC đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện yêu cầu “gắn thị trường du lịch Việt Nam với thị trường du lịch khu vực và thế giới” như Chiến lược phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã đề ra.

Theo ông Cường, hội nhập AEC kỳ vọng sẽ mang lại những tác động tích cực đối với Du lịch Việt Nam đồng thời tạo ra một môi trường cạnh tranh khốc liệt hơn trong lĩnh vực du lịch, trong đó việc phát huy những tác động tích cực của quá trình hội nhập sẽ quyết định hiệu quả của quá trình hội nhập du lịch trong AEC.

Theo nhận định của ông Cường, do yêu cầu của quá trình hội nhập du lịch trong AEC mà hệ thống các văn bản 

Nhìn chung, hội nhập về sản phẩm du lịch trong ASEAN đã góp phần đa dạng hóa các sản phẩm du lịch Việt Nam hiện nay và tranh thủ được các nguồn khách nối tour trong khu vực để qua đó tăng thêm sức hấp dẫn của du lịch khu vực ASEAN nói chung và khả năng kết nối khách giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và ngược lại.

Mặt khác, chất lượng sản phẩm, dịch vụ du lịch của Việt Nam cũng đã tăng lên rõ rệt, đáp ứng được yêu cầu của khách du lịch trong và ngoài khu vực ASEAN về cơ sở vật chất kỹ thuật dịch vụ lưu trú du lịch, chất lượng dịch vụ, chất lượng và sự đa dạng của ẩm thực trong sản phẩm du lịch, đặc biệt là đối với phân đoạn thị trường chất lượng cao, tập trung ở các trung tâm du lịch lớn trong nước.

Ông Cường cũng cho biết, Việt Nam đã tranh thủ được khá tốt hiệu quả xúc tiến quảng bá du lịch trong khu vực để thu hút khách du lịch đến Việt Nam do tham gia đầy đủ các hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch chung trong ASEAN. Hình ảnh và vị thế của Du lịch Việt Nam trong khu vực ASEAN được nâng lên do sự chủ động tổ chức và khởi xướng các sự kiện, hoạt động xúc tiến du lịch liên kết với các nước ASEAN. Thương hiệu quốc gia từng bước được cải thiện do các hoạt động tích cực của ngành Du lịch và các hoạt động xúc tiến quảng bá.

Khi vào AEC, tiếp tục triển khai “thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau trong ASEAN về nghề du lịch” (MRA-TP) là cơ hội rất tốt để Du lịch Việt Nam có động lực nâng cao chất lượng nhân lực du lịch trong nước đủ điều kiện làm việc hiệu quả tại các nước khác trong khu vực đồng thời cũng góp phần giải quyết vấn đề thiếu hụt lao động trong bối cảnh phát triển nhanh của du lịch trong nước, tranh thủ được nguồn lao động chất lượng cao trong khu vực.

Bên cạnh việc các 

Đối với các doanh nghiệp du lịch, các doanh nghiệp lữ hành ngày càng lớn mạnh về số lượng, đa dạng về loại hình, cải thiện chất lượng, phù hợp với trình độ phát triển và nhu cầu trong khu vực ASEAN, một số doanh nghiệp lớn đã từng bước khẳng định được thương hiệu trong khu vực trên cơ sở sự đa dạng của sản phẩm và đảm bảo về chất lượng. Các cơ sở lưu trú du lịch (CSLTDL) được đầu tư phát triển nhanh về số lượng, đa dạng về loại hình dịch vụ, chất lượng được nâng lên tầm khu vực ở nhiều phân khúc đã góp phần tạo nên sức hấp dẫn chung của sản phẩm du lịch ASEAN và Việt Nam nói riêng. Năng lực cạnh tranh trong khu vực của các doanh nghiệp du lịch Việt Nam cũng được nâng lên trên cơ sở sự liên kết phát triển sản phẩm du lịch theo mô hình Lữ hành – Hàng không – Khách sạn.

Các loại hình doanh nghiệp khác tham gia vào chuỗi cung ứng sản phẩm, dịch vụ du lịch như vận chuyển (hàng không, đường bộ, đường biển, đường thủy), nhà hàng cung cấp dịch vụ ăn uống, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vui chơi giải trí… ngày một gia tăng, cơ bản đáp ứng được nhu cầu kết nối giữa Việt Nam với các nước trong khu vực ASEAN cũng như góp phần đảm bảo năng lực cung ứng dịch vụ du lịch và gia tăng tính hấp dẫn, đa dạng của sản phẩm, dịch vụ du lịch khu vực ASEAN nói chung và Việt Nam nói riêng.