Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam

--- Bài mới hơn ---

  • Pulau Bidong Hải Đảo Bị Lãng Quên
  • ‘trào Nước Mắt Khi Thấy Người Việt Tỵ Nạn Trở Về Bidong’
  • Du Lịch Bụi Hay Du Lịch Theo Tour?
  • 7 Điều Cần Biết Trước Khi Đi Du Lịch Bụi Malaysia
  • Du Lịch Malaysia Có Gì Hấp Dẫn ?
  • THÔNG BÁO

    ĐÌNH CHỈ

    các chuyến Tảo mộ Di Tích THUYỀN NHÂN năm 2022

    Do tình hình dịch bệnh Corona Vũ Hán trên thế giới Văn Khố Thuyền Nhân lấy làm tiếc phải đình chỉ tất cả các chuyến Tảo mộ thuyền nhân trong năm 2022 và sẽ tổ chức cho năm 2022.

    Các chuyến năm 2022 dự trù sẽ bắt đầu vào mùa Easter và tháng 7 năm 2022 nếu tình hình dịch bệnh hoàn toàn lắng dịu trong năm 2022. Mọi chi tiết sẽ được cập nhật sau tại trang mạng này.

    Trân trọng cáo lỗi!

    Melbourne ngày 14 Mar 2022

    TM. Văn Khố Thuyền Nhân

    Trần Đông

    Một số Video và bài viết về chuyến

    Du khảo đảo Hải Tặc Kokra (Thái Lan)

    từ 20 Mar 2022 đến hết ngày 26 Mar 2022 ( VỀ BẾN TỰ DO 24) Trùng tu một số di tích Thuyền nhân tại đảo Bidong

    từ 26 Mar 2022 đến hết ngày 2 Apr 2022 ( VỀ BẾN TỰ DO 25)

    – SBS Australia (Audio Podcast)

    – Ko Kra, Một đêm trên đảo địa ngục, Việt Báo, USA với hình gốc trong bài viết.

    – Koh Kra – Một Đêm Trên Đảo Địa Ngục, trên một trang mạnh khác.

    – Photoessay Về Bến Tự Do 24, 25(2016):

    4- Các video và bài viết phóng sự củaLê Hữu Thành:

    – Phóng sự đầu tiên về chuyến về Bidong (SBTN)

    – Trào nước mắt khi thấy người Việt tỵ nạn trở lại Pulau Bidong (báo Người Việt).

    – Trùng tu nghĩa trang Người Việt ở Bataan, Philippines, (báo Người Việt).

    – Đoàn Văn khố thuyền nhân VN thăm nghĩa trang Terengganu, Malaysia (SBTN)

    – Lễ Động thổ trùng tu nghĩa trang thuyền nhân Việt Nam tại Bataan, Philippines (SBTN)

    – Bidong Trailer, (SBTN)

    – Văn khố thuyền nhân VN trùng tu di tích trên đảo Bidong (SBTN)

    5- Bài viết củaLa Quốc Tâm:

    – Bidong – ra đi và trở lại, báo Người Việt.

    – Bidong – ra đi và trở lại (tiếp theo và hết, báo Người Việt)

    6- Bài tường thuật của Lưu Dân:

    – Bidong, dấu xưa nền cũ, Phần 1

    – Bidong, dấu xưa nền cũ, Phần 2

    – Bidong, dấu xưa nền cũ, Album

    6-Các nguồn khác:

    – Kinh hoàng trên đảo Kokra

    – Tường Trình Từ Đảo Ko Kra Thái Lan.

    – Nổi nhớ mang tên Pulau Bidong (M-M).

    – Album hình trên trang mạng SBS.

    – Ghi chép của Lưu Dân tại SBS, phần 1.

    – Ghi chép của Lưu Dân tại SBS, phần 2. – Việt Face TV: Phỏng vấn về chuyến thăm đảo Ko Kra

    – Việt Face TV: Phỏng vấn về chuyến trùng tu di tích tại Bidong

    ĐÓNG GÓP quỹ TẢO MỘ (dành cho quý đồng hương tại Hoa Kỳ, Canada & Châu Âu)

    Mọi chi phiếu hay Money Order xin ghi: VKTNVN và gửi về hộp thư:

    VKTNVN P.O Box 5036

    Anaheim

    CA 92814-1036

    ĐÓNG GÓP quỹ TẢO MỘ (dành cho quý đồng hương tại Úc & các nơi)

    Mọi chi phiếu hay Money Order xin ghi: VKTNVN và gửi về hộp thư :

    VKTNVN

    PO Box 497

    Flemington

    VIC 3031, Australia

    – Quý vị muốn trả tiền bằng Internet hay đến ngân hàng để làm International wire (money transfer), chuyển tiền quốc tế thẳng qua Úc, xin vui lòng chuyển thẳng vào trương mục VKTNVN tại Úc với các chi tiết như sau:

    Người nhận: Archive of Vietnamese Boat People

    Địa chỉ: PO Box 497 Flemington,

    VIC 3031, Australia

    Ngân hàng: Commonwealth Bank

    Số chi nhánh (BSB): 063185

    Số trương mục (Account): 1093 6976

    Swift Code: CTBAAU2S

    Địa chỉ ngân hàng: Greensborough Plaza, Greensborough, VIC 3185, Australia

    Hân hạnh giới thiệu các Video clips về Văn Khố Thuyền Nhân trên mạng Youtube:

    – Hoàn tất trùng tu nghĩa trang thuyền nhân tại Galang: https://youtu.be/PYklXZ_2xao

    – Hoàn tất trùng tu đợt 2 tại Malaysia: Sơn lại tất cả mộ thuyền nhân tháng 4-2014: https://youtu.be/wCexPD53ZxA

    – Đi tìm nghĩa trang thuyền nhân tại Khu G, đảo Bidong(Malaysia): https://youtu.be/BPZ0MgO03cI

    – Nghĩa trang Thuyền nhân tại Bataan (Philippines): https://youtu.be/uveYt_np5r4

    – 4 vị lãnh đạo tinh thần nói về công tác trùng tu nghĩa trang thuyền nhân của VKTNVN: https://youtu.be/mWactTOu5MY

    – VỀ BẾN TỰ DO 14 – 14th Revisit to Bidong – Galang: https://youtu.be/3sW4y2QlIMo (by Kenneth Nguyen)

    – Thăm Galang vào tháng 7-2013: https://youtu.be/p7GR9TBXrHg

    Thành quả trùng tu 10 năm qua (2005-2015)

    Từ 2006 đến 2014 Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam đã hoàn tất trùng tu hàng trăm mộ thuyền nhân trong đất liền tại Malaysia mai táng tổng cộng 999 thuyền nhân được liệt kê như sau:

    – tiểu bang Kelantan:

    · mộ tập thể Tumpat (5 thuyền nhân)

    · mộ Panji (23 thuyền nhân)

    · mộ tập thể Balai bachok (46 thuyền nhân)

    · mộ tập thể Cherang Ruku (139 thuyền nhân + 5 dời từ Panji về)

    tổng cộng: Kelantan mai táng 218 thuyền nhân. Đã trùng tu xong.

    – tiểu bang Terengganu:

    · nghĩa trang Khu A, mai táng 454 thuyền nhân (mộ tập thể và cá nhân)

    · nghĩa trang Khu B (61 thuyền nhân, mộ tập thể và cá nhân)

    · nghĩa trang Khu C (9 thuyền nhân)

    ·

    nghĩa trang Khu D (2 thuyền nhân)

    ·

    Mộ Dungun 1 (hơn 40 thuyền nhân). Mộ tập thể.

    ·

    Mộ Dungun 2 (hơn 100 thuyền nhân). Mộ tập thể.

    ·

    Mộ Batu Lima (4 thuyền nhân)

    ·

    Mộ Besut (3 thuyền nhân)

    ·

    Mộ Kemaman (7 thuyền nhân)

    tổng cộng: Terengganu mai táng trên 680 thuyền nhân. Đã trùng tu xong.

    – tiểu bang Pahang: nghĩa trang Kuantan, mai táng 36 thuyền nhân. Đã trùng tu xong.

    – tiểu bang Johor :

    · nghĩa trang Rompin (13 thuyền nhân)

    · nghĩa trang Mersing (52 thuyền nhân)

    Ở Malaysia, một số mộ thuyền nhân tại Kuala Lumpur VKTNVN không có kế hoạch trùng tu vì cần giữ nguyên di tích trong khu nghĩa trang chung, nơi ấy tất cả các mộ đều có bia giống nhau.

    Nghĩa trang Khu F, đảo Bidong, Malaysia: trùng tu 153 mộ hoàn tất tháng 4-2013.

    Nghĩa trang Khu C, đảo Bidong, Malaysia: trùng tu 7 mộ hoàn tất tháng 4-2013.

    Nghĩa trang Khu E, đảo Bidong, Malaysia: trùng tu 16 mộ hoàn tất tháng 4-2013.

    Nghĩa trang Khu G, đảo Bidong, Malaysia: trùng tu 86 mộ hoàn tất tháng 4-2013.

    Nghĩa trang Galang, Indonesia: Đã hoàn tất trùng tu tất cả 500 mộ tại Galang trong năm 2014.

    Các nghĩa trang tại vùng quần đảo Anambas như trại Kuku, trại Air Raya, chợ Letung, Keramut, … (Indonesia):: Hoàn tất trùng tu năm 2014 và 2022, có thể tìm thấy khoảng 300 mộ nhưng chỉ nhận dạng và chỉ có thể trùng tu 100 mộ vì nhiều mộ và nhiều khu nghĩa trang ở các đảo nhỏ bị mất dấu.

    Nghĩa trang Bataan (Philippines): 300 mộ, được tổ chức V-Help giúp gây quỹ, nay đã có đủ ngân khảon để bắt đầu khởi công trùng tu sau tết Nguyên đán năm 2022. Công trình này được chia thành 4 dự án nhỏ.

    1- trồng trụ xi măng bao chung quanh để đánh dấu khu vực nghĩa trang;

    2- làm bia xi măng cốt sắt cho từng ngôi mộ;

    3- làm bảng nghĩa trang;

    4- làm nhà nguyện để làm nơi cầu nguyện, để trú mưa trú nắng và nghỉ chân khi thăm viếng.

    NGHĨA TRANG GALANG sau đợt

    TRÙNG TU GIAI ĐOẠN 1 (29-3-2013, VBTD 11)

    Sau khi bị đóng cửa vĩnh viễn vào năm 1996, đợt trùng tu tháng 3-2013 do VKTNVN thực hiện là đợt trùng tu đầu tiên sau 17 năm hoang phế. Hầu hết các ngôi mộ đều dược đắp thêm đất cho đầy, các vết nứt bể đều được đắp vá lại bằng xi măng. Nhiều hoa và cây cảnh được trồng thêm. Theo ghi nhận có từ khoảng 500 mộ thuyền nhân được mai táng trong nghĩa trang Galang, một số mộ vẫn còn bằng đất.

    Giải đoạn trùng tu đợt 2 sẽ được thực hiện trong thời gian sắp tới. Một ngân khoản 50.000 Úc kim được dành cho hai giai đoạn trùng tu này.

    NGHĨA TRANG GALANG ĐÃ ĐƯỢC TRÙNG TU HOÀN TẤT NĂM 2014

    NGHĨA TRANG KHU C (1-6-2012, VBTD 10) trùng tu đợt 1 từ 5 đến 12 tháng 4-2013,

    chuyến VBTD 12

    6 ngôi mộ tại nghĩa trang Khu C, bên sườn đồi, sau lưng chùa Từ Bi cũ, sẽ được trùng tu lần thứ 2 vào năm 2014. Những ngôi mộ này chỉ mới được tìm thấy vào năm 2007. Trong 300 ngôi mộ tại Bidong chỉ có ngôi mộ của bà Huỳnh Thị Trọng là có mối đóng ổ lớn, như hình bên trên. Dân gian truyền tụng rằng mộ có gò mối đóng con cháu sẽ ăn nên làm ra.

    NGHĨA TRANG KHU E (5-4-2013, VBTD 12) trùng tu đợt 1 từ 5 đến 12 tháng 4-2013,

    chuyến VBTD 12

    Nghĩa trang khu E nằm cuối khu Cao Uỷ, có 16 ngôi mộ. Nếu đi dọc theo bờ biển khu A, đến gần chân đồi sẽ có đường mòn rẻ vào tay phải, chỉ vài chục thước cách bờ biển khách đến Bidong sẽ nhìn thấy khu nghĩa trang này. Đây là khu nghĩa trang cũ, nằm trên khu vực rất thấp, hay bị tràn ngập bởi nước lũ từ trên núi đổ xuống. Các tấm bia đúc trên đầu mộ cho thấy nghĩa trang do Gia đình Phật tử thực hiện, rất tiếc chữ ghi tên người quá cố bằng sơn đều đã biến mất theo thời gian nên không thể biết được chi tiết cá nhân của người được mai táng.

    NGHĨA TRANG KHU F (5-4-2013, VBTD 12) trùng tu đợt 1 từ 5 đến 12 tháng 4-2013,

    chuyến VBTD 12

    Ngày thứ nhất trời nắng như đổ lửa. Đồi khu F bốn bề cây che kín, không một chút gió thoáng qua. Anh Đặng Trung Chính, Kế Toán tại Sydney, vừa làm vừa nói qua tiếng thở: “60 tuổi rồi, bây giờ mới biết đổ mồ hôi mẹ mồi con là cái gì!” Anh lính già Trần Đức Nhuận cởi trần sơn mộ. Ông Nghị viên Trần Nhân cũng lê lết từ ngôi mộ này đến ngôi mộ khác để sơn. Cháu Đặng Trần an, 25 tuổi, bạch diện thư sinh, lần đầu tiên trong đời, đội nắng dầm mưa cầm máy thổi, máy cưa, máy cắt cỏ để làm việc. Chị Kim Anh, chị Tâm, chị Thanh Hà hốt cỏ, kẻ chữ trên mộ, tiếp tế đồ ăn nước uống cho từng người giữa trời nắng như thiêu đốt, một ngày ba bốn bận đi lên đi xuống đồi khu F. Người nào người nấy áo cà cả quần đều ướt sủng mồ hôi.

    NGHĨA TRANG KHU G (5-4-2013, VBTD 12) trùng tu đợt 1 từ 5 đến 12 tháng 4-2013,

    chuyến VBTD 12

    Đường đi và về trên đồi khu G là dốc thăm thẳm như trên hình này đây. Mưa thì mưa, anh Đức vẫn ôm máy cưa cây. Quần áo ướt hết rồi anh Đức ơi, nghỉ đi kẻo bệnh. Mưa thì kệ mưa, Dược sĩ Bảng vẫn ôm cưa cây làm sạch nghĩa trang Khu G.

    Vài hình ảnh 5 ngày đêm cắm trại tại Bidong (từ 7 đến 12 tháng 4-2013), VBTD 12, thực hiện trùng tu 4 nghĩa trang Bidong, đợt 1

    4 tấn dụng cụ và vật liệu được 3 tàu chỡ tới đảo Bidong. Máy phát điện, máy bơm nước áp suất cao, máy cưa ngắn và dài, máy thổi, máy cắt cỏ, 50 trụ bê tông, 100 bao xi măng (40 kg một bao), 50 bình nước 20 lít, 15 thùng sơn/20 lít 1 thùng, nước uống, và nồi niêu song chảo, lều, dao, len, cuốc, xẻng, nhang, đèn, trái cây, … cho cả một “đạo quân”.

    Một số hình ảnh của chuyến Du khảo đảo hải tặc Ko Kra và chuyến Trùng tu Di tích Thuyền nhân tại đảo Bidong.

    Nghĩa trang thuyền nhân tại BATAAN, Philippines

    đã được trùng tu

    Hình ảnh Trùng tu một số Di tích tại trại tỵ nạn Galang

    tháng 7 – 2022 VỀ BẾN TỰ DO 26

    Hình ảnh Trùng tu mộ tập thể 46 thuyền nhân

    tại BALAI BACHOK, Malaysia, 2022 do Cty Du Lịch Hành Trình Đức Tin (Garden Grove, USA) bảo trợ

    Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam là một tổ chức thiện nguyện. Mục tiêu chánh của VKTNVN là sưu tập tài liệu và di vật thuyền nhân Việt nam để đưa vào hệ thống Văn Khố hay Bảo Tàng Viện quốc gia hay quốc tế. Những tài liệu này sẽ là nguồn tài liệu quý giá để các cháu nghiên cứu và tìm hiểu. Mục tiêu thứ nhì là tìm hiểu và bảo tồn các di tích thuyền nhân trong vùng Đông Nam Á như di tích các trại tỵ nạn, mộ phần thuyền nhân, v.v… Công tác Văn Khố là công tác thuần tuý lịch sử, văn hóa và xã hội. Văn Khố Thuyền nhân luôn hoan nghênh sự đóng góp và hỗ trợ của các nhà hảo tâm ở mọi nơi.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bidong: Dấu Xưa, Nền Cũ (Phần 1)
  • Những Điều Cần Biết Khi Tham Quan Du Lịch Bidong
  • Du Lịch Đảo Bidong Malaysia
  • Trải Nghiệm Ở Borneo, Bờ Đông Malaysia
  • Bật Mí Chốn Ở Lạ: The Culvert
  • Tài Nguyên Du Lịch Nhân Văn Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Tài Nguyên Du Lịch Nhân Văn
  • Tour Du Lịch Đà Nẵng Với Giá Rẻ Chỉ Từ 2.050.000 Vnđ
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Cuba Cực Bổ Ích Và “siêu” Tiết Kiệm
  • Cách Làm Thủ Tục Xin Visa Du Lịch Nhật Bản Tự Túc
  • Du Lịch Khoang Xanh Suối Tiên 2 Ngày 1 Đêm Thoả Sức Tận Hưởng Thiên Nhiên Trong Lành
  • PHẦN MỞ ĐẦU

    1.

    Lí do chọn đề tài

    Du lịch là ngành công nghiệp không khói có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình

    phát triển kinh tế bởi mang lại lợi ích kinh tế cao. Đặc biệt với các quốc gia đang

    trong quá trình hội nhập và phát triển như Việt Nam thì việc đẩy mạnh phát triển du

    lịch là một vấn đề quan trọng. Để phát triển du lịch đòi hỏi phải có sự hợp thành của

    nhiều yếu tố. Trong đó tài nguyên du lịch là yếu tố cơ bản để tạo thành các sản phẩm

    du lịch. Chính sự phong phú đa dạng và đặc sắc của tài nguyên du lịch tạo nên sự

    phong phú, đa dạng, hấp dẫn của sản phẩm du lịch.

    Trải dài trên lãnh thổ hình chữ S, Việt Nam có rất nhều các tài nguyên du lịch,

    từ những tài nguyên du lịch tự nhiên đến tài nguyên du lịch nhân văn với vô vàng

    danh lam thắng cảnh nổi tiếng. Những điểm đến là khu du lịch sinh thái, vườn quốc

    gia, vịnh biển, hệ thống các đảo và quần đảo làm cho tài nguyên thiên nhiên thêm

    phong phú. Bên cạnh đó là tài nguyên du lịch nhân văn với nhiều di tích mang đậm

    giá trị lịch sử và không ít công trình là “Di sản văn hóa của nhân loại”. Với tài

    nguyên vô cùng đa dạng đó việc khai thác các thế mạnh, tính toán đến tác động môi

    trường khác nhau trong quá trình khai thác là vấn đề hết sức khó khăn, đặc biệt là tài

    nguyên du lịch nhân văn.

    Xuất phát từ mâu thuẫn đó, tôi nghiên cứu vấn đề: “Thế mạnh tài nguyên du

    lịch nhân văn và tác động đến phát triển kinh tế xã hội”. Đề tài tạo điều kiện đánh

    giá giá trị tài nguyên du lịch nhân văn, xác định mối quan hệ giữa tài nguyên du lịch

    nhân văn và việc khai thác các tài nguyên đó để phục vụ phát triển du lịch.

    2.

    Mục tiêu của đề tài

    Đánh giá thế mạnh tài nguyên du lịch nhân văn Việt Nam nhằm xây dựng định

    hướng khai thác phù hợp và đề xuất các giải pháp khai thác có hiệu quả.

    3.

    Nhiệm vụ của đề tài

    Tổng hợp một số vấn đề lí luận về du lịch nói chung và tài nguyên du lịch

    nhân văn nói riêng.

    Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn trên lãnh thổ Việt Nam

    Nghiên cứu đánh giá thực trạng khai thác tài nguyên du lịch nhân văn Việt

    Nam nhằm xây dựng định hướng khai thác phù hợp.

    4.

    Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

    Đối tượng nghiên cứu: Tài nguyên du lịch nhân văn tác động trên các mặt

    Kinh tế – xã hội – môi trường.

    Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu tài nguyên du lịch nhân văn trên lãnh

    thổ Việt Nam.

    5.

    Các phương pháp nghiên cứu

    Phương pháp phân tích số liệu thống kê: thu thập các tài liệu thông kê liên

    quan từ các cơ trung ương đến địa phương tỉnh, huyện, xã,…

    Kế thừa những kết quả nghiên cứu có trước, hệ thống hóa cơ sở lí luận, thực

    tiễn và vận dụng vào đề tài một cách hợp lý.

    6.

    Nội dung bài tiểu luận

    Ngoài phần mở đầu, kết luận, và tài liệu tham khảo, đề tài gồm các nội dung

    chính sau:

    Chương 1. Một số vấn đề lí luận cơ bản về du lịch và tài nguyên du lịch nhân

    văn.

    Chương 2. Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch nhân văn ở Việt Nam.

    Chương 3. Tác động của tài nguyên du lịch nhân văn đến Kinh tế – Xã hội –

    Môi trường của Việt Nam.

    Chương 4. Giải pháp khai thác tài nguyên du lịch nhân văn của Việt Nam.

    PHẦN NỘI DUNG

    CHƯƠNG 1

    MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VÀ THỰC TIỄN VỀ DU LỊCH

    VÀ TÀI NGUYÊN DU LỊCH NHÂN VĂN

    1.1.

    Một số vấn đề lí luận

    1.1.1. Khái niệm du lịch

    Dưới những góc độ nghiên cứu khác nhau, hoàn cảnh không gian, thời gian

    khác nhau, mỗi tổ chức cá nhân có những cách hiểu về du lịch khác nhau.

    Với mục đích quốc tế hóa, tại hội nghị Liên Hợp Quốc về du lịch họp tại

    ROMA (Italia) năm 1963, các chuyên gia đã đưa ra khái niệm như sau: “Du lịch là

    tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ cuộc

    hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi cư trú thường xuyên

    của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình. Nơi họ đến du lịch không phải nơi

    làm việc của họ.”

    Tổ chức Du lịch thế giới (World Tourism Organization) lại định nghĩa: “Du

    lịch là tổng thể các hiện tượng và các mối quan hệ xuất phát từ sự giao lưu với du

    khách, các nhà kinh doanh, chính quyền địa phương và cộng đồng dân cư trong quá

    trình thu hút và đón tiếp khách du lịch.”

    1.1.2. Khái niệm tài nguyên du lịch

    Tài nguyên hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các nguồn nguyên liệu, năng

    lượng và thông tin trên Trái Đất và trong không gian vũ trụ mà con người có thể sử

    dụng phục vụ cho cuộc sống và sự phát triển của mình.

    Tài nguyên du lịch theo Pirojnik: “Tài nguyên du lịch là những tổng thể tự

    nhiên văn hóa – lịch sử và những thành phần của chúng, tạo điều kiện cho việc phục

    hồi và phát triển thể lực tinh thần của con người, khả năng lao động và sức khỏe của

    họ, trong cấu trúc nhu cầu du lịch hiện tại và tương lai, trong khả năng kinh tế kĩ

    thuật cho phép, chúng được dùng để trực tiếp và gián tiếp sản xuất những dịch vụ du

    lịch và nghỉ ngơi.”

    Tài nguyên du lịch là một dạng đặc sắc của tài nguyên nói chung. Khái niệm

    này luôn gắn liền với khái niệm du lịch.

    – Tài nguyên du lịch có khả năng sử dụng nhiều lần nếu tuân theo các qui

    định về sử dụng một cách hợp lý, thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo vệ.

    1.2.

    Phân loại tài nguyên du lịch:

    Tài nguyên du lịch có thể chia làm 2 nhóm sau:

    Tài nguyên tự nhiên:

    Tài nguyên nhân văn:

     Tài nguyên nhân văn vật thể

    Di sản văn hoá thế giới

    Các Di tích lịch sử văn hoá, thắng cảnh đẹp cấp quốc gia và địa phương

     Tài nguyên nhân văn phi vật thể

    Di sản văn hoá truyền miệng và phi vật thể của nhân loại

    Các lễ hội

    Nghề và làng nghề thủ công truyền thống

    Văn hoá nghệ thuật

    Văn hoá ẩm thực

    Thơ ca và văn học

    Văn hoá ứng xử và những phong tục, tập quán tốt đẹp

    Tài nguyên du lịch gắn với văn hoá các tộc người

    Các hoạt động mang tính sự kiện

    1.2.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên

    Theo khoản 1 (Điều 13, Chương II) Luật du lịch Việt Nam năm 2005 quy

    định: “Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí

    hậu, thuỷ văn, hệ sinh thái, cảnh quan tự nhiên đang được khai thác hoặc có thể

    được sử dụng phục vụ mục đích du lịch”.

    Các loại tài nguyên du lịch tự nhiên không tồn tại độc lập mà luôn luôn tồn

    tại, phát triển trong cùng một không gian lãnh thổ nhất định, nó có mối quan hệ qua

    lại, tương hỗ chặt chẽ theo những quy luật của tự nhiên cũng như các điều kiện văn

    hoá, kinh tế – xã hội và thường được phân bố gần các tài nguyên du lịch nhân văn.

    Thực tế, khi tìm hiểu và nghiên cứu về tài nguyên du lịch tự nhiên, các nhà nghiên

    cứu thường nghiên cứu theo từng thành phần tự nhiên, các thể tổng hợp tự nhiên có

    điều kiện thuận lợi cho sự phát triển du lịch, các di sản thiên nhiên thế giới và các

    điểm tham quan tự nhiên.

    1.2.2. Tài nguyên du lịch nhân văn

    a. Khái niệm

    Tài nguyên du lịch nhân văn bao gồm truyền thống văn hoá, các yếu tố văn

    hoá, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình

    lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể khác có

    thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch.

    Tài nguyên du lịch nhân văn là các đối tượng và hiện tượng xã hội cùng các

    giá trị văn hoá, lịch sử của chúng có sức hấp dẫn du khách và được khai thác để kinh

    doanh du lịch. Trong số các tài nguyên du lịc nhân văn thì các di sản văn hoá có vị

    trí đặc biệt.

    Trong Luật di sản văn hoá của Việt nam thì di sản văn hoá được chia làm 2

    loại, đó là di sản văn hoá vật thể và di sản văn hoá phi vật thể.

     Di sản văn hoá vật thể

    “Di sản văn hoá vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa

    học,bao gồm các di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật

    quốc gia”.

    “Di tích lịch sử văn hoá là công trình xây dựng và các di vật, cổ vật,bảo vật

    quốc gia thuộc công trình địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học”

    “Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp

    giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mĩ, khoa

    học”.

    “Di vật là hiện vật được lưu truyền lại có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học”.

    “Cổ vật là hiện tượng được lưu truyền lại có giá trị tiêu biểu vè lịch sử, văn

    hoá, khoa học từ một trăm năm tuổi trở lên”.

    “Bảo vật quốc gia là hiện vật được lưu truyền lại có giá trị đặc biệt quý hiếm

    của đất nước về lịch sử, văn hoá, khoa học”.

     Di sản văn hoá phi vật thể

    “Di sản văn hoá phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử – văn hoá,

    khoa học, được lưu truyền bằng trí nhớ, chữ viết, được truyền miệng, truyền nghề,

    trình diễn và các hình thức lưu truyền khác bao gồm: tiếng nói, chữ viết, tác phẩm

    văn học nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống,

    lễ hội, bí quyết nghề nghiệp thủ công truyền thống, tri thức về y dược cổ truyền, văn

    hoá ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian”.

    b. Đặc điểm

    Do những nét đặc trưng và tính chất của mình, tài nguyên du lịch nhân văn có

    những đặc điểm khác với tài nguyên du lịch tự nhiên:

    Tài nguyên du lịch nhân văn có tác dụng nhận thức nhiều hơn tác dụng giải trí

    Việc tìm hiểu các đối tượng nhân văn diễn ra trong thời gian ngắn, nó có thể

    kéo dài một vài giờ, cũng có thể một vài phút. Do vậy trong một chuyến du lịch

    người ta có thể hiểu từ nhiều giá trị nhân văn.

    Số người quan tâm đến tài nguyên du lịch nhân văn thường có văn hoá hơn,

    thu nhập và yêu cầu cao hơn.

    Tài nguyên du lịch nhân văn thường tập trung ở những điểm quần cư và

    những thành phố lớn.

    Ưu thế to lớn của tài nguyên du lịch nhân văn là đại bộ phận không có tính

    mùa, không bị phụ thuộc vào các điều kiện khí tượng và điều kiện tự nhiên khác.

    Sở thích của những người tìm đến tài nguyên du lịch nhân văn rất phức tạp và

    rất khác nhau. Điều này sẽ gây khó khăn cho việc đánh giá tài nguyên du lịch nhân

    văn. Cơ sở để đánh giá nguồn tài nguyên này chủ yếu dựa vào cơ sở định tính, xúc

    cảm và trực cảm. Đồng thời nó cũng chịu ảnh hưởng mạnh của các nhân tố như: Độ

    tuổi, trình độ văn hoá,, hứng thú, trình độ nghề nghiệp, thành phần dân tộc,…

    1.2.2.1.

    Tài nguyên du lịch nhân văn vật thể

    a. Di sản văn hoá thế giới

    Ủy ban Di sản Thế giới đã xác định và liệt kê danh sách các di sản là các cảnh

    quan văn hóa có giá trị lớn đối với nhân loại. Để được đưa vào danh sách di sản thế

    giới, các khu vực đề cử phải có giá trị nổi bật toàn

    cầu và đáp ứng được ít nhất 1 trong 10 tiêu chí.

    Trong bản hướng dẫn năm 2002, trong bộ tiêu chí

    lựa chọn có 6 tiêu chí về văn hóa và 4 tiêu chí về

    tự nhiên. Năm 2005, Ủy ban Di sản Thế giới đưa

    ra bộ tiêu chí mới gồm 10 tiêu chí lựa chọn như

    sau:

    Hình 1.1: Biểu tượng Di sản Thế giới

    Nguồn: vi.wikipedia.org

    Tiêu chuẩn văn hóa

    (I) – là một tuyệt tác về tài năng sáng tạo của con người.

    (II) – Thể hiện một sự giao lưu quan trọng giữa các giá trị của nhân loại, trong

    một khoảng thời gian hoặc trong phạm vi một vùng văn hoá của thế giới, về các

    bước phát triển trong kiến trúc hoặc công nghệ, nghệ thuật tạo hình, quy hoạch đô

    thị hoặc thiết kế cảnh quan.

    (III) – Là một bằng chứng độc đáo hoặc duy nhất hoặc ít ra cũng là một bằng

    chứng đặc biệt về một truyền thống văn hoá hay một nền văn minh đang tồn tại hoặc

    đã biến mất.

    (IV) – Là một ví dụ nổi bật về một kiểu kiến trúc xây dựng hoặc một quần thể

    kiến trúc cảnh quan minh hoạ cho một hay nhiều giai đoạn có ý nghĩa trong lịch sử

    nhân loại.

    (V) – Là một ví dụ tiêu biểu về sự định cư của con người hoặc một sự chiếm

    đóng lãnh thổ mang tính truyền thống và tiêu biểu cho một hoặc nhiều nền văn hóa,

    nhất là khi nó trở nên dễ bị tổn thương dưới tác động của những biến động không thể

    đảo ngược được.

    (VI) – Gắn bó trực tiếp hoặc cụ thể với những sự kiện hoặc truyền thống sinh

    hoạt với các ý tưởng, hoặc các tín ngưỡng, các tác phẩm văn học nghệ thuật có ý

    nghĩa nổi bật toàn cầu. (tiêu chuẩn này chỉ duy nhất được sử dụng trong những

    trường hợp đặc biệt và áp dụng đồng thời với các tiêu chuẩn khác).

    Tiêu chuẩn tự nhiên

    (VII) – Chứa đựng các hiện tượng, địa điểm tự nhiên hết sức nổi bật hoặc các

    khu vực có vẻ đẹp tự nhiên độc đáo và tầm quan trọng về thẩm mỹ.

    (VIII) – Là những ví dụ nổi bật đại diện cho những giai đoạn lớn trong lịch

    sử của Trái Đất, trong đó có lịch sử về sự sống, các quá trình địa chất quan trọng

    Những di tích lịch sử là những địa điểm, những công trình kỷ niệm, những vật

    kỷ niệm, những cổ vật ghi dấu bằng những sự kiện lịch sử, những cuộc chiến đấu,

    những danh nhân, anh hùng dân tộc của một thời kỳ nào đó trong quá trình lịch sử

    của mỗi địa phương, mỗi quốc gia.

     Loại hình di tích văn hoá nghệ thuật:

    Là các di tích gắn với các công trình kiến trúc có giá trị nên còn gọi là di tích

    kiến trúc nghệ thuật. Những di tích này không chỉ chứa đựng những giá trị kiến trúc

    mà còn chứa đựng cả những giá trị văn hoá xã hội, văn hoá tinh thần.

    Sự phân biệt các dạng tài nguyên du lich nói chung chỉ mang tính tương đối.

    Vì trong tài nguyên du lịch nhân văn vật thể lại chứa đựng cả tài nguyên nhân văn

    phi vật thể và ngược lại. Trong các di tích kiến trúc nghệ thuật lại thường mang

    trong mình cả những giá trị lịch sử, vì vậy nhiều nhà nghiên cứu thường gọi chung là

    Di tích Lịch sử Văn hoá nghệ thuật.

     Các danh lam thắng cảnh:

    Theo Luật Di sản Văn hoá của Việt Nam năm 2003: “Danh lam thắng cảnh là

    cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với

    công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ và khoa học”.

    Các danh lam thắng cảnh không chỉ có vẻ đẹp thiên nhiên bao la, hùng vĩ,

    thoáng đãng mà còn có giá trị nhân văn do bàn tay khối óc của con người tạo dựng

    nên.

    Các danh lam thắng cảnh thường chứa đựng trong đó giá trị của nhiều loại di

    tích lịch sử – văn hoá. Bởi thế nên nó có giá trị đặc biệt quan trọng đối với sự phát

    triển du lịch ngày nay.

     Các công trình đương đại:

    Là các công trình kiến trúc được xây dựng trong thời kỳ hiện đại, có giá trị

    kiến trúc, mỹ thuật, khoa học, kỹ thuật xây dựng, kinh tế, văn hoá thể thao hấp dẫn

    du khách có thể là đối tượng thăm quan nghiên cứu, vui chơi giả trí, chụp ảnh kỷ

    niệm,… đối với khách du lịch.

    Tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể

    a. Di sản Văn hoá truyền miệng và phi vật thể của nhân loại

    Năm 1989 tại phiên họp Đại hội đồng UNESCO đã đưa ra hai chính sách:

    Công nhận một danh hiệu cho một sản phẩm văn hoá phi vật thể, danh hiệu đó

    gọi là “kiệt tác Di sản Văn hoá truyền miệng và phi vật thể của nhân loại”.

    Di sản Văn hoá phi vật thể và truyền miệng luôn luôn được giữ gìn trình diễn,

    bổ sung truyền lại cho lớp trẻ thông qua trí nhớ và tài năng của nghệ nhân.

    b. Các lễ hội

    Ở bất cứ thời đại nào, bất cứ dân tộc nào, bất cứ mùa nào cũng đều có lễ hội,

    bởi lễ hội là một loại hình sinh hoạt văn hoá tập thể của nhân dân sau thời gian lao

    động mệt nhọc, hoặc đây là dịp để con người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại:

    ngưỡng mộ tổ tiên, ôn lại truyền thống, hoặc giải quyết những nỗi lo âu, những khao

    khát, ước mơ mà cuộc sống thực tại chưa giải quyết được.

    Cấu trúc lễ hội thường bao gồm 2 phần:

     Phần lễ:

    Các lễ hội dù lớn hay nhỏ cũng đều có phần nghi lễ với những nghi thức

    nghiêm túc, trọng thể để mở đầu ngày hội theo không gian và thời gian.

    Tùy vào tính chất của lễ hội mà phần lễ có ý nghĩa riêng. Thông thường phần

    lễ mở đầu ngày hội bao giờ cũng mang tính tưởng niệm lịch sử, hướng về một sự

    kiện lịch sử trọng đại, một vị anh hùng dân tộc lỗi lạc có ảnh hưởng lớn đến sự phát

    triển của xã hội. Bên cạnh đó cũng có những lễ hội mà phần lễ thực hiện những

    nghi lễ tôn kính, dâng hiến lễ vật cho các vị thiên thần, thánh nhân, cầu mong

    những điều tốt đẹp trong cuộc sống. Nghi lễ trong lễ hội mang ý nghĩa đặc biệt

    thiêng liêng, nó chứa đựng những giá trị văn hoá truyền thống, giá trị thẩm mỹ và tư

    duy triết học của cộng đồng.

     Phần hội:

    Trong phần hội thường diễn ra những hoạt động biểu tượng điển hình của tâm

    lý cộng đồng, văn hoá dân tộc, chứa đựng những quan niệm của dân tộc đó với thực

    tế lịch sử, xã hội và thiên nhiên.

    Trong hội thường tổ chức những trò vui chơi giải trí, biểu diễn văn hoá nghệ

    thuật. Yếu tố cấu thành và nuôi dưỡng lễ hội là kinh tế – xã hội và tự nhiên nên nội

    dung của phần hội không chỉ giữ nguyên những giá trị văn hoá truyền thống mà nó

    luôn có xu hướng bổ sung thêm những thành tố văn hoá mới. Chính đặc điểm này đã

    tạo cho lễ hội thêm sống động, vui nhộn và phong phú. Tuy nhiên nếu yếu tố này

    không được chọn lọc và giám sát chặt chẽ cũng như tuyên truyền, giáo dục, đầu tư

    bảo vệ và phát triển những giá trị văn hoá truyền thống thì sẽ làm cho những giá trị đó

    bị lai tạp, mai một và suy thoái.

    Tuỳ vào quy mô và giá trị văn hoá truyền thống còn được bảo tồn, ý nghĩa của

    lễ hội đối với quốc gia hay địa phương mà các lễ hội được xếp hạng làm lễ hội quốc

    tế hay lễ hội địa phương. Các lễ hội có sức hấp dẫn cao đối với du khách là đối

    tượng để triển khai nhiều loại hình du lịch văn hoá, đặc biệt là loại hình du lịch lễ

    hội.

     Thời gian tổ chức lễ hội:

    Các lễ hội thường được tổ chức nhiều vào sau mùa vụ sản xuất, mùa mà thời

    tiết, phong cảnh đẹp là mùa xuân và mùa thu. Các giá trị văn hoá lịch sử của lề hội là

    nguồn tài nguyên du lịch quý giá để tổ chức triển khai các loại hình tham quan,

    nghiên cứu chuyên đề lễ hội hoặc kết hợp với các loại hình du lịch tham quan,

    nghiên cứu và mua sắm.

    c. Nghề và làng nghề thủ công truyền thống

     Nghề thủ công truyền thống:

    Là những nghề có những bí quyết về công nghệ sản xuất ra các sản phẩm

    mang những giá trị thẩm mỹ, tư tưởng triết học, tâm tư tình cảm và những ước vọng

    của con người.

    Nghề thủ công truyền thống là nghề sản xuất ra nghệ thuật do những nghệ

    nhân dân gian sáng tạo, gìn giữ và phát triển từ đời này qua đời khác cho những

    người cùng huyết thông hoặc cùng làng bản. Các sản phẩm thủ công cổ truyền này

    không chỉ mang những giá trị sử dụng trong cuộc sống hàng ngày mà nó còn chứa

    đựng bên trong những giá trị về mỹ thuật, giá trị triết học, tâm linh thể hiện tài

    nghệ, tâm tư, ước vọng của người làm ra chúng. Chính những tính hữu ích và giá trị

    văn hoá của chúng mà theo dòng chảy của lịch sử, đến nay nhiều nước trên thế giới

    nói chung và Việt Nam nói riêng đã hình thành và bảo tồn được những giá trị tốt đẹp

    của tài nguyên này.

     Làng nghề:

    “Là những làng có các nghề sản xuất hàng hoá bằng các công cụ thô sơ và sức

    lao động của con người đã được hình thành một thời gian dài trong lịch sử, nghệ

    thuật sản xuất hàng hoá được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác ở trong làng. Sản

    phẩm hàng hoá được sản xuất không chỉ đáp ứng nhu cầu ở trong làng mà còn bán ở

    thị trường trong nước và quốc tế”.

    d.

    Các đối tượng văn hoá – thể thao và hoạt động nhận thức khác

    Những đối tượng văn hoá như các trung tâm khoa học, các trường đại học, các

    thư viện lớn, bảo tàng… đều có sức hấp dẫn rất lớn du khách tới tham quan và nghiên

    cứu. Những hoạt động mang tính sự kiện: các giải thể thao lớn, các cuộc triển lãm

    thành tựu kinh tế quốc dân, các hội chợ, liên hoan phim ảnh quốc tế, ca nhạc quốc

    tế… cũng là đối tượng hấp dẫn khách du lịch. Thông thường những đối tượng văn

    hoá tập trung ở các thủ đô và các thành phố lớn. Vì vậy những thành phố lớn đương

    nhiên trở thành những trung tâm du lịch văn hoá của các quốc gia, vùng và khu vực

    và là hạt nhân của các trung tâm du lịch.Vai trò tài nguyên du lịch nhân văn với phát

    triển du lịch.

    1.3.

    Vai trò tài nguyên du lịch nhân văn với phát triển du lịch

    Du lịch là ngành kinh tế mà trong sự phát triển hoạt động của ngành vai trò

    của tài nguyên rất quan trọng. TNDL nhân văn là một trong hai yếu tố, cùng với tài

    nguyên du lịch tự nhiên tạo thành các sản phẩm du lịch.

    Ta có thể tạo lập công thức như sau:

    T = A + B +C

    S=T+D

    Trong đó

    T: Tài nguyên du lịch

    A: Tài nguyên du lịch nhân văn

    B: Tài nguyên du lịch tự nhiên

    C: Tài nguyên kinh tế kĩ thuật và bổ trợ

    S: Sản phẩm du lịch

    D: Các dịch vụ và hàng hóa du lịch

    Đối với mỗi vùng miền lãnh thổ, có sự tập trung đa dạng, phong phú tài

    nguyên du lịch nhân văn thì hướng phát triển du lịch của vùng miền đó cũng theo

    quy luật lấy tài nguyên nhân văn hiện có làm cơ sở để tạo ra sản phẩm du lịch đặc

    trưng. Tài nguyên du lịch nhân văn có mối quan hệ qua lại mật thiết với các yếu tố

    khác, nó thể hiện lịch sử văn hóa vùng miền, thông qua đó tác động tới lối sống của

    dân cư địa phương, tới nghề và truyền thống văn hóa xã hội khác. Do vậy, tài nguyên

    du lịch nhân văn là yếu tố quan trọng trong việc tạo nên sản phẩm du lịch.

    Tài nguyên du lịch nhân văn là cơ sở quan trọng để phát triển các loại hình du

    lịch văn hoá. Các hình thức du lịch được đưa ra trên cơ sở của nguồn tài nguyên. Tài

    nguyên du lịch nhân văn cần phải được khai thác sao cho xứng đáng với tiềm năng

    mà không làm mất đi các giá trị truyền thống sẵn có.

    Tài nguyên du lịch nhân văn là một phần của tài nguyên du lịch, một bộ phận

    quan trọng của tổ chức lãnh thổ du lịch. Các phân hệ của hệ thống lãnh thổ du lịch

    gồm: Khách du lịch, tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du

    lịch, đội ngũ cán bộ nhân viên và bộ máy tổ chức điều hành, quản lí du lịch. Các

    phân hệ này đều có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và với môi trường kinh tế xã hội

    cũng như các phân hệ khác.

    Như vậy, có thể nói rằng tài nguyên du lịch nhân văn là nhân tố quan trọng

    trong sự phát triển du lịch. Tài nguyên du lịch nhân văn góp phần định hướng phát

    triển du lịch của địa phương, là nguồn tài nguyên có khả năng bền vững cao nếu biết

    quan tâm, bảo tồn tôn tạo một cách hợp lí. Vì vậy, trước những đặc điểm của tài

    nguyên du lịch nhân văn sẵn có mỗi địa phương hãy đưa ra các chính sách phù hợp

    để vừa phát triển du lịch, lại vừa bảo tồn được tài nguyên.

    CHƯƠNG II

    THỰC TRẠNG DU LỊCH NHÂN VĂN Ở VIỆT NAM

    2.1.

    Tài nguyên du lịch nhân văn Việt Nam

    2.1.1. Các di tích văn hóa – lịch sử

    Gía trị văn hóa – lịch sử là yếu tố cốt lõi tạo nên sự hấp dẫn và độc đáo của sản

    phẩm du lịch, có sức lôi cuốn du khách đến tìm hiểu một nền văn hóa khác lạ. Việt

    Nam là đất nước của những di tích văn hóa – lịch sử lâu đời, có giá trị cao đối với du

    lịch. Ở nước ta, 1 di tích khi đủ các điều kiện sẽ được công nhận theo thứ tự: di tích

    cấp tỉnh, di tích cấp quốc gia và di tích quốc gia đặc biệt. Tính đến năm 2014, Việt

    Nam có hơn 40.000 di tích, thắng cả nh trong đó có hơn 3.000 di tích được xếp hạng

    di tích quốc gia và hơn 7.000 di tích được xếp hạng cấp tỉnh. Mật độ và số lượng di

    tích nhiều nhất ở 11 tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng với tỷ lệ chiếm khoảng 70% di

    tích của Việt Nam. Trong số di tích quốc gia có 62 di tích quốc gia đặc biệt và trong

    số đó có 8 di sản thế giới.

    2.1.1.1.

    Thống kê di tích Việt Nam

    Các tỉnh có số lượng di tích lớn hơn 1500 gồm: Hà Nội: 5175 di tích; Bắc

    Giang: 2237 di tích,Bắc Ninh 1859 di tích,Ninh Bình: 1879 di tích, Đồng Nai: 1800

    di tích; Hà Nam: 1784 di tích; Nam Định: 1655 di tích; Thanh Hóa: 1535 di tích.

    Các tỉnh có mật độ di tích lớn nhất gồm: Hà Nam 2,07 di tích/km2; Hà Nội:

    1,56 di tích/km2; Bắc Ninh: 1,96 di tích/km2; Ninh Bình: 1,36 di tích/km2 và Hưng

    Yên: 1,31 di tích/km2.

    Bảng 2.1: Thống kê di tích Việt Nam

    Nguồn: vi.wikipedia.org

    STT

    Tên tỉnh

    Tổng di tích

    1287

    1

    An Giang

    2

    Bà Rịa Vũng Tàu

    31

    14

    150

    2014

    3

    Bạc Liêu

    10

    35

    130

    2014

    4

    Bắc Giang

    99

    539

    2237

    2014

    5

    Bắc Kạn

    12

    33

    160

    2014

    Bắc Ninh

    297

    726

    1859

    2014

    7

    Bến Tre

    15

    22

    8

    Bình Dương

    12

    38

    500

    2015

    9

    Bình Định

    33

    50

    231

    2008

    10

    Bình Phước

    9

    3

    12

    2009

    11

    Bình Thuận

    24

    20

    300

    2012

    12

    Cà Mau

    9

    17

    13

    Cao Bằng

    26

    36

    226

    2008

    14

    Cần Thơ

    4

    16

    20

    2009

    15

    Đà Nẵng

    16

    37

    200

    2011

    16

    Đăk Lăk

    12

    4

    58

    2012

    17

    Đăk Nông

    9

    1

    2014

    18

    Điện Biên

    7

    10

    2014

    19

    Đồng Nai

    27

    19

    1800

    2013

    20

    Đồng Tháp

    13

    50

    91

    2015

    21

    Gia Lai

    13

    3

    30

    2009

    22

    Hà Giang

    15

    2

    36

    2010

    23

    Hà Nam

    69

    54

    1784

    2010

    24

    Hà Nội

    1196

    1156

    5175

    2015

    25

    Hà Tĩnh

    75

    393

    500

    2015

    26

    Hải Dương

    146

    89

    1098

    2009

    27

    Hải Phòng

    110

    208

    236

    2009

    28

    Hậu Giang

    9

    6

    188

    2015

    29

    Hòa Bình

    41

    27

    295

    2015

    30

    Hưng Yên

    159

    88

    1210

    2010

    31

    Khánh Hòa

    13

    98

    1091

    2009

    32

    Kiên Giang

    22

    13

    200

    2009

    33

    Kon Tum

    5

    8

    2014

    34

    Lai Châu

    4

    14

    2014

    35

    Lạng Sơn

    23

    95

    581

    2013

    36

    Lào Cai

    15

    11

    50

    2015

    37

    Lâm Đồng

    20

    10

    38

    Long An

    16

    65

    2015

    2015

    2009

    Nam Định

    74

    125

    1655

    2010

    40

    Nghệ An

    50

    70

    1000

    2010

    41

    Ninh Bình

    103

    235

    1879

    2015

    42

    Ninh Thuận

    14

    27

    233

    2014

    43

    Phú Thọ

    73

    218

    1372

    2014

    44

    Phú Yên

    18

    21

    45

    Quảng Bình

    45

    34

    150

    2010

    46

    Quảng Nam

    60

    300

    500

    2015

    47

    Quảng Ngãi

    28

    76

    199

    2014

    48

    Quảng Ninh

    60

    44

    626

    2010

    49

    Quảng Trị

    29

    160

    489

    2010

    50

    Sóc Trăng

    8

    22

    300

    2010

    51

    Sơn La

    11

    34

    64

    2010

    52

    Tây Ninh

    22

    54

    365

    2010

    53

    Thái Bình

    91

    349

    1400

    2007

    54

    Thái Nguyên

    36

    70

    780

    2010

    55

    Thanh Hóa

    136

    441

    1535

    2009

    56

    Thừa Thiên Huế

    32

    88

    902

    2010

    57

    Tiền Giang

    20

    86

    106

    2010

    58

    TP. Hồ Chí Minh

    54

    91

    400

    2010

    59

    Trà Vinh

    12

    16

    533

    2015

    60

    Tuyên Quang

    88

    55

    498

    2010

    61

    Vĩnh Long

    10

    36

    450

    2014

    62

    Vĩnh Phúc

    68

    222

    1264

    2010

    63

    Yên Bái

    10

    34

    500

    2013

    2.1.1.2.

    2014

    Phân loại di tích

    Căn cứ Điều 4 Luật di sản văn hoá, Điều 14 Nghị định số 92/2002/NĐCP ngày

    11/11/2002 của Chính phủ Việt Nam quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật

    Di sản văn hoá, các di tích được phân loại như sau:

     Di tích lịch sử văn hoá

    Di tích lịch sử văn hoá là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật,

    bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học.

    Di tích lịch sử văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau đây:

    Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình

    dựng nước và giữ nước. Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như đền Hùng, Cổ Loa,

    Hình 2.1: Du lịch – Atlat Địa lý Việt nam

    Nguồn: onthidialy.files.wordpss.com

    Cố đô Hoa Lư, Bãi cọc Bạch Đằng, Cột cờ… Công trình xây dựng, địa điểm

    gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân của đất nước. Các di

    tích tiêu biểu thuộc loại này như Khu di tích lịch sử Kim Liên, Đền Kiếp Bạc, Quần

    thể di tích danh thắng Yên Tử, Lam Kinh, đền Đồng Nhân…

    Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ

    cách mạng, kháng chiến. Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như Khu di tích chiến

    thắng Điện Biên Phủ, Địa đạo Củ Chi, Khu di tích lịch sử cách mạng Pắc Bó, Phòng

    tuyến Tam Điệp, Hành cung Vũ Lâm, Khu rừng Trần Hưng Đạo… Năm 2010, di tích

    lịch sử chiếm 51.2% số di tích được xếp hạng. Các di tích này không những có giá trị

    lịch sử và văn hóa mà còn mang lại những giá trị lớn trên phương diện kinh tế, nhất là

    kinh tế du lịch.

     Di tích kiến trúc nghệ thuật

    Di tích kiến trúc nghệ thuật là công trình kiến trúc nghệ thuật, tổng thể kiến

    trúc đô thị và đô thị có giá trị tiêu biểu trong các giai đoạn phát triển nghệ thuật kiến

    trúc của dân tộc. Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có

    giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử. Các di

    tích tiêu biểu loại này như Chùa Bút Tháp, phố cổ Hội An, nhà thờ Phát Diệm, chùa

    Keo, đình Tây Đằng,Chùa Phật Tích. Năm 2010, di tích kiến trúc nghệ thuật chiếm

    44.2% tổng số di tích được xếp hạng.

     Di tích khảo cổ

    Di tích khảo cổ là những địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai

    đoạn phát triển của các văn hoá khảo cổ. Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như

    Hoàng thành Thăng Long, hang Con Moong, di chỉ Đông Sơn, động Người Xưa,

    thánh địa Mỹ Sơn. Năm 2010, di tích khảo cổ chiếm 1.3% các di tích được xếp hạng.

     Di tích thắng cảnh

    Di tích thắng cảnh (danh lam thắng cảnh) là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa

    điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch

    sử, thẩm mỹ, khoa học. Danh lam thắng cảnh phải có một trong các tiêu chí sau đây:

    Cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên

    với công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu. Các di tích quốc gia đặc biệt tiêu

    biểu thuộc loại này như 4 danh lam thắng cảnh khu danh thắng Tây Thiên, Tràng An

    Tam Cốc Bích Động, vịnh Hạ Long, động Phong Nha.

    Khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng

    sinh học, hệ sinh thái đặc thù hoặc khu vực thiên nhiên chứa đựng những dấu tích vật

    chất về các giai đoạn phát triển của Trái Đất. Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như

    vịnh Hạ Long, Cao nguyên Đồng Văn, các vườn quốc gia và khu dự trữ sinh quyển

    thế giới ở Việt Nam. Danh lam thắng cảnh chiếm khoảng 3.3% số di tích được xếp

    hạng.

     Di tích lịch sử cách mạng

    Di tích cách mạng kháng chiến là một bộ phận cấu thành hệ thống các di tích

    lịch sử văn hoá, tuy nhiên, nó có những điểm khác với các di tích tôn giáo tín ngưỡng

    như đình, đền, chùa, miếu… ở chỗ: đó là những địa điểm cụ thể, công trình kiến trúc

    có sẵn (nhà ở, đường phố…), là những công trình được con người tạo nên phù hợp

    với mục đích sử dụng (địa đạo, hầm bí mật…) gắn liền với những sự kiện cụ thể,

    nhân vật lịch sử cụ thể mà trở thành di tích. Loại hình di tích này rất đa dạng, phong

    phú, có mặt ở khắp mọi nơi, khó nhận biết, đồng thời cũng rất dễ bị lãng quên, dễ

    biến dạng theo mục đích sử dụng, theo thời tiết và theo thời gian. Bởi vậy các di tích

    này vừa khó bảo tồn vừa khó phát huy tác dụng nếu không được quan tâm đặc biệt.

    Một số di tích lịch sử cách mạng như: Chiến khu Tân Trào, Chiến khu Quỳnh Lưu,

    Khu di tích chiến thắng Điện Biên Phủ,…

    2.1.1.3.

    Phân cấp di tích

    Di tích quốc gia đặc biệt là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia. Thủ

    tướng Chính phủ quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt; quyết định việc đề

    nghị Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hợp quốc xem xét đưa di tích

    tiêu biểu của Việt Nam vào Danh mục di sản thế giới. Di tích quốc gia đặc biệt ở Việt

    Nam được xếp hạng các đợt đầu gồm: Cố đô Hoa Lư, Di tích Pác Bó, Dinh Độc Lập,

    Hoàng thành Thăng Long, Khu căn cứ Trung ương Cục miền Nam, Khu di tích ATK

    Thái Nguyên, Khu di tích chiến thắng Điện Biên Phủ, Khu di tích Côn Sơn Kiếp Bạc,

    Khu di tích khởi nghĩa Yên Thế, Khu di tích Kim Liên, Khu di tích Phủ Chủ tịch, Khu

    di tích Tân Trào, Khu lưu niệm chủ tịch Tôn Đức Thắng, Nhà tù Côn Đảo, Quần thể

    di tích Cố đô Huế, Thành nhà Hồ, Thánh địa Mỹ Sơn, Thắng cảnh Tràng An Tam

    Cốc Bích Động, Văn Miếu Quốc Tử Giám, Vườn quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng,

    Vịnh Hạ Long, Đô thị cổ Hội An và Đền Hùng.

    Trong trường hợp di tích đã được xếp hạng mà sau đó có đủ căn cứ xác định là

    không đủ tiêu chuẩn hoặc bị huỷ hoại không có khả năng phục hồi thì người có thẩm

    quyền quyết định xếp hạng di tích nào có quyền ra quyết định huỷ bỏ xếp hạng đối

    với di tích đó.

    2.1.1.4.

    Di sản thế giới văn hóa thế giới

    Việt Nam với bề dày lịch sử hang nghìn năm dựng nước và giữ nước, đã hun

    đúc nên biết bao nét đẹp văn hóa truyền thống, trong đó có giá trị văn hóa được cả thế

    giới tôn vinh. NQ TW5 (khóa VII) của Đảng ta khẳng định: “Di sản văn hóa là tài

    sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc và cơ sở để sáng

    tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa. Cần phải hết sức coi trọng bảo tồn, kế

    thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc (bác học và nhân

    gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể”. Tại

    thời điểm cập nhật, trên cả nước có 17 di sản văn hóa được UNESCO công nhận.

    Trong đó 8 di sản văn hóa vật thể, 9 di sản là kiệt tác phi vật thể và truyền khẩu của

    nhân loại. Các di sản có sức hấp dẫn đặc biệt với du khách và là niềm tự hào, là tài

    sản vô giá của quốc gia và nhân loại.

    Bảng 2.2: Di sản văn hóa vật thể được UNESCO công nhận

    Nguồn: vi.wikipedia.org

    STT

    Di sản

    1

    Quần thể di tích Cố đô Huế

    Hạng mục

    Di sản văn hóa:

    (III), (IV)

    Địa phương Năm

    Huế

    1993

    Di sản

    2

    Vịnh Hạ Long

    Di sản thiên nhiên:

    (VII), (VIII)

    Quảng Ninh 1994

    3

    Phố cổ Hội An

    Di sản văn hóa:

    (II), (V)

    Quảng Nam 1999

    4

    Thánh địa Mỹ Sơn

    Di sản văn hóa:

    (II), (III)

    Quảng Nam 1999

    5

    Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ

    Bàng

    Di sản thiên nhiên:

    (VIII)

    Quảng Bình 2003

    6

    Trung tâm Hoàng thành

    Thăng Long

    Di sản văn hóa:

    (II), (III), (VI)

    7

    Thành nhà Hồ

    Di sản văn hóa:

    (II), (IV)

    Thanh Hóa 2011

    Di sản hỗn hợp:

    (V), (VII), (VIII)

    Ninh Bình

    8

    Quần thể danh thắng

    Tràng An

    Hạng mục

    Địa phương Năm

    Hà Nội

    2010

    2014

    Bảng 2.3: Di sản văn hóa phi vật thể tại Việt Nam

    Nguồn: Samthienha.com phương Năm

    STT

    Di sản

    Hạng mục

    1

    Nhã nhạc cung đình Huế

    Kiệt tác phi vật thể và truyền

    khẩu của nhân loại

    Huế

    2003

    2

    Không gian văn hóa Cồng Chiêng

    Tây Nguyên

    Kiệt tác phi vật thể và truyền

    khẩu của nhân loại

    Tây Nguyên

    2005

    3

    Dân ca Quan họ

    Di sản phi vật thể đại diện cho

    nhân loại

    Bắc Ninh

    2008

    4

    Ca trù

    Di sản phi vật thể đại diện cho

    nhân loại cần bảo vệ gấp

    Bắc Bộ

    2009

    5

    Hội Gióng tại đền Phù Đổng và

    đền Sóc, Hà Nội

    Di sản phi vật thể

    Hà Nội

    2009

    6

    Hát xoan

    Di sản phi vật thể

    Phú Thọ

    2010

    7

    Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương

    Di sản phi vật thể đại diện cho

    nhân loại

    Phú Thọ

    2011

    8

    Đờn ca tài tử Nam Bộ

    Kiệt tác phi vật thể và truyền

    Nam Bộ

    2012

    Kiệt tác phi vật thể và truyền Nghệ An –

    khẩu của nhân loại

    Hà Tĩnh

    Di sản vật thể của Việt Nam được UNESCO công nhận

    Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh

    2.2. Quần thể di tích Cố đô Huế

    vietnamtourism.gov.vn

    2.4. Thánh địa Mỹ Sơn

    vietnamtourism.gov.vn

    2013

    2.3. Vịnh Hạ Long

    vietnamtourism.gov.vn

    2.5. Phố cổ Hội An

    vietnamtourism.gov.vn

    2.7. Hoàng Thành Thăng Long

    2.6. Phong Nha-Kẻ Bàng

    thiennhien.net

    2.8. Thành Nhà Hồ

    www.dulichvn.org.vn

    vietnamtourism.gov.vn

    2.9. Quần thể danh thắng Tràng An

    vietnamtourism.gov.vn

    2.1.2. Lễ hội

    Là sự kiện văn hóa được tổ chức mang tính cộng đồng. “Lễ” là hệ thống những

    hành vi, động tác nhằm biểu hiện sự tôn kính của con người với thần linh, phản ánh

    những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có

    khả năng thực hiện. “Hội” là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng,

    xuất phát từ nhu cầu cuộc sống.

    2.1.2.1. Thống kê lễ hội

    Theo thống kê 2009, hiện cả nước Việt Nam có 7.966 lễ hội; trong đó có 7.039

    lễ hội dân gian (chiếm 88,36%), 332 lễ hội lịch sử (chiếm 4,16%), 544 lễ hội tôn giáo

    (chiếm 6,28%), 10 lễ hội du nhập từ nước ngoài (chiếm 0,12%), còn lại là lễ hội khác

    (chiếm 0,5%). Các địa phương có nhiều lễ hội là Hà Nội, Bắc Ninh, Hà Nam, Hải

    Dương và Phú Thọ.

    Việt Nam là một quốc gia đã có hàng nghìn năm lịch sử. Cũng như nhiều quốc

    gia khác trên thế giới, Việt Nam có một nền văn hóa mang bản sắc riêng. Chính

    những nét đó làm nên cốt cách, hình hài và bản sắc của dân tộc Việt Nam.

    Trong kho tàng văn hóa của dân tộc Việt Nam, sinh hoạt lễ hội là vùng văn hóa

    rất đặc trưng. Lễ hội là sinh hoạt văn hóa dân gian hầu như có mặt ở khắp mọi

    miền đất nước. Nhiều lễ hội ra đời cách đây hàng nghìn năm đến nay vẫn được duy

    trì. Lễ hội ở Việt Nam bao giờ cũng hướng tới một đối tượng thiêng liêng cần suy tôn

    là nhân thần hay nhiên thần. Đó chính là hình ảnh hội tụ những phẩm chất cao đẹp

    nhất của con người. Giúp con người nhớ về nguồn cội, hướng thiện và nhằm tạo dựng

    một cuộc sống tốt lành, yên vui.

    Lễ hội truyền thống ở Việt Nam thường diễn ra vào mùa Xuân và số ít vào mùa

    Thu là hai mùa đẹp nhất trong năm, đồng thời cũng là lúc nhà nông có thời gian nhàn

    rỗi. Trong số các lễ hội Việt Nam thì phải kể đến những lễ hội chi phối hầu hết các gia

    đình trên mọi miền tổ quốc, đó là Tết Nguyên Đán, Lễ Vu Lan và tết Trung Thu. Gần

    đây một số lễ hội được nhà nước và nhân dân quan tâm như: Lễ hội đền Hùng,Lễ hội

    Tịch điền Đọi Sơn,Giáng Sinh, Hội Phật Tích.

    Một số lễ hội lớn ảnh hưởng cả một vùng rộng lớn, tiêu biểu như: hội

    Gióng (xứ Kinh Bắc), lễ hội đền Hùng (Xứ Đoài), lễ hội chùa Bái Đính, Hội Lim

    (Kinh Bắc) phủ Dày,(xứ Sơn Nam), lễ hội Yên Tử, lễ hội bà chúa Xứ (An Giang), Lễ

    hội pháo hoa Quốc tế Đà Nẵng (thành phố Đà Nẵng)…

    2.1.2.2. Phân cấp lễ hội

    Khác với các di tích Việt Nam đã được kiểm kê và phân cấp theo quy định, các

    lễ hội ở Việt Nam chưa được quy định phân cấp bài bản. Có những lễ hội bị biến

    tướng, trần tục hoá, mở hội tràn lan… nhiều ý kiến đề xuất việc kiểm kê các lễ hội

    trên toàn quốc để tiến tới phân cấp lễ hội theo các cấp: lễ hội cấp quốc gia, lễ hội cấp

    tỉnh, lễ hội cấp huyện và lễ hội cấp làng. Theo bà Lê Thị Minh Lý – Phó Cục trưởng

    Cục Di sản Văn hoá, điểm yếu trong việc quản lý lễ hội hiện nay đó là chưa có cơ sở

    dữ liệu khoa học và quan điểm tiếp cận đúng. Không nên đánh đồng giữa lễ hội và

    festival.

    Tùy vào từng thời điểm, vào chủ thể mà lễ hội hiện nay được tổ chức ở nhiều

    cấp khác nhau. Ví dụ như lễ hội đền Hùng được tổ chức ở quy mô quốc gia 5 năm/

    lần. Những năm số lẻ thì lại được tổ chức ở quy mô cấp tỉnh. Các lễ hội thường được

    tổ chức ở quy mô cấp tỉnh như hội Lim, lễ hội Lam Kinh (Thanh Hóa), lễ hội đền

    Trần (Nam Định)… Các lễ hội ở quy mô cấp huyện tiêu biểu như lễ hội đền Nguyễn

    Công Trứ ở Kim Sơn (Ninh Bình) vàTiền Hải (Thái Bình) để tưởng niệm người chiêu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Du Lịch Sông Cầu Phú Yên Có Gì Đẹp?
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Sông Cầu, Phú Yên (Cập Nhật 08/2020)
  • Du Lịch Thái Lan Nên Đi Tour Hay Đi Tự Túc?
  • Nên Đi Du Lịch Thái Lan Theo Tour Hay Tự Túc?
  • Khám Phá Du Lịch Bắc Kinh Vào Mùa Xuân
  • Văn Hóa Du Lịch Mối Quan Hệ Trong Việc Đào Tạo Nguồn Nhân Lực Du Lịch Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Phú Quốc – Văn Hóa Và Con Người
  • Đặc Trưng Văn Hóa Phú Quốc. – Phú Quốc – Người Bạn Du Lịch
  • Top 10 Công Ty Cho Thuê Xe Du Lịch Uy Tín Nhất Hiện Nay
  • Mạng Bán Tour Trực Tuyến Số 1 Tại Việt Nam
  • Du Lịch Nhật Bản Thưởng Thức Ẩm Thực Vùng Osaka
  • 18 Tháng Giêng 2022          9033 lượt xem

    Đặt vấn đề

    Du lịch văn hóa là xu hướng của nhiều nước. Loại hình du lịch này rất phù hợp với bối cảnh của Việt Nam, rất tốt cho hoạt động xóa đói giảm nghèo quốc gia, vì vậy phải được xem là hướng phát triển của ngành du lịch Việt Nam. Khi xác định hướng đi “văn hóa gắn với du lịch”, người làm du lịch phải có một trình độ nhất định, được đào tạo bài bản về văn hóa nghệ thuật, để có thể tạo được những hiệu ứng từ các hoạt động biểu diễn, lưu lại được những giá trị và ấn tượng văn hóa trong lòng du khách, chứ không chỉ khai thác ánh sáng, âm thanh, mầu sắc đơn thuần…

    Như là một biểu thị của nhu cầu mang “tính người”, du lịch dưới bất cứ hình thức nào cũng hướng tới việc tiếp xúc, giao lưu, học hỏi và mở mang về văn hóa. Trong bối cảnh ngành du lịch ở Việt Nam đang trên đà phát triển, song vẫn tồn tại một số bất cập, thì lĩnh vực này cũng cần được xem xét từ góc nhìn  văn hóa. Khi xác định du lịch như hành vi thỏa mãn văn hóa, cũng tức là cần xác lập các tiêu chí để làm nên một “văn hóa du lịch”. Thiết nghĩ, văn hóa du lịch được thể hiện trên hai phương diện: một là văn hóa của du lịch và hành vi văn hóa của người làm du lịch. Văn hóa của du lịch là dấu ấn riêng, độc đáo, tạo nên bản sắc của văn hóa mỗi cộng đồng. Ðó là yếu tố quan trọng làm nên sức hấp dẫn đối với du khách.

                Mối quan hệ văn hóa và du lịch ?

                Trong những năm gần đây có một vài nhận xét cho rằng, văn hóa và du lịch đã có sự gắn kết, tuy nhiên đó mới chỉ là mang tính tự phát, nên chưa thực sự phát huy hiệu quả. Du lịch và văn hóa cần nhìn về một hướng. Nguyên nhân của hiện trạng này thuộc về cả hai phía. Hầu hết các đơn vị văn hóa chưa xây dựng chương trình biểu diễn trở thành sản phẩm du lịch, hay nói cách khác chưa đáp ứng được nhu cầu, thị hiếu của khách du lịch. Các công ty lữ hành hiểu nhu cầu, thị hiếu của khách du lịch nhưng chưa thực sự nhập cuộc, không chủ động giới thiệu với khách những sản phẩm văn hóa của dân tộc. Một lý do nữa là kinh phí và nhân lực của các hoạt động biểu diễn đa phần được hoạch định một cách cảm tính, nhiều thay đổi, không theo xu hướng kinh tế thị trường mang mầu sắc thực sự là sản phẩm du lịch, mà theo xu hướng làm nghệ thuật, gây nhiều trở ngại cho các doanh nghiệp kinh doanh du lịch chuyên nghiệp.

                Nói mối quan hệ văn hóa và du lịch, người ta thường nghĩ đến những lễ hội. Những lễ hội cũng là một phần quan trọng của đời sống văn hóa, có hàm chứa yếu tố nghệ thuật. Nhưng không phải cứ có biểu diễn nghệ thuật là trở thành lễ hội, mặt khác những lễ hội được tổ chức phần nào sơ sài, dàn trải bốn mùa trong năm, ở hầu như tất cả các địa phương trên cả nước, đã bắt đầu cho thấy sự nhàm chán và lặp lại nhau, chưa nói đến sự phản cảm khi khâu tổ chức  làm sơ sài, đơn điệu. Phần lớn các chương trình khai trương lễ hội du lịch hiện nay mang tính chất “sân khấu hóa” và có xu hướng lễ hội hóa ở tất cả các địa phương có một kịch bản na ná giống nhau… Ở một góc nhìn khác, tình trạng mô phỏng, manh mún, thiếu sáng tạo trong xây dựng văn hóa của du lịch còn được bổ sung bởi hành vi thiếu “tính văn hóa” của một số người làm du lịch, trong một số trường hợp họ đã làm thất vọng du khách. Thái độ thiếu niềm nở, hay miễn cưỡng niềm nở khi đón tiếp du khách là hình ảnh còn gặp mỗi khi tới các điểm du lịch.

                Thổi hồn văn hóa vào du lịch…

    Bên cạnh những loại hình du lịch như du lịch sinh thái, du lịch khám chữa bệnh, du lịch mạo hiểm, du lịch giáo dục… gần đây du lịch văn hóa được xem là loại sản phẩm đặc thù của các nước đang phát triển, thu hút nhiều khách du lịch quốc tế. Du lịch văn hóa chủ yếu dựa vào những sản phẩm văn hóa, những lễ hội truyền thống dân tộc, kể cả những phong tục tín ngưỡng… để tạo sức hút đối với khách du lịch bản địa và từ khắp nơi trên thế giới. Đối với khách du lịch có sở thích nghiên cứu, khám phá văn hóa và phong tục tập quán bản địa, thì du lịch văn hóa là cơ hội để thỏa mãn nhu cầu của họ.

    Phần lớn hoạt động du lịch văn hóa gắn liền với địa phương – nơi lưu giữ nhiều lễ hội văn hóa và cũng là nơi tồn tại đói nghèo. Khách du lịch ở các nước phát triển thường lựa chọn những lễ hội của các nước để tổ chức những chuyến du lịch nước ngoài. Bởi thế, thu hút khách du lịch tham gia du lịch văn hóa tức là tạo ra dòng chảy mới và cải thiện cuộc sống của người dân địa phương.

    Ở những nước kém phát triển hoặc đang phát triển, nền tảng phát triển phần lớn không dựa vào những đầu tư lớn để tạo ra những điểm du lịch đắt tiền, mà thường dựa vào nguồn du lịch tự nhiên và sự đa dạng trong bản sắc dân tộc. Những nguồn lợi này không tạo ra giá trị lớn cho ngành du lịch, nhưng lại đóng góp đáng kể cho sự phát triển của cộng đồng xã hội. Những quốc gia phát triển mạnh du lịch văn hóa là Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Trung Quốc, và một số nước thuộc khu vực Nam Mỹ….

                Hầu hết các quốc gia thường khai thác các sự kiện văn hóa, nghệ thuật, lễ hội, thể thao, giải trí… để phát triển du lịch. Sự kết hợp hài hòa giữa văn hóa nghệ thuật và du lịch đã làm cho những sự kiện văn hóa, nghệ thuật trở thành một thương hiệu của một lễ hội vượt ra khỏi tầm địa phương, quốc gia mà còn là mang một giá trị của thế giới.

    Trong những năm qua, Việt Nam đã tổ chức rất thành công những sự kiện lớn gây được sự chú ý đến các quốc gia trong khu vực và quốc tế. Có thể kể đến như Festival nghệ thuật Huế, Festival biển Nha Trang, Carnavan biển Hạ Long, Festival cồng chiêng Tây Nguyên, Hành trình Di sản miền Trung… Những lễ hội trên đã trở thành “hiệu ứng văn hóa” không chỉ còn của địa phương mà là sự hòa quyện, giao thoa của văn hóa Việt Nam với các đoàn nghệ thuật trên thế giới cùng tham gia để lại trong lòng du khách bốn phương.

    Việt Nam, ngoài những tiềm năng du lịch đã được khai thác như cảnh quan thiên nhiên, nghỉ dưỡng, ẩm thực, chữa bệnh… còn một tiềm năng ở tầm sâu hơn, nhưng hứa hẹn một khả năng phát triển phong phú bội phần, đó là tiềm năng văn hóa nghệ thuật. Gắn bó sâu sắc với đời sống tinh thần của người Việt, với non nước hữu tình của dân tộc Việt, những hình thái nghệ thuật đã trở thành một phần không thể thiếu, có thể xem như linh hồn của người Việt. Nhưng bao nhiêu năm qua, chúng ta chỉ quan tâm khai thác du lịch bằng cái thế giới bên ngoài, cái thế giới vật chất hữu hình, với những ưu đãi của thiên nhiên, mà ít quan tâm đến việc giới thiệu đời sống tinh thần của dân tộc. Nếu những giá trị ấy được giới thiệu một cách chiến lược, có phong cách, có định hướng thì du lịch Việt Nam mới có thể có được cái bản sắc độc đáo riêng, không hề lặp lại bất kỳ ai khác trong thế giới du lịch đang ngày một phát triển phong phú và đa dạng hiện nay. Hãy làm khơi dậy và khai thác những di tích lịch sử, những truyền thuyết, những giá trị văn hóa nghệ thuật trở thành những sản phẩm du lịch, chương trình du lịch độc đáo, đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam.

    Câu chuyện khai thác giá trị văn hoá làng nghề truyền thống trong việc phát triển du lịch cộng đồng

                Trong những năm qua, ngành du lịch đã có những bước phát triển đáng kể khi nhiều doanh nghiệp đã đầu tư xây dựng các khu du lịch lớn nhằm khai thác lợi thế về cảnh quan, lịch sử, văn hóa, con người để thu hút khách du lịch trong và ngoài nước. Tuy nhiên, các nhà đầu tư đang chuyển dần sang xây dựng các điểm du lịch mới mang tính tiên tiến, hiện đại. Trong khi đó, du lịch lễ hội văn hóa, làng nghề truyền thống là một thế mạnh và nét đặc trưng vốn có của du lịch Việt Nam. Điều này càng có ý nghĩa hơn đối với khách du lịch quốc tế khi đến tìm hiểu truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam. Việc khai thác và phát huy các làng nghề truyền thống như một chiến lược phát triển bền vững gắn với cộng đồng dân cư địa phương. Đồng thời giữ gìn những nét bản sắc văn hóa của các địa phương đã đi vào tiềm thức của quốc gia, của dân tộc.

    Lịch sử nông thôn Việt Nam gắn liền với các thôn xóm và các làng nghề, đó là những đặc trưng cơ bản trong truyền thống kinh tế, văn hóa của xã hội nông thôn Việt Nam. Hiện đại hóa công nghệ truyền thống và truyền thống hóa công nghệ hiện đại là một nội dung của chiến lược công nghiệp hóa ở Việt Nam. Các làng nghề sẽ là cầu nối giữa nông nghiệp và công nghiệp, giữa nông thôn và thành thị, giữa truyền thống và hiện đại và là nấc thang phát triển quan trọng trong tiến trình công nghiệp hóa nông thôn nước ta. Chúng đã góp phần đáng kể đối với sự phát triển kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đặc biệt hơn cả là đối với vấn đề giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống cho người lao động.

                Làng nghề du lịch là một không gian lãnh thổ nông thôn, ở đó người dân không những tổ chức sản xuất một hoặc một số sản phẩm thủ công truyền thống mà còn cung cấp các dịch vụ phục vụ và thu hút khách du lịch. Phát triển du lịch làng nghề được coi là một hướng đi rất quan trọng để gìn giữ, giới thiệu, bảo tồn và tôn vinh những giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc của dân tộc, của quốc gia. Phát triển mô hình du lịch làng nghề còn có tác dụng hỗ trợ đắc lực cho khu vực nông thôn chuyển dịch cơ cấu phát triển kinh tế theo hướng phát triển bền vững trong tiêu thụ sản phẩm, đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ sản phẩm trong nước cũng như trên thị trường quốc tế. Ngoài ra, ở mỗi làng nghề du lịch là sự kết hợp với tìm hiểu văn hóa, tín ngưỡng và phong tục tập quán của bản thân làng nghề đó, để có thể tìm ra những nét độc đáo, gây ấn tượng cho du khách. Nếu trong một chương trình du lịch đúng dịp làng nghề tổ chức các lễ hội tôn vinh tổ nghề thì đó sẽ là dịp may hiếm có cho du khách và không thể bỏ qua. Các công ty du lịch cần tận dụng tốt những cơ hội như vậy để sắp xếp chương trình và thực hiện đan xen vào những điểm du lịch khác.

                Du lịch làng nghề không chỉ đơn thuần là đến xem các nghệ nhân làng nghề làm ra sản phẩm, hay đến mua sắm, tham quan làng nghề mà khách du lịch còn mong muốn được tìm hiểu những giá trị nhân văn trong nó, những giá trị phi vật thể tồn tại hàng ngàn năm. Vì vậy, để đáp ứng được nhu cầu khách du lịch thì nên tổ chức, khôi phục lại các lễ hội làng nghề để thấy được xuất xứ làng nghề, ông tổ đã sinh ra nghề… và thấy được nét đẹp trong nghề đó. Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới khi khai thác các làng nghề hoặc lễ hội truyền thống làm sản phẩm kinh doanh du lịch là họ sử dụng hình thức “3 cùng” gần giống với mô hình “homestay”. Đó là khách du lịch “ăn cùng, ở cùng và làm cùng” với những người dân bản địa của một làng nghề truyền thống nào đó. Với hình thức này, việc kéo khách du lịch cùng hòa vào cuộc sống của người dân bản địa sẽ làm cho thời gian của một chương trình du lịch được dài hơn. Đồng thời sự hứng thú đối với khách du lịch sẽ được tăng lên khi chính họ tận hưởng thành quả do chính bàn tay mình làm ra dưới sự hướng dẫn của các nghệ nhân làng nghề.

    Một điều dễ nhận thấy là khách du lịch quốc tế đi du lịch Việt Nam thường rất thích tìm hiểu phong tục, tập quán, lối sống của con người Việt Nam, chính vì thế, những chương trình du lịch làng nghề sẽ là cách hay nhất để giới thiệu với bạn bè quốc tế về một Việt Nam đang cố gắng gìn giữ những di sản cha ông để lại và phát huy, sáng tạo nó. Khách đến tham quan làng nghề sẽ được tận mắt chứng kiến những tinh hoa mà cha ông ta để lại và được biết nhiều hơn về văn hóa, lối sống Việt Nam.

    Trong các hoạt động của du lịch có tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ ngơi và mua sắm thì việc đến thăm các làng nghề truyền thống luôn giữ một vị trí quan trọng trong chương trình du lịch, là điểm đến thú vị để du khách trong và ngoài nước có cơ hội tham quan, tìm hiểu nghề, mua sắm đồ dùng, mua hàng lưu niệm. Để đáp ứng nhu cầu của du khách, thách thức mới đặt ra đối với các nhà quản lý ngành và các cấp chính quyền địa phương là phải tạo ra sản phẩm làng nghề hấp dẫn, độc đáo mang nét đặc thù riêng nhằm thu hút ngày càng đông các đoàn khách đến địa phương mình đồng thời tạo cơ hội bán hàng tại chỗ tạo thêm công ăn việc làm cho người dân sở tại nhờ dịch vụ du lịch, góp phần tăng nguồn thu cho người dân, tăng ngân sách cho địa phương và xã hội. Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng của các cấp chính quyền ở các địa phương, nhưng nhiều năm qua mới chỉ có một số làng nghề được khai thác đưa vào các chương trình du lịch của một số doanh nghiệp lữ hành. Hơn nữa, việc khai thác này cũng còn rất khiêm tốn chưa được tổ chức một cách quy mô lớn, có hệ thống và chủ yếu mang tính tự phát từ phía các doanh nghiệp lữ hành do nhu cầu đa dạng sản phẩm du lịch cho khách trong chương trình du lịch.

                Việt Nam có tiềm năng rất to lớn về làng nghề, sản xuất làng nghề và du lịch làng nghề. Đặc biệt, có những làng nghề, phố nghề tồn tại đến cả nghìn năm tuổi. Truyền thống lịch sử về phát triển làng nghề lâu đời, làng nghề truyền thống của là nguồn “tài sản” quý giá của dân tộc ta, đất nước ta. “Tài sản” đó không chỉ mang ý nghĩa kinh tế – xã hội mà còn thể hiện nền văn minh độc đáo của dân tộc Việt Nam. Sự phát triển của các làng nghề, đặc biệt là các làng nghề truyền thống hiện nay là một xu hướng tất yếu khách quan. Dưới góc độ của du lịch, làng nghề truyền thống chính là tài nguyên du lịch nhân văn, nó đã góp phần tạo ra sự phong phú, đa dạng, có giá trị cho sản phẩm du lịch trên hai phương diện. Đó là, những điểm tham quan du lịch và các sản phẩm của làng nghề cũng chính là sản phẩm phục vụ khách du lịch. Tuy nhiên, phát triển du lịch làng nghề trong thời gian qua còn mang tính tự phát. Số làng nghề được chọn làm điểm du lịch còn hạn chế so với số lượng các làng nghề truyền thống hiện nay. Phần lớn các làng nghề được đầu tư về cơ sở hạ tầng, kỹ thuật, khả năng tổ chức, quản lý, vốn kiến thức thị trường và kỹ năng marketing ở địa phương đều thiếu và yếu. Bản thân các làng nghề thủ công truyền thống chưa thể tự điều tra, khảo sát nhu cầu khách du lịch, trong khi các tổ chức, hiệp hội làng nghề chưa khẳng định được vai trò của mình trong việc định hướng bảo tồn, phát triển du lịch làng nghề. Do vậy, để duy trì làng nghề, sản phẩm mang bản sắc văn hóa đích thực thì phải tạo môi trường tốt cho thợ thủ công, nghệ nhân sáng tạo và tôn vinh giá trị văn hóa nghề của họ… Để phát triển du lịch làng nghề, cần có sự phối hợp giữa các cơ quan, ban ngành để thực hiện khâu tổ chức tiếp thị, hướng dẫn, phát triển du lịch làng nghề.

                Hiện nay có hai mô hình làng nghề du lịch đang được đầu tư phát triển. Một là, phát huy làng nghề truyền thống trên cơ sở vốn có tồn tại từ xa xưa của địa phương. Hai là, các doanh nghiệp đầu tư xây dựng khu du lịch rồi đưa mô hình làng nghề vào đó rồi phục dựng không gian truyền thống để khai thác các giá trị sản phẩm văn hóa. Như vậy, các địa phương, tùy theo từng đặc điểm, quy hoạch của mỗi làng nghề mà lựa chọn mô hình phù hợp. Tuy nhiên, để phát triển bền vững du lịch làng nghề truyền thống, cần sự hỗ trợ đồng bộ của các cấp chính quyền, các ngành hữu quan, sự thống nhất trong các chủ trương, chính sách của Nhà nước và các giải pháp nhằm khuyến khích, hỗ trợ, tạo môi trường thuận lợi cho việc phát triển loại hình du lịch làng nghề trong hiện tại và tương lai của Việt Nam. Đây chính là hướng đi khai thác làng nghề truyền thống với phát triển du lịch cộng đồng bền vững.

                Thay cho lời kết

                Muốn gắn kết tốt hai lĩnh vực văn hóa và du lịch đòi hỏi những người làm du lịch phải được đào tạo trong một môi trường có sự gắn bó hữu cơ của văn hóa nghệ thuật, hiểu và cảm nhận được một cách sâu sắc những giá trị phi vật thể của nghệ thuật, nhận thức được sự khác nhau giữa việc tổ chức các sinh hoạt nghệ thuật với việc tổ chức biểu diễn đơn thuần, đi đến gắn nghệ thuật với du lịch theo tinh thần nâng hoạt động thưởng thức nghệ thuật lên một đẳng cấp văn hóa khác.

                Song song với việc xây dựng chương trình đào tạo giao thoa, các trường cần có những hoạt động ngoại khóa, các chương trình liên kết mà ở đó trong mỗi sự kiện đều có sự tham gia của các sinh viên của ngành nghệ thuật cũng như ngành du lịch cùng thực hiện. Việc tiếp cận khai thác các giá trị nghệ thuật trong lĩnh vực du lịch là hướng đi tất yếu của các trường văn hóa nghệ thuật và du lịch trong tương lai. Việc biến các chương trình biểu diễn thành sản phẩm du lịch là quá trình tái đầu tư đối với văn hóa nghệ thuật.

    ThS. Đoàn Mạnh Cương

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Làm Sao Để Đến Nguyễn Thị Minh Khai 55B Ở Quận 1 Bằng Xe Buýt?
  • Chia Sẻ Kinh Nghiệm Đi Làng Văn Hóa Các Dân Tộc Việt Nam
  • Khai Mạc Tuần Văn Hóa
  • Dia Chi Cong Ty Du Lich Van Hoa Viet Tour
  • Xây Dựng Thương Hiệu Du Lịch Văn Hóa Việt Nam Dựa Trên Giá Trị Di Sản Và Văn Hóa Ẩm Thực
  • Tiềm Năng Du Lịch Nhân Văn Ở Ninh Thuận

    --- Bài mới hơn ---

  • Du Lịch Nhật Bản Một Mình, Tại Sao Không?
  • 5 Lời Khuyên Cho Các Bạn Gái Khi Một Mình Du Lịch Nhật Bản
  • Du Lịch Nhật Bản Một Mình 4 Mùa Từ A Đến Z
  • Cô Gái Đà Nẵng Đi Du Lịch Nhật Bản 10 Ngày Hết 40 Triệu Đồng
  • Sim Du Lịch Nhật Bản 10 Ngày Mỗi Ngày 1Gb Unlimited
  • Trong những năm qua, du lịch Ninh Thuận đã từng bước khởi sắc.Hệ thống hạ tầng ngày càng phát triển, đã xuất hiện nhiều khách sạn, resort, khu du lịch, khu vui chơi giải trí, trong đó có khách sạn Sài Gòn – Ninh Chữ 4 sao.Nhiều công ty lữ hành đã tìm đến Ninh Thuận và liên kết các tour du lịch.

    Từ nhiều năm nay, tỉnh đã thành lập Ban chỉ đạo, tiến hành xây dựng các quy hoạch, kế hoạch dài hạn, trung hạn, ngắn hạn, xây dựng chương trình hành động phát triển du lịch, liên kết với các công ty du lịch trong và ngoài nước. Nhiều dự án phát triển du lịch đã được phê duyệt. Festival Ninh Thuận 2007 “Tiềm ẩn những sắc màu” là một thành công trong quảng bá du lịch.

    Tuy nhiên cho đến nay, Ninh Thuận vẫn là tỉnh chậm phát triển du lịch nhất trong khu vực.Những lợi thế ở Ninh Thuận vẫn nằm ở dạng “tiềm năng”, “tiềm ẩn”.Nhìn xung quanh, các địa phương tiếp giáp với Ninh Thuận đã có những bước phát triển du lịch mạnh mẽ như Nha Trang (Khánh Hoà), Đà Lạt (Lâm Đồng), Phan Thiết (Bình Thuận).

    Nhìn từ góc độ “địa du lịch”, “du lịch nhân văn”, Ninh Thuận thật sự là một vùng đất có tiềm năng.

    Về “địa du lịch”

    Nằm lọt giữa ba trung tâm du lịch lớn đang phát triển là Nha Trang, Đà Lạt, Phan Thiết với cự ly tương đối tương đồng: Cách Đà Lạt 120km, cách Nha Trang 110km, cách Phan Thiết 150km. Ninh Thuận lại nằm trên trục đường Quốc lộ IA và đường sắt Bắc – Nam, gần sân bay quốc tế Cam Ranh và phía Đông giáp biển, rất thuận lợi về giao thông trong việc phát triển du lịch.

    Đặc biệt, Ninh Thuận có bờ biển dài 105 km với những dãy núi ngang ăn sát tận biển tạo nên những vũng, vịnh rất đẹp, nắng quanh năm, những bờ bãi cát trắng tinh và nước biển luôn trong xanh. Bờ biển Ninh Thuận là sự nối dài của vũng, vịnh của bờ biển cực nam Trung bộ từ vịnh Nha Trang, Cam Ranh đến nam Bình Thuận: Vịnh Bình Tiên, Vĩnh Hy, Ninh Chữ, Phú Thọ, đồi cát Nam Cương, vịnh Cà Ná, là những vũng, vịnh đẹp mà thiên nhiên ban tặng cho Ninh Thuận. Bên cạnh những vũng vịnh đẹp, Ninh Thuận còn có rừng quốc gia Núi Chúa với nhiều loại động thực vật quý hiếm, là một tiềm năng dồi dào để phát triển du lịch trong tương lai. Có thể nói, điều kiện “địa du lịch” của Ninh Thuận là một lợi thế về phát triển du lịch ít có địa phương nào có được.

    Múa Chăm Về du lịch nhân văn

    So với các địa phương có các di tích Tháp Chăm, duy nhất chỉ có ở Ninh Thuận là nơi các Tháp Chăm “còn sống”.Bởi ở những tháp Chăm nơi đây còn gắn với lễ hội của vùng người Chăm cư trú đông nhất nước. Đặc biệt, ba cụm tháp Chăm ở Ninh Thuận là nơi mà người Chăm vẫn cúng tế định kỳ hằng năm, trong đó, cụm tháp Pô Klongirai và cụm tháp Pô Rome là những quần thể kiến trúc gạch hầu như còn nguyên vẹn. Tháp Hòa Lai là một trong những phong cách được các nhà nghiên cứu đặt cho tên gọi về nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc đền tháp Chăm: “phong cách Hòa Lai”.

    Nghệ thuật điêu khắc Chăm gắn liền với những công trình kiến trúc, phục vụ cho các chức năng của mỗi công trình kiến trúc, hoặc là các tượng thờ, phù điêu, các hoa văn chạm khắc trang trí.Bên cạnh các di tích đền tháp, người Chăm ở đây còn có di sản du lịch nhân văn rất quý giá, đó là làng nghề gốm và làng nghề dệt cổ truyền. Nếu như làng nghề gốm cổ truyền Bầu Trúc còn giữ được phương pháp thủ công có lịch sử hàng nghìn năm nay với những sản phẩm gốm thô, nung lộ thiên nên độ chín chưa cao thì sản phẩm thổ cẩm của làng dệt Mỹ Nghiệp lại thể hiện những hoa văn truyền thống gắn với tín ngưỡng Chăm có sắc màu rực rỡ.

    Bên cạnh những giá trị văn hóa vật thể, một tiềm năng hấp dẫn khách du lịch là nghệ thuật ca múa nhạc dân gian Chăm và hệ thống lễ hội Chăm.

    Lễ hội Chăm thực sự là tiềm năng du lịch nhân văn nhưng chúng ta chưa khai thác hết hiệu quả của nó. Người Chăm quanh năm có hàng trăm lễ hội lớn nhỏ, trong đó nổi bật nhất là lễ hội Ka tê và lễ hội Ramưvan.

    Văn hóa của người Kinh ở Ninh Thuận là sự nối tiếp văn hóa của các tỉnh Nam Trung bộ.Hàng chục đình, đền, chùa của người Kinh đã được Bộ VHTTDL xếp hạng di tích quốc gia. Bên cạnh những di tích tín ngưỡng tôn giáo, còn có các di tích cách mạng gắn với lịch sử kháng chiến hào hùng của quân và dân Ninh Thuận như bẫy đá Pi Năng Tắc, núi Cà Đú, đình Vạn Phước, các hang động vừa đẹp vừa ghi dấu tích của các cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Nếu biết khai thác, đây cũng là những điểm mà du lịch nhân văn hướng tới.

    Văn hóa Raglai cũng là một trong những tiềm năng du lịch nhân văn ở Ninh Thuận.Văn hóa Raglai gắn với du lịch núi, du lịch sinh thái với hệ thống suối nước nóng Ninh Sơn, hệ thống hồ thủy lợi nhân tạo, đặc biệt là có khu bảo tồn quốc gia Núi Chúa với hàng nghìn loài sinh, thực vật quý hiếm. Bên cạnh kho tàng ca múa nhạc với những nét riêng khá đặc sắc như văn hóa cồng chiêng (mã la), khèn bầu, người Raglai ở Ninh Thuận còn có kho tàng sử thi, lễ hội khá phong phú mà các nhà hoạt động du lịch chưa để mắt đến.

    Vịnh Vĩnh Hy – ảnh tư liệu Đôi điều suy nghĩ về việc khai thác du lịch nhân văn ở Ninh Thuận

    Nhìn toàn cảnh, Ninh Thuận rất có nhiều lợi thế về du lịch.Những người làm du lịch ở đây cần có sự kết hợp giữa lợi thế “địa du lịch” với du lịch nhân văn.

    Một sự phối hợp đầu tiên mà tôi muốn đề xuất với các khách sạn, các tour du lịch là có nên thường xuyên có những đêm diễn của đoàn Nghệ thuật dân gian Chăm cho khách du lịch không? Thường thì các khách sạn khi làm hợp đồng với đoàn Nghệ thuật dân gian Chăm, cả hai bên đều phải cân nhắc về vấn đề kinh phí. Phía khách sạn phải tính toán đầu ra đầu vào sao cho không lỗ vốn, phía đoàn nghệ thuật cũng phải tính toán làm sao đủ chi phí xăng xe vận chuyển, khấu hao âm thanh ánh sáng và tiền bồi dưỡng diễn viên. Trong đó, chi phí vận chuyển và chi phí âm thanh ánh sáng chiếm tỷ lệ khá cao (vì Đoàn Chăm chưa có xe, phải đi thuê) nên đội giá lên cao. Nên chăng các khách sạn có sẵn sân khấu, âm thanh ánh sáng, các diễn viên chỉ cần đi xe máy cá nhân đến biểu diễn những chương trình gọn nhẹ theo kiểu chạy show. Nếu làm như vậy, một đêm diễn viên đoàn Chăm có thể biểu diễn 2 đến 3 điểm vì hầu hết các nhà hàng, khách sạn của chúng ta đều gần nhau. Làm như vậy, không chỉ thu hút diễn viên chuyên nghiệp của Đoàn Chăm mà có thể thu hút một số nghệ nhân ở các làng Chăm (như kiểu của khu di tích Mỹ Sơn, thuê nghệ nhân từ Ninh Thuận ra làm nòng cốt cho đội nghệ thuật Mỹ Sơn và biểu diễn thường xuyên cho khách).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mở Bán Nhà Vườn Long Phước Quận 9
  • Dịu Dàng Không Gian Nhà Vườn Ở Huế
  • Du Lịch Nhà Vườn Ý Thảo Ở Huế
  • Ẩm Thực Nhà Vườn Ở Huế
  • Dự Án Nhà Vườn Lớn Nhất
  • Yến Xuân Ở Việt Nam, Văn Lâm Du Lịch Một Mình

    --- Bài mới hơn ---

  • Phú Yên Là Một Trong 8 Điểm Đến Lý Tưởng Để Du Lịch Một Mình Ở Việt Nam
  • Những Điều Cần Lưu Ý Cho Chuyến Du Lịch Đà Nẵng Một Mình
  • Hà Nội Được Bình Chọn Là Điểm Đến Lý Tưởng Cho Những Người Thích Đi Du Lịch Một Mình
  • Gợi Ý Những Điểm Đến ‘siêu Hot’ Tại Việt Nam Dành Cho Những Ai Thích Du Lịch Một Mình
  • 10 Địa Điểm Du Lịch Ở Mù Cang Chải Không Nên Bỏ Qua
  • Thủ môn số 1 Việt Nam không thể cùng bạn gái tận hưởng khoảng nghỉ giữa tháng 6. Đặng Văn Lâm đi du lịch một mình ở Thái Lan, còn Yến Xuân ở chúng tôi làm việc.

    Sau khi tiến hành kiểm tra sức khỏe định kỳ hôm 13/6 ở CLB Muangthong United, thủ môn Văn Lâm tranh thủ đi nghỉ mát. Địa điểm anh chọn là hòn đảo Koh Samui ở miền nam Thái Lan.

    Văn Lâm thường tranh thủ đi du lịch khi rảnh (ảnh) nhưng lần này không có bạn gái Yến Xuân.

    Trước khi đi chơi, thủ thành Việt kiều còn đưa ra câu hỏi cho fan của mình là Lâm sẽ đi đâu. Hàng loạt câu trả lời trong hộp thư của tuyển thủ sinh năm 1993, trong đó có đáp án đi biển. Kèm theo là nhiều câu trả lời như “về Việt Nam”.

    Ngay sau đó, Văn Lâm check-in ở sân bay Suvarnabhumi và bay đến sân bay nội địa Samui trên hòn đảo cùng tên. Đây là đảo lớn thứ ba của Thái Lan với diện tích 228,7 km2 và dân số trên 50.000 người. Đảo đón khoảng 1,5 triệu lượt du khách mỗi năm.

    Hành trình của anh luôn được cập nhật trên trang cá nhân. Lâm “Tây” muốn chia sẻ với mọi người khi anh đang ở Thái Lan tập luyện mà chưa được thi đấu do ảnh hưởng của dịch Covid-19. Các chuyến bay quốc tế bị hạn chế.

    Đây cũng là lý do mà thủ môn mang hai quốc tịch Việt – Nga đi chơi mà không có bạn gái Yến Xuân. Thông thường, bộ đôi này sẽ sát cánh bên nhau trong các kỳ nghỉ ngắn ngày. Lâm còn từng đưa Xuân đi chơi cùng gia đình ở Nga và Thái Lan.

    Vì không có chuyến bay từ chúng tôi sang Thái Lan nên cô nàng sinh năm 1991 đành ở lại trong nước. Hàng ngày, Yến Xuân tiếp tục công việc là một hướng dẫn viên thể hình trực tuyến. Cô thường thông báo nhận học viên trong mùa dịch.

    Đó cũng là giai đoạn bận rộn với cá nhân nàng WAGs của thủ môn tuyển Việt Nam. Yến Xuân vẫn hay khoe thành tích khi học viên của mình đạt được những số đo mong ước hay giảm cân thành công. Bản thân cô cũng tập trung tập luyện để giữ dáng.

    Yến Xuân cho biết: “Tôi đang bận rộn với công việc của hướng dẫn viên thể hình trong thời gian này”. Từ khi công khai hẹn hò, cô trở nên kín tiếng hơn.

    Yến Xuân thường sang Thái Lan thăm người yêu khi Văn Lâm chuyển đến Muangthong United từ đầu năm 2022. Dịch Covid-19 xảy ra khiến cả hai không còn nhiều thời gian bên nhau. Nếu Lâm trở về, anh phải cách ly 14 ngày theo quy định.

    Văn Lâm sẽ trở lại đội bóng sau kỳ nghỉ ngắn ngày. Anh đã giao lại con chó nhỏ yêu thích của Yến Xuân cho đồng đội chăm sóc. Do không thi đấu và chỉ tập chay nên cơ thể Văn Lâm không còn lực lưỡng như trước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cẩm Nang Du Lịch Một Mình Vi Vu Thái Lan Trọn Vẹn
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Thái Lan Tự Túc Một Mình 2022
  • Năm Lý Do Hàng Đầu Để Đi Du Lịch Một Mình Ở Thái Lan 2022
  • Một Ngày Lang Thang Ở Singapore
  • Hướng Dẫn Kinh Nghiệm Du Lịch Singapore Một Mình
  • Phát Triển Du Lịch Văn Hóa Thành Ngành Công Nghiệp Văn Hóa Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Hàn Quốc Phát Triển Ngành Du Lịch Công Nghiệp Ở Việt Nam
  • Ngành Công Nghiệp Casino Ở Việt Nam Còn Nhiều Thách Thức
  • Ngành Du Lịch Đã Chuẩn Bị Tốt Nhất Để Phục Vụ Nhân Dân
  • Công Bố Biểu Trưng Của Ngành Du Lịch Bến Tre
  • Khai Thác Tài Nguyên Bản Địa Làm Du Lịch
  • Du lịch văn hóa là một trong những hình thức căn bản của du lịch, là loại hình du lịch khai thác các giá trị văn hóa tạo thành sản phẩm du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu của du khách, mang lại lợi ích kinh tế – xã hội cho quốc gia, đồng thời góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị của di sản văn hóa Việt Nam trong thời hội nhập. Hơn thế, các giá trị của di sản văn hóa Việt Nam không chỉ tạo nên sự hấp dẫn, sự khác biệt trong sản phẩm du lịch, mà còn là nguồn lực, là sức mạnh mềm cho phát triển bền vững và quảng bá thương hiệu quốc gia. Việc phát triển du lịch văn hóa thành một ngành công nghiệp văn hóa là phù hợp với tiềm năng, thế mạnh, chiến lược và kiến tạo cho sự phát triển của các ngành công nghiệp văn hóa khác ở nước ta hiện nay. Bài viết nhằm diễn giải và bàn luận về phát triển du lịch văn hóa ở Việt Nam thành ngành công nghiệp văn hóa.

    1. Du lịch văn hóa

    Du lịch văn hóa là một trong hai hình thức quan trọng nhất của ngành du lịch, đó là du lịch tự nhiên và du lịch văn hóa. Từ lâu, du lịch văn hóa đã được nhiều tác giả và tổ chức quan tâm kiến giải. Du lịch văn hóa là hình thức du lịch phát triển dựa trên các giá trị văn hóa, đó là việc khai thác các giá trị của di sản văn hóa tạo các thành sản phẩm du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu của du khách, đồng thời mang lại lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội và góp phần bảo tồn văn hóa. Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) định nghĩa: “Du lịch văn hóa bao gồm hoạt động của những người với động cơ chủ yếu là nghiên cứu, khám phá về văn hóa như các chương trình nghiên cứu, tìm hiểu về nghệ thuật biểu diễn, về các lễ hội và các sự kiện văn hóa khác nhau, thăm các di tích và đền đài, du lịch nghiên cứu thiên nhiên, văn hóa hoặc nghệ thuật dân gian và hành hương”. Luật Du lịch giải thích: “Du lịch văn hóa là loại hình du lịch được phát triển trên cơ sở khai thác các giá trị văn hóa, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống, tôn vinh những giá trị văn hóa mới của nhân loại”. Theo Nguyễn Phạm Hùng: “Du lịch văn hóa là hoạt động đa dạng của du khách rời khỏi nơi cư trú của mình trong một không gian và thời gian nhất định, nhằm thưởng thức, trải nghiệm, khám phá những điều mới lạ và khác biệt về văn hóa. Du lịch văn hóa là toàn bộ các dịch vụ du lịch do con người tạo ra, các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên văn hóa nhằm tạo ra sản phẩm du lịch mới lạ và khác biệt phục vụ nhu cầu thưởng, trải nghiệm, khám phá của du khách trong một không gian và thời gian nhất định”. Trần Thúy Anh (chủ biên), Du lịch văn hóa những vấn đề lý luận và nghiệp vụ, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2014, tr. 7.

    . Lê Hồng Lý (chủ biên), Quản lý di sản văn hóa với phát triển du lịch, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2010, tr. 24.

    . Dương Văn Sáu, Văn hóa du lịch, Nxb Lao động, Hà Nội, 2022, tr. 41.

    . Đặng Hoài Thu và Phạm Bích Huyền, Các ngành công nghiệp văn hóa, Nxb Lao động, Hà Nội, 2012, tr. 9.

    . Hà Giang, Nhà hát múa rối Thăng Long, sáng tạo là mệnh lệnh sống còn, chúng tôi ngày 15/8/2020.

    . Đinh Thị Vân Chi, Nhu cầu trong của du khách trong quá trình du lịch, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2004.

    . Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030, Hà Nội, 2022.

    [14]. Phạm Hồng Thái (chủ biên), Sự phát triển của công nghiệp văn hóa ở Nhật Bản và Hàn Quốc, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2022.

    Bài viết và hình ảnh: TS. Nguyễn Văn Bốn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Check In Là Gì? Tất Cả Những Khái Niệm Cần Biết Về Check In
  • Những Điều Thú Vị Bạn Nên Biết Khi Đi Du Lịch Singapore
  • 10+ Những Sản Phẩm Đặc Sắc Khi Đi Du Lịch Singapore Bạn Nên Mua?
  • 14 Món Quà Khi Đi Du Lịch Singapore Nên Mua
  • Chọn Mua Máy Ảnh Du Lịch Nên Chọn Mua Hãng Nào Tốt Nhất?
  • Việt Nam Văn Hóa Và Du Lịch

    --- Bài mới hơn ---

  • Phim Sakura Và Chuyến Du Lịch Hongkong (Movie) Phần 1 Full
  • Kỹ Năng Sale Tour Trong Du Lịch
  • Chia Sẻ Kỹ Năng Sale Tour Du Lịch Cho Bạn
  • Kỹ Năng Và Quy Trình Sale Tour Du Lịch Giúp Tăng Đơn Hàng
  • Sản Phẩm Du Lịch Là Gì? Thành Phần Cơ Bản Của Sản Phẩm Du Lịch
  • Việt Nam là cửa ngõ thông ra vùng Đông Nam Á. Việt Nam là một quốc gia có hàng ngàn năm văn hiến với bao danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, văn hoá rộng khắp đất nước. Cha ông ta đã để lại trên nước non này biết bao thành quách, đền đài, chùa chiền, miếu mạo…, lớp nọ nối tiếp lớp kia. Cả đất nước là một bảo tàng lịch sử, văn hoá của 54 dân tộc cùng chung lưng đấu cật xây dựng nên đất nước này.

    Việt Nam, đất nước giầu tiềm năng du lịch. Ngày nay trong xu thế hội nhập toàn cầu hoá kinh tế, chúng ta đang từng bước hội nhập với khu vực và thế giới trên nhiều lĩnh vực, trong đó du lịch với tư cách là một ngành công nghiệp xanh đóng vai trò hết sức quan trọng. Nó vừa là một ngành kinh tế mũi nhọn, vừa đảm đương chức nang thông tin, tuyên truyền, trong mối quan hệ giao lưu văn hoá.

    Để góp phần quảng bá nền văn hoá và tiềm năng du lich Việt Nam, Nhà xuất bản Thông tấn cho ra mắt bạn đọc cuốn sách Việt Nam Văn hoá du lịch của soạn giả Trần Mạnh Thường. Với non một nghìn trang sách, từ nhiều nguồn tư liệu phong phú, soạn giả gới thiệu với bạn đọc một bức tranh toàn cảnh về nền văn hoá đa dạng và lâu đời của dân tộc Việt Nam từ địa lý, danh am thắng cảnh, di tích lịch sử văn hoá đến lễ hội, phong tục, tập quán…của 64 tỉnh thành trên cả nước. Hy vọng cuốn sách sẽ là một cẩm nang quý cho bạn đọc trong và ngoài nước muốn tìm hiểu về văn hoá và du lịch Việt Nam.

    Báo chí giới thiệu

    Việt Nam văn hóa & du lịch

    Quyển sách thực hiện rất công phu với gần 1.000 trang tư liệu và 96 trang hình ảnh giới thiệu toàn cảnh về Việt Nam Đất nước – Lịch sử – Con người. Có thể tìm thấy ở đây những hiểu biết bao quát về địa lý – lịch sử, trong đó ghi nhận những cột mốc đáng nhớ trong cả lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt, từ những truyền thuyết đến thời đương đại.

    Cũng có thể thấy rõ chân dung của 54 dân tộc đang sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam từ thời dựng nước đến nay, với ngôn ngữ, chữ viết, văn học, mỹ thuật, kiến trúc, nghề thủ công, âm nhạc truyền thống gồm cả âm nhạc dân gian và âm nhạc có tính chuyên nghiệp cao. Các mặt sinh hoạt văn hóa – tinh thần cũng được giới thiệu kỹ qua những lễ nghi tôn giáo, những phong tục tập quán lâu đời, cách ăn và cách mặc, cộng với những lễ hội để hợp lại thành diện mạo riêng của người Việt trong xã hội rộng lớn của loài người.

    Phần hai của tập sách dành giới thiệu chi tiết từng địa phương của 64 tỉnh thành trên cả nước. Đó là những danh lam thắng cảnh, những lễ hội hằng năm với những đặc trưng từng vùng miền bộc lộ sự phong phú trong đời sống của cộng đồng người Việt đa dạng nhưng hòa hợp và bổ sung cho nhau trong tiến trình giao thoa văn hóa và khẳng định bản sắc của từng dân tộc, từng địa phương, cũng như của cả dân tộc Việt Nam.

    Sách có ích không chỉ cho khách du lịch bên ngoài muốn tìm hiểu về Việt Nam mà còn có ích cho cả người Việt Nam khi muốn thưởng thức những tinh hoa của chính dân tộc mình.

    Sách do Trần Mạnh Thường biên soạn, Nguyễn Minh Tiến hiệu đính, NXB Thông Tấn và Công ty Văn hóa Hương Trang ấn hành, 2005.

    T.Đ (Thanh Nien 06/10/2005)

    Việt Nam Văn Hóa Và Du Lịch

    Quyển sách thực hiện rất công phu với gần 1.000 trang tư liệu và 96 trang hình ảnh giới thiệu toàn cảnh về Việt Nam Đất nước – Lịch sử – Con người. Có thể tìm thấy ở đây những hiểu biết bao quát về địa lý – lịch sử, trong đó ghi nhận những cột mốc đáng nhớ trong cả lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt, từ những truyền thuyết đến thời đương đại.

    Cũng có thể thấy rõ chân dung của 54 dân tộc đang sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam từ thời dựng nước đến nay, với ngôn ngữ, chữ viết, văn học, mỹ thuật, kiến trúc, nghề thủ công, âm nhạc truyền thống gồm cả âm nhạc dân gian và âm nhạc có tính chuyên nghiệp cao. Các mặt sinh hoạt văn hóa – tinh thần cũng được giới thiệu kỹ qua những lễ nghi tôn giáo, những phong tục tập quán lâu đời, cách ăn và cách mặc, cộng với những lễ hội để hợp lại thành diện mạo riêng của người Việt trong xã hội rộng lớn của loài người.

    Phần hai của tập sách dành giới thiệu chi tiết từng địa phương của 64 tỉnh thành trên cả nước. Đó là những danh lam thắng cảnh, những lễ hội hằng năm với những đặc trưng từng vùng miền bộc lộ sự phong phú trong đời sống của cộng đồng người Việt đa dạng nhưng hòa hợp và bổ sung cho nhau trong tiến trình giao thoa văn hóa và khẳng định bản sắc của từng dân tộc, từng địa phương, cũng như của cả dân tộc Việt Nam.

    Sách có ích không chỉ cho khách du lịch bên ngoài muốn tìm hiểu về Việt Nam mà còn có ích cho cả người Việt Nam khi muốn thưởng thức những tinh hoa của chính dân tộc mình.

    Sách do Trần Mạnh Thường biên soạn, Nguyễn Minh Tiến hiệu đính, NXB Thông Tấn và Công ty Văn hóa Hương Trang ấn hành, 2005.

    Theo Báo Thanh Niên 06/10/2005 T.Đ

    Không Phải Lỗi Của Con…

    Hạt Giống Tâm Hồn – Hạnh Phúc Không Khó Tìm (Tập 2)

    (Thứ Bảy, 17/03/2007)

    Xác định những điều thật sự quan trọng “Hạnh phúc là ý thức vươn tới những thành quả nói lên giá trị mà bản thân mỗi người muốn theo đuổi.”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cẩm Nang Hướng Dẫn Du Lịch Việt Nam Sách Online Uy Tín Giá Rẻ Hà Nội
  • Sách Hướng Dẫn Du Lịch Nhật Bản Đầu Tiên Dành Riêng Cho Người Việt Nam
  • Cuốn Sách Hướng Dẫn Du Lịch Nhật Bản Dành Cho Người Việt
  • Lào Đi Du Lịch Hướng Dẫn Miễn Phí Tải Về
  • Hàn Quốc Đi Du Lịch Hướng Dẫn Miễn Phí Tải Về
  • Việt Nam Học (Văn Hóa Du Lịch)

    --- Bài mới hơn ---

  • Ngành Việt Nam Học (Hướng Dẫn Viên Du Lịch)
  • ¬ Ngành Việt Nam Học (Chuyên Ngành Văn Hóa Du Lịch)
  • Nghỉ Hè Nên Đi Du Lịch Ở Đâu
  • Mua Việt Nam Văn Hóa Và Du Lịch
  • 3N2Đ Ở Vinpearl Phú Quốc Ocean Resort & Villas + Vé Máy Bay + Buffet 6 Bữa + Vinpearl Land + Safari Chỉ 5.350.000 Đồng
  • Bậc đại học – Mã ngành: 7310630A

    Loại hình đào tạo: Chính quy.

    1. Giới thiệu tóm tắt về chương trình: Việt Nam học (Văn hóa Du lịch) đào tạo Việt Nam học theo hướng ứng dụng.

    3. Cơ hội tìm kiếm việc làm và phát triển nghề nghiệp

    Với hướng ứng dụng vàcách tiếp cận đa mục tiêu,sinh viên tốt nghiệp cử nhân Việt Nam học (Văn hóa Du lịch)hướng đến 2 vị trí việc làm cơ bản là cán bộ văn hóa và hướng dẫn viên du lịch. Các vị trí việc làm cụ thể:

    – Các trung tâm nghiên cứu và đào tạo Việt Nam học;

    – Các cơ quan, tổ chức, đoàn thể xã hội về văn hoá, giáo dục như Ủy ban nhân dân, Sở, Phòng, Ban văn hóa; cán bộ văn xã ở xã/phường/thị trấn,…;

    – Các hoạt động hướng dẫn du lịch tại doanh nghiệp lữ hành, đại lý lữ hành, điểm tham quan du lịch.

    Tốt nghiệp chương trình đào tạo Việt Nam học theo hướng Văn hóa Du lịch, người học có đủ khả năng tiếp tục học tập và nghiên cứu chuyên môn ở trình độ thạc sĩ, tiến sĩ thuộc các chuyên ngành: Việt Nam học, Văn hóa học, Đông phương học…

    4. Điểm ưu trội của Chương trình đào tạo

    – Sinh viên ra trường có thể lựa chọn làm cán bộ văn hóa hoặc làm hướng dẫn viên du lịch, đặc biệt là du lịch văn hóa, lịch sử, tâm linh, sinh thái,…

    – Nhà trường có đầy đủ giảng viên cơ hữu tham gia đào tạo cả các modul kiến thức văn hóa lẫn kiến thức du lịch.

    5. Một số hình ảnh hoạt động của sinh viên Việt Nam học – Khoa KHXH & NV

    Sinh viên Văn hóa Du lịch đi điền dã học phần Hán Nôm ở chùa Linh Phước

    Sinh viên Văn hóa Du lịch đi Thực tế bộ môn ở Đà Lạt

    Sinh viên Văn hóa Du lịch tổ chức hoạt động thiện nguyện ở mái ấm tình thương Nha Trang

    Thực tập hướng dẫn viên du lịch

    TS. Trần Viết Thiện – Trưởng khoa, tập huấn về Văn hóa Du lịch

    cho nhân viên Champa Island Nha Trang

    Lưu ý:

    – Thí sinh có nhu cầu tìm hiểu thông tin cụ thể hơn liên hệ cô Bé – cán bộ tư vấn tuyển sinh của Khoa: 0982 828 909; Hoặc thầy Thiện – Trưởng khoa: 0982 053 058.

    Ban Tư vấn tuyển sinh Khoa KHXH&NV

    --- Bài cũ hơn ---

  • Canada Và Việt Nam Có Tiềm Năng Rất Lớn Để Hợp Tác Phát Triển Du Lịch
  • Việt Nam Có Mấy Vùng Kinh Tế Trọng Điểm?
  • Dịch Vụ Làm Visa Hà Lan Trọn Gói Tại Hà Nội Và Hồ Chí Minh
  • Hướng Dẫn Khai Tờ Khai Xin Visa Hungary
  • Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch Triển Khai Công Tác Năm 2013
  • Lễ Hội Dân Gian Với Du Lịch Văn Hóa Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Phát Triển Vùng Du Lịch Văn Hóa Sinh Thái Khu Vực Tây Nguyên
  • Khám Phá Nền Văn Hóa Đặc Sắc Của Thái Lan
  • 9 Điều Thú Vị Trong Văn Hóa Thái Lan Mà Ít Người Biết
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Vân Nam
  • Du Lịch Trung Quốc Tự Túc: Du Ngoạn Vân Nam Trong 10 Ngày (Phần 1)
  • Vừa qua, tại thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, UBND tỉnh Phú Yên phối hợp với Viện Nghiên cứu phát triển Phương Ðông, Ðại học quốc gia Văn hóa nghệ thuật Moscow (Cộng hòa Liên bang Nga); Ðại học Văn hóa TP Hồ Chí Minh tổ chức Hội thảo “Văn hóa với Du lịch trong thế giới hội nhập”. Nhằm cung cấp thêm thông tin giúp các nhà quản lý, các doanh nghiệp du lịch tiếp cận đa chiều để xây dựng sản phẩm phù hợp, đẩy mạnh phát triển du lịch trong thế giới hội nhập, Báo Du lịch trích đăng các tham luận từ số 10 năm 2022. Khái quát về du lịch văn hóa

    Có thể hiểu, du lịch văn hóa là một loại du lịch mà mục đích chính là nâng cao hiểu biết cho cá nhân các giá trị văn hóa nhân văn khi họ trải nghiệm ở những vùng đất mới, cộng đồng mới…

    – Du lịch tìm hiểu bản sắc văn hóa: khách đi tìm hiểu các nền văn hóa là chủ yếu mục đích chuyến đi mang tính chất khảo cứu, nghiên cứu. Đối tượng khách chủ yếu là các nhà nghiên cứu, học sinh, sinh viên – đó là các chương trình du lịch dã ngoại đến các làng dân tộc ít người thuộc các tỉnh Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu,… để khách tìm hiểu phong tục tập quán, lối sống văn hóa của các dân tộc đó. Khách sẽ đi bộ khi tham quan các bản làng và thường nghỉ qua đêm tại các bản làng đó.

    – Du lịch tham quan văn hóa: Đây là loại hình du lịch phổ biến nhất. Du khách thường kết hợp giữa tham quan với nghiên cứu tìm hiểu văn hóa trong một chuyến đi. Đối tượng tham gia vào loại hình du lịch này rất phong phú, bên cạnh những khách vừa kết hợp đi để tham quan, vừa để nghiên cứu còn có những khách chỉ để chiêm ngưỡng để biết, để thỏa mãn sự tò mò,… Do vậy, trong một chuyến du lịch, du khách thường đi đến nhiều điểm du lịch, trong đó vừa có những điểm du lịch văn hóa, vừa có những điểm du lịch núi, du lịch biển, du lịch dã ngoại… Đối tượng khách là những người ưa mạo hiểm, thích tìm cảm giác mới và chủ yếu là những người trẻ tuổi.

    – Du lịch kết hợp giữa tham quan văn hóa với các mục đích khác: mục đích chính của khách là trong chuyến đi nhằm thực hiện công tác hoặc nghề nghiệp nào đó và có kết hợp với tham quan văn hóa. Đối tượng của loại hình này là những người đi tham dự hội nghị, hội thảo, kỷ niệm những ngày lễ lớn, các cuộc triển lãm. Loại khách này đòi hỏi trình độ phục vụ hiện đại, phong phú, có chất lượng cao, quy trình phục vụ đồng bộ, chính xác, họ có khả năng thanh toán cao nhưng nói chung thời gian dành cho du lịch của họ rất ít. Thể loại du lịch cụ thể của loại hình du lịch này là du lịch công vụ.

    – Yếu tố thời vụ du lịch: so với các loại hình du lịch khác, du lịch văn hóa mang tính đại chúng. Tuy có chịu ảnh hưởng tính thời vụ nhưng không phụ thuộc hoàn toàn. Những đặc điểm này thể hiện rất rõ ở loại hình du lịch lễ hội. Đồng thời mức độ chênh lệch cung cầu của du lịch văn hóa thường không lớn.

    – Các yếu tố nhân khẩu học:

    + Yếu tố giới tính: Có tác động đến động cơ đi du lịch và động cơ đi du lịch văn hóa là một trong những nguyên nhân chủ yếu của nam giới vì đối với họ ít chịu sự ràng buộc của gia đình, thường có trình độ học vấn cao, có địa vị xã hội,…

    + Yếu tố độ tuổi: Tham gia vào các chuyến du lịch văn hóa chủ yếu vẫn là những khách du lịch cao tuổi và thanh niên. Đối với khách cao tuổi họ thường quan tâm nhiều đến chất lượng phục vụ, còn với khách du lịch thanh niên có xu hướng đòi hỏi tính mới mẻ, đa dạng trong dịch vụ du lịch, họ có khả năng thanh toán thấp, ít có kinh nghiệm trong đi du lịch, họ thường quan tâm đến giá cả nhưng ít quan tâm đến yêu cầu về chất lượng dịch vụ. Khách du lịch thanh niên thường tham gia vào các chuyến du lịch dã ngoại, săn bắn mạo hiểm, tham quan văn hóa,… Đối với những khách trung niên thường là những người có địa vị xã hội có khả năng thanh toán cao, có sự tự chủ lớn trong khi đi du lịch. Họ quan tâm nhiều đến chất lượng phục vụ,… họ thường kết hợp giữa đi công tác với đi du lịch.

    + Yếu tố trình độ học vấn: Những người có trình độ học vấn cao là loại khách được các nhà kinh doanh du lịch quan tâm nhiều vì những nhà học vấn cao thường thường là những người có địa vị xã hội cao, thu nhập cao, trình độ văn hóa cao nên có nhu cầu mở rộng sự hiểu biết tìm hiểu thế giới xung quanh cao hay có thể nói họ có động cơ văn hóa cao trong nhu cầu đi du lịch.

    Tác động của lễ hội dân gian đến du lịch văn hóa

    Lễ hội dân gian và du lịch văn hóa luôn luôn có sự tác động qua lại với nhau và cùng nhau phát triển làm hoàn thiện hơn ngành Du lịch. Trước hết, hoạt động du lịch văn hóa có nhiều tác động tích cực đối với lễ hội. Du lịch văn hóa có những đặc trưng riêng làm cải biến hay làm hấp dẫn hơn lễ hội dân gian truyền thống. Du lịch mang đến nguồn lợi kinh tế và các loại hình sinh kế mới có khả năng tạo ra thu nhập cao cho các địa phương có lễ hội. Du lịch văn hóa nói riêng, du lịch nói chung tạo việc làm cho người dân địa phương thông qua dịch vụ như: Vận chuyển khách, bán hàng hoá, đồ lưu niệm,… Nhân dân vùng có lễ hội vừa quảng bá hình ảnh văn hóa về đời sống mọi mặt của địa phương mình, vừa có dịp giao lưu văn hóa được du khách mang đến….

    Việt Nam có 54 dân tộc cùng sinh sống qua hàng nghìn năm lịch sử với những giá trị, bản sắc văn hóa riêng. Đó chính là tài sản quan trọng và rất tiềm năng để Việt Nam có thể thúc đẩy phát triển loại hình du lịch văn hóa. Tuy nhiên, để phát triển du lịch văn hóa thành công, ít để lại những hệ lụy mà do tác động tiêu cực từ hoạt động du lịch của du khách để lại, Nhà nước Việt Nam cần xây dựng hoàn chỉnh những thể chế chính sách phù hợp, có hướng dẫn đồng bộ, nâng cao ý thức trách nhiệm của các cấp, các ngành, nhân dân và du khách, trong đó, đặc biệt lưu tâm là hệ thống pháp luật và hành lang pháp lý khác.

    LÊ THỊ VƯƠNG NGUYỆT – Giảng viên Trường Đại học Văn hóa chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Nét Văn Hóa Độc Đáo Ở Nha Trang Khánh Hòa
  • Văn Hóa Ở Nha Trang
  • Du Lịch Vân Hồ Sơn La
  • Review Kinh Nghiệm Du Lịch Vân Đồn Quảng Ninh Tự Túc Từ A Đến Z
  • Du Lịch Vân Đồn Quan Lạn
  • Nền Kinh Tế Du Lịch Việt Nam – Văn Hóa Du Lịch Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Kinh Tế Số Đóng Vai Trò Quan Trọng Trong Phát Triển Du Lịch
  • Nét Văn Hóa Độc Đáo Của Ngư Dân Vùng Ven Gò Công
  • Tour Cần Giờ Vàm Sát 1 Ngày Giá Rẻ 750.000Đ
  • Tây Bắc, Du Lich Tay Bac
  • Tour Quan Lạn 2 Ngày 1 Đêm Du Lịch Từ Hà Nội Tốt Nhất 2022
  • Nền kinh tế du lịch Việt Nam hiện nay đang chịu khá nhiều ảnh hưởng nặng nề từ bão lũ, và dịch bệnh. Trước tình hình hiện nay thì nước ta đang có dấu hiệu hồi phục và phát triển trở lại sau những biến cố

    1. Kinh tế du lịch – chìa khóa phát triển nền kinh tế rộng mở

       1. Ngành kinh tế du lịch là gì?

    Kinh tế du lịch – chìa khóa phát triển nền kinh tế rộng mở

    Ngành kinh tế du lịch trong những năm mới đây đang ngày càng phát triển bởi những tiềm năng được khai thác triệt để và có đạt kết quả tốt. Kinh tế du lịch được rất nhiều các những người có chuyên môn kinh tế đưa rõ ra khái niệm nhưng có một định nghĩa khá rõ ràng về ngành kinh tế du lịch.

    Kinh tế du lịch là một loại hình kinh tế có tình đặc thù riêng biệt của dịch vụ và được xem là ngành công nghiệp không khói. DDây là ngành kinh tế có vai trò khai thác các tài nguyên sẵn có của thiên nhiên nhằm thu hút khách du lịch trong và ngoài nước tới tham quan.

    Ngành kinh tế du lịch bao gồm 2 loại:

    • Du lịch trong nước: Là loại hình tổ chức và khai thác các địa điểm thăm quan, du lịch dành cho khách du lịch nội địa hoặc những khách du lịch tới thăm quan tại đất nước đó.

    • Du lịch quốc tế: Là loại hình du lịch mà khách du lịch của quốc gia nội tại có nhu cầu và thực hiện tham quan du lịch tại các đất nước khác.

       2. Đặc điểm của ngành kinh tế du lịch – nền kinh tế du lịch Việt Nam

    Đặc điểm của ngành kinh tế du lịch có những đặc điểm du lịch sau:

    • Tính tổng hợp, liên ngành: ngành kinh tế du lịch hay bất kỳ một ngành nào thuộc cơ cấu nền kinh tế của một đất nước đều có mối liên hệ khắn khít và không thể tách rời khỏi nhau. Ngành kinh tế du lịch cần phải mang tính tổng hợp và gắn kết với các lĩnh vực khác như giao thông, nông nghiệp, công nghiệp, tài nguyên và môi trường, văn hóa hay thể thao,…

    • Tính xã hội hóa: Ngành kinh tế du lịch có đặc điểm xã hội hóa,

      có nghĩa là

       có sức 

      thu hút

       mọi thành phần chủ thể kinh tế xã hội tham gia (bao gồm cả những chủ thể 

      nội địa

       và chủ thể nước ngoài, tức là 

      du khách

       nước ngoài).

    • Tính xanh và sạch: Toàn cầu đang hướng đến sự toàn cầu hóa tuy nhiên đồng thời vẫn phải đưa ra những biện pháp chống thế giới hóa, nhất định là bảo vệ môi trường xanh sạch đẹp. Với đặc trưng là ngành công nghiệp không khói, ngành kinh tế du lịch cần phải giữ vững được cái tên như vậy sao cho đúng với thực tế nhất có thể.

    • Tính ích lợi và hiệu quả kinh tế cao: Ở đây, chúng tôi muốn nói tới chính là ngành công nghiệp gà đẻ trứng vàng, đấy chính là tính lợi ích và đạt kết quả tốt kinh tế mà ngành kinh tế du lịch đem lại cho nền kinh tế, đóng góp vào ngân sách và cấp độ tăng trưởng GDP của một đất nước.

       3.

    Vai trò

     của ngành kinh tế du lịch

    Ngành kinh tế du lịch được xem là chìa khóa đẩy mạnh nền kinh tế phát triển phong phú hóa, đa phương hóa tại đất nước nước ta. nhất định, ngành kinh tế du lịch có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế ở một vài khía cạnh sau:

    • Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và tốc độ tăng trưởng

    • Ngân sách nhà nước
    • Tổng 

      vốn đầu tư

    • Công nghệ 

      tối tân

    • Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu
    • Nền văn hóa phong phú

    2. Du lịch

    đất nước ta

    phát triển vượt bậc – nền kinh tế du lịch Việt Nam

    Theo Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lê Quang Tùng (tại Diễn đàn cấp cao du lịch Việt Nam diễn ra ngày 12-9-2019), du lịch nước ta đang ở giai đoạn phát triển nhanh, mạnh với lượng du khách quốc tế tăng trưởng cao. Giai đoạn 2022-2018, tốc độ tăng trưởng trung bình khách du lịch quốc tế đạt 12,8%/năm.

    Năm 2022, đất nước ta đón 10 triệu lượt khách quốc tế, tăng 26% so với năm 2022, giúp sức trực tiếp đạt 6,96% vào GDP. Hai năm sau đón 15,5 triệu lượt khách quốc tế, tăng 19,9% so với năm 2022, giúp sức trực tiếp ước đạt 8,5% vào GDP.

    nếu như không có diễn biến bất thường, năm 2022 du lịch nước ta sẽ hoàn thành chỉ tiêu được Chính phủ giao, đón 18 triệu lượt khách du lịch quốc tế. Trong 11 tháng của năm 2019, số lượng khách quốc tế đến Việt Nam đạt xấp xỉ 16,3 triệu lượt, tăng 15,4% so với cùng kỳ, trong khi đó lượng khách quốc tế đến châu Á-Thái Bình Dương tăng khoảng 6%, đến Đông Nam Á tăng khoảng 5%.

    3. Tìm hướng đi mới

    Đây chính là các phiên họp sâu hơn về những vấn đề đang còn khó khăn, “nút thắt” của ngành du lịch đất nước ta, lôi cuốn nhiều người có chuyên môn nội địa, quốc tế cùng “hiến kế”, chia sẻ kinh nghiệm.

    Trong đó tại phiên toàn thể, Diễn đàn tập trung tranh luận về 2 đề tài. Đó là giải pháp để tạo dựng một Việt Nam tươi đẹp, văn hóa đặc sắc, người dân thân thiện mến khách, nhằm sửa đổi và nâng cấp thứ hạng của du lịch Việt Nam trên bảng xếp hạng toàn cầu.

    Tạm kết :

    Vũ – Tổng hợp, chỉnh sửa (Nguồn tổng hợp : chúng tôi chúng tôi … )

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Du Lịch Úc Tháng 11: Melbourne – Sydney
  • Tìm Hiểu Visa Thăm Thân Úc Chi Tiết Nhất
  • Visa Thăm Thân Nhân Úc – Visa Úc – Visa 600 – Thăm Thân Nhân Úc Nhiều Lần
  • Thủ Tục Xin Visa Đi Úc Thăm Thân Nhân Như Thế Nào?
  • Kinh Nghiệm Xin Visa Thăm Thân Úc
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100