Quần Thể Văn Hóa, Tôn Giáo Việt Nam

--- Bài mới hơn ---

  • Kinh Nghiệm Du Lịch Trà Cổ: Đi Đâu, Chơi Gì, Điểm Ăn Uống?
  • Sóc Trăng: Hình Thành Sản Phẩm Du Lịch Đặc Thù Để Thu Hút Du Khách
  • Thế Nào Là Du Lịch Có Trách Nhiệm? Những Lợi Ích Của Du Lịch Có Trách Nhiệm
  • Du Lịch Tràng An – Bái Đính Và Những Kinh Nghiệm Bỏ Túi Cần Thiết Nhất – Xe Duy Khang – Limousine Hà Nội Ninh Bình
  • Du Lịch Chùa Bái Đính Tràng An Hoa Lư, Tour Du Lich Bai Dinh Trang An Ninh Binh
  • Tour du lịch Chùa Hương – Quần thể văn hóa, tôn giáo Việt Nam

    [ Thời lượng: du lịch 1 ngày ]

    Chùa Hương thuộc huyện Mỹ Đức, cách Hà Nội 60km về phía nam là một quần thể về văn hóa, tôn giáo với hàng chục ngôi chùa thờ Phật và ngôi đền thờ Thần, thờ tín ngưỡng vùng lúa nước.

    Chùa Hương gắn liền với tín ngưỡng dân gian thờ Bà Chúa Ba. Theo truyền thuyết thì ở vùng “Linh sơn phúc địa này “ vào thế kỷ đầu tiên đã có công chúa Diệu Thiện tục gọi là chúa Ba ứng thân của Bồ Tát Quán Thế Âm đã vào tu hành 9 năm đắc đạo thành phật đi cứu độ chúng sinh.

    Đến với Chùa Hương ta mới cảm nhận được hết vẻ đẹp thanh tao và hương sắc dậm đà của non sông đất Việt. Với bức tranh sơn thủy hữu tình rất đẹp, nên thơ do thiên nhiên và con người tạo dựng, nơi đây là một quần thể di tích và danh lam thắng cảnh nổi tiếng, bao gồm cả một hệ thống hang động, đền chùa xen lẫn trong rừng núi hoa lá cỏ cây.

    Quần thể danh lam ở đây là một phong quang tú lệ, trang nghiêm giữa núi rừng Hương Sơn ngút ngàn mây nước.

    1. Lịch trình 

    7:45 – 8:30 Xe ô tô và hướng dẫn viên đón quý khách tại khách sạn và khởi hành đi chùa Hương . 

    10:00 Sau hành trình 1,5 tiếng trên xe ô tô thì đoàn sẽ đến Bến Đục, du khách được đi du thuyền ngắm cảnh. Đến chùa Trình (Ngũ Nhạc) là nơi khách vào trình diện khi tới cảnh phật. Sau khi làm lễ Trình Sơn Thần ở Đền Trần, du khách lại tiếp tục xuôi dòng Suối Yến cùng người lái đò tiếp tục vãn cảnh. Trên đường đi du khách sẽ được ngắm cảnh núi rừng thơ mộng, mùa xuân hoa nở trắng rừng và cảnh sắc hai bên suối Yến rất tuyệt vời.

    11:00 Sau khi kết thúc ngồi thuyền, du khách đi bộ lên chùa chính, đó là chùa Thiên Trù hay còn được gọi là Bếp Trời tọa lạc trên thềm núi Lão được xây dựng từ năm Đinh Hợi ( 1467 ) đời vua Lê Thánh Tông.

    12:30 Du khách ăn trưa tại nhà hàng gần trạm cáp treo, ăn trưa xong du khách có hai lựa chọn - Tiếp tục khám phá động Hương Tích bằng cáp treo hai chiều hoặc đi bộ leo núi khoảng 2,5km. Năm 1770, chúa Trịnh Sâm từng thăm quan động và đặt tên cho động là ‘’Nam thiên đệ nhất động‘’ tức là động đẹp nhất trời Nam. Với nhiều nhũ đá và mảng đá tạo nên một cảnh sắc thiên nhiên kì thú. Có nhũ đá giống Núi Cô, Núi Cậu, Bầu Sữa me, Núi Đụn Gạo, Cây Vàng, Cây Bạc, Con Trâu Đá …

    15:00 Sau khi thăm quan hang động du khách trở lại thuyền và hành trình trở lại Bến Đục. 

    16:00 Xe ô tô đón quý khách về Hà Nội. 

    18:00 Qúy khách về đến Hà Nội và kết thúc tour. 

    2. Tour bao gồm 

    – Xe ô tô vận chuyển du lịch đời mới. 

    – Miễn phí 1 chai nước suối nhỏ. 

    – Hướng dẫn viên ( Tiếng Anh , Tiếng Việt ) nhiệt tình, kinh nghiệm. 

    – Ăn trưa. 

    – Vé tham quan các điểm du lịch. 

    – Bảo hiểm du lịch. 

    3. Tour không bao gồm

    – Đồ uống tại bữa trưa 

    – Vé cáp treo một chiều là 100.000 đ, hai chiều là 140.000 đ

    – Tiền Bo/ Tip (không bắt buộc trong tour) khi kết thúc tour nếu du khách cảm thấy hài lòng, chất lượng tốt, đúng chương trình như cam kết, quý khách có thể thưởng cho hướng dẫn viên và lái xe. 

    4. Những lưu ý cần thiết khi du lịch chùa Hương 

    Để đảm bảo cho chuyến đi du lịch được vui vẻ, thú vị và tránh bị ‘’Chặt chém‘’ các bạn nên lưu ý một số điểm sau: 

    – Trước khi mua hàng hay sử dụng bất cứ dịch vụ gì thì nên hỏi giá, không ngại mặc cả, thỏa thuận giá hợp lý.

    – Tại điểm du lịch không mua hàng từ những người dân chèo kéo, đeo bám, bán hàng rong. 

    – Không cho tiền, bánh kẹo trẻ em ăn xin, bán hàng rong .

    – Không sử dụng dịch vụ từ những người chèo kéo, cò mồi. Đối với những thợ ảnh, nếu đồng ý chụp thì nên hỏi giá cả, nếu không muốn chụp thì thôi tránh bị làm phiền. 

    5. Gợi ý nhỏ cho bạn 

    Sapa Expss và Green Tours là thương hiệu uy tín hàng đầu phố cổ về vận tải và tổ chức tour, là nơi bạn có thể đặt niềm tin. Tại đây chúng tôi sẽ tư vấn miễn phí và mang lại những dịch vụ tốt nhất, giúp bạn có 1 kì nghỉ thoải mái và vui vẻ, giá cả hợp lý.

    6. Chấp nhận thanh toán

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Việt Nam Tìm Hiểu Văn Hóa Tôn Giáo
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Tokyo Tự Túc Chi Tiết Từ A
  • Tòa Thánh Tây Ninh, Điểm Du Lịch Tâm Linh Của Khu Vực Nam Bộ
  • Sóc Trăng Bước Đầu Xây Dựng Sản Phẩm Du Lịch Để Giữ Chân Du Khách
  • Du Lịch Tình Nguyện, Săn Ngay Học Bổng
  • Du Lịch Giáo Dục Là Gì? Tìm Hiểu Tour Du Lịch Giáo Dục

    --- Bài mới hơn ---

  • Tour Du Lịch Lai Châu Đà Nẵng Chạy Hằng Ngày Trọn Gói Dịch Vụ
  • Tour Du Lịch Lăng Cô 4 Ngày 5 Đêm, Bằng Tàu Hỏa
  • Tour Du Lịch Hội An 1 Ngày Rẻ Mới 2022 Vietnam Booking
  • Tour Du Lịch Lào 6 Ngày 5 Đêm Bằng Đường Bộ
  • Tour Du Lich Lao, Tour Du Lịch Lào, Du Lịch Lào Ghép Đoàn Hàng Tuần, Tour Du Lich Lào Đường Bộ
    • Du lịch giáo dục là gì? Tìm hiểu tour du lịch giáo dục

      Du lịch giáo dục, du lịch trải nghiệm, du lịch hướng nghiệp – là hình thức kết hợp giữa giáo dục với du lịch, trải nghiệm, tham quan. du lịch giáo dục với hình thức vừa học vừa chơi cho học sinh, giúp các em giải tỏa căng thẳng sau những giờ học lý thuyết để tiếp thu kiến thức mới tốt nhất, từ đó phát huy khả năng tư duy, trí tưởng tượng, học từ xã hội, tích lỹ kỹ năng và giao lưu văn hóa.

      Xu hướng học tập và mở mang kiến thức bên ngoài cánh cửa lớp học đã được nhiều nước trên thế giới áp dụng rất thành công khi họ đưa các tiêu chí hoạt động và trải nghiệm xã hội vào mục tiêu tuyển sinh. Các chứng nhận về kỹ năng hoạt động xã hội dần trở thành tiêu chí xét điểm cộng trong công tác tuyển sinh vào các trường Đại học trên thế giới.

      Với những giá trị mà du lịch giáo dục mang lại thì ở mọi đối tượng, mọi độ tuổi đều có thể tham gia. Với trẻ từ vài tháng tuổi , bố mẹ có thể đưa trẻ đến một địa điểm, kì quan gần nơi sống để trẻ có thể có những bước khám phá thế giới đầu tiên của mình. Với các em học sinh tiểu học, ba mẹ có thể cùng con tham gia một hoạt động ngoài trời, tự tay thực hiện một món đồ hay tìm hiểu về giá trị lịch sử, văn hóa ở một vùng miền. Với các em học sinh cấp 2, 3 có thể độc lập tham gia vào một tour du lịch cùng bạn bè đồng trang lứa mà ở đó, bé có thể được rèn luyện kĩ năng sống và tính cách và đạo đức của bản thân.

      Ở Việt Nam, hình thức du lịch giáo dục còn khá mới lạ. Hầu hết các bậc phụ huynh đều chỉ nghĩ rằng, du lịch chỉ để cho bọn trẻ giải trí, vui chơi nhưng ngày nay, du lịch đã vượt ngoài sự mong đợi với khái niệm mới này cùng những giá trị mà nó đem lại. Đây được xem là hình thức kết hợp giữa giải trí và giáo dục, giúp các em học sinh vừa học vừa chơi với năng suất cao hơn mà vẫn đảm bảo ” chất lượng”.

      Vietcenter Tourist xin giới thiệu sản phẩm chuyên tour du lịch giáo dục, trải nghiệm – Đưa du lịch gắn liền với giáo dục phát triển du lịch, văn hóa bền vững.

      --- Bài cũ hơn ---

    • Top 10 Tour Du Lịch Kuala Lumpur Hấp Dẫn Nhất
    • Tour Du Lịch Sinh Thái Và Ngắm Cảnh Koh Samui
    • Đi Tour Du Lịch Campuchia
    • Tour Du Lịch Koh Rong Samloem Giá Rẻ
    • Tour Kiên Giang Khởi Hành Đi Phan Thiết Đà Lạt Giá Rẻ
    • Việt Nam Tìm Hiểu Văn Hóa Tôn Giáo

      --- Bài mới hơn ---

    • Quần Thể Văn Hóa, Tôn Giáo Việt Nam
    • Kinh Nghiệm Du Lịch Trà Cổ: Đi Đâu, Chơi Gì, Điểm Ăn Uống?
    • Sóc Trăng: Hình Thành Sản Phẩm Du Lịch Đặc Thù Để Thu Hút Du Khách
    • Thế Nào Là Du Lịch Có Trách Nhiệm? Những Lợi Ích Của Du Lịch Có Trách Nhiệm
    • Du Lịch Tràng An – Bái Đính Và Những Kinh Nghiệm Bỏ Túi Cần Thiết Nhất – Xe Duy Khang – Limousine Hà Nội Ninh Bình
    • Việt Nam có tiềm năng rất lớn cho du lịch văn hóa và tâm linh nhờ vào sự đa dạng của nó về mặt văn hóa, phong tục và truyền thống, đã được hình thành và thực hành trên toàn quốc từ hàng ngàn năm.

      Thống kê chính thức cho thấy rằng Việt Nam có khoảng 40,000 hữu hình và 60,000 di sản vô hình. Hầu hết trong số đó là trong mối liên hệ với những ngôi đền, chùa, tượng đài, nhà thờ, và bày tỏ trong các nghi lễ tôn giáo, lễ hội truyền thống và các hình thức nghệ thuật.

      Tổ chức Giáo dục của Liên Hợp Quốc, Tổ chức khoa học và văn hóa (UNESCO) đã được công nhận 11 di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại tại Việt Nam. Họ là những tín ngưỡng Việt Nam trong các nữ thần Mẹ của Tam Giới, Kéo các nghi lễ và trò chơi, Chúng tôi và các làn điệu dân ca Giám, Don Ca Tai Tu nghệ thuật của âm nhạc và các bài hát, Thờ cúng các vua Hùng, Giồng lễ hội Phù Đổng và đền Sóc, Quan Ho Bac Ninh folk songs, Nha Nhac court music, Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên, và hai cần bảo vệ khẩn cấp, cụ thể là Xoan hát của Phú Thọ, và Ca trù hát.

      Năm nơi cũng đã đạt được thế giới UNESCO công nhận tình trạng di sản văn hóa, cụ thể là Trung Sector của Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội, Thành Nhà Hồ, Phức tạp của các di tích Huế, Thành phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn, và tự nhiên-văn hóa Tràng An – Bái Đính Cảnh Complex.

      các khía cạnh kinh tế-xã hội của du lịch văn hóa-tôn giáo

      đi tinh thần và động cơ tôn giáo đã chứng tỏ vị thế của mình trong ngành du lịch. Trong 2022, một phần ba 62 triệu khách du lịch nội địa đến thăm khu với ý nghĩa tâm linh, theo Tổng cục Du lịch Việt Nam (Tổng cục Du lịch).

      du lịch văn hóa-tôn giáo tạo ra một nguồn thu quan trọng trong khi tạo ra thu nhập ổn định và việc làm cho người dân địa phương. Người dân địa phương tham gia vào các hoạt động du lịch như bán hàng của các dịch vụ thờ phượng, những món quà lưu niệm, sản phẩm địa phương và các dịch vụ nhà hàng-vận chuyển.

      Có nhiều hơn 2,000 thuyền trên dòng suối Yến trong các trang web di tích chùa Hương. Tran Thi Mai, chủ sở hữu của một chiếc thuyền cho biết một mùa lễ hội là như béo bở là năm cây lúa. Cô ấy có thể kiếm được khoảng 300,000 đồng (14 đô la) một ngày bằng cách vận chuyển khách du lịch chùa Hương. Những người đàn ông chèo thuyền lớn có thể kiếm được nhiều hơn.

      Pensioner Nguyen Van Trinh, 80, người ghi lại sự đóng góp tại Đền Ngũ Nhạc Linh Từ trong di tích phức tạp chùa Hương nói, có hơn mười bàn trong sự đóng góp ghi đền thờ do khách. Trung bình, ông ghi lên đến 15 triệu đồng (660 đô la) quyên góp một ngày. Số tiền thu được được sử dụng để duy trì, quản lý, vận hành trang web và đóng góp cho ngân sách địa phương.

      Thành cổ Imperial Huế một mình thu hút hàng triệu khách du lịch, tạo ra hàng trăm tỷ đồng mỗi năm. Một phần của doanh thu được sử dụng để duy trì điều kiện và giá trị của trang web, bao gồm cả việc hồi sinh các vị thần Trái đất và cây trồng thờ “Xã Tắc” và “Nam Giao” cung cấp các nghi lễ, do đó làm giảm tải trên ngân sách nhà nước cho công việc, theo Tổng cục Du lịch Phó Cục trưởng Ngô Hoài Chung.

      Chùa Bái Đính cổ ở tỉnh Ninh Bình đã diễn ra trong hơn 1000 năm. Tuy nhiên, Mãi đến nhiều triệu USD đầu tư đã được đổ vào xây dựng khu phức hợp Chùa Bái Đính, cải thiện hệ thống giao thông và cơ sở hạ tầng hỗ trợ, và nỗ lực tiếp thị đã trở thành trang web hấp dẫn đối với khách du lịch. Khu phức hợp đã tổ chức nhiều sự kiện tôn giáo quốc tế và quốc gia, bao gồm cả 2008 và 2014 Liên Hợp Quốc Day of Vesak.

      Các trang web di sản thiên nhiên và văn hóa UNESCO công nhận trên thế giới Tràng An-Bái Đính là một thành công. Mô hình này được kỳ vọng sẽ tạo ra một động lực cho phát triển du lịch của Ninh Bình và các địa phương lân cận, Chung xây dựng.

      chuyến đi văn hóa-tôn giáo phát huy giá trị nhân đạo

      Theo Hòa thượng Thích Thanh Nhiễu, Đứng Phó Chủ tịch Giáo hội Phật giáo Việt Nam (VBS) Hội đồng điều hành, Phật giáo là một tôn giáo hơn. Nó đã trở thành một bản sắc văn hóa diễn rễ sâu trong cả nước. Có chùa trong hầu hết các cộng đồng, từ vùng sâu vùng xa đến các thành phố. Có rất gần 15,000 chùa trên toàn quốc, chiếm gần 40 phần trăm di tích của quốc gia. Gần 500 đã được công nhận là di tích quốc gia và trở thành các điểm tham quan du lịch.

      Đạo Phật là một đức tin chịu và có số lượng lớn nhất của tín đồ các tôn giáo ở Việt Nam. Trong bất kỳ ngôi chùa Việt, có ba bàn thờ lớn, thờ Phật, mẹ nữ thần, và anh hùng dân tộc hay bậc thầy vĩ đại người tôn vinh đất nước. Chuyến đi đến và trải nghiệm ở những nơi linh thiêng, trong đó có chùa, sẽ truyền cảm hứng cho hành vi tốt, tỏ lòng biết ơn và thể chất và lối sống tinh thần lành mạnh giữa các khách, said Most Venerable Thich Thanh Nhieu.

      Tiến sĩ. Dương Văn Hay, Trưởng Khoa Du lịch Văn hóa của Đại học Văn hóa Hà Nội (SO FAR) cũng nhấn mạnh các giá trị kinh tế vượt qua của du lịch tâm linh, nói rằng hầu hết các địa điểm tôn giáo và thiêng liêng được ưu đãi với văn hóa, ý nghĩa tôn giáo và lịch sử. sản phẩm du lịch tinh thần khám phá văn hóa sống, truyền thống, lịch sử và tín ngưỡng. vì thế, họ những cơ hội cho những kinh nghiệm giáo dục và văn hóa.

      Du khách có thể chiêm ngưỡng hoặc thậm chí nhận mình tham gia vào lễ nghi lễ, lễ hội truyền thống và các hình thức nghệ thuật. Đây là cách hiệu quả nhất để đảm bảo tính liên tục của giá trị văn hóa. Họ cũng tìm hiểu về lịch sử và văn hóa từ hướng dẫn thích hợp tại khu tôn giáo. Vì thế, du lịch tâm linh một cách nào đó, cung cấp thực hành bài học cho du khách, góp phần nâng cao nhận thức và kiến ​​thức của người dân về văn hóa, niềm tin, truyền thống và lịch sử của dân tộc, Sáu xây dựng.

      Ngày càng có nhiều du khách đến thăm các di sản. tín đồ tôn giáo muốn thực hiện đức tin của họ, một số chuyến thăm những nơi linh thiêng ra khỏi sự tò mò và những người khác chỉ đơn giản là thưởng thức cuộc hành trình của họ cho giải trí, tìm nơi lánh mình tinh thần chứ không phải vì mục đích tâm linh hay giáo dục.

      Đám đông người đổ về chùa Hương trong lễ hội mùa xuân. Nhiều người trong số họ đang thực sự thúc đẩy bởi những trải nghiệm lãng mạn và thư giãn trên hành trình thuyền trên suối Yến yên bình, giữa các dãy núi và trong bầu không khí sương mù, chứ không phải là mong muốn được các giá trị tinh thần.

      Văn Duyên, từ xã Hưng Tiến trên địa bàn huyện Mỹ Đức Hà Nội, ai là người đứng đầu của thuyền biểu diễn nghệ thuật trên dòng suối Yến cho biết thuyền rồng hình đã được triển khai trong gần mười năm. “Nghệ sĩ nghiệp dư của chúng tôi trong trang phục truyền thống hát những bài hát dân gian, Cheo và chanty. Hầu hết du khách đến chùa Hương bày tỏ sự phấn khích của mình khi nhìn thấy chúng tôi. Họ chụp ảnh với chúng tôi. Một số ca hát và chèo thuyền của họ cùng chúng ta trên dòng,”, Ông nói.

      du lịch tâm linh nhặt tại Việt Nam

      nỗ lực chung của chính quyền các cấp, các ngành đã được thực hiện để thúc đẩy du lịch tâm linh một cách chuyên nghiệp và bền vững khi tập trung vào việc bảo tồn các giá trị văn hóa và tôn giáo, Ngo Hoai Chung told VNA, thêm rằng chúng bao gồm các kết nối giữa các địa phương và giữa các địa phương và các cơ quan du lịch để khám phá tiềm năng du lịch văn hóa và tôn giáo và để kéo dài nghỉ khách du lịch.

      Quang Ninh, Thai Binh, và Nam Định là một phần của di sản cuộc hành trình triều Trần. Các tỉnh Tây Nguyên tăng cường không gian của họ về văn hóa cồng chiêng trong khi các địa phương miền Trung Đà Nẵng, Hội An, sắc, và Quảng Bình tạo nên một con đường di sản hấp dẫn, Chung đưa ra ví dụ.

      Most Venerable Thich Thanh Nhieu, người cũng là Trưởng Chùa Đình Bái, cho biết có rất nhiều ngôi chùa cổ kính tại Ninh Bình, trong đó có chùa Bái Đính cổ trên núi Tràng An. Tuy nhiên, vài khách du lịch đến thăm chùa trong quá khứ vì nó nằm trên một ngọn núi cao. Hiện nay, 550 ha Chùa Bái Đính Complex, trong đó có chùa gốc, nhận đám đông khách du lịch trong suốt cả năm. Hàng chục ngàn du khách và những người theo Phật giáo tham quan chùa một ngày trong mùa lễ hội.

      Theo Tiến sĩ. Dương Văn Hoặc từ HUC, du lịch tôn giáo không phải là mới. Nó đã trở thành một hiện tượng toàn cầu. nghiên cứu quốc tế đã chỉ ra rằng tôn giáo và tâm linh là một trong những động lực phổ biến nhất cho du lịch. Hàng trăm triệu người đi du lịch đến những nơi linh thiêng hay không mà họ tuân theo một tôn giáo chính thức. Việt Nam không phải là một ngoại lệ trong xu hướng.

      Nhiều khu đã trở thành điểm du lịch chủ yếu là kết quả của kết nối của họ với những người thiêng liêng, địa điểm và các sự kiện, như Đền Trần ở Nam Định, Bai Dinh Pagoda in Ninh Binh, Chùa Yên Tử ở Quảng Ninh, Đền Hùng Vương ở Phú Thọ, và Đền Bà Chúa Xứ ở An Giang.

      souce: TTXVN

      --- Bài cũ hơn ---

    • Kinh Nghiệm Du Lịch Tokyo Tự Túc Chi Tiết Từ A
    • Tòa Thánh Tây Ninh, Điểm Du Lịch Tâm Linh Của Khu Vực Nam Bộ
    • Sóc Trăng Bước Đầu Xây Dựng Sản Phẩm Du Lịch Để Giữ Chân Du Khách
    • Du Lịch Tình Nguyện, Săn Ngay Học Bổng
    • Du Lịch Tình Nguyện Trong Mối Quan Hệ Với Phát Triển Bền Vững – Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch (Itdr)
    • Tín Ngưỡng Và Tôn Giáo Ở Việt Nam

      --- Bài mới hơn ---

    • Kinh Doanh Du Lịch Tại Các Điểm Tôn Giáo, Tín Ngưỡng
    • Tour Bangkok Pattaya 4 Ngày 3 Đêm Bao Trọn Gói, Giá Tốt
    • Hướng Dẫn Đi Du Lịch Cà Mau
    • Giá Thuê Xe Du Lịch 4 Chỗ Tại Tp Hcm Đi Mũi Né
    • Tour Du Lịch Từ Tphcm Đến Hà Nội
    • Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, tín ngưỡng. Người dân Việt Nam có truyền thống sinh hoạt, hoạt động tín ngưỡng từ lâu đời. Các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam đều có những tín ngưỡng riêng gắn liền với đời sống kinh tế và tâm linh của mình.

      Bên cạnh đó, một phong tục, tập quán lâu đời phổ biến nhất của người Việt và một số dân tộc thiểu số khác là việc thờ cúng tổ tiên và cúng giỗ những người đã mất. Ở các gia đình người Việt, nhà nào cũng có bàn thờ tổ tiên và việc cúng giỗ, ghi nhớ công ơn của các bậc tiền nhân rất được coi trọng. Bên cạnh việc cúng giỗ tổ tiên ở từng gia đình, dòng họ, nhiều làng ở Việt Nam có đình thờ thành hoàng. Tục thờ thành hoàng và ngôi đình làng là đặc điểm độc đáo của làng quê Việt Nam. Thần thành hoàng được thờ trong các đình làng có thể là các vị thần linh hoặc là những nhân vật kiệt xuất có nhiều công lao to lớn như những ông tổ làng nghề hoặc anh hùng dân tộc có công “khai công lập quốc”, chống giặc ngoại xâm. Ngoài ra, người Việt còn thờ các dạng thần như thần bếp, thần thổ công…

      Ở Việt Nam có mặt hầu hết các tôn giáo lớn với đông đảo tín đồ, chức sắc, nhà tu hành của Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo hay một số tôn giáo bản địa như Cao Đài, Hòa Hảo.

      Phật giáo: Có hai phái: Đại thừa và Tiểu thừa. Phái Đại thừa du nhập vào Việt Nam thế kỷ thứ II trước Công nguyên; Phái Tiểu thừa du nhập vào Việt Nam thế kỷ thứ II sau Công nguyên. Từ thế kỷ thứ X, Phật giáo phát triển nhanh chóng, được coi là quốc đạo và đạt đỉnh cao ở thời Lý-Trần. Phật giáo hiện nay ở Việt Nam có khoảng 10 triệu tín đồ, với 20.000 chùa thờ Phật, hơn 38.000 tăng ni; nhiều trung tâm đào tạo các chức sắc tôn giáo.

      Công giáo: được các giáo sỹ Phương Tây truyền vào Việt Nam từ thế kỷ XV. Thiên chúa giáo đầu tiên được phổ biến trong các cư dân ven biển Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An… sau đó đi vào các vùng châu thổ sông Hồng và các thành phố; hiện nay có khoảng 6 triệu tín đồ, 6.000 nhà thờ; 15.000 chức sắc.

      Tin Lành: du nhập vào Việt Nam cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Tuy nhiên, tới năm 1920 đạo Tin Lành mới bắt đầu được truyền giáo tại khắp các vùng của Việt Nam và hiện có khoảng 1 triệu tín đồ, 500 nhà thờ Tin Lành.

      Đạo Hồi: truyền vào Việt Nam qua cộng đồng người Chăm vào thế kỷ X-XI. Hiện nay Đạo Hồi ở Việt Nam có khoảng 100 nhà thờ Hồi giáo, 70.000 tín đồ, 700 vị chức sắc tại các tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận, An Giang, Tây Ninh, Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh. Có hai khối người Chăm theo Hồi giáo: Hồi giáo chính thống bao gồm những người Chăm theo Hồi giáo ở Châu Đốc, thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Đồng Nai; Hồi giáo không chính thống (hay còn gọi là Chăm Bà Ni) gồm những người Chăm ở Bình Thuận, Ninh Thuận.

      Đạo Cao Đài: Là một tôn giáo bản địa, sáng lập năm 1926 tại Tây Ninh. Đạo Cao Đài tôn thờ ba đấng tối cao Đức Phật, Chúa Giê-xu và Đức Cao Đài. Hiện nay có khoảng 2,3 triệu tín đồ, 7.100 chức sắc, 6.000 đền thờ, trung tâm là tỉnh Tây Ninh.

      Đạo Hòa Hảo: còn gọi là Phật giáo Hòa Hảo, là một tôn giáo bản địa, được sáng lập năm 1939 tại làng Hòa Hảo, huyện Tân Châu, tỉnh An Giang. Đạo Hòa Hảo tập hợp nhiều tín đồ ở miền Tây Nam Bộ, số tín đồ vào khoảng 1,2 triệu người.

      Quyền tự do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng của công dân Việt Nam được quy định trong Hiến pháp và được bảo đảm trên thực tế. Hiến pháp năm 1992 của nước CHXHCN Việt Nam, điều 70 ghi rõ: “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào; các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”.

      Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân được cụ thể hóa trong nhiều văn bản pháp quy khác. Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo có hiệu lực từ 15/11/2004, đã thể chế hóa đường lối, chủ trương chính sách về tín ngưỡng, tôn giáo của Nhà nước Việt Nam, bảo đảm cho công dân thực hiện quyền về tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Mọi công dân – không phân biệt có hoặc không có tín ngưỡng, tôn giáo – đều bình đẳng trước pháp luật; có quyền theo hoặc không theo một tôn giáo nào; được bày tỏ đức tin tôn giáo của mình; được thực hành các nghi thức thờ cúng, cầu nguyện và tham gia các hình thức sinh hoạt phục vụ lễ nghi tôn giáo, học tập giáo lý, đạo đức tôn giáo. Các tổ chức tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; bảo hộ cơ sở vật chất, tài sản của cơ sở tín ngưỡng tôn giáo như chùa, nhà thờ, thánh đường, thánh thất, điện, đền, trụ sở của tổ chức tôn giáo, trường lớp tôn giáo, kinh bổn và các đồ dùng thờ cúng của tín ngưỡng, tôn giáo. Ngày 1/3/2005, Chính phủ đã ban hành Nghị định 22/2005/NĐ_CP để hướng dẫn một số điều trong Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo. Đối với đạo Tin lành, Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị 01/2005/CT-TTg ngày 4/2/2005 về một số công tác đối với đạo Tin lành nhằm tạo điều kiện cho hoạt động của các tín đồ, chức sắc đạo Tin lành.

      Tham gia vào các sinh hoạt tôn giáo ở Việt Nam có khoảng 20 triệu người, gần 62.500 chức sắc, nhà tu hành và 22.354 cơ sở thờ tự tôn giáo; các cơ sở đào tạo tôn giáo được mở rộng. Hiện nay, tại Việt Nam có 10 trường Đại học Tôn giáo, 3 Học viện Phật giáo, 6 Đại Chủng viện Thiên chúa giáo, 1 Viện Thánh kinh thần học của Tổng liên hội Hội Thánh Tin Lành Việt Nam, 40 trường đào tạo các giáo chức tôn giáo ở các cấp độ khác nhau, các ấn phẩm tôn giáo, nhất là kinh sách được xuất bản theo yêu cầu của các tôn giáo.

      Tín đồ tôn giáo hoàn toàn tự do trong việc thực hiện các nghi lễ tôn giáo, bày tỏ và thực hành đức tin tôn giáo của mình. Chức sắc, nhà tu hành các tôn giáo được tự do trong việc thực hành các hoạt động tôn giáo theo giáo luật. Việc phong chức, bổ nhiệm, thuyên chuyển chức sắc được thực hiện theo quy định của giáo hội. Các tổ chức tôn giáo đã được công nhận tư cách pháp nhân trong những năm qua đều có sự phát triển về số lượng cơ sở giáo hội, về tín đồ, chức sắc nhà tu hành, về việc xây dựng mới hoặc tu bổ các cơ sở thờ tự, bảo đảm kinh sách, các hoạt động tôn giáo theo hiến chương, điều lệ và giáo lý, giáo luật. Các chức sắc, nhà tu hành được tham gia học tập, đào tạo ở trong nước và nước ngoài hoặc tham gia các sinh hoạt tôn giáo ở nước ngoài. Nhiều tổ chức tôn giáo nước ngoài đã vào giao lưu với các tổ chức tôn giáo Việt Nam.

      Theo Website ĐSQ VN tại Rumani

      --- Bài cũ hơn ---

    • Đặc Điểm Tâm Lý Của Khách Du Lịch Theo Tín Ngưỡng Tôn Giáo
    • 10 “bí Kíp” Tung Hoành Khi Du Lịch Tokyo Tự Túc
    • Kinh Nghiệm Du Lịch Tokyo Tự Túc
    • Top Địa Điểm Du Lịch Tokyo Miễn Phí Không Phải Ai Cũng Biết
    • Với Vé Tàu 600 Yên, Hãy Khám Phá Những Địa Điểm Tuyệt Nhất Của Tokyo Trong Một Ngày
    • Kinh Doanh Du Lịch Tại Các Điểm Tôn Giáo, Tín Ngưỡng

      --- Bài mới hơn ---

    • Tour Bangkok Pattaya 4 Ngày 3 Đêm Bao Trọn Gói, Giá Tốt
    • Hướng Dẫn Đi Du Lịch Cà Mau
    • Giá Thuê Xe Du Lịch 4 Chỗ Tại Tp Hcm Đi Mũi Né
    • Tour Du Lịch Từ Tphcm Đến Hà Nội
    • Du Lịch Hạ Long: Tp Hồ Chí Minh
    • Tuy nhiên, cùng với sự tham gia của hoạt động du lịch là quá trình thương mại hóa các giá trị tâm linh, dẫn đến nhiều mâu thuẫn nội tại. Đó là mâu thuẫn giữa những người tham gia vào hoạt động tại các điểm tôn giáo, tín ngưỡng khi mục đích của họ không đồng nhất. Đó là mâu thuẫn về việc sử dụng và đáp ứng các dịch vụ cho du khách. Đó là mâu thuẫn về chi phí và đóng góp cho các công tác nảy sinh khi có hoạt động du lịch. Đây là những vấn đề tiêu biểu nhất mà khi xem xét khai thác bất cứ một điểm tôn giáo, tín ngưỡng nào phục vụ hoạt động du lịch cần quan tâm giải quyết.

      Việt Nam là quốc gia có tiềm năng du lịch tâm linh rất lớn với hệ thống các đình, đền, chùa, miếu, quán, lăng … dọc theo chiều dài của đất nước, rộng cùng 54 dân tộc anh em và sâu trong bốn ngàn năm lịch sử. Các nhà kinh doanh du lịch cũng đang từng bước khám phá và khai thác các giá trị này với một số các công trình mới có quy mô như khu Bái Đính Tràng An (Ninh Bình), khu Đại Nam Quốc Tự (Bình Dương), công viên Tâm Linh (Đà Nẵng) … Để việc kinh doanh du lịch tại cả các công trình cũ và mới đi đúng hướng, bài viết đề cập đến một số vấn đề vướng mắc trên để các nhà quy hoạch, quản lý có được cái nhìn chiến lược trong từng bước phát triển loại hình du lịch này ở nước ta.

      Vấn đề mâu thuẫn giữa những con người tham gia vào hoạt động du lịch tại điểm tôn giáo, tín ngưỡng:

      Mâu thuẫn này thường nảy sinh khi có sự trái ngược về mục đích và quyền lợi giữa những con người tham gia vào hoạt động du lịch các các điểm này.

      Thứ nhất, mâu thuẫn không chỉ ở các điểm tôn giáo, tín ngưỡng mà như ở bất cứ điểm du lịch mới khai thác nào khác là giữa du khách và dân địa phương. Sự xuất hiện ồ ạt của những người từ nơi khác đến vào một thời điểm làm thay đổi bầu không khí và nhịp điệu sinh hoạt hàng ngày của người dân địa phương. Sau đó họ cũng để lại những hệ quả mà địa phương không mong muốn như ô nhiễm môi trường từ xả thải, biến đổi tập quán và các giá trị văn hóa từ hành vi,… Hơn nữa, như một vấn đề tâm lý, việc chia sẻ đức tin, chia sẻ “thần hộ mệnh” của mình cho những đối tượng khác nhau khiến người dân bản địa không cảm thấy hài lòng trong việc tiếp đón du khách. Trong một số trường hợp, họ chỉ coi du khách như những người mang đến một phần lợi ích kinh tế cho họ trong việc kinh doanh một số các dịch vụ mà du khách cần tại điểm. Nếu các hoạt động này tự phát và với thái độ chủ quan của dân địa phương sẽ dẫn tới tình trạng “chèo kéo”, “chặt chém” du khách. Điều này làm cho hình ảnh địa phương trong con mắt khách du lịch càng trở nên tồi tệ hơn.

      Để giải quyết vấn đề này, cần nhận định rõ vai trò của dân địa phương trong việc xây dựng văn hóa ứng xử tại điểm du lịch. Họ là người chủ duy nhất của các di sản trên địa bàn của họ, trong đó có các công trình tín ngưỡng tâm linh. Bởi vậy cần trao quyền làm chủ cho họ trong mọi hoạt động, trong đó có hoạt động kinh doanh du lịch theo các bước sau:

      (i) Ý kiến và quan điểm của người dân địa phương cần được tham khảo trong ý tưởng quy hoạch du lịch ở bất cứ di sản nào. Đặc biệt nhạy cảm đối với các công trình tôn giáo, tín ngưỡng, bởi nếu không có sự tham vấn ý kiến địa phương, đôi khi dự án vi phạm phải những điều cấm kỵ và mãi mãi không thể thực hiện được trong sự phản đối quyết liệt của toàn bộ dân trong vùng.

      (ii) Người dân địa phương cần được tham gia vào từng lộ trình cũng như mọi hoạt động của dự án quy hoạch du lịch. Mọi cơ hội lao động từ dự án phải luôn ưu tiên người dân bản địa: từ quản lý, giám sát; hướng dẫn, thuyết minh đến những đơn vị cung cấp dịch vụ bán lẻ. Lợi nhuận thu được từ du lịch cũng cần có sự phân chia bình đẳng cho sự tham gia của chính quyền địa phương.

      Để người dân địa phương thấy được vai trò, trách nhiệm và lợi ích của họ, song song với việc thực hiện dự án là mở các lớp giáo dục về kiến thức, đào tạo, huấn luyện về kỹ năng. Từng người dân phải thấy được họ có thể phát huy khả năng của họ trong lĩnh vực gì để đăng ký và qua sát hạch với ban quản lý dự án. Điều quan trọng nhất là từng người dân phải nhận thức được vốn tài sản tinh thần vô giá mà họ đang nắm giữ để trở thành người truyền bá, người dẫn dắt du khách tới chân giá trị của đức tin như mục đích họ mong muốn đến đây.

      Thứ hai, một mâu thuẫn chỉ nảy sinh tại các điểm tôn giáo, tín ngưỡng là giữa các tín đồ và những du khách phi tôn giáo. Trước đây chùa là nơi dành cho các tín đồ Phật giáo ăn chay, niệm Phật. Đông đảo nhất là vào dịp lễ hội khi các con nhang, đệ tử thập phương hành hương về đây thể hiện sự thành tâm với đức Phật. Ngày nay, khi du lịch tâm linh phát triển, du khách đến đây không chỉ với mục đích thờ tự, đôi khi họ đến chỉ để tìm hiểu về kiến trúc, thưởng ngoạn phong cảnh, thỉnh kinh pháp hay ngồi thiền, ăn chay … như một sự trải nghiệm những điều mới lạ và dành khoảng thời gian tĩnh tại cho tâm hồn. Không đến với mục đích chính, đôi khi họ bị các tín đồ coi như những kẻ quấy rối, gây phiền hà, làm ảnh hưởng đến bầu không khí thanh tịnh của thế giới tâm linh. Để giải quyết vấn đề này, ban quản lý dự án quy hoạch du lịch cần kêu gọi tinh thần tự nguyện tham gia vào hoạt động kinh doanh du lịch của các tín đồ, đặc biệt trong việc hướng dẫn, thuyết minh. Sự trải lòng mình với du khách cũng chính là con đường hiệu quả nhất giúp du khách giác ngộ các chân lý của đức tin mà họ theo đuổi. Mâu thuẫn sẽ trở nên nghiêm trọng với những du khách và tín đồ của những tôn giáo vốn đối lập và kỳ thị nhau hoặc lợi dụng tôn giáo cho mục đích chính trị. Tuy nhiên, cái thiện căn mà bất cứ tôn giáo nào cũng hướng đến thể hiện trong hành vi ứng xử của các tín đồ với du khách sẽ là biện pháp tốt nhất để hóa giải điều này.

      Vấn đề mâu thuẫn giữa con người luôn khó phân định và giải quyết trong bất cứ lĩnh vực đời sống xã hội nào. Nhưng trong kinh doanh du lịch khi sức hấp dẫn được tạo ra bởi chính hành vi của con người tại nơi đón tiếp thì việc giải quyết được vấn đề này đã trở thành yếu tố cốt lõi để thu hút ngày càng đông du khách đến đây.

      Vấn đề đáp ứng các dịch vụ du lịch tại điểm tôn giáo, tín ngưỡng:

      Khách du lịch ngày nay đến các điểm tôn giáo, tín ngưỡng không chỉ đơn thuần với mục đích thờ tự hay tìm hiểu một nét kiến trúc văn hóa, nghe kể về một huyền thoại gắn với di tích mà cần có sự trải nghiệm thực tế tại điểm. Để có được sự trải nghiệm này cần sự hỗ trợ của các dịch vụ bổ sung. Để sự hỗ trợ này trở nên chu đáo, bài bản và làm hài lòng du khách cần sự quy hoạch đồng bộ.

      Đầu tiên và quan trọng nhất để tạo ấn tượng tốt đẹp với du khách là khu vực tiếp đón. Khu vực này bao gồm đầy đủ các dịch vụ như:

      (i) Đường vào rộng rãi, thuận tiện, có phân làn cho từng loại xe cơ giới, có biển chỉ dẫn rõ ràng, dễ hiểu.

      (ii) Bãi đỗ xe đủ rộng với sự phân loại các phương tiện như ô tô lớn, nhỏ, xe máy,… đảm bảo an ninh.

      (iii) Trung tâm thông tin tại cổng là nơi bán vé tham quan cũng như cung cấp tài liệu, thông tin, thuyết minh viên, phương tiện, phục trang và những yêu cầu phải tuân thủ tại điểm.

      (iv) Lối vào được sắp xếp quy củ, trật tự sẽ làm tăng tính linh thiêng cho điểm tôn giáo. Một số nơi phân chia du khách thành 2 làn: một làn cho khách du lịch theo đoàn và một làn cho khách lẻ (đa phần là các tín đồ) sẽ hạn chế mâu thuẫn nảy sinh và tăng cường sự hợp tác giữa họ.

      Trong khuôn viên của công trình, cần phân định rõ khu vực nguyên bản – khu vực tuyệt đối không có sự tham gia của các công trình xây mới, phục vụ cho việc bảo tồn – và khu vực dịch vụ du lịch. Tại các khu vực này, cần xây dựng các nhà chờ phục vụ đồ ăn, thức uống, nhà vệ sinh, quầy bán đồ lưu niệm, đặc sản địa phương. Ở một số điểm, các nhà cung ứng quy hoạch một khu vực ngoài trời hoặc xây dựng một hội trường lớn dành cho các sinh hoạt cộng đồng tôn giáo hay tín ngưỡng, là nơi gặp mặt của các tín đồ với du khách, là điểm tổ chức các hoạt động tâm linh cho du khách như nghe giảng kinh pháp, tọa thiền hay học và thưởng thức các đồ ăn chay…

      Các hoạt động này ngày nay đã trở thành các hoạt động chính trong các chương trình du lịch đến các điểm tín ngưỡng tâm linh. Phát sinh từ nhu cầu của du khách, không chỉ mong muốn khám phá các giá trị về môi trường tự nhiên và văn hóa nhân văn mà còn mong muốn chạm tới sự cảm hóa của đức tin thông qua các khóa tu, các bài thiền, công tác từ thiện với trẻ mồ côi, người tàn tật … Từ đó mà một số chương trình và loại hình du lịch đặc trưng ra đời như loại hình du lịch Thiền, chương trình các khóa tu mùa hè dành cho thanh thiếu niên hiện nay đã được triển khai ở Thiền Viện Trúc Lâm Tây Thiên (Vĩnh Phúc), chùa Hoằng Pháp (Thành phố Hồ Chí Minh), chùa Phước Long (Bình Định)…

      Bên cạnh đó, để các sản phẩm du lịch khai thác các giá trị tín ngưỡng tâm linh thực sự mang lại hiệu quả cần sự quan tâm quy hoạch vùng đệm. Đó là khu vực xung quanh nơi cung cấp cơ sở lưu trú, nhà hàng, trạm trung chuyển phương tiện vận chuyển, cơ sở y tế, trạm xăng dầu, các cửa hàng và đại lý bán lẻ … Việc đáp ứng được đầy đủ các dịch vụ này cần sự phối hợp nhịp nhàng và đồng bộ trong xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch từ chính quyền đến địa phương, từ nhà quản lý đến từng đơn vị kinh doanh du lịch.

      3) Vấn đề chi phí cho công tác quản lý tại điểm tôn giáo, tín ngưỡng:

      Hoạt động du lịch sẽ kéo theo các vấn đề phát sinh như sự xuống cấp của di tích, ô nhiễm môi trường bởi sự xả thải và tiếng ồn do du khách gây ra, sự phá hoại do sự thiếu ý thức của du khách như viết, vẽ bậy, sờ tay hay lấy trộm, ăn cắp di vật chỉ để làm một món đồ lưu niệm. Thậm chí việc du khách ăn mặc, ứng xử không đúng với phép tắc trong không gian linh thiêng của công trình tâm linh cũng được coi là một ảnh hưởng xấu tới cảnh quan của điểm. Bởi vậy, vấn đề đặt ra là phải quản lý để hạn chế đến mức thấp nhất những tác động tiêu cực do du lịch mang lại.

      Trước tiên, cần sự nhận định rõ ràng về quan điểm. Đối với những xuống cấp do áp lực của tự nhiên như thời gian, biến đổi môi trường hay những áp lực có thể lường trước được do sự tăng lên của số lượng du khách cần một chiến lược quản lý dài hạn. Còn đối với những vấn đề có thể kiểm soát được như hành vi của du khách cần những biện pháp quản lý kịp thời.

      Tuy nhiên tất cả các hoạt động quản lý này cần những chi phí không nhỏ. Thông thường lợi nhuận lớn thu được từ các dịch vụ trực tiếp tại điểm “chảy” vào “túi” của các nhà kinh doanh nhỏ lẻ thức thời. Chỉ một phần thuế họ chi trả là phục vụ cho các hoạt động chung của điểm và của địa phương. Còn các khoản thu khác từ vé tham quan hay sự quyên góp của du khách không đáng kể so với chi phí quản lý, đặc biệt là chi phí cho công tác bảo tồn và nâng cấp di tích định kỳ. Bởi vậy, vấn đề đặt ra là cần xây dựng mối quan hệ đối tác giữa ban quản lý tài nguyên với các nhà cung ứng dịch vụ. Các nhà quản lý du lịch tại điểm cần được trao quyền tuyển chọn những nhà cung ứng dịch vụ cho mình theo hình thức đấu thầu mà đơn vị có kế hoạch đóng góp lợi ích cho việc bảo tồn được ưu tiên. Các nhà cung ứng dịch vụ cũng cần nhận thức rõ quan điểm phát triển bền vững. Đó là cần sự đầu tư lại cho việc phục hồi di sản và quản lý các hành vi phá hủy tài nguyên để duy trì sức hấp dẫn lâu dài cho điểm du lịch. Mối quan hệ này cần được xây dựng theo mô hình đầu vào – đầu ra trong sản xuất sản phẩm. Trong đó, đầu vào là các dịch vụ được cung cấp để thỏa mãn nhu cầu du khách. Tất cả được vận hành theo quy trình và nguyên tắc do bộ máy quản lý du lịch tại điểm đề ra để cho ra đời các sản phẩm du lịch hoàn hảo.

      (i) Chi phí lâu dài cho bảo tồn và khôi phục di sản.

      (ii) Chi phí cho việc giải quyết các vấn đề phát sinh tại điểm.

      (iii) Chi phí cho các chiến dịch quảng bá lớn.

      (iv) Các chi phí khác.

      Bởi vậy để hoạt động du lịch tại điểm có hiệu quả, không phát sinh mâu thuẫn về quyền lợi giữa các bên tham gia cần một bộ máy quản lý có trách nhiệm và nắm vững quan điểm của phát triển bền vững:

      (i) Bảo vệ môi trường.

      (ii) Khai thác tối ưu các giá trị kinh tế.

      Đây là những vấn đề tiêu biểu nhất trong quá trình khai thác một điểm tôn giáo, tín ngưỡng phục vụ kinh doanh du lịch. Để những điểm tôn giáo, tín ngưỡng không ngủ yên trong những giá trị mà lịch sử mang lại cho nó, cần trao cho nó một sức sống đương đại. Sức sống đó được mang lại bởi hoạt động du lịch. Nhưng để đảm bảo cho hoạt động du lịch diễn ra có hiệu quả, không làm tổn hại đến những gì mà quá khứ để lại, không khơi nguồn cho những mâu thuẫn xã hội, cần một tầm nhìn chiến lược trong công tác quản lý. Bài viết đưa ra một số hướng giải quyết cho những vấn đề cụ thể thường phát sinh tại điểm tôn giáo, tín ngưỡng có sự tham gia của hoạt động du lịch với mong muốn hoạt động du lịch tâm linh bước đầu nhen nhóm ở Việt Nam sẽ có một hướng đi đúng mục đích – con đường giúp con người tìm về với bản thể, vươn tới những điều tốt đẹp hơn. Đây là xu hướng của du lịch hiện đại trên thế giới và nếu được quản lý đúng đắn ở Việt Nam nó sẽ mang đến những giá trị mới cho du lịch nước nhà.

      TÀI LIỆU THAM KHẢO

      Dallen J. Timothy & Daniel H. Olsen (2006) – Tourism, Religion and Spiritual Journeys (Du lịch và các chuyến đi tâm linh và tôn giáo) – Routledge Publishing.

      Nguồn: Bài đã đăng trên Tạp chí Văn hóa học (ISSN 1859 – 4859), số 3, năm 2012

      --- Bài cũ hơn ---

    • Tín Ngưỡng Và Tôn Giáo Ở Việt Nam
    • Đặc Điểm Tâm Lý Của Khách Du Lịch Theo Tín Ngưỡng Tôn Giáo
    • 10 “bí Kíp” Tung Hoành Khi Du Lịch Tokyo Tự Túc
    • Kinh Nghiệm Du Lịch Tokyo Tự Túc
    • Top Địa Điểm Du Lịch Tokyo Miễn Phí Không Phải Ai Cũng Biết
    • Đặc Điểm Tâm Lý Của Khách Du Lịch Theo Tín Ngưỡng Tôn Giáo

      --- Bài mới hơn ---

    • Tín Ngưỡng Và Tôn Giáo Ở Việt Nam
    • Kinh Doanh Du Lịch Tại Các Điểm Tôn Giáo, Tín Ngưỡng
    • Tour Bangkok Pattaya 4 Ngày 3 Đêm Bao Trọn Gói, Giá Tốt
    • Hướng Dẫn Đi Du Lịch Cà Mau
    • Giá Thuê Xe Du Lịch 4 Chỗ Tại Tp Hcm Đi Mũi Né
      • Tâm lý khách du lịch theo tôn giáo

      • Tâm lý khách du lịch theo đạo Hồi

      • Điều khách sạn cần làm khi đón tiếp du khách Hồi giáo

      Rất nhiều người theo các tín ngưỡng tôn giáo, từ đó ảnh hưởng đến thói quen, cách sinh hoạt của họ. Vì vậy, làm sao để mọi đối tượng du khách hài lòng không đơn giản. Từ chủ khách sạn đến người quản lý cũng như nhân viên khách sạn cần hiểu rõ tâm lý khách du lịch theo tôn giáo. Cùng Nhà thầu thi công Nội thất Vinapad tìm hiểu điều này qua các thông tin sau.

      Tâm lý khách du lịch theo tôn giáo

      Tôn giáo có ảnh hưởng không nhỏ tới nhu cầu, thói quen của khách du lịch trên khắp thế giới. Khi theo một đạo giáo nào đó, các tín đồ có thể chỉ sử dụng các dịch vụ phù hợp hoàn toàn với đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo của họ. Từ đó, yêu cầu dịch vụ cũng khác nhau ở mỗi bộ phận du khách. Vì vậy, khi tiếp nhận khách lưu trú đặt phòng và sử dụng dịch vụ, quản lý khách sạn cần nắm rõ đặc điểm tâm lý của khách. Từ tôn giáo, tới đặc trưng dân tộc, văn hóa của họ để định hướng nhân viên có cách phục vụ phù hợp nhất.

      Lấy một số ví dụ về tâm lý du khách theo tôn giáo. Với người theo đạo Phật thường ưa thích sự yên tĩnh và dễ hòa hợp với người của các đạo khác. Họ cũng tuân theo nhiều tập tục kiêng kỵ như kiêng hoặc hạn chế ăn thịt (không ăn thịt vào các ngày rằm, mồng 1…), tránh nói năng thô lỗ, to tiếng…

      Còn người theo đạo Thiên Chúa tin tưởng hoàn toàn vào Chúa trời (Giê Su). Họ thường chân thật, tử tế, trung thực và tốt bụng. Tương tự các tín đồ đạo giáo khác, người Thiên Chúa giáo cũng có nhiều tập tục kiêng kỵ, lễ nghi văn hóa đặc trưng. Chẳng hạn, họ thường xuyên cầu nguyện, thứ 6 hàng tuần là ngày họ thường đi lễ nhà thờ. Bên cạnh đó, họ rất tôn sùng đạo nên các khách sạn cần chú ý trong giao tiếp nên cẩn trọng để tránh làm họ phật ý.

      Tâm lý khách du lịch theo đạo Hồi

      Thị trường khách du lịch Hồi giáo luôn chiếm thị phần không nhỏ. Theo thống kê, trên thế giới hiện có khoảng 1,8 tỷ người theo đạo Hồi – chiếm hơn 24% dân số toàn cầu. Đối tượng du khách này có thể mang lại lợi nhuận khá cao nếu biết làm hài lòng họ.

      Khách theo đạo Hồi là một thị trường khách đặc biệt với khá nhiều điều kiêng kỵ. Tâm lý của khách du lịch Hồi giáo phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm của đạo giáo này. Đây là những tín đồ thờ thần A la, tin tưởng tuyệt đối, có tập tục kiêng ăn thịt vào tháng 3 hàng năm. Họ luôn tuân thủ chặt chẽ các quy định của Lễ hội, ăn chay nhịn đói, lễ hiếu sinh.

      Thời gian quan trọng nhất trong năm với người Hồi giáo là Tháng Ramadan – tháng thứ 9 theo lịch Ả rập. Trong suốt tháng lễ này, tất cả tín đồ theo đạo Hồi không được ăn, uống, hút thuốc… (không đưa bất kể thứ gì vào miệng) vào ban ngày (từ khi mặt trời mọc đến khi mặt trời lặn). Nhưng có các đối tượng sau được miễn trừ: phụ nữ mang thai, trẻ em dưới 5 tuổi, người đi du lịch ở nước ngoài mà quốc gia đó không lấy đạo Hồi làm quốc giáo. Đặc biệt, cầu nguyện là việc không thể thiếu với đàn ông đạo Hồi. Họ cầu nguyện 5 lần/ ngày, quay mặt về hướng Đông, nơi có thánh địa Mecca.

      Trang phục truyền thống của người Hồi giáo là áo dài màu trắng và quần trắng, khi làm lễ thường đội chiếc mũ nhỏ màu trắng. Đàn ông Hồi giáo được khuyến khích để ria mép hoặc râu, khi đi làm công sở mặc âu phục vest. Trang phục của phụ nữ Hồi giáo có phần khắt khe hơn, trùm kín từ đầu đến chân, không để lộ tóc trước mặt người lạ. Với riêng Thổ Nhĩ Kỳ – do ảnh hưởng của văn hóa châu Âu nên phụ nữ dần được ăn mặc thoải mái hơn như phụ nữ phương Tây.

      Điều khách sạn cần làm khi đón tiếp du khách Hồi giáo

      Các khách sạn chuyên đón và phục vụ khách Hồi giáo cần chú ý đảm bảo đủ các yêu cầu cần thiết. Về cơ sở vật chất, nên có nơi cầu nguyện, khu ăn uống riêng biệt, dịch vụ spa phù hợp. Khách sạn cần có chứng chỉ Halal nghĩa là “được cho phép” về chế biến và phục vụ ẩm thực cho người Hồi giáo. Bên cạnh đó cần đào tạo nhân viên các kiến thức cần thiết.

      Những du khách theo Hồi giáo có nhu cầu sử dụng các dịch vụ phù hợp với văn hóa dân tộc, tín ngưỡng của họ. Từ đồ nội thất, màu sắc, cách sắp đặt nội thất, vật dụng trên bàn ăn. Cho đến cách phục vụ, cách giao tiếp, ứng xử và cách ăn uống, món ăn đều có đặc trưng riêng. Các khách sạn cần chú ý từ cách ứng xử, giao tiếp, phục vụ cho đến đồ nội thất, trang trí, các vật dụng được sắp xếp phù hợp để có được sự hài lòng của khách.

      Nhân viên khách sạn cũng cần chú ý về ẩm thực, người Hồi giáo chỉ ăn thịt dê, cừu, trâu, bò, gia cầm… và không ăn thịt heo, huyết động vật, không uống rượu.

      --- Bài cũ hơn ---

    • 10 “bí Kíp” Tung Hoành Khi Du Lịch Tokyo Tự Túc
    • Kinh Nghiệm Du Lịch Tokyo Tự Túc
    • Top Địa Điểm Du Lịch Tokyo Miễn Phí Không Phải Ai Cũng Biết
    • Với Vé Tàu 600 Yên, Hãy Khám Phá Những Địa Điểm Tuyệt Nhất Của Tokyo Trong Một Ngày
    • Tour Kinh Điển: Kế Hoạch Khám Phá Tokyo Trong 1 Ngày
    • Du Lịch Hành Hương Với Sự Phát Triển Giữa Tôn Giáo Và Kinh Tế

      --- Bài mới hơn ---

    • Cty Sukha Travel Uy Tín,giá Tốt Nhất
    • Tây Tạng Huyền Bí 6 Ngày 5 Đêm
    • Cty Sukha Travel Giá Tốt, Chất Lượng
    • Tour Du Lịch Hành Hương: Thập Tự Vạn Cảnh Vũng Tàu
    • .:tour Hành Hương Thập Tự Vũng Tàu ( 1 Ngày)
    • Mỗi năm đều có một lượng lớn người hành hương đến thành phố hoặc quốc gia khác với mục đích tôn giáo, điều này mở ra một ngưỡng phát triển mới cho du lịch hành hương. Vậy đầu tư vào loại hình du lịch này cần những gì và nó có thể mang lại những lợi ích gì?

      “Du lịch hành hương” là gì?

      Du lịch hành hương là một nhánh của loại hình du lịch tôn giáo, trong đó người hành hương thực hiện một chuyến đi vì mục đích tôn giáo hoặc tâm linh để đạt được các giá trị và thực hành tôn giáo chứ không chỉ đơn thuần là tham quan, đến thăm các di tích và hiện vật tôn giáo. Hành hương là một trong những mục tiêu chính trong việc đi lại thời xưa và có thể xem như đây là tiền thân của du lịch hiện đại ngày nay.

      Được xem là một tiền thân của du lịch, việc hành hương đã được thực hiện từ thời cổ đại và trong một số tôn giáo trên thế giới. Điển hình là đại hội tôn giáo lớn nhất thế giới diễn ra tại Kumbh Mela của Ấn Độ thu hút hơn 120 triệu người hành hương. Ngoài ra cũng có các cuộc hành hương lớn khác như cuộc hành hương Hajj đến Mecca diễn ra hàng năm – một thủ tục người Hồi giáo nhất định phải tuân theo ít nhất một lần trong đời.

      Tại sao các quốc gia nên đầu tư cho du lịch hành hương?

      Hiện tại, tất cả các quốc gia trên thế giới đều đang quyết tâm phát triển loại hình du lịch hành hương này với quy mô lớn, theo nghiên cứu của Hiệp hội Địa lý Hoa Kỳ. UNWTO ước tính rằng mỗi năm có khoảng 300 đến 330 triệu khách du lịch đến thăm các địa điểm tôn giáo trọng điểm của thế giới, trong đó có khoảng 600 triệu chuyến đi tôn giáo cả trong lẫn ngoài nước. Với tiềm năng như vậy, các quốc gia có nền văn hóa và tôn giáo đa dạng nên khai thác nguồn tài nguyên phong phú này của mình để thúc đẩy du lịch hành hương.

      UNWTO thể hiện rõ sự khuyến khích của mình đối với du lịch tôn giáo, rõ ràng nhất là việc Tổng thư ký Taleb Rifai khuyến nghị rằng “du lịch tôn giáo có thể là một trong những công cụ hiệu quả nhất để thúc đẩy phát triển toàn diện và bền vững”. Do đó, các hoạt động trong du lịch hành hương cũng nên được chú trọng phát triển vì loại hình du lịch này vừa có thể giúp nâng cao nhận thức của người dân nói chung về di sản của toàn nhân loại, vừa cung cấp các nguồn lực để bảo tồn các giá trị và sản phẩm tôn giáo, đóng góp vào sự phát triển của địa phương cũng như xây dựng nền tảng hiểu biết về văn hóa. Loại hình du lịch này giúp các quốc gia và nền văn minh đặc biệt trở nên dễ được thông cảm và chấp nhận hơn. Tương tự, loại hình này cũng sẽ giúp ích trong việc bảo tồn các di tích và hình thức văn hóa đã bị mai một.

      Bên cạnh việc mang lại lợi ích cho các nền văn hóa và tôn giáo khác nhau trên toàn thế giới, du lịch hành hương còn mang đến những cơ hội tuyệt vời giúp điểm đến hoặc đất nước tạo ra doanh thu, rõ ràng nhất là thống kê đã chỉ ra du lịch hành hương có thể giúp các quốc gia trên thế giới thu được 3,5 nghìn tỷ đôla. Hơn nữa, du lịch hành hương cũng sẽ giúp đóng góp ngoại hối và tạo ra việc làm cho quốc gia hoặc điểm đến tôn giáo.

      Hành hương Tây Ninh có những địa điểm nào? 

      Cùng với hành trình khám phá Tây Ninh, thì trong những năm gần đây. Tây Ninh đang thu hút nhiều du khách thập phương đến du lịch tâm linh.

      Lễ hội ngày Tết trên Núi Bà Đen

      Núi Bà Đen – Huyền tích Linh Sơn Thánh Mẫu: Nếu nhắc tới Tây Ninh như một trong những điểm đến tâm linh hàng đầu cả nước, thì núi Bà Đen với quần thể chùa Bà khoảng 300 năm tuổi, gắn liền vị Linh Sơn Thánh Mẫu được mọi người trang trọng thờ phụng, được coi là trái tim của miền đất này.

      Tượng Phật Chùa Thiền Lâm (Gò Kén,Tây Ninh)

      Chùa Thiền Lâm: Nằm ở xã Long Thành Trung, huyện Hòa Thành với khuôn viên rộng hơn 6.000 m2, chùa Thiền Lâm là một trong những ngôi chùa mà bạn không nên bỏ qua trong hành trình khám phá Tây Ninh. Chùa Thiền Lâm (chùa Gò Kén), là ngôi chùa có tuổi đời hơn 100 năm, nơi ngự tọa hai pho tượng Phật khổng lồ: tượng Bồ tát Quán Thế Âm cao 25 m đứng trên con rồng cao 7 m và tượng Phật nhập niết bàn dài 25 m.

      Tòa thành Tây Ninh

      Tòa thánh Tây Ninh: Nằm cách trung tâm thành phố Tây Ninh khoảng 5 km, Tòa thánh là công trình tôn giáo của đạo Cao Đài – một tôn giáo riêng có tại địa phương này, là sự giao thoa và tổng hòa của Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo, Hồi giáo, Cơ Đốc giáo, Thần Đạo và cả một số tôn giáo đa thần thời cổ đại.

      Nhiều tín đồ khi tới Tòa thánh Tây Ninh đã tìm thấy sự đồng điệu và gần gũi. Vào các khung 0h, 6h, 12h, 18h hàng ngày, các đồng đạo tụ hội trong trang phục áo dài trắng truyền thống của đạo, cùng làm lễ và nguyện cầu tại Tòa thánh. Du khách ngoại đạo vẫn được phép đứng trước cửa nơi làm lễ để tìm hiểu về các nghi thức và nét văn hóa đặc sắc này. Ngoài ra, mỗi năm nơi đây sẽ diễn ra hai lễ lớn: Đại lễ Đức Chí Tôn vào ngày mùng 9 tháng Giêng và Lễ hội yến du trì cung (hội bàn đào) vào ngày rằm tháng 8.

      Tạm kết

      Đến nay, những chuyến du lịch với lý do tâm linh, gắn với các “tượng đài tôn giáo” như thế này vẫn còn quan trọng và ở một số quốc gia như Ý, Israel, Ấn Độ, Pháp,… điều này rõ ràng hơn hẳn. Như vậy, du lịch hành hương là một yếu tố quan trọng và xuất hiện thường xuyên trong ngành du lịch. Nhiều ấn phẩm chuyên sâu về ngành cũng đã đề cập đến du lịch tôn giáo nói chung và du lịch hành hương nói riêng như một “phân khúc đang phát triển nhanh chóng trong ngành du lịch” và các quốc gia cũng như các điểm đến nên xem xét tiềm năng tôn giáo của mình để làm nền tảng phát triển loại hình du lịch hành hương này.

      Nguồn: Destination Review

      --- Bài cũ hơn ---

    • Tổng Hợp Một Số Địa Điểm Hành Hương Công Giáo Bạn Nên Bắt Đầu “tour”
    • Du Lịch Hành Hương & Những Điểm Đến Nổi Tiếng Tại Châu Á
    • Hang Sơn Đoòng • Hang Động Lớn Nhất Thế Giới • Oxalis Adventure
    • Nơi Tiên Cảnh Là Có Thật
    • Hang Rái Ninh Thuận: Ở Đâu, Giá Vé, Kinh Nghiệm Du Lịch Phượt A
    • Sự Ảnh Hưởng Của Tôn Giáo, Tín Ngưỡng Đến Du Lịch Việt Nam

      --- Bài mới hơn ---

    • 8 Địa Điểm Du Lịch Ở Quy Nhơn Nhất Định Phải “Check
    • Những Hình Ảnh Du Lịch Việt Nam Đẹp Nhất
    • 99+ Mẫu Áo Đồng Phục Du Lịch Biển Đẹp
    • Những Mẫu Đồng Phục Du Lịch Biển Dự Sẽ Hot Nhất Năm 2022
    • Top 100+ Mẫu Áo Gia Đình Đẹp Nhất Năm 2022
    • 1. Tôn giáo và tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam

                  Ðạo Phật

                  Phật giáo được du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ thứ 2, đến đời Lý (thế kỷ thứ 11) Phật giáo ở vào giai đoạn cực thịnh và được coi là hệ tư tưởng chính thống. Phật giáo được truyền bá rộng rãi trong nhân dân và có ảnh hưởng sâu sắc tới đời sống xã hội, để lại nhiều dấu ấn trong lĩnh vực văn hoá, kiến trúc. Nhiều chùa, tháp được xây dựng trong thời kỳ này.

                  Cuối thế kỷ thứ 14, Phật giáo phần nào bị lu mờ, nhưng những tư tưởng của Phật giáo còn ảnh hưởng lâu dài trong đời sống xã hội và sinh hoạt của Việt Nam. Hiện nay, số người theo đạo Phật và chịu ảnh hưởng của đạo Phật khoảng trên 70% số dân cả nước.

                  Công giáo

                  Ðược du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ 17, nơi tập trung nhiều tín đồ Thiên Chúa giáo ở Việt Nam hiện nay là vùng Bùi Chu – Phát Diệm (tỉnh Ninh Bình) và vùng Hố Nai – Biên Hoà (tỉnh Ðồng Nai). Số lượng tín đồ theo đạo Kitô chiếm khoảng trên 5 triệu người.

                  Ðạo Tin Lành

                  Ðược du nhập vào Việt Nam vào năm 1911 nhưng ít được phổ biến. Hiện nay, các tín đồ theo đạo Tin Lành sống chủ yếu ở vùng Tây Nguyên. Tại Hà Nội cũng có nhà thờ đạo Tin Lành tại phố Hàng Da. Số tín đồ theo đạo Tin Lành khoảng trên 400 nghìn người.

                  Ðạo Hồi

                  Ðạo Hồi du nhập vào Việt Nam khá sớm, tín đồ đạo Hồi chủ yếu là người Chăm ở miền Trung , có khoảng hơn 60 nghìn người.

                  Ðạo Cao Ðài

                  Xuất hiện ở Việt Nam từ năm 1926. Toà thánh Tây Ninh là trung tâm hội tụ những người theo đạo Cao Ðài ở miền Nam. Số tín đồ theo đạo này khoảng hơn 2 triệu người.

                  Ðạo Hoà Hảo

                  Xuất hiện ở Việt Nam năm 1939. Số tín đồ theo đạo này khoảng trên 1 triệu người, chủ yếu ở miền Tây Nam bộ.

                  Tín ngưỡng dân gian thờ Mẫu

                  Trong đời sống tâm linh của người Việt Nam đã từng tồn tại nhiều hình thức tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau. Người Việt có tục thờ cúng tổ tiên, thờ Thành hoàng làng, thờ Phật, thờ các thần linh, thờ các anh hùng có công với nước, với dân…, đặc biệt thờ Mẫu (Mẹ).

                  Thờ Mẫu có nguồn gốc của tục thờ thần thời cổ đại, thờ các nữ thần núi, rừng, sông, nước. Sau này, Mẫu được thờ ở các đền, phủ, và Mẫu luôn được đặt ở vị trí trang trọng nhất.  Thờ Mẫu có nguồn gốc ở miền Bắc, vào đến miền Nam, “Ðạo” này đã hoà nhập “Mẫu” với các nữ thần trong tín ngưỡng địa phương: Thánh Mẫu Thiên Y A Na (Huế), Thánh Mẫu Linh Sơn (Tây Ninh)

                  Trong thực tế việc thờ cúng của “Ðạo” Mẫu có sự hội nhập các hình thức của nhiều tôn giáo khác. Ngày nay, tín ngưỡng dân gian được coi trọng nên nhiều đền, phủ đã và đang được phục hồi và hoạt động sôi nổi.

      2. Thực trạng hoạt động du lịch tâm linh

                  Tuy nhiên, cùng với sự tham gia của hoạt động du lịch là quá trình thương mại hóa các giá trị tâm linh, dẫn đến nhiều mâu thuẫn nội tại. Đó là mâu thuẫn giữa những người tham gia vào hoạt động tại các điểm tôn giáo, tín ngưỡng khi mục đích của họ không đồng nhất. Đó là mâu thuẫn về việc sử dụng và đáp ứng các dịch vụ cho du khách. Đó là mâu thuẫn về chi phí và đóng góp cho các công tác nảy sinh khi có hoạt động du lịch. Đây là những vấn đề tiêu biểu nhất mà khi xem xét khai thác bất cứ một điểm tôn giáo, tín ngưỡng nào phục vụ hoạt động du lịch cần quan tâm giải quyết.

                  Việt Nam là quốc gia có tiềm năng du lịch tâm linh rất lớn với hệ thống các đình, đền, chùa, miếu, quán, lăng … dọc theo chiều dài của đất nước, rộng cùng 54 dân tộc anh em và sâu trong bốn ngàn năm lịch sử. Các nhà kinh doanh du lịch cũng đang từng bước khám phá và khai thác các giá trị này với một số các công trình mới có quy mô như khu Bái Đính Tràng An (Ninh Bình), khu Đại Nam Quốc Tự (Bình Dương), công viên Tâm Linh (Đà Nẵng) … Để việc kinh doanh du lịch tại cả các công trình cũ và mới đi đúng hướng, bài trao đổi đề cập đến một số vấn đề vướng mắc trên để các nhà quy hoạch, quản lý có được cái nhìn chiến lược trong từng bước phát triển loại hình du lịch này ở nước ta.

                  Nắm bắt được nhu cầu của đông đảo người dân, các công ty du lịch lữ hành đã đầu tư vào lĩnh vực du lịch tâm linh. Du lịch tâm linh không chỉ đơn thuần là hoạt động hành hương, tôn giáo tín ngưỡng thuần túy mà còn là động lực thúc đẩy sự giao lưu văn hóa và phát triển kinh tế – xã hội. Đó cũng là cách thức để thế hệ hôm nay bày tỏ sự tưởng nhớ đối với công lao của các bậc tiền bối.

                  Du lịch tâm linh thực chất là loại hình du lịch văn hóa, lấy yếu tố văn hóa tâm linh làm mục tiêu nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh của con người trong đời sống tinh thần. Do đó, việc sử dụng có trách nhiệm và bền vững các giá trị văn hóa và tự nhiên trong phát triển du lịch tâm linh sẽ mang lại cơ hội việc làm, tạo thu nhập cho người dân địa phương, góp phần thúc đẩy giao lưu văn hóa, tăng cường tình đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo, khôi phục và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của mỗi quốc gia cũng như toàn nhân loại. Mô hình du lịch này hiện đang rất phát triển tại nhiều nước theo Phật giáo trên thế giới như Nepal, Ấn Độ và các nước trong khu vực Đông Nam Á như Thái Lan, Lào, Myanmar… 

                  Hầu hết các địa phương ở nước ta đều có những điểm du lịch tâm linh như: đền Hùng (Phú Thọ), chùa Hương (Hà Nội), chùa Bái Đính và nhà thờ đá Phát Diệm (Ninh Bình), chùa Thiên Mụ (Thừa Thiên-Huế), núi Bà Đen và Thánh thất Cao Đài (Tây Ninh)… Một trong những tỉnh đi đầu và thành công trong loại hình du lịch này là Ninh Bình nơi có chùa Bái Đính, ở đây, người dân địa phương được chủ động tham gia vào các hoạt động phục vụ khách du lịch tại các điểm du lịch tâm linh: chèo đò, xích lô, bán hàng lưu niệm, hướng dẫn, tiêu thụ sản vật địa phương, phục vụ ăn uống… mang lại nguồn thu đáng kể. . 

                  Hội nghị quốc tế về du lịch tâm linh vì sự phát triển bền vững lần đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam đã cho thấy sự quan tâm của Việt Nam trước sự phát triển của loại hình du lịch này. Trong quá trình phát triển du lịch tâm linh phải luôn gắn với phát huy các giá trị văn hóa, bảo vệ môi trường, cảnh quan để du khách có thể cảm nhận được nét đẹp văn hóa của con người ở vùng đất đó. Bên cạnh đó, phải có sự tham gia của chính người dân địa phương trong việc bảo tồn và gìn giữ các giá trị di sản văn hóa của địa phương, tạo sự kết nối để hình thành các tuyến du lịch tâm linh chuyên đề tạo ra những trải nghiệm hết sức ấn tượng cho du khách.

                  Việt Nam có gần 8.000 lễ hội truyền thống, trong đó có rất nhiều lễ hội lớn mang tầm quốc gia. Cả nước có khoảng 40.000 khu di tích, thắng cảnh, tập trung chủ yếu ở đền, chùa, miếu mạo, tòa thánh, đài, lăng tẩm, phủ, khu tưởng niệm, trong đó hơn 3.000 địa danh được xếp hạng di tích quốc gia. Đi kèm di tích là các hoạt động văn hóa, tín ngưỡng, thể thao như thờ cúng tổ tiên, dòng tộc, tri ân anh dùng dân tộc, danh nhân, báo hiếu, chiêm bái, tụng kinh, thiền, yoga.

                  Chính kho tàng văn hóa và tín ngưỡng phong phú trên đã tạo hình cho cốt cách và bản sắc của dân tộc Việt Nam, làm nên nét riêng cho du lịch Việt Nam.

                  Văn hóa và tín ngưỡng là sản phẩm cốt lõi của du lịch tâm linh. Phát triển du lịch tâm linh chính là biến văn hóa thành hàng hóa. Do vậy, những lợi ích của ngành kinh tế này không chỉ về kinh tế mà hơn hết là giá trị tinh thần.

                  Theo Ts Dương Văn Sáu, Trưởng khoa Văn hóa Du lịch, Đại học Văn Hóa Hà Nội, một vài bộ phận công chúng do chưa có sự hiểu biết đúng đắn về giá trị của các di sản văn hóa và tín ngưỡng đã đánh đồng việc đi chùa, đi lễ, hát văn, hầu đồng là mê tín dị đoan. Dưới góc nhìn văn hóa, những phong tục, truyền thống và tín ngưỡng thuần Việt không chỉ mang giá trị nghệ thuật, mà còn là bản sắc dân tộc. Một số đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

                  Du lịch tâm linh có thể xem là một công cụ đặc hữu giúp xóa đi cái nhìn khiên cưỡng về di sản văn hóa, tôn giáo và tín ngưỡng. Du lịch tâm linh còn là cách tiếp cận hữu hiệu giúp nâng cao hiểu biết của công chúng về giá trị nghệ thuật của loại hình di sản phi vật thể này. Thông qua hoạt động du lịch, du khách được trực tiếp tiếp xúc, thẩm nhận, và trải nghiệm, từ đó nuôi dưỡng và phát triển các giá trị tâm linh tín ngưỡng từ trong tiềm thức của mình.

                  Hòa thượng Thích Thanh Nhiễu, Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, cho biết các điểm du lịch tâm linh thường gắn với đền, chùa, lăng tẩm, tòa thánh và lễ hội. Cả nước có gần 500 ngôi chùa được xếp hạng di tích quốc gia. Đây chính là những điểm thu hút du khách tới tham quan, trải nghiệm, chiêm bái, nghe giảng và trải nghiệm đời sống thiền tu. Đạo Phật và các tôn giáo, tín ngưỡng chính thống khác đều hướng con người tới giá trị Chân – Thiện – Mỹ.

                  Những trải nghiệm tâm linh tại nơi thờ tự giúp con người thư giãn, đạt tới sự cân bằng trong tâm hồn. Hòa mình vào không khí thân thiện, cởi mở của lễ hội cổ truyền cũng giúp con người dễ hòa hợp với nhau hơn. Vì vậy, du lịch tâm linh giúp phát triển hành vi hướng thiện, nâng cao tinh thần đoàn kết, hướng về cội nguồn, xây dựng xã hội hài hòa, tốt đẹp.

                  Trong bối cảnh thế giới đang ngày đối mặt với nhiều thách thức về chính trị, tôn giáo và môi trường, văn hóa và tín ngưỡng sẽ là sợi dây kết nối con người với nhau. Du lịch tâm linh góp phần xây dựng mối quan hệ thân thiện, khuyến khích tình bằng hữu, giúp vượt qua các thành kiến văn hóa và tôn giáo. Có thể xem du lịch tâm linh là công cụ kiến tạo hòa bình, Hòa thượng nói.

                  Những năm qua, ngành du lịch Việt Nam tăng trưởng mạnh mẽ, trong đó có sự đóng góp to lớn và bền vững từ du lịch tâm linh. Trong quy hoạch phát triển du lịch tổng thể, gồm bốn nội dung: du lịch sinh thái, du lịch thành thị, du lịch biển đảo và du lịch văn hóa – tâm linh – lịch sử, thì dòng thứ tư này có vị trí đặc biệt quan trọng. Năm 2022, ngành du lịch phục vụ 62 triệu du khách nội địa. Riêng du khách đến các địa điểm du lịch tâm linh chiếm tới một phần ba.

                  Theo Ts Dương Văn Sáu, chiến lược phát triển du lịch của bất kỳ quốc gia nào cũng lấy chính người dân sở trị làm gốc. Nước ta có hơn 90 triệu dân. Thu nhập bình quân đầu người tăng hàng năm. Đời sống tinh thần ngày càng được chú trọng, dẫn tới nhu cầu du lịch ngày càng cao. Tâm lý người Việt lại trọng tín ngưỡng. Hoạt động du lịch tâm linh vừa đáp ứng nhu cầu thư giãn, vừa tìm hiểu các trang lịch sử, phong tục, tập quán, tín ngưỡng thông qua các di tích và lễ hội. Vì vậy, đẩy mạnh phát triển du lịch tâm linh chính là đánh trúng tâm lý du khách nội địa.

                  Tâm linh và các giá trị di sản văn hóa tín ngưỡng gắn bó và tồn tại song hành cùng dân tộc từ hàng ngàn năm nay. Còn con người thì còn tôn giáo tín ngưỡng. Các di sản văn hóa, tín ngưỡng thuần Việt không chỉ được thể hiện qua các loại hình nghệ thuật, lễ hội dân gian, bài học lịch sử, mà còn ăn sâu vào đời sống dân gian của người Việt. “Tháng Tám giỗ cha, tháng Ba giỗ mẹ”, “Dù ai đi ngược về xuôi, nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng Ba” chính là những lời nhắc nhở các thế hệ về công ơn của Đức thánh Trần, thánh Mẫu Liễu Hạnh và các Vua Hùng.

                  Truyền thống và tín ngưỡng sẽ thổi hồn vào di sản văn hóa. Du lịch tâm linh hay bất cứ loại hình du lịch nào khác sẽ vững chắc hơn nếu lấy các giá trị cốt lõi, trong đó có di sản văn hóa và tín ngưỡng truyền thống làm bản lề, và dựa vào người dân của chính dân tộc mình, Ts Dương Văn Sáu đánh giá.

                  Việt Nam có 11 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO vinh danh là di sản thế giới, trong đó có 9 di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, 2 di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Những di sản văn hóa và tín ngưỡng này chính là những giá trị làm nên nét riêng biệt của du lịch Việt Nam.

                  Một du khách người Mỹ tại khu di tích chùa Hương nói: “Tôi đến Việt Nam không phải để các bạn chiều lòng chúng tôi. Tôi đến để xem văn hóa bản địa của các bạn, những điều chúng tôi không có. Cho nên, các bạn muốn lôi cuốn chúng tôi thì hãy làm những gì như các bạn vẫn làm hàng nghìn năm nay”.

                  Giá trị văn hóa tín ngưỡng truyền thống là thế mạnh, làm nên sức hấp dẫn cho du lịch Việt Nam. Ngành du lịch cần giới thiệu du khách đến với giá trị đích thực của các di sản văn hóa và tín ngưỡng truyền thống từng vùng miền. Mỗi tour du lịch tâm linh cần đọng lại trong tâm trí du khách, đặc biệt là du khách quốc tế một cách sâu sắc và riêng biệt và khi đó, số du khách đến Việt Nam sẽ không dừng lại ở 10 triệu lượt, Ts Dương Văn Sáu nói.

      3. Giải pháp nhằm phát triển bền vững loại hình  du lịch tâm linh

                  Ngành kinh tế du lịch cũng như nhiều ngành kinh tế khác, muốn phát triển trước hết, nó phải dựa vào nguồn tài nguyên du lịch (còn được gọi là nguồn lực để phát triển du lịch). Nhìn chung, những điểm du lịch tôn giáo đã và đang được khai thác du lịch tôn giáo (hay du lịch tâm linh) nhưng vấn đề là làm thế nào để khai thác nguồn lực tôn giáo tại các điểm du lịch tôn giáo nói trên theo hướng bảo tồn và phát huy các giá trị của chúng để có thể khai thác bền vững theo tinh thần của Luật Du lịch Việt Nam 2005: “Du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng được các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch của tương lai”

                  Để phát triển du lịch tôn giáo bền vững ở đây, theo chúng tôi cần có những điều kiện cơ bản như sau:

                  Đảm bảo việc bảo tồn tốt các điểm du lịch tôn giáo tại địa phương. Chúng ta biết rằng, ngành du lịch được mệnh danh là một ngành “công nghiệp không khói”, “con gà đẻ trứng vàng”, “xuất khẩu tại chỗ” v.v… Du lịch đem lại lợi ích kinh tế nhưng nó cũng đem lại những tác động có hại đến các điểm du lịch tôn giáo như làm biến đổi môi trường tại chỗ của các điểm du lịch tôn giáo, các điểm tham quan xuống cấp.

                  Bên cạnh việc bảo tồn tốt các điểm du lịch tôn giáo, chúng ta còn phải phát huy giá trị của các điểm du lịch tôn giáo bằng cách nâng cao nhận thức của người dân tại chỗ về các điểm du lịch tôn giáo trong vùng. Song song đó là nâng cao nhận thức của du khách hành hương, tham quan về các điểm du lịch tôn giáo mà họ đến tham quan. Mọi người đều thấy rằng các địa điểm du lịch tôn giáo mà họ đến tham quan là có ý nghĩa, có giá trị trong chuyến đi của họ. Người dân tại chỗ thì nhận thức được rằng những điểm du lịch tôn giáo trong vùng của họ là những tài sản quý giá có thể sinh lợi mà họ cần gìn giữ để khai thác hiệu quả lâu dài.

                  Có sự phối hợp quản lý tốt giữa chính quyền địa phương, các cơ quan chức năng của ngành du lịch và các đơn vị khai thác các điểm du lịch tôn giáo. Trong cả nước, sự phối hợp quản lý giữa chính quyền địa phương và các ngành chức năng và các đơn vị khai thác du lịch tôn giáo vẫn chưa có sự phối hợp đồng bộ làm cho các điểm du lịch tôn giáo xuống cấp, mất sự thu hút vốn có của nó bởi các tệ nạn ăn xin, mất an ninh trật tự hoặc là sự cấm đoán dè chừng của chính quyền địa phương làm cho sản phẩm du lịch bị gián đoạn.

                  Chuyên môn hóa lực lượng lao động chuyên khai thác du lịch tôn giáo: Chúng ta biết rằng nhiều tài nguyên du lịch được kết tinh trong sản phẩm du lịch bán cho khách cần phải được diễn giải khi khách tiêu thụ sản phẩm. Đây là một khâu rất quan trọng trong quá trình cung cấp sản phẩm. Tài nguyên tín ngưỡng tôn giáo cần phải được diễn giải nhiều hơn để du khách có thể thấu hiểu được tôn giáo bản địa, tại địa phương mà họ đến tham quan. Thông qua các khóa đào tạo kỹ năng và kiến thức cho lực lượng lao động phục vụ các chương trình du lịch tôn giáo để khi khách tham gia vào các tour du lịch tôn giáo, du lịch hành hương đến các điểm du lịch tôn giáo trên để đảm bảo du khách được cung cấp những sản phẩm du lịch tôn giáo tốt nhất, thỏa mãn nhu cầu của họ. Việc chuyên môn hóa lực lượng lao động để khai thác du lịch tôn giáo ở Việt Nam là chưa được quan tâm đúng mức. Nhiều lao động phục vụ khách trực tiếp trong các chương trình du lịch tôn giáo, tại các điểm du lịch tôn giáo còn chưa nắm rõ được những giá trị tại các điểm du lịch tôn giáo mà họ cung cấp cho du khách, khiến cho du khách không nhận ra hết những giá trị độc đáo tại các điểm du lịch tôn giáo mà họ đến. Tôi tin rằng, nếu chúng ta có những lực lượng lao động được đào tạo về du lịch tôn giáo tốt, khả dĩ cung cấp cho du khách những sản phẩm mang tính giá trị tôn giáo cao thì sẽ có nhiều khách tham gia vào các chương trình du lịch tôn giáo hơn. Một phần của việc chuyên môn hóa lực lượng lao động làm việc tại các điểm du lịch tôn giáo này phải lấy từ lực lượng tại chỗ. Một khi ngành du lịch cung cấp được những lợi ích thiết thực nhất cho cộng đồng địa phương như tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương, đóng góp một phần lợi nhuận để phát triển cộng đồng địa phương thì chúng ta có được thuận lợi lớn để phát triển du lịch tôn giáo tại địa phương.

                  Đối với những tín đồ của một tôn giáo, thì việc hành hương đến những thánh địa tôn giáo là một nhu cầu tâm linh không thể thiếu khi họ có điều kiện. Họ sẵn sàng chi trả tối đa để thỏa mãn nhu cầu tâm linh. Đối với những khách du lịch khác (khách du lịch bình thường khác trong hoặc ngoài nước), việc họ đến tham quan các thánh địa tôn giáo là một nhu cầu bình thường với những động cơ thông thường như tìm hiểu, nghiên cứu các tín ngưỡng, tôn giáo hoặc chỉ với mục đích rất bình thường là do hiếu kỳ mà tới..

                  Giá trị đầu tiên và quan trọng nhất của tín ngưỡng, tôn giáo là sự cố kết cộng đồng. Tôn giáo như là vật biểu trưng trung gian phát huy tác dụng đảm bảo sự liên hợp hòa hài giữa thế gian và siêu thế gian, xã hội và vũ trụ, phàm tục và thiêng liêng, và trên cơ sở đó, cũng đảm bảo sự liên hợp hòa hài giữa các thành phần xã hội với nhau, giữa các con người với nhau, vượt trên những mâu thuẫn cá biệt, những va chạm cá nhân. Giá trị này không chỉ khu biệt ở trong nước hay cộng đồng của một tôn giáo cụ thể mà còn có giá trị phổ quát đối với nhân loại.

                  Giá trị kế đến của tôn giáo là giáo dục, hướng thượng các thành viên trong cộng đồng. Bất kỳ tôn giáo nào cũng tác dụng giáo dục những thành viên trong cộng đồng sống hài hòa, đoàn kết, có ích và làm lợi cho cộng đồng, và ngoài ra, nó còn hướng con người tới những giá trị tốt đẹp như chân, thiện, mỹ, làm thăng hoa đời sống cá nhân và cộng đồng.

      Đề cao sự sáng tạo của các cá nhân trong cộng đồng. Chúng ta biết rằng, nhu cầu sáng tạo là một nhu cầu vốn có của mỗi cá nhân con người.

                  Nhu cầu tìm hiểu, học tập, nghiên cứu xem xét những tín ngưỡng bản địa của các tộc người là một nhu cầu có thực của khách du lịch. Khách du lịch đến những vùng đất lạ, họ có nhu cầu tìm hiểu phong tục, tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng, những quan niệm sống của các tộc người địa phương dù những giá trị đó có giá trị phổ quát toàn cầu hay chỉ là những giá trị trong nội bộ của tôn giáo, tín ngưỡng.

      4. Kết luận

                  Trong thời đại hiện nay, dù là phát triển kinh tế nói chung hay phát triển kinh tế du lịch nói riêng đều phải nhắm đến định hướng phát triển bền vững, đảm bảo được lợi ích kinh tế cũng như các mục tiêu về môi trường, xã hội và nhất là về con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của mọi sự phát triển. Đảng và Nhà nước Việt Nam cũng đã nhận ra phát triển bền vững là một yêu cầu cấp bách và đã định hướng tại Đại hội Đảng lần thứ XI, thông qua Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI: “Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững… Tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hòa với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Phát triển kinh tế xã hội phải luôn coi trọng bảo vệ và cải tạo môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu… Phải đặc biệt coi trọng giữ vững ổn định chính trị-xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ để bảo đảm cho đất nước phát triển nhanh và bền vững”

                  Ngoài ra, như tôi đã trình bày, để khai thác được hết những giá trị phổ quát của tôn giáo nói chung, những giá trị đặc thù của từng tôn giáo nói riêng, thì chúng ta phải có những đội ngũ nhân viên am hiểu về du lịch tôn giáo, du lịch tâm linh, đặc biệt là những người trực tiếp làm việc với khách trong hành trình du lịch tôn giáo như hướng dẫn viên theo chương trình, thuyết minh viên tại các điểm du lịch tôn giáo. Chúng ta có tài nguyên du lịch tôn giáo đa dạng và phong phú, nhưng chúng ta không có lực lượng lao động lành nghề thì chúng ta không thể khai thác tốt được các giá trị của tôn giáo trong hoạt động du lịch được

                  Đây là những vấn đề tiêu biểu nhất trong quá trình khai thác một điểm tôn giáo, tín ngưỡng phục vụ kinh doanh du lịch. Để những điểm tôn giáo, tín ngưỡng không ngủ yên trong những giá trị mà lịch sử mang lại cho nó, cần trao cho nó một sức sống đương đại. Sức sống đó được mang lại bởi hoạt động du lịch. Nhưng để đảm bảo cho hoạt động du lịch diễn ra có hiệu quả, không làm tổn hại đến những gì mà quá khứ để lại, không khơi nguồn cho những mâu thuẫn xã hội, cần một tầm nhìn chiến lược trong công tác quản lý. Bài viết đưa ra một số hướng giải quyết cho những vấn đề cụ thể thường phát sinh tại điểm tôn giáo, tín ngưỡng có sự tham gia của hoạt động du lịch với mong muốn hoạt động du lịch tâm linh bước đầu nhen nhóm ở Việt Nam sẽ có một hướng đi đúng mục đích – con đường giúp con người tìm về với bản thể, vươn tới những điều tốt đẹp hơn. Đây là xu hướng của du lịch hiện đại trên thế giới và nếu được quản lý đúng đắn ở Việt Nam nó sẽ mang đến những giá trị mới cho du lịch nước nhà.

       TÀI LIỆU THAM KHẢO:

      1)    Luật Du lịch 2005 & Văn bản hướng dẫn thi hành, NXB Chính trị Quốc gia 2013.

      2)   Ngô Đức Thịnh (cb) 2011: Bảo tồn, làm giàu và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam trong đổi mới và hội nhập, NXB Khoa học Xã hội.

      3)   Ngô Đức Thịnh (cb) 2012: Tín ngưỡng & Văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam, NXB Trẻ.

      4)   Ngô Đức Thịnh (cb) 2013: Văn hóa thờ Nữ thần-Mẫu ở Việt Nam và Châu Á – Bản sắc và Giá trị, NXB Thế giới.

      --- Bài cũ hơn ---

    • 5 Mẹo Chụp Ảnh “so Deep” Khi Đi Du Lịch Một Mình
    • Tất Tần Tật Các Cách Pose Dáng Cực Chất Khi Đi Du Lịch Giúp Bạn Thu Về Những Bức Ảnh “Triệu Like”
    • Cách Chụp Ảnh Du Lịch Thần Thánh Giúp Người “Xấu Ma Chê Quỷ Hờn” Cũng Được Nghìn Like
    • Bí Kíp Tạo Dáng Đi Biển Để Có Bộ Ảnh “Triệu Like” + “So Deep” — 2022
    • Du Lịch Sài Gòn Nên Đi Đâu, Ăn Gì Và Vào Thời Gian Nào Tốt Nhất?
    • Singapore: Nơi Văn Hóa, Tôn Giáo Và Đam Mê Cùng Hội Tụ

      --- Bài mới hơn ---

    • Những Nét Đặc Trưng Về Văn Hóa Và Con Người Singapore
    • Du Lich Uc Hoang Viet Travel
    • Các Công Ty Du Lịch Hàng Đầu Việt Nam
    • Có Thư Mời, Xin Visa Có Dễ Hơn Không?
    • Tuyển Sinh Trường Trường Cao Đẳng Nghề Việt – Úc Năm 2022
    • Lưu ý của Biên tập viên: Chúng tôi hiểu rằng ngay cả khi việc đi lại đang bị tạm dừng và cả thế giới đang ở nhà, bài viết sau đây có thể truyền cảm hứng cho bạn đến thăm Singapore vào lần tới khi tình hình đã cải thiện và có thể đi du lịch trở lại. Còn trong lúc này, hãy giữ an toàn. Singapore mong chờ chuyến thăm tiếp theo của bạn.

      Là một quốc gia có nhiều nền văn hóa, sắc tộc và tôn giáo, sự đa dạng là thế mạnh của đất nước Singapore chúng tôi. Nhiều cộng đồng của chúng tôi có thể có những lễ hội, truyền thống và tập quán riêng, nhưng bạn sẽ thấy chúng tôi cùng nhau kỷ niệm những sự kiện ấy như của cả dân tộc.

      Đây là năm lý do tại sao Singapore là một trong những quốc gia hài hòa và đa sắc tộc nhất trên hành tinh.

      Cộng đồng của chúng tôi rất sôi động và đa dạng

      Kể từ thời chúng tôi còn là một thuộc địa trong thế kỷ 19 và 20, những người nhập cư từ Ấn Độ, Trung Quốc và tất cả các quần đảo Mã Lai đã đổ về đảo quốc để tìm kiếm một cuộc sống tốt đẹp hơn. Và chính họ đã hình thành nên nền tảng cho việc xây dựng thành phố này.

      Ngày nay, những dân tộc tạo nên Singapore chủ yếu bao gồm các cộng đồng người Hoa, Mã Lai, Ấn Độ, Âu-Á và Peranakan*. Mặc dù chúng tôi cùng nhau sinh sống, làm việc và vui chơi, vẫn còn những vùng đất dân tộc truyền thống mà bạn có thể khám phá để tìm hiểu thêm về từng cộng đồng, ví dụ như Joo Chiat/Katong là một khu phố Peranakan mang tính lịch sử, còn Little India là nơi những người định cư gốc Ấn sớm nhất còn lưu lại những dấu ấn đầu tiên của họ. Và những người Mã Lai – người dân bản địa của vùng đất này, từ lâu đã coi Kampong Gelam là lãnh địa của tổ tiên các vị vua của họ, trước khi Singapore trở thành thuộc địa.

      Những dân tộc này có tiếng mẹ đẻ của riêng họ, thứ tiếng mà hầu hết người Singapore vẫn nói ngày nay; tuy nhiên, những ngôn ngữ ấy không gây ra bất kỳ chia rẽ nào giữa chúng tôi. Trên thực tế, những ngôn ngữ này đã kết hợp thành ngôn ngữ địa phương, đó là tiếng Anh kiểu Singapore (Singlish). Cùng với tiếng Anh, Singlish là ngôn ngữ chính khác mà chúng tôi sử dụng với bạn bè, gia đình và kể cả các đồng nghiệp. 

      Để nghe tiếng Anh kiểu Singapore với tất cả vẻ đẹp của nó, không có nơi nào thích hợp hơn là tới một khu ăn uống bình dân, nơi các cộng đồng của chúng tôi tụ tập và tương tác với nhau.

      *Đây là từ Indonesia/Malay có nghĩa là “được sinh ra tại địa phương”, thường chỉ những người có nguồn gốc Trung Hoa và Malay/Indonesia.

      “Món ăn địa phương” của chúng tôi đến từ khắp nơi trên thế giới

      Tất nhiên chúng ta sẽ không đến những khu ăn uống bình dân chỉ để nói tiếng Anh kiểu Singapore. Chúng ta đến đó để thưởng thức các món ăn. Giống như sự hòa trộn sắc tộc của chúng tôi, “đồ ăn Singapore” bao gồm nhiều món ăn, và tại một khu ăn uống bình dân, bạn có thể nếm thử tất cả những món ăn đó dưới một mái nhà. 

      Những món ăn này chủ yếu đến từ các cộng đồng người Mã Lai, Trung Quốc và Ấn Độ, với roti prata (bánh mì dẹt truyền thống của Ấn Độ) bình dân hay món cà ri Mã Lai cay xé lưỡi và cơm gà Hải Nam nổi tiếng.

      Thậm chí bạn còn có thể tìm thấy các phiên bản kết hợp của những món ăn truyền thống này: Ví dụ, Nhà hàng Trung Hoa Fifth Season Tangra phục vụ các món Trung-Ấn như cà ri kiểu Tứ Xuyên và cơm basmati chiên.

      Hai món ăn nổi bật khác của ẩm thực Singapore đến từ cộng đồng người Á-Âu và người Peranakan. Các món ăn của họ là sự pha trộn giữa truyền thống châu Á và châu Âu. Bạn sẽ được thưởng thức các món hầm cay và thịt nướng tại một quán ăn Âu-Á, và các món thịt và cà ri hầm ở một quán ăn Peranakan.

      Để nếm thử một số món ăn Peranakan ngon nhất thế giới, hãy đặt chỗ tại Candlenut, nhà hàng Peranakan duy nhất được xếp hạng sao Michelin trên thế giới.

      Nhiều tôn giáo ở Singapore cùng tồn tại hài hòa

      Theo một nghiên cứu năm 2014 của Trung tâm nghiên cứu Pew, Singapore quốc gia đa dạng nhất về tôn giáo trên thế giới. Mọi người thuộc mọi tín ngưỡng cùng chung sống, làm việc và thậm chí thờ phụng trong thành phố của chúng tôi.

      Chỉ cần đi ra Waterloo Street hoặc South Bridge Road và bạn sẽ thấy nhiều địa điểm thờ phụng khác nhau như đền thờ, nhà thờ Hồi giáo và giáo đường Do Thái nằm cạnh nhau.

      Những địa điểm thờ phụng này cũng là nơi có những kiến trúc đẹp nhất của Singapore. Chẳng hạn, ngọn tháp Gothic kiểu mới của Nhà thờ St Andrew dường như xuyên qua bầu trời của Khu Trung tâm Hành chính, và những mái vòm vàng lớn của Đền thờ Sultan Mosque vươn cao bên trên những căn shophouse (nhà ở kiêm cửa hàng) của Kampong Gelam khiến du khách không khỏi trầm trồ.

      Và chúng tôi cùng nhau ăn mừng

      Singapore là nơi tiếp sức sống cho rất nhiều niềm đam mê

      Bên cạnh văn hóa truyền thống, văn hóa đại chúng đóng vai trò rất quan trọng trong thành phố của chúng tôi. Nền nghệ thuật của chúng tôi không ngừng phát triển mạnh mẽ, với nhiều triển lãm, buổi hòa nhạc và lễ hội, như Singapore Art Week (Tuần lễ Nghệ thuật Singapore) và Singapore Writers Festival (Liên hoan Nhà văn Singapore) – tất cả sẽ là nguồn cảm hứng vô tận cho trí tưởng tượng của bạn.

      Ngay cả những nền văn hóa nhỏ hơn cũng hiện diện tại những ngõ ngách ở Singapore. Các tín đồ anime (truyện tranh Nhật Bản) tụ tập tại C3AFA Anime Festival Asia (Lễ hội Anime châu Á C3AFA), những người đam mê truyện tranh phân tích truyện tại Singapore Comic Con, và những ai yêu thích các chương trình hài hước thỏa sức thưởng thức các tiết mục hài độc thoại quanh thị trấn, như Comedy Masala.

      Dù bạn có sở thích độc hay lạ đến cỡ nào thì bạn cũng sẽ thấy rất nhiều người trong thành phố có chung sở thích với mình.

      --- Bài cũ hơn ---

    • Nét Văn Hóa Đặc Trưng Của Người Singapore & Những Lễ Hội Văn Hóa Không Nên Bỏ Qua Ở Đây?
    • Chia Sẻ Kinh Nghiệm Đi Universal Studio Singapore
    • Thành Phố Hồ Chí Minh – Singapore Changi Từ 3.618.822 ₫ – Các Chuyến Bay Giá Rẻ Từ Thành Phố Hồ Chí Minh Đến Singapore Changi Trong 2022
    • Bật Mí Địa Chỉ Mua Sim 4G Singapore Tại Việt Nam
    • Nên Ở Khách Sạn Nào Ở Singapore Chất Lượng Nhất
    • Nghiên Cứu Loại Hình Du Lịch Tôn Giáo Tại Ninh Bình Luận Văn Ths. Du Lịch

      --- Bài mới hơn ---

    • Bảng Giá Cho Thuê Xe Đi Mũi Né Phan Thiết
    • Giá Thuê Xe Du Lịch 29 Chỗ Tại Tp Hcm Đi Mũi Né
    • Du Lịch Thành Phố Hồ Chí Minh: Hà Nội
    • Du Lịch 2 Ngày 1 Đêm Từ Tp Hcm Nên Đi Đâu Vừa Rẻ Vừa Vui
    • Mách Bạn Cẩm Nang Kinh Nghiệm Du Lịch Trà Cổ Từ A Đến Z
    • ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

      TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

      TRẦN THỊ HIÊN

      “NGHIÊN CỨU LOẠI HÌNH DU LỊCH TÔN GIÁO

      TẠI NINH BÌNH”

      LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH

      Hà Nội, 2022

      ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

      TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

      TRẦN THỊ HIÊN

      “NGHIÊN CỨU LOẠI HÌNH DU LỊCH TÔN GIÁO

      TẠI NINH BÌNH”

      Chuyên ngành: Du lịch

      (Chương trình đào tạo thí điểm)

      LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH

      NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN TRÙNG KHÁNH

      Hà Nội, 2022

      Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, trước tiên tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc

      tới Thầy giáo hướng dẫn – Ts. Nguyễn Trùng Khánh đã tận tình, giúp đỡ, hướng

      dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài.

      Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo trong khoa Du lịch học-

      Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn đã tạo cho tôi có một nền tảng

      kiến thức cơ bản và phương pháp làm việc, nghiên cứu để tôi có thể lựa chọn và

      thực hiện luận văn đúng hướng.

      Qua luận văn tốt nghiệp này, tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Sở Văn

      Hóa Thể Thao và Du lịch Ninh Bình, Ban quan lý khu Du lịch chùa Bái Đính, Nhà

      thờ đá Phát Diệm đã cung cấp thông tin và số liệu đồng thời đóng góp ý kiến cho tôi

      trong quá trình tìm hiểu và thu thập tài liệu.

      Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và những người thân yêu

      đã luôn quan tâm, tạo điều kiện cho tôi trong thời gian nghiên cứu và hoàn thành

      luận văn này.

      Do thời gian có hạn và trình độ bản thân còn nhiều hạn chế nên luận văn ”

      Nghiên cứu loại hình du lịch tôn giáo tại Ninh Bình” của tôi không tránh khỏi

      những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được sự đóng góp, phê bình của quý Thầy Cô,

      nhà khoa học, đọc giả và các bạn đồng nghiệp.

      Tôi xin chân thành cảm ơn!

      Hà Nội, ngày 5 tháng 1 năm 2022

      Học viên

      Trần Thị Hiên

      2

      MỤC LỤC

      DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 6

      DANH MỤC BẢNG 7

      DANH MỤC BIỂU ĐỒ 8

      PHẦN MỞ ĐẦU 9

      1. Tính cấp thiết của đề tài 9

      2. Lịch sử nghiên cứu của đề tài 10

      3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 13

      4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 13

      5. Phƣơng pháp nghiên cứu 14

      6. Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài 14

      7. Bố cục của đề tài 15

      Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 16

      VỀ DU LỊCH TÔN GIÁO 16

      1.1. Một số khái niệm cơ bản 16

      1.1.1. Tôn giáo, tín ngưỡng 16

      1.1.2. Lịch sử hình thành và phát triển tôn giáo, tín ngưỡng 21

      1.1.3. Vai trò của tôn giáo, tín ngưỡng trong đời sống xã hội 20

      1.2. Du lịch tôn giáo 24

      1.2.1. Khái quát về du lịch 24

      1.2.1.1. Khái niệm 24

      1.2.1.2. Các loại hình du lịch 27

      1.2.2. Khái quát về du lịch tôn giáo 28

      1.2.2.1. Khái niệm 28

      1.2.2.2. Đặc điểm du lịch tôn giáo. 31

      1.2.2.3. Các cấp độ phát triển và hình thức du lịch tôn giáo 31

      1.2.2.5. Điều kiện phát triển du lịch tôn giáo. 35

      1.3. Kinh nghiệm khai thác loại hình du lịch tôn giáo của một số quốc gia. 38

      1.3.1. Kinh nghiệm của Ấn Độ 38

      3

      1.3.2. Kinh nghiệm của Trung Quốc. 40

      1.3.3. Kinh nghiệm của Thái Lan 43

      Chƣơng 2: THỰC TRẠNG KHAI THÁC LOẠI HÌNH DU LỊCH 45

      TÔN GIÁO TẠI NINH BÌNH 45

      2.1. Tiềm năng phát triển du lịch tôn giáo tại Ninh Bình 45

      2.1.1. Vị trí địa lý và tài nguyên du lịch tự nhiên. 45

      2.1.1.1. Vị trí địa lý 45

      2.1.1.2. Tài nguyên du lịch tự nhiên 46

      2.1.2. Điều kiện kinh tế – xã hội và tài nguyên du lịch nhân văn. 47

      2.1.2.1. Điều kiện kinh tế – xã hội 47

      2.1.2.2. Tài nguyên du lịch nhân văn 49

      2.1.3. Khái quát về những điểm đến du lịch tôn giáo chính tại Ninh Bình 53

      2.1.3.1. Quần thể khu du lịch Nhà thờ đá Phát Diệm 53

      2.1.3.2. Chùa Bái Đính 54

      2.2. Thực trạng khai thác hoạt động du lịch tôn giáo tại Ninh Bình 56

      2.2.1. Sản phẩm du lịch tôn giáo tại Ninh Bình 56

      2.2.2. Khách du lịch tôn giáo 60

      2.2.3. Doanh thu và cơ cấu doanh thu du lịch tôn giáo 68

      2.2.4. Cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật 72

      2.2.5. Nguồn nhân lực 80

      2.2.6. Công tác tổ chức, quản lý 82

      2.3. Đánh giá về hoạt động khai thác loại hình du lịch tôn giáo tại Ninh Bình 85

      2.3.1. Những kết quả tích cực 85

      2.3.2. Những tồn tại, hạn chế 87

      2.3.3. Nguyên nhân tồn tại, hạn chế 93

      4

      Chƣơng 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM KHAI THÁC VÀ QUẢN LÝ 95

      LOẠI HÌNH DU LỊCH TÔN GIÁO TẠI NINH BÌNH 95

      3.1. Quan điểm và định hƣớng của Đảng, Nhà nƣớc về tôn giáo, tín ngƣỡng

      95

      3.1.1. Quan điểm và định hướng của Đảng, Nhà nước 95

      3.1.2. Định hướng phát triển du lịch tôn giáo của tỉnh Ninh Bình 97

      3.2. Một số giải pháp nhằm khai thác và quản lý du lịch tôn giáo tại Ninh

      Bình 99

      3.2.1. Tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho khách du lịch tôn giáo 99

      3.2.2. Xây dựng và tạo hành lang pháp lý cho phát triển loại hình du lịch tôn

      giáo 99

      3.2.3. Phát triển loại hình du lịch tôn giáo một cách bền vững nhằm bảo tồn,

      phát huy giá trị di sản văn hóa truyền thống dân tộc 100

      3.2.4. Nghiên cứu, xây dựng mô hình và giải pháp tổ chức quản lý, khai thác

      loại hình du lịch tôn giáo có hiệu quả 101

      3.2.5. Phát triển bộ máy, đội ngũ quản lý về văn hóa, lễ hội, du lịch tôn giáo

      103

      3.2.6. Nâng cao chất lượng đội ngũ nhân lực 103

      3.2.7. Quy hoạch hạ tầng, quản lý hoạt động dịch vụ và cơ sở vật chất kỹ

      thuật tại địa điểm du lịch tôn giáo 108

      3.2.8. Phối hợp 5 bên để xây dựng các sản phẩm du lịch tôn giáo phù hợp

      (Cơ quan quản lý văn hóa, du lịch; Giáo hội, chức sắc tôn giáo; Công ty lữ

      hành; Cư dân bản địa; Các đơn vị tổ chức cung ứng dịch vụ du lịch tại điểm

      đến). 109

      3.3. Kiến nghị 109

      3.3.1. Kiến nghị đối với Đảng, Nhà nước, Chính phủ 109

      3.3.2. Kiến nghị đối với sở, ban ngành VHTTDL 110

      3.3.3. Kiến nghị đối với Ủy ban Nhân dân tỉnh Ninh Bình 110

      5

      3.3.4. Kiến nghị đối với chính quyền địa phương 110

      3.3.5. Kiến nghị đối với các doanh nghiệp du lịch 112

      3.3.6. Kiến nghị đối với người dân địa phương 113

      KẾT LUẬN 115

      TÀI LIỆU THAM KHẢO 117

      PHỤ LỤC

      6

      DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

      TOUR: Chƣơng trình du lịch

      UBND: Ủy ban nhân dân

      UNESCO: Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên Hợp Quốc

      UNWTO: Tổ chức du lịch thế giới của Liên Hợp Quốc

      7

      DANH MỤC BẢNG

      Bảng 2.1: Một số chương trình du lịch tôn giáo và du lịch tôn giáo kết hợp đang

      được khai thác tại Ninh Bình 58

      Bảng 2.2: Số lượng khách du lịch đến Ninh Bình giai đoạn từ năm 2005-2013 60

      Bảng 2.3: Hình thức tìm kiếm thông tin về du lịch Ninh Bình của khách nội địa 63

      Bảng 2.4: Hình thức tìm kiếm thông tin du lịch Ninh Bình của khách quốc tế 64

      Bảng 2.5: Thời gian lưu trú của khách du lịch đến Ninh Bình 65

      Bảng 2.6: Mục đích của khách du lịch nội địa đến Ninh Bình 66

      Bảng 2.7: Mục đích chuyến đi của khách du lịch quốc tế đến Ninh Bình 68

      Bảng 2.8: Doanh thu và nộp ngân sách của ngành du lịch Ninh Bình 69

      giai đoạn từ năm 2005 -2013 69

      Bảng 2.9: Số liệu chi tiêu của khách du lịch đến Ninh Bình từ năm 2005 – 2011 70

      Bảng 2.10: Cơ cấu chi tiêu bình quân một ngày khách du lịch 71

      đến Ninh Bình năm 2009 71

      Bảng 2.11: Số lượng cơ sở lưu trú trên địa bàn tỉnh Ninh Bình 72

      từ năm 2009 đến năm 2013. 72

      Bảng 2.12: Một số cơ sở lưu trú tiêu biểu tại Ninh Bình 74

      Bảng 2.13: Một số nhà hàng phục vụ du lịch tại Ninh Bình 75

      Bảng 2.14: Một số cơ sở vui chơi giải trí tại Ninh Bình 80

      Bảng 2.15: Nguồn nhân lực du lịch Ninh Bình giai đoạn từ năm 2005 – 2011 81

      Bảng 2.16: Trình độ đội ngũ lao động du lịch Ninh Bình 82

      Biểu đồ 2.1: Số lượng khách du lịch Ninh Bình giai đoạn từ năm 2005 -2012 61

      Biểu đồ 2.2: Thời gian lưu trú của khách quốc tế đến Ninh Bình 65

      Biểu đồ 2.3: Cơ cấu mục đích khách du lịch nội địa đến Ninh Bình 67

      Biểu đồ 2.4: Đánh giá của khách nội địa về trình độ lao động du lịch Ninh Bình 91

      Biểu đồ 2.5: Đánh giá về chất lượng nhân lực du lịch Ninh Bình của du khách quốc tế 91

      9

      PHẦN MỞ ĐẦU

      1. Tính cấp thiết của đề tài

      Trong một số loại hình du lịch, du lịch tôn giáo là một loại hình tương đối

      mới, đã và đang phát triển ở các nước trên thế giới đặc biệt là ở Châu Á như Ấn Độ,

      Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan. Tại Việt Nam, loại hình du lịch này cũng đang có

      được sự phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng trở thành sản phẩm du lịch quan trọng

      có sức hấp dẫn lớn. Bên cạnh đó, hiện nay sự chuyển hoá các khuynh hướng nhu

      cầu du lịch rất đa dạng, đặc biệt là xu hướng chuyển hoá từ du lịch tham quan, nghỉ

      dưỡng sang du lịch văn hóa tâm linh. Nắm bắt để cung ứng và tiếp cận phù hợp là

      một yêu cầu rất quan trọng đối với chính quyền địa phương và các nhà đầu tư, kinh

      doanh du lịch tại điểm.

      Du lịch tôn giáo là sự kết hợp giữa việc đi du lịch với nhu cầu tôn giáo. Trong

      loại hình du lịch này, du khách vừa đi tham quan, tìm hiểu về tự nhiên và văn hóa

      địa phương. Đồng thời, cũng là tìm về với cội nguồn tôn giáo, đến với chùa chiền,

      nhà thờ, thánh địa, những điểm linh thiêng để cảm thấy thanh thản và cầu khấn

      những điều tốt đẹp. Loại hình du lịch này xuất hiện muộn hơn so với các loại hình

      du lịch khác ở nước ta. Tuy nhiên, những năm gần đây do sự phát triển của kinh tế –

      xã hội, đời sống nhân dân không ngừng được nâng cao, khi các nhu cầu vật chất

      được đáp ứng, con người có xu hướng tìm về với các giá trị văn hóa và tâm linh.

      Đây là động lực thúc đẩy du lịch tôn giáo phát triển và khẳng định vị trí của mình

      trong tổng thể nền du lịch Việt Nam.

      Ninh Bình là một tỉnh có tiềm năng du lịch phong phú, bao gồm cả tài nguyên

      du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn. Nơi đây hội tụ rất nhiều di tích lịch

      sử, di tích tôn giáo, tín ngưỡng có giá trị cao như Cố Đô Hoa Lư, nhà thờ đá Phát

      Diệm, Chùa Bái Đính Ngoài ra, Ninh Bình có rất nhiều lễ hội truyền thống diễn ra

      quanh năm. Đó là điều kiện thuận lợi để tỉnh có các chính sách phát triển du lịch,

      đưa ngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Đồng thời đây cũng là nguồn

      tài nguyên quan trọng cho sự phát triển của du lịch tôn giáo. Dù vậy, do nhiều

      nguyên nhân khác nhau, ngành du lịch của Ninh Bình thời gian qua phát triển chưa

      thực sự tương xứng với tiềm năng, du lịch của tỉnh chủ yếu mới khai thác ở một số

      10

      loại hình như: du lịch tham quan thắng cảnh tự nhiên, du lịch tham quan di tích lịch

      sử – văn hóa, du lịch lễ hội. Du lịch tôn giáo mặc dù đã xuất hiện từ lâu nhưng còn

      mang tính tự phát, tồn tại nhiều biểu hiện tiêu cực, đi ngược lại các giá trị văn hóa

      truyền thống và chưa được khai thác có hiệu quả, cho dù lượng khách du lịch đến

      các điểm thánh tích khá lớn, nhất là vào các dịp lễ hội.

      Chiến lược phát triển du lịch Ninh Bình giai đoạn 2010 – 2022, tầm nhìn đến

      năm 2030 luôn xác định du lịch văn hóa nói chung, trong đó có du lịch tôn giáo, là

      đính hướng ưu tiên phát triển. Trong thực tế, nhiều giá trị văn hóa truyền thống

      bước đầu đã được quản lý và khai thác có hiệu quả, tạo thành nhiều sản phẩm du

      lịch hấp dẫn, góp phần quan trọng vào phát triển du lịch nói riêng và phát triển kinh

      tế – xã hội nói chung. Tuy nhiên, một vấn đề không thể phủ nhận là du lịch tôn giáo

      vẫn chưa phát triển như mong muốn với tư cách là một loại hình du lịch văn hóa

      quan trọng. Việc quản lý và khai thác loại hình du lịch này cho đến nay vẫn còn

      nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn chưa được quan tâm nghiên cứu và tổng kết, đánh

      giá một cách đứng mức.

      Với những lý do trên tác giả lựa chọn đề tài ” Nghiên cứu loại hình du lịch

      tôn giáo tại Ninh Bình” để có cái nhìn toàn diện hơn về tiềm năng và thực trạng

      phát triển du lịch tôn giáo tại Ninh Bình, từ đó, đưa ra một số giải pháp nhằm quản

      lý, khai thác hiệu quả loại hình du lịch này trong thời gian tới, tuân thủ các chủ

      trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước về tôn giáo ở

      Việt Nam.

      Do phạm vi tư liệu rất rộng, địa bàn khảo sát rất lớn, vấn đề khảo sát rất nhiều

      nên tác giả giới hạn phạm vi khảo sát nghiên cứu vấn đề du lịch tôn giáo tại một số

      điểm du lịch tiêu biểu của tỉnh Ninh Bình- nơi diễn ra nhiều hoạt động sinh hoạt tôn

      giáo tâm linh và có đông đảo người dân tham gia.

      2. Lịch sử nghiên cứu của đề tài

      Cho đến nay, đã có một số lượng tương đối lớn các công trình nghiên cứu liên

      quan đến đối tượng nghiên cứu của đề tài. Đây cũng chính là nguồn tài liệu phong

      phú và bổ ích để tác giả kế thừa và phục vụ cho việc nghiên cứu luận văn.

      11

      2.1 . Các công trình nƣớc ngoài

      Các công trình nước ngoài có thể kể đến các công trình tiêu biểu là: Trong ” Religion

      Tourism in Asia and Pacific” do Tổ Chức Du Lịch Thế Giới( UNWTO) phát hành

      năm 2011 có đề cập tới tiềm năng, thực trạng và giải pháp phát triển du lịch tôn giáo

      ở một số nước ở Châu Á như Malaysia, Indonesia, Thái Lan Ngoài ra, trong cuốn

      sách này cũng viết rằng: Khu vực Châu Á -Thái Bình Dương được xem là cốt lõi

      tôn giáo trên thế giới với số lượng lớn nhất của những người hành hương và khách

      du lịch cho các sự kiện tôn giáo, cho cả du lịch quốc tế và nội địa. Người ta ước tính

      rằng có khoảng sáu trăm triệu chuyến du lịch tôn giáo trên thế giới, trong đó 40%

      xảy ra ở châu Âu và hơn một nửa ở châu Á. Du lịch tôn giáo là nguồn tài nguyên vô

      cùng quan trọng và hấp dẫn đối với sự phát triển du lịch ở khu vực Châu Á – Thái

      Bình Dương. Tác giả Sarah Bill Schott cũng đưa ra những quan điểm rất sắc bén và

      bổ ích về việc thành lập những trang web chuyên về du lịch tôn giáo dành riêng cho

      khách du lịch trong cuốn ” Religious Tourism in America: Identity Formation of

      Sites and Visitors”. Tác giả kết luận: Các trang web du lịch tôn giáo có chức năng

      như các sản phẩm văn hóa và chúng tạo ra bản sắc tôn giáo và văn hóa dựa trên

      nhận thức của những người sáng tạo của trang web về vai trò của tôn giáo trong thế

      giới. 2 tác giả R. Raj và N.D.Morpeth trong cuốn “Religious Tourism and

      Pilgrimage Festivals Management: An International Perspective” có nghiên cứu về

      du lịch tôn giáo và lễ hội hành hương. Các tác giả nhận định tôn giáo và tâm linh là

      động lực chung cho du lịch, với nhiều điểm du lịch lớn đã phát triển chủ yếu là kết

      quả của kết nối các điểm du lịch với thần thánh, địa điểm và các sự kiện. Cuốn sách

      này cung cấp một cái nhìn sâu sắc vào việc quản lý du lịch tôn giáo, bao gồm cả các

      trang web thiêng liêng cổ và các điểm đến mới nổi. Nó hoàn toàn khám phá những

      tiềm năng về không gian thiêng liêng để trở thành khu vực du lịch và lễ hội lớn,

      trong khi vẫn duy trì tính toàn vẹn tôn giáo và tinh thần tôn giáo. Tuy nhiên, trong

      các công trình nghiên cứu này, du lịch tôn giáo ở Việt Nam nói chung, ở Ninh Bình

      nói riêng hoàn toàn chưa được đề cập tới.

      13

      Phát Diệm, chùa Bái Đính thì chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập. Vì thế,

      việc tìm hiểu về vấn đề thực trạng hoạt động du lịch tôn giáo tại Ninh Bình có ý

      nghĩa quan trọng trong việc đánh giá tiềm năng phát triển du lịch tôn giáo của tỉnh

      Ninh Bình. Khai thác tối ưu du lịch tôn giáo cũng sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển

      du lịch nói chung của tỉnh Ninh Bình.

      3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

      – Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu nhằm đề xuất các giải pháp góp phần

      quản lý và khai thác có hiệu quả các giá trị văn hóa tôn giáo, phục vụ phát triển du

      lịch tôn giáo nói riêng, du lịch văn hóa nói chung phù hợp với các định hướng và

      chiến lược phát triển của tỉnh Ninh Bình, của ngành du lịch Việt Nam và tuân thủ

      các chủ trương, đường lối, chính sách về tôn giáo của Đảng và Nhà nước

      – Nhiệm vụ nghiên cứu:

      + Nhận diện cụ thể loại hình du lịch tôn giáo (khái niệm, đặc điểm, cấp độ

      phát triển, điều kiện phát triển, yếu tố ảnh hưởng, vai trò…)

      + Làm rõ thực trạng tổ chức khai thác hoạt động du lịch tôn giáo tại Ninh Bình

      (công tác quản lý, đối tượng khách, doanh thu…)

      + Đề xuất các giải pháp quản lý và khai thác loại hình du lịch tôn giáo phù hợp

      với các định hướng và chiến lược phát triển tỉnh Ninh Bình, của ngành du lịch Việt

      Nam và tuân thủ các chủ trương, đường lối, chính sách về tôn giáo của Đảng và

      Nhà nước.

      4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

      – Đối tượng nghiên cứu:

      Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về loại hình du lịch tôn

      giáo

      – Phạm vi nghiên cứu:

      + Phạm vi thời gian: Số liệu được thu thập và xử lý trong giai đoạn 2005 –

      2013, dự báo cho giai đoạn 2022-2020.

      + Phạm vi không gian:

      14

       Ngoài nước: Nghiên cứu kinh nghiệm quản lý và tổ chức khai thác loại hình

      du lịch tôn giáo tại một số quốc gia Châu Á tiêu biểu.

       Trong nước: Nghiên cứu thực trạng quản lý và tổ chức khai thác các giá

      trị văn hóa tôn giáo tín ngưỡng phục vụ các hoạt động du lịch tôn giáo trên phạm

      vi tỉnh Ninh Bình, tập trung nghiên cứu đến những địa điểm có nhiều giá trị văn

      hóa tôn giáo Phật giáo, Thiên chúa giáo tiêu biểu tại địa phương như Chùa Bái

      Đính, Nhà thờ đá Phát Diệm.

      5. Phƣơng pháp nghiên cứu

      – Phương pháp thực địa: Trong chương 2 tác giả sẽ áp dụng phương pháp

      thực địa. Thực hiện đi thực tế, điều tra trực tiếp bằng quan sát, bảng hỏi (200 phiếu),

      chụp ảnh, phỏng vấn tại không gian các điểm du lịch trong phạm vi nghiên cứu.

      Qua đó tìm hiểu tiềm năng cũng như thực trạng khai thác du lịch tôn giáo ở những

      di tích tôn giáo tín ngưỡng này.

      – Phương pháp tổng hợp, phân tích: Trong quá trình nghiên cứu, luận văn

      dựa trên những nguồn tài liệu tìm hiểu được về du lịch, du lịch tôn giáo, du lịch tôn

      giáo tại Ninh Bình qua sách, báo, internet, nguồn tư liệu của Sở Văn hóa – Thể thao

      – Du lịch để đưa ra những quan điểm phù hợp nhất với vấn đề cần nghiên cứu và qua

      đó đánh giá tiềm năng, thực trạng khai thác hoạt động du lịch tôn giáo tại Ninh

      Bình.

      – Phương pháp thống kê: Tổng hợp các số liệu, tư liệu đã thu thập được để tiến

      hành phân tích, so sánh nhằm làm rõ những vấn đề cần tìm hiểu. Ví dụ các số liệu thu

      thập được qua điều tra bảng hỏi, phỏng vấn Qua đó rút ra được những nhận xét và kết

      luận đúng đắn.

      – Phương pháp so sánh: Tiến hành so sánh quan điểm về du lịch, du lịch tôn giáo,

      so sánh hoạt động du lịch tôn giáo của các quốc gia ở Châu Á. So sánh sự phát triển của

      du lịch tôn giáo với các loại hình du lịch khác ở Ninh Bình.

      6. Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài

      Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể có ý nghĩa như sau:

      16

      Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

      VỀ DU LỊCH TÔN GIÁO

      1.1. Một số khái niệm cơ bản

      1.1.1. Tôn giáo, tín ngưỡng

      “Tôn giáo” là một thuật ngữ không thuần Việt, được du nhập từ nước ngoài

      vào từ cuối thế kỷ XIX. Xét về nội dung, thuật ngữ “Tôn giáo” khó có thể hàm chứa

      được tất cả nội dung đầy đủ của nó từ cổ đến kim, từ Đông sang Tây.

      “Tôn giáo” bắt nguồn từ thuật ngữ “religion” (Tiếng Anh) và”religion” lại

      xuất phát từ thuật ngữ “legere” (Tiếng Latinh) có nghĩa là thu lượm thêm sức mạnh

      siêu nhiên. Vào đầu công nguyên, sau khi đạo Kitô xuất hiện, đế chế Roma yêu cầu

      phải có một tôn giáo chung và muốn xóa bỏ các tôn giáo trước đó cho nên lúc này

      khái niệm “religion” chỉ mới là riêng của đạo Kitô. Bởi lẽ, đương thời những đạo

      khác Kitô đều bị coi là tà đạo. Đến thế kỷ XVI, với sự ra đời của đạo Tin Lành –

      tách ra từ Công giáo – trên diễn đàn khoa học và thần học châu Âu, “religion” mới

      trở thành một thuật ngữ chỉ hai tôn giáo thờ cùng một chúa. Với sự bành trướng của

      chủ nghĩa tư bản ra khỏi phạm vi châu Âu, với sự tiếp xúc với các tôn giáo thuộc

      các nền văn minh khác Kitô giáo, biểu hiện rất đa dạng, thuật ngữ “religion” được

      dùng nhằm chỉ các hình thức tôn giáo khác nhau trên thế giới.

      Thuật ngữ “religion” được dịch thành “Tông giáo” đầu tiên xuất hiện ở Nhật

      Bản vào đầu thế kỷ XVIII và sau đó du nhập vào Trung Hoa. Tuy nhiên, ở Trung

      Hoa, vào thế kỷ XIII, thuật ngữ Tông giáo lại bao hàm một ý nghĩa khác, nó nhằm

      chỉ đạo Phật (Giáo: đó là lời thuyết giảng của Đức Phật, Tông: lời của các đệ tử

      Đức Phật).

      Thuật ngữ Tông giáo được du nhập vào Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX, nhưng

      do kỵ húy của vua Thiệu Trị nên được gọi là “Tôn giáo”.

      Như vậy, thuật ngữ tôn giáo ban đầu được sử dụng ở châu Âu nhằm chỉ một

      tôn giáo sau đó thuật ngữ này lại làm nhiệm vụ chỉ những tôn giáo.

      17

      Tôn giáo là niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang tính thiêng

      liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách hư ảo,

      nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên kia. Niềm tin đó

      được biểu hiện rất đa dạng, tuỳ thuộc vào những thời kỳ lịch sử, hoàn cảnh địa lý –

      văn hóa khác nhau, phụ thuộc vào nội dung từng tôn giáo, được vận hành bằng

      những nghi lễ, những hành vi tôn giáo khác nhau của từng cộng đồng xã hội tôn

      giáo khác nhau.

      Khái niệm tôn giáo là một vấn đề được giới nghiên cứu về tôn giáo bàn cãi

      rất nhiều. Trong lịch sử đã từng tồn tại rất nhiều quan niệm khác nhau về tôn giáo:

      – Các nhà thần học cho rằng “Tôn giáo là mối liên hệ giữa thần thánh và

      con người”.

      – Khái niệm mang dấu hiệu đặc trưng của tôn giáo: “Tôn giáo là niềm tin

      vào cái siêu nhiên”.

      – Một số nhà tâm lý học lại cho rằng “Tôn giáo là sự sáng tạo của mỗi cá

      nhân trong nỗi cô đơn của mình, tôn giáo là sự cô đơn, nếu anh chưa từng cô đơn

      thì anh chưa bao giờ có tôn giáo”.

      “Tôn giáo là hình thái ý thức xã hội gồm một hệ thống những quan niệm

      dựa trên cơ sở tin tưởng và sùng bái những lực lượng tự nhiên, thần thánh, cho

      rằng những lực lượng này quyết định số phận con người, con người phải phục

      tùng, tôn thờ”, tức là tín ngưỡng chỉ tồn tại trong

      một tôn giáo.

      Theo giải thích của Đào Duy Anh, tín ngưỡng là: “lòng ngưỡng mộ, mê tín đối

      với một tôn giáo hoặc một chủ nghĩa” .

      Trần Ngọc Thêm cho rằng, tín ngưỡng được đặt trong văn hóa tổ chức đời

      sống cá nhân: “Tổ chức đời sống cá nhân là bộ phận thứ hai trong văn hóa tổ chức

      cộng đồng. Đời sống mỗi cá nhân trong cộng đồng được tổ chức theo những tập tục

      được lan truyền từ đời này sang đời khác (phong tục). Khi đời sống và trình độ hiểu

      biết còn thấp, họ tin tưởng và ngưỡng mộ vào những thần thánh do họ tưởng tượng

      ra (tín ngưỡng). Tín ngưỡng cũng là một hình thức tổ chức đời sống cá nhân rất

      quan trọng. Từ tự phát lên tự giác theo con đường quy phạm hóa thành giáo lý, có

      giáo chủ, thánh đường… tín ngưỡng trở thành tôn giáo. Ở xã hội Việt Nam cổ

      truyền, các tín ngưỡng dân gian chưa chuyển được thành tôn giáo theo đúng nghĩa

      của nó – mới có những mầm mống của những tôn giáo như thế – đó là Ông Bà, đạo

      20

      Mẫu. Phải đợi khi các tôn giáo thế giới như Phật, Đạo, Kitô giáo… được du nhập và

      đến thời điểm giao lưu với phương Tây, các tôn giáo dân tộc như: Cao Đài, Hòa

      Hảo mới xuất hiện” . Hoặc nói theo Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục Liên hợp quốc

      (UNESCO): “Mỗi dân tộc, mỗi quốc gia cần có tự hào về quá khứ của mình để bảo

      vệ và phát triển văn hóa của mình vào kho tàng văn hóa nhân loại. Sự đa dạng trong

      tín ngưỡng, tức niềm tin tín ngưỡng, biểu hiện rất khác nhau, xuyên qua không gian

      và thời gian, phụ thuộc hoàn cảnh địa lý – lịch sử của từng quốc gia, từng dân tộc”

      [21, tr.71]. Theo quan điểm của người viết, thì tín ngưỡng được hiểu như sau: Tín

      ngưỡng là hệ thống những niềm tin và cách thức biểu lộ đức tin của con người đối

      với những hiện tượng tự nhiên hay xã hội, nhân vật lịch sử hay huyền thoại có liên

      quan đến cuộc sống của họ nhằm cầu mong sự che chở, giúp đỡ từ những đối tượng

      siêu hình mà người ta thờ phụng.

      21

      1.1.2. Lịch sử hình thành và phát triển tôn giáo, tín ngưỡng

      Tôn giáo xuất hiện rất sớm, từ trong lòng chế độ công xã nguyên thủy, với tư

      cách là sự phản ánh nhận thức của con người trước các lực lượng khủng khiếp và bí

      ẩn của tự nhiên. Trước tiên, họ nhân cách hóa các lực lượng tự nhiên, sau đó, họ tin

      rằng có thần thánh ở khắp mọi nơi và chỉ huy lực lượng tự nhiên. Trong xã hội có

      giai cấp đối kháng, nguồn gốc của tôn giáo chủ yếu gắn liền với sự bóc lột và cảnh

      bần cùng của quần chúng. Sự bất lực, tiếng thở dài của con người trước những quá

      trình phát triển tự phát của xã hội bóc lột không thể không làm cho con người tin

      tưởng vào những thần linh, vào một đời sống của thế giới bên kia. Với sự ra đời của

      chủ nghĩa duy vật và thế giới quan Mác xít, tôn giáo dần dần mất đi ảnh hưởng của

      nó đới với ý thức xã hội. Tôn giáo ra đời và phát triển từ hàng ngàn năm nay và sẽ

      tồn tại cùng loài người trong một thời gian khó mà đoán định trước được. Song, tôn

      giáo là do con người sáng tạo ra, việc tôn giáo mất đi không phải là một quá trình tự

      động, nó đòi hỏi phải kiên trì hoạt động giáo dục quần chúng, tuyên truyền rộng rãi

      những hiểu biết khoa học tự nhiên, xã hội và thế giới quan Mác xít.

      Cho đến nay, ở Việt Nam có nhiều mặt hình thức tôn giáo từ cổ đến kim, từ

      đông sang tây, nội sinh hay ngoại nhập. Bên cạnh các tín ngưỡng dân tộc : thờ Vua

      Hùng, thờ thành Hoàng, thờ tổ tiên là các tôn giáo : Phật giáo, Đạo giáo, Kito giáo,

      Hồi giáo cũng như đạo Hòa Hảo, đạo Cao Đài. Tín ngưỡng- tôn giáo bản địa cũng

      như các tôn giáo ngoại nhập đều chung sống hòa bình với nhau, tuy có tranh chấp

      nhưng chưa bao giờ có xung đột, có chiến tranh dưới lá cờ tôn giáo. Xu thế của các

      tôn giáo là cởi mở, khoan dung đối với nhau và tôn trọng, bổ sung cho nhau. Các

      tôn giáo ngoại nhập vào Việt Nam đều chịu sự tác động của hệ thống tín ngưỡng

      bản địa. Cho nên, các tôn giáo ở Việt Nam có sắc thái riêng, cho dù tên chung là tôn

      giáo phổ quát thế giới như : Phật giáo, Thiên chúa giáo

      Tín ngưỡng là một hiện tượng xã hội, là một thành tố văn hóa. Nó chứa

      đựng nội dung phong phú về lịch sử, tư tưởng, triết học, đạo đức, văn hóa, chính

      trị… Tín ngưỡng là một bộ phận đời sống tinh thần của con người, là chất kết

      dính tập hợp con người trong một cộng đồng nhất định và phân rẽ với các cộng

      đồng khác. Tín ngưỡng được hình thành tự phát nhưng có vai trò rất quan trọng

      22

      trong đời sống con người. Quá trình tồn tại và phát triển của tín ngưỡng ảnh

      hưởng khá sâu sắc đến đời sống chính trị, văn hóa, xã hội, tâm lý, đạo đức, lối

      sống, phong tục, tập quán của nhiều quốc gia, dân tộc.

      Tín ngưỡng của người Việt thể hiện ở các mặt: tín ngưỡng phồn thực, tín

      ngưỡng sùng bái tự nhiên và tín ngưỡng sùng bái con người. Ra đời trên nền tảng

      xã hội nông nghiệp cổ truyền, tố chất nông dân mạnh về tư duy tổng hợp, thiếu tư

      duy phân tích nên tín ngưỡng của người Việt là tín ngưỡng dân dã đang ở giai

      đoạn hình thành những mầm mống của tôn giáo sơ khai.

      1.1.3. Vai trò của tôn giáo, tín ngưỡng trong đời sống xã hội

      Tín ngưỡng, tôn giáo là hiện tượng xã hội cổ xưa nhất của nhân loại, quá

      trình tồn tại và phát triển của tôn giáo đã tác động sâu sắc đến mọi mặt của đời

      sống chính trị, văn hoá, xã hội, tâm lý, đạo đức, phong tục, tập quán của nhiều

      dân tộc, quốc gia trong đó có Việt Nam.

      Tín ngưỡng, tôn giáo là một vấn đề thuộc lĩnh vực nhận thức, tình cảm,

      niềm tin. Trong lịch sử hình thành và phát triển của mình, các tôn giáo lớn đều

      thích ứng với lợi ích khác nhau của các giai tầng xã hội, với sự biến đổi của cơ sở

      hạ tầng và kiến trúc thượng tầng để tìm ra một tiếng nói chung, nhằm tôn vinh ý

      nghĩa “Tốt đời, đẹp đạo”. Coi tôn giáo như một yếu tố văn hóa được Đảng ta và

      Bác Hồ đã đặt ra qua việc khẳng định: “Những giá trị truyền thống của các tôn

      giáo, giá trị đạo đức tôn giáo có những điều phù hợp với xã hội mới”. Việt Nam

      không chỉ là quốc gia có truyền thống văn hóa lâu đời mà còn là một dân tộc đa

      tôn giáo, tín ngưỡng, có sự xuất hiện của hầu hết các tôn giáo lớn trên thế giới,

      như Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Hồi giáo, Baha’i, Bà-la-môn…, những tôn

      giáo nội sinh đặc trưng như Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, Bửu Sơn Kỳ Hương,

      Tứ Ân Hiếu Nghĩa… trong đó, có tôn giáo đã ổn định về tổ chức và nề nếp sinh

      hoạt tôn giáo, đã có đường hướng tiến bộ, có tôn giáo hoạt động chưa ổn định,

      bản thân mỗi tôn giáo chứa đựng nội dung phong phú về lịch sử, tư tưởng, triết

      học, đạo đức, văn hóa… riêng biệt. Tôn giáo đã tác động đến một số mặt của văn

      hóa Việt Nam.

      23

      Tín ngưỡng, tôn giáo đã góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam: với tư

      cách là một bộ phận cấu thành của văn hóa, một mặt tạo ra sự phong phú cho văn

      hóa Việt Nam, mặt khác góp phần lưu giữ, phát triển những giá trị tốt đẹp của văn

      hóa Việt Nam (cả văn hóa vật thể, văn hóa phi vật thể và văn hóa giao tiếp). Về văn

      hóa vật thể, với hơn 25 ngàn cơ sở thờ tự mang cả phong cách Đông – Tây, trong đó

      có những cơ sở được xếp hạng di tích văn hóa trải dài khắp đất nước đã bảo lưu

      những giá trị của văn hóa Việt Nam. Có thể kể đến những công trình tiêu biểu như:

      chùa Dâu, chùa Phật tích (Bắc Ninh); nhà thờ Phát Diệm (Ninh Bình), nhà thờ gỗ

      của người Công giáo Ba Na (Kon Tum); một số nhà thờ của đạo Tin Lành ở Lâm

      Đồng hay một số Thánh đường Hồi giáo là sự bảo lưu, kết hợp văn hóa Việt Nam

      với văn hóa tôn giáo. Do vậy, chúng ta có thể khảo cứu văn hóa Việt Nam (các dân

      tộc Việt Nam) qua chính các công trình tiêu biểu này. Cũng vì thế, việc bảo tồn, tu

      sửa, tôn tạo các công trình tôn giáo là cần thiết, thậm chí là cấp thiết song cần phải

      giữ nguyên được những đặc trưng văn hóa vốn có của nó, nhằm đảm bảo nhu cầu

      sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo của người tôn giáo đồng thời cũng chính là để bảo lưu

      giá trị văn hóa Việt cho muôn đời sau. Về văn hóa phi vật thể, tôn giáo cũng có

      những đóng góp đáng kể, chúng ta có thể thấy Phật giáo đã làm sâu sắc và phong

      phú hơn những giá trị truyền thống Việt Nam như: Quan niệm về lòng từ bi với mọi

      sinh linh, về nhân quả, về vô ngã vị tha, về sự giác ngộ Công giáo đã làm phong

      phú văn hóa Việt Nam bởi qua quá trình du nhập đã đưa văn hóa, khoa học phương

      Tây vào Việt Nam, đặc biệt đã xác lập hệ thống chữ Quốc ngữ tạo sự thuận lợi cho

      việc tiếp nhận, lưu giữ, phát triển và quảng bá tri thức. Đạo Tin Lành tuy vào Việt

      Nam muộn hơn so với Phật giáo và Công giáo, song với sự đề cao trách nhiệm xã

      hội, khuyến khích làm giàu chính đáng cũng đóng góp phần không nhỏ vào văn

      hóa Việt Nam thời hiện đại. Hay như đạo Ixlam chủ yếu trong cộng đồng người

      Chăm, nhưng đã để lại những giá trị quý báu, đặc sắc về văn hóa, phong tục tập

      quán của dân tộc Chăm. Với văn hóa giao tiếp, ngoài khía cạnh tâm linh của sự giao

      tiếp (giao tiếp với Thánh, Thần qua nghi lễ tôn giáo) các tôn giáo ngoại nhập đã

      góp phần làm phong phú, sâu sắc giao tiếp xã hội thông qua các lễ hội. Các lễ hội

      --- Bài cũ hơn ---

    • Kinh Nghiệm Du Lịch Tokyo Tự Túc 2022 Từ A
    • Du Lịch Nhật Bản Tháng 11 Nên Đi Đâu? Thời Tiết & Những Lưu Ý
    • Kinh Nghiệm Du Lịch Tokyo Mùa Đông: Đi Đâu? Chơi Gì?
    • Kinh Nghiệm Du Lịch Tokyo Tự Túc Giá Rẻ, Hấp Dẫn Nhất
    • Kinh Nghiệm Du Lịch Tokyo Tự Túc Giá Rẻ Tại Nhật Bản
    • Web hay
    • Links hay
    • Push
    • Chủ đề top 10
    • Chủ đề top 20
    • Chủ đề top 30
    • Chủ đề top 40
    • Chủ đề top 50
    • Chủ đề top 60
    • Chủ đề top 70
    • Chủ đề top 80
    • Chủ đề top 90
    • Chủ đề top 100
    • Bài viết top 10
    • Bài viết top 20
    • Bài viết top 30
    • Bài viết top 40
    • Bài viết top 50
    • Bài viết top 60
    • Bài viết top 70
    • Bài viết top 80
    • Bài viết top 90
    • Bài viết top 100