Rừng Tự Nhiên Bằng Tạ

--- Bài mới hơn ---

  • Du Lịch Đà Nẵng, Kinh Nghiệm & Lưu Ý Quan Trọng
  • Du Lịch Biển Xanh Châu Á
  • Khám Phá Các Địa Điểm Du Lịch Tây Ninh Chuẩn “ảo”
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Phú Quốc, Kiên Giang (Cập Nhật 09/2020)
  • Du Lịch Singapore Ăn Gì, Ở Khách Sạn Nào Rẻ, Tiết Kiệm Nhất?
  • Thủ đô Hà Nội ghi dấu trong lòng du khách bởi những di tích lịch sử có giá trị, di sản văn hóa đặc sắc, khu phố cổ huyền thoại cùng nhiều công trình kiến trúc vang danh. Bên cạnh nét đẹp của những công kiến trúc cổ thì Hà Nội còn được thiên nhiên ban tặng nhiều danh lam thắng cảnh mỹ miều. Và khu du lịch rừng thiên nhiên Bằng Tạ được đánh giá là một trong những thắng cảnh xinh đẹp của Hà Nội được nhiều du khách viếng thăm trong những năm gần đây.

    Khu du lịch rừng tự nhiên Bằng Tạ nằm trên một quả đồi thấp, thuộc huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây, cách Hà Nội 65km về phía Tây, cách khu du lịch Ao Vua 14km và hồ suối Hai 3,8km. Khu du lịch tọa lạc trên một diện tích khác lớn khoảng 26,5ha, trong đó riêng diện tích rừng nguyên sinh hơn 17ha mang đến cho bạn một không gian thoáng mát để thư giãn và nghỉ ngơi thật sự thú vị.

    Khu du lịch rừng tự nhiên Bằng Tạ – Ảnh: kienthuc

    Với hệ động thực vật vô cùng phong phú, hoa lá cỏ cây trải thảm, đồng cỏ chạy dài bất tận, thế giới động vật vô cùng sống động…tất cả đã khoác lên cho Bằng Tạ một bộ áo xinh đẹp choáng ngợp lòng người. Thả bộ trong khuôn viên khu du lịch và ngắm cây cối đung đưa, hứng cơn gió mát lạnh ùa vào người và thư thả nhìn ngắm những đàn thiên nga bơi lợi dưới suối, đàn chim tung cánh chao nghiêng, chú công uốn đuôi xinh đẹp…chắc chắn các bạn sẽ thấy lòng thảnh thơi và thoải mái đến lạ kì. Chính vì thế, Bằng Tạ được đánh giá là một trong những nơi thư giãn tuyệt vời nhất ở Hà Nội cho những chuyến nghỉ lễ, cuối tuần…

    Khung cảnh thanh bình và nhẹ nhàng – Ảnh: Sưu tầm

    Với số lượng động thực vật phong phú, Bằng Tạ đã trở thành nơi bảo tồn, phục hồi hệ sinh thái đa dạng và nghiên cứu thiên nhiên, động vật hoang dã. Cũng là địa điểm lý tưởng cho các sinh viên đến nghiên cứu thực địa. Trong đó, hệ động vật ở Bằng Tạ với đa dạng loài, có các loài chim lặn, hạc, cắt, sếu, bồ câu, cu cu, sả, gõ kiến, sẻ và các loài bướm… Trong rừng nguyên sinh hiện có trên 200 con khỉ, sống theo từng bầy đàn… một số loài động vật như nai, hoẵng, lợn rừng, hươu sao, hổ, báo, gấu, linh trưởng… để du khách có thể thỏa sức ngắm nhìn và tìm hiểu cuộc sống của các loài thú hoang dã.

    Hươu sao trong rừng Bằng Tạ – Ảnh: Sưu tầm

    Lạc chân vào khu rừng nguyên sinh củ Bằng Tạ các bạn sẽ được đi xe bò kéo, cưỡi ngựa để tham quan khu rừng huyền bí này. Do chính quyền địa phương không cho phép các động cơ vào rừng nên nếu các bạn không muốn đi xe bò, cưỡi ngựa thì nhất thiết bạn phải đi bộ để tham quan khu rừng đấy!

    Những chú khỉ và hươu sao đang thưởng thức bữa trưa – Ảnh: Sưu tầm

    Khu rừng còn ẩn chứa nhiều vườn hoa tuyệt sắc như vườn lan, hoàng thảo tỏa hương thơm ngát làm say những bước chân kẻ lữ khách. Điểm tô trong khuôn viên khu rừng là nhiều đồng cỏ xanh rì chạy dài phủ xanh cả một góc trời. Và những đồng cỏ là địa điểm thích hợp cho du khách cắm trại, picnic và tổ chức các hoạt động vui chơi ngoài trời.

    Trong rừng nguyên sinh Bằng Tạ hiện có trên 200 con khỉ – Ảnh: Sưu tầm

    Phía Bắc của rừng là đầm Long, một hồ nước rộng mênh mông được cải tạo thành các hồ sen, tạo cảnh quan môi trường tự nhiên hấp dẫn. Đầm Long là nơi cư ngụ của các loài động vật, bò sát như cuốc, bìm bịp, tắc kè, thằn lằn, kỳ đà họ rắn nước, rắn hổ chúa… Đầm Long không phù hợp lắm với người lớn nhưng lại rất phù hợp với các bé.

    Hồ sen ở đầm Long từ lâu đã trở thành địa điểm thưởng ngoạn thú vị. Dạo quanh hồ nhìn ngắm những đóa sen hồng thắm tỏa hương bát ngát, chèo thuyền lửng lờ trên hồ để đắm chìm trong hương hoa thơm ngát và tới các khu nhà nổi giữa đầm… là những hoạt động mà bạn nên trải nghiệm ở đầm Long.

    Hồ sen đẹp tuyệt vời – Ảnh: Sưu tầm

    Thú vị hơn nữa, đến Bằng Tạ du khách còn có cơ hội tham quan một quần thể làng của dân tộc Mường với nhiều nhà sàn và các hoạt động văn hóa sinh động như đốt lửa trại, uống rượu cần, nghe ca múa nhạc dân tộc và thưởng thức các đặc sản của vùng rừng núi Ba Vì, mua sắm tại các khu chợ bán hàng thổ cẩm,…

    Trong không gian âm u chỉ nghe tiếng hót líu lô của chim rừng và tiếng chí chóe đùa dỡn trên cây của hàng trăm con khỉ. Khách thật sự được hòa quyện với thiên nhiên, cây cỏ, hoa lá, chim muông.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Diễn Đàn Rao Vặt Kiếm Bạc Mua Bán Quảng Cáo Rao Vặt
  • Du Lịch Thái Lan Nên Ăn Gì? Địa Điểm Ăn Uống Ở Thái Lan?
  • Một Số Nhận Xét Về Du Lịch Việt Nam
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Vũng Tàu Từ A
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Mộc Châu 2022 Lần Đầu Cụ Thể Và Chi Tiết
  • / Khoa Học Tự Nhiên / Địa Lý

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Quan Ngành Du Lịch Việt Nam – Tiềm Năng Phát Triển Nhks
  • Văn Hóa Du Lịch Việt Nam – Đa Dạng Màu Sắc Văn Hóa
  • Chuyên Trang Của Báo Kinh Tế & Đô Thị
  • Bài Toán Người Bán Hàng – Là Gì Wiki
  • Giới Thiệu Về Phú Quốc Đảo Ngọc
  • 158

    mục.

    1

    2345678910

    Số kết quả tìm thấy:mục.

    Tiểu mục:

    Chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi địa lí 12.

    A/ LÝ THUYẾT

    B/ BÀI TẬP VẬN DỤNG HỆ QUẢ CHUYỂN ĐỘNG CỦA TRÁI ĐẤT QUANH TRỤC

    Bài số 1: Biết giờ ở kinh tuyến số 1000 Đ là 16 giờ ngày 19/9/2004. Tính giờ ở kinh tuyến mang số 1000 T,1150 T ,1760 Đ

    ..

    Bài tập 21 : Ngày 26/1/2005 là thứ 4.vậy ngày 26/1/2010 là thứ mấy?

    Giáo trình GIS và viễn thám đại cương – Nguyễn Hữu Duy Viễn

    LỜI NÓI ĐẦU

    PHẦN 1: VIỄN THÁM – RS

    Chương 1. Khái quát về viễn thám

    Chương 2. Phân loại ảnh viễn thám

    Chương 3. Giải đoán – xử lý ảnh viễn thám

    PHẦN 2: HỆ THÔNG TIN ĐỊA LÝ – GIS

    Chương 1. Khái quát về GIS

    Chương 2. Xây dựng dữ liệu GIS

    Chương 3. Phân tích dữ liệu GIS

    Chương 4. Hiển thị và xuất dữ liệu GIS

    Tài liệu tham khảo chính

    Hướng dẫn sử dụng Mapinfo Professional – Phần cơ bản – ThS. Đỗ Thị Việt Hương

    Chương 1. Tổng quan về phần mềm mapinfo

    Chương 2. Thực đơn và các chức năng cơ bản của nó

    Chương 3. Xây dựng dữ liệu không gian

    Chương 4. Xây dựng dữ liệu thuộc tính

    Chương 5. Chuyển đối dữ liệu và lưới chiếu trong mapinfo

    Bài giảng Địa lý 2 – ThS. Dương thị Mai Thương

    Chương 1. Địa lý một số nước trên thế giới

    Chương 2. Địa lý tự nhiên Việt Nam

    Chương 3: Địa lý dân cư Việt Nam

    Chương 4: Địa lý kinh tế Việt Nam

    Tài liệu tham khảo

    Giáo trình MapInfo – Nhóm Công nghệ Hệ thông tin địa lý

    Chương 1: Hệ thống menu và các chức năng cơ bản của MapInfo

    Chương 2: Các khái niệm cơ bản trong MapInfo

    Chương 3: Table và quản lí cơ sở dữ liệu trong MapInfo

    Chương 4: Bản đồ máy tính và các lớp thông tin

    Chương 5: Vẽ và biên tập các đối tượng bản đồ

    Chương 6: Tạo trang trình bày (layout)

    Chương 7: Phân tích địa lý trong MapInfo

    Bài giảng Viễn thám và GIS – Hoàng Thanh Tùng

    Handout bài giảng.

    Chương I: Giới Thiệu về kỹ thuật viễn thám

    Chương II: Cơ sở kỹ thuật viễn thám

    Chương III: Sensor và hệ thống thông tin viễn thám

    Chương IV: Xử lý thông tin viễn thám

    Chương V: Giới thiệu về GIS

    Chương VI: GIS và thế giới thực

    Chương VII: Hệ tọa độ dùng trong GIS

    Chương VIII: Thu thập dữ liêu cho GIS

    Chương IX: Phân tích xử lý thông tin trong GIS

    Phần A – Các quy luật địa lý chung của Trái Đất.

    Chương I: Quy luật về tính thống nhất và hoàn chỉnh của lớp vỏ địa lý

    Chương II: Quy luật về sự tuần hoàn vật chất và năng lượng trong lớp vỏ địa lý.

    Chương III: Quy luật về các hiện tượng có nhịp điệu trong lớp vỏ địa lý.

    Chương IV: Quy luật địa đới và phi địa đới

    Phần B – Cảnh quan học

    Chương I: Cảnh quan địa lý

    Chương I: Địa lý học là hệ thống các khoa học.

    Chương II: Các giai đoạn chính trong nhận thức về bề mặt quả đất và các giai đoạn phát triển chính của địa lí học.

    Chương III: Trái đất.

    Bản đồ học đại cương – Nhóm tác giả

    Lời nói đầu

    Chương I. Bản đồ học

    Chương II. Bản đồ địa lý

    Chương III. Cơ sở toán học của bản đồ

    Chương IV. Ngôn ngữ bản đồ

    Chương V: Tổng quát hoá bản đồ

    Chương VI. Phân loại bản đồ địa lí tập bản đồ địa lí

    Chương VII. Thành lập bản đồ địa lí

    Chương VIII: Sử dụng bản đồ địa lí

    Tài liệu tham khảo

    Bài giảng Địa lý kinh tế – Xã hội Việt Nam 1 – Nguyễn Thị Thanh Nhàn

    Dành cho Cao đẳng Sư phạm Địa lý

    Chương 1. Đánh giá ý nghĩa kinh tế của vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên

    Chương 3. Địa lý nông – lâm – ngư nghiệp

    Chương 4. Địa lý công nghiệp

    Chương 5. Địa lý dịch vụ

    Tài liệu tham khảo

    Phụ lục

    Địa lí kinh tế – xã hội đại cương – Trần Quang Bắc

    Chương I. Đối tượng, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

    Chương II. Môi trường, tài nguyên và nền sản xuất xã hội

    Chương III. Địa lí dân cư và quần cư

    Chương IV. Địa lí các ngành thuộc khu vực I: Nông-Lâm-Ngư nghiệp

    Chương V. Cơ sở địa lí kinh tế của các ngành thuộc khu vực II: Địa lí công nghiệp

    Bài giảng Tin học ứng dụng vẽ bản đồ – Trần Quốc Vinh, ..

    Lời nói đầu

    PHẦN A: LÝ THUYẾT

    Chương 1: Xây dựng cơ sở dữ liệu bản đồ

    Chương 2: Mô hình dữ liệu bản đồ

    Chương 3: Chuẩn hoá dữ liệu bản đồ

    Chương 4: Hệ thống phần mềm chuẩn lập bản đồ

    PHẦN B: BÀI TẬP THỰC HÀNH

    PHẦN PHỤ LỤC

    Tài liệu tham khảo.

    Chương 1: Tổng quan về viễn thám

    Chương 2: Lý thuyết phản xạ phổ của các đối tượng

    Chương 3: Tăng cường chất lượng ảnh viễn thám

    Chương 4: Nắn chỉnh hình học ảnh viễn thám

    Chương 5: Phân loại thông tin trên ảnh viễn thám

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tour Du Lịch Camping Là Gì? Các Điểm Thích Hợp Cắm Trại Tại Đà Nẵng
  • Cơ Quan Của Tổng Cục Du Lịch
  • Truyền Thông Anh Nói Về Ngành Du Lịch Việt Nam
  • Bill Balo Du Lịch Hàn Quốc. Xbags.vn
  • Balo Du Lịch Hải Phòng. May Balo – Balo Du Lịch Giá Rẻ Nhất Chỉ 65K
  • Tài Nguyên Du Lịch Tự Nhiên Hue

    --- Bài mới hơn ---

  • Du Lịch Nha Trang Đà Lạt 4 Ngày 3 Đêm Giá Rẻ Từ Hà Nội Giá Rẻ
  • Bật Mí Kinh Nghiệm Du Lịch Mộc Châu Bằng Xe Khách 2022
  • Bài 1: Hướng Dẫn Đi Mộc Châu Bằng Xe Khách
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Gia Lai Tự Túc 2022
  • Gợi Ý Tour Du Lịch Ninh Bình Tự Túc Trong 1 Ngày
  • TÀI NGUYÊN DU LỊCH TỰ NHIÊN

    1.

    Địa hình

    Địa hình thừa thiên huế khá phức tạp gồm nhiều dạng: vùng đồi núi, đồng bằng,

    biển. Cấu trúc của địa hình theo chiều ngang từ Đông sang Tây gồm:biển đầm

    phá, đồng bằng nhỏ hẹp, vùng đồi thấp và núi. Đại hình thừa thiên huế có cấu

    tạo dạng bậc khá rõ rệt.

    -vùng đồi núi :

    Hệ thống búi của Thừa Thiên huế chiếm khoảng 75% diện tích của tỉnh, từ biên

    giới Việt Lào và kéo dài đến thành phố Đà Nẵng, là bộ phận phía nam của dải

    Trường Sơn Bắc. Dãy núi phía tây chạy theo hướng tây bắc-đông nam càng về

    phía nam càng cao dần và bẻ quặt theo hướng tây-đông(dãy Bạch Mã). Độ cao

    trung bình từ 500m- 600m, độ cao này tăng dần về phía tây, phía nam và đông

    nam.

    Vùng đồng bằng duyên hải:

    Đồng bằng Thừa Thiên Huế điển hình cho kiểu đồng bằng mài mòn, tích tụ, có

    cồn cát, đầm phá. Diện tích vùng đồng bằng chiếm khoảng 1.400km2.

    Vùng đầm phá:

    Là một hệ cảnh quan độc đáo của thừa Thiên Huế, vùng đầm phá có diện

    tích 22.040 ha, dài 68 km, bắt đầu từ cửa sông Ô Lâu phía bắc chạy song

    song với bờ biển đến cửa Tư Hiền, chiều rộng từ 1 đến 6 km. Độ sâu tăng

    dần từ Tây sang Đông. Hiện nay sự lắng tụ phù sa, làm độ sâu của đầm phá

    đang có chiều hướng cạn dần.

     Ảnh hưởng của địa hình đến phát triển du lịch:

    Do ảnh hưởng của địa hình, đại bộ phạn dân cư của tỉnh Thừa Thiên Huế

    phân bố không đều. Miền núi là địa bàn cư trú của đồng bào thiểu số. Sự

    phân bố dân cư này làm cho du lịch tập trung phát triển hơn ở một số

    vùng trọng điểm nhất định và hướng tới hình thức du lịch văn hóa, tìm

    hiểu các nền văn hóa của các dân tộc Việt Nam.

    Sự phân hóa của địa hình đã tạo nên nhiều vùng tự nhiên khá thuận lợi

    cho phát triển các loại hình du lịch sinh thái, nghĩ dưỡng…

    Tuy nhiên địa hình vùng trung du nhỏ hẹp làm độ dốc giảm, gây ra hiện

    tượng xói mòn mạnh, nhất là trong mùa mưa lũ. Điều này cực kỳ nguy

    hiểm đối với phát triển du lịch và việc xây dựng các cơ sở vật chât mang

    tính lâu dài, thu hút đầu tư quy mô lớn nhằm phục vụ du lịch.

    Khí hậu

    Đặc điểm chung của khí hậu Thừa Thiên Huế là nhiệt độ cao, độ ẩm lớn ,

    mưa theo mùa. Do vị trí địa lý và sự kéo dài của lãnh thổ theo vĩ tuyến, kết

    hợp với hướng địa hình và hoàn lưu khí quyển đã tác động sâu sắc đến việc

    hình thành một kiểu khí hậu đặc trưng và tạo nên những hệ quả phức tạp

    trong chế độ mưa, chế độ nhiệt và các yếu tố khí hậu khác.

    Nhiệt độ trung bình hàng năm của Thừa Thiên huế khoảng 250C. Tổng lượng

    bức xạ nhiệt trung bình năm tăng dần từ Bắc vào Nam của tỉnh và dao động

    trong khoảng từ 110 đến 140 kcal/cm2 , ứng với hai lần mặt trời qua thiên

    đỉnh tổng lượng bức xạ có hai cực đại: lần thứ nhất vào tháng V và lần thứ

    hai vào tháng VII, lượng bức xạ thấp nhất vào tháng 12. Cán cân bức xạ

    nhiệt trung bình từ 75 đến 85 kcal/cm2 , ngay cả tháng lạnh nhất vẫn mang

    trị số dương. Do tác động của vị trí, địa hình và hình dạng lãnh thổ, nhiệt độ

    có sự thay đổi theo không gian và thời gian:

    + phân bố theo không gian : theo chiều Đông – Tây nhiệt độ vùng núi (Nam

    Đông và A Lưới) trung bình năm thường chênh lệch với vùng đồng bằng từ

    00C đến 30C. Riêng trong mùa lạnh, sự phân hóa nhiệt sâu sắc hơn.

    + phân bố theo thời gian : do sự tác động của gió mùa nên đã hình thanhfhai

    mùa với sự khác biệt về chế độ nhiệt rõ rệt.

    Mùa lạnh : là khoảng thời gian nhiệt độ trung bình trong ngày ổn định dưới

    200 C. Thời gian lạnh của Thừa Thiên Huế tùy theo vùng có thể kéo dài từ

    30 đến 60 ngày.

    Mùa nóng : là thời kỳ nhiệt độ trung bình ổn định trên 250C. Mùa nóng bắt

    đầu từ tháng IV đến hết tháng IX. Những tháng đầu mùa nhiệt độ tăng khá

    đều trên các vùng, nhiệt độ cực đại vào tháng VII và giảm dần cho đến tháng

    I năm sau. Từ tháng Vcho đến tháng IX, hiệu ứng phơn Tây Nam đã làm

    nhiệt độ tăng cao, độ ẩm giảm thấp gây ra những đợt nóng kéo dài ảnh

    hưởng nghiêm trọng đến sinh hoạt và các hoạt động sản xuất nông nghiệp.

    Biên độ nhiệt : Thừa Thiên Huế có nhiệt độ trung bình hằng năm gần 100C.

    Đây là một điểm rất đặc biệt vì tính cách khắc nghiệt của khí hậu gần giống

    với những vùng lãnh thổ có vĩ độ cao hay của những lãnh thổ nằm sâu trong

    luc địa.

    4.

    Do sự tác động phối hợp giữa địa hình và hướng dịch chuyển của các khối

    khí theo mùa , Thừa Thiên Huế có thời kỳ khô và ẩm bị lệch pha so với cả

    nước.

    + Từ tháng IX đến tháng III độ ẩm không khí cao trên 90% trùng với mùa

    mưa và thời gian hoạt động của khối không khí lạnh biến tính từ biển đông

    tràn vào lãnh thổ

    +Hàng năm Thừa Thiên Huế nhận được một lượng mưa lớn, trung bình trên

    3000mm, song phân bố không đều. Mưa phần lớn tập trung vào tháng X và

    XI, trong khoản thời gian này bão thường xuất hiện gây nên những cơn lũ

    lớn. Năm 1953 (4937mm); năm 1975(3278mm) lụt vượt mức báo động 3

    với đỉnh lũ là 6m (kim long).

     Ảnh hưởng của khí hậu đến du lịch:

    Khí hậu của tỉnh Thừa Thiên Huế có sự thuận lợi nhất định cho việc phát

    triển du lịch. Tuy nhiên , khí hậu có nhiều biến động khá phức tạp, hiện

    tượng lệch pha so với khí hậu cả nước đòi hỏi Thừa Thiên Huế phải có kế

    hoạch tổ chức các hoạt động du lịch phù hợp. Thời gian mưa kéo dài

    khiến du lịch theo thời vụ ở Huế là rất rõ nét. Bên cạnh đó, theo thống kê

    mỗi năm có ít nhất một cơn bão đổ bộ trực tiếp vào lãnh thổ gây thiệt hại

    và khó khăn rất lớn cho việc phát triển cơ sở hạ tầng du lịch.

    Thủy văn:

    Thừa Thiên – Huế có hệ thống sông ngòi khá dày đặc nhưng các sông đều

    nhỏ, độ dốc lớn. Phần lớn bắt nguồn từ phía đônn của trường sơn, chảy theo

    hướng Tây – Đông, cửa sông hẹp. Tổng chiều dài các song chính chảy trên

    lãnh thổ của tỉnh là khoảng 300km trên đó hệ thống sông Hương chiếm đến

    60%. Nhìn chung, sông ngòi ở huế ngắn và dốc, ít có sông lớn. Các sông có

    sự chênh lệch rất lớn về dòng chảy trong năm. Tổng lượng nước trong ba

    tháng mùa lũ lớn gấp 2 lần tổng lượng nước trong 9 tháng mùa cạn. Diện

    tích các lưu vực sông không lớn, lớn nhất là sông Hương với diện tích lưu

    vực khoảng 1626 km2

     Đánh giá:

    Với mạng lưới sông ngòi và đầm phá, Thừa Thiên Huế có thể nối liền các

    huyện và thành phố rất thuận lợi cho giao thông đường thủy, phục vụ du

    lịch. Các cảng biển Thuận An, Chân Mây thuận lợi cho việc đón các du

    khách quốc tế. Sông hương với những nét văn hóa đậm chất Huế đã và

    đang thu hút một lượng khách không nhỏ mỗi năm.

    Sinh vật:

    Thừa Thiên Huế có vị trí chuyển tiếp của 2 miền khí hậu Bắc và Nam đã

    hình thành thảm thực vật rừng nhiệt đới đa dạng, hội tụ nhiều loại cây: cây

    bản địa như lim, gõ, kiền,chò…(cây họ đậu phương Bắc) cây di cư như dẻ,

    re, thông, bàng và các cây họ dầu phương Nam…Diện tích rừng chiếm

    khoảng 57% đất tự nhiên, độ che phủ 55%(2008).

    Động vật thiên nhiên của Thừa Thiên Huế khá phong phú, có giá trị kinh tế

    cao.

    + Động vât rừng: ngoài những động vật phổ biến trong rừng như: khỉ , hươu,

    nai, công, gà rừng…nhiều động vật quý hiếm đã được phát hiện ở Nam

    Đông, Phú Lộc, A Lưới như: voi, hổ, trĩ, sao, gà lôi, chồn bay, gấu chó…

    +Thủy sản: với gần 126 km đường bờ biển, 22.000 ha đầm phá và một hệ

    sông ngòi phong phú, Thừa Thiên Huế có lượng thủy sản đa dạng với nhiều

    loại quý hiếm có giá trị kinh tế cao: sò huyết, mực, tôm, rau câu…

     Đánh giá:

    Hệ thống sinh vật phong phú góp phần tạo nên cảnh quan môi trường

    sinh thái và cảnh quan du lịch của vùng, vườn quốc gia Bạch Mã có khí

    hậu mát mẻ cùng sự đa dạng sinh vật đã trở thành một trung tâm du lịch

    sinh thái rất hấp dẫn.

    TÀI NGUYÊN DU LỊCH NHÂN VĂN

    Tài nguyên du lịch nhân văn của Thừa Thiên Huế có nhiều loại

    hình phong phú và đa dạng rất khác nhau. Hệ thống kiến trúc thành

    quách, cung điện, chùa, di sản văn hóa (được công nhận là di sản văn

    hóa thế giới). Tài nguyên phi vật thể: lễ hội, ẩm thực, làng nghề, nhã

    nhạc cung đình Huế (di sản văn hóa phi vật thể)..các tài nguyên đó đã tạo

    cho Thừa Thiên Huế có tiềm năng to lớn để trở thành trung tâm du lịch

    của cả nước.

    Nét đặc sắc là sự kết hợp hài hòa giữa văn hóa dân gian và văn hóa cung

    đình. Thừa Thiên-Huế là một trong những trung tâm du lịch văn hóa của

    của Việt Nam, là nơi duy nhất còn giữ lại được một kho tàng sử liệu vật

    chất đồ sộ, một di sản văn hóa vô cùng phong phú với hàng trăm công

    trình kiến trúc nghệ thuật đặc sắc và nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng.

    Huế là “một kiệt tác về thơ – kiến trúc đô thị”. Vì lẽ đó mà cuối năm

    1993, UNESCO đã chính thức công nhận Huế là một di sản văn hóa thế

    giới.

    1.Các di tích lịch sử văn hóa:

    Đặc điểm

    Chùa Thiên Mụ

    Chùa nằm cách trung tâm thành

    phố huế khoảng 5km, trên đồi Hà

    Khê, tả ngạn song Hương, xã

    Hương Long. Trước các điện,

    quanh chùa là các vườn hoa cây

    cảnh xanh tươi, rực rỡ. phía sau

    cùng là vườn thông tĩnh mịch,

    phong cảnh nên thơ. Chùa bị hư

    hỏng nặng năm 1943. Từ năm

    1945, Hòa thượng Thích Đôn Hậu

    đã tổ chức công cuộc đại trùng tu

    kéo dài hơn 30 năm.

    Quần thể di tích Cố Đô Huế nằm

    dọc bên bờ sông Hương thuộc

    thành phố Huế và một vùng phụ

    cận thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế là

    trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế

    của tỉnh, là cố đô của Việt Nam thời

    phong kiến dưới triều nhà Nguyễn,

    từ năm 1802 đén 1945. Bên bờ Bắc

    của con song Hương, hệ thống kiến

    trúc biểu thị cho quyền uy của chế

    độ trung ương tập quyền Nguyễn là

    ba tòa thành: Kinh thành Huế,

    Hoàng thành Huế, Tử cấm thành

    Huế, lồng vào nhau được bố trí

    đăng đối trên một trục dọc xuyên

    suốt từ mặt Nam ra mặt Bắc. hệ

    thống thành quách ở đây là một

    mẫu mực của sự kết hợp hài hòa

    nhuần nhuyễn giữa tinh hoa kiến

    Quần thể di tích Cố Đô Huế

    (di sản văn hóa thế giới)

    trúc Đông và Tây, được đặt trong

    một khung cảnh thiên nhiên kỳ thú

    với nhiều yếu tố biểu tượng sẵn có

    tự nhiên đến mức người ta mặc

    nhiên xem đó là những bộ phận của

    kinh thành Huế – đó là núi Ngự

    Bình, dòng Hương giang, cồn Giã

    Viên, cồn Bộc Thanh… Hoàng

    thành giới hạn bởi một vòng tường

    thành gần vuông với mỗi chiều xấp

    xỉ 600m với 4 cổng ra vào mà độc

    đáo nhất thường được lấy làm biểu

    tượng của cố đô: Ngọ Môn, chính

    là khu vực hành chính tối cao của

    triều đình Nguyễn. Bên trong

    Hoàng thành, hơi dịch về phía sau,

    là Tử cấm thành, hơi dịch về phía

    sau, là Tử cấm thành – nơi ăn ở

    sinh hoạt của Hoàng Gia.

    chúa Nguyễn . Các lễ hội truyền thống được duy trì, phát triển cũng từ

    những nguồn văn hóa ấy.

    Lễ hội các loại là một nhu cầu sinh hoạt văn hóa của con người Thừa

    Thiên Huế đã trở thành truyền thống. Nhìn tổng quát về lễ hội và sự tham

    gia lễ hội của cư dân vùng này, ta sẽ thấy lễ hội ở Thừa Thiên Huế tuy

    không phong phú như Miền Bắc, nhưng cũng khá đa dạng, có hai loại lễ

    hội: lễ hội cung đình và lễ hội dân gian. Lễ hội cung đình phản ánh sinh

    hoạt lễ nghi của triều Nguyễn . Phần lớn chỉ chú trọng về “lễ” hơn “hội”.

    Lễ hội dân gian gồm nhiều loại rất phong phú, có thể kể đến một số lễ hội

    tiêu biểu như sau: lễ hội Huệ Nam (điện Hòn Chén) hay còn gọi là lễ

    rước sắc nữ thần Thiên Y A Na theo tín ngưỡng của người Chamwpa

    xưa… Trong những dịp tế lễ, nhiều sinh hoạt văn hóa bổ ích nư đua

    thuyền, kéo co, đấu vật… còn được tổ chức và thu hút rất đông người

    xem.

    Hội đua ghe truyền thống: Hội đua ghe truyền thống tỉnh Thừa Thiên Huế là

    một lễ hội mới được tổ chức sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam năm

    1975. Hội được tổ chức trong một ngày nhằm ngày lễ Quốc kanhs 29(dương lịch). Địa điểm đua là bờ Nam song Hương trước trường Quốc học.

    Hội nhằm tạo điều kiện thuận tiện cho thanh niên nam nữ có cơ hội thi tài

    trên song nước, qua đó rèn luyện tăng cường bảo vệ sức khỏe và tạo không

    khí vui vui tươi lành mạnh cho nhân dân .

    Hội vật làng sình: Vật võ cũng là một hình thức để tưởng nhớ ngài khai canh

    làng đã truyền dạy dân làng nghề vật. Nên đến ngày giỗ Ngài, dân làng tổ

    chức vật võ.

    …….

    Festival Huế: tổ chức lần đầu tiên vào năm 2000, đén nay Festival Huế tổ

    chức được 7 lần (2000,2002,2004,2006,2008,2010,2012…). Đây là sự kiện

    văn hóa lớn có quy mô quốc gia tầm cỡ quốc tế, có ý nghĩa quan trọng trong

    đời sống của người dân Huế. Là điều kiện quan trọng để xây dựng Huế

    thành phố Festival cuả Việt Nam.

     Đánh giá:

    Thừa Thiên Huế có khá nhiều lễ hội lớn với các loại hình khác nhau: lễ

    hội vui chơi giải trí, lệ hội cầu ngưu, lễ hội đua thuyền… Những lễ hội

    này nhằm tôn vinh bản sắc văn hóa vùng miền, và chúng góp phần thu

    hút đông đảo các khách du lịch từ các địa phương khác trong cả nước

    cũng như khách du lịch nước ngoài.

    3. Văn hóa , ẩm thực:

    Văn hóa vật thể: quần thể di tích Huế được UNESCO công nhận là di sản

    văn hóa thế giới. Ngoài ra, Huế còn quê hương của nhiều công trình kiến

    trúc tôn giáo độc đáo.

    Văn hóa phi vật thể: Nhã nhạc cung đình Huế cũng được UNESCO công

    nhận là di sản văn hóa phi vật thể của thế giới. Ngoài ra, Huế còn bảo tồn

    được rất nhiều phong tục tập quán thông qua các lễ hội dân gian được tổ

    chức hàng năm như: lễ hộ điện Hòn Chén, hội võ làng Sình…

    Ẩm thực đặc sắc: Huế còn lưu giữ trên 1000 món ăn nấu theo lối Huế, có

    cả những món ăn ngự thiện của các vua triều Nguyễn. Bản thực đơn ngự

    thiện có trên vài chục món thuộc loại cao lương mỹ vị, được chuẩn bị và

    tổ chức rất công phu, tỷ mỷ, cầu kỳ. Các món ăn dân dã rất phổ biến

    trong quần chúng với bản thực đơn phong phú hàng trăm món được chế

    biến khéo léo hương vị quyến rũ màu sắc hấp dẫn , coi trọng phần chất

    hơn lượng; nghệ thuật bày biện các món ăn đẹp mắt, nghệ thuật thưởng

    thức tinh tế.

    Làng nghề truyền thống:

    Làng nghề nón bài thơ Tây Hồ.

    Làng nghề phường đúc đồng.

    Làng nghề làm hoa giấy Thanh Tiên.

    Tranh làng sình.

    …….

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tour Du Lịch Đảo Lý Sơn 3 Ngày Từ Hà Nội Giá Rẻ
  • Những Địa Điểm Hấp Dẫn Khi Đi Du Lịch Hàn Quốc
  • 7 Bài Hát Nên Nghe Khi Đi Du Lịch
  • Tour Du Lịch Hà Giang 3 Ngày 2 Đêm Của Sinhcafe
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Đà Nẵng 3 Ngày 2 Đêm
  • Du Lịch Sinh Thái Không Đơn Thuần Là Du Lịch Thiên Nhiên

    --- Bài mới hơn ---

  • Thêm Một Điểm Du Lịch Sinh Thái Mới Ở Lăng Cô
  • Khu Du Lịch Sinh Thái Ngọc Sương
  • “lăn Xả” Cùng Những Điểm Du Lịch Sinh Thái Nổi Tiếng Miền Bắc
  • Top 7 Khu Du Lịch Sinh Thái Miền Tây
  • Nên Đi Du Lịch Khu Sinh Thái Nào Ở Miền Đông Nam Bộ
  • Du lịch sinh thái là một trong những hình thái phát triển nhanh nhất của ngành du lịch hiện nay. Du lịch sinh thái dường như là hình thái du lịch đầu tiên nhằm vào các vấn đề bền vững trong du lịch, và có ảnh hưởng lớn trong việc xanh hóa ngành du lịch, thông qua nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường và phúc lợi của cộng đồng địa phương đối với sự thành công của ngành du lịch.

    Khuynh hướng hiện tại và những thách thức trong du lịch sinh thái

    Du lịch sinh thái được bắt đầu từ hơn 25 năm trước, khi những người tham gia lĩnh vực bảo tồn, du lịch và các cộng đồng địa phương sống trong hoặc xung quanh các khu vực được bảo tồn nhận thấy mối quan tâm ngày càng tăng đối với du lịch thiên nhiên, và thấy được cơ hội định hướng một cách bền vững hơn. Ngày nay, du lịch sinh thái đã trở thành một trong những hình thái du lịch phát triển nhanh trong ngành du lịch nói chung do: sự quan tâm ngày càng tăng đối với các vấn đề môi trường, bảo tồn cũng như phát triển; người ta muốn được học hỏi và trải nghiệm thực tế những gì họ nghe thấy và đọc được qua báo chí hay các phương tiện thông tin khác; mọi người muốn đóng góp vào công việc bảo tồn và phát triển cộng đồng; du khách mong được đến những điểm du lịch hẻo lánh hơn và tránh đi theo lối mòn; và người ta thường tìm đến những nơi gần gũi với thiên nhiên hơn để thư giãn.

    Du lịch sinh thái ngày càng trở nên phổ biến và được công nhận rộng rãi trên toàn thế giới, nhiều nhà kinh doanh và cơ quan quản ớy du lịch hiện nay vẫn sử dụng nhẵn hiệu du lịch sinh thái để khuếch trương sản phẩm của họ mà không thật sự tuân theo các nguyên tắc của loại hình du lịch này. Vấn đề thường được coi là “tô xanh” này dường như là khó khăn lớn nhất mà ngành du lịch sinh thái đang gặp phải hiện nay. Có hai nguyên nhân chính dẫn đến “tô xanh”: một là để theo đuổi lợi ích kinh tế, hai là thiếu hiểu biết thực sự về du lịch sinh thái. Những người “tô xanh” sản phẩm vì lợi ích của mình và tin rằng họ sẽ thu được nhiều lợi nhuận hơn, thu hút được lượng du khách nhiều hơn nữa bằng cách rao bán sản phẩm với nhãn hiệu “sinh thái” đã nhận ra rằng ngày càng nhiều du khách tìm kiếm những gì khác với du lịch sinh thái.

    Thị trường du lịch trong nước của Việt Nam cả trước kia cũng như hiện nay có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển ngành Du lịch trong nước, đóng góp cho sự phát triển ngày càng nhanh của ngành Du lịch và tạo ra các dịch vụ thu hút du khách trong và ngoài nước. Dự kiến khách du lịch trong nước sẽ tăng khoảng gấp đôi trong vòng 5 năm tới, từ 16 triệu lượt người tới 26 triệu lượt người. Đây là tốc độ tăng trưởng rất nhanh và thường theo định hướng nhu cầu, không có thời gian thích hợp để nâng cao nhận thức và thích ứng với các tiêu chuẩn quốc tế. Vì lý do này, thiên nhiên và các sản phẩm, dịch vụ du lịch đã bị trộn lẫn với các hoạt động giải trí đơn thuần như karaoke và giải trí khác.

    Mặc dù, Chính phủ đó có một số nỗ lực nhằm giải quyết những vấn đề này, như đang trong quá trình xây dựng Chiến lược du lịch sinh thái, du lịch sinh thái ở Việt Nam vẫn chưa được các ngành hiểu một cách đúng đắn. Nhiều nhà chức trách địa phương đã xây dựng kế hoạch “Các khu an dưỡng du lịch sinh thái” tại các vùng nông thôn, tuy nhiên, ngoài một số trường hợp ngoại lệ, nhiều trong số các dự án “Du lịch sinh thái” này chỉ là những khu giải trí với rất ít nội dung giáo dục hay bảo tồn, và thậm chí ít quan tâm tới cuộc sống yên bình của người dân địa phương. Mặc dù xu thế này đó bắt đầu thay đổi (xem khung 1), nhiều kế hoạch phát triển du lịch, bao gồm cả những kế hoạch gọi là du lịch sinh thái, tại những khu vực thiên nhiên ở nông thôn, không có sự tham gia hoặc đồng tình của người dân địa phương, đặc biệt là bà con dân tộc thiểu số. Thông thường người dân địa phương được coi như nguồn lao động hoặc những người cung cấp dịch vụ trình độ thấp.

    Các khu bảo tồn, điểm du lịch chính đối với khách du lịch sinh thái, thường có ít hoặc không có khả năng quản lý du lịch và du lịch ít khi được đưa vào kế hoạch quản lý của các khu này, điều đó dẫn đến tình trạng không kiểm soát được số lượng và hoạt động của du khách trong các vườn quốc gia. Mặc dù nhiều khu bảo tồn có đề ra các quy định về môi trường cho du khách, việc vi phạm thường bị làm ngơ.

    Trong khối kinh doanh, rất ít cơ sở kinh doanh lữ hành cung cấp dịch vụ du lịch sinh thái thật sự (xem khung 2). Đa số các cơ sở bán “tour du lịch sinh thái” hiện nay thực chất là cung cấp các tour đi các vùng nông thôn và có khung cảnh thiên nhiên – họ chủ yếu “tô xanh” sản phẩm vì các tour của họ không tuân theo bất cứ nguyên tắc nào của du lịch sinh thái. Trình độ nhận thức về môi trường hiện nay của công chúng ở Việt Nam còn thấp, điều đó dẫn tới các hành vi thiếu trách nhiệm của rất nhiều du khách trong nước khi tới thăm các điểm du lịch thiên nhiên. Những nhà cung cấp dịch vụ du lịch cho thị trường này không có đủ năng lực cần thiết để giải quyết các vấn đề đặt ra và họ thường không nhận thức được vấn đề hoặc làm ngơ. Du lịch trong nước thường được quản lý bởi các công ty, mà công việc kinh doanh chính của họ không phải là du lịch – du lịch chỉ là một nhánh hoặc một phần nhỏ trong hoạt động kinh doanh của họ: có thể là bất cứ lĩnh vực nào từ xây dựng tới sản xuất nông sản. Do đó, khái niệm du lịch sinh thái không phải là ưu tiên hàng đầu của các hoạt động kinh doanh.

    Cơ hội và xu hướng tương lai

    SNV quan tâm tới tình trạng thiếu hiểu biết và sử dụng sai thuật ngữ du lịch sinh thái tại Việt Nam. Chừng nào du lịch sinh thái không được sử dụng một cách thích hợp thì người dân nghèo địa phương ở những điểm du lịch này sẽ còn phải tiếp tục gánh chịu những tác động tiêu cực từ du lịch. SNV đó tiến hành Chương trình Du lịch bền vững vì người nghèo tại Việt Nam và cùng phối hợp với các nhà chức trách và cơ sở kinh doanh địa phương, nhằm hỗ trợ xây dựng các loại hình du lịch có thể làm gia tăng lợi ích cho người dân địa phương, bao gồm các lợi ích về môi trường, xã hội và kinh tế.

    Để du lịch thiên nhiên ở Việt Nam, hiện nay cũng như về sau, có thể trở thành du lịch sinh thái thực sự, cần phải đáp ứng một số điều kiện sau:

    – Nâng cao nhận thức và đào tạo về du lịch sinh thái cho các nhà phát triển và tham gia vào du lịch, bao gồm các nhà chức trách địa phương, hướng dẫn du lịch, và các cơ sở kinh doanh du lịch;

    – Nâng cao nhận thức cho công chúng về các vấn đề môi trường và du lịch có trách nhiệm;

    – Đầu tư cho công các quản lý khu vực thiên nhiên và nguồn nhân lực;

    – Quản lý và điều phối tốt hơn tại các điểm du lịch sinh thái;

    – Xây dựng tốt hơn kế hoạch, chính sách và quy định về phát triển du lịch bền vững, đặc biệt là các khu bảo tồn;

    – Tăng cường sự tham gia của người dân địa phương sinh sống trong và gần các điểm du lịch sinh thái vào quá trình lập kế hoạch và quản lý du lịch;

    – Đảm bảo du lịch sinh thái góp phần bảo tồn các khu tự nhiên cũng như đóng góp cho công cuộc xóa đói giảm nghèo để giảm bớt áp lực về tài nguyên thiên nhiên.

    Việc hoàn tất quá trình xây dựng Chiến lược du lịch sinh thái quốc gia và thành lập Hiệp hội Du lịch sinh thái cũng sẽ có lợi cho phát triển du lịch ở Việt Nam thông qua hỗ trợ nâng cao chất lượng và phát triển hơn nữa du lịch sinh thái thực sự.

    Những tiến triển trong vài năm vừa qua chỉ ra tương lai sán lạn hơn đối với du lịch sinh thái tại Việt Nam. Chính phủ Việt Nam hiện bắt đầu nhận thấy tầm quan trọng trong việc phát triển du lịch một cách bền vững hơn, sử dụng hình thức du lịch này để tăng cường bảo tồn thiên nhiên và mang lại nhiều lợi ích hơn nữa cho người dân địa phương. Trong năm 2005 Chính phủ đó thông qua Luật Du lịch, trong đó lần đầu tiên các vấn đề về du lịch bền vững, bảo vệ môi trường, tham gia của cộng đồng và xóa đói giảm nghèo được đề cập đến. Đây là một cơ hội rất lớn để Việt Nam bắt đầu phát triển các điểm du lịch sinh thái bền vững với nhiều cơ hội tạo thu nhập hơn nữa cho cộng đồng địa phương, đồng thời vẫn bảo tồn được môi trường thiên nhiên.

    Footprint Vietnam Travel (www.footprintsvietnam.com) cung cấp các tour du lịch theo yêu cầu của khách hàng đến những điểm du lịch khác biệt với thói quen thông thường, và cung cấp thông tin đa dạng cho khách hàng về cách thức du lịch có trách nhiệm, tôn trọng môi trường và văn hóa địa phương.

    Handspan Adventure Travel (www.handspan.com) hoạt động từ năm 1997, và các tour của công ty này tập trung chủ yếu vào các tour nhỏ và đặc sắc nhằm bảo tồn môi trường, hỗ trợ nền kinh tế địa phương và tôn trọng nền văn hóa truyền thống. Rất nhiều hướng dẫn viên du lịch xuất thân từ các làng bản ở địa phương tại chính nơi họ làm việc, mang lại lợi ích cho gia đình mình và truyền bá kiến thức cho đông đảo cộng đồng địa phương. Công ty này cũng cung cấp thông tin và khuyến nghị cho du khách về du lịch có trách nhiệm đối với môi trường và xã hội.

    Phuong Nam Tours (www.phuongnamtours.com) có trụ sở tại Đà Lạt, công ty này phát triển một điểm du lịch sinh thái ở gần Núi Voi, trong đó gồm cả một khu an dưỡng sinh thái quy mô nhỏ được xây bằng các chất liệu thiên nhiên và nhạy cảm đối với môi trường. Chủ nhân cơ sở này cũng có kế hoạch làm việc với bà con dân tộc thiểu số K’Ho sinh sống gần đó để giúp người dân có thể hưởng nhiều lợi ích hơn nữa từ các hoạt động du lịch tại khu vực này.

    Địa chỉ liên hệ:

    Bà Nguyễn Thị Kiều Viễn

    Giám đốc Chương trình Du lịch bền vững vì người nghèo, SNV Việt Nam

    105-112, nhà D1, khu Ngoại giao đoàn Vạn Phúc, Hà Nội

    Tel: 8463791; Fax: 8463794

    STEPHANIE THULLEN

    SNV-Việt Nam

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Du Lịch Sinh Thái Và Nhiệm Vụ Của Các Loại Hình Sinh Thái
  • Nguyên Tắc Cơ Bản Và Điều Kiện Để Phát Triển Du Lịch Sinh Thái
  • Kiên Giang Phát Triển Du Lịch Sinh Thái Vườn Quốc Gia U Minh Thượng
  • ‘trái Ngọt’ Từ Mô Hình Vườn Cây Du Lịch Sinh Thái Ở Kiên Giang
  • Về Với Thiên Nhiên Tại Khu Du Lịch Sinh Thái Nhân Tâm Khánh Hòa
  • Khu Du Lịch Rừng Tự Nhiên Bằng Tạ

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Lưu Ý Khi Đi Du Lịch Sapa Vào Mùa Xuân
  • Tổng Hợp Những Lưu Ý Khi Đi Du Lịch Sapa Vào Mùa Xuân
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Singapore Tự Túc, Tiết Kiệm Tất Tần Tật Từ A
  • Kinh Nghiệm Đi Du Lịch Singapore Tự Túc Từ A Đến Z Cực Tiết Kiệm
  • Rừng Tràm Trà Sư
  • Thủ đô Hà Nội ghi dấu trong lòng du khách bởi những di tích lịch sử có giá trị, di sản văn hóa đặc sắc, khu phố cổ huyền thoại cùng nhiều công trình kiến trúc vang danh. Bên cạnh nét đẹp của những công kiến trúc cổ thì Hà Nội còn được thiên nhiên ban tặng nhiều danh lam thắng cảnh mỹ miều. Và khu du lịch rừng thiên nhiên Bằng Tạ được đánh giá là một trong những thắng cảnh xinh đẹp của Hà Nội được nhiều du khách viếng thăm trong những năm gần đây.

    Khu du lịch rừng tự nhiên Bằng Tạ nằm trên một quả đồi thấp, thuộc huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây, cách Hà Nội 65km về phía Tây, cách khu du lịch Ao Vua 14km và hồ suối Hai 3,8km. Khu du lịch tọa lạc trên một diện tích khác lớn khoảng 26,5ha, trong đó riêng diện tích rừng nguyên sinh hơn 17ha mang đến cho bạn một không gian thoáng mát để thư giãn và nghỉ ngơi thật sự thú vị.

    Khu du lịch rừng tự nhiên Bằng Tạ – Ảnh: kienthuc

    Với hệ động thực vật vô cùng phong phú, hoa lá cỏ cây trải thảm, đồng cỏ chạy dài bất tận, thế giới động vật vô cùng sống động…tất cả đã khoác lên cho Bằng Tạ một bộ áo xinh đẹp choáng ngợp lòng người. Thả bộ trong khuôn viên khu du lịch và ngắm cây cối đung đưa, hứng cơn gió mát lạnh ùa vào người và thư thả nhìn ngắm những đàn thiên nga bơi lợi dưới suối, đàn chim tung cánh chao nghiêng, chú công uốn đuôi xinh đẹp…chắc chắn các bạn sẽ thấy lòng thảnh thơi và thoải mái đến lạ kì. Chính vì thế, Bằng Tạ được đánh giá là một trong những nơi thư giãn tuyệt vời nhất ở Hà Nội cho những chuyến nghỉ lễ, cuối tuần…

    Với số lượng động thực vật phong phú, Bằng Tạ đã trở thành nơi bảo tồn, phục hồi hệ sinh thái đa dạng và nghiên cứu thiên nhiên, động vật hoang dã. Cũng là địa điểm lý tưởng cho các sinh viên đến nghiên cứu thực địa. Trong đó, hệ động vật ở Bằng Tạ với đa dạng loài, có các loài chim lặn, hạc, cắt, sếu, bồ câu, cu cu, sả, gõ kiến, sẻ và các loài bướm… Trong rừng nguyên sinh hiện có trên 200 con khỉ, sống theo từng bầy đàn… một số loài động vật như nai, hoẵng, lợn rừng, hươu sao, hổ, báo, gấu, linh trưởng… để du khách có thể thỏa sức ngắm nhìn và tìm hiểu cuộc sống của các loài thú hoang dã.

    Hươu sao trong rừng Bằng Tạ – Ảnh: Sưu tầm

    Lạc chân vào khu rừng nguyên sinh củ Bằng Tạ các bạn sẽ được đi xe bò kéo, cưỡi ngựa để tham quan khu rừng huyền bí này. Do chính quyền địa phương không cho phép các động cơ vào rừng nên nếu các bạn không muốn đi xe bò, cưỡi ngựa thì nhất thiết bạn phải đi bộ để tham quan khu rừng đấy!

    Những chú khỉ và hươu sao đang thưởng thức bữa trưa – Ảnh: Sưu tầm

    Khu rừng còn ẩn chứa nhiều vườn hoa tuyệt sắc như vườn lan, hoàng thảo tỏa hương thơm ngát làm say những bước chân kẻ lữ khách. Điểm tô trong khuôn viên khu rừng là nhiều đồng cỏ xanh rì chạy dài phủ xanh cả một góc trời. Và những đồng cỏ là địa điểm thích hợp cho du khách cắm trại, picnic và tổ chức các hoạt động vui chơi ngoài trời.

    Phía Bắc của rừng là đầm Long, một hồ nước rộng mênh mông được cải tạo thành các hồ sen, tạo cảnh quan môi trường tự nhiên hấp dẫn. Đầm Long là nơi cư ngụ của các loài động vật, bò sát như cuốc, bìm bịp, tắc kè, thằn lằn, kỳ đà họ rắn nước, rắn hổ chúa… Đầm Long không phù hợp lắm với người lớn nhưng lại rất phù hợp với các bé.

    Hồ sen ở đầm Long từ lâu đã trở thành địa điểm thưởng ngoạn thú vị. Dạo quanh hồ nhìn ngắm những đóa sen hồng thắm tỏa hương bát ngát, chèo thuyền lửng lờ trên hồ để đắm chìm trong hương hoa thơm ngát và tới các khu nhà nổi giữa đầm… là những hoạt động mà bạn nên trải nghiệm ở đầm Long.

    Hồ sen đẹp tuyệt vời – Ảnh: Sưu tầm

    Thú vị hơn nữa, đến Bằng Tạ du khách còn có cơ hội tham quan một quần thể làng của dân tộc Mường với nhiều nhà sàn và các hoạt động văn hóa sinh động như đốt lửa trại, uống rượu cần, nghe ca múa nhạc dân tộc và thưởng thức các đặc sản của vùng rừng núi Ba Vì, mua sắm tại các khu chợ bán hàng thổ cẩm,…

    Trong không gian âm u chỉ nghe tiếng hót líu lô của chim rừng và tiếng chí chóe đùa dỡn trên cây của hàng trăm con khỉ. Khách thật sự được hòa quyện với thiên nhiên, cây cỏ, hoa lá, chim muông.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kinh Nghiệm Du Lịch Khu Du Lịch Đại Nam Bình Dương Vui Chơi Đủ Trò
  • Du Lịch Phú Quốc Cao Cấp 4 Ngày
  • Vườn Nhãn Cổ Bạc Liêu
  • Chia Sẻ Kinh Nghiệm Du Lịch Rừng Nam Cát Tiên 2 Ngày 1 Đêm
  • Các Địa Danh Du Lịch Quảng Bình
  • Thiên Nhiên Là Gì? Các Vườn Quốc Gia Ở Và Mục Đích Của Các Khu Bảo Tồn

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Thuận Lợi Về Tài Nguyên Du Lịch Tự Nhiên Việt Nam
  • Du Lịch Thiền, Thế Mạnh Chưa Được Khai Thác Ở Việt Nam
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Thiên Sơn Suối Ngà Tự Túc Ngày Cuối Tuần
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Thiên Sơn Suối Ngà Từ A Đến Z
  • Du Lịch Thiên Sơn Suối Ngà
  • Theo định nghĩa của bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì thiên nhiên hay còn được gọi là tự nhiên, thế giới vật chất vũ trụ…tiếng Anh được gọi là nature. Nó bao gồm tất cả các dạng vật chất và năng lượng tồn tại từ cấp độ bé là hạt nguyên tử đến cấp độ to lớn như ngôi sao, thiên hà, ngân hà…

    Vai trò của thiên nhiên?

    Vai trò của thiên nhiên đối với cuộc sống tự nhiên

    Có thể nói, thiên nhiên là cái nôi sản sinh ra sự sống, cũng là nơi kết thúc của sự sống. Ví dụ, khi một vùng nào đó phải chịu thiên tai, bão lụt thì hàng trăm, hàng ngàn sự sống bị hủy diệt, môi trường sống bị tàn phá nặng nề, đó chính là kết thúc của sự sống.

    Tuy nhiên, điều đó không phải là chấm hết, khi cơn bão qua đi, từ những thân cây đổ sẽ mọc nên những mầm cây mới. Nguồn phù sa chảy về sẽ cung cấp dưỡng chất cho cỏ cây phát triển, cây cỏ phát triển sẽ thu hút các loài động vật ăn cỏ, động vật gặm nhấm di chuyển về. Số lượng động vật ăn cỏ đông thì các loại động vật ăn thịt cũng kéo nhau di chuyển về, tạo nên một sự cân bằng trong sinh thái.

    Đây chính là vai trò đầu tiên của thiên nhiên, đó chính là tạo ra sự sống và giúp cân bằng hệ sinh thái.

    Vai trò của thiên nhiên đối với cuộc sống của con người

    Thiên nhiên là nơi cung cấp các nguồn tài nguyên để phục vụ cho cuộc sống và sản xuất sinh hoạt của con người. Đơn giản là chúng ta hít thở không khí từ tự nhiên, uống nước từ tự nhiên, khai thác các loại khoáng sản, lâm sản, thổ sản, hải sản… để phục vụ cho nhu cầu của mình.

    Thiên nhiên quyết định đến các đặc điểm hình thái và hình thức quần cư, sinh sống của con người. Ví dụ như chủng người sống ở khu vực Đông Á, nơi quanh năm có khí hậu nóng ẩm, đồng bằng nhiều, nguồn nước nhiều thì họ sẽ định cư dọc các con sống lớn, nơi phát triển được nghề lúa nước.

    Ngược lại, đối với người da trắng sống ở khu vực châu Âu, nơi khí hậu ôn đới mát mẻ, nhiệt độ trung bình năm thấp thì họ phải trồng các loại cây thực phẩm là lúa mì, để thích ứng được với khí hậu nơi đây.

    Thiên nhiên cũng cung cấp cho chúng ta lượng tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản lớn như nguồn nước, nguồn khoáng sản, nguồn hải sản, lâm sản… Nơi nào càng tập trung nhiều nguồn tài nguyên thì mật độ dân cư sinh sống càng đông đúc.

    Tuy nhiên, các hoạt động sinh sống và khai thác của con người ở một số vùng hiện nay đang phá hủy thiên nhiên và môi trường tự nhiên, do đó cần chung tay để giải quyết nhanh chóng vấn đề này.

    Các dạng tài nguyên thiên nhiên

    Phân loại tài nguyên thiên thiên dựa theo bản chất

    Các nguồn tài nguyên thiên nhiên có thể được phân loại ra làm 6 loại chính là:

    • Tài nguyên đất: đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp, đất để sản xuất công nghiệp(như làm gạch, làm gốm…)
    • Tài nguyên rừng: gồm động vật, thực vật, lâm sản, địa điểm du lịch…
    • Tài nguyên nước ngọt: nước uống, nước sản xuất, thủy sản nước ngọt, các loài thực vật thủy sinh, năng lượng thủy điện…
    • Tài nguyên gió: sức gió, vận tải…
    • Tài nguyên biển: hải sản, muối, thực vật thủy sinh, địa điểm du lịch…
    • Tài nguyên khoáng sản: than đá, quặng, đá vôi, dầu khí…

    Phân loại tài nguyên thiên nhiên dựa theo khả năng tái tạo

    Nếu dựa theo khả năng tái tạo, tài nguyên thiên nhiên được chia thành 3 loại chính là:

    Là các loại tài nguyên mà tự bản thân nó có thể duy trì, bổ sung thêm được như nước ngọt, đất đai, động thực vật… Tuy nhiên, với việc khai thác và sử dụng quá mức như ngày nay thì nhiều loại tài nguyên thiên nhiên không có khả năng hồi phục được nữa.

    Tài nguyên tái tạo được

    Đây là những nguồn tài nguyên được biến đổi qua hàng triệu năm dưới tác động của thiên nhiên. Các loại tài nhiên này một khi đã sử dụng hết thì không còn khả năng tái tạo được nữa ví dụ như khoáng sản, các loại than đá, quặng đồng, chì, sắt, nhôm, đá vôi…

    Tài nguyên thiên nhiên không tái tạo được

    Là nguồn tài nguyên từ tự nhiên không bị cạn kiệt như ánh sáng mặt trời, gió, thủy triều, sóng biển… Ở nhiều quốc gia phát triển trên thế giới, họ đã dần dần thay thế dần cách hoạt động sản xuất sử dụng tài nguyên năng lượng vĩnh cửu thay vì tài nguyên hóa thạch.

    Tài nguyên năng lượng vĩnh cửu

    Thực trạng nguồn tài nguyên ở nước ta hiện nay

    Cũng giống với nhiều quốc gia trên thế giới, nguồn tài nguyên thiên nhiên ở Việt Nam đang dần bị thu hẹp và cạn kiệt dần. Thủ phạm đứng sau các vấn đề này lại chính là con người.

    Theo các số liệu thống kê thì diện tích rừng đang bị thu hẹp từng ngày, từng giờ do các hoạt động khai thác trái phép. Diện tích rừng thu hẹp khiến cho động thực vật mất đi môi trường sống, đẩy chúng dần đến nguy cơ bị tuyệt chủng trong tự nhiên.

    Nguồn nước bị ô nhiễm khiến nhu cầu nước sạch cũng càng trở lên cấp bách. Khoáng sản bị khai thác cạn kiệt, ô nhiễm không khí, ô nhiễm đất đai, sông ngòi ao hồ và tính trạng hoang mạc hóa ngày càng tăng cao.

    Từ chính điều này đòi hỏi chúng ta phải có ý thức trong việc khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên hơn nữa, không chỉ tốt cho cuộc sống của mình mà còn cho các thế hệ con cháu sau này nữa.

    Một số vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên ở Việt Nam

    Vườn quốc gia U Minh Thượng

    Nằm cách thành phố Rạch Giá khoảng 65 km về phía Tây Nam và được nâng cấp từ khu bảo tồn thiên nhiên của U Minh Thượng lên thành Vườn quốc gia U Minh Thượng được thành lập vào ngày 14 tháng 1 năm 2002 với khoảng 21.122 ha thuộc diện tích tại các xã như An Minh, Minh Thuận Bắc (huyện U Minh Thượng – tỉnh Kiên Giang), bao gồm 8.053 ha vùng lõi (trong đó 7838 ha là khu bảo vệ nghiêm ngặt, 200 ha là khu vực kết hợp phục hồi sinh thái và bảo tồn di tích lịch sử, 15 ha là phân khu hành chính) và 13.069 ha vùng đệm.

    U Minh Thượng sở hữu đa dạng sinh học nhất về các loài hoa ở đồng bằng sông Cửu Long, bên cạnh sự phát triển của cây tràm, còn có hơn 254 loài thuộc 84 họ, với nhiều loài đặc hữu như phong lan đất, bèo nhọn, cây dương xỉ… Theo dữ liệu khảo sát từ kiểm kê rừng năm 1995, Khu bảo tồn sinh học U Minh Thượng sở hữu tới 8.053 ha rừng nguyên sinh, trong đó có 3.000 ha rừng nguyên sinh được hình thành từ khoảng 6.000 năm trước với độ dày từ 0,3 – 1,5 m

    Hệ động vật cũng rất phong phú với 32 loài thuộc 10 họ, 7 chi trong đó có 7 loài dơi, 10 loài được liệt kê trong Sách đỏ của Việt Nam và thế giới như rái cá mũi lông, mèo cá, cầy vòi hương, sóc Finlayson, tê tê Java (Sunda); 188 loài chim thuộc 39 họ và 12 chi chiếm 16,6% so với 828 loài được ghi nhận ở Việt Nam, trong đó có 12 loài có giá trị bảo tồn, 8 loài đang bị đe dọa trên toàn cầu như bồ nông chân xám, chim già sói, cò quắm đầu đen, chim thợ dệt, diều cá đầu xám, đại bàng đen; 54 loài bò sát lưỡng cư, trong đó có 8 loài được liệt kê trong Sách đỏ Việt Nam như trăn gấm, rắn cạp nong, rắn hổ mang, rắn hổ chuột, tắc kè,..; 34 loài cá, trong đó, hai loài được gọi là: cá trê trắng và cá thác lác được liệt kê trong Sách đỏ Việt Nam, các loài tiêu biểu khác như cá lóc, cá lóc khổng lồ, cá rô, cá thòi lòi,…

    Vào ngày 27 tháng 10 năm 2006, trong phiên họp thứ 19 được tổ chức tại Paris, UNESCO đã công nhận Khu dự trữ sinh quyển Kiên Giang bao gồm ranh giới biển và đảo là Khu dự trữ sinh quyển thế giới. Đây không chỉ là khu dự trữ sinh quyển thứ 5 ở Việt Nam được UNESCO công nhận cho đến hiện tại mà còn là khu dự trữ lớn thứ hai trong tổng số 8 Khu dự trữ sinh quyển ở Việt Nam, sau Khu dự trữ sinh quyển ở phía Tây tỉnh Nghệ An.

    Theo ông Hương H. Lê – Giám đốc ban quản lý Vườn quốc gia U Minh Thượng, kết quả khảo sát khoa học trong thời gian gần đây cho thấy hệ sinh thái rừng Cajuput trên vùng đất than bùn trong công viên có tầm quan trọng đặc biệt, cung cấp cả sự nuôi dưỡng và nơi trú ẩn cho nhiều loài động vật hoang dã, khan hiếm và có nguy cơ tuyệt chủng. Chúng đóng vai trò thiết yếu trong việc cân bằng sinh thái, điều hòa dòng chảy, duy trì mức khí hậu toàn cầu, chất lượng nước và cả quá trình hình thành đất đá

    Trong những năm gần đây, tỉnh Kiên Giang đã nỗ lực rất nhiều trong việc thực hiện quá trình bảo tồn và phục hồi tài nguyên thiên nhiên ở vùng đất than bùn, đảm bảo sự tự nhiên, hoang dã và toàn vẹn của hệ thống sinh thái, sự đa dạng và giá trị nổi bật của dân số ở Vườn quốc gia Thượng U Minh, đạt được. tất cả các tiêu chí để trở thành một công viên di sản ASEAN. Năm 2012, Công viên quốc gia Thượng U Minh đã được công nhận là Công viên di sản ASEAN đầu tiên trên vùng đất than bùn của khu vực Đông Nam Á.

    Trong suốt thời gian qua, chính quyền Kiên Giang đã nỗ lực nhiều trong cách tiếp cận dự trữ và khôi phục tài nguyên thiên nhiên, giữ trạng thái tự nhiên, hoang dã của hệ sinh thái; sự đa dạng và cân bằng trong rừng. Nhờ cố gắng đáp ứng các yêu cầu của ASEAN, vào năm 2012, Thượng U Minh đã được trao danh hiệu là vườn di sản ASEAN cho loại bùn than độc đáo.

    Với những thành tựu và thành công trong công tác bảo tồn và cải thiện các giá trị “xanh” của vườn quốc gia U Minh Thượng đã đạt 5 trong tổng số 9 tiêu chí của Công ước Ramsar – một cam kết quốc tế được thực hiện để bảo tồn, sử dụng rừng ngập mặn một cách hiệu quả nhất với mục đích ngăn chặn cuộc xâm lấn vào các khu vực rừng ngập mặn cũng như sự mất mát của chúng ở hiện tại và cả trong tương lai. Vào tháng 8 năm 2022, Ban Thư ký Công ước Ramsar đã công nhận Vườn quốc gia Thượng U Minh và Khu bảo tồn đầm lầy Láng Sen (tỉnh Long An) là Địa điểm Ramsar thứ 6 và thứ 7 của Việt Nam, và thứ 2.226 và 2.227 trên thế giới

    Là vùng đất của môi trường sinh thái đặc biệt với nhiều di tích khảo cổ, di tích lịch sử, cũng như được mô tả bởi nhiều nhà văn lớn của miền Nam như Sơn Nam, Đoàn Giây trong các tác phẩm thú vị mang đậm nét mộc mạc, sau đó các nhà làm phim cũng chọn nơi này. là bối cảnh cho các bộ phim như Bên cạnh sông Trẹm,… không có gì lạ khiến cho Vườn quốc gia U Minh Thượng lại trở thành một điểm đến ưa thích của du khách và các nhà nghiên cứu.

    Trên đường trở về bến tàu, du khách sẽ bắt gặp hồ Hoa Mai – một đầm lầy được tuôn ra dưới dạng một bông hoa với năm cánh hoa, bề mặt của nó được bao phủ bởi dương xỉ xinh đẹp như tấm thảm trải dài, và nó cũng là trung tâm du lịch của Vườn quốc gia U Minh Thượng. Du khách có thể thư giãn và giải trí bằng cách đạp thuyền thiên nga trên hồ, mang cần câu đi vòng quanh hồ để trải nghiệm như một ngư dân thực sự, hoặc thuê một chiếc thuyền để chèo dọc theo kênh rạch đầy hoa lily , xem xét một vị trí tuyệt vời để thả xuống thu hút

    Nằm bên cạnh hồ Hoa Mai, những ngôi nhà trên khu nhà sàn dành cho ẩm thực là một điểm đến cực kỳ thú vị, nơi du khách có thể thưởng thức nhiều món ăn đặc sản mang hương vị mộc mạc nhưng đậm đà của U Minh

    Hiện tại ở vườn quốc gia U Minh Thượng đã có nhiều nơi để cho du khách dừng chân – khách có thể chọn ở lại qua đêm tại nhà nghỉ ở làng Công Su (xã An Minh Bắc – huyện U Minh Thượng) hoặc trong một nhà nghỉ khá lãng mạn ở trung tâm Rừng tràm ở Hương Trâm tour du lịch vườn

    Vườn quốc gia Hoàng Liên

    Trước năm 1996 đến năm 2002, vườn quốc gia Hoàng Liên có tên là khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên-Sa Pa. Đến ngày 12 tháng 7 năm 2002, khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên-Sa Pa được chuyển đổi thành vườn quốc gia Hoàng Liên theo quyết định số 90/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

    Vườn quốc gia Hoàng Liên nằm có vị trí nằm trọn trọng các xã San Sả Hồ, Lao Chải, Tả Van, Bản Hồ thuộc huyện Sa Pa, các xã Mường Khoa, Thân Thuộc huyện Than Uyên và 2 xã thuộc huyện Phong Thổ tỉnh Lai Châu. Phía Tây Bắc của vườn quốc gia tiếp giáp với dãy núi Hoàng Liên, diện tích rơi vào khoảngg 29.845 ha. Nơi đây có đặc trưng bởi hệ sinh thái rừng á nhiệt đời núi cao, có nhiều loại động thực vật quý hiếm, trong đó tồn tại nhiều loài động thực vật đặc hữu.

    Do nằm ở vị trí cao, có nhiệt độ khí hậu khá ôn hòa, nhiệt độ trung bình năm không vượt quá 20 độ, nên thiên nhiên đã ưu đãi cho nơi đây một hệ sinh thái động thực vật rất phong phú.

    Theo ước tính của các nhà khoa học, ở vườn quốc gia Hoàng Liên tồn tại hơn 2.024 loài thực vật khác nhau, thuộc hơn 200 họ cây. Trong số đó, sách đỏ Việt Nam ghi nhận 133 loài với 16 loài thuộc nhóm có nguy cơ bị tuyệt chủng trên thế giới như bách xanh, thiết sam, thông tre, thông đỏ, đinh tùng, dẻ tùng…

    Đặc điểm địa lý

    Với phân loại mức độ quý hiếm, 133 loài thực vật này được phân loại theo mức độ:

    Đặc biệt có 16 loài thuộc cấp KK chưa được xếp hạng tại Việt Nam.

    Đặc điểm sinh thái

    Tại vườn quốc gia Hoàng Liên còn tìm thấy nhiều loài thực vật được sử dụng làm dược liệu như thiên niên kiện, đương quy, thục địa, đỗ trọng, hoàng liên chân chim, đỗ quyên, kim giao, thảo quả…, nấm cổ linh chi và 3 loại cây đặc biệt quý hiếm là bách xanh còn khoảng 11 cây, thông đỏ còn 3 cây và vân sam Hoàng Liên còn một cây. Hiện Quỹ quốc tế và bảo vệ thiên nhiên và chương trình Đông Dương đang tìm biện pháp nhân giống 3 loại cây trên để tránh nguy cơ bị tuyệt chủng.

    Trong 555 loài động vật có:

    Trong số loài động vật có những loài động vật đang trong có nguy cơ bị tuyệt chủng cao. Như các loài linh trưởng có vượn đen, hồng hoàng, cheo cheo, vooc bạc má, lưỡng cư có ếch gai vô cùng quý hiếm và bò sát thì có loài rùa lá. Rất nhiều loại rùa, rắn và kì đà ở đây cũng bị săn bắn và khai thác có nguy cơ bị tuyệt chủng.

    • Đỉnh Phan xi păng, với độ cao 3.143 m, được mệnh danh là nóc nhà của Đông Dương.
    • Đèo Ô Quy Hồ nằm giáp ranh giữa 2 tỉnh Lào Cai và Lai Châu, đây là một kì quan của thiên nhiên với núi non cao chót vót trùng trùng, điệp điệp, mây trắng dưới chân lượn lờ, cho cảm giác như là nơi tiên cảnh, chính vì thế mà nơi đây còn có tên là Cổng trời. Đèo ô quy hồ còn gắn liền với sự tính về tình yêu đẹp nhưng bất hạnh của nàng tiên nữ thứ 7 con của trời và người con trai cả của thần núi.
    • Cốc San, nơi có hệ thống thác nước hùng vĩ và nhiều hang động nối liền nhau.
    • Thác Bạc, chiêm ngưỡng sự hùng vĩ của thiên nhiên cùng trang trại nuôi cá hồi nước lạnh duy nhất tại miền Bắc Việt Nam.

    Ngoài các địa điểm thiên nhiên trên còn rất nhiều địa điểm du lịch nhân tạo mà bạn không thể bỏ qua khi đến với SaPa như bản Cát Cát, thung lũng Hoa Hồng, thung lũng Mường Hoa, nhà thờ đá, bản Tả Phìn, Tả van…

    Tuy nhiên, có một vấn nạn là để phát triển du lịch và các đặc sản miền núi, người dân tại nơi đây đang chặt phá rừng rất nhiều mà không quan tâm đến việc trồng rừng hay bảo tồn nhiên nhiên.

    Do hoạt động khai thác du lịch, khai thác lâm thổ sản địa phương nên diện tích rừng của vườn quốc gia đang bị tàn phá nghiêm trọng. Theo thống kê của ủy ban nhân dân huyện SaPa cho biết, diện tích rừng nguyên sinh đang bị giảm xuống một cách chóng mặt với ước tính còn khoảng 30%. Tốc độ suy giảm rừng nhanh đang đe dọa đến sự tồn tại và phát triển của một số loài động thực vật quý hiếm cần được bảo tồn.

    Vấn đề khách du lịch hạ trại, đốt lửa, chặt cây, tỉa cành, và xả rác bừa bãi, khiến vườn quốc gia dần biến thành một bãi rác khổng lồ. Để bảo vệ và phát triển rừng, ban quản lý vườn quốc gia Hoàng Liên đã kí cam kết với các hộ dân trong việc bảo vệ rừng và thú rừng. Hoạt động này được thực hiện từ năm 2003 cho tới nay và số diện tích rừng cũng như số hộ dân tham gia ngày càng tăng cao.

    Đặc điểm du lịch

    Vườn quốc gia Mũi Cà Mau

    Vườn quốc gia mũi Cà Mau được phát triển vào năm 2003, trong đó diện tích tổng tự nhiên của vườn là gần 42000 hecta. Vườn quốc gia nằm trên địa bàn giao giữa 2 vùng huyện Nam Căn và huyện Ngọc Hiển. Vườn được phát triển và thành lập theo quyết định của chính phủ số 142/2003/QĐ – TTG được phê duyệt và thông qua vào ngày 14 tháng 7 năm 2003 dựa trên việc nâng cấp lại khu bảo tồn thiên nhiên Đất Mũi, vốn đã được phê duyệt từ năm 1986.

    Tổng diện tích đất của vườn quốc gia mũi Cà Mau là vào khoảng 41,862 hecta, trong đó:

    • Có khoảng 15,262 hecta là diện tích vùng đất liền.
    • Còn lại 26,600 hecta là diện tích vùng ven biển tiếp xúc với đất liền.

    Hiện nay, theo như thống kê thì vườn quốc gia mũi Cà Mau có số lượng động thực vật sinh sống như sau:

    • Có khoảng 28 cho đến 32 loài cây ngập mặn đang sinh sống.
    • Có khoảng 26 loài thú, 93 loài chim, 43 loài động vật bò sát, 139 loài cá khác nhau, với 9 loài lưỡng cư, 49 loài sinh vật phù du, và còn nhiều loài nước mà đã được công nhận và thống kê trong sách đỏ của Việt Nam và cả trên thế giới.
    • Hàng năm hệ động thực vật của vườn quốc gia mũi Cà Mau lại càng thêm phong phú. Bởi vì do hệ thống sống và kênh rạch chằng chịt ở bên trong vườn quốc gia đã giúp mang phù sa bồi đắp đất và mở rộng diện tích cho vườn.

    Khi nói tới vườn quốc gia mũi Cà Mau, không thể không nhắc tới các chức năng hoạt động chính của vườn, bao gồm các chức năng:

    • Bảo vệ tuyệt đối sự đa dạng sinh học của các loài động thực vật đang sinh sống tại nơi đây. Bao gồm các loài cây ngập mặn, các loài động vật cư trú, cung cấp thức ăn và các chất dinh dưỡng cho các loài thủy sản,….
    • Giúp bảo vệ và củng cố thêm năng lực quốc phòng và bảo vệ tình hình an ninh trật tự và chính trị văn hóa tại nơi cực nam của tổ quốc.
    • Cuối cùng, vườn quốc gia mũi Cà Mau giúp phục vụ cho những hoạt động du lịch của người dân trong nước và quốc tế. Phát triển các mô hình nhằm bảo tồn đa dạng sinh học cũng như giữ vững được giá trị của vùng sinh thái ngập nước. Từ đó giúp đời sống của người dân được cải thiện tốt hơn.

    Thống kê về đa dạng sinh học của Vườn quốc gia mũi Cà Mau

    Mục đích của các khu bảo tồn thiên nhiên ở Việt Nam

    Các khu bảo tồn thiên nhiên là những nơi được bảo vệ nghiêm ngặt bởi pháp luật và chỉ được sử dụng để phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học, đào tác các chuyên gia quan trắc môi trường. Ngoài ra, nhiệm vụ chính của chúng là bảo vệ các các quần thể, hệ sinh thái được ổn định không bị biến đổi, nhiễu loạn. Có thể tóm tắt được những mục đích chính của các khu bảo tồn ở Việt Nam đó là:

    • Bảo vệ các khu vực hoang dã
    • Giữ gìn sự đa dạng về nguồn gen
    • Phục vụ công tác nghiên cứu khoa học và đào tạo các chuyên gia
    • Kết hợp sử dụng để giáo dục, du lịch, giải trí
    • Bảo vệ cảnh quan thiên nhiên và văn hóa
    • Duy trì nguồn tài nguyên từ các hệ sinh thái tự nhiên

    Yêu cầu gì để trở thành khu bảo tồn thiên nhiên ở Việt Nam

    Để có thể trở thành khu bảo tồn thiên nhiên thì cần phải được các cơ sở chức năng xem xét và quyết định dựa vào các tiêu chí sau đây:

    • Đây là vùng đất tự nhiên có nguồn dự trữ tài nguyên thiên nhiên cao và có giá trị về đa dạng sinh học.
    • Được đánh giá cao về giá trị khoa học, văn hóa, phục vụ cho việc nghiên cứu, giáo dục và du lịch
    • Động, thực vật là những loài đặc hữu hoặc những vùng đất là nơi trú ẩn, sinh sống của các loại động vật quý hiếm
    • Có diện tích rộng lớn để có thể chứa một hoặc nhiều hệ sinh thái và tỷ lệ còn nguyên vẹn lên tới trên 70%

    Các khu bảo tồn thiên nhiên ở Việt Nam được phân loại như thế nào

    • Khu bảo vệ hoang dã: Có tác dụng nghiên cứu khoa học và bảo vệ vùng đất hoang dã
    • Khu dự trữ thiên nhiên nghiêm ngặt: Được sử dụng chủ yếu phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học
    • Vùng đất hoang dã: Bảo đảm được sự nguyên vẹn cho vùng đất chưa chịu sự tác động của con người
    • Vườn quốc gia: Bảo vệ hệ sinh thái phục vụ cho việc nghiên cứu, giáo dục và du lịch
    • Khu bảo tồn thắng cảnh tự nhiên: Được thành lập để bảo tồn các cảnh quan độc đáo, có giá trị ở nước ta.
    • Khu bảo tồn sinh cảnh: Bảo tồn hệ sinh thái bằng cách thực hiện các sự can thiệp tích cực
    • Khu bảo tồn cảnh quan đất liền và biển: Được thành lập nhằm bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, phục vụ cho công việc du lịch và giải trí
    • Khu bảo tồn kết hợp việc sử dụng tài nguyên bền vững: Có nhiệm vụ quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, điều chỉnh việc sử dụng đạt hiệu quả tốt nhất.

    Các khu bảo tồn thiên nhiên ở Việt Nam

    Theo thống kê thì hiện tại các khu bảo tồn thiên nhiên ở Việt Nam có tới 168 khu rừng đặc dụng bao gồm:

    Vườn quốc gia Cúc Phương được biết đến là khu bảo tồn thiên nhiên đầu tiên ở nước ta và được thành lập vào năm 1962, tiếp sau đó là đến vườn quốc gia Cát Tiên, Côn Đảo…với mục đích được thành lập là bảo vệ đa dạng sinh học, đảm bảo tính nguyên vẹn của môi trường cũng như phục vụ cho công việc nghiên cứu, giáo dục và du lịch.

    Năm 2011, Việt nam được đánh giá là quốc gia có hệ đa dạng sinh học cao nhất trên thế giới với hơn 49.000 sinh vật bao gồm 7.500 chủng/loài vi sinh vật; 20.000 loài thực vật sống trên cạn và dưới nước; 10.500 loại động vật sống trên cạn và hơn 11.000 sinh vật biển… Và nhờ vào các khu bảo tồn thiên nhiên ở Việt Nam mà các loại động thực vật này đang được bảo vệ một cách tốt nhất

    Diện tích dành cho các khu bảo tồn ở nước ta hiện nay là khoảng 5-6%. Tuy nhiên, theo khuyến nghị của tổ chức IUCN thì Việt Nam cần phải dành 10% lãnh thổ để phục vụ cho mục đích bảo tồn.Đề xuất này đang gặp phải rất nhiều những luồng ý kiến trái chiều vì nhiều người cho rằng với nền kinh tế còn nghèo như Việt Nam thì nên dành nhiều diện tích để thực hiện các công tác phát triển kinh tế thì tốt hơn.

    Công tác quản lý tại các khu bảo tồn thiên nhiên ở Việt Nam

    Nhiều ban, ngành được thành lập phục vụ cho công tác tuần tra, kiểm soát, cùng với đó các cơ quan chức năng cũng đẩy mạnh công việc canh gác, tuyên truyền người dân địa phương có ý thức hơn trong việc bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên tại các khu bảo tồn.

    Tuy nhiên, công tác quản lý vẫn đang gặp rất nhiều những khó khăn cũng như thách thức về nguồn nhân lực, kinh phí, hệ thống các cấp quản lý chưa được đồng bộ thống nhất… Và một thực trạng đáng buồn hiện nay đó là hệ sinh thái trong các khu bảo tồn thiên nhiên ở Việt Nam đang ngày càng bị suy thoái, khiến chất lượng đa dạng sinh học bị ảnh hưởng, các nguồn gen quý bị thất thoát.

    Bảo vệ môi trường và cảnh quan thiên nhiên đang là một trong những công việc vô cùng cấp bách hiện nay, quyết định đến sự tồn tại và phát triển của đất nước.

    Các khu bảo tồn thiên nhiên ở Việt Nam đang ngày càng gia tăng về số lượng, tuy nhiên hệ sinh thái trong các khu bảo tồn này đang ngày càng bị suy giảm, chính vì thế mỗi cá nhân cần phải có ý thức và trách nhiệm của mình trong việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trốn Khói Bụi Thành Phố Với 5 Resort Thiên Nhiên Ngay Gần Hà Nội
  • Phát Triển Du Lịch Gần Gũi Thiên Nhiên
  • Thiên Nhiên Đà Nẵng Có Gì Hấp Dẫn? Chuyến Du Lịch Khám Phá
  • Vân & Veo & Du Lịch Thiện Nguyện
  • Du Lịch Thiện Nguyện, Các Loại Hình Của Du Lịch Thiện Nguyện!
  • Teambuilding: Khu Du Lịch Rừng Tự Nhiên Bằng Tạ

    --- Bài mới hơn ---

  • Vườn Quốc Gia U Minh Hạ Cà Mau ⋆ Hương Vị Đất Mũi
  • Khám Phá Khu Du Lịch Rừng U Minh Hạ
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Rừng U Minh Hạ Chi Tiết Giá Vé 2022
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Sinh Thái, Khám Phá Rừng U Minh Thượng
  • Chinh Phục Thiên Nhiên Hoang Dã Tại Vườn Quốc Gia U Minh Thượng
  • Khu du lịch rừng tự nhiên Bằng Tạ – Hà Nội cho thuê nghỉ dưỡng, teambuilding.

    ☎️ Hotline tư vấn: 0866.010055/ 0866.091515

    Giới thiệu khu du lịch rừng tự nhiên Bằng Tạ – Hà Nội

    Bằng Tạ là rừng nguyên sinh gồm 4 tầng cây khép kín tán. Theo kết quả khảo sát sinh thái và tài nguyên sinh vật của Viện Địa lý Việt Nam đã thống kê ở đây có 387 loài thực vật thuộc 252 chi, 94 họ của 4 ngành thực vật bậc cao. Về động vật ở rừng Bằng Tạ và các địa bàn phụ cận hiện có 13 loài thú thuộc 7 họ, 4 bộ điển hình như họ chuột, dơi quạ, cầy lỏn, sóc cây họ chuột… Riêng chim có 69 loài thuộc 37 họ và 13 bộ. Hiện tại, khu vực Bằng Tạ có các loài chim lặn, hạc, cắt, sếu, bồ câu, cu cu, sả, gõ kiến, sẻ và các loài bướm… Trong rừng nguyên sinh hiện có trên 200 con khỉ, sống theo từng bầy đàn…

    Đến với rừng nguyên sinh Bằng Tạ, du khách có thể thuê xe bò kéo, cưỡi ngựa hoặc đi bộ chứ không được phép đi các loại động cơ. Đây là điều rất độc đáo của khu du lịch này. Trong tương lai, khu rừng này sẽ được trồng thêm nhiều loài lan quý như hoàng thảo, địa lan, lan hài…, nuôi thả bán tự nhiên thêm một số loài động vật như nai, hoẵng, lợn rừng, hươu sao, hổ, báo, gấu, linh trưởng… để du khách có thể thỏa sức ngắm nhìn và tìm hiểu cuộc sống của các loài thú hoang dã.

    Địa chỉ: huyện Ba Vì, Hà Nội.

    Khu du lịch rừng tự nhiên Bằng Tạ nằm trên một quả đồi thấp, thuộc huyện Ba Vì, Hà Nội, cách khu du lịch Ao Vua 14km và hồ suối Hai 3,8km.

    Lý do lựa chọn khu du lịch rừng tự nhiên Bằng Tạ – Hà Nội

    • Cảnh quan xanh – thoáng – rộng – đẹp.
    • Không gian yên tĩnh rất thích hợp nghỉ dưỡng.
    • Có khu bãi rộng để tổ chức sự kiện, cắm trại, teambuilding ngoài trời.
    • Giá cả bình dân.

    Các trò chơi, hoạt động trải nghiệm khu du lịch rừng tự nhiên Bằng Tạ – Hà Nội

    • Dạo chơi cùng những loài vật yêu quý, thưởng thức các đặc sản của vùng rừng núi Ba Vì.
    • Tham quan một quần thể làng của dân tộc Mường với nhiều nhà sàn và các hoạt động văn hóa sinh động như đốt lửa trại, uống rượu cần, nghe ca múa nhạc dân tộc.
    • Tổ chức các trò chơi teambuilding, cắm trại, đốt lửa trại.
    • Lều trại.
    • Hệ thống nhà nghỉ tại khu du lịch.
    • Nhà ăn tại quẩn thể làng của dân tộc Mường.
    • Khu chợ quê trong khu du lịch.

    ☎️ Hotline tư vấn: 0866.010055/0866.091515

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ngất Ngây Vẻ Đẹp Của Khu Du Lịch Rừng Tự Nhiên Bằng Tạ
  • Review Chuyến Đi Rừng Tràm Trà Sư Tự Túc Trong Ngày Dành Cho Bạn
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Rừng Tràm Trà Sư Tự Túc Cập Nhật
  • Rừng Tràm Trà Sư (An Giang): Kinh Nghiệm Du Lịch Tự Túc Đầy Đủ Nhất
  • Du Lịch Rừng Tràm Tân Lập, Long An
  • Boutique Hotel Là Gì? Biệt Thự Du Lịch Là Gì? 2022

    --- Bài mới hơn ---

  • Có Nên Thuê Biệt Thự Khi Đi Du Lịch Không?
  • Villa Là Gì? 3 Loại Hình Villa Phổ Biến Nhất 2022
  • Villa Là Gì? Gợi Ý Villa Đẹp Tại 10 Điểm Du Lịch Nổi Tiếng Của Việt Nam
  • Quản Lý Kinh Doanh Khách Sạn Căn Hộ Và Biệt Thự Du Lịch (Phần 1: Tổng Quan Về Condotel Và Thực Trạng Ở Việt Nam)
  • Villa Là Gì? Phân Biệt Villa Với Các Mô Hình Lưu Trú Khác
  • Trong những năm gần đây, các loại hình du lịch không ngừng được khai thác và nâng tầm nhanh chóng như cái cách mà máy bay chạm tới mây trời.

    Vì vậy đôi khi chúng ta phải cân não cực kì giữa các loại hình du lịch, trong đó có nơi lưu trú, một trong những mấu chốt giúp cho kì nghỉ trở nên “yên lành” hơn bao giờ hết.

    Cùng chúng tôi khám phá hai loại hình lưu trú đẳng cấp đó là Boutique hotel và Biệt thự du lịch.

    Boutique hotel

    Boutique hotel là gì?

    – Boutique trong tiếng Pháp có nghĩa là chỉ những cửa hàng nhỏ, chuyên bán những đồ có phong cách, chất riêng như thời trang, phụ kiện,…

    Đặc điểm của boutique hotel là gì?

    – Quy mô, diện tích: Nếu những loại hình lưu trú khác có thể ít hơn 10 phòng hoặc lớn hơn hàng 100 phòng, thì Boutique hotel lại chỉ nằm trong 10-100 phòng, điều này đảm bảo sự riêng tư nhất định.

    Bạn nhầm lẫn giữa Boutique hotel và hotel?

    – Điểm giống nhau: Điều đem lại những dịch vụ trải nghiệm và tận hưởng cho khách hàng, trong một không gian, phong cách, chất lượng nhất định.

    Đồng thời số phòng của boutique luôn luôn không dưới 10 phòng và trên 100 phòng. Điều này đem lại cảm giác tận hưởng và nghỉ dưỡng hoàn hảo cho khách hàng.

    Biệt thự du lịch

    Biệt thự du lịch là gì?

    Biệt thự du lịch là một loại hình biệt thự được thiết kế với lối kiến trúc độc đáo, tinh tế và vô cùng sang trọng. Tại đây được trang bị nội thất đầy đủ, tiện nghi, đồng thời cung cấp những tiện ích đời sống hoàn hảo, thường được sử dụng phục vụ cho những đoàn khách du lịch, những chuyến nghỉ mát của các đoàn thể, công ty hay tổ chức.

    – Quy mô, diện tích: Biệt thự du lịch thường có quy mô tương đối lớn ở trên nền diện tích khá rộng.

    – Địa điểm: Thường thì biệt thự du lịch được xây dựng ở những vùng ven biển, vùng núi, vùng hoang vắng nhưng mang nét đặc sắc về tự nhiên, môi trường. Điều này đem lại sự tĩnh lặng và trong lành hoàn hảo cho một kì nghỉ trọn vẹn.

    – Nội thất, dịch vụ: Hiện đại, tiện nghi. Dịch vụ chuyên nghiệp, chất lượng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Biệt Thự Du Lịch Là Gì ? Khách Sạn Du Lịch Là Gì ?
  • Bí Quyết Đi Du Lịch Thai Lan
  • Bí Quyết Đi Du Lịch Phú Quốc Tiết Kiệm Theo Tháng
  • Bí Quyết Khi Đi Du Lịch Phú Quốc Vào Cuối Tuần
  • Kinh Nghiệm Đi Tour Du Lịch Phú Quốc Hè 2022
  • Kỳ Quan Tự Nhiên Và Khu Du Lịch Ở Ontario

    --- Bài mới hơn ---

  • Trẻ Em Sinh Ra Tại Canada Có Được Quốc Tịch Canada?
  • Hiệp Hội Những Người Mới Định Cư Đến Canada Ở Pei
  • “Du Lịch Sinh Con” Ở Canada: Hợp Pháp, Nhưng Bị Xem Là ‘Trái Đạo Lý Và Bất Lương’
  • Kinh Nghiệm Phỏng Vấn Visa Mỹ Tại Canada
  • Rớt Visa Du Lịch Canada Lỗi Do Đâu?
  • Gần như tất cả mọi người trên thế giới đã nghe về hoặc nhìn thấy hình ảnh uy nghi và mạnh mẽ của Thác Niagara, nhưng Ontario còn có rất nhiều kỳ quan thiên nhiên tuyệt vời kỳ diệu hơn gây kinh ngạc. Từ các sự kiện địa chất để lại dấu vết trên bề mặt đá và trong hang động đến hàng ngàn sông hồ và đường thủy để đi cano và khám phá, đến các con đường mòn tự nhiên ở nhiều khu công viên và khu bảo tồn của Ontario, không khí trong lành và cảm giác tự do và không gian rộng được tìm thấy ở mọi nơi trong tỉnh.

    Một số những kỳ quan thiên nhiên trong số này bao gồm:

    • Công Viên Algonquin
    • Công Viên Tỉnh Sleeping Giant, Thunder Bay
    • Scarborough Bluff, Scarborough
    • Công Viên Tỉnh Sandbank, Quận Prince Edward
    • Công Viên Quốc Gia Bruce Peninsula, Tobermory
    • Elora Gorge, Elora
    • Động Bonnechere Caves, Eganville
    • Đỉnh Rattlesnake Point, Milton
    • Công Viên Tỉnh Samuel de Champlain, Mattawa
    • Công Viên Tỉnh Bon Echo, Cloyne
    • Thác Kakabeka

    Cần thêm thông tin về các kỳ quan thiên nhiên của Ontario? 

    Điểm Tham Quan Chính

    Châm ngôn gắn liên với tỉnh Ontario là “Tất Cả Để Bạn Khám Phá” và nó rất phù hợp bởi vì đó là sự thật. Mặc dù nhiều người đã nghe nói về Tháp CN Tower tại Toronto hoặc đã nhìn thấy hình ảnh của Toà Nhà Nghị Viện biểu tượng ở Ottawa của Canada, thì toàn Ontario còn có rất nhiều điểm tham quan bao gồm các di tích lịch sử, kiến trúc tuyệt đẹp, và nhiều tổ chức văn hoá.

    Một số những điểm tham quan trong số này bao gồm:

    • Trung Tâm Khoa Học Ontario, Toronto
    • Science North and Dynamic Earth, Sudbury
    • Địa Điểm Di Sản Muskoka, Huntsville
    • Triển Lãm Nghệ Thuật Ontario, Toronto
    • Bảo Tàng lịch sử Canada, Ottawa
    • Di tích Lịch Sử Quốc Gia Fort Henry, Kingston
    • Bảo Tàng Hockey Hall of Fame, Toronto
    • Làng Upper Canada, Morrisburg
    • Rạp Hát Stratford, Stratford

    Cần thêm thông tin về các điểm tham quan chính ở Ontario? 

    --- Bài cũ hơn ---

  • 16 Điều Độc Lạ Ở Ontario
  • Những Địa Điểm Siêu Hot Vô Cùng Hấp Dẫn Tại Ontario Canada
  • Quy Trình Và Thủ Tục Xin Visa Canada Online
  • Hướng Dẫn Chi Tiết Cách Xin Visa Canada Online Năm 2022
  • 21 Địa Điểm Hàng Đầu Đáng Ghé Thăm Tại Montreal, Canada
  • Du Lịch Biển Là Gì? Phát Triển Du Lịch Biển Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm, Đối Tượng Điều Chỉnh Và Chủ Thể Của Luật Du Lịch Quốc Tế
  • Khái Niệm Về Du Lịch Và Sản Phẩm Du Lịch
  • Khái Niệm Du Lịch, Hoạt Động Du Lịch, Khách Du Lịch Và Du Lịch Bền Vững
  • Khái Niệm Du Lịch Và Sản Phẩm Du Lịch Hiện Nay
  • Khái Niệm Khách Du Lịch Và Nghiên Cứu Thống Kê Khách Du Lịch
  • Khái niệm ? Cùng tìm hiểu các loại hình du lịch biển; Vai trò, hạn chế, tiềm năng và sự phát triển của du lịch biển Việt Nam. Tất cả sẽ được giải đáp trong bài viết này. Mời các bạn cùng đón đọc!

    Khái Niệm Du Lịch Biển Là Gì ?

    Du lịch biển là loại hình du lịch gắn liền với biển, thuận lợi cho việc tổ chức các hoạt động tắm biển, thể thao biển (bóng chuyền bãi biển, lướt ván…). Loại hình du lịch này có tính mùa rất rõ nên nó thường được tổ chức vào mùa nóng hoặc mùa hè với nhiệt độ nước biển và không khí trên 20oC. Nếu bờ biển ít dốc, môi trường sạch đẹp thì khả năng thu hút mọi người càng lớn.

    Vì thế, sau những ngày làm việc căng thẳng, mệt mỏi, bạn muốn tạm rời xa chốn thành thị bon chen để tận hưởng kỳ nghỉ trọn vẹn thì biển là một trong những lựa chọn hàng đầu

    Và mùa hè đang đến gần hãy nhanh chân lựa chọn một địa điểm du lịch biển tạo cho ta cảm giác thư thái, dễ chịu và nhiều kỷ niệm đẹp tại nơi mà bạn đã lựa chọn.

    • bằng du thuyền 5⭐️Trọn gói từ A-Z ✅ Giá Kịch Sàn -50% ✅ Khởi hành hàng ngày từ HN ✅ Xe Limousine đón trả khách tận nơi ✅ Thưởng thức hải sản tươi sống
    • ✅GIÁ SỐC TỚI NÓC GIẢM 50% ✅ Xe đưa đón, Giao vé tận nơi, Ngủ Du Thuyền 5⭐️⭐️⭐️ câu mực biển về đêm, uống bia miễn phí, tắm biển, leo núi, chèo kaya

    CÁC LOẠI HÌNH DU LỊCH BIỂN

    Tổ chức Du lịch Thế giới đã phân loại các loại hình du lịch chính theo các mục đích cơ bản của thị trường khách: nghỉ dưỡng, tiêu khiển giải trí, nghỉ mát; thăm người thân, bạn bè; thương mại, công vụ; chữa bệnh; tín ngưỡng và các mục đích khác. Tất cả những mục đích này đều hoặc là đi du lịch vì ý thích (nghỉ dưỡng, tiêu khiển giải trí, nghỉ mát) hoặc là đi du lịch vì nghĩa vụ (thương mại, công vụ, chữa bệnh).

    Cũng như vậy, có thể chia các loại hình du lịch biển thành 2 nhóm chính là đi du lịch vì ý thích và đi du lịch vì nghĩa vụ. Trong nhóm đi du lịch vì ý thích có hai loại: đi du lịch vì những sở thích chung và đi du lịch vì sở thích đặc biệt. Thị trường khách đi du lịch có sở thích chung thường là những thị trường chính trong khi đi du lịch và sở thích đặc biệt là thị trường nhỏ, đặc biệt (niche market).

    Phân loại các loại hình du lịch biển

    Mặc dù tiềm năng du lịch biển ở Việt Nam là khá phong phú và đa dạng, tuy nhiên vì nhiều lý do, các sản phẩm du lịch nói chung, các sản phẩm du lịch biển nói riêng hiện còn tương đối đơn điệu và trùng lặp. Phổ biến nhất hiện nay ở các khu du lịch biển vẫn chỉ là nghỉ dưỡng và tắm biển. Các sản phẩm du lịch biển cao cấp còn hạn chế. Đây chính là một trong những nguyên nhân cơ bản hạn chế khả năng chi tiêu và kéo dài ngày lưu trú của khách du lịch, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh và mức tăng trưởng của du lịch biển nói riêng, du lịch nói chung ở Việt Nam.

    Theo số liệu điều tra, trên chiều dài hơn 3.260km đường bờ biển có khoảng 125 bãi tắm lớn nhỏ, trong đó có những bãi tắm lớn mà chiều dài tới 15-18km và nhiều bãi tắm nhỏ chiều dài 1-2km đủ điều kiện thuận lợi để khai thác phục vụ du lịch.

    Các bãi biển của nước ta phân bố trải đều từ Bắc vào Nam. Từ Móng Cái đến Hà Tiên có hàng loạt các bãi tắm đẹp như Trà Cổ, Sầm Sơn, Cửa Lò, Nhật Lệ, Cửa Tùng, Cảnh Dương, Lăng Cô, Non Nước, Mỹ Khê, Sa Huỳnh, Quy Nhơn, Đại Lãnh, Văn Phong, Nha Trang, Ninh Chữ, Cà Ná, Mũi Né, Long Hải, Vũng Tàu, Hà Tiên… Đây là điều kiện hết sức thuận lợi để xây dựng nên khu du lịch biển có sức cạnh tranh cao trong khu vực và trên thế giới.

    Cùng với đường bờ biển dài, nước ta có hệ thống đảo và quần đảo phong phú trải dài từ vùng biển Quảng Ninh đến Kiên Giang. Theo thống kê, nước ta có 2.773 đảo ven bờ (cách xa bờ trong khoảng 100km). Tổng diện tích đảo ven bờ nước ta vào khoảng 1700km2. Trong số đó có 24 đảo có diện tích tương đối lớn (trên 10km2); 03 đảo có diện tích trên 100km2 là Phú Quốc, Cái Bầu và Cát Bà.

    Hệ thống đảo ven bờ nước ta có giá trị lớn về kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng, trong đó có du lịch. Ngoài các cảnh quan thiên nhiên hoang sơ, không khí trong lành, các hệ sinh thái rừng nhiệt đới trên các đảo ven bờ còn giữ được tính đa dạng sinh học cao. Các bãi tắm trên các đảo không lớn, thậm chí rất nhỏ nhưng thường rất đẹp, bãi cát mịn, nước trong xanh. Các đặc điểm trên của các đảo ven bờ là điều kiện thích hợp để phát triển du lịch, đặc biệt là loại hình du lịch tham quan, nghỉ dưỡng.

    Vịnh Hạ Long với hơn 2000 đảo đá vôi lớn nhỏ là hình thái địa hình đặc biệt – địa hình karst ngập nước đã và đang được du khách trên khắp thế giới biết đến như một kỳ quan tuyệt vời của tạo hoá. Các giá trị về cảnh quan và địa chất của vịnh Hạ Long đã được UNESCO hai lần công nhận là di sản thiên nhiên của thế giới. Đây là minh chứng cho sự thừa nhận của thế giới về một điểm du lịch biển tầm cỡ quốc tế ở Việt Nam.

    Nguồn nước khoáng ở vùng ven biển Việt Nam khá phong phú có thể khai thác phục vụ du lịch nghỉ dưỡng-chữa bệnh. Đây là sản phẩm du lịch hấp dẫn được nhiều thị trường du lịch quan tâm như Nhật Bản, Tây Âu…

    Tài nguyên sinh vật vùng ven biển nước ta phục vụ mục đích du lịch được tập trung khai thác ở các vườn quốc gia, các khu bảo tồn tự nhiên, rừng văn hoá – lịch sử và môi trường, các hệ sinh thái đặc biệt, các điểm tham quan sinh vật và tài nguyên sinh vật biển.

    Trong số 25 vườn quốc gia hiện nay ở Việt Nam có 4 VQG trên đảo (VQG Cát Bà, VQG Bái Tử Long, VQG Côn Đảo và VQG Phú Quốc), 7 VQG thuộc các tỉnh ven biển là Bạch Mã (TT- Huế), Bến En (Thanh Hoá), Cúc Phương (Ninh Bình), Phong Nha – Kẻ Bàng (Quảng Bình), Pù Mát (Nghệ An), Vũ Quang (Hà Tĩnh), U Minh Thượng (Kiên Giang).

    Ngoài ra ở vùng ven biển hiện có 22 trên tổng số 55 khu bảo tồn thiên nhiên ở Việt Nam, trong đó nhiều khu bảo tồn có giá trị du lịch như Sơn Trà, Bà Nà ở Đà Nẵng, Cù Lao Chàm ở Quảng Nam, Hòn Mun ở Khánh Hoà, Núi Chúa ở Ninh Thuận, Bình Châu – Phước Bửu ở Bà Rịa – Vũng Tàu …

    Trong số 34 khu rừng văn hoá lịch sử và môi trường trên toàn quốc thì 17 khu tập trung ở vùng ven biển, điển hình là các khu Bãi Cháy, Đồ Sơn, Hoa Lư, Ngọc Trạo, Nam Hải Vân, Bắc Hải Vân, Đèo Cả – Hòn Nưa….

    Các VQG, khu bảo tồn thiên nhiên và khu rừng văn hoá lịch sử môi trường là những tiềm năng du lịch lớn ở vùng ven biển để phát triển nhiều sản phẩm du lịch hấp dẫn, đặc biệt là du lịch sinh thái.

    Trên phạm vi toàn quốc hiện có khoảng gần 40 ngàn di tích, trong đó, tính đến năm 2000 có 2.509 di tích đã được Bộ Văn hoá Thông tin xếp hạng. Có 915 di tích được xếp hạng (chiếm 36% tổng số ) tập trung ở các tỉnh ven biển. Đáng chú ý là 3 di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận của Việt Nam đều nằm ở các tỉnh ven biển.

    Trong số khoảng 100 lễ hội tiêu biểu của Việt Nam, vùng ven biển có 35 lễ hội. Đặc trưng cho các lễ hội của vùng ven biển là lễ hội Nghinh Ông hay lễ cúng cá Ông (cá voi). Đây là lễ hội nước lớn nhất của ngư dân ven biển Việt Nam.

    Đánh giá chung:

    Tài nguyên du lịch ở vùng ven biển rất phong phú và đa dạng, bao gồm cả tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn có giá trị cao với hoạt động du lịch, tạo tiền đề cho việc phát triển nhiều loại hình du lịch như tắm biển, nghỉ dưỡng, thể thao-mạo hiểm, tham quan, sinh thái, …

    Tài nguyên du lịch ở vùng ven biển có mức độ tập trung cao, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch biển. Mỗi khu vực có thế mạnh, có khả năng liên kết các loại hình du lịch tạo ra những sản phẩm du lịch độc đáo. Điều này tạo khả năng và cơ hội cho việc hình thành các điểm, cụm, tuyến, trung tâm du lịch biển và tổ chức xây dựng một số khu du lich biển lớn làm đòn bẩy cho phát triển du lịch biển Việt Nam nói riêng và du lịch cả nước nói chung.

    HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN

    Trong xu thế phát triển chung của du lịch Việt Nam, từng bước khẳng định vai trò là ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước, trong những năm qua, hoạt động du lịch

    biển chiếm tỷ trọng lớn, đóng góp quan trọng cho sự phát triển chung của toàn ngành du lịch Việt Nam nói riêng và kinh tế xã hội vùng biển nói chung. Cụ thể:

    • Bình quân trong cả nước, số khách du lịch quốc tế đến vùng ven biển đạt trên 73% lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam, số khách nội địa chiếm khoảng 56%. Năm 2002 các tỉnh ven biển đã đón 9,7 triệu lượt khách quốc tế và 11,8 triệu lượt khách nội địa.
    • Năm 2000, tổng GDP du lịch các tỉnh ven biển chiếm 63% tổng GDP du lịch cả nước.
    • Tính đến năm 2000, thu hút được 233 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào du lịch chiếm 64,36% cả nước với số vốn đầu tư 6,5 tỷ USD (chiếm 64,5% cả nước).
    • Du lịch biển hiện tạo ra việc làm cho khoảng 50 ngàn lao động trực tiếp và 110 ngàn lao động gián tiếp.

    Du lịch biển chữa bệnh

    HẠN CHẾ CỦA DU LỊCH BIỂN

    Du lịch biển là hoạt động du lịch được tổ chức phát triển ở vùng địa lý đặc thù là vùng ven biển và hải đảo trên cơ sở khai thác các đặc điểm tiềm năng tài nguyên, môi trường du lịch biển. Chính vì vậy, ảnh hưởng của du lịch biển hoàn toàn giống với những ảnh hưởng của du lịch nói chung đến kinh tế, văn hoá – xã hội và tài nguyên, môi trường. Tuy nhiên do vùng biển là vùng địa lý với các hệ sinh thái tự nhiên rất nhạy cảm, dễ biến đổi bởi các tác động phát triển kinh tế – xã hội và thiên tai, chính vì vậy một số ảnh hưởng chính của hoạt động du lịch ở khu vực này cần lưu ý bao gồm :

    • Khai thác quá mức nước ngầm phục vụ nhu cầu nước sinh hoạt, đặc biệt vào mùa du lịch : kết quả sẽ làm tăng khả năng ô nhiễm mặn các bể nước ngầm, làm giảm chất lượng nước.
    • Nước thải từ các cơ sở lưu trú, dịch vụ du lịch không qua xử lý : làm tăng mức độ ô nhiễm hữu cơ vùng nước biển ven bờ, ảnh hưởng đến nuôi trồng thuỷ sản, bảo tồn tự nhiên và chính bản thân hoạt động du lịch
    • Ô nhiễm dầu nước biển ven bờ do các phương tiện tàu, thuyền vận tải khách du lịch, phương tiện vui chơi giải trí, thể thao nước gây ra
    • Ô nhiễm hữu cơ do mật độ người tắm tập trung, đặc biệt vào thời gian nghỉ cuối tuần, mùa du lịch.
    • Khai thác san hô phục vụ nhu cầu làm hàng lưu niệm, góp phần làm suy thoái hệ sinh thái nhiệt đới điển hình này
    • Đánh bắt quá mức các loài sinh vật biển quý hiếm trong tự nhiên phục vụ nhu cầu ẩm thực và làm hàng lưu niệm ảnh hưởng đến đa dạng sinh học biển.
    • Xây dựng các công trình lưu trú, dịch vụ du lịch trên các đảo không theo quy hoạch, chiếm nhiều diện tích các khu rừng ngập mặn hoặc quá gần đường bờ làm tăng nguy cơ xói lở đường bờ, làm thay đổi hệ sinh thái biển – đảo vốn rất nhạy cảm.

    Những vấn đề đặt ra cho phát triển du lịch biển

    Qua phân tích thực trạng phát triển du lịch biển, đối chiếu với những yêu cầu cơ bản của phát triển du lịch, có thể thấy một số vấn đề chính đặt ra cho phát triển du lịch biển bền vững ở Việt Nam bao gồm :

    • Hiện nay du lịch biển chưa xây dựng được những sản phẩm du lịch đặc sắc, có sức cạnh tranh cao trong khu vực và quốc tế để thu hút khách từ những thị trường trọng điểm như Nhật Bản, Đức, Mỹ…
    • Cơ sở hạ tầng du lịch, đặc biệt là hệ thống cảng du lịch có khả năng tiếp nhận các tầu du lịch biển quốc tế, các nước trong khu vực, chưa phát triển để đáp ứng được yêu cầu phát triển.
    • Môi trường biển, đặc biệt ở một số khu vực trọng điểm phát triển du lịch biển như Hạ Long-Cát Bà, Huế-Đà Nẵng, Nha Trang, Vũng Tàu…đã có sự suy thoái do các hoạt động phát triển kinh tế xã hội. Nguy cơ ô nhiễm dầu do sự cố có chiều hướng gia tăng.
    • Việc khai thác tài nguyên du lịch còn thiếu bền vững do tình trạng chồng chéo trong quản lý.
    • Sự tham gia của cộng đồng vào hoạt động phát triển du lịch còn hạn chế và mang tính tự phát, thiếu sự hướng dẫn, tạo điều kiện từ phía ngành và chính quyền địa phương.
    • Công tác bảo tồn, tôn tạo tài nguyên và bảo vệ môi trường còn nhiều bất cập, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài: Tìm Hiểu Ẩm Thực Đường Phố Tại Tphcm Phát Triển Du Lịch
  • Cần Thơ: Khai Mạc Tuần Lễ Du Lịch Xanh Đbscl 2022
  • Top 10 Khách Sạn Tốt Nhất Ở Phú Quốc
  • Kinh Nghiệm Lưu Trú Tại Các Khách Sạn Ở Bà Nà Hills
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Long Hải 2 Ngày 1 Đêm
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100