Du Lịch Hà Nội Sau Một Năm Gia Nhập Wto

--- Bài mới hơn ---

  • Thiệt Hại Của Ngành Du Lịch Việt Nam Năm 2022 Khoảng 23 Tỷ Usd
  • Công Ty Cổ Phần Du Lịch Việt Nam – Hà Nội
  • Những Biểu Tượng Du Lịch Việt Nam Trong Mắt Bạn Bè Quốc Tế
  • Ấn Tượng Việt Nam 2022 Trong Mắt Bạn Bè Quốc Tế
  • 8 Điểm Đến Yêu Thích Ở Việt Nam Trong Mắt Người Nước Ngoài
  • Du lịch Hà Nội sau một năm gia nhập WTO

    Ngày 7/11/2006, Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).

    Cùng với những thuận lợi đặc biệt là vị thế ngoại giao, khả năng thu hút khách du lịch quốc tế, tăng cường xuất khẩu tại chỗ, thu hút đầu tư nước ngoài, ngành Du lịch Việt Nam nói chung và Du lịch Hà Nội nói riêng sẽ gặp phải những thách thức đáng kể khi gia nhập tổ chức này với những ảnh hưởng trực tiếp từ các cam kết của Việt Nam trong WTO.

    KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU

     

    Năm 2007, Hà Nội đón 6.670.000 lượt khách du lịch, trong đó 1.270.000 lượt khách quốc tế (tăng 14%) và 5.400.000 lượt khách nội địa. Mức chi tiêu trong chuyến đi của khách quốc tế cũng tăng khoảng 5-10%. Kim ngạch xuất khẩu tại chỗ của ngành Du lịch Hà Nội năm 2007 tăng khoảng 20%. Theo chiều hướng này, lượng khách có nhu cầu vào Hà Nội tăng cao vào những năm tới. Vấn đề của ngành Du lịch Hà Nội cần làm là tổ chức tốt cơ sở hạ tầng và khả năng đón khách.

     

    Hoạt động đầu tư vào lĩnh vực du lịch năm 2007 đã trở nên sôi động sau nhiều năm phát triển chậm. Hiện nay, có hơn 30 dự án đầu tư trong lĩnh vực khách sạn từ 3-5 sao đang được triển khai. Một số dự án xây dựng khách sạn có quy mô nhỏ từ 12-25 phòng do các chủ đầu tư trong nước xây dựng tại khu vực trung tâm Thành phố với khoảng 300 phòng và khách sạn Inter Continental với khoảng 350 phòng (có chất lượng tương đương 5 sao) đã đi vào hoạt động trong năm 2007. Các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng của ngành Du lịch bằng nguồn vốn ngân sách như  Dự án xây dựng đường từ quốc lộ 35 vào ranh giới dự án khu du lịch Sóc Sơn, huyện Sóc Sơn ; Dự án cải tạo đường từ chợ Sa (Cổ Loa) đi chợ Tó (Đông Anh) ; Dự án xây dựng cảng du lịch Bát Tràng (Gia Lâm)… đang được đẩy nhanh tiến độ để phấn đấu hoàn thành vào năm 2010. Các dự án đầu tư vào khu vui chơi giải trí cũng được nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước quan tâm. Một số dự án khu vui chơi giải trí đã được Thành phố cấp phép hoặc đồng ý cho nghiên cứu xây dựng dự án đầu tư như: khu vui chơi giải trí công viên Tuổi trẻ, công viên Mễ Trì, công viên Thống Nhất, khu vui chơi giải trí Long Biên…

     

    Lãnh đạo Thành phố đã ký quyết định cho phép các chủ đầu tư trong nước, nước ngoài đầu tư với quy mô lớn (5 dự án tổng số vốn khoảng 1242 triệu USD, với 2200 phòng khách sạn 5 sao). Các chủ đầu tư đã cam kết đưa các dự án khách sạn nói trên vào khai thác trong năm 2010 để kịp tổ chức Đại lễ Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Đến nay có 3 dự án đã khởi công xây dựng, đó là dự án do các Công ty Charmvit, Keangnam (Hàn Quốc), Công ty Trần Hồng Quân (Việt Nam) làm chủ đầu tư. Ngày 13/11/2007, UBND Thành phố có Thông báo số 379/TB-UBND chấp thuận một số chỉ tiêu kiến trúc quy hoạch đối với 2 dự án tổ hợp khách sạn 5 sao – văn phòng – căn hộ cao cấp tại 281 Đội Cấn và dự án khách sạn 5 sao – văn phòng cao cấp tại số 10 Trấn Vũ của Công ty Du lịch Xúc tiến đầu tư (Tổng cục Du lịch). Ngày 27/11/2007 UBND Thành phố có văn bản chấp thuận phương án đầu tư khách sạn 5 sao Marriot tại khuôn viên Trung tâm Hội nghị quốc gia Mỹ Đình của Công ty Bitexco. Năm 2007, TP. Hà Nội tiếp tục kêu gọi đầu tư vào 76 dự án, trong đó có trên 10 dự án xây dựng khách sạn, sân golf và khu vui chơi giải trí cao cấp, đến nay số lượng nhà đầu tư trong và ngoài nước đăng ký tham gia đầu tư các dự án này đã lên đến hơn 40.

     

     

    Đến nay, các doanh nghiệp đã nắm rõ những cam kết của ngành Du lịch trong WTO để từ đó xây dựng kế hoạch của đơn vị trước bối cảnh hội nhập, cạnh tranh quốc tế. Năm 2007, một số doanh nghiệp lữ hành quốc tế đã bắt đầu mở rộng phạm vi hoạt động, lập chi nhánh tại các quốc gia có thể khai thác thị trường trực tiếp như Thái Lan, Trung quốc, Nga… Nhiều doanh nghiệp lữ hành quốc tế đã triển khai bán hàng qua mạng để khai thác khách trực tiếp. Vì vậy, hoạt động đón khách quốc tế vào Việt Nam đã có sự chủ động và hiệu quả hơn.

     

    ĐỂ DU LỊCH HÀ NỘI PHÁT TRIỂN TRONG HỘI NHẬP

     

    Nguồn nhân lực du lịch vẫn là một trong những hạn chế cần quan tâm nhất của ngành Du lịch Việt Nam khi gia nhập WTO, vì thiếu nhân sự có khả năng làm việc độc lập, có ngoại ngữ tốt và có chuyên môn. Theo điều tra của Dự án Phát triển nguồn nhân lực Du lịch Việt Nam, lực lượng nhân viên đáp ứng yêu cầu trong tất cả các lĩnh vực đều dưới 50% cả về chuyên môn và ngoại ngữ, đặc biệt những sinh viên mới ra trường hầu như các doanh nghiệp đều phải đào tạo lại, vì các trường đào tạo du lịch đều thiên về lý thuyết, thiếu kiến thức thực tế, chưa đào tạo được lực lượng nhân sự cao cấp.

     

    Từ nay đến năm 2010 ngành Du lịch Hà Nội sẽ tiếp tục triển khai các nhiệm vụ:  hoàn thành rà soát, điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Hà Nội đến năm 2022 tầm nhìn 2030 để có cơ sở định hướng phát triển du lịch trong những năm tiếp theo; cùng với Ủy ban Du lịch vùng Ile-de-France nghiên cứu, xây dựng Đề án bảo tồn, khai thác và quản lý khách du lịch tại các khu di sản của Hà Nội, thí điểm tại Văn Miếu Quốc Tử Giám; xây dựng Chương trình thực hiện Kế hoạch 84/KH-UBND của UBND TP. Hà Nội triển khai Đề án 19/TU của Thành ủy về «Phát triển du lịch Hà Nội giai đoạn 2007 – 2022 ».

     

    Có thể nói, trong khuôn khổ WTO, thuận lợi và khó khăn, cơ hội và thách thức luôn song hành, đan xen. Sau một năm triển khai, thời gian chưa nhiều, kết quả đạt được là hệ quả của một quá trình chuẩn bị từ nhiều năm trước. Muốn phát triển trong sự cạnh tranh của tiến trình hội nhập, Du lịch Hà Nội cần nâng cao chất lượng dịch vụ, giá cả cạnh tranh, tăng cường công tác xúc tiến, quảng bá, linh hoạt, thích ứng với xu thế mở cửa, chuẩn bị tốt các điều kiện để sẵn sàng liên doanh liên kết với đối tác nước ngoài, tránh rơi vào thế bị động có thể dẫn tới hậu quả khó lường.

     

    MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT

     

    Bên cạnh việc cùng với các cấp, các ngành triển khai thực hiện những biện pháp, kế hoạch của UBND Thành phố, ngành Du lịch Hà Nội cần phải:

     

    1- Rà soát, điều chỉnh quy hoạch phát triển du lịch đến năm 2010. Xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển Du lịch Hà Nội tới năm 2022, tầm nhìn 2030, đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất với quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội, quy hoạch phát triển đô thị Hà Nội và quy hoạch phát triển tổng thể du lịch cả nước; tích cực học tập, tiếp thu kinh nghiệm tốt của các nước trong khu vực và thế giới về phát triển du lịch.

     

     

    3- Xây dựng, hoàn thiện các cơ chế, chính sách thông thoáng, tạo điều kiện thuận lợi nhất để thu hút các nguồn lực, các thành phần kinh tế đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ du lịch, phấn đấu tăng thêm từ 8.500 đến 10.000 phòng khách sạn từ 3 – 5 sao vào năm 2010 để đảm bảo có đủ phòng đón khoảng 2 triệu khách du lịch quốc tế; kêu gọi đầu tư xây dựng theo hình thức xã hội hóa các khu du lịch, khu vui chơi giải trí, trung tâm triển lãm đạt tiêu chuẩn quốc tế vào những năm tiếp theo.

     

    4- Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về du lịch, rà soát và hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách quản lý nhà nước về du lịch, tiếp tục thực hiện Quyết định số 23/QĐ-UBND ngày 27/2/2007 của UBND Thành phố quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức cơ quan chuyên môn giúp UBND quận, huyện, phường, xã, thị trấn quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn Thành phố theo hướng tăng cường phân cấp cho cơ sở;

     

    5- Về sản phẩm du lịch:

     

    Khai thác hợp lý, hiệu quả các nguồn tài nguyên tự nhiên và nhân văn của Hà Nội, vị thế và thế mạnh là Thủ đô của cả nước, hướng tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội để tạo các sản phẩm đặc thù hấp dẫn khách du lịch, đặc biệt là các sản phẩm du lịch văn hóa – lịch sử, du lịch sinh thái tại tất cả các quận huyện trên địa bàn

     

    Tập trung đẩy mạnh tiến độ triển khai đầu tư xây dựng các khu du lịch cấp quốc gia tại Sóc Sơn, khu du lịch chuyên đề Cổ Loa, Hoàng thành, thành cổ, khu phố cổ…

     

    Nâng cao chất luợng sản phẩm dịch vụ, đa dạng hóa các loại hình và các hoạt động du lịch. Trong đó, tập trung nghiên cứu, hoàn thiện và nâng cao chất lượng các chương trình du lịch trong TP. Hà Nội, các chương trình du lịch liên tỉnh, liên quốc gia. Phát triển đồng bộ các loại hình du lịch, trong đó tập trung phát triển loại hình du lịch văn hóa – lịch sử, du lịch MICE, du lịch sinh thái, các tuyến, điểm du lịch và các  khu vui chơi giải trí… phục vụ khách du lịch trong nước và quốc tế

     

    6- Tiếp tục giữ vững và phát triển thị trường du lịch trong nước, đồng thời đẩy mạnh hợp tác quốc tế với các thị trường trọng điểm, mục tiêu trong khu vực và thế giới, trên cơ sở nhu cầu, thị hiếu của từng loại thị trường để xây dựng chiến lược sản phẩm phù hợp. Xây dựng kế hoạch dài hạn đối với chương trình tuyên truyền, quảng bá du lịch trong nước và quốc tế với quy mô lớn, trình độ chuyên nghiệp

     

    7- Tăng cường đầu tư để chuẩn hóa và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Du lịch Hà Nội. Nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp du lịch thuộc mọi thành phần kinh tế, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp du lịch đủ mạnh, đủ sức cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế

     

    8- Đẩy mạnh sự phối hợp, hợp tác liên ngành, liên vùng, liên quốc gia, tạo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của du lịch; khai thác triệt để các nguồn hỗ trợ quốc tế cho du lịch, kêu gọi các dự án hỗ trợ kỹ thuật từ nước ngoài cho một số lĩnh vực Hà Nội còn yếu kém như: quy hoạch, quảng bá sản phẩm, xây dựng hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực…

     

    Với sự quyết tâm cao của Lãnh đạo và nhân dân Thành phố, chúng ta tin tưởng rằng ngành Du lịch Hà Nội sẽ tiếp tục có những bước phát triển, chuyển biến rõ rệt trên bước đường hội nhập kinh tế thế giới.

     

                                         CAO THỊ NGỌC LAN

                                 Phó Giám đốc Sở Du lịch Hà Nội

    --- Bài cũ hơn ---

  • Di Sản Thế Giới Tại Việt Nam
  • 20 Quà Lưu Niệm Nên Mua Ở Việt Nam Cho Người Nước Ngoài – Hướng Dẫn Du Lịch 2022
  • Đừng Để Khách Du Lịch “Một Đi Không Trở Lại”
  • Nhân Lực Du Lịch Việt Nam Trước Bối Cảnh Hội Nhập Khu Vực Asean
  • Hội Nhập Du Lịch Việt Nam Trong Cộng Đồng Văn Hóa
  • Du Lịch Việt Nam Hội Nhập Asean

    --- Bài mới hơn ---

  • Hội Nhập Du Lịch Trong Asean
  • Du Lịch Việt Nam: Đừng Để Du Khách “một Đi Không Trở Lại”
  • Du Lịch Việt Nam Và Thực Trạng Du Khách ‘một Đi Không Trở Lại’
  • Du Lịch Việt Nam: Tại Sao ‘một Đi Không Trở Lại’?
  • Đừng Để Khách Du Lịch “một Đi Không Trở Lại”
  • Du lịch Việt Nam hội nhập ASEAN

    Tháng 1/2016, tại Diễn đàn Du lịch ASEAN (AFT) tổ chức ở Philippines, Chiến lược Du lịch ASEAN 2022-2025 (ATSP) đã được các Bộ trưởng Du lịch ASEAN chính thức công bố. Để hướng tới Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), chiến lược đã tập trung phát triển du lịch ASEAN theo định hướng phát huy những giá trị độc đáo và đa dạng của từng nước thành viên, nhưng vẫn đảm bảo tính trách nhiệm, bền vững và cân bằng.

    Theo chiến lược, tầm nhìn cho ngành du lịch ASEAN trong thập kỷ tiếp theo đến năm 2025 là: “Đến năm 2025, ASEAN sẽ là một điểm đến du lịch chất lượng, cung cấp trải nghiệm về một ASEAN đa dạng và độc đáo, với cam kết phát triển du lịch có trách nhiệm, bền vững, toàn diện và cân bằng, góp phần đáng kể vào sự thịnh vượng về kinh tế xã hội của người dân ASEAN”.

    Để hiện thực hóa tầm nhìn này, chiến lược xác định hai định hướng chính là tăng cường năng lực cạnh tranh của ASEAN như một điểm đến du lịch duy nhất và đảm bảo tính bền vững, toàn diện của du lịch ASEAN.

    Nếu các chương trình và dự án chiến lược được thực hiện và cung cấp đầy đủ nguồn lực thì dự kiến đến năm 2025 đóng góp GDP của ngành du lịch ASEAN sẽ tăng 12-15%, thị phần du lịch trong tổng cơ cấu việc làm sẽ tăng từ 3,7-7%; chi tiêu bình quân trên đầu người của khách du lịch quốc tế sẽ tăng từ 877 USD lên 1.500 USD; tăng độ dài lưu trú trung bình của khách du lịch quốc tế từ 6,3 đêm đến 8 đêm…

    Theo đó, định hướng chiến lược tăng cường năng lực cạnh tranh của ASEAN như một điểm đến du lịch duy nhất sẽ được thực hiện nhờ việc tăng cường xúc tiến và tiếp thị, đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, thu hút đầu tư, nâng cao khả năng và năng lực về đầu tư cho nhân lực; thực hiện và mở rộng tiêu chuẩn du lịch ASEAN về trang thiết bị, dịch vụ và điểm đến, thực hiện, mở rộng kết nối và cơ sở hạ tầng điểm đến, tăng cường tạo điều kiện thuận lợi cho du lịch.

    Ngoài ra, định hướng chiến lược đảm bảo tính bền vững và toàn diện của du lịch ASEAN sẽ được thực hiện nhờ các hành động chiến lược bao gồm đẩy mạnh sự tham gia của khối công tư và của cộng đồng địa phương vào chuỗi giá trị du lịch, đảm bảo an toàn, an ninh, ưu tiên bảo vệ và quản lý các di sản và tăng khả năng ứng phó đối với bảo vệ môi trường và biến đổi khí hậu.

    Trong bối cảnh hội nhập ASEAN, ngành du lịch Việt Nam đang đứng trước cơ hội rất lớn. Như sự tăng trưởng nhanh của các thị trường gửi khách, sự hình thành AEC và khu vực ASEAN trở thành điểm đến hấp dẫn, tác động tích cực từ các dự án phát triển cơ sở hạ tầng du lịch Tiểu vùng Mê kông…

    Mặt khác, năng lực cạnh tranh của du lịch Việt Nam hiện được đánh giá khá khả quan. Du lịch Việt Nam đứng thứ 5 trong ASEAN, là điểm đến an ninh, an toàn, thân thiện, tài nguyên du lịch đặc sắc, sản phẩm du lịch đa dạng, nhiều hình thái, nguồn lao động trẻ dồi dào, có khả năng cạnh tranh về giá, khu kinh tế tư nhân phát triển…

    Tuy nhiên, những điểm yếu của du lịch Việt Nam cũng được chỉ rõ như trình độ phát triển du lịch mức trung bình; tính sáng tạo, hấp dẫn, đặc thù và đổi mới của sản phẩm, dịch vụ chưa cao, giá trị gia tăng của sản phẩm hạn chế; thiếu dịch vụ vui chơi giải trí, các tổ hợp dịch vụ đẳng cấp; kinh phí xúc tiến hạn chế; chưa có hỗ trợ mạnh mẽ về cơ chế, chính sách…

    Do đó, để nâng cao năng lực cạnh tranh cho du lịch Việt Nam, đáp ứng yêu cầu hội nhập AEC, Tổng cục Du lịch cho biết, đã xác định một số mục tiêu chính như: sẽ thực hiện đầy đủ trách nhiệm thành viên qua việc triển khai các hoạt động hợp tác du lịch chung ASEAN, cũng như trong phạm vi các nhóm nước thuộc ASEAN hoặc giữa ASEAN với các nước, khu vực, tổ chức và đối tác phát triển; Chủ động đề xuất sáng kiến và hoạt động hội nhập du lịch ASEAN trên cơ sở thế mạnh của du lịch Việt Nam; sớm giải quyết những điểm yếu nội tại, tháo gỡ các khó khăn về cơ chế, chính sách và vấn đề mang tính liên ngành; Đồng thời có giải pháp ứng phó với thách thức của quá trình hội nhập du lịch trong AEC trên cơ sở phát huy tối đa những điểm mạnh và tận dụng tốt cơ hội mà AEC mang lại,…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tiềm Năng & Xu Hướng Phát Triển Ngành Du Lịch Việt Nam Hiện Nay
  • Top 5 Trải Nghiệm Đáng Nhớ Nhất Của Du Khách Mỹ Tại Việt Nam
  • Giới Thiệu Tổng Quan Du Lịch Hàn Quốc
  • Hàn Quốc Là Thị Trường Khách Du Lịch Lớn Thứ 2 Của Việt Nam Chỉ Sau Trung Quốc
  • Tốc Độ Tăng Trưởng Du Lịch Việt Nam Đang Giảm Sút
  • Những Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Việt Nam Hậu Wto

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Giải Pháp Đề Án Xu Hướng Phát Triển Du Lịch Sinh Thái Ở Việt Nam
  • Những Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Bắc Giang
  • Note Ngay Những Khu Du Lịch Gần Sài Gòn Có Hồ Bơi ‘relax’ Cuối Tuần
  • Tổng Hợp Những Địa Điểm Du Lịch Hấp Dẫn Miền Bắc Không Thể Bỏ Qua
  • Những Điểm Du Lịch Nổi Tiếng Ở Nhật Bản?
  • Toàn cảnh Hội thảo

    Trong bối cảnh đó, Tạp chí Du lịch Việt Nam được sự chỉ đạo của Lãnh đạo Tổng cục Du lịch đã phối hợp cùng Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức Hội thảo quốc gia WTO – Những giải pháp phát triển Du lịch Việt Nam. Đây là dịp để các lãnh đạo các sở quản lý Nhà nước về du lịch, chuyên gia du lịch, nhà nghiên cứu kinh tế, các nhà báo cùng đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu, thời cơ, thách thức của Du lịch Việt Nam dưới nhiều góc độ khác nhau khi bước vào sân chơi chung WTO, từ đó tìm ra những giải pháp để đưa Du lịch Việt Nam phát triển bền vững, sớm trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.

    NHỮNG GIẢI PHÁP

    * Cần nâng cao nhận thức và hiểu biết về WTO, về cơ hội và thách thức đối với du lịch khi hội nhập trong toàn Ngành.

    * Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách và luật pháp về du lịch theo hướng vừa đúng luật pháp nước ta, vừa phù hợp thông lệ quốc tế;

    * Đa dạng hoá và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch để phát huy lợi thế của từng vùng, miền, từng địa phương và cả nước.

    * Tập trung đầu tư phát triển nguồn nhân lực du lịch thông qua các hoạt động hợp tác, trao đổi chương trình đào tạo…

    * Tăng cường phối hợp liên ngành, liên vùng dưới sự chỉ đạo tập trung thống nhất của Chính phủ thông qua việc kiện toàn và phát huy vai trò của Ban Chỉ đạo Nhà nước về du lịch. Nên thành lập Bộ Du lịch, bởi nếu không có cơ quan quản lý nhà nước về Du lịch xứng tầm thì khi gia nhập WTO, ngành Du lịch sẽ gặp nhiều khó khăn.

    * Về phía doanh nghiệp, chiến lược kinh doanh phù hợp là trở thành các đối tác, liên minh chiến lược của các hãng lữ hành lớn và nổi tiếng trên thế giới dưới hình thức liên doanh, liên kết, hợp tác, tái cơ cấu tổ chức theo hướng linh hoạt nhằm tận dụng được nguồn khách và nghiệp vụ quản lý, điều hành du lịch tiên tiến của các doanh nghiệp nước ngoài.

    PHƯƠNG LÂM

    Chi tiết xem Tạp chí DLVN tháng 1/2007 (trang 8, 9,15)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Điều Thú Vị Khi Du Lịch Thái Lan Có Thể Bạn Chưa Biết
  • Những Điều Không Nên Làm Khi Đi Du Lịch Nhật Bản Bạn Cần Biết
  • Một Số Điều Bạn Nên Biết Khi Đi Du Lịch Nhật Bản
  • Những Điều Nên Biết Trước Khi Đi Du Lịch Ở Nhật Bản
  • Những Điều Nên Biết Trước Khi Đi Du Lịch Tại Nhật Bản
  • Tập Đoàn Tui Blue Sẽ Chính Thức Gia Nhập Việt Nam Vào Năm 2022

    --- Bài mới hơn ---

  • Du Lịch Quốc Tế Netviet
  • Các Lĩnh Vực Trong Ngành Du Lịch Hiện Nay
  • Biểu Tượng Mới Du Lịch Nghệ An
  • Du Lịch Nghệ An Đã Có Biểu Tượng Mới
  • Logo Và Slogan Du Lịch Việt Nam Giai Đoạn 2012
  • Tập đoàn TUI Blue sẽ chính thức gia nhập Việt Nam vào năm 2022

    (Tạp chí Du lịch) – Với sự ra mắt của Khách sạn TUI Blue Nam Hội An, TUI Blue – thương hiệu khách sạn hàng đầu của Tập đoàn TUI sẽ chính thức gia nhập thị trường Việt Nam vào tháng 3/2020.

    Sự mở rộng hệ thống tại châu Á cùng tiềm lực của tập đoàn du lịch và lữ hành lớn trên thế giới đến từ Cộng hòa liên bang Đức sẽ tiếp tục đưa thương hiệu TUI Blue tiến xa hơn nữa trong lộ trình phát triển trở thành thương hiệu khách sạn nghỉ dưỡng lớn trên thế giới với hơn 100 khách sạn trong năm 2022.

    Tập đoàn TUI hiện sở hữu 6 khách sạn và khu nghỉ dưỡng tại châu Á, bao gồm 3 quần thể nghỉ dưỡng mang thương hiệu Robinson Clubs tại Malpes và Thái Lan, và 3 khách sạn mang thương hiệu Riu tại Sri Lanka và Malpes. TUI Blue Nam Hội An là khách sạn đầu tiên có mặt tại Việt Nam, sẽ được xây dựng theo phong cách đặc trưng của thương hiệu và định hướng trở thành một trong những điểm đến cho những chuyến nghỉ dài cho các du khách châu Âu.

    Ông Sebastian Ebel – Giám đốc phụ trách mảng khách sạn & nghỉ dưỡng – thành viên Hội đồng Quản trị TUI Group cho biết: “Chúng tôi nhận thấy cơ hội tiềm năng cho TUI Blue tại châu Á và đang tiếp tục đẩy mạnh kế hoạch phát triển cho thương hiệu này. Các điểm đến tại Đông Nam Á tạo điều kiện cho chúng tôi có thể vận hành chuỗi khách sạn của mình xuyên suốt các mùa trong năm và cơ hội tiếp cận các nhóm khách hàng mục tiêu mới”.

    “Chúng tôi đánh giá cao tầm quan trọng của việc hợp tác liên doanh với các đối tác chiến lược trên mỗi vùng miền khác nhau. Hiện nay, chúng tôi đang hợp tác đầu tư dự án khách sạn đầu tiên tại Việt Nam với Tập đoàn TMG, là tập đoàn với rất nhiều năm kinh nghiệm trong việc phát triển du lịch khách sạn. TMG là một đối tác liên doanh lý tưởng để cùng chúng tôi phát triển và hoàn thiện dự án này”. Ông Thomas Pietzka, Giám đốc Điều hành tập đoàn khách sạn TUI chia sẻ thêm.

    Kể từ khi Khách sạn TUI Blue đầu tiên mở cửa vào mùa hè năm 2022, thương hiệu này đã không ngừng phát triển và đạt được chỉ số đo lường sự hài lòng rất cao từ phía khách hàng. Khách sạn TUI Blue hướng đến khách hàng yêu thích sự hiện đại và những trải nghiệm có tính phong cách. Thương hiệu tập trung đáp ứng nhu cầu và sở thích của mỗi cá nhân và gia đình những du khách yêu thích khám phá văn hóa và trải nghiệm đặc trưng của mỗi địa phương. Một điểm khác biệt của TUI Blue là việc áp dụng công nghệ vào trải nghiệm khách hàng như Blue app – được mệnh danh là “trợ lý số” và Blue Guides – các đại sứ thân thiện của chúng tôi sẽ luôn có mặt để cung cấp các thông tin và bí kíp thú vị trong suốt kỳ nghỉ của bạn. 

    Thông tin chi tiết vui lòng truy cập www.tuigroup.com

    T.T

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giới Thiệu Về Bình Ba
  • Bãi Tắm Khu Du Lịch Làng Chí Linh Vũng Tàu
  • Làng Du Lịch Là Gì?
  • Dịch Vụ Làm Visa Thái Lan, Lấy Visa Thái Lan Nhanh, Không Chờ Đợi
  • Du Lịch Nhật Bản Nhớ Check
  • Du Lịch Việt Nam Và Hội Nhập Quốc Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Kinh Nghiệm Đi Du Lịch Côn Minh Trung Quốc
  • Chi Phí Đi Du Lịch Hồ Đại Lải 2 Ngày 1 Đêm Hết Bao Nhiêu Tiền?
  • Đi Du Lịch Bụi Lý Sơn
  • #1 Đi Du Lịch Hàn Quốc Có Cần Visa Không?
  • Top 17 Địa Điểm Du Lịch Singapore Mà Bạn Không Thể Bỏ Qua
  • Các yếu tố quốc tế

    Bối cảnh quốc tế 10 năm tới có nhiều biến động, nhiều yếu tố mới vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với ngành Du lịch Việt Nam trong mọi hoạt động, trong đó có hoạt động hội nhập và hợp tác quốc tế.

    Diễn biến kinh tế, chính trị, an ninh thế giới có tác động mạnh hơn khi Việt Nam hội nhập quốc tế ngày càng sâu và toàn diện, đặc biệt là trong hội nhập và hợp tác quốc tế về du lịch. Quan hệ song phương, đa phương ngày càng sâu rộng trong kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường và những vấn đề chung hướng tới mục tiêu thiên niên kỷ. Đây là thách thức đồng thời cũng là cơ hội lớn cho Du lịch Việt Nam trong quá trình phát triển và hội nhập quốc tế. Đi liền với hợp tác là cạnh tranh. Cạnh tranh quốc gia, nhất là giữa các quốc gia trong cùng khu vực đang ngày càng trở nên gay gắt hơn. Kinh nghiệm quản l‎ý tiên tiến, công nghệ hiện đại, nguồn nhân lực chất lượng cao là công cụ cạnh tranh chủ yếu trong tất cả các lĩnh vực của hoạt động du lịch.

    Cuộc cách mạng khoa học – công nghệ tiếp tục có những bước tiến nhảy vọt, thúc đẩy kinh tế tri thức phát triển, tác động tới tất cả các lĩnh vực, các nước và vùng lãnh thổ, làm biến đổi nhanh chóng và sâu sắc đời sống vật chất, tinh thần của xã hội. Các yếu tố trên tác động rộng, lớn đến cơ cấu và sự phát triển của kinh tế thế giới, mở ra triển vọng mới cho mỗi nền kinh tế tham gia vào phân công lao động toàn cầu; đồng thời mỗi biến động của kinh tế thế giới đều tác động đến các nền kinh tế, nhiều hay ít tùy thuộc vào mức độ hội nhập và trình độ thích ứng của nền kinh tế mỗi nước. Hoạt động du lịch của bất cứ quốc gia nào, bất kể khu vực nào trên thế giới cũng không nằm ngoài những tác động đó.

    Giao lưu và hội nhập quốc tế đang diễn ra thuận lợi và nhanh chóng, nhưng cũng là cuộc đấu tranh gay gắt để bảo tồn tính đa dạng và bản sắc văn hóa dân tộc. Quá trình giao lưu, hội nhập quốc tế có khả năng tạo ra những biến đổi lớn về diện mạo, đặc điểm, loại hình du lịch; đồng thời, sự bùng nổ của các phương tiện và công nghệ truyền thông, của công nghệ giải trí cũng tạo nên những tác động cả tích cực và tiêu cực đến đời sống xã hội và công chúng, kéo theo những tác động mạnh về sự phát triển nhân lực du lịch.

    Toàn cầu hóa kinh tế ngày càng rộng và sâu, trong đó các hoạt động kinh tế liên kết giữa các quốc gia tạo thành chuỗi giá trị gia tăng toàn cầu. Để tránh tụt hậu và hưởng lợi nhiều hơn từ kết quả toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, các nước buộc phải tham gia vào chuỗi giá trị gia tăng toàn cầu. Trong một “thế giới phẳng”, “nhỏ dần và chật chội hơn”, mọi quốc gia, mỗi nền kinh tế đều có thể tiếp cận, tham gia trực tiếp vào các khâu, các chuỗi giá trị gia tăng toàn cầu nếu có nguồn nhân lực được chuẩn bị và đào tạo tốt. Đây là yếu tố đặc biệt quan trọng trong lĩnh vực du lịch vì tự thân du lịch đã mang tính quốc tế.

    Sự phân chia, tranh giành ảnh hưởng giữa các nước và các vùng lãnh thổ trên thế giới đang diễn ra. Sự tranh giành lợi ích quốc gia giữa các nước về lãnh thổ, lãnh hải, nguồn tài nguyên với mức độ ngày càng lớn và tính chất ngày càng quyết liệt và gay gắt tác động đến mọi lĩnh vực, trong đó du lịch sẽ chịu tác động đầu tiên, toàn diện và sâu sắc. Quan hệ Á – Âu ngày càng phát triển theo chiều hướng tích cực, ngày càng đảm bảo cho sự ổn định, an ninh của khu vực và phát triển kinh tế. Châu Á – Thái Bình Dương vẫn là khu vực phát triển năng động và thu hút du lịch. Hợp tác ASEAN ngày càng tăng cường cả bề rộng lẫn chiều sâu. Hiệp hội Du lịch châu Á – Thái Bình Dương (PATA) hoạt động ngày càng có tiêu điểm hơn, đang từng bước thu hẹp chênh lệch giữa các nước thành viên thông qua các sáng kiến hợp tác mới. Nhiều nước lớn, trong đó có Hoa Kỳ hướng ưu tiên vào khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Tất cả những vấn đề nêu trên đòi hỏi sự chung vai, gánh sức của các nước, các dân tộc trên toàn thế giới giải quyết nhằm gìn giữ “trái đất chung của toàn nhân loại”.

    Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ và sự hình thành nền kinh tế tri thức, sự cách trở về không gian địa lý từng bước thu hẹp lại. Cuộc cách mạng 3T (Transport – Telecommucation – Tourism) đã thúc đẩy hoạt động du lịch phát triển trên nhiều điểm hơn của trái đất. Công nghệ mới làm thay đổi căn bản phương thức quan hệ kinh tế, đặc biệt là công nghệ thông tin truyền thông được ứng dụng mạnh trong du lịch. Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, nhân lực du lịch sẽ chịu ảnh hưởng sâu sắc của tác động này, vừa có cơ hội nhưng cũng vừa là thách thức, không một ngành Du lịch của quốc gia nào có thể đứng ngoài cuộc. Internet đã kết nối cả thế giới lại với nhau và ảnh hưởng sâu sắc đến phương thức sản xuất và sinh hoạt của loài người, làm cho bất cứ người nào, bất kể ở đâu đều có thể xây dựng được mối liên lạc với nhau. Đời sống xã hội được toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng và toàn diện, kể cả trong lĩnh vực du lịch. Đây là yếu tố vừa tạo cơ hội, vừa là thách thức lớn đối với phát triển du lịch của mỗi quốc gia và mỗi vùng lãnh thổ.

    Nhu cầu hội nhập và hợp tác quốc tế trong du lịch là tăng cường quan hệ để phát triển; tiếp thu kinh nghiệm; xác lập vị thế trên trường quốc tế; phát triển du lịch và góp phần phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Hội nhập quốc tế trong du lịch sẽ theo các bước: tham gia các tổ chức quốc tế; thừa nhận và áp dụng các tiến bộ của công nghệ thông tin; tăng c­ường toàn cầu hóa trong khai thác, bảo vệ và phát triển tài nguyên du lịch; áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế trong phát triển du lịch; đơn phương tuyên bố tạo điều kiện thuận lợi cho khách du lịch và các nhà đầu tư du lịch, ký kết các hiệp định hợp tác song phương và đa phương về phát triển du lịch; cam kết và mở cửa thị trường dịch vụ du lịch. Để hội nhập quốc tế thành công, nhân lực du lịch phải được đào tạo với kỹ năng, trình độ chuyên nghiệp được thừa nhận rộng rãi; có thể di chuyển và tìm được việc làm trong và ngoài khu vực; vươn tới tham gia chủ động vào quá trình phân công lao động quốc tế, đảm bảo cho Du lịch Việt Nam có vị trí xứng đáng trong chuỗi cung cấp dịch vụ du lịch có chất lượng của khu vực và thế giới.

    Suy thoái kinh tế và khủng khoảng tài chính dẫn tới tái cấu trúc nền kinh tế thế giới, đòi hỏi các quốc gia, các vùng lãnh thổ phải thích ứng theo xu hướng mới. Nền kinh tế thế giới trong giai đoạn 2011 – 2022 sẽ tái cấu trúc lại trên hai mặt công nghệ – kỹ thuật, các ngành nghề và sự phân bố lại tương quan lực lượng giữa các nước. Các ngành, nghề biến đổi liên tục, một số ngành, nghề cũ nhanh chóng mất đi, nhiều ngành, nghề mới xuất hiện, yêu cầu kỹ năng tổng hợp thay cho kỹ năng hẹp. Chu kỳ vòng đời của mỗi loại sản phẩm du lịch ngày càng ngắn lại, sản phẩm mới liên tục xuất hiện, khu vực dịch vụ du lịch và các dịch vụ khác phát triển nhanh và chiếm tỷ trọng lớn về giá trị giá tăng và việc làm.

    Trong quá trình này, nước nào nắm được xu hướng phát triển công nghệ – kỹ thuật, nước đó sẽ tăng cường được sức mạnh kinh tế và năng lực cạnh tranh. Những nước đang phát triển cần có giải giải pháp khôn khéo hơn, dựa vào lợi thế so sánh quốc gia về tài nguyên độc đáo, bản sắc văn hóa dân tộc để phát triển du lịch. Nhu cầu du lịch thay đổi hướng tới những giá trị mới được thiết lập trên cơ sở giá trị văn hóa truyền thống mang tính độc đáo và nguyên bản, giá trị tự nhiên với tính nguyên sơ, giá trị sáng tạo và công nghệ cao thể hiện tính hiện đại, tiện nghi. Du lịch bền vững, du lịch xanh, du lịch có trách nhiệm, du lịch gắn với xóa đói giảm nghèo, du lịch hướng về cội nguồn, hướng về thiên nhiên là những xu hướng nổi trội. Chất lượng môi trường trở thành yếu tố quan trọng cấu thành giá trị thụ hưởng du lịch và là tiêu chí không thể thiếu trong đánh giá sự phát triển du lịch.

    Muốn có du lịch chất lượng cao cần phải chuẩn bị yếu tố đầu vào cho phát triển nhân lực ngành Du lịch. Vì vậy, cần nhận thức được vai trò, vị trí hàng đầu của giáo dục, đào tạo và khoa học, công nghệ; đẩy mạnh đổi mới giáo dục, đào tạo và khoa học công nghệ du lịch để có thể đáp ứng năng động hơn, hiệu quả hơn và trực tiếp hơn nhu cầu nhân lực cho sự phát triển du lịch nói riêng và của đất nước nói chung.

    Các yếu tố trong nước

    Bối cảnh trong nước với những khó khăn và thuận lợi lớn đan xen đòi hỏi ngành Du lịch Việt Nam phải khai thác được những điểm mạnh chuyển đổi thành yếu tố thuận lợi và khắc phục những điểm yếu, hạn chế để vượt lên khó khăn, trở ngại trong quá trình phát triển và hội nhập, hợp tác quốc tế.

    Việt Nam phấn đấu đến năm 2022 cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch sẽ được xây dựng, thể chế được hoàn chỉnh dần, phát triển nhân lực ngành Du lịch sẽ được quan tâm hơn, sẽ tháo gỡ khó khăn cho ngành Du lịch phát triển. Nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc sẽ được phát triển, an ninh quốc phòng được giữ vững. Việt Nam sẽ là bạn và đối tác tin cậy với tất cả các nước, điều này sẽ tác động theo hướng thuận lợi hơn cho du lịch phát triển và hội nhập quốc tế với tư thế mới. Cuộc sống công nghiệp được hình thành, tăng áp lực công việc, cần phải có sự cân bằng nhịp điệu cuộc sống, kéo theo sự hình thành nhu cầu du lịch, đây cũng là cơ hội nhưng cũng là một thách thức đối với sự phát triển của ngành Du lịch Việt Nam.

    Việt Nam là thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) nên sẽ có rất nhiều tập đoàn kinh tế lớn, nhiều công ty xuyên quốc gia đầu tư vào các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực du lịch; các nhà đầu tư Việt Nam cũng sẽ triển khai mạnh mẽ việc đầu tư du lịch ra nước ngoài. Điều đó đòi hỏi ngành Du lịch Việt Nam phải nhanh chóng nâng cao năng lực cạnh tranh, đặc biệt là phải xây dựng được một đội ngũ nhân lực đáp ứng nhu cầu lao động đa dạng, trong đó có một bộ phận nhân lực chất lượng cao để đảm trách được những vị trí quan trọng

    Những thành tựu của công cuộc đổi mới và quá trình CNH, HĐH đất nước là cơ sở quan trọng thúc đẩy du lịch phát triển, nhưng cũng đặt ra nhiều thử thách cho ngành Du lịch Việt Nam. CNH, HĐH làm cho xã hội ở Việt Nam biến đổi sâu sắc và toàn diện, đòi hỏi phải có những giải pháp cụ thể nhằm giữ gìn và phát huy những truyền thống tốt đẹp vốn có của quê hương, đất nước và di sản văn hóa cả vật thể và phi vật thể, giữ gìn môi trường, nâng cao thể chất, trí tuệ, tinh thần của nhân dân; đồng thời phát triển đời sống văn hóa, nhu cầu du lịch thích ứng với thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Yếu tố này đòi hỏi ngành Du lịch phải đổi mới cả về lượng và chất để đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển trong 10 năm tới.

    Phát triển du lịch trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dưới điều kiện hội nhập quốc tế ngày một sâu và toàn diện làm cho những yếu tố tích cực của xã hội được phát huy, các hoạt động du lịch cùng với các dịch vụ ở những lĩnh vực này trở nên năng động, đa dạng và phong phú hơn, nhưng cũng tiềm ẩn những rủi ro, phức tạp. Mặt trái của cơ chế thị trường tác động đến từng gia đình, các quan hệ xã hội, quan hệ cộng đồng, quan hệ doanh nghiệp đòi hỏi sự đổi mới về công tác quản lý và tổ chức hoạt động du lịch để đảm bảo phát triển du lịch đúng định hướng, bền vững trong cơ chế thị trường.

    Tín ngưỡng, tôn giáo là một thành tố của văn hóa, là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Tín ngưỡng ngày càng phát triển, các hoạt động du lịch tâm linh ngày càng mở rộng và được công nhận trên bình diện rộng ở phạm vi khu vực và toàn cầu. Đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ trong công tác tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam về tín ngưỡng, tôn giáo; đấu tranh bảo vệ truyền thống văn hóa dân tộc, chống việc lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng thông qua hoạt động du lịch. Yếu tố này tác động trực tiếp đến sự phát triển du lịch của Việt Nam, đến tiến trình hội nhập và hợp tác quốc tế trong du lịch và đòi hỏi phải có các giải pháp phù hợp.

    Bên cạnh các yếu tố nêu trên, những nhân tố mang tính chuyên ngành như số lượng khách; cơ cấu và tần suất khách đến, đi; thời vụ du lịch; các yếu tố ảnh hưởng đến tiền công, tiền lương của nhân lực du lịch; xu hướng cạnh tranh trên thị trường lao động du lịch, sự thay thế giữa các loại lao động khác nhau; xu hướng phân cực của nhân lực du lịch; xu hướng di chuyển và chuyển dịch cơ cầu nhân lực tăng nhanh; xu hướng tăng đầu tư vào đào tạo nhân lực du lịch; xu hướng thích ứng nhanh của hệ thống đào tạo du lịch; xu hướng sử dụng các rào cản kỹ thuật trong bảo hộ… tác động nhiều mặt đến sự phát triển du lịch, đến hội nhập quốc tế của Du lịch Việt Nam.

    Nhìn chung, trong cơ chế tác động riêng biệt hoặc đan xen của các yếu tố quốc tế và yếu tố trong nước nêu trên đặt ra nhiệm vụ phải đẩy mạnh phát triển ngành Du lịch, có chất lượng cao, vừa mang đậm bản sắc văn hóa, vừa phát triển bền vững, giữ được an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và toàn vẹn lãnh thổ, đáp ứng nhu cầu xã hội hiện đại và hội nhập quốc tế./.

    TS. Nguyễn Văn Lưu

    (Nguồn: Tạp chí Du lịch)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Du Lịch Chùa Hương,kinh Nghiệm Du Lịch
  • Tour Cần Thơ Nam Du 2 Ngày 1 Đêm
  • Chi Phí Tour Du Lịch Đi Đà Nẵng Dành Cho 2 Người Giá Rẻ Tiết Kiệm
  • Du Lịch Bụi Cà Mau
  • Áo Khoác Nam Du Lịch Đa Năng
  • Du Lịch Việt Nam Hội Nhập Cộng Đồng Kinh Tế Asean

    --- Bài mới hơn ---

  • Tour Du Lịch Hội Thảo: Đà Nẵng
  • Tour Du Lịch Hội Thảo: V’resort Hòa Bình
  • Tour Du Lịch Kết Hợp Hội Thảo Tại Huế
  • Tour Du Lịch Homestay An Giang: Long Xuyên
  • Khám Phá 5 Homestay Châu Đốc
  • (TCDL) – Ngày 22/11/2015, tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 27 diễn ra ở Thủ đô Kuala Lumpur, Malaysia, Lãnh đạo của 10 quốc gia thành viên ASEAN đã đặt bút ký văn kiện lịch sử Tuyên bố hình thành Cộng đồng ASEAN 2022, trong đó nêu rõ “sự hình thành của Cộng đồng ASEAN đã tạo ra một dấu mốc trong tiến trình liên kết, bảo đảm hòa bình, an ninh và tự cường dài lâu trong một khu vực hướng ra bên ngoài, với các nền kinh tế năng động, cạnh tranh và liên kết sâu rộng, và một cộng đồng thu nạp dựa trên ý thức mạnh mẽ về sự gắn kết và bản sắc chung”. Cộng đồng kinh kế ASEAN (AEC) cùng với Cộng đồng an ninh – chính trị và Cộng đồng văn hóa – xã hội là ba trụ cột tạo nên Cộng đồng ASEAN. Trong ba trụ cột, AEC được coi là quan trọng nhất, sự phát triển của AEC sẽ là tiền đề thúc đẩy việc thực hiện hai trụ cột còn lại. Hội nhập AEC là một bước ngoặt đánh dấu sự hội nhập khu vực một cách toàn diện của các nền kinh tế Đông Nam Á, qua đó mang lại những tác động tích cực tới Du lịch Việt Nam.

    Khái quát các hoạt động hội nhập của Du lịch Việt Nam đóng góp vào quá trình hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN

    Hội nhập quốc tế về du lịch của Việt Nam thời gian qua được triển khai theo hướng thúc đẩy ký kết và thực hiện các hiệp định thỏa thuận hợp tác cấp chính phủ, cấp ngành song phương và đa phương, tranh thủ hợp tác, hỗ trợ của các nước thông qua các chương trình, dự án cụ thể và các cam kết mở cửa tự do hóa thương mại dịch vụ du lịch trong các khuôn khổ WTO, ASEAN, APEC, GMS…. Trong đó, ASEAN là một trong những khuôn khổ hợp tác mà Du lịch Việt Nam tham gia sâu rộng và có hiệu quả nhất.

    Du lịch Việt Nam bắt đầu tìm hiểu và tham gia các cơ chế hợp tác từ cuối những năm 1990, sau khi gia nhập ASEAN (1995). Việt Nam từng bước tham gia đầy đủ các hoạt động trong các nhóm/tiểu ban công tác du lịch từ đầu những năm 2000 và chủ động hội nhập từ cuối những năm 2000. Đối với các cam kết về thị trường, Việt Nam đã thực hiện đầy đủ các cam kết đối với các lĩnh vực khách sạn, dịch vụ xếp chỗ ở khách sạn, dịch vụ phục vụ ăn uống và kinh doanh lữ hành quốc tế. Năm 2009, Việt Nam đăng cai và tổ chức thành công Hội nghị Bộ trưởng Du lịch và Diễn đàn Du lịch ASEAN (ATF) – sự kiện lớn nhất trong năm của du lịch ASEAN.

    Đối với các lĩnh vực cụ thể, Việt Nam đã ký Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau trong ASEAN về nghề du lịch (MRA-TP) (tại ATF 2009, tại Hà Nội) để làm cơ sở cho việc phát triển nguồn nhân lực du lịch ASEAN và tạo thuận lợi cho dịch chuyển lao động trong khu vực. Du lịch Việt Nam đã chủ động đóng góp vào việc triển khai MRA-TP chung của ASEAN thông qua việc xây dựng các tài liệu hướng dẫn triển khai MRA-TP (2013). Du lịch Việt Nam đã tham gia xây dựng 130 sản phẩm du lịch chung để kết nối ít nhất 2 quốc gia trong ASEAN theo các nhóm chuyên đề như du lịch thiên nhiên, du lịch văn hóa và di sản, du lịch cộng đồng, du lịch đường biển và đường sông đồng thời tích cực triển khai Chiến lược marketing du lịch ASEAN 2011 – 2022 với tiêu đề “Đông Nam Á – cảm nhận sự ấm áp” tập trung vào khai thác các thị trường Trung Quốc và Ấn Độ, khách du lịch trải nghiệm và sáng tạo, khách du lịch khám phá, khách du lịch công vụ, khách du lịch lưu trú dài ngày và người cao tuổi, khách trong nội vùng ASEAN. Cùng với đó, Việt Nam đã đảm nhiệm thành công vai trò Trưởng nhóm Marketing và Truyền thông du lịch ASEAN (2013-2014), hiện đang là Phó Trưởng nhóm Chất lượng dịch vụ du lịch, điều phối phát triển sản phẩm du lịch đường sông và Dự án hỗ trợ kỹ thuật phát triển du lịch đường sông khu vực sông Mê Kông do UNWTO hỗ trợ ASEAN, điều phối triển khai Dự án xây dựng Hướng dẫn xây dựng và vận hành loại hình Boutique Hotel; nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ ASEAN thông qua việc phối hợp cùng các quốc gia thành viên phát triển và áp dụng các bộ tiêu chuẩn chung trong ASEAN như tiêu chuẩn khách sạn xanh ASEAN, cơ sở lưu trú nhà dân ASEAN, nhà vệ sinh công cộng ASEAN, dịch vụ Spa ASEAN, tiêu chuẩn thành phố du lịch sạch ASEAN, tiêu chuẩn du lịch cộng đồng, hướng dẫn an ninh và an toàn du lịch ASEAN cho các khách sạn, khu nghỉ dưỡng và lộ trình du lịch ASEAN ứng phó với biến đổi khí hậu…

    Hàng năm, Du lịch Việt Nam tham gia Hội chợ Du lịch quốc tế TRAVEX bên lề Diễn đàn Du lịch ASEAN, tham gia và có đóng góp tích cực tại các phiên họp định kỳ và họp chuyên đề. Bên cạnh ATF năm 2009, Việt Nam cũng đã đăng cai tổ chức thành công cuộc họp chuyên đề về Marketing và Phát triển sản phẩm du lịch ASEAN (2013) và sẽ tiếp tục tổ chức phiên họp các nhóm công tác du lịch dự kiến vào tháng 4/2016. Bên cạnh các nội dung hợp tác du lịch ASEAN nói chung, Việt Nam còn tích cực và chủ động trong các cơ chế hợp tác du lịch tiểu vùng và giữa ASEAN với các nước, tổ chức đối tác. Các khuôn khổ hợp tác phổ biến là: Hợp tác kinh tế ACMECS (hợp tác kinh tế gồm 5 nước Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam); Hợp tác GMS (còn gọi là chương trình hợp tác Tiểu vùng Mê Kông mở rộng, gồm Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanmar và tỉnh Vân Nam, tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc); Hợp tác CLMV (gồm Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam); Hợp tác giữa ASEAN với các nước và tổ chức đối tác (ASEAN với 3 nước Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc; ASEAN với Nga, ASEAN với Ấn Độ, ASEAN với Tổ chức Du lịch thế giới UNWTO, ASEAN với Ngân hàng phát triển châu Á ADB…), và hợp tác du lịch song phương để đóng góp vào cơ chế hợp tác du lịch trong ASEAN.

    Tác động của việc hội nhập AEC đối với Du lịch Việt Nam

    Qua quá trình hợp tác lâu dài cũng như những kết quả và lợi ích mang lại, có thể khẳng định rằng ASEAN cũng như AEC có vai trò đặc biệt quan trọng đối với Du lịch Việt Nam. Với dân số hơn 500 triệu dân, trong những năm qua, các thị trường nguồn du lịch thuộc khu vực ASEAN đóng góp khoảng 20% tổng số khách du lịch quốc tế đến Việt Nam. Một số nước ASEAN như Thái Lan, Singapore, Malaysia vừa là thị trường nguồn, vừa đóng vai trò là cửa ngõ quan trọng để khách du lịch quốc tế đến Việt Nam. Hợp tác du lịch với các nước ASEAN là quan hệ cùng có lợi khi các nước cùng hợp tác, bổ sung cho nhau về tất cả các khía cạnh trong phát triển du lịch, hỗ trợ nhau đồng thời cũng là hỗ trợ chính mình. Tuy nhiên, đây là quá trình vừa hợp tác, vừa cạnh tranh, theo đó lợi ích đối với mỗi nước phụ thuộc vào nỗ lực và khả năng của từng nước. Mặc dù vậy, lợi ích của nước này không làm ảnh hưởng đến lợi ích của các nước khác mà ngược lại tạo cơ hội cho các nước khác.

    Mặt khác, quá trình hợp tác để hình thành AEC đã góp phần nâng cao sự hiện diện và uy tín của Du lịch Việt Nam trong khu vực. Đồng thời, Du lịch Việt Nam được tiếp cận nhiều thông tin và bài học kinh nghiệm quý báu về phát triển du lịch và nhận được sự hỗ trợ tích cực của các nước có ngành Du lịch phát triển hơn như Thái Lan, Malaysia, Singapore… AEC đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện yêu cầu “gắn thị trường du lịch Việt Nam với thị trường du lịch khu vực và thế giới” như Chiến lược phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030 đã đề ra.

    Hội nhập AEC mang lại những tác động tích cực đối với Du lịch Việt Nam đồng thời tạo ra một môi trường cạnh tranh khốc liệt hơn trong lĩnh vực du lịch, trong đó việc phát huy những tác động tích cực của quá trình hội nhập sẽ quyết định hiệu quả của quá trình hội nhập du lịch trong AEC. Những tác động trên một số lĩnh vực chủ đạo được khái quát như sau:

    – Nhìn chung, hội nhập về sản phẩm du lịch trong ASEAN đã góp phần đa dạng hóa các sản phẩm du lịch Việt Nam hiện nay và tranh thủ được các nguồn khách nối tour trong khu vực để qua đó tăng thêm sức hấp dẫn của du lịch khu vực ASEAN nói chung và khả năng kết nối khách giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và ngược lại. Mặt khác, chất lượng sản phẩm, dịch vụ du lịch của Việt Nam cũng đã tăng lên rõ rệt, đáp ứng được yêu cầu của khách du lịch trong và ngoài khu vực ASEAN về cơ sở vật chất kỹ thuật dịch vụ lưu trú du lịch, chất lượng dịch vụ, chất lượng và sự đa dạng của ẩm thực trong sản phẩm du lịch, đặc biệt là đối với phân đoạn thị trường chất lượng cao, tập trung ở các trung tâm du lịch lớn trong nước.

    – Việt Nam đã tranh thủ được khá tốt hiệu quả xúc tiến quảng bá du lịch trong khu vực để thu hút khách du lịch đến Việt Nam do tham gia đầy đủ các hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch chung trong ASEAN. Hình ảnh và vị thế của Du lịch Việt Nam trong khu vực ASEAN được nâng lên do sự chủ động tổ chức và khởi xướng các sự kiện, hoạt động xúc tiến du lịch liên kết với các nước ASEAN. Thương hiệu quốc gia từng bước được cải thiện do các hoạt động tích cực của ngành Du lịch và các hoạt động xúc tiến quảng bá.

    – Triển khai MRA-TP là cơ hội rất tốt để Du lịch Việt Nam có động lực nâng cao chất lượng nhân lực du lịch trong nước đủ điều kiện làm việc hiệu quả tại các nước khác trong khu vực đồng thời cũng góp phần giải quyết vấn đề thiếu hụt lao động trong bối cảnh phát triển nhanh của du lịch trong nước, tranh thủ được nguồn lao động chất lượng cao trong khu vực. Bên cạnh việc các doanh nghiệp du lịch đã quan tâm hơn tới công tác đào tạo nhân lực của mình thì khối các cơ sở đào tạo về du lịch cũng đã không ngừng cải tiến, nâng cao chất lượng đào tạo du lịch góp phần phát triển liên tục nguồn nhân lực du lịch Việt Nam trong thời gian qua, cơ bản đáp ứng được yêu cầu về số lượng và từng bước cải thiện chất lượng phù hợp với nhu cầu hội nhập khu vực ASEAN.

    – Đối với các doanh nghiệp du lịch, các doanh nghiệp lữ hành ngày càng lớn mạnh về số lượng, đa dạng về loại hình, cải thiện chất lượng, phù hợp với trình độ phát triển và nhu cầu trong khu vực ASEAN, một số doanh nghiệp lớn đã từng bước khẳng định được thương hiệu trong khu vực trên cơ sở sự đa dạng của sản phẩm và đảm bảo về chất lượng. Các cơ sở lưu trú du lịch (CSLTDL) được đầu tư phát triển nhanh về số lượng, đa dạng về loại hình dịch vụ, chất lượng được nâng lên tầm khu vực ở nhiều phân khúc đã góp phần tạo nên sức hấp dẫn chung của sản phẩm du lịch ASEAN và Việt Nam nói riêng. Năng lực cạnh tranh trong khu vực của các doanh nghiệp du lịch Việt Nam cũng được nâng lên trên cơ sở sự liên kết phát triển sản phẩm du lịch theo mô hình Lữ hành – Hàng không – Khách sạn. Các loại hình doanh nghiệp khác tham gia vào chuỗi cung ứng sản phẩm, dịch vụ du lịch như vận chuyển (hàng không, đường bộ, đường biển, đường thủy), nhà hàng cung cấp dịch vụ ăn uống, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vui chơi giải trí… ngày một gia tăng, cơ bản đáp ứng được nhu cầu kết nối giữa Việt Nam với các nước trong khu vực ASEAN cũng như góp phần đảm bảo năng lực cung ứng dịch vụ du lịch và gia tăng tính hấp dẫn, đa dạng của sản phẩm, dịch vụ du lịch khu vực ASEAN nói chung và Việt Nam nói riêng.

    Việc Việt Nam chính thức gia nhập AEC sẽ có những tác động trực tiếp và gián tiếp đến tất cả các đối tượng trong ngành Du lịch, từ cơ quan quản lý nhà nước đến doanh nghiệp kinh doanh du lịch, cơ sở đào tạo, người lao động và thậm chí cả khách du lịch nội khối cũng như khách du lịch quốc tế đến khu vực. Khi Việt Nam gia nhập AEC, Du lịch Việt Nam đứng trước những cơ hội và thách thức đan xen. Vấn đề đặt ra là phải tận dụng được các cơ hội đồng thời vượt qua những khó khăn, thách thức để phát triển với tốc độ cao và tránh được nguy cơ tụt hậu, nhất là so với các nước có ngành Du lịch phát triển trong khu vực./.

    Trần Phú Cường Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế – Tổng cục Du lịch

    --- Bài cũ hơn ---

  • Du Lịch Đà Nẵng Hội Nhập Quốc Tế
  • Hội Nhập Quốc Tế Và Những Vấn Đề Đặt Ra Cho Phát Triển Du Lịch Bền Vững Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Cần Lưu Ý Gì Để Có Chương Trình Du Lịch Hội Nghị Hoàn Hảo?
  • Hội Nghị Là Gì? Cách Thức Tổ Chức Hội Nghị Chuyên Nghiệp, Ấn Tượng
  • Hội Thảo, Hội Nghị Là Gì? Cách Tổ Chức Hội Thảo, Hội Nghị Chuyên Nghiệp.
  • Hội Nhập Du Lịch Việt Nam Trong Cộng Đồng Văn Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhân Lực Du Lịch Việt Nam Trước Bối Cảnh Hội Nhập Khu Vực Asean
  • Đừng Để Khách Du Lịch “Một Đi Không Trở Lại”
  • 20 Quà Lưu Niệm Nên Mua Ở Việt Nam Cho Người Nước Ngoài – Hướng Dẫn Du Lịch 2022
  • Di Sản Thế Giới Tại Việt Nam
  • Du Lịch Hà Nội Sau Một Năm Gia Nhập Wto
  • Trên đà phát trển, Cộng đồng chung ASEAN được thành lập vào ngày 31/12/2015, tạo nên một bước ngoặt lớn cho các nước ASEAN, làm sâu sắc thêm tiến trình liên kết để hiện thực hóa một Cộng đồng ASEAN vững mạnh.

    Cộng đồng Văn hóa – Xã hội ASEAN là một trong ba trụ cột của Cộng đồng ASEAN, với mục tiêu góp phần xây dựng một Cộng đồng ASEAN “cam kết nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân thông qua các hoạt động hợp tác hướng tới con người, xây dựng một cộng đồng ASEAN hướng vào người dân, lấy người dân làm trung tâm và có trách nhiệm xã hội nhằm đạt được tình đoàn kết và thống nhất lâu bền giữa các quốc gia và người dân ASEAN thông qua việc tạo dựng một bản sắc chung và một xã hội chia sẻ, đùm bọc, hoà thuận và rộng mở, nơi cuộc sống và phúc lợi của người dân được nâng cao”.

    Với vai trò là thành viên của ASEAN, du lịch Việt Nam đã luôn thể hiện trách nhiệm, tham gia tích cực và có nhiều đóng góp quan trọng trong việc xây dựng Cộng đồng Văn hóa – Xã hội ASEAN.

    1. Trước hết Việt Nam là một điểm đến du lịch hấp dẫn trong mắt bạn bè quốc tế.

    “Việt Nam đất nước ta ơi

    Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn

    Cánh cò bay lả rập rờn

    Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều”.

    Từ lâu, 4 câu thơ trên của nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã đi vào tiềm thức mỗi người dân Việt Nam như một niềm tự hào về quê hương. Đất nước Việt Nam hình chữ S rất đẹp có cánh đồng lúa xanh mướt thẳng cánh cò bay, mở ra khung cảnh về một đất nước Việt Nam thanh bình. Rồi còn đó:

    “Bạn ơi hãy đến thăm quê hương chúng tôi

    Ngắm mặt biển xanh xa tít chân trời

    Nghe sóng vỗ dạt dào biển cả

    Vút phi lao gió thổi trên bờ

    Buồm vươn cánh vượt sóng ra ngoài khơi

    Trong nắng hồng bừng lên sáng ngời”.

                                       ( Bài hát Việt Nam quê hương tôi- Đỗ Nhuận)

    Trong con mắt bạn bè thế giới từng đặt chân đến Việt Nam dù chỉ một lần thì nơi đây thu hút họ bởi những vẻ đẹp choáng ngợp về cảnh sắc non nước và một nền văn hóa lâu đời giàu bản sắc dân tộc. Từ khắp nơi trên mảnh đất này bạn không chỉ ngắm cảnh làng quê thơ mộng, những ngọn núi kỳ vĩ mà thiên nhiên còn ban tặng cho những bờ biển và đảo tuyệt đẹp. Điểm xuyết những bờ biển dài trắng những cồn cát là  những rặng phi lao rì rào trong gió, hàng dừa xanh bên bờ đại dương tỏa bóng cho những biệt thự, khách sạn hiện đại đầy tráng lệ đem đến cho du khách nghỉ ngơi sau những giờ phút nô đùa trên sóng. Trong ánh hoàng hôn, bạn còn bắt gặp nhiều thuyền thúng, thuyền chài của ngư dân chuẩn bị ra khơi. Những bãi biển đẹp như Vũng Tàu, Mũi Né, Nha Trang…, các đảo du lịch như Đảo Lý Sơn, Đảo Phú Quốc được xem là đảo ngọc của Việt Nam. Không gì tuyệt vời hơn cảm giác được ngồi trên một con thuyền nhỏ bồng bềnh rẽ sóng trên biển Phú Quốc vào lúc bình minh. Màu trời, màu nước như quyện hòa trong ánh mặt trời rực rỡ, tạo nên một khung cảnh như mơ, như thực. Hàng phi lao rì rào trong gió, con đường quanh co ven biển, mặt nước lấp lánh ngàn triệu bọt sóng hoan ca…

    Hoặc như Chợ nổi Cái Răng ở Cần Thơ là một nét văn hóa đặc sắc ở Đồng bằng sông Cửu Long. Vùng đất “Chín rồng” đâu đâu cũng chỉ thấy nước, sông ngòi chi chít, cửa sông đan xen như mạng nhện, ghe thuyền ngày đêm xuôi ngược. Ấn tượng đầu tiên đập vào mắt du khách là hình ảnh thuyền bè tấp nập trên sông, buôn bán nhộn nhịp thu hút chân du khách

    “Cần Thơ gạo trắng nước trong

    Ai đi đến đó lòng không muốn về…”

    Chợ nổi cái Răng ( Ảnh tác giả)

    Việt Nam còn là đất nước của nhiều di sản văn hóa thế giới.

    Đến Huế là chúng ta đến với mảnh đất của di sản văn hóa thế giới. Nghiêng mình bên dòng sông Hương thơ mộng, từ năm 1558 đến năm 1945, Huế từng là thủ phủ của 9 đời chúa Nguyễn ở Đàng Trong, là kinh đô của triều đại Tây Sơn và là kinh đô dưới 13 triều vua Nguyễn. Trải qua 4 thế kỷ, qua bao thăng trầm của lịch sử, Kinh đô Huế xưa kia nay đã trở thành di sản văn hóa, một quần thể di tích kiến trúc và thắng cảnh nổi tiếng của Việt Nam. Với vẻ đẹp riêng có, năm 1993, quần thể di tích cố đô Huế được Tổ chức Giáo dục – Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận là Di sản văn hóa thế giới.  Quần thể di tích gồm Kinh thành, Hoàng thành và Tử cấm thành. Cung điện, đền đài, lăng tẩm thực sự làm say đắm khách tham quan bởi phong cách kiến trúc và vẻ đẹp cao quý. 

    Kinh thành Huế về đêm, Nguồn: Internet

    Năm 1994 Việt Nam có thêm một kỳ quan thiên nhiên nữa được công nhận – đó là Vịnh Hạ Long ở Vịnh Bắc Bộ với cảnh quan kỳ thú gồm gần 3000 hòn đảo, đá, vách đá và hang động. Người dân địa phương thường gọi Vịnh là kỳ quan thứ 8 của thế giới, với những hòn đảo có tên gọi riêng với vẻ quyến rũ làm mê đắm lòng người.

     

    Vịnh Hạ Long, ảnh tác giả

    Năm 1999, Hội An và Thánh địa Mỹ Sơn là địa danh tiếp theo của Việt Nam được công nhận là di sản văn hoá thế giới. Đô thị cổ Hội An ngày nay là một điển hình đặc biệt về cảng thị truyền thống ở Đông Nam Á giai đoạn thế kỷ XV-XIX được bảo tồn nguyên vẹn. Đô thị cổ ngày nay còn gìn giữ được bản sắc của kiến trúc cổ. Thánh địa Mỹ Sơn là di sản kiến trúc của nhà nước Chămpa cổ đại. Nơi đây lưu giữ các mảnh vỡ của kiến trúc Chăm – mảnh vỡ của tường, cột và bàn thờ với những hoa văn trang trí, tượng đá. 

    Di sản tiếp theo được công nhận đó là Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng được coi là “Thiên Nam đệ nhất động” của Việt Nam, được che chở bởi những cánh rừng nhiệt đới và núi đá vôi kỳ vĩ. Thế giới động Phong Nha đã khiến du khách bất ngờ và choáng ngợp bởi không gian lung linh, huyền ảo.  Phong Nha như một món quà của tạo hoá đã ban tặng cho vùng đất này một hệ thống hang động thật lộng lẫy. Nhũ đá từ trên rũ xuống, mảng đá từ dưới nhô lên tua tủa như cây rừng với những hình dáng kỳ lạ kích thích trí tưởng tượng của con người. Song mỗi người đều có thể đặt những tên gọi riêng cho từng không gian, từng khối thạch nhũ trong hang động kỳ bí này tùy theo trí tưởng tượng khác nhau.

    Ngoài ra Thành Nhà Hồ ở huyện Vĩnh Lộc- Thanh Hóa và Quần thể danh thắng Tràng An ở Ninh Bình cũng được UNESCO công nhận.

    Với chuyến du lịch “chấm phá” như thế, tất nhiên chúng ta chưa thể trình bày hết một cách đầy đủ về nước Việt Nam xinh đẹp, nhưng nó cũng phần nào giúp cảm nhận được bản sắc và sự đa dạng phong phú. Dù là người Việt Nam hay đến từ bất cứ nơi nào trên thế giới những nhìn nhận khách quan về đất nước Việt Nam giúp chúng ta thêm yêu mảnh đất hình chữ S thân thương này và cùng chung tay góp sức xây dựng một Việt Nam hòa bình, bền vững và phát triển như nhà thơ Lê Anh Xuân đã viết “Có nơi đâu đẹp tuyệt vời/ Như sông, như núi, như người Việt Nam”.

    Bên cạnh đất nước Việt Nam cảnh đẹp hữu tình, thì còn kết tinh trong đó vẻ đẹp là tâm hồn hết sức nghĩa tình, những con người Việt Nam giàu lòng mến khách, và một phong thái tự hào lẫy lừng về truyền thống bảo vệ và xây dựng đất nước. Vì vậy ngày càng tôi hiểu vì sao dải đất cong cong hình chữ S này như một hình ảnh nặng gánh trong tâm trí người Việt. Họ luôn tự so sánh mình với cây tre non mềm dẻo, có thể uốn cong nhưng không bao giờ gục ngã. Trong quá trình hình thành và phát triển, dân tộc Việt Nam không những phải đấu tranh với giặc ngoại xâm và làm nên những chiến thắng vang dội đi vào lịch sử dân tộc và thế giới, mà còn phải phòng chống thiên tai. Chính trong hoàn cảnh như thế đã gắn kết những con người Việt Nam xích lại gần nhau bảo vệ đất nước.

    Với diện tích không lớn nhưng Việt Nam là một đất nước độc đáo, đa dạng các loại địa hình, cảnh quan thiên nhiên phong phú, giàu truyền thống, phong tục, tập quán, đậm đà bản sắc dân tộc. Thêm vào đó là sự đa dạng của cuộc sống các dân tộc, ngôn ngữ và ẩm thực. Chuyến du lịch đến đất nước Việt Nam sẽ thực sự là một chuyến đi đáng nhớ, tràn ngập những ấn tượng và sự kiện khó phai mờ trong tâm trí du khách. 

    2. Hội nhập du lịch Việt Nam trong ASEAN

    Thời gian qua Du lịch Việt Nam hội nhập ASEAN được triển khai theo hướng thúc đẩy ký kết và thực hiện các hiệp định thỏa thuận hợp tác cấp chính phủ, cấp ngành song phương và đa phương, tranh thủ hợp tác, hỗ trợ của các nước thông qua các chương trình, dự án cụ thể và các cam kết mở cửa tự do hóa thương mại dịch vụ du lịch trong các khuôn khổ WTO, ASEAN, APEC, GMS…. Trong đó, ASEAN là một trong những khuôn khổ hợp tác mà Du lịch Việt Nam tham gia sâu rộng và có hiệu quả nhất.

    Du lịch Việt Nam bắt đầu tìm hiểu và tham gia các cơ chế hợp tác từ cuối những năm 1990, sau khi gia nhập ASEAN (1995). Việt Nam từng bước tham gia đầy đủ các hoạt động trong các nhóm/tiểu ban công tác du lịch từ đầu những năm 2000 và chủ động hội nhập từ cuối những năm 2000. Năm 2009, Việt Nam đăng cai và tổ chức thành công Hội nghị Bộ trưởng Du lịch và Diễn đàn Du lịch ASEAN (ATF) – sự kiện lớn nhất trong năm của du lịch ASEAN.

    Du lịch Việt Nam đã tham gia xây dựng 130 sản phẩm du lịch chung để kết nối ít nhất 2 quốc gia trong ASEAN theo các nhóm chuyên đề như du lịch thiên nhiên, du lịch văn hóa và di sản, du lịch cộng đồng, du lịch đường biển và đường sông đồng thời tích cực triển khai Chiến lược marketing du lịch ASEAN 2011 – 2022 với tiêu đề “Đông Nam Á – cảm nhận sự ấm áp” tập trung vào khai thác các thị trường Trung Quốc và Ấn Độ, khách du lịch trải nghiệm và sáng tạo, khách du lịch khám phá, khách du lịch công vụ, khách du lịch lưu trú dài ngày và người cao tuổi, khách trong nội vùng ASEAN.

    Hàng năm, Du lịch Việt Nam tham gia Hội chợ Du lịch quốc tế TRAVEX bên lề Diễn đàn Du lịch ASEAN, tham gia và có đóng góp tích cực tại các phiên họp định kỳ và họp chuyên đề. Bên cạnh các nội dung hợp tác du lịch ASEAN nói chung, Việt Nam còn tích cực và chủ động trong các cơ chế hợp tác du lịch tiểu vùng và giữa ASEAN với các nước, tổ chức đối tác. Các khuôn khổ hợp tác phổ biến là: Hợp tác kinh tế ACMECS (hợp tác kinh tế gồm 5 nước Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam); Hợp tác GMS (còn gọi là chương trình hợp tác Tiểu vùng Mê Kông mở rộng, gồm Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanmar và tỉnh Vân Nam, tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc); Hợp tác CLMV (gồm Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam); Hợp tác giữa ASEAN với các nước và tổ chức đối tác (ASEAN với 3 nước Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc; ASEAN với Nga, ASEAN với Ấn Độ, ASEAN với Tổ chức Du lịch thế giới UNWTO, ASEAN với Ngân hàng phát triển châu Á ADB…), và hợp tác du lịch song phương để đóng góp vào cơ chế hợp tác du lịch trong ASEAN.

    Gian hàng Du lịch Việt Nam tại Hội chợ Du lịch TRAVEX Philippines 2022,

    3. Tác động của việc hội nhập Du lịch Việt Nam với ASEAN

    Với dân số của ASEAN hơn 500 triệu dân, trong những năm qua, các thị trường nguồn du lịch thuộc khu vực ASEAN đóng góp khoảng 20% tổng số khách du lịch quốc tế đến Việt Nam. Một số nước ASEAN như Thái Lan, Singapore, Malaysia vừa là thị trường nguồn, vừa đóng vai trò là cửa ngõ quan trọng để khách du lịch quốc tế đến Việt Nam. Hợp tác du lịch với các nước ASEAN là quan hệ cùng có lợi khi các nước cùng hợp tác, bổ sung cho nhau về tất cả các khía cạnh trong phát triển du lịch, hỗ trợ nhau đồng thời cũng là hỗ trợ chính mình. 

    Mặt khác, quá trình hợp tác đã góp phần nâng cao sự hiện diện và uy tín của Du lịch Việt Nam trong khu vực. Đồng thời, Du lịch Việt Nam được tiếp cận nhiều thông tin và bài học kinh nghiệm quý báu về phát triển du lịch và nhận được sự hỗ trợ tích cực của các nước có ngành Du lịch phát triển hơn như Thái Lan, Malaysia, Singapore…; góp phần quan trọng vào việc thực hiện yêu cầu “gắn thị trường du lịch Việt Nam với thị trường du lịch khu vực và thế giới” như Chiến lược phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030 đã đề ra.

     Nhìn chung, hội nhập về sản phẩm du lịch trong ASEAN đã góp phần đa dạng hóa các sản phẩm du lịch Việt Nam hiện nay và tranh thủ được các nguồn khách nối tour trong khu vực để qua đó tăng thêm sức hấp dẫn của du lịch khu vực ASEAN nói chung và khả năng kết nối khách giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và ngược lại. Mặt khác, chất lượng sản phẩm, dịch vụ du lịch của Việt Nam cũng đã tăng lên rõ rệt, đáp ứng được yêu cầu của khách du lịch trong và ngoài khu vực ASEAN về cơ sở vật chất kỹ thuật dịch vụ lưu trú du lịch, chất lượng dịch vụ, chất lượng và sự đa dạng của ẩm thực trong sản phẩm du lịch, đặc biệt là đối với phân đoạn thị trường chất lượng cao, tập trung ở các trung tâm du lịch lớn trong nước.   

    Tham gia đầy đủ các hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch chung trong ASEAN, hình ảnh và vị thế của Du lịch Việt Nam trong khu vực ASEAN được nâng lên do sự chủ động tổ chức và khởi xướng các sự kiện, hoạt động xúc tiến du lịch liên kết với các nước ASEAN. Thương hiệu quốc gia từng bước được cải thiện do các hoạt động tích cực của ngành Du lịch và các hoạt động xúc tiến quảng bá. Nhờ hội nhập quốc tế sâu rộng, du lịch nước ta đã xuất hiện trên bản đồ du lịch thế giới. Một số điểm đến nổi bật đã xác lập được thương hiệu trên thị trường quốc tế, tiêu biểu là Hạ Long, Hội An, Nha Trang, Đà Nẵng, Sa Pa, Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Một số điểm đến du lịch ngày càng được biết đến nhiều hơn như Quần thể danh thắng Tràng An, Đồng bằng sông Cửu Long, Hà Giang, Phú Quốc… 

    Miền sông nước xuất hiện trong clip Welcome to Viet Nam.

    Du lịch Việt Nam phát triển góp phần GDP của cả nước. Tại cuộc tổng kết trực tuyến công tác ngành du lịch Việt Nam 2022 diễn ra tại 3 điểm cầu Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 30/12, Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) Nguyễn Văn Tuấn cho biết: Năm 2022, du lịch Việt Nam đón 7,943 triệu lượt khách quốc tế, tăng gần 1% với năm 2014. Khách du lịch nội địa đạt 57 triệu lượt, tổng thu từ khách du lịch đạt 338.000 tỷ đồng. 

    Hội nhập ASEAN là một bước ngoặt đánh dấu sự hội nhập khu vực một cách toàn diện của các nền kinh tế Đông Nam Á, qua đó mang lại những tác động tích cực tới Du lịch Việt Nam. Ngược lại các hoạt động hội nhập của Du lịch Việt Nam đóng góp vào quá trình hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN.

    Lê Thị Thu Thanh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thị Trường Nội Địa Là ‘bệ Đỡ’ Cho Du Lịch Việt
  • Chuyên Gia Kinh Tế Lê Đăng Doanh: “du Lịch Đang Đóng Góp Rất Lớn Cho Nền Kinh Tế Nước Nhà”
  • Bài 17: Du Lịch Thăm Quan
  • Việt Nam – Lào Nỗ Lực Phát Triển Du Lịch Vùng Biên Giới
  • Công Ty Tnhh Du Lịch Việt Hải Ngoại
  • Dịch Vụ Visa Nhập Cảnh Việt Nam Cho Người Nước Ngoài

    --- Bài mới hơn ---

  • Mua Quà Gì Khi Đi Du Lịch Mỹ ?
  • Những Mẫu Xe Ô Tô Rẻ Nhất Việt Nam: Hàng Hiệu Chỉ 300 Triệu
  • Phong Tục Và Con Người Sài Gòn Như Thế Nào?
  • Du Lich, Du Lịch, Tour Du Lịch, Tour Du Lich, Du Lich Viet, Du Lịch Vietnamtourism, Du Lịch Vietnamtourism Nam, Du Lich Viet Nam
  • Ninh Bình Và Thiên Đường Nghỉ Dưỡng Emeralda Resort
  • Dịch vụ visa nhập cảnh Việt Nam cho người nước ngoài, làm công văn nhập cảnh có nhanh chỉ sau 1 tiếng kể từ lúc chúng tôi nhận được yêu cầu của bạn. Hỗ trợ dán visa tại sân bay các loại visa Việt Nam mục đích du lịch, công tác, thăm thân,.. cho người nước ngoài và Việt kiều. 

    Nếu bạn cần có công văn nhập cảnh gấp, cấp tốc cho người nước ngoài vào Việt Nam ngay, bạn vui lòng liên hệ tới bộ phận tư vấn, hỗ trợ giải quyết khẩn cấp mọi trường hợp, bất kỳ thời gian nào của VISANGON theo số:

    Mỗi ngày chúng tôi nhận đều được rất nhiều cuộc điện thoại, tin nhắn trò chuyện trực tuyến, email gửi về và các câu hỏi trực tiếp từ người Việt Nam và người ở nước ngoài, doanh nghiệp và cơ quan du lịch trong và ngoài nước để tìm kiếm thông tin về thị thực nhập cảnh Việt Nam, giấy phép, lao động, thẻ tạm trú, giấy miễn thị thực,… có giá trị cư trú lâu dài tại Việt Nam.

    Ngoài ra, mỗi ngày chúng tôi cũng xử lý số lượng lớn những yêu cầu về công văn nhập cảnh, thị thực lưu trú ngắn hạn, dài hạn Việt Nam cho hầu hết người quốc tịch nước ngoài ở mọi quốc gia. Trong đó thời gian giải quyết ưu tiên đáp ứng theo yêu cầu của khách bao gồm nhanh trong tháng, trong tuần hoặc gấp trong ngày.

    VISANGON – Đơn vị đại diện hợp pháp xin thị thực nhập cảnh Việt Nam

    VISANGON là thành viên thương hiệu thuộc về Trung Tâm Tiếp Nhận Thị Thực Visa thuộc về CÔNG TY TNHH GREENCANAL VIỆT NAM.

    • Được thành lập từ năm 2006 bởi những người sáng lập là chuyên gia về thị thực xuất nhập cảnh. Với trụ sở chính tại Hà Nội và các chi nhánh dịch vụ ở Thành phố Hồ Chí Minh, Thái Nguyên, Lào Cai, và các trung tâm bổ sung tại các tỉnh, thành phố quan trọng của quốc gia. VISANGON cùng Greencanal Travel là một trong những tên tuổi lớn nhất và có uy tín nhất trong lĩnh vực Thị thực ở Việt Nam. Với lịch sử hoạt động lâu dài, VISANGON đã gây dựng và có được một đội ngũ chuyên gia tận tâm, sẵn sàng đưa ra nhiều phương án để giải quyết tốt nhất vấn đề mà người nước ngoài đang gặp phải.
    • VISANGON với tư cách là Đại diện được ủy quyền của người nước ngoài ở Việt Nam, theo luật xuất nhập cảnh của Việt Nam cho phép được đại diện cho các cá nhân là người nước ngoài trong và ngoài nước xin visa xuất nhập cảnh và các giấy tờ cư trú Việt Nam trước các cơ quan, cục xuất nhập cảnh ở tỉnh và thành phố.
    • Chúng tôi sử dụng kinh nghiệp và nghiệp vụ được tích lũy hơn 12 năm để điều hành dịch vụ thị thực xuất nhập cảnh tốt nhất ở Việt Nam với tiêu chí phát triển Công ty dựa trên sự an tâm và tin tưởng của khách hàng, các đối tác.

    Lợi ích khi sử dụng dịch vụ visa nhập cảnh Việt Nam VISANGON

    Được tư vấn và giải đáp mọi thắc mắc miễn phí

    • Hotline hỗ trợ 24/7 qua (Tel/zalo/whatsapp): (+84)904 386 229 – (+84)917 163 993.
    • Email: [email protected]

    Dịch vụ tiết kiệm chi phí:

    • Làm tự túc có thể khiến bạn gặp rủi ro và tốn kém chi phí không được hoàn lại. Với VISANGON, thông thường bạn trả tiền khi bạn đã nhận được kết quả trong tay, chúng tôi không tính phí cho bạn trước tất cả các khoản phí. Tuy nhiên trong một số trường hợp đặc biệt, yêu cầu đóng trước một khoản phí là bắt buộc để có lợi cho công việc, và chúng tôi cũng hết sức hạn chế.
    • Dịch vụ visa nhập cảnh cho người nước ngoài của VISANGON là trực tiếp, không qua trung gian nên bạn chỉ phải bỏ ra một chi phí rất nhỏ là có thể yên tâm và hài lòng về kết quả đạt được.

    Bảo mật thông tin cá nhân

    • VISANGON luôn cam kết bảo vệ quyền riêng tư và bảo mật thông tin cá nhân của khách hàng.

    Đáp ứng thời gian nhanh gọn

    • Các dịch vụ đáng tin cậy, nhanh chóng, an toàn và hiệu quả của chúng tôi giúp cho người nước ngoài ở nhiều quốc gia sẽ không bao giờ lỡ chuyến đi vì giấy tờ không đầy đủ hoặc không tuân thủ hầu hết các yêu cầu gần đây.
    • Các yêu cầu xử lý gấp về thời gian, nhanh khẩn chỉ 1-3 ngày của bạn sẽ được đáp ứng khi bạn lựa chọn sử dụng Dịch vụ cấp tốc cấp độ 1.

    Dịch vụ thị thực cho người nước ngoài của VISANGON

    • Xin thị thực nhập cảnh vào Việt Nam là bắt buộc đối với người nước ngoài nằm trong số các nước không được miễn visa du lịch ngắn hạn. Việc chọn loại thị thực phù hợp, hiểu về các loại thị thực và thời gian lưu trú, hiểu quy trình cách thức xin thị thực là một vấn đề phức tạp nếu bạn chưa quen với các yêu cầu.
    • Mục tiêu của VISANGON là làm cho việc xuất nhập cảnh vào Việt Nam của bạn trở nên đơn giản nhất có thể. Nghe tư vấn từ những chuyên gia giàu kinh nghiệm của chúng tôi là cách để bạn chọn đúng loại visa phù hợp với mục đích nhập cảnh, nhận những lời khuyên chính xác cho từng quốc tịch, đồng thời hướng dẫn nghiệp vụ cần thiết để đạt kết quả nhanh nhất.
    • Các chuyên gia của VISANGON tận tâm làm tất cả các nghiệp vụ hồ sơ, chịu trách nhiệm đối với thị thực nhập cảnh và lưu trú của bạn. Dịch vụ thị thực của chúng tôi luôn cập nhật các nghị định, chính sách thị thực  nhập cư Việt Nam mới nhất để có ngay giải pháp thiết thực hỗ trợ mọi nhu cầu.

    1. Dịch vụ visa nhập cảnh Việt Nam:

    • Duyệt Công văn nhập cảnh.
      • Thời hạn visa Việt Nam 1 tháng giá chỉ từ 18USD cho quốc tịch thường, thời hạn 3 tháng nhập cảnh nhiều lần và quốc tịch khó vui lòng liên hệ qua Tel/Zalo/whatsapp: (+84)904 386 229, hoặc gửi email tới [email protected]
    • Dán thị thực khi đến (Vietnam Visa on arrival). Các loại visa cho người Việt Nam và nước ngoài về thăm thân, du lịch, công tác, kinh doanh, đầu tư,… với thời hạn từ 1- 3 tháng, nhập cảnh 1 lần, nhiều lần.
    • Miễn thị thực 5 năm dành cho người Việt Nam sống ở nước ngoài và vợ, chồng con, cái mang quốc tịch nước ngoài của người đó.

    2. Dịch vụ visa cho người nước ngoài đi các nước:

    • Visa cho người nước ngoài đi các nước trong khu vực châu Á, Trung Đông, Châu Âu, Mỹ, Anh, Úc, Canada, v..v …
    • Yêu cầu cần có visa Việt Nam còn hạn, hoặc thẻ tạm trú, hoặc Work Permit còn hạn.

    3. Dịch vụ thị thực lưu trú ở Việt Nam.

    • Giấy phép lao động.
    • Thẻ tạm trú.
    • Visa cho thuyền viên người nước ngoài.

    4. Dịch vụ gia hạn visa Việt Nam.

    • Gia hạn thị thực nhập cảnh Việt Nam loại du lịch, công tác, thăm thân.
    • Gia hạn giấy phép lao động.
    • Gia hạn thẻ tạm trú.
    • Gia hạn miễn thị thực 5 năm.

    5. Xử lý quá hạn visa Việt Nam cho người nước ngoài.

    • Xin visa xuất cảnh
    • Xử lý gia hạn visa Việt Nam quá hạn.

    Cam kết của chúng tôi.

    Chịu trách nhiệm cho visa nhập cảnh vào Việt Nam và xuất cảnh, thị thực lưu trú Việt Nam ngắn hạn và dài hạn, chúng tôi rất coi trọng nhiệm vụ của mình. Cam kết của chúng tôi là cung cấp cho bạn dịch vụ chuyên nghiệp, uy tín, hiệu quả cao dựa trên kế hoạch của bạn tới Việt Nam. Chúng tôi sẽ thường xuyên liên lạc và cập nhật cho bạn tình trạng hồ sơ và tiến trình giải quyết đơn xin thị thực của bạn khi được nộp cho Cục quản lý xuất nhập cảnh tại Việt Nam.

    VISANGON là một công ty chuyên giúp bạn lấy visa. Chúng tôi không phải là Đại sứ quán và chúng tôi không cấp thị thực. Chúng tôi hỗ trợ bạn trong việc xử lý đơn xin thị thực của bạn để đạt kết quả mong muốn theo cách đơn giản dễ dàng nhất.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Visa Cho Người Nước Ngoài Tại Việt Nam
  • Bia Sagota Thành Thương Hiệu Đồ Uống Tiêu Biểu Của Du Lịch Việt Nam
  • Ngành Du Lịch Hành Động Để Tháo Gỡ Khó Khăn Do Covid
  • Nắm Bắt Hình Dịch Covid
  • Học Từ Vựng Tiếng Nhật Chủ Đề: Du Lịch
  • Gia Hạn Visa Tại Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Gia Hạn Visa Hết Hạn Quá Hạn Cho Người Nước Ngoài 2022
  • 4 Bước Gia Hạn Visa Du Lịch Úc Quá Dễ Dàng
  • Những Điều Cần Biết Về Xin Visa Úc Online
  • Khu Khách Sạn Ao Vua Resort Ba Vì – Hà Nội
  • Thuê Xe 16 Chổ Siêu Rẻ Đà Nẵng: Du Lịch, Công Tác, Cưới Hỏi【2021】
  • Gia hạn visa có 3 loại là visa nhập cảnh theo dạng du lịch , visa nhập cảnh theo diện thương mại ngắn hạn và visa lao động

    1. Hiện tại có những hạn mức gia hạn visa như sau 

    – Gia hạn visa 1 tháng 1 lần cho người nước ngoài ở Việt Nam

    – Gia hạn visa 3 tháng 1 lần cho người nước ngoài ở Việt Nam

    – Gia hạn visa 3 tháng nhiều lần cho người nước ngoài ở Việt Nam

    – Gia hạn visa 6 tháng 1 lần cho người nước ngoài ở Việt Nam

    – Gia hạn visa 6 tháng nhiều lần cho người nước ngoài ở Việt Nam 

    – Gia hạn visa 1 năm cho người nước ngoài ở Việt Nam

     Đã bao giờ bạn quan tâm gia hạn 1 lần ( single ) và nhiều lần ( multi ) khác nhau như thế nào chưa

    Gia hạn 1 lần ( single extension ) tức là Visa của bạn có giá trị tại Việt Nam khi gia hạn, tuy nhiên một khi bạn rời khỏi Việt Nam visa của bạn tại sẽ hết hạn, khi đó nếu muốn quay trở lại Việt Nam, bạn sẽ phải làm Visa cấp mới từ đầu, tức là bạn phải tốn thêm một khoản phí nữa để làm Visa, mặc dù thời gian bạn gia hạn vẫn còn ( ví dụ  ngày 05/05/2014 bạn có gia hạn visa của mình 3 tháng 1 lần ( single extension ), sau 2 tháng sau tức là ngày 05/07/2014 bạn sang Campuchia để công tác, khi đó Visa của bạn gia hạn tại Việt Nam sẽ hết hạn, nếu ngày 09/07/2014 bạn muốn trở lại Việt Nam, bạn phải làm lại Visa cấp mới và đóng phí ). Tuy nhiên nếu trong thời gian gia hạn 3 tháng bạn chỉ ở và làm việc tại Việt Nam thì bạn nên sử dụng loại Gia hạn visa này, vì mức phí sẽ rẻ hơn.

    Gia hạn nhiều lần ( multi extension ) rất đơn giản, khi bạn sử dụng loại gia hạn này, bạn sẽ có thể xuất cảnh hoặc nhập cảnh tại Việt Nam tùy thích trong thời gian bạn gia hạn, Ví dụ như trên khi bạn gia hạn visa 3 tháng nhiều lần tại Việt Nam ngày 05/05/2014,  sau đó 2 tháng bạn có qua Campuchia công tác, khi trở về ngày 09/07/2014 bạn sẽ không phải làm bất cứ thủ tục gì khác, chỉ khi đến ngày 05/08/2014 visa của bạn hết hạn thì bạn mới phải tiếp tục gia hạn thêm. Đây là loại rất thích hợp cho những người thường có công việc đột xuất cũng như hay phải xuất nhập cảnh tại Việt Nam, tất nhiên thì mức phí có đắt hơn nhưng bạn sẽ tiết kiệm được khi phải XNC nhiều lần.

     Gia hạn visa tái nhập khi thời hạn visa của bạn tại Việt Nam nhiều hơn 6 tháng hoặc 1 năm, bạn sẽ có 2 hướng giải quyết

    –          Có thể tạm thời bạn xuất cảnh qua một nước nào đó gần Việt Nam như Lào hoặc Campuchia ( bằng đường bộ hoặc đường không ), trừ một số trường hợp bắt buộc phải xuất cảnh bằng đường hàng không sẽ do cục XNC quy định. Sau đó bạn sẽ thực hiện quy trình như bước đầu tiên, làm công văn nhập cảnh xin visa mới vào Việt Nam

    –         Nếu bạn có rất nhiều công việc và không thể ra ngoài Việt Nam, bạn vẫn có thể được gia hạn Visa tuy nhiên với hình thức này thì mức phí sẽ cao hơn.

    Tiếp theo nếu tiếp tục muốn công tác tại Việt Nam lâu dài thì bạn sẽ phải làm thẻ tạm trú ( resident card )

    Trường hợp khách nhập cảnh vào Việt Nam mà không có tạm trú thì chúng tôi có thể hỗ trợ để : Xác nhận tạm trú. 

     Ngoài ra còn có trường hợp được miễn thị thực 5 năm, các bạn có thể tìm hiều thông tin chi tiết hơn để xem mình có phải trong trường hợp này thì nên nộp đơn để xét duyệt.

    2. Gia hạn các nước TRUNG QUỐC, ẤN ĐỘ, các nước CHÂU PHI …..

    Vì sao có quy định này, do việc chính sách của Việt Nam không khuyến khích sự lưu trú của các công dân những quốc gia trên do vấn đề về an ninh, ngoại giao và 1 số vấn đề khác cho nên với các trường hợp này việc xin gia hạn visa  sẽ khó khăn hơn 1 chút . Để biết visa có thể được gia hạn hay không thì những Visa của người quốc tịch các nước này phải được đưa lên xét duyệt tại cục XNC . Tất nhiên mức phí đối với các visa của những quốc gia này cũng cao hơn những quốc tịch khác

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bảng Giá Gia Hạn Visa Việt Nam Cho Người Du Lịch Nước Ngoài
  • Thủ Tục Gia Hạn Visa Du Lịch Việt Nam 2022
  • Tôi Đã Gia Hạn Visa Lao Động Nhật Bản Trong Mùa Dịch Covid
  • Gia Hạn Visa Du Lịch Cho Người Nước Ngoài Cập Nhật 7/2020
  • Giải Quyết Nỗi Lo Của Bạn Về Gia Hạn Visa Nhật Bản
  • Du Lịch Mice Ở Việt Nam Đầy Tiềm Năng Trong Thời Hội Nhập

    --- Bài mới hơn ---

  • Thực Trạng Và Tiềm Năng Phát Triển Của Du Lịch Mice Tại Việt Nam
  • Tiềm Năng Phát Triển Du Lịch Mộc Châu
  • Du Lịch Mộc Châu Và Những Tiềm Năng Phát Triển
  • Thực Trạng Phát Triển Du Lịch Tại Khu Du Lịch Quốc Gia Mộc Châu
  • Nâng Cao Hiệu Quả Xúc Tiến, Quảng Bá Du Lịch Nghệ An
  • Du lịch MICE (du lịch sự kiện, hội nghị, hội thảo) là một loại hình du lịch xuất hiện từ lâu ở Việt Nam nhưng chưa hội tụ đủ điều kiện để phát triển. Tuy nhiên, thời gian gần đây, khi nước ta hội nhập cùng nền kinh tế thế giới thì MICE thực sự “bùng nổ” nhờ sự quan tâm chú ý, lựa chọn của các đối tác nước ngoài, bởi Việt Nam là một điểm đến hòa bình, an toàn, thân thiện và là môi trường đầu tư vô cùng hấp dẫn. Vậy du lịch MICE ở Việt Nam phát triển như thế nào? Mang đến cho khách du lịch những lợi ích gì?

    Tên đầy đủ của MICE là Meeting Incentive Conference Event, trong đó Meeting (hội họp), Incentive (khen thưởng), Convention (hội nghị, hội thảo) và Exhibition (triển lãm). Từ đó, du lịch MICE có nghĩa là loại hình du lịch kết hợp giữa hội thảo, hội nghị, khen thưởng, hội họp và triển lãm của các công ty, doanh nghiệp cho nhân viên, đối tác. MICE là sản phẩm du lịch tổng hợp của các sản phẩm du lịch đơn lẻ kết hợp với việc tổ chức và hạ tầng cơ sở nhất định.

    Các đoàn khách tham gia du lịch MICE thường là các đối tượng cao cấp hơn so với các đoàn khách du lịch thông thường và số lượng khá đông. Do vậy, phát triển du lịch MICE sẽ mang lại nguồn lợi rất lớn cho sự phát triển kinh tế.

    Khách du lịch MICE gồm khách trong nước và quốc tế. Ngoài phục vụ lợi ích cho ngành dịch vụ du lịch, MICE còn có tác động không nhỏ đến các ngành kinh tế khác. MICE mang đến hiệu quả tích cực nhờ lượng khách đông đúc và thường xuyên. Đặc điểm của các đoàn khách du lịch MICE là giàu có, sang trọng, mức tiêu dùng cao, sử dụng các dịch vụ cao cấp và thời gian lưu lại dài ngày.

    Một số loại hình du lịch MICE phổ biến hiện nay

    Là hoạt động do một công ty, tổ chức, tập thể lập ra để khen thưởng và khuyến khích các đội nhóm, cá nhân có thành tích làm việc nổi trội. Chi phí sẽ do công ty, tập thể chịu trách nhiệm chi trả. Khách tham gia không chỉ để dự họp mà còn vui chơi, thư giãn với những buổi vui chơi, tham quan.

    Là hoạt động hội nghị, hội thảo giữa các công ty với nhau để tiến hành trao đổi về việc đầu tư, hợp tác kinh doanh…

    MICE là những buổi hop mặt, hội thảo, khen thưởng kết hợp với du lịch, tham quan. (Nguồn: Internet)

    Đây cũng là thế mạnh của du lịch MICE. Hàng năm, các công ty, tổ chức, doanh nghiệp thường có các hội nghị, hội thảo với quy mô từ nhỏ đến lớn, và thậm chí là quy mô quốc tế nhằm bàn bạc các ý kiến riêng để đi đến thống nhất chung. Các hoạt động này được tổ chức trước thềm các sự kiện quốc tế, quốc gia tầm cỡ và bao gồm hai loại: convention orgnized by members và bid to hot a convention. Việc kết hợp giữa công việc và nghỉ ngơi thư giãn sẽ giúp hiệu quả công việc vượt trội.

    Những yếu tố cần thiết để phát triển du lịch MICE

    – Cơ sở hạ tầng đảm bảo chất lượng: Phòng ốc hiện đại, cao cấp, có trung tâm hội chợ triển lãm đạt tiêu chuẩn để tổ chức những sự kiện, hội họp, hội nghị quốc tế tầm cỡ.

    – Nguồn nhân lực phải được đào tạo bài bản, chuyên nghiệp để mang lại chất lượng phục vụ tốt nhất.

    – Địa điểm tổ chức du lịch MICE cần thay đổi đa dạng các kiểu để tạo sự thoải mái cho khách quan, nhất là những tập đoàn, tổ chức quan trọng.

    – Là điểm đến an toàn trên thế giới, thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài (đây là đối tượng quan trọng của du lịch MICE)…

    – Sở hữu các danh lam thắng cảnh tuyệt đẹp, có nhiều di sản văn hóa thế giới, ở mỗi tỉnh, thành phố đều có những nét đặc trưng độc đáo về lịch sử, văn hóa…

    Tiềm năng phát triển du lịch MICE ở Việt Nam

    Trong vài năm trở lại đây, nhu cầu du lịch MICE của du khách ngày càng tăng gia tăng, nhất là lượng khách đến Việt Nam thông qua du lịch MICE để tìm kiếm cơ hội đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh. Do đó, việc khai thác loại hình du lịch MICE hiệu quả không chỉ mang lại doanh thu trong lĩnh vực du lịch mà còn mở ra nhiều cơ hội để tiếp cận và phát triển kinh tế – xã hội thông qua các sự kiện hội nghị, hội thảo mang tính quốc tế.

    Sau những buổi họp mặt, vui chơi, tham quan giúp các thành viên trong tổ chức gần gũi nhau hơn. (Nguồn: Internet)

    Với cảnh quan thiên nhiên phong phú, mỹ miều, ấn tượng cùng văn hóa lịch sử đa dạng, lâu đời, nền chính trị ổn định, Việt Nam có nhiều ưu thế đẩy mạnh phát triển loại hình du lịch này. Hiện tại, TP. HCM và Hà Nội là hai thành phố trung tâm có khả năng khai thác thế mạnh này. Ở TP. HCM, du lịch MICE được xác định là một trong bốn loại hình du lịch chính cần chú trọng phát triển mạnh trong tương lai cùng với du lịch mua sắm, du lịch sinh thái và du lịch văn hóa. Còn thủ đô Hà Nội đã được bình chọn là một trong năm thành phố tốt nhất châu Á, thời gian qua, Hà Nội luôn được chọn để tổ chức các sự kiện lớn của khu vực và quốc tế, gắn kết với nhiều chương trình du lịch.

    Vui chơi và tham quan còn là thời gian thư giãn sau những buổi họp mặt, hội thảo. (Nguồn: Internet)

    Ngoài ra, nhờ sự ưu ái của tạo hóa về cảnh đẹp, cơ sở hạ tầng du lịch khá phát triển (khách sạn hạng sang, các trung tâm hội nghị đạt tiêu chuẩn quốc tế, hệ thống giao thông thuận tiện…), thành phố Nha Trang cũng có điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch MICE. Điển hình là sự lôi cuốn du khách quốc tế đến Nha Trang thông qua những sự kiện văn hóa như Festival biển, các cuộc thi nhan sắc trong nước, quốc tế. Hay Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long và thành phố ngàn hoa Đà Lạt cũng đang mở ra triển vọng mới về việc thu hút khách du lịch nội địa và quốc tế.

    Du lịch MICE ở Việt Nam cũng được chú ý nhiều hơn bởi chi phí khá rẻ, nhưng dịch vụ lại rất ổn định. Các chương trình du lịch trong nước vừa đưa du khách đến với những thắng cảnh đẹp, ấn tượng vừa có thể vui chơi, nghỉ dưỡng lại có nhiều không gian sang trọng để tổ chức những buổi họp mặt, hội nghị.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ttlv: Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch Lễ Hội Tại Huế
  • Lễ Hội Dân Gian Và Sự Phát Triển Du Lịch
  • Lào Cai Phát Triển Du Lịch Thông Minh
  • Phát Triển Du Lịch Lào Cai Xứng Tầm Lợi Thế, Tiềm Năng
  • Khái Niệm Phát Triển Sản Phẩm Du Lịch
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100