Top 11 # Hạn Chế Của Du Lịch Biển Việt Nam Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 3/2023 # Top Trend | Samthienha.com

Hạn Chế Của Du Lịch Biển Thái Bình

Du lịch biển Thái Bình bên cạnh những mảng sáng, đó là vẻ đẹp được thiên nhiên ưu đãi. Tuy có những thuận lợi song không thể không chỉ ra những tồn tại mà theo như cách nhận xét của chính các du khách là “nếu không khắc phục nhanh sẽ đánh mất cơ hội phát huy tiềm năng du lịch biển Thái Bình”.

Gạch đá ngổn ngang… Rác thải bừa bãi…hàng quán lộn xộn là những gì dễ bắt gặp khi đến khu du lịch sinh thái Cồn Vành.

Khách du lịch: rác ở đây nhiều quá, ô nhiễm môi trường, chẳng thấy có cái thùng rác nào.

Người bán hàng rong ở bãi biển cồn Vành: Tôi bán hàng ở đây nhiều lúc muốn đi vệ sinh cũng không có chỗ đi vệ sinh, đi xuống tít chỗ xa kia mới có mà nhiều lúc phải chờ nhau, khách ra hỏi nhà vệ sinh cũng không có.

Rất nhiều cái ” không có”, đó chính là nguyên nhân khiến cho bãi biển Cồn Vành chưa thể phát huy được hết những tiềm năng để thu hút khách du lịch. Mặc dù Ban quản lý khu du lịch sinh thái Cồn Vành cũng đã cố gắng khắc phục hạn chế, nhưng vẫn là chưa đủ.

Ông Tô Mạnh Biên – Ban quản lý khu du lịch sinh thái Cồn Vành: Bãi tắm Cồn Vành chưa được cấp nào ban hành quyết định cho khai thác sử dụng bãi tắm Cồn Vành, hầu hết bãi tắm do dân tự phát. Sau 10 năm bãi tắm hoạt động nhưng chưa có 1 công trình hạ tầng nào được xây dựng. Với diện tích gần 1.700ha, mà chúng tôi chỉ có 7 đồng chí nên cũng phải căng ra để thực hiện các nhiệm vụ.

Phát triển du lịch tự phát, thiếu tính định hướng, mạnh ai nấy làm. Khách ai nấy hưởng. Dịch vụ du lịch ăn theo đã kéo theo những hệ lụy. Đó là rác thải, là đuối nước, là mất an ninh trật tự. Theo thống kê từ năm 2010 đến nay đã xảy ra hơn 10 vụ chết đuối tại bãi biển Cồn Vành.

Khách du lịch: Ở đây không có nhân viên hướng dẫn gì, muốn hỏi chỗ nào biển sâu, biển nông nhưng không có, thấy mỗi cái biển cấm ở xa kia thôi. Mình tắm cũng không yên tâm lắm.

Không chỉ mô hình du lịch tại Cồn Vành thể hiện sự tự phát, thiếu bền vững, mà trên thực tế ngay cả những điểm đã được đầu tư khá bài bản như Khu du lich Cồn Đen, xã Thái Đô, huyện Thái Thụy. Dù đã đầu tư hàng trăm tỷ đồng cùng công sức, tâm huyết của chủ đầu tư, nhưng hoạt động du lịch ở đây cũng chỉ hoạt động hiệu quả trong vài tháng hè.

Ông Vũ Thành Trung – Giám đốc điều hành khu du lịch sinh thái Cồn Đen: Công ty cũng nắm bắt được hiện nay khách đi du lịch người ta không chỉ muốn tắm biển mà còn muốn hưởng thụ du lịch sinh thái nhưng mà hiện nay nguồn thu của công ty còn hạn chế đặc biệt là hệ thống giao thông, đường sá, hệ thống chỉ dẫn địa lý còn chưa có, khách đến đây còn bị lạc.

Trước thực trạng trên cần có những giải pháp kịp thời để khắc phục những tồn tại, và mở rộng phát triển du lịch sinh thái biển, để đa dạng hóa sản phẩm du lịch, tăng cường thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế./.

Gạch đá ngổn ngang… Rác thải bừa bãi…hàng quán lộn xộn là những gì dễ bắt gặp khi đến khu du lịch sinh thái Cồn Vành.

Khách du lịch: rác ở đây nhiều quá, ô nhiễm môi trường, chẳng thấy có cái thùng rác nào.

Người bán hàng rong ở bãi biển cồn Vành: Tôi bán hàng ở đây nhiều lúc muốn đi vệ sinh cũng không có chỗ đi vệ sinh, đi xuống tít chỗ xa kia mới có mà nhiều lúc phải chờ nhau, khách ra hỏi nhà vệ sinh cũng không có.

Rất nhiều cái ” không có”, đó chính là nguyên nhân khiến cho bãi biển Cồn Vành chưa thể phát huy được hết những tiềm năng để thu hút khách du lịch. Mặc dù Ban quản lý khu du lịch sinh thái Cồn Vành cũng đã cố gắng khắc phục hạn chế, nhưng vẫn là chưa đủ.

Ông Tô Mạnh Biên – Ban quản lý khu du lịch sinh thái Cồn Vành: Bãi tắm Cồn Vành chưa được cấp nào ban hành quyết định cho khai thác sử dụng bãi tắm Cồn Vành, hầu hết bãi tắm do dân tự phát. Sau 10 năm bãi tắm hoạt động nhưng chưa có 1 công trình hạ tầng nào được xây dựng. Với diện tích gần 1.700ha, mà chúng tôi chỉ có 7 đồng chí nên cũng phải căng ra để thực hiện các nhiệm vụ.

Phát triển du lịch tự phát, thiếu tính định hướng, mạnh ai nấy làm. Khách ai nấy hưởng. Dịch vụ du lịch ăn theo đã kéo theo những hệ lụy. Đó là rác thải, là đuối nước, là mất an ninh trật tự. Theo thống kê từ năm 2010 đến nay đã xảy ra hơn 10 vụ chết đuối tại bãi biển Cồn Vành.

Khách du lịch: Ở đây không có nhân viên hướng dẫn gì, muốn hỏi chỗ nào biển sâu, biển nông nhưng không có, thấy mỗi cái biển cấm ở xa kia thôi. Mình tắm cũng không yên tâm lắm.

Không chỉ mô hình du lịch tại Cồn Vành thể hiện sự tự phát, thiếu bền vững, mà trên thực tế ngay cả những điểm đã được đầu tư khá bài bản như Khu du lich Cồn Đen, xã Thái Đô, huyện Thái Thụy. Dù đã đầu tư hàng trăm tỷ đồng cùng công sức, tâm huyết của chủ đầu tư, nhưng hoạt động du lịch ở đây cũng chỉ hoạt động hiệu quả trong vài tháng hè.

Ông Vũ Thành Trung – Giám đốc điều hành khu du lịch sinh thái Cồn Đen: Công ty cũng nắm bắt được hiện nay khách đi du lịch người ta không chỉ muốn tắm biển mà còn muốn hưởng thụ du lịch sinh thái nhưng mà hiện nay nguồn thu của công ty còn hạn chế đặc biệt là hệ thống giao thông, đường sá, hệ thống chỉ dẫn địa lý còn chưa có, khách đến đây còn bị lạc.

Trước thực trạng trên cần có những giải pháp kịp thời để khắc phục những tồn tại, và mở rộng phát triển du lịch sinh thái biển, để đa dạng hóa sản phẩm du lịch, tăng cường thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế./.

9 Hạn Chế Khi Thực Hiện Chiến Lược Biển Việt Nam Đến Năm 2022

Sau 10 năm thực hiện Nghị quyết 09 về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, công tác quản lý và khai thác tài nguyên, môi trường biển đã đạt được những kết quả nhất định, song việc thực hiện Chiến lược biển này còn bộc lộ những hạn chế, yếu kém. chúng tôi Nguyễn Chu Hồi, Thành viên Ban chỉ đạo Diễn đàn Đại dương toàn cầu (GOF), nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam chỉ ra 9 hạn chế cơ bản.

Phương thức khai thác biển chủ yếu vẫn dưới hình thức sản xuất và đầu tư nhỏ, sử dụng công nghệ lạc hậu.

Cơ chế chính sách thiếu đồng bộ

Thứ nhất, nhận thức về vai trò, vị trí của biển và kinh tế biển của các cấp, các ngành, các địa phương ven biển và người dân còn chưa đầy đủ; vẫn còn có những quan niệm khác nhau về kinh tế biển; chưa coi trọng tính liên kết giữa các mảng không gian kinh tế biển và các vùng kinh tế biển-ven biển-đảo.

Thứ hai, quy mô kinh tế biển còn nhỏ bé, phát triển chưa tương xứng với tiềm năng; cơ cấu ngành nghề chưa hợp lý; chưa chuẩn bị điều kiện để vươn ra vùng biển quốc tế (đại dương), trong khi Đảng ta đã thừa nhận luận điểm của thời đại – “Thế kỷ XXI là thế kỷ của đại dương” trong Chiến lược biển 2020.

Theo các tính toán, quy mô kinh tế (GDP) biển và vùng ven biển (huyện, thị ven biển) Việt Nam năm 2005 bình quân đạt khoảng 48% GDP cả nước, trong đó GDP của kinh tế “thuần biển” đạt khoảng 22% tổng GDP cả nước. Trong các năm 2010-2017, GDP của kinh tế biển và ven biển có chiều hướng giảm (năm 2010 khoảng 40,73%, năm 2015 – 32,55% và 2017 – khoảng 30,19%); GDP của kinh tế thuần biển cũng giảm dần xuống 17% (2013), 13% (2017) và khả năng năm 2018 còn tiếp tục xuống thấp.

Công tác quy hoạch không gian biển, cơ sở hạ tầng các vùng biển, ven biển và đảo còn yếu kém, lạc hậu, manh mún, thiết bị chưa đồng bộ nên hiệu quả sử dụng thấp, chưa góp phần tạo ra liên kết vùng trong phát triển: giữa các cảng biển, thiếu hệ thống đường bộ cao tốc chạy dọc ven biển để nối liền các thành phố, khu kinh tế, khu công nghiệp và sân bay ven biển nhỏ bé thành một hệ thống kinh tế biển liên hoàn.

Hội chứng phát triển “tràn lan” các khu kinh tế ven biển đang hiện hữu ở nước ta, khiến cho đầu tư dàn trải, khó có thể tạo ra ‘đột phá’ trong phát triển. Trong mô hình phát triển các khu kinh tế ven biển nói riêng và kinh tế biển nói chung thiếu “đầu tàu”, chưa thực sự áp dụng quy luật lan tỏa trong phát triển; thể chế chưa rõ ràng, chưa tôn trọng ‘tính phổ quát’ của luật các khu kinh tế “mở”.

Kinh tế biển 10 năm qua vẫn dựa chủ yếu vào “kinh tế khai thác”, phụ thuộc vào nguồn tài nguyên biển đang giảm sút nhanh chóng; chưa làm rõ quan niệm về kinh tế biển và kinh tế dựa vào biển nên còn lúng túng trong việc xác định các không gian kinh tế biển, tính liên kết của các ‘mảng’ không gian kinh tế biển – ven biển – đảo, cũng như việc theo dõi, thống kê và kiểm soát phát triển kinh tế biển.

Thứ ba, hệ thống các cơ sở nghiên cứu khoa học – công nghệ biển, đào tạo nguồn nhân lực cho kinh tế biển; các cơ sở quan trắc, dự báo, cảnh báo biển, thiên tai biển, các trung tâm tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn… ở ven biển còn nhỏ bé, trang bị thô sơ, năng lực yếu kém; phân tán, nhiệm vụ chồng chéo và chỉ tập trung ở các thành phố lớn, chưa thực hiện đúng yêu cầu của chiến lược là cần thành lập ở các tỉnh/thành phố ven biển.

Các hoạt động nghiên cứu biển chất lượng còn yếu, tập trung chủ yếu ở vùng ven biển và biển ven bờ, đặc biệt chưa chú ý nghiên cứu và chuyển giao công nghệ biển tiên tiến, hiện đại trong bối cảnh của Cách mạng công nghiệp 4.0. Nguồn nhân lực biển chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội vùng biển và ven biển, đặc biệt chưa chuẩn bị nguồn lực và trình độ công nghệ để sớm vươn ra đại đương – nơi quốc gia có biển và không có biển đều có quyền ra khai thác.

Khai thác, quản lý kinh tế biển chưa hiệu quả

Thứ tư, tình hình khai thác, sử dụng biển và đảo chưa hiệu quả, thiếu bền vững do khai thác tự phát, thiếu/không tuân thủ quy hoạch biển, đảo, làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn lợi ích và xung đột không gian trong sử dụng đa ngành ở vùng ven biển, biển, đảo, gây lãng phí lớn tài nguyên biển.

Phương thức khai thác biển chủ yếu vẫn dưới hình thức sản xuất và đầu tư nhỏ, sử dụng công nghệ lạc hậu. Còn nghiêng về ưu tiên khai thác tài nguyên biển ở dạng vật chất, không tái tạo, các giá trị chức năng, phi vật chất và có khả năng tái tạo của các hệ thống tài nguyên biển còn ít được chú trọng, như: giá trị vị thế của các mảng không gian biển, ven biển và đảo; giá trị dịch vụ của các hệ sinh thái; thậm chí các giá trị văn hóa biển.

Cách tiếp cận ‘nóng’ trong khai thác tài nguyên biển đang là hiện tượng phổ biến ở các lĩnh vực kinh tế biển: chú trọng nhiều đến tổng sản lượng, số lượng, ít chú ý đến chất lượng và lợi ích lâu dài của các dạng tài nguyên.

Thứ sáu, đa dạng sinh học biển  – đầu vào của các hoạt động kinh tế dựa vào bảo tồn, như kinh tế thủy sản, du lịch biển và nguồn lợi thuỷ hải sản đang giảm sút nghiêm trọng, thiếu bền vững. Rừng ngập mặn mất khoảng 15.000 ha/năm, khoảng 80% rạn san hô trong vùng biển Việt Nam nằm trong tình trạng rủi ro, trong đó 50% ở mức cao, tình trạng trên cũng diễn ra tương tự với thảm cỏ biển và các hệ sinh thái biển – ven biển khác.

Trong vùng biển nước ta đã có khoảng 100 loài hải sản có mức độ nguy cấp khác nhau và trên 100 loài đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam. Nguồn lợi hải sản có xu hướng giảm dần về trữ lượng, sản lượng và kích thước cá đánh bắt (trữ lượng hải sản giảm 16%, trong khi trữ lượng hải sản ở vùng biển xa bờ chưa được đánh giá đầy đủ). Nguồn lợi hải sản ở vùng biển gần bờ có dấu hiệu bị khai thác quá mức do tăng nhanh số lượng tàu thuyền đánh cá nhỏ, hiệu suất khai thác hải sản giảm từ 0,92 (1990) xuống 0,32 tấn/CV/năm (2015).

Khai thác hải sản bất hợp pháp, không có báo cáo và không theo quy định (IUU) có những tác động xấu ở cả trong lẫn ngoài vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia và nếu không được khắc phục sẽ gây ra hiệu ứng domino, không chỉ ảnh hưởng đến sinh kế của ngư dân, kinh tế ngành thủy sản mà còn ảnh ảnh hưởng đến khả năng ‘hiện diện dân sự’ trên biển. 

Thứ bảy, đến nay biển, đảo và vùng ven biển nước ta vẫn chủ yếu được quản lý theo cách tiếp cận mở kiểu “điền tư, ngư chung” và chủ yếu quản lý theo ngành. Thiếu các luật cơ bản về biển để thực thi hiệu quả công tác quản lý nhà nước tổng hợp và thống nhất về biển, đảo. Điều này dẫn đến sự chồng chéo về quản lý giữa khoảng 15 bộ ngành về biển; chính sách và pháp luật về quản lý biển thiếu đồng bộ; trong các luật hiện có không ít điểm chồng chéo, hiệu lực thi hành thấp.

Sự tham gia của cộng đồng địa phương và các doanh nghiệp vào tiến trình quản lý còn rất thụ động, chưa làm rõ vấn đề sở hữu/sử dụng đất ven biển và mặt nước biển cho người dân địa phương ven biển. Công tác kiểm tra, kiểm soát, cấp và thu hồi giấy phép sử dụng, khai thác tài nguyên biển…chậm được triển khai để thực hiện chủ trương ‘kinh tế hóa’ trong lĩnh vực quản lý biển và tài nguyên biển.

Thứ tám, công tác quốc phòng, an ninh trên biển còn có mặt hạn chế. Khả năng phối hợp giữa các lực lượng để tạo sức mạnh tổng hợp, tạo thế trận liên hoàn trên biển để bảo vệ các quyền và lợi ích quốc gia trên Biển Đông; để quản lý, bảo vệ tài nguyên và môi trường biển cần tiếp tục tăng cường một cách hiệu quả.

Thứ chín, đời sống của người dân ven biển và trên đảo, người lao động trên biển còn khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo tăng (năm 2014 có 320 xã bãi ngang nghèo trong khi năm 2004 chỉ có 157 xã bãi ngang nghèo), không đáp ứng chỉ tiêu của Chiến lược biển 2020. Thu nhập bình quân đầu người của 28 tỉnh, thành phố trung ương ven biển tăng gấp 4,84 lần trong các năm 2007-2016, cao hơn mức tăng trung bình chung của cả nước. Tuy nhiên, số thu nhập tuyệt đối bình quân của người dân vẫn thấp hơn trung bình cả nước.

Nguyên nhân chính của những hạn chế trên là do 10 năm qua, ngân sách nhà nước đầu tư cho vùng ven biển và đảo tăng nhưng lại chủ yếu cho các công trình hạ tầng, cho phúc lợi xã hội hạn chế; khả năng đầu tư của ngoài nhà nước rất hạn chế. Bên cạnh đó, xuất phát điểm sinh kế và thu nhập của người dân ven biển, đảo rất thấp so với mức trung bình cả nước vào thời điểm trước khi ban hành chiến lược (2006), do đó, cần thời gian để thay đổi./.

Gia Hạn Visa Tại Việt Nam

Gia hạn visa có 3 loại là visa nhập cảnh theo dạng du lịch , visa nhập cảnh theo diện thương mại ngắn hạn và visa lao động

1. Hiện tại có những hạn mức gia hạn visa như sau 

– Gia hạn visa 1 tháng 1 lần cho người nước ngoài ở Việt Nam

– Gia hạn visa 3 tháng 1 lần cho người nước ngoài ở Việt Nam

– Gia hạn visa 3 tháng nhiều lần cho người nước ngoài ở Việt Nam

– Gia hạn visa 6 tháng 1 lần cho người nước ngoài ở Việt Nam

– Gia hạn visa 6 tháng nhiều lần cho người nước ngoài ở Việt Nam 

– Gia hạn visa 1 năm cho người nước ngoài ở Việt Nam

 Đã bao giờ bạn quan tâm gia hạn 1 lần ( single ) và nhiều lần ( multi ) khác nhau như thế nào chưa

Gia hạn 1 lần ( single extension ) tức là Visa của bạn có giá trị tại Việt Nam khi gia hạn, tuy nhiên một khi bạn rời khỏi Việt Nam visa của bạn tại sẽ hết hạn, khi đó nếu muốn quay trở lại Việt Nam, bạn sẽ phải làm Visa cấp mới từ đầu, tức là bạn phải tốn thêm một khoản phí nữa để làm Visa, mặc dù thời gian bạn gia hạn vẫn còn ( ví dụ  ngày 05/05/2014 bạn có gia hạn visa của mình 3 tháng 1 lần ( single extension ), sau 2 tháng sau tức là ngày 05/07/2014 bạn sang Campuchia để công tác, khi đó Visa của bạn gia hạn tại Việt Nam sẽ hết hạn, nếu ngày 09/07/2014 bạn muốn trở lại Việt Nam, bạn phải làm lại Visa cấp mới và đóng phí ). Tuy nhiên nếu trong thời gian gia hạn 3 tháng bạn chỉ ở và làm việc tại Việt Nam thì bạn nên sử dụng loại Gia hạn visa này, vì mức phí sẽ rẻ hơn.

Gia hạn nhiều lần ( multi extension ) rất đơn giản, khi bạn sử dụng loại gia hạn này, bạn sẽ có thể xuất cảnh hoặc nhập cảnh tại Việt Nam tùy thích trong thời gian bạn gia hạn, Ví dụ như trên khi bạn gia hạn visa 3 tháng nhiều lần tại Việt Nam ngày 05/05/2014,  sau đó 2 tháng bạn có qua Campuchia công tác, khi trở về ngày 09/07/2014 bạn sẽ không phải làm bất cứ thủ tục gì khác, chỉ khi đến ngày 05/08/2014 visa của bạn hết hạn thì bạn mới phải tiếp tục gia hạn thêm. Đây là loại rất thích hợp cho những người thường có công việc đột xuất cũng như hay phải xuất nhập cảnh tại Việt Nam, tất nhiên thì mức phí có đắt hơn nhưng bạn sẽ tiết kiệm được khi phải XNC nhiều lần.

 Gia hạn visa tái nhập khi thời hạn visa của bạn tại Việt Nam nhiều hơn 6 tháng hoặc 1 năm, bạn sẽ có 2 hướng giải quyết

–          Có thể tạm thời bạn xuất cảnh qua một nước nào đó gần Việt Nam như Lào hoặc Campuchia ( bằng đường bộ hoặc đường không ), trừ một số trường hợp bắt buộc phải xuất cảnh bằng đường hàng không sẽ do cục XNC quy định. Sau đó bạn sẽ thực hiện quy trình như bước đầu tiên, làm công văn nhập cảnh xin visa mới vào Việt Nam

–         Nếu bạn có rất nhiều công việc và không thể ra ngoài Việt Nam, bạn vẫn có thể được gia hạn Visa tuy nhiên với hình thức này thì mức phí sẽ cao hơn.

Tiếp theo nếu tiếp tục muốn công tác tại Việt Nam lâu dài thì bạn sẽ phải làm thẻ tạm trú ( resident card )

Trường hợp khách nhập cảnh vào Việt Nam mà không có tạm trú thì chúng tôi có thể hỗ trợ để : Xác nhận tạm trú. 

 Ngoài ra còn có trường hợp được miễn thị thực 5 năm, các bạn có thể tìm hiều thông tin chi tiết hơn để xem mình có phải trong trường hợp này thì nên nộp đơn để xét duyệt.

2. Gia hạn các nước TRUNG QUỐC, ẤN ĐỘ, các nước CHÂU PHI …..

Vì sao có quy định này, do việc chính sách của Việt Nam không khuyến khích sự lưu trú của các công dân những quốc gia trên do vấn đề về an ninh, ngoại giao và 1 số vấn đề khác cho nên với các trường hợp này việc xin gia hạn visa  sẽ khó khăn hơn 1 chút . Để biết visa có thể được gia hạn hay không thì những Visa của người quốc tịch các nước này phải được đưa lên xét duyệt tại cục XNC . Tất nhiên mức phí đối với các visa của những quốc gia này cũng cao hơn những quốc tịch khác

 

Top 10 Bãi Biển Du Lịch Nổi Tiếng Của Việt Nam

Bãi Sao là một trong những bờ biển ở phía Bắc của đảo Phú Quốc vẫn chưa được biết đến nhiều, bởi vậy nơi đây vẫn còn khá hoang sơ. Tuy nhiên, bãi Sao chắc chắn là một trong những bãi biển đẹp nhất Phú Quốc có bờ cát trắng trải dài, rực rỡ và quyến rũ với mặt nước trong vắt, yên ả.

Nha Trang là một thành phố ven biển ở phía Nam được công nhận là địa điểm du lịch biển hàng đầu của Việt Nam với 6km bờ cát trải dài cùng những con sóng xanh biếc cuốn hút.

Bãi biển Hòn Chồng nằm ở phía Bắc của Nha Trang, đây là một quần thể có khối đá lớn với đủ loại hình thù, được xếp chồng lên nhau chạy từ bờ cao xuống biển giống như có một bàn tay khổng lồ đã tạo dựng trong một trò chơi xếp hình tinh nghịch.

Mặc dù ít được biết đến hơn bãi biển thành phố nhưng hòn Chồng là một điểm đến tuyệt vời để nghỉ lại, ngắm nhìn vẻ đẹp của thành phố và vịnh biển ở phía ngoài xa.

Biển Mỹ Khê ở Quảng Ngãi với 6km đường bờ biển có bãi cát mềm mại và được bao phủ bởi rặng phi lao dày đặc. Đây là nơi rất thích hợp cho việc bơi lội, có mặt nước biển luôn trong xanh, ấm áp.

Đến với Mỹ Khê, bên cạnh việc nghỉ ngơi, tắm biển và hít thở bầu không khí trong lành, du khách còn có cơ hội được tham quan tưởng niệm khu chứng tích chiến tranh Sơn Mỹ.

Từ phố cổ Hội An, du khách có thể đến bãi biển Cửa Đại bằng ô tô hay xe ôm. Nơi đây nổi tiếng với bờ cát trắng sạch sẽ. Du khách có thể thuê một chiếc ô và ghế nằm từ các nhà hàng dọc bờ biển để vui đùa và ngắm nhìn khung cảnh hoàng hôn tuyệt vời ở Cù Lao Chàm phía xa xa.

Nằm ở phía Bắc của thành phố Phan Rang, bãi biển Ninh Chữ có bờ cát trắng hình cung dài 10 km với nước biển trong xanh, cát trắng mịn và không khí trong lành, quanh năm sóng vỗ rì rào…

Buổi sáng ở Ninh Chữ, du khách sẽ thấy sự rộn rã, hối hả của cuộc sống ngư dân làng chài, đến khi chiều về, nơi đây lại hiền hòa, dung dị biết bao.

Quy Nhơn là một thành phố biển khá nhỏ, được bao bọc bởi bãi biển đẹp và hoang sơ. Đối với du khách thích mạo hiểm thì đây là một điểm đến tuyệt vời không nên bỏ qua.

Biển Đồi Dương là một trong những bãi tắm đẹp của thành phố Phan Thiết với những hàng phi lao chạy dọc bờ biển. Đồi Dương vẫn duy trì vẻ đẹp hoang sơ, bình dị bởi nơi đây không được quan tâm đầu tư như biển Mũi Né nên chưa được biết đến nhiều.

Vịnh Hạ Long là một trong những điểm du lịch biển hấp dẫn nhất của Việt Nam thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước. Từ tháng mười một đến tháng ba, thời tiết ở đây se lạnh và mưa phùn có thể ảnh hưởng đến cảm nhận của khách du lịch. Tuy nhiên, trong những tháng hè du khách sẽ được thưởng ngoạn phong cảnh tuyệt vời của nơi đây.

Đảo Quan Lạn được biết đến là điểm du lịch biển đẹp, hấp dẫn du khách bởi không gian trong xanh cùng cảnh quan nguyên sơ và không khí trong lành thuộc vùng vịnh Bái Tử Long nằm ở rìa phía ngoài của vịnh Hạ Long, đây là tuyến đảo nằm phía ngoài cùng của vịnh Bắc Bộ.

Nơi này trải dài theo hướng đông tây, từ chân dãy núi Vân Đồn tới núi Gót với những ngọn núi cao ở phía đông đã tạo nên một bức tường thành ngăn sóng gió từ biển khơi bảo vệ cho cư dân.