Thực Trạng Du Lịch Việt Nam Hiện Nay

--- Bài mới hơn ---

  • Báo Cáo Thực Tập Công Ty Du Lịch Việt Nam Tại Hà Nội
  • Vì Sao 70% Khách Du Lịch Đến Việt Nam ‘một Đi Không Trở Lại’?
  • Du Lịch Việt Nam Một Mình, Tại Sao Không?
  • Đi Úc Nên Mua Mỹ Phẩm Gì ?
  • Tháng 3 Nên Đi Du Lịch Ở Đâu? Top 20 Địa Điểm Nhất Định Phải Đến
  • Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, có tính chất liên ngành, liên vùng. Phát triển du lịch là nguồn động lực thúc đẩy và kéo theo sự phát triển của nhiều mặt khác nhau như: đầu tư, giải quyết việc làm, pháp luật,… Chính bởi vậy mà ngành này ngày càng có vị trí quan trọng đối với phát triển kinh tế, chính trị, xã hội. Bài viết nói về thực trạng du lịch Việt Nam hiện nay, qua ba nội dung chính: tiềm năng, thành tựu và khó khăn thách thức.

    Phải nói rằng, đất nước ta có tiềm năng rất lớn để phát triển du lịch. Tiềm năng đó thể hiện phong phú và đa dạng ở những khía cạnh sau:

    Di tích lịch sử – văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm, các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị văn hóa, lịch sử, hoa học. Một di tích khi đủ các điều kiện nhất định sẽ được công nhận là: di tích cấp tỉnh, di tích cấp quốc gia và di tích đặc biệt.

    Tính đến tháng 8 năm 2022, Việt Nam có hơn 40.000 di tích. Trong đó có hơn 3.300 di tích được xếp vào hạng di tích cấp quốc gia. Hơn 7.000 di tích cấp tỉnh và gần 100 di tích đặc biệt. Đây là một con số khá lớn không chỉ thể hiện bề dày lịch sử mà còn cả tiềm năng du lịch của Việt Nam.

    Danh thắng hay danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học.

    Với khí hậu và địa hình ở nước ta, danh lam thắng cảnh rất đa dạng:

      Vườn quốc gia: Việt Nam có 32 vườn quốc gia, nằm rải rác khắp mọi miền của tổ quốc. Các danh thắng này được công nhận chính thức thông qua văn bản pháp luật. Tính đến tháng 1 năm 2022, các vườn quốc gia được ghi nhận là: Ba Bể, Bái Tử Long, Hoàng Liên, Du Già – Cao nguyên đá Đồng Văn, Tam Đảo, Xuân Sơn, Ba Vì, Cát Bà, Phia Oắc – Phia Đén, Xuân Thủy, Cúc Phương, Bến En, Pù Mát, Vũ Quang, Phong Nha – Kẻ Bàng, Bạch Mã, Núi Chúa, Bidoup Núi Bà, Phước Bình, Chư Mom Ray, Chư Yang Sin, Kon Ka Kinh, Yok Đôn, Cát Tiên, Bù Gia Mập, Lò Gò – Xa Mát, Tràm Chim, Mũi Cà Mau, U Minh Hạ, U Minh Thượng, Phú Quốc, Côn Đảo. Trong đó, có 4 nơi được công nhận là Di sản ASEAN, 1 được công nhananj là di sản thiên nhiên thế giới (Phong Nha – Kẻ Bàng).
    • Hệ thống hang động của Việt Nam cũng rất phong phú, nằm chủ yếu ở phía bắc tổ quốc. Lý do ở đây là nơi tập trung nhiều dãy núi đá vôi lớn và hùng vĩ. Tổng số hang động được phát hiện ở nước ta lên tới gần 1000 động. Đa phần trong đó chưa được khai phá để thực hiện việc tham quan du lịch.
    • Bãi tắm: Việt Nam đứng thứ 27 trong số 156 quốc gia có biển trên thế giới với 125 bãi tắm biển, hầu hết là các bãi tắm đẹp. Việt Nam là 1/12 quốc gia có vịnh đẹp nhất thế giới là vịnh Hạ Long và vịnh Nha Trang.
    • Hệ thống ao, hồ cùng mạng lưới sông ngòi chằng chịt với gần 2360 con sông lớn nhỏ.
    • Suối nước nóng: Việt Nam có 400 nguồn suối nước nóng từ 40 – 120 độ C. Nhiều suối có cơ sở hạ tầng khá tốt như Đam Rông, Lâm Đồng; Kim Bôi, Hòa Bình; Bình Châu, Bà Rịa Vũng Tàu,…

    Nói đến văn hóa, không thể không nhắc tới lịch sử phát triển lâu dài của dân tộc. Trải qua nhiều biến cố thăng trầm, văn hóa Việt Nam vừa có những nét đặc trưng, vừa có sự kết hợp của nhiều luồng văn hóa khác nhau. Ngoài ra, nước ta có 54 dân tộc anh em cùng chung sống, mỗi dân tộc đều có những nét riêng biệt về đời sống, phong tục tập quán.

    Hai yếu tố này kết hợp với nhau tạo nên một sự đa dạng trong các hình thức nghệ thuật, âm nhạc. Các môn nghệ thuật sân khấu có thể kể đến như múa rối nước, chèo, tuồng, cải lương,… Về âm nhạc thì còn phong phú hơn với chầu văn, quan họ, ca trù, nhạc cung đình,…

    Sự hội nhập kinh tế thế giới và xu hướng toàn cầu hóa làm cho văn hóa nước ta mang cả nét truyền thống lẫn hiện đại.

    Lễ hội Việt Nam là sự kiện văn hóa được tổ chức mang tính cộng đồng. “Lễ” là hệ thống những hành vi, động tác nhằm biểu hiện sự tôn kính của con người với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện. “Hội” là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống.

    Theo thống kê 2009, hiện cả nước Việt Nam có 7.966 lễ hội; trong đó có 7.039 lễ hội dân gian (chiếm 88,36%), 332 lễ hội lịch sử (chiếm 4,16%), 544 lễ hội tôn giáo (chiếm 6,28%), 10 lễ hội du nhập từ nước ngoài (chiếm 0,12%), còn lại là lễ hội khác (chiếm 0,5%). Các địa phương có nhiều lễ hội là Hà Nội, Bắc Ninh, Hà Nam, Hải Dương và Phú Thọ.

    Liệt kê như vậy để thấy được rằng, Việt Nam thật sự có tiềm năng rất lớn để phát triển du lịch, đem về những lợi ích to lớn cho kinh tế. Tuy nhiên, thực trạng du lịch Việt Nam hiện nay đã thật sự tương xứng với tiềm lực này chưa?

    Trước tiên, thực trạng du lịch Việt Nam hiện nay đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể.

    Tốc độ tăng trưởng cao

    Ngành du lịch Việt Nam trong những năm vừa qua không chỉ phát triển vượt bậc mà còn rất ổn định và chắc chắn. Tốc độ tăng trưởng cao được thể hiện qua các số liệu tăng nhanh về lượt khách nước ngoài, nội địa, % GDP. Các số liệu này bạn có thể tìm thấy trên trang web của Tổng cục du lịch Việt Nam: vietnamtourism.gov.vn.

    Thu hút mạnh đầu tư

    Những năm vừa qua, hàng chục tỷ USD đầu tư trực tiếp nước ngoài và hơn 300.000 tỷ đồng đầu tư trong nước (với hơn 6.100 tỷ đồng đầu tư Ngân sách nhà nước từ năm 2006 đến nay) đã được đầu tư cho hạ tầng du lịch quốc gia, hình thành hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch hiện đại tại nhiều địa phương và hình thành rõ hơn các vùng động lực phát triển du lịch Việt Nam.

    Năm 2022, toàn ngành đang có 18.800 cơ sở lưu trú với hơn 355.000 buồng và 1.573 doanh nghiệp lữ hành quốc tế và hàng ngàn doanh nghiệp lữ hành nội địa, các cơ sở dịch vụ ăn uống, nhà hàng, cơ sở giải trí văn hóa, thể thao, hội nghị, triển lãm và nhiều loại hình dịch vụ mới ra đời, cải tạo, nâng cấp tại hầu hết các địa bàn phát triển du lịch trọng điểm. Đặc biệt, hàng trăm khách sạn, khu du lịch cao cấp được xây mới, hình thành hàng loạt cơ sở lưu trú (khách sạn và tổ hợp resort) cao cấp như: Intercontinental, JW Marriott, hệ thống khách sạn Mường Thanh, FLC, VinGroup, SunGroup…làm diện mạo ngành du lịch có những thay đổi căn bản.

    Kết cấu hạ tầng cũng như dịch vụ vận tải du lịch, nhất là hàng không và đường bộ, đang được xã hội hóa mạnh và ngày càng kết nối rộng rãi với các điểm đến trong và ngoài nước. Không quá khó để nhận ra sự phát triển này khi cụm từ “vé máy bay” được tìm kiếm ngày càng nhiều. Trong khi các hãng hàng không liên tục mở rộng và đưa ra nhiều các chương trình ưu đãi, kích thích thêm nhu cầu của đại đa số người dân. Ở Việt Nam hiện có 52 hãng hàng không quốc tế đến từ 25 quốc gia và vùng lãnh thổ, với 54 đường bay quốc tế, 48 đường bay nội địa kết nối.

    Những sự đầu tư này vừa khởi đầu từ sự phát triển của du lịch, vừa là một động lực mới kéo ngược trở lại nó.

    Hình thành các điểm đến, sản phẩm du lịch

    Thay vì chỉ tập trung vào một hay một số sản phẩm như du lịch văn hóa hay tâm linh, du lịch nước ta đã có sự cố gắng đa dạng hóa sản phẩm du lịch lên rất nhiều. Có thể kể đến như: nghỉ dưỡng, sinh thái, tâm linh, ẩm thực, thể thao mạo hiểm, hoạt động tập thể,… Tuy hầu hết là các sản phẩm mới nhưng đã được đánh giá cao nhờ sự đầu tư được nhắc tới ở trên.

    Về điểm đến: Các điểm đến ngày càng được mở rộng, không chỉ gói gọn trong các thành phố lớn và địa điểm du lịch nổi tiếng nữa.

    Giải quyết nhu cầu việc làm

    Khi một ngành nghề phát triển, đặc biệt là dịch vụ, sẽ đáp ứng được rất nhiều nhu cầu việc làm cho đại đa số người dân. Theo thống kê, sự phát triển của du lịch trong những năm vừa qua đã giải quyết hàng triệu việc làm cho người dân. Điều này còn làm tăng nhu nhập trung bình ở những vùng khó khăn, nâng cao chất lượng đời sống.

    Thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao

    Như đã nhắc đến ở trên, sự phát triển của du lịch đã góp phần giải quyết rất nhiều việc làm cho người dân. Tuy vậy, hầu hết các địa phương phát triển chưa đồng bộ. Các dịch vụ phát triển hầu hết là kinh tế gia đình. Chính vì thế, chất lượng phục vụ thấp, khó làm hài lòng các du khách. Một số vấn nạn còn tồn tại như tình trạng chặt chém, bám đuổi,… ảnh hưởng rất nhiều đến hình ảnh du lịch của đất nước.

    Ngoài ra, các công ty du lịch, lữ hành cũng chưa trang bị được phương tiện cũng như đội ngũ nhân viên, quản lý kinh nghiệm.

    Năng lực cạnh tranh kém

    Sản phẩm vẫn nghèo nàn, chưa có tính đột phát, chất lượng thấp

    Một điều đáng buồn là du lịch Việt Nam thường bị coi là “quanh đi quẩn lại chỉ có vậy”. Hầu hết lịch trình của du khách sẽ là đến tham quan, dạo một vòng xong là hết. Còn thiếu rất nhiều các dịch vụ, các hoạt động khác. Điều đó chúng ta chưa làm được. Nguyên nhân một phần xuất phát từ cơ sở hạ tầng chưa được đầu tư mạnh, một phần từ trình độ nhân lực chưa cao. Dù là gì, thì với những sản phẩm không đa dạng và chất lượng, sự cạnh tranh của du lịch Việt Nam bị giảm đi đáng kể.

    Nguồn lực đưa vào quảng bá chưa nhiều

    Truyền thông, quảng bá hình ảnh sản phẩm hiện nay là xu hướng không thể thiếu trong bất cứ ngành nghề nào. Du lịch cũng vậy. Thật khó để mọi người, đặc biệt là du khách nước ngoài biết đến đất nước con người Việt Nam nếu không được đầu tư về mặt quảng bá.

    Vấn đề ô nhiễm môi trường

    Chắc chắn rồi. Vấn đề ô nhiễm môi trường luôn đặt ra nhiều khó khăn, thách thức. Tình trạng xả rác bừa bãi vẫn diễn ra ở nhiều khu du lịch. Những hành động thiếu văn minh cũng ảnh hưởng nhiều đến cảnh quan, làm suy thoái nguồn tiềm lực.

    Bài viết này khá dài, với mong muốn cung cấp cho người đọc một cái nhìn rõ nhất về thực trạng du lịch Việt Nam hiện nay. Có thể thấy rằng, du lịch Việt Nam đã có những bước chuyển mình đáng kể, song vẫn là chưa đủ để khắc phục được hết những hạn chế tồn tại.

    công dụng của tỏi đen

    Điều quan trọng là, mỗi người trong chúng ta đều có thể đóng góp vào sự phát triển ấy. Bằng những hành động nhỏ, văn minh khi cung cấp và sử dụng những dịch vụ du lịch cũng như quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam.

    SĂN VÉ MÁY BAY NỘI ĐỊA – QUỐC TẾ GIÁ RẺ TẠI MINH QUÂN NHẬN ƯU ĐÃI LỚN

    [alert-success]

    ” MIỄN PHÍ XIN VISA THỊ THỰC

    ” MIỄN PHÍ ĐÓN TAXI TẠI SÂN BAY

    ” MIỄN PHÍ TÍCH ĐIỂM ĐỔI QUÀ

    MINH QUÂN – ĐẠI LÝ VÉ MÁY BAY CẤP 1 TRÒN 18 NĂM TUỔI

    ” MIỄN PHÍ CANH, SĂN VÉ GIÁ RẺ

    HOTLINE: 0904 004 004

    WEBSITE: VEMAYBAYTRUCTUYEN.COM.VN

    --- Bài cũ hơn ---

  • Du Lịch Việt Nam Hết Hấp Dẫn Du Khách Ngoại Quốc
  • Khách Du Lịchtrung Quốc Đến Việt Nam Giảm Mạnh Do Đâu?
  • Khách Quốc Tế Đến Việt Nam Tháng 3 Giảm 68%, Doanh Thu Du Lịch Lữ Hành Quý I Giảm 28%
  • Đóng Góp Của Du Lịch Vào Gdp
  • Địa Điểm Du Lịch Việt Nam Đẹp Nhất Hiện Nay
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Ngành Du Lịch Việt Nam Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Chiến Lược Phát Triển Du Lịch Nhật Bản
  • Nhật Bản “đau Đầu” Vì… Du Lịch Phát Triển Mạnh
  • Nhật Ký Du Lịch Bụi Lào (1): Luang Prabang Và Thác Kuang Si
  • Nhật Kí Du Lịch Bụi Lào: Chơi Zipline Ở Vang Vieng
  • Nhật Ký Mèo Đi Bụi: Kinh Nghiệm Du Lịch Bụi Singapore
  • TÓM TẮT:

    Từ khóa: Ngành Du lịch, kinh tế mũi nhọn, đầu tư, lợi thế, thực trạng, giải pháp, di sản văn hóa, Việt Nam.

    I. Thực trạng của ngành Du lịch Việt Nam

    Nước ta có tiềm năng lớn về nhiều mặt để phát triển du lịch, có điều kiện thiên nhiên phong phú, có nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng, có truyền thống văn hóa lâu đời với nhiều lễ hội, phong tục tập quán tốt đẹp và độc đáo, nhiều di tích lịch sử, tôn giáo, kiến trúc nghệ thuật đặc sắc, giàu bản sắc nhân văn, nguồn lao động dồi dào thông minh, cần cù và giàu lòng nhân ái. Trong những năm gần đây, ngành Du lịch đã có những đổi mới, từng bước phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật, tạo điều kiện bước đầu thu hút khách nước ngoài và kiều bào về thăm Tổ quốc, giới thiệu đất nước, con người và tinh hoa của dân tộc Việt Nam với bạn bè quốc tế; đáp ứng một phần nhu cầu tham quan, nghỉ ngơi, giải trí của nhân dân trong nước, bước đầu đã thu được kết quả nhất định về kinh tế. Trong những năm qua, du lịch Việt Nam đang trên đà phát triển, lượng khách quốc tế đến cũng như khách du lịch nội địa ngày càng tăng. Du lịch Việt Nam ngày càng được biết đến nhiều hơn trên thế giới, nhiều điểm đến trong nước được bình chọn là địa chỉ yêu thích của du khách quốc tế.

    Điều này được minh chứng thông qua số lượng khách quốc tế đến du lịch Việt Nam tăng trưởng mạnh với tốc độ trung bình trên 12% mỗi năm (ngoại trừ suy giảm do dịch SARS 2003 (-8%) và suy thoái kinh tế thế giới 2009 (-11%). Nếu lấy dấu mốc lần đầu tiên phát động “Năm Du lịch Việt Nam 1990” (khởi đầu thời kỳ đổi mới) với 250.000 lượt khách quốc tế, thì đến nay đã có 10 triệu lượt khách đến Việt Nam trong năm 2022. Khách du lịch nội địa cũng tăng mạnh liên tục trong suốt giai đoạn vừa qua, từ 1 triệu lượt năm 1990 đến 2022 đạt con số 35 triệu lượt. Sự tăng trưởng không ngừng về khách du lịch đã thúc đẩy mở rộng quy mô hoạt động của ngành Du lịch trên mọi lĩnh vực. Thị phần khách quốc tế đến Việt Nam trong khu vực và trên thế giới không ngừng tăng lên. Từ chỗ chiếm 4,6% thị phần khu vực Đông Nam Á; 1,7% thị phần khu vực Châu Á-Thái Bình Dương và 0,2% thị phần toàn cầu vào năm 1995 đến 2022 Du lịch Việt Nam đã chiếm 8,2% thị phần khu vực ASEAN; 2,4% khu vực Châu Á-Thái Bình Dương và 0,68% thị phần toàn cầu.

    Bên cạnh đó, hệ thống di sản thế giới của Việt Nam được UNESCO công nhận liên tiếp gia tăng về số lượng là các trọng tâm trong thực tiễn xây dựng sản phẩm, thu hút khách du lịch. Các sản phẩm như tham quan cảnh quan vịnh Hạ Long, tham quan di sản văn hoá Huế, phố cổ Hội An, di tích Mỹ Sơn; du lịch mạo hiểm khám phá hang động Phong Nha-Kẻ Bàng, du lịch nghỉ dưỡng biển Mũi Né, Phú Quốc, du lịch sự kiện Nha Trang… ngày càng thu hút được sự quan tâm lớn của khách du lịch trong và ngoài nước. Các lễ hội được tổ chức ở quy mô lớn đã trở thành những sản phẩm du lịch quan trọng, như: lễ hội Chùa Hương, lễ hội bà chúa Xứ, festival Huế, carnaval Hạ Long, lễ hội pháo hoa Đà Nẵng, festival hoa Đà Lạt… Những sản phẩm và những giá trị nổi bật của điểm đến Việt Nam dần được hình thành và định vị tại các thị trường khách du lịch mục tiêu. Các khu, điểm du lịch quốc gia và các đô thị du lịch là những điểm nhấn quan trọng hình thành sản phẩm du lịch được định hướng phát triển tại Chiến lược phát triển ngành Du lịch. Tuy nhiên, hầu như chưa được chú trọng đầu tư đúng mức, đến nay mới chỉ có Hạ Long – Cát Bà, Hội An, Mỹ Sơn là phát huy được tiềm năng du lịch. Một số khu du lịch, công trình nhân tạo khác cũng có sức hút tạo sản phẩm như thủy điện Sơn La, chùa Bái Đính, hầm đèo Hải Vân, khu vui chơi tổng hợp Đại Nam…

    Sự phát triển không ngừng của ngành Du lịch góp phần vào GDP Việt Nam, bao gồm cả đóng góp trực tiếp, gián tiếp và đầu tư công là 584.884 tỷ đồng (tương đương 13,9% GDP). Trong đó, đóng góp trực tiếp của du lịch vào GDP là 279.287 tỷ đồng (tương đương 6,6% GDP). Tổng đóng góp của du lịch vào lĩnh vực việc làm toàn quốc (gồm cả việc làm gián tiếp) là hơn 6,035 triệu việc làm, chiếm 11,2%. Trong đó, số việc làm trực tiếp do ngành Du lịch tạo ra là 2,783 triệu (chiếm 5,2% tổng số việc làm). Đồng thời xét về cơ cấu doanh thu ngoại tệ trong xuất khẩu dịch vụ, doanh thu của ngành Du lịch chiếm trên 50% trong xuất khẩu dịch vụ của cả nước, đứng đầu về doanh thu ngoại tệ trong các loại hoạt động dịch vụ “xuất khẩu”, đồng thời có doanh thu ngoại tệ lớn nhất, trên cả các ngành vận tải, bưu chính viễn thông và dịch vụ tài chính. So sánh với xuất khẩu hàng hóa, doanh thu ngoại tệ từ xuất khẩu dịch vụ du lịch chỉ đứng sau 4 ngành xuất khẩu hàng hóa là xuất khẩu dầu thô, dệt may, giầy dép và thủy sản. Thêm nữa, với tư cách là hoạt động “xuất khẩu tại chỗ”, du lịch lại đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn và tạo ra nhiều việc làm có thu nhập cho xã hội mà hiện nay chưa tính toán hết được.

    Có thể thấy năm 2022 được ghi nhận là thành công đối với ngành Du lịch, nhưng điều này cũng tạo áp lực cho năm 2022 với kế hoạch 11,5 triệu lượt khách quốc tế, 66 triệu lượt khách du lịch nội địa, với tổng thu dự kiến là 460.000 tỷ đồng.

    II. Giải pháp phát triển ngành Du lịch Việt Nam

    Mục tiêu đến năm 2022, Việt Nam sẽ đón 10 – 10,5 triệu lượt khách du lịch quốc tế và 47 – 48 triệu lượt khách du lịch nội địa; tổng thu từ khách du lịch đạt 18 – 19 tỷ USD, đóng góp 6,5 – 7% GDP cả nước; có tổng số 580.000 buồng lưu trú với 35 – 40% đạt chuẩn từ 3 đến 5 sao; tạo ra 3 triệu việc làm trong đó có 870.000 lao động trực tiếp du lịch. Năm 2030, tổng thu từ khách du lịch tăng gấp 2 lần năm 2022. Để đạt được những mục tiêu đề ra, ngành Du lịch cần phải có những giải pháp kịp thời như sau:

    Thứ nhất, gia tăng đầu tư nâng cao sức cạnh tranh cho du lịch. Trong đầu tư du lịch thì đầu tư cho cơ sở hạ tầng để phục vụ phát triển du lịch có yếu tố quan trọng đảm bảo thúc đẩy phát triển du lịch, đặc biệt là tạo điều kiện thu hút khách du lịch và cải thiện điều kiện dân sinh cho cộng đồng dân cư. Vì vậy, cần tiếp tục thực hiện chương trình hỗ trợ đầu tư hạ tầng du lịch, đồng thời chú trọng lồng ghép đầu tư hạ tầng với du lịch với các chương trình, đề án phát triển kinh tế-xã hội; trong giai đoạn tới cần chú trọng đầu tư vào các khu điểm du lịch quốc gia để tạo đà bứt phá cho du lịch Việt Nam.

    Thứ hai, nâng cao chất lượng đội ngũ nguồn nhân lực du lịch. Chất lượng nguồn nhân lực du lịch Việt Nam còn kém so với các nước các nước trong khu vực cả về năng lực quản lý, nghiệp vụ chuyên môn và trình độ ngoại ngữ. Vì vậy, nâng cao chất lượng cho đội ngũ cán bộ trong ngành là nhiệm vụ trong tâm trong định hướng phát triển du lịch trong thời gian tới. Đối với đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước, cần phải trang bị kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ du lịch vì phần nhiều cán bộ, công chức ở cấp Tổng cục Du lịch và các địa phương từ các ngành khác, hoặc học các ngành khác nhau, chưa nắm vững được kiến thức chuyên ngành du lịch; nâng cao trình độ nghiệp vụ quản lý nhà nước, đặc biệt là quản lý kinh tế. Đối với nguồn nhân lực các doanh nghiệp và cộng đồng dân cư chú trọng bồi dưỡng kiến thức thị trường, ngoại ngữ và nghiệp vụ chuyên sâu, nâng cao ý thức bảo vệ tài nguyên và môi trường.

    Thứ ba, nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò quan trọng của ngành Du lịch trong điều kiện hiện nay. Mặc dù đã có chuyển biến rõ nét bước đầu trong thời gian qua, song cần tiếp tục tuyên truyền làm chuyển biến nhận thức sâu rộng trong xã hội về tầm quan trọng và sự cần thiết của việc phát triển du lịch, nhất là nhận thức tư tưởng của cán bộ quản lý của các cấp các ngành từ Trung ương đến địa phương. Tạo ra sự chuyển biến thực chất trong việc ban hành ban hành chính sách phát triển du lịch, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về du lịch ở các địa phương trọng điểm phát triển du lịch.

    Thứ năm, đẩy mạnh công tác xúc tiến quảng bá du lịch cùng với nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch mang tính thương hiệu của du lịch Việt Nam, bởi đây là biện pháp quan trọng để tạo lập hình ảnh và vị thế du lịch trong và ngoài nước nhằm thu hút khách. Đồng thời, cần thiết lập văn phòng đại diện du lịch Việt Nam tại các thị trường trọng điểm du lịch.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO:

    1. Trang web Vietnambiz.vn

    2. Trang web Vietnamtourism.gov.vn

    3. Giáo trình Kinh tế vi mô – Học viện Tài chính

    4. Tạp chí Tài chính

    CURRENT SITUATION AND SOLUTIONS TO PROMOTE THE GROWTH OF VIETNAM’S TOURISM INDUSTRY

    MA. NGUYEN THI THU HUONG

    Faculty of Business Management, University of Economic and Technical Industries

    ABSTRACT:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Quan Niệm Về “sản Phẩm Du Lịch”
  • Để Được Nhận Câu Trả Lời Yes Khi Xin Visa Du Lịch Úc
  • Nhãn Du Lịch Xanh Cho Cơ Sở Dịch Vụ
  • Giới Thiệu Bộ Tiêu Chí Nhãn Du Lịch Xanh
  • Danh Sách Các Nhà Xe Du Lịch Đà Nẵng Chất Lượng
  • Thực Trạng Du Lịch Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài Nckh Cấp Bộ Năm 2013 “giải Pháp Phát Triển Thương Hiệu Du Lịch Việt Nam”
  • Tăng Cường Hoạt Động Quảng Bá, Xúc Tiến Du Lịch
  • Làng Du Lịch Bình Quới: Lưu Giữ Tinh Hoa Văn Hóa Và Ẩm Thực Việt
  • Đà Nẵng Chào Đón Chuyến Bay Airasia Đầu Tiên Từ Chiang Mai
  • Đà Nẵng Kỳ Vọng Du Lịch Quốc Tế Sẽ Quay Lại Từ Quý 2 Năm Sau
  • Thực trạng du lịch Việt Nam hiện nay

    Như đã biết, đất nước chúng ta có thế mạnh cực kỳ lớn để phát triển ngành du lịch. Có thể kể đến một số điều kiện để phát triển du lịch cực kỳ mạnh như là nền thiên nhiên đa dạng nguyên sơ. Cùng với đó là vô số danh lam thắng cảnh nổi tiếng cả trong nước và trên thế giới. Đi kèm với địa điểm du lịch là lịch sử truyền thống văn hóa lâu đời : các phong tục tập quán độc đáo và tốt đẹp cha ông xưa truyền lại.

    Ngoài ra với những di tích lịch sử, tôn giáo được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới. Việt Nam cũng không hề thua kém đất nước nào với những kiến trúc nghệ thuật đặc sắc. Con người có bản tính lương thiện, cần cù và giàu lòng nhân ái.

    Vậy thì so với thực trạng du lịch Việt Nam 2022 thì đến nay chúng ta đã làm được những gì. Cùng tổng kết qua các con số sau đây.

    Các di sản văn hóa được công nhận

    Ở Việt Nam, các di sản văn hóa, di tích lịch sử được UNESCO công nhận cực kỳ nhiều. Số lượng thống kê cho thấy các địa điểm du lịch được tôn vinh luôn là điểm đến sáng giá của hàng triệu lượt khách. Có thể kể đến một số điểm đi vào TOP du lịch thế giới như vịnh Hạ Long, cố đô Huế, phố cổ Hội An, hang động Phong Nha-Kẻ Bàng, …

    Hay nếu bạn thích một chuyến du lịch nghỉ dưỡng để xưa tan căng thẳng thì có thể ghé qua biển Mũi Né, Phú Quốc, du lịch sự kiện Nha Trang… Chính nhờ những nơi này mà đất nước hình chữ S tươi đẹp ngày càng thu hút được sự quan tâm của khách du lịch và các vốn đầu tư từ nước ngoài.

    Kỹ thuật chạy tiếp sức là gì là câu hỏi được nhiều người quan tới khi muốn tham gia hay theo dõi cuộc thi chạy tiếp sức chuyên nghiệp cũng như nghiệp dư hiện nay.

    Nhưng với thế mạnh như vậy, tại sao thực trạng du lịch Việt Nam hiện nay vẫn chưa phát triển đúng như mong muốn. Chúng ta cần phải biết được lý do. Một trong số đó là các cấp ban ngành vẫn chưa chú trọng đầu tư đúng mức, hoặc khai phá quá triệt để dẫn đến cạn kiệt tài nguyên. Những tệ nạn như chèo kéo, móc túi, ăn xin “giả” là nguyên nhân lớn nhất dẫn đến thực trạng du lịch Việt Nam 2022 chậm phát triển. Rất may là đến nay vấn đề này đã được giải quyết gần như hết sạch. Trả lại cho du lịch Việt Nam vẻ tươi đẹp, yên bình vốn có.

    Con số khách du lịch đến Việt Nam

    Theo con số thống kê của bộ du lịch, số khách quốc tế đến Việt Nam luôn tăng lên chứ chưa bao giờ thuyên giảm. Đến 2022 thì chúng ta chiếm thị phần là 4,6% trong khu vực Đông Nam Á và 1,7% trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương. Đây là con số đáng ngưỡng mộ chỉ sau Thái Lan và Singgapore trong khu vực Đông Nam Á.

    Sau nhiều sự phát triển, cải cách, đến nay Việt Nam đã phát triển vượt bậc với con số đáng nhìn lại. Đó là 8.6% thị phần khu vực ASEAN; 2,4% khu vực Châu Á-Thái Bình Dương. Hơn nữa trong số rất nhiều quốc gia mạnh về du lịch, chúng ta vinh dự chiếm khoảng 0,68% thị phần khách du lịch toàn cầu.

    Thực trạng du lịch Việt Nam đang tồn đọng

    • Chiến lược phát triển ngành du lịch chưa rõ ràng. Kể cả du lịch đất nước nói chung lẫn du lịch các tỉnh nói riêng.
    • Chưa biết cách nắm biến động kinh tế chính trị, để hiểu rõ sự suy chuyển của thị phần khách du lịch.
    • Các công ty du lịch nhỏ lẻ phát triển yếu kém, bị động
    • Du lịch nội địa phát triển yếu, khách trong nước còn chưa thực sự yêu thích du lịch nước nhà.
    • Cơ sở hạ tầng còn yếu kém, chưa đạt chuẩn chất lượng quốc tế đề ra.
    • Nhiều vấn đề phát sinh như chèo kéo khách du lịch, “chém” giá khách nước ngoài,…
    • Giao thông ách tắc, vệ sinh môi trường kém làm mất mỹ quan đô thị.

    Phát triển ngành du lịch tại Việt Nam hiện nay

    Các vấn đề về thực trạng du lịch Việt Nam hiện nay

    Thực trang du lịch Việt Nam hiện nay đã có nhiều thay đổi hơn so với thực trạng du lịch Việt Nam 2022. Nhưng đầu tiên chúng ta cần thật sự hiểu tại sao lại phát sinh vấn đề đã. Cần phải làm rõ nguyên do, vấn đề mới ra được giải pháp được.

    • Một số vấn đề về năng lực quản lý, đội ngũ nhân viên chưa có đủ trình độ.
    • Chưa phối hợp hiệu quả giữa các ngành để phát triển. Có một số bộ chưa chủ động liên kết để cùng nhau nâng cao như là thể thao du lịch, văn hóa du lịch,…
    • Hạn chế về đầu tư các cơ sở hạ tầng
    • Chính sách về du lịch còn lằng nhằng rắc rối, gây khó dễ cho khách du lịch
    • Chưa đảm bảo an ninh tại các điểm du lịch cũng như lễ hội cho khách tham quan.
    • Chính sách quy định tại các di tích lịch sử còn chưa chặt. Gây ra sự mất mát, tổn thất cho ngành du lịch như là mất các đồ vật, pho tượng bảo vật,…

    Các phương pháp phát triển

    • Nâng cao trình độ học vấn, quản lý, ý thức của đội ngũ nhân viên.
    • Chú trọng về cái nền móng tức cơ sở hạ tầng.
    • Các chính sách cần tiêu giảm, làm gọn, tạo điều kiện tối đa cho khách du lịch.
    • Đề ra quy định an ninh chặt chẽ tại các điểm du lịch.
    • Nắm rõ xu hướng du lịch hiện nay để thu hút khách đến với Việt Nam.

    Chỉ cần giải quyết hết các vấn đề nhức nhối ở trên là chúng ta hoàn toàn có thể mạng lại thực trạng ngành du lịch Việt Nam tươi sáng hơn. Đây là ngành kinh tế mũi nhọn của nước nhà, vì vậy hãy chú trọng và ý thức phát triển ngay từ bây giờ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Marketing Nhằm Phát Triển Du Lịch Lễ Hội Tại Huế, Bài 2
  • Đề Xuất Nhiều Giải Pháp Thiết Thực Về Phát Triển Du Lịch Huế
  • Du Lịch Huế: Đi Tìm Giải Pháp Phát Triển Du Lịch
  • Miền Trung Và Tây Nguyên Tìm Giải Pháp Đột Phá Phát Triển Du Lịch
  • Phát Triển Du Lịch Ẩm Thực Trở Thành Sản Phẩm Riêng
  • Du Lịch Biển Và Hiện Trạng Bùng Nổ Các Khu Nghỉ Dưỡng Ven Biển

    --- Bài mới hơn ---

  • Cần Thơ : Thành Lập Hiệp Hội Du Lịch
  • Hiệp Hội Du Lịch Nha Trang
  • Hiệp Hội Du Lịch Kiên Giang Tổ Chức Đại Hội Lần Thứ I Nhiệm Kỳ 2022
  • Đại Hội Hiệp Hội Du Lịch Tỉnh Phú Thọ Lần Thứ Ii, Nhiệm Kỳ 2022
  • Chung Tay Xây Dựng Hiệp Hội, Đưa Du Lịch Phú Yên Phát Triển
  • Nguyên nhân của sự gia tăng này, phần lớn xuất phát từ nhu cầu du lịch của người dân ngày càng tăng cao, không chỉ giới trí thức, doanh nhân mà cả công nhân, nông dân… và các điểm lựa chọn yêu thích thường ở vùng ven biển. Đây cũng là lý do khiến du lịch biển – đảo chiếm tới 70% khách du lịch cả nước mỗi năm. Theo thống kê của Tổng cục Du lịch Việt Nam, trong những năm gần đây, số lượt khách du lịch quốc tế và khách du lịch nội địa có sự tăng trưởng nhanh chóng. Nếu như năm 2014 mới có khoảng 7,8 triệu du khách quốc tế thì năm 2022, con số khách quốc tế là hơn 10 triệu; khách du lịch nội địa năm 2014 là 38,5 triệu thì năm 2022 là 62 triệu. Khi nhu cầu du lịch tăng cao kéo theo nhu cầu dịch vụ lưu trú và các dịch vụ khác tại các vùng biển gia tăng, nhiều vùng biển quá tải vào mùa cao điểm, không đáp ứng kịp nhu cầu phòng nghỉ cho du khách. Tuy nhiên, với mức thu nhập bình quân trên đầu người 50 triệu VNĐ/năm của người Việt, những khu resort nghỉ dưỡng cao cấp vẫn đa phần dành để phục vụ bộ phận khách có thu nhập cao chứ không phải nhu cầu của đại đa số người dân.

    Bên cạnh các nguyên nhân khách quan, việc xây dựng hàng loạt các khách sạn chuẩn 4-5 sao, khu nghỉ dưỡng – resort cao cấp ven biển Việt Nam còn chịu sự chi phối của các “ông trùm” bất động sản trong và ngoài nước. Điển hình như Tập đoàn khách sạn quốc tế tại Thái Lan (ONYX Hospitality Group) liên kết với HB Group đầu tư vào thị trường resort tại Hội An, Tập đoàn quản lý khách sạn Marriott International (trụ sở tại Mỹ) rót vốn xây dựng JW Marriott Phu Quoc Emerald Bay với sự kết hợp với Tập đoàn Sun Group. Và còn nhiều chủ đầu tư nước ngoài khác đã và đang “âm thầm rót vốn” xây dựng khu nghỉ dưỡng, resort lớn ven biển Việt Nam hiện nay… Đây cũng là kết quả của chính sách mở cửa và thu hút đầu tư nước ngoài của ngành khách sạn – lưu trú du lịch Việt Nam. Tuy nhiên, liệu xu hướng này có thực sự bền vững?

    … và thách thức của sự gia tăng

    Sự bùng nổ của những khu nghỉ dưỡng ven biển phần nào phản ánh sự phát triển mạnh mẽ cũng như xu hướng tăng trưởng của du lịch biển, tuy nhiên, xét trên nhiều góc độ thì sự gia tăng chóng mặt các khu nghỉ dưỡng ven biển chưa hẳn là những tín hiệu đáng mừng bởi bên cạnh những lợi ích trước mắt về kinh tế, việc phát triển này cũng tồn tại nhiều thách thức lớn. Trước tiên là thách thức về quy hoạch biển. Quy hoạch nhiều bãi biển đẹp ở Việt Nam đã bị phá vỡ, phát triển manh mún và khó điều chỉnh. Đơn cử như bãi biển Mũi Né hiện đang kẹt cứng trong không gian ven bờ khi có quá nhiều khách sạn, resort chen dày ở mặt tiền biển hay như các khu nghỉ dưỡng mọc lên ồ ạt ở Đà Nẵng. “Thành phố đáng sống” này đang phải đối mặt với tình trạng các khách sạn, khu nghỉ dưỡng từ bình dân đến cao cấp mọc lên như nấm, báo hiệu tình trạng cung vượt xa cầu trong tương lai. Mặc dù đã nhận được cảnh báo từ trước năm 2022 nhưng các công trình vẫn thi nhau xây dựng.

    Sự bùng nổ những khu nghỉ dưỡng ven biển ngoài ra còn gia tăng các áp lực lên môi trường ven biển, tăng nguy cơ xói mòn đường bờ biển và làm suy thoái hệ sinh thái biển đảo. Tại rất nhiều những khu nghỉ dưỡng ven biển hiện nay chưa có được hệ thống xử lý chất thải và nước thải chuyên nghiệp dẫn đến việc nước thải chưa qua xử lý xả thải trực tiếp ra biển. Dọc bờ biển Đà Nẵng hiện có tới 44 cửa xả thải trực tiếp ra biển. Đây thực sự là nguy cơ, thách thức về ô nhiễm môi trường, khiến du khách quan ngại. Đó là chưa kể đến những mâu thuẫn giữa người dân và chủ đầu tư trong công tác quy hoạch, thu hồi và bồi thường giải phóng mặt bằng phục vụ xây dựng resort cũng như việc tuyển dụng lao động địa phương vào làm việc tại các khu nghỉ dưỡng. Khi đi vào hoạt động, các khu resort cao cấp đòi hỏi người lao động có chất lượng, do đó chỉ một bộ phận nhỏ người dân địa phương được liệt vào danh sách tuyển dụng của các khu nghỉ dưỡng.

    Có thể khẳng định, tiềm năng du lịch biển Việt Nam rất lớn, song thách thức phải đối mặt cũng không nhỏ. Do đó, để phát triển đồng bộ các khu nghỉ dưỡng biển theo hướng bền vững, cần đặc biệt chú trọng công tác quy hoạch phát triển các khu nghỉ dưỡng du lịch biển sao cho đảm bảo hài hòa giữa lợi ích phát triển kinh tế với lợi ích về sinh thái và nhân văn. Muốn vậy, cần phải có những đánh giá tổng hợp và thường xuyên (trước và trong quá trình phát triển các khu nghỉ dưỡng) về những lợi ích cũng như những mặt trái của việc phát triển các khu nghỉ dưỡng, đồng thời có cơ chế khuyến khích (thuế, giá) các khu nghỉ dưỡng phát triển gắn với bảo tồn tự nhiên và văn hóa bản địa.

    Ngoài ra, việc phát triển các khu nghỉ dưỡng phải có những chính sách phát triển, đào tạo nguồn nhân lực; huy động và hỗ trợ tối đa người dân địa phương tham gia làm việc ở các cấp bậc với trình độ tay nghề, nghiệp vụ và kiến thức khác nhau tại các khu nghỉ dưỡng. Đặc biệt, cần đình chỉ, thu hồi những khu nghỉ dưỡng khai thác không hiệu quả nhằm tránh láng phí nguồn tài nguyên của địa phương và quốc gia.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thủ Tục Cấp Thẻ Hướng Dẫn Viên Du Lịch Quốc Tế
  • Du Lịch Sapa Mùa Đông “lạc Trôi” Tại Xứ Sở Sương Mù Mơ Mộng
  • Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Hành Vi Tiêu Dùng Của Khách Du Lịch
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Tràng An, Ninh Bình (Cập Nhật 11/2020)
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Mộc Châu, Sơn La (Cập Nhật 11/2020)
  • 9 Hạn Chế Khi Thực Hiện Chiến Lược Biển Việt Nam Đến Năm 2022

    --- Bài mới hơn ---

  • Lịch Trình 4 Ngày Khám Phá Bali
  • Du Lịch Côn Đảo – Hành Trình Đến Với Thiên Nhiên Kỳ Thú
  • Hành Trình Tuyệt Vời Khám Phá Mùa Đông Nhật Bản
  • Quy Định Cấp Thẻ Hướng Dẫn Viên Du Lịch Nội Địa Và Quốc Tế
  • Hiệp Hội Pata Đề Xuất Tổ Chức Các Sự Kiện Lớn Tại Việt Nam – Vietcharmtour
  • Sau 10 năm thực hiện Nghị quyết 09 về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2022, công tác quản lý và khai thác tài nguyên, môi trường biển đã đạt được những kết quả nhất định, song việc thực hiện Chiến lược biển này còn bộc lộ những hạn chế, yếu kém. chúng tôi Nguyễn Chu Hồi, Thành viên Ban chỉ đạo Diễn đàn Đại dương toàn cầu (GOF), nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam chỉ ra 9 hạn chế cơ bản.

    Phương thức khai thác biển chủ yếu vẫn dưới hình thức sản xuất và đầu tư nhỏ,

    sử dụng công nghệ lạc hậu.

    Cơ chế chính sách thiếu đồng bộ

    Thứ nhất, nhận thức về vai trò, vị trí của biển và kinh tế biển của các cấp, các ngành, các địa phương ven biển và người dân còn chưa đầy đủ; vẫn còn có những quan niệm khác nhau về kinh tế biển; chưa coi trọng tính liên kết giữa các mảng không gian kinh tế biển và các vùng kinh tế biển-ven biển-đảo.

    Thứ hai, quy mô kinh tế biển còn nhỏ bé, phát triển chưa tương xứng với tiềm năng; cơ cấu ngành nghề chưa hợp lý; chưa chuẩn bị điều kiện để vươn ra vùng biển quốc tế (đại dương), trong khi Đảng ta đã thừa nhận luận điểm của thời đại – “Thế kỷ XXI là thế kỷ của đại dương” trong Chiến lược biển 2022.

    Theo các tính toán, quy mô kinh tế (GDP) biển và vùng ven biển (huyện, thị ven biển) Việt Nam năm 2005 bình quân đạt khoảng 48% GDP cả nước, trong đó GDP của kinh tế “thuần biển” đạt khoảng 22% tổng GDP cả nước. Trong các năm 2010-2017, GDP của kinh tế biển và ven biển có chiều hướng giảm (năm 2010 khoảng 40,73%, năm 2022 – 32,55% và 2022 – khoảng 30,19%); GDP của kinh tế thuần biển cũng giảm dần xuống 17% (2013), 13% (2017) và khả năng năm 2022 còn tiếp tục xuống thấp.

    Công tác quy hoạch không gian biển, cơ sở hạ tầng các vùng biển, ven biển và đảo còn yếu kém, lạc hậu, manh mún, thiết bị chưa đồng bộ nên hiệu quả sử dụng thấp, chưa góp phần tạo ra liên kết vùng trong phát triển: giữa các cảng biển, thiếu hệ thống đường bộ cao tốc chạy dọc ven biển để nối liền các thành phố, khu kinh tế, khu công nghiệp và sân bay ven biển nhỏ bé thành một hệ thống kinh tế biển liên hoàn.

    Hội chứng phát triển “tràn lan” các khu kinh tế ven biển đang hiện hữu ở nước ta, khiến cho đầu tư dàn trải, khó có thể tạo ra ‘đột phá’ trong phát triển. Trong mô hình phát triển các khu kinh tế ven biển nói riêng và kinh tế biển nói chung thiếu “đầu tàu”, chưa thực sự áp dụng quy luật lan tỏa trong phát triển; thể chế chưa rõ ràng, chưa tôn trọng ‘tính phổ quát’ của luật các khu kinh tế “mở”.

    Kinh tế biển 10 năm qua vẫn dựa chủ yếu vào “kinh tế khai thác”, phụ thuộc vào nguồn tài nguyên biển đang giảm sút nhanh chóng; chưa làm rõ quan niệm về kinh tế biển và kinh tế dựa vào biển nên còn lúng túng trong việc xác định các không gian kinh tế biển, tính liên kết của các ‘mảng’ không gian kinh tế biển – ven biển – đảo, cũng như việc theo dõi, thống kê và kiểm soát phát triển kinh tế biển.

    Thứ ba, hệ thống các cơ sở nghiên cứu khoa học – công nghệ biển, đào tạo nguồn nhân lực cho kinh tế biển; các cơ sở quan trắc, dự báo, cảnh báo biển, thiên tai biển, các trung tâm tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn… ở ven biển còn nhỏ bé, trang bị thô sơ, năng lực yếu kém; phân tán, nhiệm vụ chồng chéo và chỉ tập trung ở các thành phố lớn, chưa thực hiện đúng yêu cầu của chiến lược là cần thành lập ở các tỉnh/thành phố ven biển.

    Các hoạt động nghiên cứu biển chất lượng còn yếu, tập trung chủ yếu ở vùng ven biển và biển ven bờ, đặc biệt chưa chú ý nghiên cứu và chuyển giao công nghệ biển tiên tiến, hiện đại trong bối cảnh của Cách mạng công nghiệp 4.0. Nguồn nhân lực biển chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội vùng biển và ven biển, đặc biệt chưa chuẩn bị nguồn lực và trình độ công nghệ để sớm vươn ra đại đương – nơi quốc gia có biển và không có biển đều có quyền ra khai thác.

    Khai thác, quản lý kinh tế biển chưa hiệu quả

    Thứ tư, tình hình khai thác, sử dụng biển và đảo chưa hiệu quả, thiếu bền vững do khai thác tự phát, thiếu/không tuân thủ quy hoạch biển, đảo, làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn lợi ích và xung đột không gian trong sử dụng đa ngành ở vùng ven biển, biển, đảo, gây lãng phí lớn tài nguyên biển.

    Phương thức khai thác biển chủ yếu vẫn dưới hình thức sản xuất và đầu tư nhỏ, sử dụng công nghệ lạc hậu. Còn nghiêng về ưu tiên khai thác tài nguyên biển ở dạng vật chất, không tái tạo, các giá trị chức năng, phi vật chất và có khả năng tái tạo của các hệ thống tài nguyên biển còn ít được chú trọng, như: giá trị vị thế của các mảng không gian biển, ven biển và đảo; giá trị dịch vụ của các hệ sinh thái; thậm chí các giá trị văn hóa biển.

    Cách tiếp cận ‘nóng’ trong khai thác tài nguyên biển đang là hiện tượng phổ biến ở các lĩnh vực kinh tế biển: chú trọng nhiều đến tổng sản lượng, số lượng, ít chú ý đến chất lượng và lợi ích lâu dài của các dạng tài nguyên.

    Thứ sáu, đa dạng sinh học biển  – đầu vào của các hoạt động kinh tế dựa vào bảo tồn, như kinh tế thủy sản, du lịch biển và nguồn lợi thuỷ hải sản đang giảm sút nghiêm trọng, thiếu bền vững. Rừng ngập mặn mất khoảng 15.000 ha/năm, khoảng 80% rạn san hô trong vùng biển Việt Nam nằm trong tình trạng rủi ro, trong đó 50% ở mức cao, tình trạng trên cũng diễn ra tương tự với thảm cỏ biển và các hệ sinh thái biển – ven biển khác.

    Trong vùng biển nước ta đã có khoảng 100 loài hải sản có mức độ nguy cấp khác nhau và trên 100 loài đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam. Nguồn lợi hải sản có xu hướng giảm dần về trữ lượng, sản lượng và kích thước cá đánh bắt (trữ lượng hải sản giảm 16%, trong khi trữ lượng hải sản ở vùng biển xa bờ chưa được đánh giá đầy đủ). Nguồn lợi hải sản ở vùng biển gần bờ có dấu hiệu bị khai thác quá mức do tăng nhanh số lượng tàu thuyền đánh cá nhỏ, hiệu suất khai thác hải sản giảm từ 0,92 (1990) xuống 0,32 tấn/CV/năm (2015).

    Khai thác hải sản bất hợp pháp, không có báo cáo và không theo quy định (IUU) có những tác động xấu ở cả trong lẫn ngoài vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia và nếu không được khắc phục sẽ gây ra hiệu ứng domino, không chỉ ảnh hưởng đến sinh kế của ngư dân, kinh tế ngành thủy sản mà còn ảnh ảnh hưởng đến khả năng ‘hiện diện dân sự’ trên biển. 

    Thứ bảy, đến nay biển, đảo và vùng ven biển nước ta vẫn chủ yếu được quản lý theo cách tiếp cận mở kiểu “điền tư, ngư chung” và chủ yếu quản lý theo ngành. Thiếu các luật cơ bản về biển để thực thi hiệu quả công tác quản lý nhà nước tổng hợp và thống nhất về biển, đảo. Điều này dẫn đến sự chồng chéo về quản lý giữa khoảng 15 bộ ngành về biển; chính sách và pháp luật về quản lý biển thiếu đồng bộ; trong các luật hiện có không ít điểm chồng chéo, hiệu lực thi hành thấp.

    Sự tham gia của cộng đồng địa phương và các doanh nghiệp vào tiến trình quản lý còn rất thụ động, chưa làm rõ vấn đề sở hữu/sử dụng đất ven biển và mặt nước biển cho người dân địa phương ven biển. Công tác kiểm tra, kiểm soát, cấp và thu hồi giấy phép sử dụng, khai thác tài nguyên biển…chậm được triển khai để thực hiện chủ trương ‘kinh tế hóa’ trong lĩnh vực quản lý biển và tài nguyên biển.

    Thứ tám, công tác quốc phòng, an ninh trên biển còn có mặt hạn chế. Khả năng phối hợp giữa các lực lượng để tạo sức mạnh tổng hợp, tạo thế trận liên hoàn trên biển để bảo vệ các quyền và lợi ích quốc gia trên Biển Đông; để quản lý, bảo vệ tài nguyên và môi trường biển cần tiếp tục tăng cường một cách hiệu quả.

    Thứ chín, đời sống của người dân ven biển và trên đảo, người lao động trên biển còn khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo tăng (năm 2014 có 320 xã bãi ngang nghèo trong khi năm 2004 chỉ có 157 xã bãi ngang nghèo), không đáp ứng chỉ tiêu của Chiến lược biển 2022. Thu nhập bình quân đầu người của 28 tỉnh, thành phố trung ương ven biển tăng gấp 4,84 lần trong các năm 2007-2016, cao hơn mức tăng trung bình chung của cả nước. Tuy nhiên, số thu nhập tuyệt đối bình quân của người dân vẫn thấp hơn trung bình cả nước.

    Nguyên nhân chính của những hạn chế trên là do 10 năm qua, ngân sách nhà nước đầu tư cho vùng ven biển và đảo tăng nhưng lại chủ yếu cho các công trình hạ tầng, cho phúc lợi xã hội hạn chế; khả năng đầu tư của ngoài nhà nước rất hạn chế. Bên cạnh đó, xuất phát điểm sinh kế và thu nhập của người dân ven biển, đảo rất thấp so với mức trung bình cả nước vào thời điểm trước khi ban hành chiến lược (2006), do đó, cần thời gian để thay đổi./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Gợi Ý 7 Điểm Du Lịch Hè 2022 Bạn Nên Check In
  • Bán Buôn Gối Hơi Du Lịch, Gối Hàng Không, Gối Chữ U Chỉ 17K/1Sp, Địa Chỉ Bán Gối Hơi Ở Hà Nội
  • Review Kinh Nghiệm Phượt Du Lịch Phú Yên – Tuy Hòa
  • Git Trong Du Lịch Là Gì? Những Lợi Ích Tuyệt Vời Của Git
  • Tài Nguyên Du Lịch Của Chúng Ta Rất Lớn, Vấn Đề Là Khai Thác Thế Nào Thôi!
  • Du Lịch Biển Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Phát Triển Du Lịch Biển Việt Nam
  • Những Nguyên Nhân Khiến Bạn Bị Xin Visa Du Lịch Úc?
  • Một Mình Ở Singapore
  • Tour Bà Nà Trong Ngày Chất Lượng Cao Tại Đà Nẵng
  • Du Lịch Một Mình Ở Singapore Trong 2022: Hướng Dẫn Thưởng Thức Những Điều Tuyệt Vời Nhất Ở Châu Á
  • --- Bài cũ hơn ---

  • 20 Món Đặc Sản Hà Nội Làm Quà Và Địa Chỉ Mua
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Bụi Tự Túc Đảo Quan Lạn (Phần 1)
  • Tour Cần Thơ 2 Ngày 1 Đêm
  • Nên Chơi Ở Đâu Và Ăn Gì Khi Đi Du Lịch Brussels, Bỉ ?
  • Du Lịch Hàn Quốc Cần Điều Kiện Gì
  • Du Lịch Mice Là Gì? Thực Trạng Du Lịch Mice Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Top 15 Địa Điểm Tổ Chức Du Lịch Mice Tại Nha Trang Lý Tưởng
  • Tổ Chức Du Lịch Mice Tại Nha Trang
  • Mô Hình Du Lịch Mice Ở Singapore Và Khả Năng Ứng Dụng Tại Việt Nam
  • 10 Địa Điểm Du Lịch Miền Bắc 1 Ngày Giúp Bạn “xõa Tẹt Ga”
  • Top 15 Địa Điểm Du Lịch Miền Bắc 1 Ngày Xõa Tẹt Ga
  • Du lịch MICE là loại hình du lịch kết hợp hội nghị, hội thảo, triển lãm, tổ chức sự kiện khen thưởng của doanh nghiệp cho nhân viên/đối tác/khách hàng

    Mice là từ viết tắt tiếng anh của

    • M-Meeting(hội họp)
    • I-Incentive(khen thưởng)
    • C-Convention(hội thảo)
    • E-Exhibition hay evant (triển lãm-sự kiện)

    Các loại hình tổ chức du lịch MICE bao gồm 4 loại hình chính: Meetings (Hội nghị), Incentives (Khen thưởng), Conferences (Hội thảo), Exhibitions (Triển lãm) hoặc Events tour (Sự kiện).

    Là hoạt động du lịch kết hợp với các cuộc họp của nhiều cá nhân hoặc tổ chức, doanh ngiệp nhằm bàn về phương hướng phát triển, tạo ra một sản phẩm, dịch vụ mới. Khách Meetings tour thường là các doanh nhân, rất khó tính, kén chọn khi sử dụng dịch vụ. Vì vậy, tour du lịch MICE đối với loại hình này phải được thiết kế chất lượng, cao cấp và thực sự đặc biệt.

    Là loại hình du lịch đươc được tổ chức nhằm:

    Tuyên dương, khen thưởng các nhân viên xuất sắc, các đại lý có doanh số bán hàng vượt chỉ tiêu

    Ở loại hình này thì các công ty du lịch sẽ kết hợp tổ chức gala Dinner các trò chơi vô cùng thú vị sôi động nhằm gắn kết các thành viên tăng tính tập thể

    Đây là hình thức du lịch kết hợp với hội ngị hội thảo mang tính chất nổi trội nhất. Bởi đây thường là cuộc gặp gỡ giữa các nhà lãnh đạo quốc tế các công ty lớn và mang tầm cỡ quốc gia với số lượng đông từ 300-400 người

    Có thể coi đây là chuyến du lịch ngắn ngày với các hoạt động rất sôi động như teambuilding các buổi họp chiến lược hoặc chiêu đãi khách hàng lớn ở các khu du lịch, nghỉ dưỡng.

    Địa điểm tổ chức hội thảo thường là các khu resort khách sạn 4,5 sao với đầy đủ tiện ngi và tiện ích có thể kết hợp chơi các trò chơi vận động Teambuiding ngoài trời hay trải ngiệm các dịch vụ du lịch sang chảnh.

    Một số các địa điểm ở Việt Nam thường được lựa chọn làm địa điểm như :Hạ Long, Đà Nẵng, Nha Trang, Vũng Tàu, Phan Thiết…

    Du lịch triển lãm (Exhibitions tour) là loại hình du lịch kết hợp giới thiệu hàng hóa, dịch vụ tại các hội chợ, triển lãm với thành phần tham gia là một nhóm doanh nghiệp hoặc từng doanh nghiệp riêng rẽ.

    Các loại hình chủ yếu như chương trình liên hoan, hội thi hay các sản phẩm du lịch

    3. Thực trạng du lịch MICE ở Việt Nam

    Loại hình du lịch kết hợp hội nghị, hội thảo, triển lãm, khen thưởng gọi tắt là MICE đang trong giai đoạn phát triển mạnh ở Việt Nam, cả chiều khách quốc tế vào (thị trường Inbound) cũng như khách trong nước ra (thị trường Outbound). Đặc biệt hiện nay, Việt Nam nổi lên là một trong những điểm đến an toàn trên thế giới đang thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, đối tượng quan trọng của du lịch MICE. Việt Nam có nhiều thuận lợi để thị trường du lịch MICE phát triển mạnh ngoài yếu tố tự nhiên phong phú, mặt khác Việt Nam đang hội nhập sâu rộng vào kinh tế toàn cầu sau 20 năm đổi mới, đặc biêt là sau khi gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), có quan hệ ngoại giao với nhiều quốc gia và nhiều cơ hội hợp tác trao đổi quốc tế, tổ chức nhiều sự kiện, chương trình hội nghị, hội thảo quy mô lớn tầm cở… với sự tham gia của nhiều tổ chức, cá nhân từ các quốc gia.

    Bên cạnh đó, Nhiều năm trở lại đây, du lịch MICE trở thành thị trường rất quan trọng mà các nước trong khu vực như Singapore, Thái Lan, Malaysia, Trung Quốc quan tâm, đầu tư phát triển. Việt Nam đi sau sẽ có được kinh nghiệm ở các nước này, giúp thị trường du lịch MICE tại Việt Nam chuyên nghiệp và dễ thành công hơn với ưu thế sẵn có từ cảnh quan thiên nhiên, di sản văn hóa, hệ thống khách sạn, resort phát triển khá nhanh. Theo tính toán của các công ty du lịch, loại hình du lịch MICE mang lại giá trị doanh thu cao gấp 6 lần loại hình du lịch thông thường.

    3.1 Thuận lợi:

    Viêt Nam được đánh gía là môt điểm đến an toàn (nền kinh tế chính trị ổn định), hấp dẫn (tài nguyên thiên nhiên phong phú) và thu hút đầu tư.

    Đánh giá về tiềm năng phát triển MICE, đoàn chuyên gia WTO cho rằng: VN có tiềm năng rất lớn và nếu phát triển MICE sẽ là đối thủ đáng ngại của Singapore (trung tâm thu hút MICE lớn nhất Đông Nam Á hiện nay).

    Cảnh quan thiên nhiên ưu đãi, nhiều di sản văn hóa, thiên nhiên thuộc hàng kỳ quan thế giới, bãi biển đẹp, hệ thống khách sạn, resort phát triển…

    Một trong những lý do quan trọng khiến thị trường khách MICE chuyển sang Việt Nam là việc miễn visa cho khách nội vùng ASEAN, tạo thuận lợi cho việc đi lại của khách hang. “Phần lớn khách MICE của chúng tôi trong thời gian qua đến từ các nước trong khu vực ASEAN, các công ty lớn thay vì tổ chức hội nghị khách hàng ở trong nước thì nay đã chọn Việt Nam và xem như đây là phần thưởng dành cho khách hàng”- một nhà quản lý phát biểu.

    Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO thổi bùng làn sóng đi lại, nghiên cứu thị trường, xúc tiến đầu tư… Tại các công ty du lịch, hợp đồng đưa đoàn ra, đoàn vào du lịch MICE (du lịch kết hợp hội nghị, hội chợ, nghiên cứu thị trường, du lịch khen thưởng) tăng vọt.

    Việt Nam đã tổ chức thành công 1 số hội nghị mang tầm cỡ quốc tế như hội nghị APEC, hôi nghị tai mũi họng và phẫu thuật đầu cổ ASEAN 12…..tạo sự tin tưởng cho bạn bè quốc tế khả năng tổ chức và chất lượng của các tour du lịch MICE.

    3.2. Khó khăn:

    Giá thành phòng hội nghị và phòng ngủ việt Nam cao hơn so với các nước trong khu vực đông Nam Á và Đông Á, vì vậy gặp khó khăn trong xây dựng chương trình cho đơn vị tổ chức; kinh phí để chuẩn bị cũng là một vấn đề…

    Các hội nghị, hội thảo thường tổ chức vào dịp cuối năm nên thường rơi vào tình trạng “căng phòng, căng dịch vụ”. Gây ra hiên tượng thiếu phòng phải lien kết với các khách sạn khác..

    Công tác quảng bá du lịch VN là điểm yếu nhất của ngành này. Hiện phần lớn các đoàn khách MICE có được là do các công ty du lịch tự tìm cách chinh phục, hấp dẫn khách hàng và công ty đối tác.

    Cơ sở hạ tầng kém, môi trường văn hóa xã hội còn nhiều bất cập: du khách không hài lòng về tài xế taxi, người bán hàng rong, dịch vụ tổ chức tour, đường sắt và mua sắm quà lưu niệm. Tương lai du lịch MICE đang nằm trong tay các nhà làm du lịch, từ cấp quản lí cao nhất đến những người làm dịch vụ nhỏ nhất như tài xế, người bán hàng rong…

    Hệ thống giao thông chưa thông thoáng; khoảng cách giữa sân bay quốc tế tới nơi tổ chức hội thảo, nơi nghỉ ngơi cho khách còn xa.

    Đội ngũ phục vụ thiếu tính chuyên nghiệp, trình độ ngoại ngữ còn yếu… Chính vì vậy, đón những đoàn MICE vài trăm khách, ngành du lịch phải tự xoay sở, thậm chí phải xé lẻ đoàn thành từng nhóm nhỏ mới giải quyết được.

    3.3 Giải pháp phát huy lợi thế du lịch Mice ở việt Nam

    Việt Nam đang nổi lên là một trong những trung tâm MICE của khu vực, đã có uy tín sau những sự kiện như Hội nghị APEC, Hội nghị cấp cao Á -Âu ASEM. Năm 2022, tỉ lệ khách MICE đạt khoảng 4,68% (tương đương 800.000 lượt) trong tổng số gần 15,6 triệu lượt khách quốc tế đến Việt Nam; TCDL dự báo lượng khách này sẽ còn tăng trưởng mạnh trong những năm tiếp theo. Đặc biệt, thời gian qua, nhiều khách sạn 4-5 sao, trung tâm triển lãm, hội nghị hội thảo Việt Nam đã tổ chức MICE. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn chưa có Tiêu chuẩn quốc gia quy định các tiêu chí, tiêu chuẩn cụ thể đối với địa điểm tổ chức MICE, gây bất cập cho công tác đánh giá chất lượng, định hướng đầu tư địa điểm tổ chức MICE.

    Bên cạnh đó, Chiến lược phát triển du lịch ASEAN giai đoạn 2022-2025 đã xác định đến năm 2025, ASEAN sẽ là điểm đến du lịch có chất lượng, cung cấp các trải nghiệm duy nhất, khác biệt, cam kết phát triển du lịch một cách toàn diện, cân bằng, có trách nhiệm, bền vững.

    Tiêu chuẩn về địa điểm tổ chức MICE trong khu vực đã được xác định gồm 3 loại: Địa điểm/phòng Hội nghị hội thảo áp dụng cho khách sạn; Địa điểm Triển lãm; Địa điểm Sự kiện. Địa điểm/phòng Hội nghị hội thảo áp dụng cho khách sạn của khu vực cũng đã được công bố năm 2022 với 5 tiêu chí (32 cơ sở vật chất, 10 công nghệ, 13 dịch vụ). Các quốc gia trong khu vực cũng xác định bộ “Tiêu chuẩn địa MICE ASEAN” là tài liệu hướng dẫn tăng cường năng lực và khả năng cạnh tranh trong cung cấp dịch vụ MICE chuyên nghiệp; đồng thời ghi nhận du lịch MICE không chỉ góp phần tăng trưởng số lượng khách mà còn tăng trưởng doanh thu vì họ chi tiêu cao, lưu trú dài ngày.

    Việt Nam đặt ra bộ tiêu chí cho du lịch MICE để chuẩn hóa dịch vụ:

    • Cơ sở vật chất được chia ra cơ sở vật chất phòng họp và các khu chức năng
    • Khu phức hợp của phòng họp
    • Các khu vực công cộng thuộc phòng họp
    • Cơ sở vật chất bảo đảm an ninh/an toàn/ ứng phó khẩn cấp
    • Tiếp cận phòng họp của đơn vị tổ chức
    • Các tiêu chí kỹ thuật được đánh giá trên cơ sở vận hành hệ thống ánh sáng và nghe nhìn
    • Hệ thống điện và điều hòa không khí
    • 2 tiêu chí còn lại được đánh giá bởi dịch vụ truyền thông – tài liệu và dịch vụ phiên dịch. Các tiêu chí dịch vụ được đánh giá trên cơ sở công tác điều phối và cải thiện dịch vụ
    • Bảo vệ môi trường và cộng đồng

    Trong thời gian tới Việt Nam cần tăng cường công tác quảng bá, thực hiện chương trình Farmtrip cho các đối tượng khách hàng tiềm năng, xây dựng các gói MICE cạnh tranh, hấp dẫn để tiếp thị, nâng cao chất lượng dịch vụ, chất lượng đội ngũ hướng dẫn viên du lịch…

    3.4 Du lịch Mice tại một số tỉnh thành việt Nam

    Du nhập vào Việt Nam từ những năm 90 của thế kỷ trước, du lịch MICE rất phù hợp với điều kiện tự nhiên, chính trị, xã hội và môi trường du lịch của Việt Nam. Loại hình du lịch cao cấp này phát triển mạnh mẽ, tập trung tại các thành phố lớn: Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh, và quảng Nam đà Nẵng.

    Thực trạng du lịch Mice tại Thành phố hồ Chí Minh

    TP. Hồ Chí Minh là một trong những trung tâm kinh tế lớn, phát triển nhanh và dẫn đầu về thu hút khách du lịch của cả nước.

    Năm 2022, tổng lượng khách quốc tế đến thành phố đạt 5,2 triệu lượt, tăng 13%; khách nội địa đạt 21,8 triệu lượt, tăng 12,95 %; tổng thu từ du lịch đạt 103 nghìn tỷ đồng, tăng 9% so với năm 2022. Trong 6 tháng đầu năm 2022, TP. Hồ Chí Minh tiếp tục đà tăng trưởng với tổng thu từ du lịch đạt hơn 53 nghìn tỷ đồng, tăng 12%; khách quốc tế đến đạt 2,7 triệu lượt, tăng 14% so với 6 tháng đầu năm 2022, đóng góp quan trọng vào sự tăng trưởng lượng khách của cả nước, đưa Việt Nam trở thành 1 trong 10 quốc gia có tốc độ phát triển du lịch nhanh nhất thế giới năm 2022.

    Sự tăng trưởng tích cực của ngành du lịch TP. Hồ Chí Minh có đóng góp quan trọng của thị trường khách hội nghị, triển lãm, khuyến thưởng, mở ra cơ hội đưa TP. Hồ Chí Minh trở thành một điểm đến mới của du lịch MICE tại Đông Nam Á. Số liệu báo cáo năm 2022 của Tập đoàn tư vấn hàng đầu thế giới McKinsey cho thấy có đến 17% du khách đến TP. Hồ Chí Minh vì mục đích công việc, cao hơn so với mức bình quân 14% – 15% của khu vực. Điều này khẳng định TP. Hồ Chí Minh đang có sức hút đặc biệt đối với thị trường khách MICE và điểm đến này hội tụ đầy đủ tiềm năng cũng như yếu tố để phát triển một cách toàn diện du lịch MICE; góp phần nâng cao hơn nữa giá trị kinh tế của ngành du lịch nói riêng và đóng góp vào sự phát triển bền vững của Thành phố nói chung.

    Tiềm năng du lịch Mice Quảng Nam Đà Nẵng

    2 địa phương Đà Nẵng và Quảng Nam tổ chức thành công tuần lễ cấp cao APEC, lễ hội pháo hoa quốc tế, cuộc thi marathon quốc tế (Đà Nẵng), Festival Di sản Quảng Nam lần thứ VI.

    Quảng Nam và Đà Nẵng là điểm đến lý tưởng của thị trường MICE khu vực miền Trung bởi hội tụ các điều kiện về chất lượng, khả năng cung cấp, khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Đà Nẵng có nhiều đường bay trực tiếp thường kỳ đến từ nhiều thị trường MICE quan trọng như Trung Quốc, Hong Kong, Malaysia, Hàn quốc…; các trung tâm hội nghị đẳng cấp quốc tế để tổ chức các sự kiện chính trị, ngoại giao lớn của Thành phố và của cả nước góp phần nâng cao vị thế, thúc đẩy du lịch MICE phát triển.

    Bên cạnh đầu tư cơ sở hạ tầng thì việc nâng cao chất lượng dịch vụ, đặc biệt là chất lượng đội ngũ hướng dẫn viên chuyên nghiệp là điều vô cùng quan trọng, Thành phố cần có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp thu hút lao động chuyên về MICE về làm việc; tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có uy tín về MICE trong nước và quốc tế mở chi nhánh, văn phòng đại diện tại Đà Nẵng.

    Du Lịch MICE tại Hà nội

    Cùng với thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội được đánh giá là 1 trong 2 điểm hút khách du lịch MICE nổi bật tại Việt Nam hiện nay

    Với kinh nghiệm tổ chức các hội nghị quốc tế lớn như Hội nghị Thượng đỉnh các nước nói tiếng Pháp, Hội nghị Thượng đỉnh các nước ASEAN, Hội nghị ASEM 5, Hội nghị APEC…, Hà Nội là thành phố hàng đầu Việt Nam để tổ chức các hội nghị, hội thảo quốc tế lớn. Sau khi Hà Nội tổ chức thành công của Hội nghị Cấp cao APEC lần thứ 14 tháng 11/2006, thành phố đã gây được tiếng vang lớn và là sự kiện quan trọng đánh dấu bước phát triển trong hoạt động du lịch MICE ở Hà Nội nói riêng và đất nước Việt Nam nói chung. Đây sẽ là 1 cột mốc rất quan trọng trong việc phát triển du lịch MICE của đất nước.

    Hà Nội tập trung khách sạn chuẩn quốc tế: Rising Dragon Palace, Sofitel Legend Metropole, Melia, Nikko, Moevenpick, Daewoo, Fortuna, Intercontineltal Westlake, Sheraton…. Chính sự phát triển của hệ thống khách sạn cao cấp trên địa bàn Thủ đô với chất lượng ngày càng hoàn thiện đã góp phần quan trọng trong việc pháp triển loại hình Mice

    Du lịch theo hình thức truyền thống chỉ được hiểu là việc di chuyển từ nơi này đến nơi khác và không nhằm mục đích kiếm tiền với lịch trình cụ thể. Nhưng với sự phát triển kinh tế toàn cầu mạnh mẽ như hiện nay thì định ngĩa này không còn phù hợp với thực tế. Bởi ngày nay, họ có thể vừa đi “làm chuyện kinh tế” như hội ngị hội họp vừa có thể kết hợp du lịch ngỉ dưỡng. Chính vì nhu cầu như vậy nên hình thức du lịch MICE đã phát triển khá sớm đặc biệt là ở các nước phương tây như Anh, Mỹ, Hà Lan, Đan Mạch, Tây Ban Nha…vì nền kinh tế của họ khá phát triển. Tuy có phần phát triển muộn hơn nhưng trong những năm gần đây thì hình thức du lịch MICE ở Việt Nam khá phát triển. Đồng thời các doanh nghiệp cũng tăng cường hợp tác, liên kết để nâng cao năng lực tổ chức, tăng sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế nhằm kéo được nhiều sự kiện lớn về Việt Nam, hướng tới phát triển du lịch MICE Việt Nam một cách chuyên nghiệp, bền vững.

    4. Du lịch Mice kết hợp Nghệ thuật thư pháp truyền thống:

    Nghệ thuật thư pháp

    Thư pháp là nghệ thuật truyền thống viết chữ Hán, chữ nôm xưa, ngày nay nghệ thuật thư pháp chuyển sang viết chữ quốc ngữ.

    Mỗi độ tết đến, xuân về, đặc biệt là dịp cuối năm, các công ty thường tổ tiệc hội nghị khách hàng, hoặc tổng kết năm. Ngoài hình thức gameshow sân khấu, khen thưởng. Gonatour tổ chức các sự kiện văn hóa tuyền thống dân gian: tặng Tò he cho em bé, tô màu, đi cầu khỉ, Bịt mắt đạp heo. Đặc biệt liên kết Thư Pháp Việt mở gian hàng tặng chữ thư pháp cho khách hàng đến tham dự sự kiện, cầu chúc kinh đoanh may mắn, thành công, gia đình hạnh phúc.

    Các công ty mở quầy nghệ thuật thư pháp tặng chữ khi đón khách nhập tiệc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Địa Điểm Du Lịch Mice Tại Việt Nam
  • Du Lịch Mice Là Gì? Đặc Điểm, Vai Trò Và Loại Hình
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Mexico Tự Túc 2022
  • Bảng Giá Tour Du Lịch Mexico Trọn Gói, Giá Rẻ
  • 10 Điểm Du Lịch Tại Mèo Vạc Hà Giang Không Phải Ai Cũng Biết
  • Một Số Vấn Đề Về Quy Hoạch Và Phát Triển Du Lịch Biển Việt Nam Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Quy Hoạch Chi Tiết Tỉnh Bình Định Đến Năm 2035
  • Bản Đồ Quy Hoạch Cần Thơ 2022
  • Bản Đồ Quy Hoạch Thành Phố Cần Thơ Đến Năm 2025
  • Toàn Bộ Dự Án Quy Hoạch Du Lịch Côn Đảo (Mới Nhất)
  • Phát Triển Khu Du Lịch Quốc Gia Côn Đảo Đến Năm 2030 (P1)
  • Ở nước ta có nhiều điều kiện thuận lợi về tài nguyên biển và điều kiện tự nhiên với 3.260 km bờ biển, xếp thứ 27 trong 156 quốc gia có biển trên thế giới, có vùng biển rộng gần 1 triệu km2 và khoảng 3.000 hòn đảo lớn nhỏ, với tổng diện tích 1.700 km2 có nhiều bãi tắm trải dài ven biển Việt Nam. Trung bình cứ 100 km2 đất liền có 1 km bờ biển, trong khi đó thế giới là 600 km2 đất liền có 1 km bờ biển. Trong số hàng nghìn hòn đảo lớn nhỏ của nước ta, có 3 đảo diện tích lớn hơn 100 km2, 23 đảo có diện tích lớn hơn 10 km2, 82 đảo có diện tích hơn 1 km2 và khoảng 1.400 đảo chưa có tên.

    Vùng biển và ven biển nước ta có vị trí địa lý, chính trị, kinh tế quan trọng đối với các nước trong khu vực và toàn thế giới. Đây là tuyến hàng hải chủ yếu thông thương giữa Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương với các hoạt động hàng hải thương mại mạnh mẽ trên khu vực biển Đông. Dọc bờ biển theo thống kê có 125 bãi biển có đủ điều kiện, quy mô tầm cỡ quốc tế, thuận lợi cho việc tắm biển, nghỉ dưỡng, vui chơi trong những kỳ nghỉ của du khách. Các bãi biển Việt Nam đều bằng phẳng, nguyên sơ, cát, nước trong xanh, sóng gió vừa phải, không có các ổ xoáy và cá dữ. Sự kết hợp hài hòa giữa các cảnh quan thiên nhiên trời đất ban tặng với cảnh quan văn hóa, xã hội của con người ở vùng biển và các hải đảo cùng với những điều kiện thuận lợi về vị trí địa lý, địa hình, thời tiết đã tạo ra một lợi thế quan trọng để phát triển ngành du lịch biển đảo ở Việt Nam có ưu thế hơn hẳn các loại hình du lịch khác.

    Ở các khu vực ven biển của cả nước tập trung khoảng 70% các điểm, khu du lịch. Trong đó, có nhiều khu du lịch biển cao cấp, nổi tiếng như: Tuần Châu (Hạ Long), Vạn Chài (Thanh Hóa), Mũi Né (Bình Thuận), Côn Đảo (Vũng Tàu), Phú Quốc (Kiên Giang)…. Hàng năm du lịch trên biển đảo thu hút một lượng khách tương đối đông cả trong nước và quốc tế với khoảng 15 triệu lượt khách, trong đó có hơn 3 triệu khách nước ngoài, bằng 73% số khách du lịch nước ngoài của cả nước, đạt tốc độ tăng bình quân 13%/ năm, giải quyết việc làm cho hơn 15 vạn lao động. Thu nhập từ ngành kinh tế du lịch cũng đạt tương đối cao, năm 2006 thu nhập từ ngành này là 51 tỷ đồng. Hệ thống cơ sở lưu trú du lịch ngày càng phát triển mạnh và có các loại hình phong phú và đa dạng. Theo thống kê của Tổng cục Du lịch đến năm 2007, cả nước đã có 8.556 cơ sở lưu trú du lịch với tổng số 170.551 buồng, tăng 25 lần so với năm 1990 với tốc độ bình quân là 12,6%/ năm. Chất lượng các cơ sở lưu trú du lịch cũng có chuyển biến mạnh. Trong tổng số 4283 cơ sở lưu trú du lịch được xếp hạng từ đạt tiêu chuẩn kinh doanh lưu trú du lịch đến hạng 5 sao. Cụ thể là: 25 khách sạn 5 sao với 7.167 buồng, 69 khách sạn 2 sao với 24.041 buồng, 632 khách sạn 1 sao với 16.976 buồng và 2.830 khách sạn đạt tiêu chuẩn tối thiểu với 42.697 buồng. Toàn ngành du lịch đã thu hút 230.000 lao động trực tiếp, trong đó lao động làm việc trong hệ thống cơ sở lưu trú du lịch là 120.000 người.

    Trong chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2010 Đảng ta đã xác định có 7 khu vực được ưu tiên phát triển du lịch biển đảo, trong đó có 5 khu vực thuộc ven biển, bao gồm: Vịnh Hạ Long – Cát Bà – Đồ Sơn; Huế – Đà Nẵng – Quảng Nam; Đại Lãnh – Vân Phong – Nha Trang; Vũng Tàu – Long Hải – Công Đảo; Rạch Giá – Phú Quốc.

    Ngay từ năm 1993, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết về một số nhiệm vụ phát triển kinh tế biển trong những năm trước mắt. Đến Đại hội IX của Đảng đã xác định:” Xây dựng chiến lược phát triển kinh tế biển và hải đảo, phát huy thế mạnh đặc thù của hơn 1 triệu km2 thềm lục dịa. Tăng cường điều tra cơ bản làm cơ sở cho các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế biển” (1). “Phát triển mạnh và phát huy vai trò chiến lược của kinh tế biển kết hợp với bảo vệ vùng biển” (2). Đại hội X của Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Phát triển mạnh kinh tế biển vừa toàn diện, vừa có trọng tâm, trọng điểm với những ngành có lợi thế so sánh để đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về kinh tế biển gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh và hợp tác quốc tế” (3). Tuy nhiên, du lịch biển đảo Việt Nam hiện nay vẫn còn có những hạn chế nhất định như: nhận thức về vị trí, vai trò của biển đảo và du lịch biển đảo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của các cấp, các ngành và nhân dân còn chưa đầy đủ. Chúng ta đã có quy hoạch các vùng ven biển đảo, song nhìn chung còn phát triển manh mún chưa đồng bộ. Do đó, trong quá trình phát triển du lịch biển đảo góp phần vào phát triển nền kinh tế chung của đất nước ở một số vùng, địa phương còn diễn ra một cách tự phát, thiếu tính bền vững. Có những nơi du lịch nổi tiếng bị san lấp, xâm hại làm tổn thương nghiêm trọng đến môi trường sinh thái như sự kiện Vịnh Nha Trang – một trong những di sản văn hóa của đất nước rộng hơn 56 ha, hiện đang bị san lấp hoàn toàn để lập khu dân cư Phú Quý (gần 80 ha) với dân số 12.000 người. Hiểu biết pháp luật về biển và ý thức giữ gìn, bảo vệ môi trường biển của người dân còn yếu kém. Nhiều nơi bãi biển cư dân còn làm nơi đổ rác thải, làm ô nhiễm môi trường sống của sinh vật và cả con người.

    Ở nước ta hiện nay hầu hết các cảng biển là cảng hàng hóa, chưa có cảng chuyên biệt cho tàu du lịch. Nhiều cảng tàu có trọng tải lớn không thể cập bờ nên phải di chuyển khách bằng cano hoặc tàu du lịch mất nhiều thời gian, công sức, giảm cảm hứng cho khách du lịch. Cơ sở hạ tầng vật chất của cầu cảng chưa được đầu tư đúng mức, các dịch vụ tại cảng còn hạn chế không đáp ứng được nhu cầu của số lượng lớn du khách tàu biển. Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền, giáo dục quảng bá về du lịch biển đảo Việt Nam chưa được quan tâm đúng mức. Chưa đào tạo được đội ngũ chuyên gia giỏi về ngành du lịch biển đảo. Du lịch Việt Nam chưa tham gia các hội nghị, hội chợ chuyên về du lịch biển và tàu biển trên thế giới. Vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng biển đảo chưa đáp ứng được yêu cầu. Nguồn lực trong dân dồi dào nhưng chưa được đào tạo, sử dụng để phục vụ cho ngành du lịch biển. Hơn nữa, du lịch biển đảo Việt Nam còn yếu và thiếu về phương tiện vận chuyển, cũng như đội ngũ hướng dẫn viên du lịch có kinhn ghiệm và sử dụng thành thạo ngoại ngữ, nhất là những ngoại ngữ ít thông dụng, do đó việc bán vé và thực hiện các chương trình tham quan cho khách còn khó khăn, hạn chế.

    Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã thông qua chiến lược biển Việt Nam đến năm 2022. Trong đó, mục tiêu của Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2022 là “Phấn đấn đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo, góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, làm cho đất nước giàu mạnh” (4). Cụ thể: “Phấn đấu đến năm 2022 kinh tế biển và vùng ven biển đóng góp khoảng 53 – 55% tổng GDP của cả nước, trong đó riêng của kinh tế trên biển khoảng 21 – 23%” (5). Với mục tiêu chung đó, du lịch biển đảo là ngành có đóng góp quan trọng. Muốn đạt được chỉ tiêu như đã đề ra, chúng ta cần phải có một số giải pháp đồng bộ về quy hoạch và phát triển du lịch biển đảo như:

    Để tăng cường công tác giáo dục ý thức bảo vệ môi trường biển cho nhân dân, Nhà nước cần quan tâm chỉ đạo các phương tiện thông tin đại chúng thường xuyên dành một thời gian thích hợp cho chuyên mục này, để mỗi người dân được thông tin về môi trường và ô nhiễm môi trường nói chung và biển nói riêng, giúp mỗi người nâng cao nhận thức và có trách nhiệm của mình đối với sự trong lành của biển và cuộc sống của con người.

    Như vậy, quy hoạch và phát triển du lịch biển đảo Việt Nam hiện nay là một vấn đề quan trọng, cần có sự quan tâm chỉ đạo của các cấp, các ngành, và nhận thức, ý thức tự giác của mọi người dân. Nhà nước cần có kế hoạch xây dựng quy hoạch phát triển biển đảo Việt Nam, tạo nên một môi trường biển trong sạch, lành mạnh thì mới có thể thu hút khách du lịch trong và ngoài nước đến tham quan, nghỉ mát. Có như vậy du lịch biển đảo Việt Nam mới góp phần to lớn vào sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước.

    1/ Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2001, tr 181.

    2/ Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2001, tr 95.

    3/ Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2006, tr 225.

    4/ Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương, Tài liệu nghiên cứu các nghị quyết hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X (dành cho cán bộ chủ chốt và báo cáo viên), Lưu hành nội bộ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2007, tr 94 – 95.

    5/ Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương, Tài liệu nghiên cứu các nghị quyết hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X (dành cho cán bộ chủ chốt và báo cáo viên), Lưu hành nội bộ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2007, tr 95.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quảng Ninh: Quy Hoạch Khu Du Lịch Bãi Cháy Và Hùng Thắng
  • Thuê Xe 35 Chỗ Isuzu Samco Quảng Nam
  • Món Ngon Du Lịch Sầm Sơn 7 Món Chia 2 Loại
  • Du Lịch Sầm Sơn Hội Nhập Để Phát Triển Bền Vững
  • Cách Viết Quảng Cáo Tour Du Lịch Hấp Dẫn
  • Nhức Nhối Thực Trạng Hướng Dẫn Viên Du Lịch “chui” Tại Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Thực Trạng Khai Thác Và Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Tại Các Lăng Tẩm Ở Huế
  • Phát Triển Du Lịch Cộng Đồng Các Làng Nghề Truyền Thống Ở Nha Trang
  • Du Lịch Nha Trang Đã Phát Triển Nhưng “không Trọn Vẹn”
  • Cho Thuê Hướng Dẫn Viên Du Lịch Tại Hà Nội
  • Thuê Hướng Dẫn Viên Du Lịch Tại Sài Gòn
  • Nhức nhối tình trạng hướng dẫn viên du lịch chui tại Việt Nam

    Tình trạng hướng dẫn viên (HDV) du lịch nước ngoài hoạt động “chui” đang ngày càng nhiều tại Việt Nam và việc chấn chỉnh là câu chuyện không đơn giản.

    Lỏng lẻo trong quản lý

    Theo ông Trương Quốc Hùng, Tổng Giám đốc Hanoi Star Tour, hiện tượng các HDV đi theo các đoàn khách nước ngoài vào Việt Nam (khách inbound) xuất hiện ngày càng nhiều ở Hà Nội, Quảng Ninh, TPHCM, Ninh Thuận… tập trung ở các thị trường khách Hàn Quốc, Trung Quốc và Nga.

    Việc này không chỉ ảnh hưởng tới truyền thông về du lịch Việt Nam tới du khách quốc tế mà cả quyền lợi, chất lượng dịch vụ.

    Ảnh: VGP/Nguyệt Hà

    Những HDV du lịch “chui” này chủ yếu là nhân viên của các công ty du lịch nước ngoài đi theo đoàn khách đến Việt Nam và phụ trách luôn từ A tới Z các dịch vụ phục vụ du khách từ đặt tour, dẫn đoàn, đặt nhà hàng, thuê xe, thuyết minh. Ngay cả các nhà hàng, khách sạn ăn uống nghỉ ngơi họ cũng chọn những cơ sở cung cấp dịch vụ của người quốc gia đó mà Hàn Quốc là một trường hợp điển hình.

    Ông Phạm Tiến Dzũng, Giám đốc lữ hành Golden tour, cho biết nhiều doanh nghiệp Hàn Quốc gây sức ép với phía đơn vị cung cấp dịch vụ của Việt Nam là phải có HDV người Hàn Quốc họ mới mua tour hoặc đến điểm đến đó.

    Cách kinh doanh của các doanh nghiệp du lịch Hàn Quốc là họ đưa sang các nước một ekip đi cùng khách du lịch, từ thuê xe, thuê khách sạn, hướng dẫn viên và những điểm đến của khách, những nơi mua sắm.

    Gần đây, câu chuyện nhiều tour du lịch khách Nga do người Nga tại Việt Nam bao thầu cũng là câu chuyện nhức nhối với Tổng cục Du lịch. Những người Nga sinh sống ở Việt Nam đã trực tiếp bắt mối với khách của các công ty du lịch trong nước hoặc với chính khách du lịch Nga. Họ tự tổ chức tour, dẫn doàn, thuê xe, khách sạn, dịch vụ.

    Tình trạng không quản lý được các HDV du lịch “chui” này vừa gây thất thu vừa không kiểm soát được chất lượng dịch vụ du lịch cũng như những thông tin về điểm đến, đất nước, con người Việt Nam. Điều này sẽ làm ảnh hưởng tiêu cực tới hình ảnh Việt Nam và dịch vụ du lịch Việt Nam.

    Vướng mắc trong xử lý

    Hiện nay, Luật Du lịch Việt Nam không cho phép HDV du lịch nước ngoài được hành nghề tại Việt Nam nhưng lại không có chế tài cụ thể để xử lý.

    Có những đoàn khách, thị trường khách sử dụng HDV chui tìm cách hợp thức hoá bằng cách thuê HDV Việt Nam đi cùng để đối phó khi bị kiểm tra, còn tác nghiệp trực tiếp vẫn là HDV nước ngoài.

    Nguyên nhân của tình trạng này một phần là do cơ quan chức năng chưa thực sự quan tâm kiểm soát gắt gao lực lượng này. Một lý do khác là do hiện nay các thị trường du lịch mở rộng nhưng chúng ta lại chưa đáp ứng được đủ nhân lực hướng dẫn viên cho những thị trường này, đặc biệt là du khách Hàn Quốc, Nga, Thái Lan…

    Ví dụ như thị trường du lịch Hàn Quốc vào Việt Nam phát triển khá nhanh nhưng HDV tiếng Hàn thiếu nhiều. Những người có nghiệp vụ du lịch được đào tạo bài bản thì lại không đáp ứng được yêu cầu về ngoại ngữ. Những người có ngoại ngữ thì không được đào tạo về nghiệp vụ du lịch nên theo quy định của Luật Du lịch sẽ không được cấp thẻ hành nghề.

    Ngoài HDV tiếng Anh, với một số ngôn ngữ như tiếng Thái Lan, Nhật Bản, Nga… hiện tại các khóa đào tạo về nghiệp vụ du lịch vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường.

    Để chấn chỉnh tiến tới xử lý dứt điểm tình trạng HDV du lịch chui, và sâu xa hơn là câu chuyện cung cấp đủ HDV cho các thị trường là câu chuyện không đơn giản và không thể làm ngay trong ngày một ngày hai.

    Chế tài xử phạt chưa quy định trong Luật Du lịch, lực lượng thanh tra du lịch mỏng, cộng với những chiêu thức hoạt động tinh vi của các doanh nghiệp, cá nhân nước ngoài đang là những rào cản không dễ gì vượt qua với cơ quan chức năng ngành du lịch.

    Chưa kể, nếu có cấm được hoàn toàn lực lượng HDV trái phép này, thì sẽ có nhiều thị trường khách lớn như Hàn Quốc, Nga, Thái Lan không có đủ HDV dẫn đoàn. Câu chuyện nhân lực về cả số lượng và chất lượng hiện nay đang được coi là bài toán khó của ngành Du lịch Việt Nam.

    Chinhphu

    Mẹo du lịch:

    • Để tự vệ khi bị cướp hoặc khủng bố, bạn nên tự học Vịnh Xuân Quyền miễn phí online.
    • Mang theo một lọ tinh dầu thiên nhiên diệt virus, đề phòng bệnh dịch, và đảm bảo sức khoẻ.
    • Khi ở khách sạn, hãy để ý gài chốt an toàn để phòng tránh trộm cướp.
    • Nên đeo trên người theo một món trang sức đá phong thuỷ để gặp may mắn.
    • Đọc các mẹo vặt về sức khoẻ để tự sơ cứu và điều trị khi gặp sự cố.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dịch Vụ Foc Trong Du Lịch Là Gì ?
  • Thủ Tục Xin Visa Đi Du Lịch, Du Học Đài Loan, Thăm Người Thân
  • Kinh Nghiệm, Thủ Tục Xin Visa Du Lịch Úc Tự Túc Từng Bước Cụ Thể
  • Thủ Tục Xin Visa Du Lịch Trung Quốc Giá Rẻ Tại Tphcm
  • Hướng Dẫn Thủ Tục Xin Visa Du Lịch Pháp
  • Du Lịch Biển Tại Miền Nam Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Du Lịch Biển Tân Thành Tiền Giang
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Biển Tân Thành Tiền Giang
  • Du Lịch Bờ Biển Tây Ban Nha Có Gì Hay?
  • Tây Ban Nha Quản Lý Hoạt Động Du Lịch Biển
  • Top 10 Bãi Biển Đẹp Nhất Tây Ban Nha Không Thể Bỏ Qua!
  • Việt Nam có nhiều tiềm năng và lợi thế để phát triển đảo và du lịch biển và trên thực tế, đảo và du lịch biển được coi là một trong những loại hình du lịch chính ở Việt Nam, thu hút nhiều du khách hàng năm.

    Đến với đất nước hình chữ S, du khách cũng có cơ hội khám phá gần 50 vịnh lớn nhỏ, nhiều trong số đó được đánh giá cao trên thế giới như vịnh Hạ Long (Quảng Ninh), vịnh Nha Trang (tỉnh Khánh Hòa) và Vịnh Lăng Cô (Thừa Thiên – Huế) … Đặc biệt, với địa hình núi đá đặc biệt, với hàng ngàn hòn đảo và hang động độc đáo, vịnh Hạ Long đã được UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới hai lần, trở thành một điểm du lịch nổi tiếng.

    Hơn thế nữa, Việt Nam sở hữu một hệ thống đảo trải dài từ Quảng Ninh đến Kiên Giang. Hệ thống đảo ven biển của Việt Nam có giá trị kinh tế lớn, bao gồm cảnh quan thiên nhiên, không khí trong lành, hệ sinh thái rừng nhiệt đới duy trì tính đa dạng sinh học cao. Các bãi biển trên đảo không lớn nhưng thường rất đẹp với những bãi cát mịn, nước biển trong vắt; Một số địa điểm du lịch giá trị nhất bao gồm Phú Quốc (Kiên Giang), Côn Đảo (Bà Rịa – Vũng Tàu), Cù Lao Chàm (Quảng Nam), Phú Quý (Bình Thuận), Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh), Cát Bà (Hải Phòng) … Các tỉnh ven biển cũng có kho tàng tài nguyên du lịch lớn, bao gồm các di sản thế giới được UNESCO công nhận như nhà Hồ (Thanh Hóa), ​​thành phố hoàng gia Huế và nhạc hoàng gia (Thừa Thiên – Huế), Hội An cổ thị trấn và Mỹ Sơn (Quảng Nam) …

    Ngoài các đảo trong đất liền, các đảo ngoài khơi của Việt Nam bao gồm quần đảo Hoàng Sa (Đà Nẵng) và Trường Sa (Khánh Hòa), có hệ sinh thái rạn san hô phong phú với giá trị đa dạng sinh học biển cao và chất lượng nước tốt do không bị ảnh hưởng bởi hoạt động phát triển kinh tế xã hội ở vùng ven biển. Đây là một điều kiện lý tưởng để phát triển các loại hình du lịch thể thao biển, tham quan du lịch, tham quan học tập, lặn biển để khám phá hệ sinh thái rạn san hô.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dịch Vụ Du Lịch Biển Tại Việt Nam Tuyển Nhân Viên Có Trình Độ Tiếng Anh Cao
  • 5 Điểm Du Lịch Biển Nổi Tiếng Nhất Thái Lan
  • Bãi Biển Patong Thái Lan
  • Biển Sóc Trăng Với Văn Hóa Du Lịch (Võ Thanh Hùng)
  • Du Lịch Biển Sầm Sơn Thanh Hóa 2 Ngày 1 Đêm 2022
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100