Các Khái Niệm Khái Niệm Phổ Biến Trong Marketing Du Lịch

--- Bài mới hơn ---

  • 5 Mẫu Đơn Xin Nghỉ Phép Đi Du Lịch Nước Ngoài & Trong Nước Chuẩn Nhất
  • Mẫu Đơn Xin Nghỉ Phép Đi Du Lịch
  • Mẫu Đơn Xin Nghỉ Phép Đi Du Lịch “chuẩn Không Cần Chỉnh”
  • Hướng Dẫn Điền Đơn Visa Hàn Quốc 09/2019
  • Mẫu Đơn Xin Thị Thực (Visa) Đi Du Lịch Pháp Yêu Cầu Đại Sứ Quán
  • Theo Hiệp hội Marketing Mỹ – AMA: Marketing là một hệ thống tổng thể các hoạt động của tổ chức được thiết kế nhằm hoạch định, đặt giá, xúc tiến và phân phối các sản phẩm, dịch vụ, ý tưởng để đáp ứng nhu cầu của thị trường mục tiêu và đạt được các mục tiêu của tổ chức.

    Hiểu theo nghĩa đen marketing là tiếp thị, là cầu nối giữa thị trường và khách hàng

    Còn theo cha đẻ của ngành Marketing, Philip Kotler: Marketing được hiểu là một dạng hoạt động của con người nhằm thỏa mãn những nhu cầu và mong muốn của họ thông qua trao đổi.

    Theo Liên hiệp quốc tế các tổ chức lữ hành chính thức (International Union of Official Travel Oragnization – IUOTO): Du lịch trong khái niệm trong marketing du lịch được hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống…

    Tại hội nghị LHQ về du lịch họp tại Rome – Italia (21/8-5/9/1963), các chuyên gia đưa ra định nghĩa về du lịch:T kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình. Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ.

    Du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, vừa mang đặc điểm của ngành kinh tế vừa có đặc điểm của ngành văn hóa – xã hội

    Theo Tổ chức du lịch thế giới (World Tourism Organization): Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành tạm trú với mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc với mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm ở bên ngoài môi trường sống định cư nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền.

    – Theo Tổ chức Du lịch thế giới (The World Tourism Organization – UNWTO): “Marketing du lịch là một triết lý quản trị, mà nhờ đó tổ chức du lịch nghiên cứu, dự đoán và lựa chọn dựa trên mong muốn của du khách để từ đó đem sản phẩm ra thị trường sao cho phù hợp với mong muốn của thị trường mục tiêu, thu nhiều lợi nhuận cho tổ chức du lịch đó”.

    – Theo Nhà kinh tế Mỹ Michael Coltman: “Marketing du lịch là một hệ thống những nghiên cứu và lập kế hoạch nhằm tạo lập cho tổ chức du lịch một triết lý quản trị hoàn chỉnh với các chiến lược và chiến thuật thích hợp để đạt được mục đích”.

    Marketing du lịch là hoạt động quyết định sự sống còn của thị trường du lịch

    – Từ góc độ quản lý du lịch: Marketing du lịch là sự ứng dụng marketing trong lĩnh vực du lịch. Marketing của điểm đến du lịch là sự hội nhập hoạt động của các nhà cung ứng du lịch nhằm vào sự thỏa mãn mong muốn của người tiêu dùng du lịch trên mỗi đoạn thị trường mục tiêu, hướng tới sự phát triển bền vững của nơi đến du lịch.

    – Từ góc độ kinh doanh du lịch: Marketing du lịch là chức năng quản trị của doanh nghiệp du lịch, tất cả các hoạt động của doanh nghiệp du lịch đều phải hướng vào mong muốn của thị trường mục tiêu, đảm bảo rằng doanh nghiệp đưa ra thị trường loại sản phẩm du lịch tốt hơn và sớm hơn sản phẩm cùng loại của đối thủ cạnh tranh để đạt được mục đích. Marketing du lịch là công việc của tất cả mọi người trong doanh nghiệp du lịch, trong đó bộ phận marketing đóng vai trò then chốt.

    Có nhiều khái niệm trong marketing du lịch về sản phẩm du lịch, một trong những khái niệm đó là: ” Sản phẩm du lịch là sự kết hợp những dịch vụ và phương tiện vật chất trên cơ sở khai thác các tiềm năng du lịch nhằm cung cấp cho du khách một khoảng thời gian thú vị, một kinh nghiệm du lịch trọn vẹn và sự hài lòng” – Từ điển du lịch – Tiếng Đức NXB Berlin 1984.

    Một số sản phẩm du lịch

    Sản phẩm trong du lịch bao gồm các dịch vụ du lịch, hàng hóa và tiện nghi mà bạn cung cấp cho khách hàng của mình. Nhìn chung, sản phẩm du lịch bao gồm những yếu tố vô hình và hữu hình. Việc định giá sản phẩm phụ thuộc và các yếu tố như: thị trường thực tế tại thời điểm bán sản phẩm, chất lượng, khách mua,…

    Nhìn chung các khái niệm trong marketing du lịch đều cho thấy “thị trường” là sự bao gồm tất cả các khách hàng tiềm năng, khách hàng mục tiêu và khách hàng hiện tại cùng có chung nhu cầu hay mong muốn và khả năng thực hiện mong muốn đối với sản phẩm, dịch vụ mà công ty bạn cung cấp. Quy mô của thị trường phụ thuộc vào số lượng khách hàng có nhu cầu và sẵn sàng chi trả cho nhu cầu đó để thỏa mãn mong muốn của họ.

    Sự thỏa mãn của khách hàng chính là trạng thái cảm nhận của khách hàng qua việc sử dụng sản phẩm, dịch vụ trên thực tế so với những gì mà họ kỳ vọng.

    Đối với những công ty, doanh nghiệp làm du lịch thì sự thỏa mãn của khách hàng là cực kỳ quan trọng. Traveloka được đánh giá là một trong những đơn vị cung cấp sản phẩm, dịch vụ được đánh giá số 1 về phương diện thỏa mãn khách hàng mà đạt được sự tăng trưởng cao trong ngành du lịch.

    Lợi ích trong marketing du lịch gồm 2 khía cạnh: một là lợi ích mà khách hàng sẽ nhận được từ sản phẩm, dịch vụ khi sử dụng chúng, hai là lợi ích mà sản phẩm, dịch vụ sẽ mang lại cho khách hàng nếu họ sử dụng chúng.

    Chúng ta đều biết, mỗi người đều có một trình độ hiểu biết khác nhau, mức thu nhập khác nhau và kinh nghiệm mua hàng khác nhau. Và những điều này ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định sử dụng sản phẩm nào, của ai và với số lượng bao nhiêu để đem lại lợi ích tối đa cho họ khi dùng những sản phẩm đó. Do đó, để thỏa mãn được lợi ích của khách hàng, các công ty, doanh nghiệp, nhà sản xuất nên cân đối các chi phí để khách hàng có cả sản phẩm và sự hài lòng.

    Chi phí trong khái niệm marketing du lịch là toàn bộ chi phí mà khách hàng đã phải bỏ ra để sử dụng sản phẩm, dịch vụ trong tâm thế thỏa mãn nhất. Bao gồm: chi phí sản phẩm, dịch vụ (tất nhiên), chi phí thời gian, chi phí tinh thần và sức lực khi tìm và chọn mua sản phẩm, chi phí các dịch vụ đi kèm…

    Cốt lõi của quá trình mua – bán là người mua mua được thứ mình mong muốn và người bán bán được sản phẩm mình cần bán. Tuy nhiên, người bán phải biết được mong muốn của người mua, họ có hài lòng không? liệu sản phẩm có phù hợp và mang lại cho họ sự thỏa mãn không? dịch vụ chăm sóc khách hàng đã tốt chưa,… và quan trọng nhất là tất cả những điều này đã phù hợp với chi phí khách hàng bỏ ra khi sử dụng sản phẩm của mình hay chưa?

    – Trao đổi là một khái niệm cốt lõi của marketing nói chung và marketing du lịch nói riêng. Trao đổi là cách người ta có được thứ mình muốn khi trao đi một giá trị tương xứng. Chẳng hạn, khách hàng bỏ tiền ra để mua sản phẩm, dịch vụ của bạn, nên bạn cũng phải đưa lại cho họ sản phẩm, dịch vụ tương xứng với chi phí họ đã bỏ ra.

    – Giao dịch là đơn vị cơ bản nhất của trao đổi. Giao dịch chỉ diễn ra khi 2 bên cùng đạt được tiếng nói chung và thống nhất một thỏa thuận nào đó. Các bạn cần lưu ý, giao dịch khác với chuyển giao. Chuyển giao là bên A đưa cho bên B một sản phẩm nhưng không nhận lại được gì hoặc nhận lại những giá trị không rõ ràng. Còn giao dịch lại là trao đổi ngang bằng và rõ ràng để cùng đạt được lợi ích cụ thể.

    Để hoạt động kinh doanh diễn ra hiệu quả và thu được lợi nhuận mong muốn, không thể thiếu “khách hàng tiềm năng”. Vậy khách hàng tiềm năng là ai? Họ là những người đang có nhu cầu về sản phẩm/dịch vụ và có khả năng chi trả để sở hữu sản phẩm/dịch vụ đó.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Định Nghĩa, Mục Đích Của Marketing Du Lịch
  • Thừa Thiên Huế: Định Hướng Phát Triển Du Lịch Là Kinh Tế Mũi Nhọn
  • Ninh Bình Phát Triển Du Lịch Bền Vững
  • Đà Nẵng: Định Hướng Phát Triển Dịch Vụ Du Lịch Gắn Với Bất Động Sản Nghỉ Dưỡng
  • Định Hướng, Mục Tiêu Phát Triển Côn Đảo Đến Năm 2030 Và Tầm Quan Trọng Của Việc Thu Hút Nhà Đầu Tư Quốc Tế Lớn Phát Triển Du Lịch Côn Đảo
  • Khái Niệm, Đối Tượng Điều Chỉnh Và Chủ Thể Của Luật Du Lịch Quốc Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Về Du Lịch Và Sản Phẩm Du Lịch
  • Khái Niệm Du Lịch, Hoạt Động Du Lịch, Khách Du Lịch Và Du Lịch Bền Vững
  • Khái Niệm Du Lịch Và Sản Phẩm Du Lịch Hiện Nay
  • Khái Niệm Khách Du Lịch Và Nghiên Cứu Thống Kê Khách Du Lịch
  • Khách Du Lịch Là Gì Và Cách Phân Loại Khách Du Lịch
  • 55796

    1. Luật du lịch quốc tế là gì?

    2. Đối tượng điều chỉnh của luật du lịch quốc tế

    – Mối quan hệ giữa các quốc gia với nhau trong lĩnh vực hợp tác đầu tư, xúc tiến phát triển về du lịch;

    – Mối quan hệ giữa các tổ chức du lịch quốc tế (bao gồm các tổ chức liên chính phủ và phi chính phủ), tổ chức kinh doanh du lịch du lịch quốc tế, khách du lịch quốc tế với quốc gia nước sở tại trong hoạt động du lịch;

    – Mối quan hệ giữa các tổ chức, cá nhân ở các quốc gia khác nhau trong mối quan hệ hợp tác về du lịch. Về phạm vi điều chỉnh, luật du lịch quốc tế được xem xét trong cả lĩnh vực công pháp và tư pháp quốc tế.

    3. Chủ thể của luật du lịch quốc tế

    – Quan niệm về quốc gia

    Theo Điều 1 của công ước Motevideo năm 1933 về quyền và nghĩa vụ quốc gia: (1), Dân cư thường xuyên; (2), Lãnh thổ được xác đinh; (3), Chính phủ; (4), Năng lực tham gia vào các quan hệ với các thực thể quốc tế khác.

    – Chủ quyền quốc gia

    + Quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ chủa mình;

    + Và quyền độc lập của quốc gia trong quan hệ quốc tế.

    – Quyền và nghĩa vụ của quốc gia trong luật quốc tế

    + Quyền bình đẳng về chủ quyền và quyền lợi;

    + Quyền được tự vệ cá nhân hay tự vệ tập thể;

    + Quyền được tồn tại trong hòa bình và độc lập;

    + Quyền bất khả xâm phạm về lãnh thổ;

    + Quyền được tham gia vào việc xây dựng các quy phạm pháp luật quốc tế;

    + Quyền được tự do quan hệ với các chủ thể khác của luật quốc tế;

    + Quyền được trở thành thanh viên của các tổ chức quốc tế phổ biến.

    + Tôn trọng chủ quyền của các quốc gia;

    + Tôn trọng bất khả xâm phạm lãnh thổ của các quốc gia khác;

    + Không áp dụng vũ lực hoặc đe dọa vũ lực;

    + Không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau;

    + Hợp tác hữu nghị giữa các quốc gia nhằm duy trì nền hòa bình và an ninh quốc tế;

    + Tôn trọng nguyên tắc bình đẳng trong quan hệ quốc tế;

    + Tôn trọng những cam kết và tập quán quốc tế;

    + Giải quyết tranh chấp quốc tế bằng phương pháp hòa bình

    – Vai trò của quốc gia trong du lịch quốc tế

    + Sự hợp tác quốc tế của quốc gia tạo ra sự liên kết và là động lực thúc đẩy ngành du lịch quốc tế phát triển;

    + Môi trường pháp lý mỗi quốc gia là tiền đề của hoạt động du lịch quốc tế.

    – Hoạt động pháp lý của quốc gia trong du lịch quốc tế

    + Xây dưng, tham gia các Điều ước quốc tế về du lịch;

    + Xây dựng các chuẩn mức pháp lý của quốc gia về yếu tố nước ngoài trong ngành du lịch quốc gia mình;

    + Giải quyết, tham gia giải quyết tranh chấp quốc tế về du lịch.

    – Hoạt động khác của quốc gia trong du lịch quốc tế

    + Tham gia và tạo điều kiện cho các chủ thể khác tham gia vào các tổ chức du lịch quốc tế;

    + Thực hiện các hoạt động xúc tiến, đầu tư về du lịch;

    + Đảm bảo sự an toàn và an ninh cho hoạt động du lịch quốc tế diễn ra tại lãnh thổ quốc gia mình.

    b) Các loại tổ chức quốc tế về du lịch

    Có 02 loại tổ chức quốc tế về du lịch đó là: tổ chức quốc tế liên chính phủ và tổ chức phi chính phủ (NGOs).

    – Vai trò của tổ chức du lịch quốc tế

    + Là cầu nối liên kết các ngành du lịch trên thế giới;

    + Thúc đẩy phát triển tiềm năng du lịch ở vùng, khu vực trên thế giới;

    + Bảo hộ các thành viên trong hoạt động du lịch.

    – Một số tổ chức du lịch quốc tế điển hình

    + Tổ chức du lịch thế giới (World Tourism Organization)

    + Ủy hội du lịch Châu Âu (European Travel Commission – ETC)

    + Hiệp hội du lịch Châu Á- Thái Bình Dương ( PATA: Pacific Asia Travel Association)

    + Hội đồng Du lịch và Lữ hành Thế giới (WTTC: World travel anh tourism Council);

    + Trung tâm Quốc tế APEC về Du lịch bền vững (AICST: Apec international Centre for Sustainable Tourism)

    + Hiệp hội du lịch ASEAN …

    * Tổ chức du lịch thế giới (WTO) + Tiền thân của Tổ chức Du lịch Thế giới là Đại hội quốc tế Hiệp hội các Cơ quan Vận chuyển Du lịch, được thành lập vào năm 1925 ở Hague.+ Sau Chiến tranh Thế giới II, tổ chức này đổi tên là Liên hiệp Quốc tế Tổ chức các Cơ quan Lữ hành (IUOTO) và được chuyển tới Geneva.+ Trên cơ sở nghị quyết của Hội nghị trù bị về thành lập Tổchức Du lịch thế giới (WTO), họp ngày 27/9/1970. Tổ chức WTO đã được chính thức thành lập ngày 2/1/1975.+ Hàng năm, ngày 27/9 được coi là ngày Du lịch thế giới.Đại Hội đồng LHQ khoá 58 đã thông qua nghị quyết số 58/232 công nhận WTO là tổ chức chuyên môn trong hệ thống LHQ.– Phát triển: Đến năm 2005, danh sách thành viên của WTO đã bao gồm 145 quốc gia, 7 vùng lãnh thổ và khoảng 350 thành viên chi nhánh, đại diện cho khu vực tư nhân, các tổ chức giáo dục, hiệp hội du lịch và các cơ quan du lịch địa phương– Thành viên: + Thành viên chính thức (các quốc gia có chủ quyền) đến Đại hội lần thứ 14 WTO có 138 nước thành viên.+ Thành viên liên kết là những vùng lãnh thổ, hiện nay có 6 thành viên là Aruba, Macao, Madeire, Hồng kông, Frémish và quần đảo Antilles.+ Thành viên chi nhánh: là những công ty du lịch, hãng du lịch,… hiện nay có 350 thành viên.+ Ngân sách: Do các nước thành viên chính thức đóng góp, được chia thành 15 bậc và đóng theo sự phát triển của khách lữ hành quốc tế vào nước đó.+ Tôn chỉ Mục đích: WTO hoạt động nhằm đẩy mạnh và phát triển du lịch nhằm góp phần vào sự phát triển kinh tế, tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc, các quốc gia vì hòa bình, thịnh vượng, tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng nhân quyền và tự do cơ bản, không phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ và tôn giáo.Đại hội đồng WTO :– Họp thường kỳ hai năm họp một lần, có nhiệm vụ thông qua chủ trương, chính sách du lịch, định hướng phát triển du lịch phục vụ sự phát triển kinh tế thé giới; bầu các chức vụ quan trọng của WTO như Tổng thư ký, các nước trong Hội đồng chấp hành WTO , kết nạp thành viên mới và đình chỉ nước thành viên khi nợ ngân sách quá 2 năm liền.Chia thành 3 loại :Hội đồng chấp hành (HĐCH):+ HĐCH gồm 27 nước thành viên được bầu theo khu vực địa lý. nhiệm kỳ là 2 năm và được tái cử.+ HĐCH do 1 Chủ tịch và 3 Phó Chủ tịch lãnh đạo.+ HĐCH là cơ quan điều hành giúp WTO triển khai các chủ trương chính sách đã được ĐHĐ thông qua giữa hai kỳ ĐHĐ.+ HĐCH họp 2 kỳ 1 năm và có các cuộc họp bất thường theo đề nghị của Tổng Thư ký hay của 2/3 số thành viên HĐCH.+ Đứng đầu là Tổng Thư ký và 2 phó Tổng thư ký, nhiệm kỳ 4 năm.+ 6 tiểu ban khu vực: Châu Phi; Châu Mỹ; Đông Á – Thái Bình dương; Nam Á; Châu Âu; Trung Đông.

    – Ngoài Đại hội đồng thường kỳ, WTO cũng có thể triệu tập cuộc họp bất thường theo yêu cầu của Hội đồng chấp hành hoặc do 2/3 số thành viên chính thức yêu cầu.

    Cơ cấu tổ chức:

    – Các tổ chức du lịch quốc tế khác

    + Ủy hội du lịch Châu Âu (European Travel Commission – ETC)

    Ủy hội du lịch Châu Âu tập hợp các tổ chức du lịch quốc gia châu Âu nhằm gia tăng mức độ du lịch từ những phần đất khác trên thế giới đến Châu Âu như là kết quả của những hoạt động tiếp thị.

    + Hiệp hội du lịch Châu Á- Thái Bình Dương ( PATA):

    PATA là một tổ chức du lịch bao gồm các hội viên thuộc khu vực tư, đặc biệt là các công ty du lịch lớn, cũng như các tổ chức du lịch quốc gia.

    PATA tổ chức nghiên cứu thị trường tập thể, dành sự hổ trợ kỷ thuật cho sự phát triển du lịch, chủ yếu thông qua những sự nghiệp dành cho các quốc gia riêng lẽ hoặc trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.

    + Hiệp hội du lịch Asean Các tổ chức du lịch quốc tế khác

    + Hiệp hội du lịch Asean: Bao gồm các nước thành viên Asean, thể hiện mối quan hệ cấp bộ trưởng về lĩnh vực du lịch trong khu vực, có vai trò gắn kết và phát triển vùng du lịch chung và tiềm năng phát triển du lịch của từng quốc gia

    c) Tổ chức kinh doanh du lịch quốc tế

    – Khái niệm tổ chức kinh doanh du lịch quốc tế:

    Tổ chức kinh doanh du lịch quốc tế là tổ chức kinh tế thực hiện hoạt động kinh doanh du lịch quốc tế.

    – Đặc điểm của tổ chức kinh doanh du lịch quốc tế:

    + Là pháp nhân được thành lập theo quy định của pháp luật một quốc gia nhất định;

    + Hoạt động nhằm mục tiêu lợi nhuận;

    – Vai trò của tổ chức kinh doanh du lịch quốc tế:

    + Thoả mãn nhu cầu du lịch của khách du lịch, đặc biệt là khách du lịch quốc tế.

    + Thúc đẩy kinh tế phát triển;

    + Khai thác và giới thiệu tài nguyên du lịch hấp dẫn của quốc gia đến các nước khác

    + Tạo ra nguồn thu nhập quốc gia;

    + Tạo việc làm cho người lao động;

    – Khái niệm khách du lịch quốc tế:

    Khách du lịch quốc tế là người đi du lịch bên ngoài lãnh thổ quốc gia mà mình thường trú.

    – Vai trò của lhách du lịch quốc tế:

    + Là đối tượng trung tâm của các hoạt động du lịch quốc tế của từng quốc gia, khu vực và trên toàn thế giới;

    + Là động lực phát triển kinh tế ;

    + Mang lại nguồn thu nhập, việc làm cho quốc gia nước sở tại;

    1. QUAN HỆ Việt Nam VỚI CÁC NƯỚC KHU VỰC ASEAN

    Quan hệ hợp tác quốc tế du lịch giữa Việt Nam và các nước

    – ASEAN là tổ chức liên chính phủ

    – Số lượng thành viên: 10 quốc gia

    – Ngày gia nhập của Việt Nam: 27/71995;

    – Là tổ chức thể hiện sự hợp tác toàn diện của các quốc gia Đông Nam Á, trong đó có lĩnh vực du lịch

    1.1 Lịch sử hợp tác về du lịch của ASEAN

    + Tuyên bố Manila ngày 15 tháng 12 năm 1987;

    + Thỏa thuận cấp Bộ trưởng về Hợp tác Du lịch ASEAN, ký ngày 10 tháng 01 năm 1998, tại Cebu, Philippines;

    + Hiệp định Khung ASEAN về Dịch vụ, ký tại Bangkok, ngày 15 tháng 12 năm 1995 Hiệp định du lịch ASEAN được ký tại Phnôm Pênh, Campuchia, ngày 04 tháng 11 năm 2002;

    + Nghị định thư Hội nhập ngành du lịch ASEAN tại Viên Chăn, Lào ngày 29/11/2004

    1.2 Nội dung hợp tác cơ bản

    – Tạo điều kiện thuận lợi trong du lịch ASEAN và quốc tế;

    – Về dịch vụ vận tải du lịch;

    – Tiếp cận thị trường;

    – Du lịch có chất lượng;

    – An toàn và an ninh du lịch;

    – Phối hợp xúc tiến và tiếp thị;

    – Phát triển nguồn nhân lực.

    – Tạo điều kiện thuận lợi trong du lịch ASEAN và quốc tế;

    + Đưa ra các ưu đãi nhằm khuyến khích đầu tư, nhất là khu vực tư nhân vào ASEAN;

    + Xây dựng và triển khai các dự án du lịch sinh thái nhằm khuyến khích đầu tư vào du lịch

    – Về dịch vụ vận tải du lịch;

    + Miễn thị thực cho du lịch nội khối ASEAN của các công dân ASEAN (từ năm 2005);

    – Tiếp cận thị trường;

    + Đẩy nhanh tự do hoá thương mại dịch vụ trước năm 2022;

    + Xúc tiến các chương trình hợp tác và đầu tư chung, bao gồm thị trường các nước thứ ba;

    + Loại bỏ các hạn chế về tiếp cận thị trường và đối xử quốc gia nhằm đạt được tự do hoá thương mại trong ngành du lịch.

    – Du lịch có chất lượng;

    Bước đầu xây dựng các tiêu chuẩn về cấp độ của các khách sạn, tập trung vào hệ thống cấp chứng nhận quản lý môi trường của khách sạn.

    – An toàn và an ninh du lịch;

    + Ổn định chính trị;

    + Thực hiện tốt các biện pháp chống khủng bố;

    + Đảm bảo an toàn cho khách du lịch trước các tội phạm .

    – Phối hợp xúc tiến và tiếp thị;

    + Tăng cường các nỗ lực xúc tiến chung trong và ngoài khối ASEAN thường xuyên thu hút du lịch và đầu từ du lịch từ thị trường ngoài ASEAN;

    + Khuyến khích khu vực tư nhân tham gia vào các chương trình xúc tiến và marketing chung đối với các hoạt động du lịch ASEAN ;

    + Tiếp thị bằng logo chung, tổ chức một khu du lịch chung trong hội chợ triển lãm du lịch …..;

    – Phát triển nguồn nhân lực.

    + Chương trình đào tạo chung;

    + Xây dựng các tiêu chuẩn phù hợp tối thiểu trong ASEAN đối với các cơ quan du lịch chuyên nghiệp

    + Xây dựng một Mạng lưới Phát triển và Quản lý Nguồn lực Du lịch;

    2. VIỆT NAM – APEC

    + Chương trình trao đổi, các hoạt động đào tạo chéo và chứng nhận chéo;

    – Diễn đàn hợp tác Châu Á Thái Bình Dương hiện nay có 21 thành viên. Diễn đàn này hợp tác trên nhiều lĩnh vực trong đó có lĩnh vực du lịch.

    – Về hoạt động hợp tác trong lĩnh vực du lịch, các quốc gia thành viên Apec đã có những văn kiện hợp tác quan trọng, trong đó nổi bậc nhất là Hiến chương du lịch Apec và Tuyên bố Hội An

    2.1 Hiến chương Du lịch APEC

    Tại Hội nghị Bộ trưởng Du lịch APEC lần thứ nhất tại Hàn Quốc năm 2000, Hiến chương Du lịch APEC đã được thông qua với 4 mục tiêu chính:

    + Loại bỏ những trở ngại đối với kinh doanh và đầu tư du lịch;

    + Thúc đẩy dòng khách du lịch và nhu cầu tiêu dùng sản phẩm;

    + Quản lý bền vững tài nguyên du lịch và hạn chế tác động tiêu cực;

    + Tăng cường nhận thức và hiểu biết du lịch, coi đó là phương tiện phát triển kinh tế, xã hội.

    2.2 TUYẾN BỐ HỘI AN

    Hội nghị Bộ trưởng Du lịch APEC lần thứ 4, tổ chức tại Hội An, Quảng Nam, Việt Nam từ ngày 15 – 17/10/2006 trong khuôn khổ Năm APEC Việt Nam 2006:

    + Khuyến khích tổ chức Hội chợ Du lịch APEC

    + Tăng cường thu hút đầu tư vào cơ sở hạ tầng du lịch;

    3. QUAN HỆ VIỆT NAM – TỔ CHỨC DU LỊCH THẾ GIỚI (WTO):

    + Khuyến khích áp dụng các biện pháp tạo điều kiện đi lại thuận lợi cho khách du lịch, nghiên cứu khả năng kết nối tour và mở đường bay trực tiếp giữa các di sản văn hóa ;

    + Tổ chức các hoạt động giao lưu thanh niên và giao lưu giữa các thành phố kết nghĩa.

    – Gia nhập:

    Ngày 26 tháng 9 năm 1979, CHXHCN Việt Nam gửi đơn xin gia nhập WTO .

    – Quan hệ hợp tác:

    4. QUAN HỆ VIỆT NAM – TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO) VỀ DU LỊCH

    Với sự trợ về tài chính của UNDP, Việt Nam và chuyên gia cao cấp của WTO đã hoàn thành dự án phát triển du lịch Việt nam từ nay dến 2010

    CAM KẾT CỦA VIỆT NAM KHI GIA NHẬP TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO) VỀ DU LỊCH

    – Dịch vụ du lịch theo định nghĩa trong WTO, gồm:

    + Dịch vụ khách sạn và nhà hàng (CPC 641 – 643);

    + Dịch vụ lữ hành và điều hành tour du lịch (CPC 7471);

    + Dịch vụ hướng dẫn viên du lịch (CPC 7472);

    + Dịch vụ khác.

    – Cơ sở đưa ra cam kết:

    Căn cứ vào pháp luật của Việt Nam; thực tiễn của ngành du lịch; cam kết quốc tế trước đó của Việt Nam; cam kết trong Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ.

    Nội dung cam kết

    – Diện cam kết: Việt Nam chỉ cam kết dịch vụ khách sạn và nhà hàng, dịch vụ đại lý lữ hành và điều hành tour du lịch. Không cam kết dịch vụ hướng dẫn viên du lịch.

    – Đối với dịch vụ đại lý lữ hành và điều hành tour du lịch:

    + Chỉ cho phép các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài thành lập liên doanh với đối tác Việt Nam, không hạn chế vốn nước ngoài trong liên doanh.

    + Hướng dẫn viên du lịch trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải là người Việt Nam;

    + Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ có vốn đầu tư nước ngoài chỉ được phép cung cấp dịch vụ đưa khách vào du lịch Việt Nam.

    Một số lưu ý:

    + Không cho phép doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (phù hợp với Điều 51 Luật Du lịch);

    + Không hạn chế vốn nước ngoài trong liên doanh (Luật Du lịch Việt Nam – 2005 chưa có);

    + Chưa cam kết cho phép thành lập chi nhánh (Điều 42 Luật Du lịch);

    + Không hạn chế đối tác Việt Nam trong liên doanh (Điều 51 Luật Du lịch).

    CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG CỦA VIỆT NAM VỀ DU LỊCH SAU KHI GIA NHẬP WTO 2007-2012

    --- Bài cũ hơn ---

  • Du Lịch Biển Là Gì? Phát Triển Du Lịch Biển Là Gì?
  • Đề Tài: Tìm Hiểu Ẩm Thực Đường Phố Tại Tphcm Phát Triển Du Lịch
  • Cần Thơ: Khai Mạc Tuần Lễ Du Lịch Xanh Đbscl 2022
  • Top 10 Khách Sạn Tốt Nhất Ở Phú Quốc
  • Kinh Nghiệm Lưu Trú Tại Các Khách Sạn Ở Bà Nà Hills
  • Khái Niệm Về Du Lịch Bụi

    --- Bài mới hơn ---

  • 10 Điều Tuyệt Vời Bạn Sẽ Học Được Từ Chuyến Du Lịch Bụi Một Mình
  • Hướng Dẫn Tự Đi Du Lịch Bụi Kiên Giang Năm Nay Cho Bạn
  • Lịch Trình Du Lịch Koh Rong Samloem Siêu Chi Tiết 4 Đêm 3 Ngày
  • Đại Hội Hiệp Hội Du Lịch Tỉnh Kon Tum
  • Khám Phá Kota Kinabalu, Thành Phố Biển Náo Nhiệt
  • Du lịch bụi (hay còn gọi là du lịch ba-lô, tiếng Anh: Backpacking Tourism) là loại hình du lịch thường được các cá nhân hay một nhóm nhỏ áp dụng. Loại hình du lịch này là sự chọn lựa của một hoặc vài cá nhân đơn lẻ, đa phần là giới trẻ, họ tự vạch ra lộ trình và đích đến cũng như mục đích của chuyến đi, họ không đi theo những chương trình mà các công ty du lịch cung cấp. Hình thức du lịch bụi phù hợp cho việc khám phá thiên nhiên và trải nghiệm cuộc sống thường ngày của dân địa phương, du khách sẽ không bị bó buộc trong một không gian, cũng không bị giới hạn thời gian theo lịch trình của chuyến đi.

    Với hình thức du lịch này nếu biết cách bạn sẽ tiết kiệm được rất nhiều khoản chi tiêu. Chỉ cần một số tiền nhỏ và một ít kiến thức bạn có thể đi bất cứ nơi đâu miễn là bảo đảm được mức chi tiêu và biết cách tận dụng những mối quan hệ sẵn có ở những nơi mà bạn dự định đến. Theo quan điểm của bạn LuckyBaby về một chuyến du lịch bụi thì “Bạn cần một chiếc xe gắn máy hay một chiếc xe đạp, và một balo đầy những vật dụng cần thiết và ít quần áo cho chuyến đi.

    Và có một số khái niệm khác về hình thức du lịch bụi được đưa ra:

    Du lịch bụi là hình thức du lịch tự túc. Là do một người hay nhiều người, tập hợp lại thành một nhóm để cùng thực hiện một chuyến du lịch. Tự đi, tự ăn, ở mà không cần thông qua bất cứ công ty lữ hành nào. Họ sẽ là người chủ động trong chuyến đi. Hành trang gồm quần áo, bản đồ, điện thoại, tài khoản ngân hàng và một ít tiền mặt, dụng cụ cá nhân, thuốc men, lương thực. Quan trọng nhất là phải biết ít nhiều về nơi mà họ muốn đến: văn hóa, tôn giáo, dân tộc.

    Đối với bản thân tôi thì:

    Du lịch bụi là một hình thức du lịch trải nghiệm thông qua một chuyến hành trình đích thực hơn là những tour du lịch trọn gói mang tính sắp đặt, là chuyến đi mà thời gian do mình làm chủ, địa điểm do mình tự quyết, nội dung khám phá do mình tự chọn. Chỉ cần có thời gian, có phương tiện cá nhân như xe gắn máy chẳng hạn (nếu không có phương tiện cá nhân thì tận dụng các phương tiên công công giá rẻ như xe buýt, xe lửa), một số tiền vừa đủ cho cuộc hành trình, vác balo đi khắp nơi, đi đến bất cứ nơi nào mình thích miễn là tuân thủ đúng theo pháp luật quy định của nơi đó và đảm bảo chi tiêu cá nhân.

    Đặc điểm du lịch bụi

    • Sử dụng các phương tiện công cộng, làm phương tiện di chuyển chính cho chuyến hành trình. Ở Việt Nam các nhóm Du Lịch Bụi thường sử dụng xe gắn máy làm phương tiện chính cho hành trình.
    • Lưu trú tại các khách sạn, các phương tiện lưu trú giá rẻ, cắm trại, ngủ nhờ nhà dân địa phương.
    • Hình ảnh của khách du lịch bụi gắn liền với ba lô, sách hướng dẫn du lịch, bản đồ.
    • Thời gian đi du lịch thường kéo dài hơn so với các loại hình du lịch khác.
    • Lịch trình chuyến đi mang tính độc lập và linh động. “The plan is there is no plan” (kế hoạch là không có kế hoạch nào cả). Mục tiêu khi đi du lịch là được trải nghiệm, khám phá, tìm hiểu phong cách sống và được gặp gỡ người dân nước bản địa.
    • Tham gia nhiều vào các hoạt động khám phá, giải trí.

    Du lịch “bụi” sẽ tiết kiệm khá nhiều chi phí bỏ ra và thu gom về cho du khách khá nhiều trải nghiệm thú vị. Đó là lý do tại sao các bạn trẻ ngày nay lại thích loại hình du lịch này và khái niệm du lịch “bụi” ngày càng trở nên phổ biến hơn.

    Trên thế giới

    Xét về góc độ lịch sử, Giovanni Francesco Gemelli Careri (1651-1725) được xem là người khai sinh ra loại hình du lịch bụi. Sinh ra ở vùng Radicena, (ngày nay là Taurianova) Calabria, Italia vào năm 1651, Giovan Francesco Gemelli Careri là một quan tòa làm việc tại tòa án Naples. Tuy nhiên ông đã không thành công trong công việc của mình.

    Năm 1685, ông đã đi du lịch Châu Âu. Một năm sau, ông trở lại quê hương và tiếp tục làm công việc của một vị quan tòa. Tuy nhiên ông không thỏa mãn với cuộc sống của mình, ông luôn muốn thấy được nhiều thứ mới mẻ. Đó cũng là lý do vào năm 1693, ông bắt đầu chuyến hành trình vòng quanh thế giới kéo dài trong 5 năm.

    Sau khi kết thúc chuyến hành trình, ông đã viết sách về chuyến hành trình của mình. Cuốn sách đó đã được tái bản năm lần ở Italia và được dịch thành nhiều thứ tiếng.

    Trong tác phẩm ”Around the World in 80 Days” tác giả Jule Vernes cũng đã giới thiệu về chuyến hành trình của Giovan Francesco Gemelli Careri.

    Tại Việt Nam

    Trong những năm gần đây các thuật ngữ như: du lịch bụi, du lịch ba lô, ta ba lô hay phượt được giới trẻ sử dụng rất nhiều. Du lịch bụi đã và đang trở thành một trào lưu thu hút rất nhiều bạn trẻ tham gia, nhiều trang blog, diễn đàn du lịch cũng vì thế được ra đời.

    Tuy nhiên, với bất kỳ hình thức du lịch nào thì sức khỏe, sự an toàn của chính bản thân và những người cùng đi là quan trọng. Vì vậy, hãy tìm hiểu kỹ những nơi các bạn sẽ đến về mọi mặt: địa lý, điều kiện thời tiết, khí hậu, văn hóa và phong tục tập quán để chọn thời điểm thích hợp cũng như chuẩn bị hành trang phù hợp cho chuyến hành trình của mình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bí Quyết Xin Visa Đi Du Lịch Bụi Khắp Châu Á Của Chàng Trai Việt
  • Vợ Chồng Rủ Nhau Nghỉ Việc, Mang 50 Triệu Đi Phượt Xuyên Việt Suốt 40 Ngày
  • Du Lịch Bụi Nha Trang
  • Du Lịch Bụi Khánh Hòa
  • 8 Lợi Ích Của Du Lịch Bụi Đã Ban Tặng Cho Tôi
  • Khái Niệm Điểm Du Lịch Là Gì ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Điểm Du Lịch Và Các Yếu Tố Cấu Thành Điểm Du Lịch
  • Xúc Tiến Bán Hàng Là Gì? Xây Dựng Chiến Lược Xúc Tiến Bán Hàng Hiệu Quả
  • Những Nét Khái Quát Về Du Lịch Huế Khiến Du Khách Quan Tâm
  • Khai Trương Du Lịch Sầm Sơn Hè 2014
  • Thanh Hóa: Khai Trương Du Lịch Sầm Sơn 2022
  • Điểm du lịch là gì ? Có khác gì đại lý du lịch ?

    Du lịch là hoạt động mang tính chất vui chơi giải trí , sau những ngày tháng làm việc học tập vất vả . Người ta thường chọn những địa điểm đẹp , để đi cùng gia đình bạn bè …

    Khái niệm và đặc điểm điểm du lịch là gì ?

    Địa điểm du lịch là một địa chỉ cụ thể , mà được nhiều người chọn đến , nơi đây có phong cảnh đẹp cũng như chất lượng dịch vụ tốt . Ở Việt Nam có rất nhiều các địa điểm du lịch đẹp , không kém gì trên thế giới như : Vịnh hạ Long , nha trang , động phong nha kẽ bàng , nhã nhạc cung đình huế… Việt nam là nước 3/4 diện tích là đồi núi nên có thể được coi là một nước có rừng vàng biển bạc , có nhiều nơi kì thú , đẹp để tham quan . Nơi đây nơi đây , ngoài những nơi có phong cảnh đẹp , thì việt nam là nước có ẩm thực phong phú, Khách du lịch luôn thích thú vì vừa được ngắm phong cảnh đẹp , cũng như được thưởng thức các món ăn ngon , độc đáo … Do đó , ngày nay khi hoạt động du lịch được nâng cao thì ngành nghề vận chuyển , cùng với ngành nghề ẩm thực được kéo theo phát triển mạnh mẽ . Tuy nhiên , chi phí để bỏ ra cho một chuyến du lịch cũng không rẻ , chỉ những địa điểm gần , và bình dị thì giá cả mới mềm , còn lại những địa điểm du lịch lớn , thì chi phí bỏ ra là khá tốn kém .

    Du lịch vừa là hình thức hoạt động kinh tế , vừa là hoạt động quảng bá thương hiệu mạnh mẽ . Đi giúp lịch giúp chúng ta sảng khoái tinh thần , giảm căng thẳng , thì làm việc cũng như học tập sẽ có hiệu quả hơn rất nhiều .

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khai Mạc Tuần Lễ Du Lịch Xanh Đồng Bằng Sông Cửu Long Năm 2022
  • Top 7 Khách Sạn Tốt Nhất Phú Quốc Để Kỳ Nghỉ Được Trọn Vẹn Nhất?
  • Kinh Nghiệm Đặt Khách Sạn Tốt Khi Du Lịch Phú Quốc
  • Tất Tần Tật Kinh Nghiệm Đi Flc Sầm Sơn Từ A
  • Khách Sạn Thái Bình Dương Sầm Sơn
  • Các Khái Niệm Về Du Lịch Sinh Thái

    --- Bài mới hơn ---

  • Tuyến Điểm Du Lịch Là Gì? Các Nhân Tố Hình Thành Nên Tuyến Điểm Du Lịch
  • Tuyến Điểm Du Lịch Việt Nam
  • Khái Niệm Xúc Tiến Bán Hàng Và Tầm Quan Trọng Của Công Tác Này
  • Khái Quát Phát Triển Du Lịch Việt Nam Giai Đoạn 2010
  • Một Vài Nét Khái Quát Về Du Lịch Phú Quốc
  • Các khái niệm về du lịch sinh thái

    Số truy cập:47531

    Hector Ceballos-Lascurain- một nhà nghiên cứu tiên phong về du lịch sinh thái(DLST), định nghĩa DLST lần đầu tiên vào năm 1987 như sau: “Du lịch sinh thái là du lịch đến những khu vực tự nhiên ít bị ô nhiễm hoặc ít bị xáo trộn với những mục tiêu đặc biệt: nghiên cứu, trân trọng và thưởng ngoạn phong cảnh và giới động-thực vật hoang dã, cũng như những biểu thị văn hoá (cả quá khứ và hiện tại) được khám phá trong những khu vực này” trích trong bài giảng Du lịch sinh thái của Nguyễn Thị Sơn.

    Theo Hiệp hội DLST Hoa Kỳ, năm 1998 “DLST là du lịch có mục đích với các khu tự nhiên, hiểu biết về lịch sử văn hóa và lịch sử tự nhiên của môi trường, không làm biến đổi tình trạng của hệ sinh thái, đồng thời ta có cơ hội để phát triển kinh tế, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và lợi ích tài chính cho cộng đồng địa phương”.

    Một định nghĩa khác của Honey (1999) “DLST là du lịch hướng tới những khu vực nhạy cảm và nguyên sinh thường được bảo vệ với mục đích nhằm gây ra ít tác hại và với quy mô nhỏ nhất. Nó giúp giáo dục du khách, tạo quỹ để bảo vệ môi trường, nó trực tiêp đem lại nguồn lợi kinh tế và sự tự quản lý cho người dân địa phương và nó khuyên kích tôn trọng các giá trị về văn hóa và quyền con người”.

    Ở Việt Nam vào năm 1999 trong khuôn khổ hội thảo xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển du lịch sinh thái đã đưa ra định nghĩa như sau: “Du lịch sinh thái là hình thức du lịch thiên nhiên có mức độ giáo dục cao về sinh thái và môi trường có tác động tích cực đến việc bảo vệ môi trường và văn hóa, đảm bảo mang lại các lợi ích về tài chính cho cộng đồng địa phương và có đóng góp cho các nỗ lực bảo tồn”.

    Năm 2000, Lê Huy Bá cũng đưa ra khái niệm về du lịch sinh thái “DLST là một loại hình du lịch lấy các hệ sinh thái đặc thù, tự nhiên làm đối tượng để phục vụ cho những khách du lịch yêu thiên nhiên, du ngoạn, thưởng thức những cảnh quan hay nghiên cứu về các hệ sinh thái. Đó cũng là hình thức kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế du lịch với giới thiệu về những cảnh đẹp của quốc gia cũng như giáo dục tuyên truyền và bảo vệ, phát triền môi trường và tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững”.

    Trong luật du lịch năm 2005, có một định nghĩa khá ngắn gọn “Du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững”. Theo quy chế quản lý các hoạt động du lịch sinh thái tại các VQG, khu bảo tồn thiên nhiên, do bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành năm 2007, thì Du lịch Sinh thái được hiểu là “Du lịch sinh thái: Là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương với sự tham gia của cộng đồng dân cư ở địa phương nhằm phát triển bền vững”.

    Theo Hiệp hội Du lịch Sinh Thái (The Internatonal Ecotourism society) thì “DLST là du lịch có trách nhiệm với các khu thiên nhiên là nơi bảo tồn môi trường và cải thiện phúc lợi cho nhân dân địa phương”.

    Qua tìm hiểu các khái niệm trên ta có thể thấy rằng các khu bảo tồn và VQG là nơi phù hợp nhất, bởi đây chính là nơi có nhiều yếu tố hấp dẫn khách du lích sinh thái.

    Những yếu tố này có thể là một hoăc nhiều loài động thực vật quý hiếm và đặc hữu, cuộc sống hoang dã phong tục tập quán, tính đa dạng sinh học cao, địa hình hùng vĩ, các khu di tích lịch sử hoặc văn hóa đương đại, mang tính đặc thù trong điều kiện tự nhiên. Những yếu tố này sẽ làm lợi cho các đơn vị tổ chức du lịch sinh thái và cộng đồng địa phương do vậy các yếu tố này sẽ được bảo vệ tốt, chính đây là mối quan hệ giữa du lịch và các Khu bảo tồn và VQG.

    Các hoạt động Du lịch sinh thái tại Cù Lao Chàm (ảnh: Cù Lao Chàm MPA)

    Ở Việt Nam nói chung và ở VQG nói riêng, một yếu tố gây hấp dẫn cho khách du lich đó là những thông tin về Đa dạng sinh học, những phát hiện mới về các loài động thực vật và những cảnh đẹp thiên nhiên. Tuy nhiên cũng phải khẳng định rằng các khách đến với các khu bảo tồn và VQG không hẳn là khách Du lịch sinh thái, mà họ chỉ có những sở thích về muốn khám phá cảnh đẹp, do vậy họ chỉ lựu lại những khu vực này với thời gian rất ngắn, họ không muốn có những trải nghiệm thực sự với thiên nhiên. Nhưng không là quan trọng miễn là chúng ta có cách quản lý tốt, họ cũng là những nguồn thu lợi hiệu quả góp phần vào cho việc bảo tồn và cải thiện sinh kế cho người dân ở đây như một giải pháp trước mắt, nhưng đó không phải là đối tượng chính cho của hoạt động du lịch sinh thái. Mà các hoạt động du lịch sinh thái ở đây phải được xây dựng bám sát định nghĩa về du lịch sinh thái. Nhằm đảm bảo rằng phát triển du lịch sinh thái không làm tổn hại đến VQG và tăng nguồn thu nhập một cách bền vững cho cộng đồng địa phương bằng các hoạt động du lịch sinh thái.

    – Sự tương thích về mặt sinh thái và văn hóa của phát triển du lịch là một điều kiện quan trọng.

    – Phát triển Du lịch phải hỗ trợ tài chính cho công tác bảo tồn ở các khu BTTN và VQG.

    – Tạo thu nhập cho người dân địa phương.

    – Góp phần quan trọng nhằm thuyết phục mọi người chấp nhận bảo tồn thiên nhiên là một kết quả gián tiếp của các tác động kinh tế

    Du lịch sinh thái là cách tốt nhất nhằm giúp cả cộng đồng địa phương và các KBTTN & VQG. Đó cũng là một hợp phần lý tưởng của chiến lược phát triển bền vững trong đó tài nguyên thiên nhiên được sử dụng như một yếu tố thu hút khách du lịch mà không gây tác hại tới thiên nhiên của khu vực. Là một công cụ quan trọng trong quản lý các KBTTN & VQG. Tuy vậy phát triển DLST phải đảm bảo được phát triển phù hợp với hoàn cảnh cụ thể.

    Nguồn chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Về Du Lịch Và Loại Hình Du Lịch
  • Khách Du Lịch Là Gì Và Cách Phân Loại Khách Du Lịch
  • Khái Niệm Khách Du Lịch Và Nghiên Cứu Thống Kê Khách Du Lịch
  • Khái Niệm Du Lịch Và Sản Phẩm Du Lịch Hiện Nay
  • Khái Niệm Du Lịch, Hoạt Động Du Lịch, Khách Du Lịch Và Du Lịch Bền Vững
  • Khái Niệm Phát Triển Sản Phẩm Du Lịch

    --- Bài mới hơn ---

  • Phát Triển Du Lịch Lào Cai Xứng Tầm Lợi Thế, Tiềm Năng
  • Lào Cai Phát Triển Du Lịch Thông Minh
  • Lễ Hội Dân Gian Và Sự Phát Triển Du Lịch
  • Ttlv: Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch Lễ Hội Tại Huế
  • Du Lịch Mice Ở Việt Nam Đầy Tiềm Năng Trong Thời Hội Nhập
  • – Thỏa mãn đầy đủ nhất các nhu cầu của khách tại điểm đến.

    – Nâng cao hiệu quả kinh doanh du lịch.

    – Phát triển sản xuất – kinh doanh.

    – Tạo nhiều việc làm cho cộng đồng dân cư địa phương.

    – Phát triển một cách bền vững

    – Sản phẩm du lịch không phải chỉ là một hoạt động được thực hiện riêng rẽ mà là một quá trình gắn kết với nhau của nhiều sản phẩm, hàng hóa do các chủ thể tại điểm đến cung cấp cho khách. Một sản phẩm du lịch trong một điểm đến là tập hợp của nhiều trải nghiệm mà khách có thể nhận được không chỉ là các cơ sở lưu trú để ở, các nhà hàng để ăn, uống, các điểm tham quan, các bảo tàng, công viên, nhà hàng, rạp chiếu phim, cửa hàng mua sắm… mà bao gồm cả các phương tiện vận chuyển, sự giao tiếp với cộng đồng dân cư, cách ứng xử của các cấp chính quyền… Vì thế, phạm vi và quy mô của sản phẩm du lịch là những gì thu hút khách du lịch đến và phục vụ khách với chất lượng cao.

    – Chính sách phát triển tổng thể của một điểm đến du lịch phải được nằm trong các ưu tiên của chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, vùng hoặc tỉnh, thành phố trong đó có ngành Du lịch. Việc xác định cơ hội phát triển sản phẩm du lịch phải phù hợp với các chiến lược này.

    – Phát triển sản phẩm du lịch phải được xác định dựa trên sự hiểu biết về thị trường du lịch, xu hướng và thị hiếu khách du lịch. Vì vậy, nghiên cứu thị trường, phát triển sản phẩm và tiếp thị là một sự kết nối liên tục trong quá trình phát triển sản phẩm du lịch. Sự liên kết giữa thị trường và sản phẩm phải tuân theo các quy luật cơ bản của thị trường, đó là các quy luật cung – cầu, quy luật cạnh tranh và quy luật giá trị.

    – Phát triển sản phẩm du lịch có thể tiếp cận theo nhiều hướng khác nhau như:

    + Theo một hướng tiếp cận khác, phát triển sản phẩm du lịch bao gồm phát triển những điểm tham quan, các hoạt động và các dịch vụ đa dạng phục vụ khách.

    Trong hai cách tiếp cận trên, cách thứ nhất đóng một vai trò quyết định đến việc phát triển sản phẩm du lịch tại các điểm đến du lịch.

    Mặt khác, phát triển sản phẩm du lịch của một điểm đến không chỉ phục vụ cho khách du lịch quốc tế, khách du lịch nội địa mà cả đáp ứng nhu cầu của cộng đồng dân cư xung quanh.

    Phát triển sản phẩm du lịch là một quá trình mà trong đó các giá trị của một địa điểm cụ thể được sử dụng tối đa để đáp ứng nhu cầu của khách du lịch trong nước, khách du lịch quốc tế và người dân địa phương.

    Châu Anh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phát Triển Du Lịch Bền Vững (Sustainable Tourism Development) Là Gì?
  • Kiêm Giang: Tìm Giải Pháp Phát Triển 3 Vùng Du Lịch Trọng Điểm
  • Kiên Giang ‘tính Kế’ Phát Triển 3 Vùng Du Lịch Trọng Điểm
  • Khánh Hòa: Chung Tay Phát Triển Du Lịch
  • Phát Triển Du Lịch Huế Xanh
  • Khái Niệm Kinh Doanh Vận Chuyển Du Lịch

    --- Bài mới hơn ---

  • Dịch Vụ Vận Chuyển Du Lịch Chưa Phát Triển
  • Nét Văn Hóa Ẩm Thực Đặc Sắc Trong Du Lịch Xứ Quảng
  • Khai Thác Văn Hóa Ẩm Thực Trong Dịch Vụ Du Lịch
  • Nét Đặc Trưng Trong Văn Hóa Ẩm Thực Việt Nam
  • Văn Hóa Du Lịch Là Gì? ⋆ Vietnam Tours 24/7
  • Hoạt động du lịch gắn liền với phương tiện vận chuyển khách du lich. Đó là mối quan hệ biện chứng không thể tách rời hoặc phá bỏ được.

    Phương tiện vận chuyển cũng là một nhân tố quan trọng tạo nên loại hình du lịch dựa trên tiêu chí của chính nó.

    Đối với khách du lịch quốc tế thường di chuyển trên các máy bay, tàu biển liên quốc gia. Các phương tiện này do ngành khác quản lí. Ở các nước phát triển, các hãng du lịch lớn thường có các hãng vẩn chuyển riêng.

    Đối với khách du lịch nội địa, phương tiện đi lại phổ biến là ôtô chất lượng cao để phù hợp với điều kiện địa hình và thời gian lưu trú.

    Kinh doanh vận chuyển ít nhiều chịu ảnh của hoạt động du lịch. Vào mùa vụ du lịch, phương tiện vận chuyển hoạt động với tần suất cao và ngược lai, lúc trái vụ hoạt động với tần suất thấp.

    – Kinh doanh vận chuyển du lịch là cung cấp dịch vụ vận tải giao thông cần thiết để giúp khách di chuyển từ vùng này sang vùng khác, quốc gia này sang quốc gia khác trong quá trình đi du lịch.

    – Kinh doanh vận chuyển là điều kiện tiền đề cho sự ra đời và phát triển của ngành du lịch , là nguồn thu ngoại tệ du lịch và thu hồi tiền tệ quan trọng .

    – Vận tải, công ty du lịch và khách sạn du lịch được gọi chung là 3 trụ cột lớn của ngành du lịch.

    – Du khách đi du lịch phải chi 1 khoản phí giao thông nhất định và chiếm tỉ trọng lớn trong tổng chi phí du lịch ,nguồn chi phí này tạo ra doanh thu cho kinh doanh vận chuyển quốc tế , trong những năm gần đây ước tính nguồn thu này chiếm khoản 18% tổng doanh thu của du lịch .

    --- Bài cũ hơn ---

  • Top 3 Địa Điểm Mua Vali Giá Rẻ Đẹp Ở Tp.hcm
  • Cẩn Thận Lừa Đảo Khi Mua Vali Du Lịch Ở Sài Gòn
  • Cách Chọn Vali Du Lịch Cho Cả Gia Đình
  • 10 Ứng Dụng Smartphone Hữu Ích Nhất Cho Dân Du Lịch
  • Top 10 Ứng Dụng Du Lịch Cần Thiết Cho Du Khách
  • Khái Luận Về Hiệu Quả Trong Kinh Doanh Du Lịch Quốc Tế.

    --- Bài mới hơn ---

  • Kinh Doanh Quốc Tế Là Gì? Những Quan Trọng Không Thể Bỏ Qua
  • Kinh Doanh Lưu Trú Là Gì
  • Bỏ Túi Kinh Nghiệm Du Lịch Đà Nẵng Tự Túc
  • Bỏ Túi Những Kinh Nghiệm Du Lịch Đà Nẵng 2022
  • Kinh Nghiệm Đi Du Lịch Đà Nẵng Có Trẻ Nhỏ Cho Mẹ “thảnh Thơi”
  • Kinh doanh là quá trình tổ chức sản xuất lưu thông mua bán hàng hoá trên thị trường nhằm đảm bảo hiệu quả kinh tế và xã hội.

    Kinh doanh du lịch cũng như mọi loại hình thức kinh doanh khác nghĩa là gồm các bước tổ chức sản xuất hàng hoá du lịch ký kết các hợp đồng kinh tế du lịch, tổ chức thực hiện hợp đồng. Thanh quyết toán hợp đồng.

    Theo pháp lệnh du lịch Việt Nam năm 1999:

    “Kinh doanh du lịch là việc thực hiện một, một số hay tất cả các công đoạn của quá trình hoạt động du lịch hoặc thực hiện dịch vụ du lịch trên thị trường nhằm mục đích sinh lời”

    Tuy du lịch đã xuất hiện từ rất lâu, nhưng kinh doanh du lịch ra đời muôn hơn nhiều, mốc đánh dấu là sự thành lập hãng lữ hành Thomas Cook vào giữa thế kỷ XIX và kinh doanh du lịch trên thế giới chỉ thực sự phát triển mạnh vào những năm 50 của thế kỷ XX sau khi kết thúc chiến tranh.

    ở Việt Nam sau khi xoá bỏ chế độ hành chính bao cấp, nền kinh tế chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường, có sự hoạch toán kinh doanh đầy đủ, rõ ràng và sự nghiệp đổi mới đất nước đã có sự khởi sắc (từ sau năm 1986) Từ đó đến nay đã đạt được những thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực, cũng từ đó mà mà hoạt động kinh doanh du lịch thực sự phát triển, từ sau năm 1990 năm du lịch Việt Nam. Hiện nay, nghành du lịch nước ta đã có một cơ sở vật chất gồm hàng nghìn khách sạn hàng trăm công ty du lịch, các dịch vụ du lịch ngày càng phong phú và đa dạng nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp đủ để đón và phục vụ hàng triệu khách du lịch quốc tế một năm.

    Hoạt động kinh doanh du lịch rất đa dạng và phong phú với đối tượng phục vụ là khách du lịch, do vậy hoạt động kinh doanh du lịch gồm: Kinh doanh lữ hành, kinh doanh cơ sở nội trú, kinh doanh vận chuyển khách du lịch và kinh doanh dịch vụ thông tin du lịch.

    Kinh doanh lữ hành: Là loại hình kinh doanh làm nhiệm vụ giao dịch ký kết với các tổ chức kinh doanh du lịch trong và ngoài nước để xây dựng và thực hiện các chương trình du lịch đã bán cho khách du lịch.

    Kinh doanh lữ hành lại được phân chia thành: Kinh doanh lữ hành quốc tế và kinh doanh lữ hành nội địa, tuỳ thuộc vào chức năng, nhiêm vụ của mỗi công ty lữ hành.

    Kinh doanh lữ hành quốc tế là việc tổ chức xây dựng và thực hiện các chương trình du lịch cho khách du lịch nước ngoài, Việt kiều vào Việt Nam và khách du lịch Việt Nam đi du lịch nước ngoài.

    Kinh doanh lữ hành nội địa là việc tổ chức, xây dựng và thực hiện các chương trình du lịch cho khách du lịch trong nước đi du lịch trong lãnh thổ Việt Nam và những ngừi nước đang sống và làm việc trên lãnh thổ Việt Nam đi tham quan du lịch ở mọi miền của đất nước.

    Kinh doanh cơ sở lưu trú du lịch: Là loại hình kinh doanh làm nhiệm vụ tổ chức, đón tiếp, phục vụ nội trú, ăn uống, vui chơi giải trí và bán hàng cho khách du lịch.

    Đặt trong tổng thể kinh doanh du lịch, kinh doanh cơ sở lưu trú là công đoạn phục vụ khách du lịch để họ hàon thành chương trình du lịch đã lựa chọn.

    Các loại hình cơ sở lưu trú ở Việt Nam gồm:

    + Khách sạn

    + Biệt thự

    + Làng du lịch

    + Lều, trại

    Ngoài ra trong kinh doanh cơ sở lưu trú cần có kinh doanh các dịch vụ như: Dịch vụ vui chơi giải trí, dịch vụ ăn uống . . .

    – Kinh doanh vận chuyển khách du lịch: Là một loại hình kinh doanh giúp cho sự di chuyển của khách du lịch bằng các phương tiện như: Máy bay, ô tô, tàu hoả, tàu biển, tàu thuỷ, cáp vận chuyển và các phương tiện khác như: Xe ngựa, thuyền, xích lô…

    – Kinh doanh dịch vụ thông tin du lịch.

    Khái niệm.

    Hiệu quả theo quan điểm của lý thuyết hệ thống là một phạm trù phản ánh yêu cầu các quy luật tiết kiệm thời gian. Quy luật này hoạt động theo nhiều phương thức sản xuất xã hội, vì vậy phạm trù này cũng tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất xã hội. ở đâu và lúc nào, con người cũng muốn hoạt động có hiệu quả nhất.

    Trong phân tích kinh tế, hiệu quả kinh tế được phản ánh thông qua các chỉ tiêu đặc trưng kinh tế – kỹ thuật được xác định bằng tỷ lệ so sánh giữa nguồn lực đầu ra và nguồn lực đầu vào của hệ thống sản xuất xã hội, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực và tạo ra các lợi ích nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế xã hội. Hiệu quả kinh tế được hiểu là trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có để đạt được kết qủa kinh doanh cao nhất các chi phí thấp nhất.

    Khác với các ngành kinh tế quốc dân khác khi nói tới hiệu quả du lịch ta phải xét trên cả hai mặt: hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Hiệu quả xã hội thể hiện ý chí góp phần bảo vệ xã hội, tằng cường sức khoẻ cho người dân lao động từ đó tăng tuổi thọ và khả năng làm việc cho nhân dân. Hiệu quả xã hội của du lịch còn thể hiện ở mức đóng góp của xã hội, khả năng làm việc của các dân cư vùng du lịch, nâng cao hiểu biết về xã hội, mức độ bảo vệ tài nguyên môi trường.

    Hiệu quả kinh tế: thể hiện ở mức độ tận dụng các yếu tố sản xuất và các tài nguyên du lịch trong khoảng thời gian nhất định nhằm tạo ramột khối lượng hàng hoá và dịch vụ có chất lượng cao để thoả mãn nhu cầu của khách du lịch và chi phí ít nhất và nhằm bảo vệ môi trường.

    Trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường, hiệu quả kinh tế biểu hiện mối tương quan kết quả sản xuất và chi phí sản xuất. Còn đối với hoạt động kinh doanh du lịch, tiêu chuẩn của hiệu quả kinh tế được thực hiện qua mục tiêu đảm bảo thu nhập (bằng cả ngoại tệ và bản tệ) cao nhất với chi phí lao động sống và lao động vật hoá thấp nhất (Trong điều kiện kinh tế có lợi nhuận cho ngành và cho nền kinh tế quốc dân).

    Phân loại hiệu quả kinh doanh du lịch quốc tế.

    Tuỳ thuộc vào nội dung và mục đích nghiên cứu khác nhau người ta phân hiệu quả du lịch quốc tế thành các loại khác nhau.

    * Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội.

    * Hiệu quả trước mắt và hiệu quả lâu dài.

    – Hiệu quả trước mắt: đánh giá hiệu quả phục vụ với một lượng khách du lịch nhất định trong một thời gian nhất định (thường dưới 1 năm) và thu về một số ngoại tệ (hay bản lề) lớn hơn chi phí bỏ ra. Chỉ tiêu này thường áp dùng cho các nhà doanh nghiệp có khả năng phục vụ thấp, thu hồi vốn nhanh và hoạt động không ổn định.

    – Hiệu quả lâu dài: Cũng như hiệu quả trước mắt song dược xác định trong thời gian dài hơn (thường trên 1 năm). Chỉ tiêu này áp dụng cho các doanh nghiệp có quy mô lớn, hoạt dộng ổn định và có khả năng mở rộng thị trường.

    *Hiệu quả tổng thể và hiệu quả bộ phận.

    – Hiệu quả bộ phận: là hiệu quả được xác định trên từng thị trường khách mà công ty phục vụ trong tổng thể các thị trường.

    – Hiệu quả tổng thể: là tổng thể các hiệu quả bộ phận, là hiệu quả được tính cho toàn hệ thống.

    – Trong phạm vi nghiên cứu của bài viết này chúng ta chỉ quan tâm tới các phân loại đầu tiên tức là hiệu quả được chia thành hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Tất cả mọi thành phần kinh tế tham gia vào nền sản xuất xã hội là phải quan tâm tới hai tiêu thức trên, tuỳ thuộc vào từng thành phần kinh tế mà tỷ trọng hai tiêu thức này khác nhau. Với các doanh nghiệp tư nhân, các công ty ttrách nhiệm hữu hạn, các công ty nước ngoài thì hiệu quả kinh tế được chú trọng hơn hiệu quả xã hội còn đố với các doanh nghiệp nhà nước thì hiệu quả xã hội được đề cao hơn.

    Hiệu quả kinh tế được xác định thông qua việc so sánh giữa các chỉ tiêu kết quả kinh doanh (doanh thu) và chi phí bỏ ra để đạt được các kết quả đó.

    Có thể diễn đạt khái niệm hiệu quả kinh doanh như sau:

    + Về tương đối.

    Trong đó :

    H là hiệu quả kinh doanh.

    DT là doanh thu của hoạt động kinh doanh (thường trong 1 năm).

    CF chi phí cần thiết đê thực hiện hoạt động kinh doanh.

    + Về mặt tương đối.

    H = DT – CF

    Đối với các doanh nghiệp nhà nước nói đến hiệu quả kinh doanh là phải nói đến hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Dựa vào những mục tiêu và chiến lược kinh doanh của nghành đó mặc dù có ít, không có hay thua thiệt về hiệu quả kinh tế nhưng bù lại vẫn đạt hiệu quả xã hội thì vẫn cói là đạt hiệu quả kinh doanh.

    Như vậy là hiệu quả kinh doanh du lịch quốc tế nói tiêng hay hiệu quả kinh doanh nói chung đều được xem xét trên bảng tổng thể hai mặt kinh tế và xã hội vào được tính theo công thức.

    Trong đó: H q là hiệu quả hoạt động kinh doanh

    H kt là hiệu quả kinh tế

    H xh là hiệu quả xã hội.

    Sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh du lịch quốc tế.

    Nâng cao hiệu quả kinh doanh không phải là mối quan tâm của mỗi cá nhân, một doanh nghiệp hay một ngành kinh tế nào đó mà là mối quan tâm của, toàn bộ các ngành kinh tế trong nền kinh tế quốc dân. Đạt được hiệu quả kinh doanh cũng đánh dấu một bước phát triển của nền kinh tế.

    Trong bối cảnh nền kinh tế nước ta hiện nay, thực hiện quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá, tăng cường biệp pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh lại càng có ý nghĩa quan trọng. Sự phát triển chung của toàn bộ các nghành kinh tế sẽ góp phần đưa nền kinh tế Việt Nam gần hoà nhập với nền kinh tế các nước trong khu vực và thế giới. Tất cả các công cuộc đổi mới thực sự có ý nghĩa khi và chỉ khi làm tăng được kết quả kinh doanh mà qua đóa làm tăng được hiệu quả kinh doanh. Hiệu quả kinh doanh cũng thể hiện về mặt chất lượng của toàn bộ công tác quản lý và đảm bảo tạo ra kết quả cao nhất của hoạt động kinh doanh.

    Với hoạt động du lịch quốc tế, hiệu quả kinh doanh thể hiện trình độ tổ chức, quản lý, xây dựng các chiến lược phát triển của một quốc gia đối với hoạt động du lịch cũng như sự phát triển của các doanh nghiệp kinh doanh du lịch quốc tế.

    Chúng tôi đã biết được vai trò của du lịch quốc tế đối với nền kinh tế quốc dân. Chính vì thế càng hiểu rõ mức độ quan trọng của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh du lịch quốc tế. Du lịch phát triển sẽ kích thích các ngành kinh tế khác phát triển như giao thông vận tải, thông tin liên lạc, khách sạn, các ngành dịch vụ bao gồm các danh lam thắng cảnh di tích lịch sử bảo tồn được các ngàng nghề truyền thống. Du lịch phát triển cũng góp phần cải thiện cán cân thành toán quốc tế, tăng thu ngoại tệ và giải quyết công ăn việc làm cho người lao động. Hiệu quả kinh doanh du lịch mang lại còn có vai trò quan trọng trong việc tái xây dựng nền kinh tế, cải thiện trang thiết bị máy móc , phương tiện kinh doanh.

    Đạt được hiệu quả kinh doanh trong du lịch quốc tế cũng chính là tiết kiệm các nguồn lực, nguồn nguyên liệu cho xã hội, là cơ sở để các doanh nghiệp có khả năng mở rộng sản xuất, tăng năng lực phục vụ khách hàng, tăng uy tín và mở rộng các quan hệ quốc tế.

    Đối với người lao dộng thì hiệu quả lao động (lương và phúc lợi xã hội) là động cơ thúc đẩy kích thích người lao động làm cho người lao động hăng hái yên tâm làm việc và ngày càng quan tâm đến hiệu quả ông việc, trách nhiệm của mình tới công ty và có thể ngày càng đóng góp công sức của mình cho sự nghiệp phát triển của công ty.

    Như vậy, hiệu quả hoạt động kinh doanh du lịch quốc tế có vai trò quan trọng đối với doanh nghiệp du lịch và đất nước. Để đạt được hiệu quả cao công ty phải hoàn thành các mục tiêu và phương hướng đề ra trong từng thời kỳ phù hợp với công ty và phù hợp với bối cảnh đất nước.

    Chỉ tiêu hiệu quả kinh tế của hoạt động du lịch quốc tế được xây dựng dựa trên các yếu tố sản xuất cơ bản và được thể hiện như sau:

    – Các chỉ tiêu doanh lợi: thể hiện ở mức độ tận dụng chi phí (hoặc vốn) trong quá trình phục vụ khách, hay nói cách khác doanh lợi là tỷ lệ phần trăm giữa lợi nhuận và chi phí (hoặc vốn).

    Doanh lợi được biểu diễn bằng công thức như sau:

    d = d =

    Trong đó : d – doanh lợi (%) tính theo chi phí hoặc vốn

    L – Lợi nhuận

    C – Chi phí

    V – Vốn

    Chỉ tiêu này cho ta thấy doanh thu phụ thuộc vào 2 yếu tố :

    Thu nhập ròng trên một đồng và chi phí (hoặc vốn).

    Tăng 1% chi phí ( hoặc vốn) thì tạo ra được bao nhiêu % lợi nhuận.

    Chỉ tiêu cho phép đánh giá một cách chính xác nguồn gốc lợi nhuận của doanh nghiệp trên cơ sở đó doanh nghiệp đưa ra giải pháp điều chỉnh chi phí (hay vốn) cho thích hợp.

    – Hệ số sinh lợi doanh thu

    Trong đó : L – Lợi nhuận

    D – Doanh thu

    Chỉ tiêu cho phép xác định doanh nghiệp sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận trên 1 đồng doanh thu.

    – Chỉ tiêu hiệu quả tổng hợp

    Trong đó :

    E – hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp tính theo chi phí

    D – doanh thu

    C – Chi phí

    Chỉ tiêu này đánh giá khả năng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xem mỗi đồng chi phí bỏ ra của doanh nghiệp sẽ thu được bao nhiều đồng doanh thu.

    Nếu 0 < E < 1 doanh nghiệp đang lỗ vốn, doanh thu thu về không đảm bảo chi phí bỏ ra. Doanh nghiệp cần đánh giá lại các chi phí bỏ ra, có thể do mua quá nhiều trang thiết bị, chi phí cho các chương trình du lịch tăng, giá cả trên thị trường thế giới tăng vọt trong khi giá thành của Công ty không tăng… doanh nghiệp cần điều chỉnh lại kế hoạch kinh doanh cho phù hợp.

    Ngoài các chỉ tiêu trên, các doanh nghiệp còn sử dụng một số chỉ tiêu khác.

    – Doanh thu bình quân 1 khách du lịch :

    Trong đó : D bq – Doanh thu bình quân 1 khách du lịch.

    D – Doanh thu

    n – tổng số khách du lịch

    – Năng suất bình quân 1 lao động

    K = hay K =

    Trong đó :

    K – năng suất lao động bình quân tính theo doanh thu

    (hoặc lợi nhuận).

    D – Doanh thu

    m – Tổng số công nhân viên

    y = a + bx (tính theo thời gian).

    Theo phương trình này ta có :

    y : hàm doanh thu

    a, b được tính như sau :

    a = y – b .x

    Ví dụ : Có một Công ty có bảng số liệu như sau :

    xy = 8333,33

    a = 450 – 6,74 x 18 = 328,85

    Các nhân tố bên trong doanh nghiệp :

    – Vốn kinh doanh du lịch mang tính thời vụ rất cao, có khi để phục vụ cho một mùa du lịch (thường từ 4 – 5 tháng) doanh nghiệp phải tập trung toàn bộ vốn kinh doanh của mình để đưa vào hoạt động. Chính vì thế nếu doanh nghiệp nào có vốn lớn, sẽ đáp ứng phục vụ cho nhiều khác hơn đủ để trang trải các chi phí cần thiết và ngược lại.

    – Nhân lực : Đối với tất cả các hoạt động kinh tế nào, con người đều có vai trò quyết định. Vấn đề nhân sự trong doanh nghiệp không những phải giỏi về trình độ chuyên môn, hiểu biết về xã hội… mà họ còn phải được sắp xếp tổ chức công việc một cách hợp lý, khoa học và được quản lý một cách chắc chắn. Có như vậy họ mới đảm đương được công việc trong nền kinh tế hiện đại. Hiệu quả kinh doanh chủ yếu xuất phát từ tài năng của người lãnh đạo, nếu người lãnh đạo giỏi thì hiệu quả kinh doanh sẽ cao còn bằng không Công ty khó lòng đạt được kết quả như mong muốn.

    – Phương tiện, khoa học công nghệ, các thiết bị khoa học cũng đóng một vai trò quan trọng tạo nên hiệu quả của công việc kinh doanh. Trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay, thông tin sẽ đưa khách hàng tiếp cận một cách nhanh nhất với Công ty, khách hàng có điều kiện tìm hiểu về Công ty, về thị trường du lịch của Công ty cũng như các loại hình dịch vụ mà Công ty đang phục vụ để từ đó có quyết định đi du lịch với Công ty… Về phần mình, Công ty có thể nắm bắt hơn nữa thông tin về thị trường du lịch quốc tế, để từ đó có những điều chỉnh phương hướng kinh doanh cho phù hợp.

    Đối với các nhà quản lý Công ty có kinh nghiệm họ sẽ biết điều tiết các mối quan hệ này, nắm bắy được các xu hướng, quy luật vận động của thị trường du lịch để từ đó họ sẽ đưa Công ty đi những bước đi thích hợp trên con đường phát triển.

    Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp :

    – ảnh hưởng của môi trường luật pháp : Một quốc gia có hệ thống luật pháp chưa hoàn chỉnh, luôn luôn thay đổi thì đối với bất cứ nhà kinh doanh nào, đem lại hiệu quả kinh doanh tốt nhất là điều rất khó khăn. Đối với ngành du lịch, luật về du lịch hay pháp lệnh về du lịch không có hay không hoàn thiện sẽ tạo ra một sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp kinh doanh du lịch, gây xáo trộn thị trường du lịch. Các hãng sẽ tự do cạnh tranh về giá cả, tự do khai thác nguồn tài nguyên du lịch sao cho đạt được mục tiêu của mình là thu lợi nhuận cao nhất mà quên đi trách nhiệm của mình trong bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.

    Như đã trình bày, du lịch quốc tế bị chi phối bởi hệ thống luật pháp của nước đi và đến của du khách. Nói một cách khái quát pháp luật sẽ quy định và cho phép những lĩnh vực, những hình thức, những vùng mà doanh nghiệp được phép hay không được phép khai thác.

    Mỗi một quốc gia có hệ thống luật pháp riêng để điều chỉnh hoạt động du lịch quốc tế của mình như Luật thương mại, Luật đầu tư nước ngoài, Luật thuế… Giữa các nước thường ký kết các hiệp định hợp tác du lịch, hiệp định hợp tác trao đổi khách du lịch… Ví dụ Hiệp định hợp tác du lịch được ký giữa Việt Nam và Pháp, Việt Nam và Trung Quốc.. tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thuận lợi hơn trong kinh doanh.

    Vì vậy có thể khẳng định rằng chỉ khi doanh nghiệp có những hiểu biết về hệ thống luật pháp của từng quốc gia và các hiệp định giữa các nước thì doanh nghiệp mới có những quyết định đúng dắn khi lựa chọn thị trường, khu vực kinh doanh… Ví dụ, một doanh nghiệp Việt Nam chọn thị trường Hoa Kỳ làm nơi kinh doanh du lịch. Về mặt kinh doanh đây là một thị trường rất tiềm năng : ngoài hơn 2 triệu Việt Kiều nơi đây còn tập trung một lượng khách du lịch lớn và giầu có. Nếu xét mặt pháp luật thì thị trường này chưa phải là một thị trường tốt. Việt Nam và Hoa Kỳ chưa ký kết bất kỳ một hiệp định nào về du lịch, Hoa Kỳ không cấp visa du lịch nào cho du khách Việt Nam. Từ đó cho thấy doanh nghiệp đã lựa chọn sai thị trường.

    – ảnh hưởng từ môi trường chính trị :

    Môi trường chính trị ảnh hưởng tuy không lớn tới hoạt động du lịch quốc tế như môi trường luật pháp song nó lại tác động trực tiếp tới cung cầu trên thị trường du lịch, tới tổng lượng khách đi và đến của một quốc gia. Khách du lịch quốc tế ngoài lý do thăm quan thắng cảnh văn hóa, thiên nhiên của nước du lịch, họ cùng cần được đảm bảo an toàn về tính mạng.

    Sự ổn định về chính trị được thể hiện ở chỗ : thể chế, quan điểm chính trị có được đa số nhân dân đồng tình hay không, Đảng cầm quyền có đủ uy tín lãnh đạo hay không, có xảy ra nội chiến hay đảo chính không…

    Trong điều kiện đó, cả du khách lẫn doanh nghiệp phải căn cứ từng điều kiện cụ thể mà có sự lựa chọn kinh doanh hay không kinh doanh tại thị trường đó, quốc gia đó. Khi đó cung cầu tại thị trường này phụ thuộc rất lớn vào sở thích của khách du lịch.

    – ảnh hưởng của môi trường văn hóa – xã hội :

    Văn hóa là những giá trị tinh thần của mỗi một dân tộc. Văn hóa xã hội ăn sâu vào tiềm thức của mỗi cộng đồng người, mỗi dân tộc, là đặc trưng của mỗi dân tộc. Nó sẽ hình thành nếp nghĩ và thói quen tiêu dùng của khách du lịch – đây cũng chính là nhân tố tác động lớn tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khi lựa chọn thị trường du lịch.

    Đặc trưng của văn hóa du lịch là phong cách kiến trúc, tập quán, lối sống tôn giáo và ngôn ngữ. Khách du lịch văn hóa nhằm mở rộng kiến thức, học hỏi các nét văn hóa, ngôn ngữ của dân tộc đó. Nếu một quốc gia có nền văn hóa độc đáo, có bản sắc riêng thêm vào đó là môi trường tự nhiên phong phú và đa dạng sẽ thu hút rất lớn du khách.

    Về phía doanh nghiệp, môi trường văn hóa xã hội trong một chừng mực nhất định sẽ ảnh hưởng tới phong cách làm việc, mô hình quản lý, điều tiết kinh doanh từ đó ảnh hưởng tới mục đích gia tăng lợi nhuận, tăng hiệu quả kinh doanh.

    – ảnh hưởng của nhân tố kinh tế : Tập trung chủ yếu vào khả năng tài chính, thu nhập của khách du lịch, tác động tới chỉ tiêu cho các hàng hóa và dịch vụ của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp đưa ra hàng hóa và dịch vụ có chất lượng cao (do đó giá cả cũng sẽ không thấp) sẽ đòi hỏi khách hàng phải có khả năng thanh toán mới có thể tiêu dùng được. Nếu như du khách không đảm bảo khả năng tài chính thì khách sẽ không đi du lịch nữa và hiệu quả kinh doanh của Công ty lại trở thành vấn đề đáng quan tâm. Năm 1998 đánh dấu một sự kiện trong du lịch bằng cuộc khủng hoảng tài chính Châu á, khách du lịch Châu á đi du lịch giảm hẳn và làm cho lượng khách tới các nước Đông Nam á cũng giảm. Chỉ riêng Việt Nam khách quốc tế giảm 100.000 người so với 1,7 triệu khách năm 1997.

    – ảnh hưởng từ môi trường cạnh tranh của Công ty

    Sự khác biệt cơ bản giữa kinh doanh du lịch nội địa và kinh doanh du lịch quốc tế là ở chỗ du lịch quốc tế thường có khoảng cách địa lý xa hơn, phục vụ một lượng khách đa dạng hơn, mang nhiều quốc tịch hơn. Điều đó làm cho các Công ty du lịch quốc tế luôn phải gặp khó khăn hơn do chi phí nhiều hơn cho hoạt động, do phải cạnh tranh với nhiều hãng du lịch lớn. Du lịch vốn là ngành thu lợi nhuận cao, khả năng quay vòng vốn lớn nên cũng có rất nhiều nhà cạnh tranh, vì vậy thị trường của doanh nghiệp cũng giảm đi ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh của Công ty. Như vậy ta thấy rằng để đánh giá được khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường, các doanh nghiệp phải nắm bắt được khả năng nội tại của Công ty, những mối đe dọa, những thách thức để Công ty có thể tiến hành những hoạt động thích ứng nhằm chớp thời cơ, tạo cơ hội để đạt kết quả kinh doanh tốt hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kinh Doanh Du Lịch Trực Tuyến
  • Tổng Hợp Các Quan Trọng Cần Biết Về Kinh Doanh Du Lịch
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Tây Tạng Từ A
  • Cẩm Nang Du Lịch Tây Tạng Từ A Đến Z
  • Kích Cầu Du Lịch: Không Chỉ Là Chuyện Giảm Giá
  • Khái Niệm Về Du Lịch Và Loại Hình Du Lịch

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Khái Niệm Về Du Lịch Sinh Thái
  • Tuyến Điểm Du Lịch Là Gì? Các Nhân Tố Hình Thành Nên Tuyến Điểm Du Lịch
  • Tuyến Điểm Du Lịch Việt Nam
  • Khái Niệm Xúc Tiến Bán Hàng Và Tầm Quan Trọng Của Công Tác Này
  • Khái Quát Phát Triển Du Lịch Việt Nam Giai Đoạn 2010
  • Ngày nay, du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến không chỉ ở các nước phát triển mà còn ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, cho đến nay, không chỉ ở nước ta, nhận thức về nội dung du lịch vẫn chưa thống nhất.

    Do hoàn cảnh khác nhau, dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi người có một cách hiểu về du lịch khác nhau. Do vậy có bao nhiêu tác giả nghiên cứu về du lịch thì có bấy nhiêu định nghĩa.

    Dưới con mắt của Guer Freuler thì “du lịch với ý nghĩa hiện đại của từ này là một hiện tượng của thời đại chúng ta, dựa trên sự tăng trưởng về nhu cầu khôi phục sức khoẻ và sự thay đổi của môi trường xung quanh, dựa vào sự phát sinh, phát triển tình cảm đối với vẻ đẹp thiên nhiên”.

    Theo các nhà kinh tế, du lịch không chỉ là một hiện tượng xã hội đơn thuần mà nó phải gắn chặt với hoạt động kinh tế. Nhà kinh tế học Picara Edmod đưa ra định nghĩa: “du lịch là việc tổng hoà việc tổ chức và chức năng của nó không chỉ về phương diện khách vãng lai mà chính về phương diện giá trị do khách chỉ ra và của những khách vãng lai mang đến với một túi tiền đầy, tiêu dùng trực tiếp hoặc gián tiếp cho các chi phí của họ nhằm thoả mãn nhu cầu hiểu biết và giải trí.”

    Khác với quan điểm trên, các học giả biên soạn bách khoa toàn thư Việt Nam đã tách hai nội dung cơ bản của du lịch thành hai phần riêng biệt. Theo các chuyên gia này, nghĩa thứ nhất của từ này là “một dạng nghỉ dưỡng sức tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh…”. Theo định nghĩa thứ hai, du lịch được coi là “một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thông lịch sử và văn hoá dân tộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước, đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình, về mặt kinh tế, du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn; có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ tại chỗ.

    Để tránh sự hiểu lầm và không đầy đủ về du lịch, chúng ta tách du lịch thành hai phần để định nghĩa nó. Du lịch có thể được hiểu là:

    • Sự di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao tại chỗ nhận thức về thế giới xung quanh, có hoặc không kèm theo việc tiêu thụ một số giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hoá và dịch vụ của các cơ sở chuyên cung ứng.
    • Một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú với mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh.

    Phân chia theo môi trường tài nguyên

    Phân loại theo mục đích chuyến đi

    • Du lịch tham quan
    • Du lịch giải trí
    • Du lịch nghỉ dưỡng
    • Du lịch khám phá
    • Du lịch thể thao
    • Du lịch lễ hội
    • Du lịch tôn giáo
    • Du lịch nghiên cứu (học tập)
    • Du lịch hội nghị
    • Du lịch thể thao kết hợp
    • Du lịch chữa bệnh
    • Du lịch thăm thân
    • Du lịch kinh doanh

    Phân loại theo lãnh thổ hoạt động

    Phân loại theo đặc điểm địa lý của điểm du lịch

    Phân loại theo phương tiện giao thông

    • Du lịch xe đạp
    • Du lịch ô tô
    • Du lịch bằng tàu hoả
    • Du lịch bằng tàu thuỷ
    • Du lịch máy bay

    Phân loại theo loại hình lưu trú

    Phân loại theo lứa tuổi du lịch

    • Du lịch thiếu niên
    • Du lịch thanh niên
    • Du lịch trung niên
    • Du lịch người cao tuổi

    Phân loại theo độ dài chuyến đi

    Phân loại theo hình thức tổ chức

    Phân loại theo phương thưc hợp đồng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khách Du Lịch Là Gì Và Cách Phân Loại Khách Du Lịch
  • Khái Niệm Khách Du Lịch Và Nghiên Cứu Thống Kê Khách Du Lịch
  • Khái Niệm Du Lịch Và Sản Phẩm Du Lịch Hiện Nay
  • Khái Niệm Du Lịch, Hoạt Động Du Lịch, Khách Du Lịch Và Du Lịch Bền Vững
  • Khái Niệm Về Du Lịch Và Sản Phẩm Du Lịch
  • Khái Niệm Du Lịch Và Sản Phẩm Du Lịch Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Khách Du Lịch Và Nghiên Cứu Thống Kê Khách Du Lịch
  • Khách Du Lịch Là Gì Và Cách Phân Loại Khách Du Lịch
  • Khái Niệm Về Du Lịch Và Loại Hình Du Lịch
  • Các Khái Niệm Về Du Lịch Sinh Thái
  • Tuyến Điểm Du Lịch Là Gì? Các Nhân Tố Hình Thành Nên Tuyến Điểm Du Lịch
  • Du lịch được định nghĩa là hoạt động đi lại để vui chơi giải trí hoặc nhằm mục đích kinh doanh,… 6 đặc trưng của sản phẩm du lịch là gì, cùng tìm hiểu về đặc trưng và khái niệm du lịch trong bài viết sau đây:

    + Tài nguyên du lịch là gì? Các cách phân loại tài nguyên du lịch

    + Tổng Hợp 40+ Đề Tài Luận Văn Du Lịch Dễ Làm Nhất (2020)

    Ngày nay, theo Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO): Du lịch là hoạt động về chuyến đi đến một nơi khác với môi trường sống thường xuyên của con người và ở lại đó để tham quan, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí hay các mục đích khác ngoài các hoạt động để có thù lao ở nơi đến với thời gian liên tục ít hơn một năm.

    Theo Wikipedia thì: “Du lịch là việc đi lại nhằm mục đích niềm vui hoặc kinh doanh; cũng là lý thuyết và thực hành về tổ chức các chương trình đi du lịch, ngành kinh doanh nhằm thu hút, cung cấp và giải trí cho khách du lịch, và việc kinh doanh của các tổ chức điều hành các tour du lịch.”

    Nhìn từ góc độ kinh tế, du lịch là một ngành kinh tế, dịch vụ, có nhiệm vụ phục vụ cho nhu cầu tham quan giải trí nghỉ ngơi, có hoặc không kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác. Như vậy, du lịch là một ngành kinh tế độc đáo phức tạp, có tính đặc thù, mang nội dung văn hoá sâu sắc và tính xã hội cao.

    1.1 Kinh doanh du lịch là gì?

    Kinh doanh du lịch là khái niệm dùng để chỉ mối quan hệ giữa các hiện tượng kinh tế với kinh tế của hoạt động du lịch. Mối quan hệ này có tác động qua lại lẫn nhau. Kinh doanh du lịch hình thành trên khi đã phát triển đầy đủ sản phẩm hàng hóa du lịch và quá trình trao đổi mua – bán hàng hóa du lịch trên thị trường.

    Nhu cầu du lịch là nhu cầu có khả năng thanh toán của người tiêu dùng về các sản phẩm dịch vụ đang có trên thị trường.

    1.3 Tham quan du lịch là gì?

    Tham qua du lịch là một hoạt động du lịch khá phổ biến hiện nay, nhằm mục đích vui chơi, giải trí và tìm hiểu văn hoá của từng vùng miền, quốc gia nhằm nâng cao nhận thức của người tham quan về cảnh quan, lịch sử, văn hoá của địa điểm đó.

    Nếu bạn gặp khó khăn khi sử dụng công cụ và các phần mềm phân tích số liệu hãy liên hệ với đội ngũ Tri Thức Cộng Đồng để được hỗ trợ sử dụng Dịch Vụ Hỗ Trợ SPSS của chúng tôi. Với kinh nghiệm hơn 10+ năm, Tri Thức Cộng Đồng cam kết mang đến cho bạn nhiều lợi ích nhất. Hãy liên hệ ngay với chúng tôi qua gmail [email protected] hoặc Hotline 0946 88 33 50 để được tư vấn và báo giá trực tiếp.

    2. Khái niệm sản phẩm du lịch

    Theo Luật du lịch năm 2005 của Quốc hội Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thoả mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch. Dịch vụ du lịch là việc cung cấp các dịch vụ về lữ hành, vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin, hướng dẫn và những dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch. Sản phẩm du lịch là sự kết hợp những giá trị về vật chất lẫn tinh thần của một quốc gia, một địa phương, một cơ sở nào đó mà du khách đến hưởng thụ và trả tiền. Sản phẩm du lịch bao gồm sản phẩm vật thể và phi vật thể, sản phẩm tự nhiên và nhân tạo.

    Quan điểm kinh tế hiện đại cho rằng sản phẩm du lịch bao gồm cả sản phẩm phi hình thể và sản phẩm hình thể vì đây là những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của con người đi du lịch. Cho nên sản phẩm du lịch vô cùng đa dạng phong phú, luôn phát triển đổi mới theo sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, lãnh thổ.

    Như vậy sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết tạo thành, làm thoả mãn nhu cầu của du khách trong chuyến đi du lịch dựa trên cơ sở là nhu cầu của khách du lịch, khai thác điểm mạnh của khách thể du lịch (danh lam thắng cảnh,…), từ đó đáp ứng tốt nhu cầu của chủ thể du lịch (khách du lịch)

    3. Đặc trưng của sản phẩm du lịch

    Sản phẩm du lịch là một loại hàng hoá đặc biệt, bao gồm những thành phẩm hiện hữu và không hiện hữu do con người tạo ra. Vì thế, nếu chúng ta xem sản phẩm du lịch đơn thuần hiện hữu như tour du lịch, quà lưu niệm hay những dịch vụ kèm theo như nhà hàng khách sạn…thì rất phiến diện. Sản phẩm du lịch còn là những giá trị vô hình cũng do chính con người tạo ra như thái độ phục vụ, phong cách phục vụ…của đội ngũ những người làm du lịch, sản phẩm du lịch phụ thuộc vào cảm nhận và tính chủ quan của du khách.

    Việc tiêu dùng các sản phẩm du lịch xảy ra cùng lúc, cùng nơi với việc sản xuất ra chúng. Sản phẩm du lịch thì không thể hoán chuyển để thoả mãn nhu cầu của du khách, khách du lịch phải luôn tìm đến những khu vực có sản phẩm du lịch để tiêu dùng sản phẩm du lịch. Xuất phát từ nhu cầu này của du khách đòi hỏi các nhà kinh doanh du lịch phải không ngừng sáng tạo, cải tiến, phát triển các loại sản phẩm dịch vụ hàng hoá nhằm đáp ứng được nhu cầu của du khách.

    Trích nguồn: Tri Thức Cộng Đồng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Du Lịch, Hoạt Động Du Lịch, Khách Du Lịch Và Du Lịch Bền Vững
  • Khái Niệm Về Du Lịch Và Sản Phẩm Du Lịch
  • Khái Niệm, Đối Tượng Điều Chỉnh Và Chủ Thể Của Luật Du Lịch Quốc Tế
  • Du Lịch Biển Là Gì? Phát Triển Du Lịch Biển Là Gì?
  • Đề Tài: Tìm Hiểu Ẩm Thực Đường Phố Tại Tphcm Phát Triển Du Lịch
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100