Khái Quát Phát Triển Du Lịch Việt Nam Giai Đoạn 2010

--- Bài mới hơn ---

  • Một Vài Nét Khái Quát Về Du Lịch Phú Quốc
  • Khái Quát Về Biển Của Vn
  • Du Lịch Khám Phá Tại Bình Dương, Nên Đi Những Đâu?
  • Khám Phá Du Lịch Bình Định
  • Cẩm Nang Khám Phá Đảo Ngọc Phú Quốc
  • – Trong giai đoạn vừa qua, Du lịch Việt Nam đang trên đà phát triển mạnh mẽ, lượng khách quốc tế đến cũng như khách du lịch nội địa ngày càng tăng. Nhiều điểm đến trong nước được du khách quốc tế yêu thích và bình chọn. Sản phẩm du lịch ngày càng được nâng cao về chất lượng và tính cạnh tranh. Cơ sở vật chất của ngành Du lịch từng bước được đầu tư nâng cấp theo hướng hiện đại. Đóng góp của ngành Du lịch ngày càng cao trong nền kinh tế quốc dân, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của cả nước.

    Bổ sung, hoàn thiện cơ chế chính sách tạo đà cho du lịch phát triển

    Thời gian qua ngành Du lịch đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của toàn xã hội, từ Chính phủ, các bộ ngành, địa phương cho đến người dân trên cả nước. Qua đó hệ thống cơ sở pháp lý của ngành đã từng bước được xây dựng và hoàn thiện. Luật Du lịch đã được Quốc hội thông qua tháng 6/2005 trên cơ sở kế thừa Pháp lệnh Du lịch, có hiệu lực từ ngày 01/01/2006. Qua 10 năm triển khai thực hiện, để đáp ứng nhu cầu phát triển trong giai đoạn mới, tạo hành lang pháp lý thuận lợi nhất cho sự phát triển của Ngành, Tổng cục Du lịch đang tập trung hoàn thiện Luật Du lịch (sửa đổi) trình Quốc hội xem xét. Tổng cục Du lịch cũng đang xây dựng và trình Chính phủ, Bộ Chính trị Đề án phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.

    Gần đây, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã ban hành các nghị quyết và chỉ thị nhằm tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, tháo gỡ khó khăn cho ngành Du lịch như Nghị quyết 92/NQ-CP ngày 8/12/2014 về một số giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch Việt Nam trong thời kỳ mới; Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 18/06/2015 về việc tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, tập trung khắc phục yếu kém, thúc đẩy phát triển du lịch…

    Chính phủ đang từng bước tháo gỡ những hạn chế về chính sách visa, tạo thuận lợi để thu hút khách bằng việc ban hành Nghị quyết 39/NQ-CP ngày 01/06/2015 về việc miễn thị thực có thời hạn đối với công dân nước Cộng hòa Belarus; Nghị quyết 46/NQ-CP ngày 18/06/2015 về việc miễn thị thực có thời hạn đối với công dân các nước: Anh, Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Italia và tiếp tục được gia hạn 01 năm (đến 30/6/2017) bằng Nghị quyết 56/NQ-CP của Chính phủ ban hành ngày 30/6/2016. Đồng thời triển khai áp dụng miễn thị thực cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài là vợ, chồng, con của người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc của công dân Việt Nam bằng việc ban hành Nghị định số 82/2015/NĐ-CP ngày 24/9/2015.

    Đóng góp của ngành Du lịch ngày càng cao trong nền kinh tế quốc dân

    Kết quả đạt được trong giai đoạn 2010-2015, khách quốc tế đến duy trì đà tăng trưởng trung bình hàng năm cao hơn so với giai đoạn 2006 – 2010 (9,48% so với 8,95%). Năm 2022, ngành Du lịch đã đón trên 7,94 triệu lượt khách quốc tế, tăng 1,57 lần so với năm 2010 là 5,05 triệu; khách du lịch nội địa đạt 57 triệu lượt, tăng hơn 2 lần so với 28 triệu lượt của năm 2010; tổng thu từ khách du lịch đạt 338.000 tỷ đồng, tăng hơn 3,5 lần so với 96.000 tỷ đồng của năm 2010. Theo Báo cáo tác động kinh tế của ngành Du lịch của Hội đồng du lịch và lữ hành thế giới (WTTC), năm 2022 đóng góp của du lịch Việt Nam xếp hạng 40 thế giới; về giá trị tương đối (tỷ lệ đóng góp trong GDP), du lịch Việt Nam xếp hạng 55 trên thế giới. Theo Tổng cục Thống kê, trong 5 năm 2011-2015, xuất khẩu dịch vụ du lịch chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng kim ngạch xuất khẩu dịch vụ của nước ta, trong khoảng 67-71% (năm 2022 tính sơ bộ khoảng 7,3 tỷ đô-la Mỹ).

    Đẩy mạnh liên kết trong phát triển sản phẩm du lịch

    Trong giai đoạn toàn ngành đã tập trung khai thác, đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, dựa trên 4 dòng sản phẩm chủ đạo là du lịch biển đảo, du lịch văn hóa, du lịch gắn với thiên nhiên và du lịch thành phố. Việc liên kết đầu tư phát triển sản phẩm du lịch đặc trưng theo 7 vùng (Vùng Trung du và miền núi Bắc bộ, Vùng Đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc, Vùng Bắc Trung bộ, Vùng duyên hải Nam Trung bộ, Vùng Tây Nguyên, Vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Vùng Đông Nam bộ) được chú trọng trong thời gian qua, tạo ra sự độc đáo, khác biệt và thu hút được nhiều du khách trong nước và quốc tế. Từng bước hình thành rõ hơn các vùng động lực phát triển của du lịch Việt Nam, bao gồm: Hà Nội – Quảng Ninh – Hải Phòng – Ninh Bình; Quảng Bình -Thừa Thiên Huế – Đà Nẵng – Quảng Nam; Khánh Hòa – Lâm Đồng; Bình Thuận – Bà Rịa-Vũng Tàu – Thành phố Hồ Chí Minh – Kiên Giang (Phú Quốc). Việc liên kết hỗ phát triển sản phẩm du lịch giữa các địa phương được thực hiện trên nguyên tắc phát triển du lịch bền vững, triển khai đồng bộ và thiết thực hơn, góp phần tạo hiệu ứng lan tỏa giữa các vùng và các địa phương. Phát triển du lịch cộng đồng được ưu tiên phát triển trên cơ sở khai thác những giá trị, bản sắc văn hóa của mỗi địa phương được triển khai rộng khắp trên toàn quốc, tạo việc làm ổn định cho bà con các dân tộc, góp phần xóa đói, giảm nghèo.

    Cơ sở vật chất kỹ thuật từng bước được đầu tư nâng cấp theo hướng hiện đại

    Sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống cơ sở hạ tầng hàng không, đường bộ và các cảng biển cùng với sự phát triển của hệ thống cơ sở vật chất ngành Du lịch đã góp phần kết nối điểm đến du lịch Việt Nam và quốc tế. Tốc độ tăng trưởng trung bình về lưu lượng hành khách qua các cảng hàng không tăng 16%/năm trong giai đoạn 2005-2015; đạt 63 triệu lượt năm 2022, tăng 24,3% so với năm 2014. Việt Nam hiện có 52 hãng hàng không quốc tế đến từ 25 quốc gia và vùng lãnh thổ, với 54 đường bay quốc tế kết nối với Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Nha Trang… Bên cạnh đó, phải kể đến sự tham gia vào thị trường hàng không của các hãng hàng không giá rẻ như AirAsia Berhad, Jetstar Asia, Tiger Airways, Thai AirAsia, Cebu Pacific, Lion Air, Indonesia AirAsia… đã đem lại cơ hội đi du lịch thuận lợi cho du khách. Với 48 đường bay nội địa hiện nay đã kết nối chặt chẽ các điểm đến du lịch trong nước tương đối dễ dàng. Hệ thống đường bộ cao tốc được xây dựng và nâng cấp trong cả nước, nâng cao khả năng kết nối và liên kết phát triển du lịch giữa các vùng và các địa phương, đem lại sự thuận tiện cho du khách.

    Du lịch phát triển còn thu hút mạnh mẽ các nguồn lực đầu tư của xã hội cho hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành. Đặc biệt là sự xuất hiện ngày càng nhiều các tập đoàn đầu tư chiến lược trong nước như VinGroup, SunGroup, Mường Thanh, FLC, BIM, Tuần Châu… xây dựng các khu vui chơi giải trí, khách sạn có quy mô và chất lượng mang tầm quốc tế tại các địa bàn du lịch trọng điểm như Hạ Long, Đà Nẵng, Phú Quốc, Nha Trang và hơn 30 tỉnh/thành trong cả nước tạo ra động lực và đòn bẩy cho sự phát triển du lịch của điểm đến. Sự đầu tư đó đã từng bước hình thành hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch hiện đại, đồng bộ tại nhiều địa phương trong cả nước, nâng cao năng lực cạnh tranh, từng bước khẳng định thương hiệu du lịch Việt Nam theo hướng chất lượng.

    Cùng với đó là sự gia tăng không ngừng cả về số lượng và chất lượng của các doanh nghiệp lữ hành và cơ sở lưu trú. Năm 2010, cả nước có 12.352 cơ sở lưu trú với hơn 237.000 buồng thì đến hết năm 2022, cả nước có 18.800 cơ sở lưu trú với hơn 355.000 buồng, tăng khoảng 1,5 lần, tốc độ tăng trưởng trung bình trong giai đoạn 2010-2015 là 8,76%/năm về số cơ sở và 8,42%/năm về số buồng. Đáng lưu ý, trong giai đoạn 2010-2015, số lượng các khách sạn từ 3-5 sao tăng cao hơn mức tăng trung bình chung (tăng 16% đối với khách sạn 5 sao, 14% đối với khách sạn 4 sao và 13% đối với khách sạn 3 sao). Về doanh nghiệp lữ hành quốc tế, năm 2010 cả nước có 888 doanh nghiệp thì đến hết năm 2022 có 1.573 doanh nghiệp, tăng 1,77 lần, tốc độ tăng trung bình khoảng 12,1%/năm.

    Hình ảnh Việt Nam ngày càng được nâng cao thông qua các hoạt động xúc tiến du lịch

    Trong thời gian qua, hình ảnh du lịch quốc gia ngày càng được nâng cao, bạn bè trên thế giới càng hiểu biết hơn về đất nước và con người Việt Nam là điểm đến hấp dẫn, an toàn và thân thiện; góp phần củng cố tình hữu nghị, giao lưu văn hóa và phát triển kinh tế giữa Việt Nam với các nước. Nhiều tổ chức, website và báo chí quốc tế đã bình chọn Việt Nam là điểm đến lý tưởng hấp dẫn đối với du khách…

    Nhận thức về vai trò phát triển du lịch của các cấp, các ngành và toàn xã hội chuyển biến theo hướng tích cực. Qui mô và phạm vi hoạt động xúc tiến du lịch ở trong nước và quốc tế được đầu tư mở rộng. Chất lượng hoạt động xúc tiến du lịch được cải thiện, công tác xúc tiến từng bước chuyên nghiệp hơn. Nhằm tạo đột phá cho phát triển du lịch gần đây Chính phủ đã đồng ý với chủ trương cho phép thành lập Quỹ hỗ trợ phát triển du lịch trên cơ sở xã hội hóa với một phần vốn nhà nước, trong đó có mục tiêu đẩy mạnh hoạt động xúc tiến cho du lịch Việt Nam.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Xúc Tiến Bán Hàng Và Tầm Quan Trọng Của Công Tác Này
  • Tuyến Điểm Du Lịch Việt Nam
  • Tuyến Điểm Du Lịch Là Gì? Các Nhân Tố Hình Thành Nên Tuyến Điểm Du Lịch
  • Các Khái Niệm Về Du Lịch Sinh Thái
  • Khái Niệm Về Du Lịch Và Loại Hình Du Lịch
  • Khái Quát Về Mảnh Đất Và Con Người Miền Tây Nam Bộ

    --- Bài mới hơn ---

  • Du Lịch Miền Tây [Cần Thơ
  • Tắm Đồng Mùa Nước Nổi – “Đặc Sản” Du Lịch Miền Tây
  • 3 Nơi Nên Đi Trong Tháng 10 – Ưu Tiên Miền Tây Nước Nổi
  • Tour Du Lịch Hè Miền Tây – Tour Hè Miền Tây 2022
  • Du Ngoạn Miền Tây 01 Ngày Với Người Nước Ngoài
  • 1. Vài nét về miền Tây

    Miền Tây nổi tiếng với nhiều kênh rạch chằng chịt, sông ngòi dày đặc. Các con sông này nguồn nước dẫn chủ yếu là từ sông Cửu Long (Cửu Long giang), là tên gọi chung cho các phân lưu của sông Mê Kông chảy trên lãnh thổ của Việt Nam. Từ Phnom Penh, sông Mê Kông chia thành 2 nhánh: bên phải là sông Ba-thắc (sang Việt Nam gọi là Hậu Giang hay sông Hậu) và bên trái là Mê Kông (sang Việt Nam gọi là Tiền Giang hay sông Tiền), cả hai đều chảy vào khu vực đồng bằng châu thổ rộng lớn ở Nam Bộ Việt Nam, dài chừng 220–250 km mỗi sông.

    Tại Việt Nam, sông Mê Kông còn có tên gọi là sông Lớn, sông Cái, hay sông Cửu Long. Lưu lượng hai sông này rất lớn, cung cấp nguồn phù sa cho khắp vùng đồng bằng Nam Bộ. Nhờ vậy, cây trái tốt tươi, tạo nên nhiều vườn cây ăn trái trĩu quả. Chính vì thế, vùng đồng bằng sông Cửu Long hay miền Tây Nam Bộ, hình thành nên văn hóa sông nước và văn hóa miệt vườn.

    Đồng bằng sông Cửu Long có đường bờ biển dài trên 700 km, phía Tây Bắc giáp Campuchia, Đông Bắc tiếp giáp Vùng Đông Nam Bộ, Đông giáp biển Đông, Nam giáp Thái Bình Dương, Tây giáp vịnh Thái Lan. Đồng bằng sông Cửu Long có vị trí đắc địa, rất thuận lợi cho việc phát triển kinh tế biển, khai thác và nuôi trồng thủy sản.

    Về mặt khí hậu, địa chất: Nhiệt độ trung bình khoảng 28 độ C, hầu như ổn định quanh năm, mưa thuận gió hòa, ít xảy ra tình trạng thiên tai. Một năm thường có 2 mùa: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4. Mùa nước nổi thường diễn ra từ khoảng tháng 7 đến tháng 11 dương lịch, có nơi từ tháng 9 đến tháng 10, tùy năm. Đến tham quan miền Tây mùa nào cũng có những điều thú vị riêng.

    Vùng đồng bằng sông Cửu Long nhờ lượng phù sa từ dòng sông bồi đắp nên nghề chính ở đây vẫn là nông nghiệp, gắn liền với cây lúa nước (đất phù sa chiếm khoảng 30%). Đất ở đồng bằng sông Cửu Long ngoài việc để sản xuất nông nghiệp còn được dùng để sản xuất vật liệu xây dựng. Ngoài ra, ở nhiều nơi ở vùng này rất dồi dào nguồn than bùn dùng để làm chất đốt, làm gạch ngói.

    Về hệ sinh thái: Dưới những ảnh hưởng của môi trường biển và sông, từ lâu ở vùng đồng bằng sông Cửu Long đã hình thành và phát triển các hệ sinh thái tự nhiên rất độc đáo. Đó là hệ sinh thái rừng ngập nước ngọt (Vườn quốc gia Tam Nông, rừng Trà Sư, vùng Đồng Tháp Mười), hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển (Vườn quốc gia U Minh Thượng, Vườn quốc Gia U Minh Hạ), hệ sinh thái nông nghiệp.

    Đặc biệt, hệ sinh thái rừng ngập mặn ở các tỉnh Cà Mau, Kiên Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến Tre… có vai trò cực kỳ quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội, giữ cân bằng môi trường sinh thái toàn khu vực. Hệ sinh thái rừng ngập mặn đã hình thành nên hệ thực vật ngập mặn rất phong phú và đa dạng, nhưng phổ biến ở vùng này như các loài mắm trắng, đước, bần trắng, bần chua, vẹt tách, dà quánh, dà vôi, giá, cóc vàng, dừa nước…

    2. Con người miền Tây

    Cư dân sống ở vùng đồng bằng sông Cửu Long bao gồm dân tộc Kinh, Hoa, Khmer và Chăm trong đó người Kinh chiếm đại đa số. Còn lại, người Hoa tập trung nhiều ở các tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau, Sóc Trăng; người Chăm sống chủ yếu ở An Giang; người Khmer có mặt đông đúc ở các tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng, An Giang.

    Người miền Tây Nam Bộ ảnh hưởng sâu đậm văn hóa sông nước hay còn gọi là tính sông nước. Người miền Tây có thói quen di chuyển bằng xuồng, nhà ở gần kênh rạch. Nguồn thực phẩm họ ăn hằng ngày cũng từ thủy sản, những con vật sống ở dưới nước như cá, tôm, cua, lươn, ốc… Từ nguyên liệu chính này, họ có nhiều cách chế biến để có bữa ăn ngon như luộc, kho, chiên, nướng, hấp, nấu chua, nấu ngọt, làm gỏi, làm chả, làm khô, làm mắm…

    Người miền Tây nổi tiếng phóng khoáng, rộng rãi, bụng dạ thật lòng, muốn nói điều gì là nói ra điều ấy ngay chứ không nói vòng vo tam quốc như phong cách của người Bắc. Có được điều này có lẽ cũng do đời sống hằng ngày của họ là sự chung sống hài hòa giữa các dân tộc Kinh, Hoa, Chăm và Khmer. Ở mỗi dân tộc họ có phong tục riêng, tôn giáo khác nhau nhưng những người miền Tây nói chung họ sống rất hòa hợp, tôn trọng tín ngưỡng lẫn nhau.

    Người miền Tây có những tính cách trái ngược nhau với biên độ khá rộng: “đã làm thì làm chết thôi, còn chơi thì chơi xả láng, Thương thì thương mút mùa Lệ Thủy, ghét thì ghét mãn kiếp. Khi không ưng thì cạy miệng cũng không nói, lúc đã thuận tình thì mở gan ruột cho xem”. Phong cách của người miền Tây là thế. Điều này nó thể hiện ở nếp suy nghĩ và đời sống hằng ngày ở nơi đây. Đa số họ làm và ăn, ít tằn tiện tích góp như người miền Trung. Người miền Tây sống thực tế, tới đâu hay tới đó, làm đủ ăn, có bao nhiêu xài bao nhiêu. Có lẽ, một phần vì thiên nhiên ở đây ưu đãi, mưa thuận gió hòa, trên bờ hái nhúm rau, cái khế, dưới sông bắt con cá chốt cũng xong bữa cơm nên họ ít lo nghĩ sâu xa hơn dân các miền khác.

    Người miền Tây dễ thay đổi cách sống, chỗ ở, nhiều người sẵn sàng chấp nhận từ bỏ quê hương đến những vùng đất mới để hy vọng được đổi đời. Văn hoá Nam Bộ đánh giá cao những con người bản lĩnh, dám chấp nhận di chuyển. Có lẽ điều này là sự thừa hưởng tính cách của ông cha ngày trước, đến vùng đất này thời khai hoang, lập đất. Người miền Tây có tính trọng nghĩa tình, xởi lởi, chữ “nghĩa” đối với họ đôi khi còn quan trọng hơn cả chữ “tình”, “hết tình còn nghĩa”, đó là quan điểm sống của họ. Người miền Tây coi nhẹ tiền tài, của cải vật chất, họ thích cuộc sống hưởng an nhàn bên sông nước, bờ lau, ít nghĩ đến việc ngày mai.

    Người miền Tây nổi tiếng hiếu khách, hào hiệp, sẵn sàng cho người khách lữ hành lỡ bước tá túc ở nhà, họ đãi cơm rượu như người bà con xa mới về. Tính cách này cuả người miền Tây có lẽ do ảnh hưởng tự sự ưu đãi của thiên nhiên, đất rộng, người thưa, hoa trái quanh năm xum xuê tươi tốt. Người miền Tây có lối sống giản dị, mộc mạc, không cầu kỳ lễ nghĩa như văn hóa người Bắc. Họ trọng nội dung hơn hình thức; họ thích hài hước, nhẹ nhàng, thích nói xạo, nói dóc cho đời vui vẻ.

    3. Du lịch về miền Tây

    An Giang: An Giang được biết đến với các địa điểm du lịch rất nổi tiếng, như là núi Cấm, núi Sam, miếu bà Chúa Xứ, rừng tràm Trà Sư… Du lịch An Giang còn thu hút đông đảo du khách đến tham quan vào các dịp diễn ra lễ hội như lễ hội vía bà chúa xứ, lễ hội đua bò vùng Bảy Núi, lễ hội Chol Chnam Thmay…

    Bạc Liêu: Nói đến Bạc Liêu nhiều người sẽ nghĩ ngay đến giai thoại về công tử nổi tiếng phong lưu khắp Lục tỉnh Nam Kỳ khi xưa. Ngày nay, nhà công tử Bạc Liêu là một trong những điểm đến du lịch nổi tiếng ở Bạc Liêu. Ngoài ra còn có một số nơi nổi tiếng khác như là vườn nhãn cổ trên trăm tuổi, vườn chim Bạc Liêu, đền thờ Bác Hồ…

    Bến Tre: Bến Tre nơi được mệnh danh là xứ dừa, vì nơi đây trồng dừa nhiều nhất Việt Nam. Ngoài ra, Bến Tre còn có nhiều vườn cây ăn trái xum xuê, là nơi cung ứng nguồn trái cây cho các tỉnh đồng bằng Nam Bộ, nhất là ở miệt Chợ Lách, Châu Thành. Đi du lịch Bến Tre du khách có thể đi theo Tour du lịch miền tây 1 ngày, Tour vào vườn cây trái Cái Mơn, tham quan cồn Phụng, cồn Ốc, cồn Tiên, sân chim Vàm Hồ…

    Cà Mau: Vì nơi này còn tồn tại vùng rừng nước ngập mặn, rừng ngập nước, với bạt ngàn thảm rừng ngập măn xanh thẳm vươn xa ra phía biển nên rất có tiềm năng về du lịch sinh thái. Đến Cà Mau du khách sẽ tận hưởng được khung cảnh thiên nhiên hoang hã, nguyên sinh như trong phim, ảnh. Đặc biệt, vùng đất Mũi Cà Mau là nơi tạo ấn tượng với du khách ở cột mốc ghi dấu điểm cuối của Tổ quốc. Du khách có thể tham quan rừng U Minh, các vườn chim Cà Mau, mũi Cà Mau, đảo Hòn Khoai… khi đến Cà Mau.

    Cần Thơ: Về Cần Thơ du khách thường đi chợ nổi Cái Răng trước tiên. Ngoài ra ở đây còn có nhiều vườn cây ăn trái cho du khách tham quan. Cần Thơ được xem là Tây Đô của thời trước, đây là trung tâm văn hóa, kinh tế lớn nhất ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Du khách đi du lịch Cần Thơ có thể tham quan vườn cò Bằng Lăng, chợ nổi Cái Răng, chợ nổi Phong Điền, nhà cổ Bình Thủy, miệt vườn Cần Thơ…

    Đồng Tháp: Vùng Đồng Tháp Mười đẹp nhất là mùa nước nổi. Du khách về đúng mùa này sẽ cảm nhận hết từng con nước lên, nước xuống ở miền Tây, hiểu về văn hóa miền sông nước qua khung cảnh thiên nhiên, qua món ăn, qua đời sống thường ngày của người dân Đồng Tháp. Du khách sẽ thấy được những cánh đồng lúa phì nhiêu, những cánh đồng sen thơm mát, được đi xuồng ba lá, được dạo chơi ngắm cảnh vùng “lóng lánh cá tôm”. Các địa điểm tham quan ở đây gồm Lăng cụ phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc, khu di tích Gò Tháp, vườn sếu quý hiếm ở Tam Nông, vườn quốc gia Tràm Chim, làng hoa kiểng Sa Đéc…

    Hậu Giang: Hậu Giang được tách ra từ Cần Thơ cũ, vì thế đây cũng được xem là trung tâm giao thương của các tỉnh miền Tây. Đi du lịch về miền đất Hậu Giang du khách có thể tham quan chợ nổi Phụng hiệp (chợ nổi Ngã Bảy), di tích Long Mỹ, khu căn cứ tỉnh ủy…

     

    Kiên Giang: Trong các tỉnh miền Tây có lẽ thiên nhiên đã ưu đãi cho Kiên Giang nhiều thắng cảnh nhất. Các cảnh đẹp ở Kiên Giang hội tụ ở vùng đất Hà Tiên, đặc biệt là ở khu đảo Ngọc, du lịch Phú Quốc phát triển nhất nơi đây. Hà Tiên được đánh giá là nơi có nhiều cảnh đẹp với nhiều núi non hang động, chùa chiền, lăng mộ và nhiều hòn đảo gần xa.

    Long An: Long An có nhiều di tích tiền sử và gần 100 di chỉ văn hóa Óc Eo được phát hiện, các di tích nổi tiếng như là Bình Tả, nhà Trăm Cột, chùa Tôn Thạnh. Du khách tham quan Long An có thể ghé khu du lịch sinh thái Đồng Tháp Mười để thưởng thức các món ngon đặc sản miền Tây.

    Sóc Trăng: Sóc Trăng có rất nhiều ngôi chùa nổi tiếng, có lịch sử lâu đời như chùa Dơi, chùa Đất Sét, chùa Chén Kiểu… Đến du lịch Sóc Trăng ngoài tham quan các danh lam, du khách có thể đến khu du lịch Bình An, thăm chợ nổi Ngã Năm hay đi một chuyến đến các cù lao có những vườn cây trái oằn cành.

    Tiền Giang: Du khách đi du lịch về Tiền Giang sẽ có cơ hội chèo xuồng ba lá ngắm cảnh sông Tiền và ngắm nhà dân 2 bên bờ. Địa hình Tiền Giang chia thành ba vùng rõ rệt vùng cây trái ven sông Tiền, vùng Đồng Tháp Mười và vùng ven biển Gò Công. Du khách đến Tiền Giang có thể đến tham quan các địa điểm nổi tiếng như như Cồn Thới Sơn, miệt vườn Cái Bè, chợ nổi Cái Bè, chùa Vĩnh tràng, trại rắn Đồng Tâm…

    Trà Vinh: Trà Vinh có rất nhiều ngôi chùa đẹp và cổ kính của cộng đồng người Khmer, người Việt, người Hoa. Có khoảng 140 ngôi chùa của cộng đồng người Khmer, 50 ngôi chùa của người Kinh và 5 ngôi chùa của cộng đồng người Hoa, trong đó các chùa nổi tiếng là chùa Âng, chùa Cò, chùa Hang… Du lịch hành hương về Trà Vinh du khách có thể tham quan các ngôi chùa này hoặc đến những điểm du lịch khác ở Trà Vinh như Ao Bà Om, bãi biển Ba Động…

    Vĩnh Long: Du lịch đến Vĩnh Long, du khách sẽ có dịp lênh đênh cùng sông nước miền Tây, đi giữa màu xanh thiên nhiên với những vườn cây trái xanh mướt, trĩu quả. Các địa điểm du lịch nổi tiếng ở đây như khu du lịch sinh thái – trang trại Vinh Sang, cù lao An Bình, Văn Thánh miếu, chùa Tiên Châu…

    4. Món ngon, đặc sản, ẩm thực miền Tây.

    Trái cây miền Tây

    Miền Tây được xem là vựa trái cây của khu vực miền Nam. Nơi đây đã sản sinh ra rất nhiều loại trái cây đặc sản, thơm ngon nổi tiếng như cam sành, bưởi Năm Roi, bưởi da xanh, sầu riêng Cái Mơn, quýt hồng Lai Vung, chôm chôm, măng cụt, nhãn, xoài cát Hòa Lộc, vú sữa Lờ Rèn, dừa sáp Cầu Kè, mít ruột đỏ, mít tố nữ… Đến du lịch miền Tây mùa nào du khách cũng có thể thưởng thức những hương vị trái cây thơm ngon ở chính tại vùng đất này trồng nên. Một số loại trái cây đặc sản đạt tiêu chuẩn VietGap, Global Gap được xuất khẩu sang các thị trường nước ngoài. Nguồn còn lại cung cấp cho cả nước nhất là vào các dịp lễ, Tết Nguyên đán…

    Món ngon miền Tây

    Văn hoá ẩm thực vùng đồng bằng sông Cửu Long mang nhiều nét của một miền quê sông nước. Do đặc điểm địa hình, thực phẩm chính vẫn là lúa gạo, cá tôm và rau quả nên văn hoá ẩm thực vùng đồng bằng sông Cửu Long dù đa dạng nhưng vẫn là được chế biến từ nguồn thực phẩm này. Mặc dù quan niệm là ăn để sống, nhưng người dân miền Tây rất chú trọng đến chất lượng món ăn nên họ hay chế biến sáng tạo để thay đổi khẩu vị. Ví dụ như từ con cá lóc, người ta có thể chế biến thành các món: cá lóc kho tộ, canh chua cá lóc, cháo cá lóc, cá lóc nướng trui, cá lóc hấp, khô cá lóc, mắm cá lóc… Hoặc cũng là canh chua, nhưng người ta có thể thay đổi khẩu vị bằng cách nấu với bông điên điển hay bông so đũa, hoặc thay cá lóc bằng cá linh…

    Bên cạnh đó, do miền Tây có nhiều thành phần cư dân sinh sống (dân tộc Kinh, Hoa, Khmer, Chăm) cho nên văn hóa ẩm thực cũng có sự pha trộn, giao thoa tạo nên nhiều món ăn ngon, lạ. Tuy vậy, ở mỗi dân tộc, mỗi vùng miền đều có những món ăn ngon đặc sản riêng, chế biến theo phong cách riêng, nêm nếp gia vị cũng khác. Tóm lại, du khách đến du lịch miền Tây có thể khám phá được nhiều điều đặc sắc từ các món ăn ngon, dân dã ở đây như canh chua, cá kho tộ, lẩu mắm, bún nước lèo, bún mắm, canh xiêm lo, heo quay, vịt tiềm, vịt khìa, canh thuốc bắc, hột vịt muối…

    Chúc Quý khách có kỳ nghỉ vui vẻ, nhiều khám phá bất ngờ thú vị về miền Tây!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Miền Tây Mùa Nước Nổi Đi Mãi Chẳng Hết Điểm Check
  • Du Lịch Miệt Vườn Giá Rẻ Trọn Gói
  • Tour Du Lịch Miền Tây Giá Rẻ Tại Ivivu.com
  • Top 8 Điểm Du Lịch Dã Ngoại Ở Miền Tây Gần Sài Gòn “Bao Mê” Đi Về Trong Ngày Khỏe Re
  • Khám Phá Miền Tây (Sài Gòn – Mỹ Tho – Cần Thơ
  • Khái Quát Về Biển Của Vn

    --- Bài mới hơn ---

  • Du Lịch Khám Phá Tại Bình Dương, Nên Đi Những Đâu?
  • Khám Phá Du Lịch Bình Định
  • Cẩm Nang Khám Phá Đảo Ngọc Phú Quốc
  • Khám Phá Du Lịch Hà Giang
  • 10 Địa Điểm Du Lịch Hàn Quốc Không Thể Bỏ Qua
  • Việt Nam là một quốc gia ven biển nằm trong khu vực trung tâm của Đông Nam Á, Việt Nam có vùng biển nối liền tuyến giao thông vận tải đường biển quan trọng giữa Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương, đặc biệt biển Đông Việt Nam là tuyến vận tải dầu và container từ các nước khác tới Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc, những nước đang tiêu thụ khối lượng năng lượng khổng lồ.

    Biển đảo Việt Nam có thể chia thành bốn khu vực: biển Đông Bắc (một phần vịnh Bắc bộ), nằm ở phía đông bắc Việt Nam và tiếp giáp với Trung Quốc (đảo Hải Nam), biển Bắc Trung bộ (một phần biển Đông) ở phía đông Việt Nam, biển Nam Trung bộ (một phần biển Đông) ở phía đông nam và vùng biển Tây Nam (một phần vịnh Thái Lan) nằm phía tây nam của Việt Nam tiếp giáp với Campuchia và Thái Lan.

    Việt Nam giáp với biển ở hai phía đông và nam. Vùng biển Việt Nam là một phần của biển Đông. Bờ biển Việt Nam dài 3.260km, từ Quảng Ninh ở phía đông bắc tới Kiên Giang ở phía tây nam. Tính trung bình tỷ lệ diện tích theo số km bờ biển thì cứ 100km2 có 1km bờ biển (so với trung bình của thế giới là 600km2 đất liền trên 1km bờ biển). Biển có vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa với diện tích trên 1 triệu km2 (gấp ba lần diện tích đất liền: 1 triệu km2/330.000km2).

    Trong khu vực biển Việt Nam có khoảng 4.000 đảo lớn nhỏ, gần và xa bờ, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm xa bờ tạo thành một phòng tuyến bảo vệ kiểm soát và làm chủ vùng biển và hải đảo. Biển Việt Nam có vị trí chiến lược quan trọng, là khu vực giao thông nối liền Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, châu Á với châu Âu, châu Úc với Trung Đông. Khu vực biển Việt Nam là một phần của biển Đông, là tuyến đường vận tải dầu hỏa quan trọng tới Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc. Biển Việt Nam có vị trí giao lưu quốc tế thuận lợi và có tiềm năng phát triển ngành kinh tế biển phong phú và đa dạng. Những đặc điểm chính của biển đảo Việt Nam là: có khí hậu nhiệt đới tạo điều kiện cho sinh vật biển phát triển và tồn tại tốt, biển có tài nguyên sinh vật và khoáng sản phong phú đa dạng và quý hiếm. Việt Nam nằm trải dài ven biển, có tới 26 tỉnh thành phố ven biển chiếm tới 42% diện tích và 45% dân số cả nước, có khoảng 15,5 triệu người sống gần bờ biển và 16 vạn người sống ở đảo. Trên bờ biển của nước ta lại có nhiều mũi đá nhô ra sát biển tạo nên các “hoành sơn thiên nhiên tráng lệ”, như đèo Ngang, đèo Hải Vân, đèo Cả. Địa hình bờ biển của nước ta rất đa dạng và độc đáo do được phát triển trên các loại đất đá khác nhau trong điều kiện khí hậu có sự phân hóa rõ rệt theo chiều bắc-nam. Đó là địa hình karst phát triển trên đá vôi ở vịnh Hạ Long và Bái Tử Long (vịnh Hạ Long đã 2 lần được UNESCO công nhận là di sản thế giới và đang được đề nghị mở rộng khu di sản sang cả vịnh Bái Tử Long), ở Hòn Đỏ (Ninh Thuận). Địa hình “karst giả” phát triển trên cát đỏ ở khu vực Suối Tiên – Mũi Né (Bình Thuận), “karst giả” phát triển trên đá granite ở khu vực mũi Kê Gà và một số nơi khác của tỉnh khác ở Trung bộ. Các vách đá hùng vĩ ở mũi Đá Vách, mũi Đại Lãnh, đèo Hải Vân, “gành đá đĩa” phát triển trên đá bazan ở Phú Yên.

    Do có bờ biển dài nên Việt Nam có nhiều bãi tắm đẹp với cát mịn và sạch rải rác từ Trà Cổ (Móng Cái, Quảng Ninh) đến Bãi Nai (Hà Tiên, Kiên Giang) và nhiều bãi tắm còn rất hoang sơ trên các đảo (Ngọc Vừng, Quan Lạn ở Quảng Ninh; Hòn La ở Quảng Bình, Côn Đảo, Phú Quốc, v.v…). Đường bờ biển của nước ta rất khúc khuỷu, lại được các đảo che chắn (vịnh Hạ Long và Bái Tử Long), có nhiều vũng vịnh (Vũng Áng, vịnh Đà Nẵng, An Hòa, Dung Quất, Quy Nhơn, Xuân Đài, Vũng Rô, Vân Phong, v.v…) và nhiều cửa sông lớn đổ trực tiếp vào biển Đông .

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Vài Nét Khái Quát Về Du Lịch Phú Quốc
  • Khái Quát Phát Triển Du Lịch Việt Nam Giai Đoạn 2010
  • Khái Niệm Xúc Tiến Bán Hàng Và Tầm Quan Trọng Của Công Tác Này
  • Tuyến Điểm Du Lịch Việt Nam
  • Tuyến Điểm Du Lịch Là Gì? Các Nhân Tố Hình Thành Nên Tuyến Điểm Du Lịch
  • Khái Quát Về Tiềm Năng Du Lịch Thái Bình

    --- Bài mới hơn ---

  • Trải Nghiệm Thú Vị Khi Du Lịch Tết Thái Lan
  • Kinh Nghiệm Đặt Phòng Khách Sạn Giá Rẻ Khi Du Lịch Tết Thái Lan Pattaya
  • Thưởng Thức Trái Cây Khi Đi Du Lịch Thái Lan Toptravels.vn
  • Teambuilding Khu Du Lịch Sinh Thái The Bcr
  • Dự Án Phát Triển Du Lịch Sinh Thái Tại Vườn Quốc Gia U Minh Thượng
  • Thái Bình là một tỉnh nằm trong vùng ảnh hưởng trực tiếp của tam giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh là địa bàn chịu tác động lớn của quá trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trong vùng. Thái Bình cách thủ đô Hà Nội 110km, cách thành phố Hải Phòng 70km, có trên 50km bờ biển với 5 cửa sông lớn (Ba Lạt, Lân, Trà Lý, Diêm Điền, Thái Bình), nên thuận lợi cho giao lưu kinh tế hướng ra biển.

    Trong quy hoạch phát triển du lịch Quốc gia, Thái Bình nằm trong không gian trung tâm du lịch Hà Nội và phụ cận, thuộc vùng du lịch Bắc Bộ với tiềm năng du lịch sinh thái; du lịch văn hóa, lễ hội, làng nghề, du lịch biển độc đáo,…Thái Bình có vị thế kề cận trung tâm du lịch biển Hải Phòng, Hạ Long – Di sản văn hóa thế giới. Đó là một điểm mạnh để hình thành các tuyến du lịch liên tỉnh và quốc tế.

    Nghị quyết Đại hội XV và XVI của Đảng bộ Thái Bình xác định, để đạt được nhịp độ tăng trưởng GDP trung bình từ 2001-2005 là 7%; từ 2006-2010 là 9.96%, cơ cấu kinh tế của tỉnh sẽ thay đổi theo hướng tăng tỷ trọng GDP dịch vụ thương mại từ 14,7% (năm 1990) lên 27,89% (năm 2000) và dự kiến năm 2010, khối dịch vụ thương mại sẽ chiếm 30% tổng GDP của tỉnh. Đây là mục tiêu đòi hỏi sự nỗ lực rất lớn của ngành du lịch tỉnh, đồng thời càng khẳng định vị trí quan trọng của kinh tế du lịch trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn Thái Bình.

    Với những điều kiện thuận lợi về địa lý, dân cư và đặc thù của vùng đất lấn biển vừa cổ xưa, vừa mới mẻ, Thái Bình được xem là một trong những nơi có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế du lịch.

    Cùng với tài nguyên du lịch sinh thái – tự nhiên, còn có tài nguyên du lịch nhân văn. Theo thống kê, Thái Bình có trên 1.400 di tích lịch sử – văn hóa, trong đó có 261 di tích được xếp hạng; các di tích lịch sử – văn hóa được phân bố ở khắp các huyện, thị trong tỉnh. Những di tích quan trọng có ý nghĩa chính trị, văn hóa và phục vụ phát triển kinh tế du lịch. Chẳng hạn, cụm di tích Thành phố Thái Bình và vùng phụ cận, bao gồm: Khu di tích chùa Keo, đền Đồng Xâm, chùa Đoan Túc, đình Thượng Liệt, khu lưu niệm Bác Hồ, cụm di tích Hưng Hà, bao gồm: Khu lăng mộ các vua Trần, cung Long Hưng, từ đường Lê Quý Đôn, đền Tiên La, Chùa Diệc… cụm di tích đền Đồng Bằng và phụ cận, gồm: Di tích các đình An Cổ, Vân Đồn, Ngũ Thôn, Bích Đoài, Tử Các, khu lưu niệm Nguyễn Đức Cảnh… Đó là những cụm, nhóm di tích – lịch sử văn hóa có giá trị và khả năng thu hút khách du lịch cao. Mỗi nhóm di tích trên đều có những nội dung và đặc trưng khác nhau, có thể khai thác kết hợp với du lịch sinh thái để hình thành các tuyến du lịch tổng hợp và tuyến du lịch chuyên đề.

    Bên cạnh mạng lưới di tích lịch sử – văn hóa, còn có làng nghề với nhiều lớp nghệ nhân đã tạo ra những sản phẩm độc đáo, từ lâu được khách du lịch trong nước và ngoài nước biết đến. Không ít sản phẩm đã được mang đến triển lãm tại Hội chợ Paris những năm đầu thế kỷ XX.

    Những năm qua, kinh tế – xã hội ở Thái Bình có sự ổn định và phát triển; đời sống vật chất, tinh thần được nâng cao, nhu cầu nghỉ ngơi, bồi dưỡng sức khỏe và du lịch của người dân cũng tăng lên. Điều đó được thể hiện qua số lượng khách du lịch nội tỉnh và trong nước tăng nhanh, đó là lợi thế quan trọng để Thái Bình phát triển kinh tế du lịch, bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể.

    Bên cạnh việc đầu tư, nâng cấp cơ sở hạ tầng giao thông, những năm gần đây, Thái Bình tích cực đầu tư, nâng cấp các cơ sở lưu trú; phục hồi, nâng cấp các làng vườn, làng nghề, tôn tạo và phục hồi các di tích lịch sử – văn hóa, lễ hội truyền thống, đầu tư phát triển các tuyến du lịch, xây dựng các khu du lịch sinh thái, các công trình vui chơi, giải trí…

    Bảng 1: Các dự án du lịch được cấp phép đang đầu tư ở Thái Bình (2002-2010)

    Những cố gắng đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch. Mặt khác, trên cơ sở của việc đánh giá, xác định tiềm năng du lịch, các tuyến du lịch và điểm du lịch chủ yếu, chính quyền địa phương và ngành du lịch Thái Bình tạo điều kiện để các thành phần kinh tế đầu tư phát triển kinh tế du lịch. Đến nay, đã có 4 dự án du lịch được cấp phép đang đầu tư với tổng số vốn dự kiến là 4,71 triệu USD và 12 dự án đề nghị đầu tư, với tổng số vốn dự kiến là 182 triệu USD. Những dự án được cấp phép đang đầu tư tập trung chủ yếu vào du lịch văn hóa, lễ hội và du lịch tham quan, tắm biển.

    Với đà phát triển của các ngành kinh tế, văn hóa, xã hội trong tỉnh, ngành du lịch Thái Bình đang đứng trước những triển vọng mới, tốt đẹp. Dự báo những năm tới, số lượng khách du lịch khoảng 220.000 lượt khách/năm, do đó, cần phải tăng cường cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ du lịch, hoạch định các khu vực ưu tiên phát triển các cụm, điểm du lịch trên phạm vi toàn tỉnh. Mặt khác, cần nâng cao khả năng cạnh tranh của các sản phẩm du lịch, giảm dần và hướng đến khắc phục tính thời vụ trong kinh doanh, tạo cho du khách sự thoải mái, hứng thú và gây ấn tượng tốt về tình hình du lịch Thái Bình. Trong điều kiện hiện nay, cần xây dựng chế độ kích thích vật chất đối với các vùng, các địa phương có hoạt động du lịch. Xây dựng tỷ lệ đóng góp đầu tư cho địa phương nơi có hoạt động du lịch, căn cứ vào hoạt động của các doanh nghiệp. Như vậy, vừa nâng cao trách nhiệm của người dân địa phương đối với sự phát triển du lịch trên địa bàn, vừa cư dân, chính quyền địa phương được hưởng lợi ích từ hoạt động du lịch.

    III. CÁC TUYẾN, ĐIỂM VÀ CỤM DU LỊCH TRỌNG ĐIỂM

    Bảng 3: Các tuyến du lịch nội tỉnh chủ yếu ở Thái Bình (2005)

    Hiện nay ở Thái Bình đã hình thành các tuyến du lịch nội tỉnh và liên tỉnh. Tuyến du lịch nội tỉnh gồm 5 tuyến chính, đối tượng tham quan chính là các danh lam, thắng cảnh, làng nghề, các vùng sinh thái – văn hóa biển.

    Bảng 4: Các tuyến du lịch liên tỉnh chủ yếu ở Thái Bình (2005) 2.1 Chùa Keo

    Thành phố Thái Bình- làng vườn Bách Thuận – Chùa Keo – Thành phố Thái Bình

    Các di tích lịch sử văn hóa tại thị xã Thái Bình, làng nghề thêu Minh Lãng, làng vườn Bách Thuận, các xưởng ươm tơ- Di tích lịch sử- văn hóa chùa Keo, đền Bổng Điền

    TP Thái Bình- làng Khuốc, làng Nguyễn, đình , chùa Phủ Gạch (xã Đông Xá) đền Đồng Bằng – Tp Thái Bình

    Các di tích lịch sử- văn hóa tại Thị xã Thái Bình

    Làng vui chơi, làng văn hóa Khuốc Nguyên

    Làng kháng chiến và múa rối nước Nguyên Xá

    Di tích lịch sử – văn hóa đền Đồng Bằng, nhà lưu niệm Bác Hồ, làng dệt chiếu An Vũ, đình Đông Linh, khu sinh thái Miếu Sổ, đền Hòe Thị.

    Tp Thái Bình – Diêm Điền- Tiền Hải- Đồng Châu- Tp Thái Bình

    Các di tích lịch sử – văn hóa và các khu vui chơi giải trí tại Thị xã Thái Bình

    Làng nghề trạm bạc Đông Kinh, đình Phất Lộc

    Khu di tích vùng ngập mặn Thụy Trường

    Khu di tích đền An Cổ, đền Chòi

    Khu lưu niệm Nguyễn Đức Cảnh

    Khu công nghiệp và cảng biển Diêm Điền

    Khu công nghiệp Tiền Hải, bãi biển Đồng Châu, Cồn Vành

    Chùa Keo tọa lạc tại xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư; là một di tích kiến trúc, nghệ thuật cấp siêu hạng của Thái Bình, được Nhà nước công nhận từ năm 1957. Chùa được xây dựng năm 1630 với quy mô lớn, chạm gỗ tinh xảo, thể hiện phong cách thời Lê.

    Theo văn bia và địa hạ chùa Keo, diện tích toàn khu kiến trúc rộng 28 mẫu (108.000m2; bề ngang gần 500 mét, chiều sâu 200 mét). Nếu chỉ tính 154 gian của 21 công trình, chùa đã có diện tích 58.000m2. Hiện tại, toàn bộ kiến trúc chùa Keo còn 17 công trình với 128 gian. Chùa Keo là một tổ hợp kiến trúc chùa – đền, thờ Phật và Thiền Sư Không Lộ (thời Lý – thế kỷ XI).

    Chùa Keo từ lâu đã được coi là một di tích lịch sử – văn hóa nổi tiếng của Thái Bình và của cả nước, một điểm du lịch có sức thu hút lớn đối với khách trong nước và ngoài nước.

    Một năm chùa Keo có hai lần mở hội: Hội Xuân được tổ chức vào ngày 4 tháng giêng âm lịch; hội tháng 9 (vào các ngày 13,14,15 âm lịch). Hai hội này có nội dung, tính chất và hình thức hoàn toàn khác nhau.

    Hội vui xuân là hội cầu may và đón xuân, với ba trò vui chính: Thi bắt vịt, thi ném pháo và thi thổi cơm. Trong truyền thống, hội vui xuân do 8 giáp làng Keo đứng ra tổ chức.

    “Dù cho cha mắng mẹ treo Em không bỏ hội chùa Keo hôm rằm”

    Hội tháng 9 là hội chính ở chùa Keo, thu hút hàng vạn phật tử, du khách tới dự và tham quan, vãng cảnh chùa. Dân gian có câu:

    3.2 Khu lăng mộ các vua Trần và đền Trần

    Nếu hội xuân ở chùa Keo vừa có tính chất thi hài, vừa là hội làng về phong tục, thì hội chùa Keo tháng 9 mang đậm tính chất lễ hội lịch sử, văn hóa, được gắn kết với cuộc đời Thiền sư Không Lộ. Điệu múa cổ ếch vồ và bơi chải cạn trong hội chùa Keo tháng 9 được xem là di sản độc đáo của vùng sông nước đồng bằng Bắc Bộ, mà đến nay vẫn là mối quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước.

    Khu lăng mộ các vua Trần ở thôn Tam Đường, xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà.

    Tam Đường có tên cổ xưa là Thái Đường, thuộc huyện Ngự Thiên, phủ Long Hưng, thời Trần. Bảy trăm năm trước, khi nhà Trần lên ngôi đã chọn vùng Tức Mặc, Thiên Đường (Nam Định) – quê tổ 4 đời, làm nơi xây dựng hành cung để nghỉ ngơi và chọn Thái Đường Ngự Thiên làm nơi đặt lăng mộ. Trong số 14 vị vua triều Trần thì có gần một nửa các vua và hoàng hậu, sau khi tạ thế được đưa về an táng ở Ngự Thiên và có lăng miếu phụng thờ. Thọ Lăng, Chiêu Lăng, Dụ Lăng, Đức Lăng là nơi an táng Thái Thượng hoàng Trần Thừa và các vua Thái Tôn, Thánh Tôn, Nhân Tôn. Tuy nhiên, Thái Đường không hẳn chỉ là nơi đặt lăng tẩm, ở đây còn có những hành cung, đền, miếu lớn lộng lẫy, như điện Thiên An, điện Diên Hiền, thềm Thiên Trì… khu vực này có hai đội quân lớn mang tên Hải Khẩu và Hổ Dục ngày đêm bảo vệ. Hơn nữa, vây quanh khu lăng tẩm, đền, miếu là các điền trang, thái ấp lớn của các vương hầu, quý tộc nhà Trần; trong đó nổi tiếng là thái ấp của Trần Nhật Hiệu ở thôn Dương Xá (một trong số 3 thôn của làng Thái Đường). Theo ghi chép của Lê Quý Đôn, ở đó có mộ.

    Trần Nhật Hiệu rộng chừng 5 sào, nằm cạnh một ngôi mộ của ai không rõ cũng rộng chừng 5 sào, trên đó có rùa đá, bia đá và 8 mẫu tự điền!

    Cho đến trước khi nhà Trần di chuyển hài cốt các vua đầu nhà Trần ở Long Hưng về An Sinh (Đông Triều, Quảng Ninh), nhân dân trong vùng không chỉ được tham dự những buổi mai táng, tế tự long trọng của triều đình đối với các vua, hoàng hậu và các bậc công hầu, mà còn được chứng kiến và tham dự những sự kiện có ý nghĩa chính trị quốc gia. Đó là những cuộc viếng thăm, những buổi làm lễ mừng chiến thắng quân xâm lược , do đích thân các vua Trần đứng ra tổ chức; để tạ ơn tổ tiên đã phù hộ cho con cháu giữ vững cơ nghiệp tổ tông đất nước.

    Theo sử sách, trong những ngày lễ lớn tại Thái Đường, “Nghi tượng kéo qua nghìn cửa đón chào nghiêm túc, áo mũ các quan đủ cả bảy phẩm”, dân trong vùng xem là ngày hội lớn, tại các đình chùa đều nổi chiêng trống tế thành hoàng và lễ Phật; trên các sân đình trai tráng đánh gậy, dưới sông thi bơi trải, thi bắt vịt, nhà nhà tổ chức ăn mừng chiến thắng.

    Năm tháng trôi qua, nhiều công trình đã bị hư hại, đang được khôi phục lại. Cũng với các cụm di tích khác, như lăng mộ Thái hậu Trần Thị Dung (bà chúa Ngừ), lăng mộ Thái sư Trần Thủ Độ (ở xã Liên Hiệp), khu lăng mộ các vua Trần thực sự là một cụm di tích có quy mô lớn và rất có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng dân tộc.

    2.3 Cụm di tích lưu niệm danh nhân Lê Quý Đôn.

    Từ đường gồm 2 tòa, mỗi tòa 3 gian. Phía trước là hai nhà bia đặt, một bên là bia “Hà Quốc Công bi ký”, được làm vào năm Tự Đức thứ 12 (1860) do cử nhân Phạm Chi Hưởng, cháu ngoại của Lê Trọng Thứ soạn lời.

    Ba gian điện thờ (hậu cung) là nơi khám gian, ngai, bài vị thờ tổ họ Lê, dưỡng tổ của họ Lê và tượng tiến sỹ Lê Trọng Thứ (thân sinh Lê Quý Đôn) và tượng Lê Quý Đôn

    2.4 Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh

    • Lăng Tiến sỹ Lê Trọng Thứ, nằm cách từ đường khoảng 150 mét về phía đông. Đây là nơi yên nghỉ của ông.
    • Khu hồ Lê Quý Đôn, nằm cạnh từ đường. Trong hồ có một khu đất nổi cao. Sinh thời, Lê Quý Đôn đã cho xây một nhà thủy tạ. Đây là nơi bảng nhãn Lê Quý Đôn tiếp khách, đọc và viết sách (1742-1752), nghỉ ngơi trong 3 năm cáo quan.

    Cụm di tích này được Bộ Văn hóa xếp hạng Quốc gia năm 1987.

    2.5 Đền Đồng Bằng, đền Tiên La và đền Đồng Xâm.

    Khu lưu niệm đặt tại xã Tân Hòa, huyện Vũ Thư, cách Thành phố Thái Bình 15 km về phía tây.

    ” Dù ai buôn bán trăm nghề 20 tháng 8 nhớ về Đào thôn”

    Năm 1965, Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc, văn phòng Ban Thường vụ Tỉnh Thái Bình sơ tán về thôn Đại Đồng, xã Tân Hòa huyện Vũ Thư. Để động viên cán bộ và nhân dân Thái Bình thi đua sản xuất giỏi, chiến đấu giỏi, Bác đã về thăm Thái Bình vào cuối năm 1966. Chiều tối ngày 31-12, đồng chí Ngô Duy Đông- Bí thư Tỉnh ủy và đồng chí Lê Thị Định vinh dự được cử đi đón Bác tại bến phà Triều Dương. Vì điều kiện thời chiến, xe Bác qua phà rất bí mật. Đoàn xe không bật đèn, chạy thẳng đến bến đò Cống Vực để qua sông Trà Lý sang đất Thư Trì. Sáng hôm sau, Bác gặp mặt cán bộ và nhân dân ở đình Phương Cáp (Hiệp Hòa). Đây là lần cuối cùng Bác về thăm Thái Bình. Nơi Bác đã nghỉ lại đêm giao thừa 1966-1967 được xây thành Khu lưu niệm chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngoài khu nhà lá là di tích gốc, năm 1974, Tỉnh ủy, UBND tỉnh còn quyết định xây dựng bổ sung thêm ngôi nhà trưng bày và nhà khách. Hàng năm, vào dịp sinh nhật Bác (19-5) và Quốc Khánh 2-9, Đảng bộ và nhân dân địa phương cùng các ngành, các cấp trong tỉnh thường tổ chức lễ dâng hương và tổ chức cho cán bộ và nhân dân tham quan lưu niệm để tưởng nhớ công ơn của Người. Trong những năm gần đây có nhiều đoàn khách quốc tế đến tham quan Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh.

    Khu lưu niệm này đã được Bộ Văn hóa xếp hạng di tích lịch sử – văn hóa cấp Quốc gia.

    Đền Đồng Bằng còn có tên là đền Đức Vua hoặc Bát Hải Đông đình thuộc xã An Lễ, huyện Quỳnh Phụ, được Bộ Văn hóa cấp bằng di tích lịch sử – văn hóa cấp Quốc gia năm 1986. Đây là nơi thờ những anh hùng có công đánh giặc, giữ nước, trong đó có các danh tướng thời Trần, đặc biệt là Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn.

    Toàn bộ khu di tích rộng gần 20.520m2, riêng khu nội tự 6.000m2. Đền chính thức được xây dựng theo kiểu “Tiền nhị, hậu đinh” như một lâu đài, gồm 13 tòa, 66 gian, liên kết chặt chẽ với kiến trúc công trình phụ, tạo thành một quần thể kin trúc bế thế, uy nghi. Nghệ thuật chạm khắc và trang trí trên gỗ ở đây đạt tới độ tinh xảo, đặc biệt là hệ thống hoành phi, cân đối, con sơn, cửa võng. Hàng năm, cứ đến tháng tám âm lịch, vào dịp hội đền, hàng vạn du khách thập phương về dự. Đã từ lâu, hội đền Đồng Bằng được xếp vào hàng hội lớn của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Dân gian có câu ca:

    Hội đền Đồng Bằng mở trùng với hội đền Kiếp Bạc (Hải Dương) vào ngày mất của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn (20-8). Hội lễ có tục bơi trải, đua thuyền rất hấp dẫn, gợi nhớ trận thủy chiến Bạch Đông trong cuộc kháng chiến chống Mông Nguyên lần thứ 3 (1288) của dân tộc.

      Đền Tiên La (Tiên La linh từ) nằm trên một gò đất cao, diện tích gần 4000m2, thuộc thôn Tiên La, xã Đoan Hùng, huyện Hưng Hà, thờ Bát Nạn tướng quân Vũ Thị Thục – một nữ tướng của Hai Bà Trưng.

    Tướng quân Vũ Thị Thục hy sinh tại căn cứ gò Kim Quy. Nhân dân trong vùng lập đền thờ bà để ghi nhớ công ơn. Hàng năm, mở hội vào ngày 16 tháng 3 âm lịch. Trong lễ hội có rước kiệu Thánh và các trò chơi chọi gà, đánh cờ, múa võ, bơi trải và diễn trận.

    Hội Đền Tiên La được xếp vào hội lớn của vùng thu hút đông khách thập phương về dự. Đền Tiên La được xây theo kiểu “Tiền nhất, hậu đinh” với 3 tòa chính là tiền tế, đệ nhị và hậu cung; đã qua nhiều lần tu sửa.

    Đền Tiên La không chỉ có giá trị lịch sử, văn hóa mà còn có giá trị về kiến trúc, nghệ thuật. Nét đặc sắc trong kiến trúc của đền là sự kết hợp giữa kiến trúc gỗ và đá. Trong đền còn nhiều hiện vật quý.

    Đền đã được Bộ Văn hóa xếp hạng di tích lịch sử – văn hóa cấp Quốc gia vào năm 1987.

    Khu di tích đền Đồng Xâm thuộc làng Đồng Xâm, xã Hồng Thái, huyện Kiến Xương là một tổ hợp di tích gồm đền Đồng Xâm, đền thờ Trình Thị Hoàng Hậu (vợ của vua Triệu Vũ Đế) và đền thờ Nguyễn Kim Lâu ( thế kỷ XV) – vị tổ nghề trạm bạc cổ truyền và hệ thống đền, chùa liền kề, cạnh sông Vông.

    Theo thần tích đền Đồng Xâm, ngôi đền cổ được xây dựng vào thế kỷ III sau Công nguyên, về sau mục nát. Từ năm 1920-1925, nhân dân ở 13 làng của tổng Đồng Xâm cũ đã góp tiền xây dựng lại ngôi đền theo kiến trúc thời Nguyễn.

    Đền Đồng Xâm được xây dựng trên một khu đất rộng, thoáng từ bờ sông đông sang bờ tây sông Đông Giang (sông Vông). Nhìn chính diện từ cửa đền, bờ phía tây là các tòa, các lâu 5 cửa, cao gần 20 mét. Dưới sông, gần bờ phía đông là tòa thủy tạ hình lục lăng, trên sông xây dựng hai cầu gạch lớn, làm thành hai đường đưa khách tham quan vào khu đền chính.

    2.6 Làng kháng chiến Nguyên Xá

    Đồng Xâm là làng nổi tiếng bởi nghề kim hoàn. Khám gian đặt tại hậu cung là một tác phẩm độc đáo mang nét đặc thù của nghệ thuật kim hoàn Đồng Xâm; được phong kín bằng những lá đồng chạm thủng, với các đề tài tứ linh, tứ quý, lưỡng long chầu nguyệt…

    Dưới ánh sáng của những ngọn nến trong khám gian, những lá đồng với nét chạm trổ tinh xảo đã tạo ra quầng sáng huyền ảo, linh thiêng. Trong khám đặt tượng Triệu Vũ Đế và Hoàng hậu Trịnh Thị. Cả hai pho tượng đều được đúc bằng đồng khảm vàng thiếp bạc. Trong khám thờ còn có nhiều hiện vật quý, trong đó có kiếm đúc bằng vàng, búa sắt, theo giai thoại, đó là báu vật của Triệu Vũ Đế để lại.

    Hàng năm, hội đền Đồng Xâm mở vào ngày 1-4 âm lịch. Để có hội tháng 4, ngay từ cuối tháng 3 các chức sắc trong xã, thôn đã phải họp bàn, chọn người giữ sức mạnh bái (chủ tế) để đọc chúc văn, đọc thông xướng, tổ chức doàn rước và các trò chơi dân gian độc đáo, đặc biệt là trò thi bơi chải truyền thống. Trai, gái làng Đồng Xâm có tài bơi chải nên hàng năm, hội làng trở thành tụ điểm của những nghệ nhân và những người ưa thích môn nghệ thuật này. Vào ngày hội, du khách không chỉ được chiêm ngưỡng vẻ đẹp lộng lẫy của đền, sự náo nức, hấp dẫn của các trò chơi, mà còn được chứng kiến tài hoa của nghệ nhân, thông qua các sản phẩm trạm bạc của làng được trưng bày và bán lưu niệm.

    Đồng Xâm trong quá khứ và hiên tại vẫn nổi danh là một làng nghề – làng văn hóa dân gian đặc sắc, một điểm du lịch hấp dẫn khách tham quan trong và ngoài nước.

    2.7 Làng vườn Bách Thuận

    Nguyên Xá còn có tên làng Nguyễn, nằm ở trung tâm huyện Đông Hưng. Nguyên Xá vốn là một làng Việt cổ, nổi tiếng về văn hóa sản xuất, văn hóa vũ trang, văn nghệ dân gian, học hành khoa bảng. Truyền thống văn vật, văn hiến của các thế hệ cư dân ở đây được duy trì và phát triển trong mọi thời kỳ lịch sử, từ cách mạng giải phóng dân tộc đến kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhiều thập niên qua, “hiện tượng làng Nguyễn” đã thu hút hàng trăm nhà khoa học, nhà nghiên cứu văn hóa, nghệ thuật trong và ngoài nước, thuộc nhiều cơ quan khác nhau, tìm về nghiên cứu, đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về làng Nguyễn đã được công bố bằng tiếng Việt và tiếng Anh. Chỉ dưới góc độ làng Nguyễn – “Làng kháng chiến kiểu mẫu” trong kháng chiến chống Pháp, cũng đã cuốn hút khách du lịch.

    Thực hiện chủ trương mỗi làng trở thành một pháo đài chống Pháp của Trung ương Đảng và Chính phủ, quân dân Nguyên Xá huy động sức lực đào đắp trên 16 nghìn m3 đất, hàng chục nghìn mét hào giao thông, hầm hố và dậu tre để tạo thành lá chắn vững chắc bao quanh làng kháng chiến. Với quyết tâm cao và ý chí dũng cảm kiên cường quân dân làng Nguyễn đã chiến đấu anh dũng, đánh địch 184 trận lớn, nhỏ, tiêu diệt 312 tên địch, giữ vững làng kháng chiến. Nguyên Xá vinh dự được nhà nước phong tặng danh hiệu Đơn vị Anh hùng, được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng cờ Làng kháng chiến kiểu mẫu. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, quân dân Nguyên Xá đã giữ vững danh hiệu “Thóc thừa cân, quân không thiếu”, dẫn đầu nhiều năm về năng suất lúa của tỉnh Thái Bình. Trong hai cuộc chiến tranh chống phá hoại bằng không quân và hải quân của Mỹ, Nguyên Xá đã phải hứng chịu 46 quả bom xuyên gây nhiều thiệt hại về người và của. Nhưng, chúng đã phải bỏ lại ở đây hai xác máy bay. Với những thành tích nêu trên Nguyên Xá được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

    Để có được những thành tích to lớn đó, ngay từ những năm đầu đánh Mỹ, Nguyên Xá đã mở chiến dịch ” kết hợp xây dựng kinh tế với giao thông quốc phòng”. Kết quả, đã đào đắp 40.000m3 kênh mương, giao thông hào; lập một tổ dân quân trực chiến, chia thành 4 ổ chiến đấu, được trang bị 5 khẩu trung liên. Ngày 19/12/1967, bằng 84 viên đạn bộ binh, tổ đã bắn rơi chiếc máy bay F4 của Mỹ. Bốn năm sau, vào đêm ngày 6/9/1972, một máy bay phản lực Mỹ cũng phải đền tội bởi các tay súng của quân dân làng Nguyễn.

    2.8 Khu di lịch Đồng Châu – Cồn Vành – Cồn Thủ 2.9 Cụm du lịch Diêm Điền

    Không chỉ “giỏi tay cày, chắc tay súng”, người dân làng Nguyễn còn khéo tay trong chế biến nông sản, thực phẩm và làm nghề thủ công. Từ lâu, sản phẩm bánh cáy và pháo bông làng Nguyễn được nhiều người biết đến. Ngày nay, làng Nguyễn được xem là một làng đa nghề, cả làng có tới hơn 40 nghề. Hầu hết các gia đình trong làng đều có từ 2-3 nghề, vừa sản xuất sản xuất nông nghiệp vừa làm nghề thủ công và làm dịch vụ.

    Hiện nay, phường rối làng Nguyễn xây dựng được nhà thủy đình và khu biểu diễn, đáp ứng được yêu cầu của khách tham quan, đồng thời có thể biểu diễn lưu động. Làng Nguyễn được xem là làng Văn hóa dân gian đặc sắc của Thái Bình, một địa điểm du lịch hấp dẫn.

    Làng vườn Bách Thuận nằm sát sông Hồng, cạnh Quốc lộ 10, cách Thành phố Nam Định 5km, cách thành phố Thái Bình khoảng 13km; đất đai phù hợp để trồng các loại cây ăn quả và cây cảnh.

    Bách Thuận là tên ghép của hai làng cổ: Thuận Vi và Bách Tính. Ở Thuận Vi xưa có nghề trồng dâu nuôi tằm.

    Vào những năm 80 của thế kỷ trước, ở Thuận Vi có hàng trăm hec ta dâu, năng suất lá rất cao (90kg/sào) và hàng nghìn buồng nuôi tằm. Nuôi tằm, ngoài cái lợi chính là lấy tơ, còn có các nguồn lợi phụ cũng không kém phần quan trọng, như nhộng tằm – thức ăn chứa nhiều đạm; nước luộc tằm kén có thể làm nước chấm, làm dược liệu.

    Ngoài cây dâu, Thuận Vi còn có cây ngâu. Trồng ngâu, một thời gian cũng có giá trị cao. Từ thập niên 90 đến nay, những cây trái giá trị kinh tế thấp dần bị thay thế. Thuận Vi lâu nay là làng cây cảnh, trong làng còn có chùa Từ Vân, đền Bổng Điền đã được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử – văn hóa. Thuận Vi (Bách Thuận) thực sự là một điểm du lịch sinh thái, văn hóa hấp dẫn.

    Khu du lịch Đồng Châu- Cồn Vành – Cồn Thủ thuộc huyện Tiền Hải, gồm: bãi biển Đồng Châu (thuộc xã Đông Minh) và hai cồn đảo là Cồn Vành và Cồn Thủ có diện tích khoảng 100ha và hơn 1000 ha đất bãi. Chức năng chính của khu du lịch này là phục vụ nghỉ dưỡng của du khách. Với ưu thế nằm sát biển, không gian , khí hậu trong lành, nguồn thủy hải sản phong phú, hệ sinh thái rừng ngập mặn khá điển hình, khu Đồng Châu- Cồn Vành – Cồn Thủ đang được quy hoạch, xây dựng thành khu du lịch sinh thái biển- một điểm tham quan, nghỉ dưỡng hấp dẫn của du lịch Thái Bình.

    Cụm du lịch Diêm Điền thuộc huyện Thái Thụy, bao gồm các điểm: Rừng ngập mặn Thụy Trường, đình An Cổ, phủ thờ chúa Muối, khu lưu niệm Nguyễn Đức Cảnh.

    • Khu rừng ngập mặn Thụy Trường có diện tích 4km2, là rừng nguyên sinh được bảo tồn nguyên vẹn. Ở đây hội tụ nhiều loại chim quý như: Bồ nông, cò thìa, hạc trắng, mòng biển đầu đen… hệ sinh thái rừng ngập mặn Thụy Trường là nơi lý tưởng cho khảo cứu khoa học, tổ chức di lịch sinh thái và nghỉ dưỡng.
    • Đình An Cổ thuộc thôn An Cổ , xã Thụy An (Thái Thụy) theo truyền thuyết được xây dựng cùng thời với đình Cổ Trai (Hải Phòng), khoảng những năm đầu thế kỷ XVI. Đình dài 26 mét, rộng 10 mét, gồm 7 gian, không có móng, thiết kế theo kiểu kèo chồng giường. Toàn bộ sức nặng của ngôi đình dồn vào 44 cột: trong đó có 12 cột có đường kính 80cm, 32 cột nhỏ có đường kính 60cm. Sự lắp ráp toàn bộ chi tiết liên kết trong đình đều dùng mộng, không dùng đinh. Do đó, thân đình trở thành một hệ thống khung vững chắc có thể nâng lên, đặt xuống hoặc di chuyển ra chỗ khác cũng được. Cũng có thể tháo dỡ để thay thế bất kỳ một bộ phận nào mà không ảnh hưởng gì đến toàn bộ khung đình. Nét chạm khắc trong đình rất tình xảo.

    Với kiến trúc đồ sộ, đình An Cổ vừa hoành tráng, vừa mỹ lệ. Đình An Cổ còn nhiều hiện vật bằng gỗ quý giá như: cuốn thư, hoành phi, câu đối cổ, những ban thờ lớn sơn son thiếp vàng, cùng các đồ bát bửu, tam sự, thất sự, sưu tập áo lậu, áo phạng, the, đoạn…Đây cũng là bộ sưu tập y phục tế rước hoàn chỉnh bậc nhất của Thái Bình hiện nay.

    Trong kháng chiến chống Pháp, đình An Cổ là địa điểm đặt văn phòng của Thành đội Hải – Kiến. Năm 1962, đình được xếp hạng di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia.

    Phủ thờ chùa Muối ở thôn Tam Đồng, xã Thụy Hải (Thái Thụy). Tương truyền vào thời Trần vùng đất này được gọi là Quang Lang Trang, cư dân chủ yếu sống bằng nghề làm muối và bắt cá. Trong làng có cô gái tên là Nguyệt Ảnh vừa nết na vừa xinh đẹp; nhưng lạ thay cô di đến đâu cũng có một đám mây nhỏ che trên đầu. Vì thế, cô không dám ra ruộng muối của làng, vị sợ người làng oán trách. Bố mẹ cô bèn sắm cho cô một chiếc thuyền nhỏ để đi buôn muối. Một hôm, đoàn thuyền muối của dân làng Quang Thanh ngược sông Nhị Hà (sông Hồng) thì gặp thuyền rồng của vua Trần Anh Tông. Vua thấy cô gái có nhiều nét lạ bèn đón về kinh đô. Ở trong cung vua một thời gian, cô xin được về quê thăm bố mẹ. Nhà vua đồng ý. Nhưng về quê không được bao lâu thì cô bị bệnh và mất. Từ đó, người trong vùng gọi cô là “Bà chúa Muối”. Hàng năm, cứ đến ngày giỗ của bà (14-4 âm lịch), dân làng Quang Lang mở hội. Trong hội có mò “múa ông Đùng bà Đà” – một trong những điệu múa cổ xưa nhất của người Việt. Điệu múa mang đậm nghi lễ nông nghiệp với tín ngưỡng phồn thực độc đáo.

    Nguyễn Đức Cảnh sinh ngày 2/2/1908 tại thôn Diêm Điền, xã Thụy Hải ( nay là thị Trấn Diêm Điền), huyện Thái Thụy. Đồng chí là một cán bộ xuất sắc trong phong trào vận động công nhân và là người đứng đầu Ban chấp hành Tổng Công hội Đỏ – tiền thân của tổ chức công đoàn ngày nay.

    Ngày 4/4/1931, Nguyễn Đức Cảnh bị đế quốc Pháp bắt rồi kết án tử hình tại Hải Phòng ngày 31/8/1932.

    Để tưởng nhớ công lao của người chiến sĩ cộng sản kiên trung, tỉnh Thái Bình đã xây dựng khu lưu niệm Nguyễn Đức Cảnh trên quê hương Diêm Điền.

    Nguồn tin: Theo Địa chí Thái Bình

    --- Bài cũ hơn ---

  • Định Hướng Phát Triển Sản Phẩm Du Lịch Tỉnh Thái Bình
  • Công Ty Cổ Phần Khách Sạn Và Du Lịch Thiên Thai
  • Công Ty Du Lịch Ở Hà Nội
  • Công Ty Du Lịch Lào Thái Tst Travel Ở Tại Tp Vinh Nghệ An Hà Tĩnh
  • Tiềm Năng Phát Triển Du Lịch Sinh Thái Của Cồn Hô
  • Giới Thiệu Khái Quát Huyện Nam Giang

    --- Bài mới hơn ---

  • Chuyến Bay Giá Rẻ Đến Hy Lạp Với Giá Từ 37.775.370 ₫ Vào 2022
  • 6 Điểm Đến Mùa Đông Ở Hy Lạp
  • Thời Điểm Nào Đi Du Lịch Hy Lạp Là Phù Hợp?
  • Thổ Nhĩ Kỳ Nơi Giao Thoa Văn Hóa Phương Đông Và Phương Tây
  • Chia Sẻ Kinh Nghiệm Du Lịch: Iceland – Phượt Thủ Việt Lecoq
  • Giới thiệu khái quát huyện Nam Giang

    – Nam Giang là một huyện miền núi vùng cao của tỉnh Quảng  Nam. Tổng diện tích tự nhiên: 1.842,88 Km2, có đường Biên giới chung với nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào dài 70 Km.                 

    – Tổng diện tích tự nhiên của huyện chia theo tình hình sử dụng đất : 184.288,66 ha. Trong đó:

    1. Diện tích đất nông nghiệp: 153.526,4 ha, phân ra:

    + Đất sản xuất nông nghiệp:  5.263,05 ha

    + Đất lâm nghiệp:                     184.232,3 ha

    + Đất nuôi trồng thủy sản:       23,44 ha

    2. Đất phi nông nghiệp:           4.261,06 ha

    3. Đất chưa sử dụng:               26.354,99 ha

    – Huyện có 11 xã và 01 Thị trấn với tổng dân số 24.469 người, gồm các dân tộc anh em, trong đó, được chia theo hộ gia đình:

    + Cơ tu: 3.215 hộ

    + Gié- Triêng: 1.131 hộ

    + Kinh: 1.076 hộ

    + Dân tộc khác: 108 hộ

    – Do điều kiện của một huyện miền núi vùng cao nên địa hình của huyện có nhiều núi non hiểm trở, nhiều sông suối chia cắt, giao thông đi lại còn khó khăn.

    – Đời sống của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp.

    – An ninh Quốc phòng của huyện trong những năm qua được giữ vững, tuyến biên giới Việt- Lào được củng cố tăng cường (Hiện có 03 Đồn Biên phòng đóng quân trên vùng Biên giới của huyện đó là các Đồn Biên phòng 653, 657, 661)

    – Sự nghiệp Y tế- giáo dục phát triển khá. Hầu hết các xã trong huyện đều đã có Trạm y tế xã (12 trạm), với tổng số 137 cán bộ, trong đó nữ có 86 người. Ngành y có 68 người, dược có 07 người.

    Về giáo dục: Có 28 cơ sở công lập, trong đó có 02 Trường THPT: THPT Nam Giang và THPT Nguyễn Văn Trỗi

    – Giá trị sản xuất Nông- lâm nghiệp của huyện năm 2012 đạt 190.650,373 triệu đồng

    – Giá trị sản xuất Công nghiệp- Tiểu thủ công nghiệp của huyện năm 2012 đạt 28.614,1

    – Thực hiện thu ngân sách trên địa bàn huyện năm 2012 là 439.714,986 triệu đồng. Chi ngân sách năm 2012 là 306.324,59 triệu đồng.

    – Tài nguyên khoáng sản:

    + Có vàng sa khoáng hiện đang được các cơ quan thẩm quyền cho một số đơn vị triển khai thăm dò

    + Trữ lượng đá vôi ở Thạnh Mỹ khá lớn, nhà máy xi măng Thạnh Mỹ đang xây dựng và sắp đưa vào sử dụng

    + Do địa hình của huyện có nhiều sông suối, có tiềm năng lớn về thủy điện. Hiện nay, các công trình thủy điện đang được xây dựng và vận hành như: Thủy điện Sông Bung 2, Sông Bung 4, Sông Bung 5, Sông Bung 6.

    + Có khu du lịch sinh thái thác Grăng, hiện đang trong quá trình đầu tư xây dựng để khai thác du lịch

    – Huyện được Chính phủ cho mở cửa khẩu biên giới với nước bạn Lào. Hiện nay việc xây dựng cơ sở hạ tầng ở vùng cửa khẩu đã được hai Quốc gia đầu tư xây dựng.

    Giới thiệu về tiềm năng phát triển du lịch Nam Giang

    Huyện Nam Giang là huyện miền núi của tỉnh Quảng Nam. Cách thành phố Đà Nẵng gần 70 km về phía Tây Nam, cách tỉnh lỵ Tam kỳ 120 km về phía Tây Bắc, cách cửa khẩu Đắc Ốc – Đắc Tà Ọc 70 km về phía Đông. Có chung đường biên giới hơn 70 km với nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. Toàn huyện có 12 xã, thị trấn với 63 thôn. Dân số toàn huyện có trên 23.000 người.

        Theo quốc lộ 14B, cách Đà Nẵng 60km về phía Tây, du khách sẽ ngược về Nam Giang, nơi đây là địa bàn sinh sống của đồng bào các dân tộc, Cơ Tu, Ve, Tà riềng…. phong cảnh hữu tình trải suốt chiều dài 60 km, một bên là núi một bên là dòng sông Vu Gia huyền thoại, ở hạ lưu trước khi phân 2 nhánh, 1 nhánh đổ vào sông yên, một đổ vào sông thu bồn, sông vu gia đã làm ta gợi nhớ đến câu thơ nổi tiếng của nhà thơ Thanh Quế “trước nhà em sông Vu Gia, sau nhà em cũng lại là dòng sông, hay nước sông con đổ vào sông cái – anh trai Thu Bồn em gái Hà Nha – chiều nay hò hẹn đôi ta, mít non gởi xuống, cá chuồn gởi lên. Không khí u hoài của núi rừng có thể sẽ khiến du khách mang một chút băn khoăn nhưng chỉ là một thoáng thôi bởi những đồi thơm đẹp mê hồn đâu đó trên đường xe chạy, những vườn keo thẳng tắp, xanh rì sẽ đưa tâm trí du khách theo tầm mắt.chỉ cách đô thị lớn nhất miền trung hơn 1 giờ xe chay, Nam Giang là vùng đất của những chiến công hiển hách của lịch sử, những địa danh, Thạnh mỹ, Bến Giằng, làng Rô đã làm nên một tên tuổi huyện giằng nổi tiếng trong thi ca.

    Ngược dòng sông Cái lên trung tâm hành chính bến Giằng, nơi 2 con sông Bến Mỹ, Sông Thanh, một trong một đục gặp nhau mà nghe chan chứa tâm sự trong lòng, có truyền thuyết kể rằng, trên đường xuôi Nam, Huyền Trân công chúa đến vùng thượng đạo Quảng Nam. Khi đến một bến sông nước trong vắt, xót cho phận mình, Huyền Trân công chúa nhỏ giọt nước mắt. Kỳ lạ thay, giọt nước mắt ấy lắng xuống đáy sông, kết tinh thành một viên ngọc màu đỏ, mỗi đêm ngọc nổi một lần, chiếu sáng cả dòng sông. Để rồi bến sông, nơi công chúa nhỏ giọt nước mắt ấy được gọi là bến Giằng, nay thuộc huyện vùng cao Nam Giang, huyện giáp giới với tỉnh bạn Lào.

        Quả thật, đến Nam Giang, không chỉ nghe truyền thuyết về Bến Giằng, người ta còn có thể nghe nhiều câu chuyện lý thú và hấp dẫn. Đặc biệt, được tận mắt chiêm ngưỡng vẻ đẹp kỳ thú và hùng vĩ của vùng cao Nam Giang, với khung cảnh hoang sơ, những khu rừng nguyên sinh, trùng trùng điệp điệp những ngọn núi cao chót vót, những vực thẳm sâu hun hút, những vách đá cheo leo, hiểm trở, không kém phần ngoạn mục như bức tranh kỳ vĩ làm say hồn du khách. Xuất phát từ Bến Giằng, theo con đường ngoằn ngoèo, như con rắn trườn dần lên vách núi. Nhiều đoạn vô cùng ngoạn mục: một bên đường dựa vào vách núi, khoét theo vách núi, bên kia là vực sâu thăm thẳm. Núi cao, vực sâu, những khu rừng nhấp nhô khi thì bên trái, khi sang bên phải, với các thảm thực vật đa sắc màu, góp phần tạo nên phong cảnh đẹp lạ lùng và cũng thật hiếm có của mảnh đất Nam Giang. Khi đã thấm mệt với cuộc hành trình, du khách có thể nghỉ lại một Gươi bất kỳ nào đó để thưởng thức Rượu Tà vạt, đây là thứ nước được lấy từ buồng của cây tà vạt, một loại cây có hình thức giống như cây dừa nhưng to hơn, lá dài hơn, rồi hòa cùng ít vỏ cây chuồn, thành một thứ rượu mà khi uống không bao giờ đau đầu.

         Một năm được mùa; cái rẫy lên xanh tốt. Cây bắp trái to như đầu gối. Cây lúa hạt oằn cả thân. Thấm thoắt, hạt lúa ngả sang màu vàng chóe, trái bắp sắp khô vỏ thì có lũ khỉ lén lút vào tuốt lúa, bẻ bắp để ăn. Cụ già giữ rẫy tiếc của, tiếc công sức mình, giận lũ khỉ, kiên trì rình rập ngày đêm. Ở cạnh rẫy, có cây tà vạt. Trước khi vào bẻ bắp, tuốt lúa, lũ khỉ thường đu mình qua buồng tà vạt để vào rẫy. Tức mình, cụ già liền chặt phứt đi nhằm làm cho chúng không thể qua lối này nữa. Khi vừa chặt xong, có những giọt nước từ trong ấy chảy ra. Tò mò, cụ dùng tay hứng rồi nhấm thử. Chất nước ngòn ngọt, mát lạnh khiến cụ cảm thấy khỏe khoắn lạ lùng. Thế là, cụ tìm đốt lồ ô ra hứng cho kỳ hết. Những ngày sau đó, cụ lặn lội tận rừng sâu tìm các loại vỏ cây hòa vào thứ nước ấy. Cuối cùng, lúc thử vỏ cây chuồn, nước sủi bọt, lên men, có mùi vị không khác gì một loại rượu nhẹ. Và, nhờ sự khám phá tình cờ của cụ, rượu tà vạt dần dần được dân bản ưa chuộng và nhanh chóng trở thành thứ nước giải khát phổ biến giữa chốn núi rừng heo hút trong những ngày hè oi bức, nếu khách du lịch thích thổ cẩm thì chỉ cần quá bộ lên làng dệt zơ ra để thấy những người phụ nữ cơ tu đang dệt những chiếc túi, những bao gối, khăn thổ cẩm… trên đường đến làng du lịch Tà Bhing du khách sẽ được trải nghiệm cảm giác trên những chiếc cầu treo đung đưa, hòa mình vào tiếng rì rào của thác nước, rì rào của gió đưa là rừng đạt ngàn trường sơn hùng vĩ.

        Lên non tắm thác, về làng xem… tay”, đó hẳn là sự trải nghiệm thú vị của những ai đã từng  rong ruổi trên đường Hồ Chí Minh huyền thoại, qua bến Giằng và ngược lên thác Grăng, huyện Nam Giang hay tiếp tục lang thang qua các địa danh như làng Rô, đèo Lò Xo cho đến Khâm Đức (Phước Sơn). Mỗi địa danh đi qua ngoài sự trải nghiệm thú vị khi được chiêm ngưỡng phong cảnh núi non hùng vĩ, nhiều tầng thác đẹp như huyền thoại du khách còn được say sưa ngắm nghía bàn tay thoăn thoắt của những phụ nữ Cơtu bên khung dệt, bên những sợi đan lát trong các làng nghề truyền thống.

         Và nếu chỉ muốn khám phá một địa chỉ du lịch có tên Nam Giang, bạn chỉ mất khoảng 30 phút từ Đại Lộc trên quốc lộ 14B là dừng chân ở làng Rô, nơi che chở nuôi nấng cố nhà thơ Tố Hữu cùng nhiều chí sĩ cách mạng trong những lần băng rừng vượt ngục. Rồi dừng chân ở bến Giằng để lắng nghe khúc giao thủy của dòng sông Bung từng một thời là địa điểm gắn với các chiến công oai hùng. Là mạch nguồn của Khu Bảo tồn Thiên nhiên Sông Thanh. Những điều thú vị bỗng chốc ùa đến với bạn khi được tận mắt chiêm nghiệm những điều đã từng biết, đọc qua ở đâu đó hoặc với cảnh núi non hùng vĩ của núi rừng Trường Sơn bắt đầu từ ngã ba sông Bung.

          Từ đây bạn có thể ngược trên quốc lộ 14D như dải lụa mềm vắt lưng chừng núi. Một ngã ba có biển hướng dẫn, rẽ qua rẫy lúa, nương bắp, lúc ngang dọc qua suối là con đường dẫn đến thác Grăng. Đây là đoạn đường để lại dấu ấn nhiều nhất nơi du khách trong hành trình chinh phục “tam thác Grăng” bởi phải qua nhiều đoạn dốc, đường hẹp, ghềnh đá hiểm trở. Nhưng, bạn sẽ không dễ bỏ cuộc khi trên đường vào Grăng đã được kiến tạo sẵn những bộ ván dã chiến bằng thân cây, nhiều chiếc võng rừng bằng rễ cây tự nhiên làm những trạm nghỉ chân tiếp sức cho du khách. Tất cả khó khăn sẽ tan biến khi bạn đang đứng trước thác Grăng tung bọt trắng xóa, bồng bềnh trong cõi âm u Trường Sơn. Đẹp nhất ở Grăng có lẽ là thác 3 với độ cao hơn 30 mét, tung bụi nước mịt mù, xõa trắng trên những vách đá bám rêu.

         Nam Giang không những đẹp mà giá trị hơn nữa chính là việc bảo tồn văn hóa truyền thống cồng chiêng, Du khách hẳn sẽ không khỏi ngỡ ngàng khi tận mắt nhìn thấy những em bé mới chỉ học lớp 5 lớp 6 mà đánh chiêng điêu luyện. Đôi tay mềm mại gõ từng nhịp tấu lên bản nhạc chiêng đón khách khiến ai cũng phải mê mẩn

         Trước kia, người dân ở đây chỉ biểu diễn cồng chiêng những khi có sự kiện đặc biệt nào đó nhưng hiện nay, ngoài những lễ hội đặc biệt của họ, biểu diễn cồng chiêng cho du khách xem là dịp để giao lưu, trao dồi, cố kết cộng đồng ngày thêm bền chặt, trao truyền cho thế hệ kế tiếp, chứ không hề thương mại hóa, làm qua loa chiếu lệ”. Những nghệ nhân của làng chào đón du khách qua bài đầu tiên với âm thanh thật trong trẻo, rộn rã như tiếng suối chảy, tiếng chim hót trong rừng thẳm.Thỉnh thoảng họ lại đồng loạt cất tiếng hú bi hùng, họ đang gọi mời Thần linh về tham dự lễ hội cùng với họ. Sau một lúc ngỡ ngàng lặng đi vì xúc động, nếu thích thú du khách có thể cùng hòa vào vòng xoay theo nhịp cồng, tiếng chiêng, những tiếng cồng chiêng trầm hùng, tiếng đinh tút réo rắt ngân nga đem lại cho người xem nhiều cảm xúc khó tả. Mỗi giai điệu như đưa người xem quay về với những câu chuyện tình yêu lứa đôi, các hoạt động sinh hoạt, sản xuất, săn bắn, chống kẻ thù, thú dữ; những lễ hội mừng lúa mới, mừng làng mới của đồng bào dân tộc sống trên dãy trường sơn hùng vĩ từ bao đời. cùng với sưu tầm truyện cổ, văn hóa ẩm thực cồng chiêng  cũng là nét văn hóa truyền thống mà huyện đang gìn giữ và phát triển.

          Đến  Nam Giang không những được ngắm cảnh thiên nhiên kỳ diệu, ngoạn mục của miền tây đất Quảng, được tận mắt nhìn thấy cột mốc biên giới của Tổ quốc với nhiều cảm xúc dạt dào…, mà còn được thưởng thức hương vị tuyệt vời của rượu tà vạt giữa khung cảnh núi rừng, trên độ cao gần nghìn mét của đại ngàn Trường Sơn.

          Nam Giang không chỉ hùng vĩ mà còn mang vẻ đẹp vừa hoang sơ, vừa lạ lùng, có sức cuốn hút lạ kỳ. Nếu được đầu tư đúng mức, quảng bá bài bản, có chiều sâu, Nam Giang sẽ là địa điểm du lịch sinh thái, du lịch mạo hiểm rất hấp dẫn với du khách gần xa…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chia Sẻ Chuyến Đi Phượt Thác Grăng Ở Nam Giang
  • Du Lịch Khu Du Lịch Sinh Thái Cọ Xanh
  • Tp.hcm Định Hướng Cần Giờ Sẽ Là Thành Phố Du Lịch
  • Du Lịch Nghệ An Công Ty Cổ Phần Hữu Nghị Tại Tp Vinh Nghệ An
  • Công Ty Du Lịch Hương Việt
  • Tuyến Điểm Du Lịch Việt Nam – Khái Quát Các Bài Thuyết Minh Tuyến Điểm

    --- Bài mới hơn ---

  • Giới Thiệu Tổng Quan Về Lào
  • Sầm Sơn Khai Trương Hè 2022
  • 8 Du Thuyền Xa Hoa Nhất Thế Giới
  • Xin Visa Úc Có Cần Phải Đi Khám Sức Khỏe Không ? – Visa Tận Tâm
  • Người Việt Có Thói Quen Du Lịch Ngắn Ngày Nhất Trên Thế Giới, Theo Khảo Sát Về Xu Hướng Du Lịch Toàn Cầu
  • TUYẾN ĐIỂM DU LỊCH VIỆT NAM – KHÁI QUÁT CÁC BÀI THUYẾT MINH TUYẾN ĐIỂM TẠI VIỆT NAM

    Trước hết chúng ta sẽ bắt đầu bằng các định nghĩa khái niệm, ý nghĩa của du lịch.

    Vậy tuyến điểm du lịch là gì?

    Điểm du lịch:

    Điểm du lịch là nơi tập trung một loại tài nguyên về tự nhiên, nhân văn, kinh tế-xã hội hay một công trình riêng biệt phục vụ cho du lịch. Ví dụ như:

    • Điểm du lịch địa đạo Củ Chi – TPHCM
    • Điểm du lịch núi Sam – Thị xã Châu Đốc – tỉnh An Giang
    • Điểm du lịch chùa Hương Tích – Hà Nội (tỉnh Hà Tây cũ)

    Tuyến du lịch :

    Các điểm du lịch được nối với nhau thành tuyến du lịch. Trong từng trƣờng hợp cụ thể các tuyến du lịch có thể là tuyến du lịch nội vùng hay tuyến du lịch liên vùng. Ví dụ như:

    • Tuyến du lịch TPHCM – Đà Lạt – Nha Trang
    • Tuyến du lịchTPHCM – Buôn Ma Thuột – Nha Trang
    • Tuyến du lịch TPHCM – Qui Nhơn – Đà Nẵng – Huế

    Các hình thức tổ chức du lịch

    1. Du lịch dã ngoại:

    Là loại hình du lịch cắm trại ngoài trời, kết hợp những trò chơi để tạo mối thân mật trong đoàn du lịch, thường là những nhóm người trong cùng một lớp học, đoàn thể, cơ quan và thích hợp cho các đối tượng thanh thiếu niên.

    • Du lịch Mũi Né – Hòn Rơm (tỉnh Bình Thuận)
    • Du lịch chinh phục đỉnh núi Lang-Bian (tỉnh Lâm Đồng)

    2. Du lịch sinh thái:

    Là loại hình du lịch để thưởng thức những tài nguyên thiên nhiên (sông, núi, biển, rừng) thích hợp cho mọi đối tượng khách du lịch đặc biệt là khách nước ngoài.

    • Du lịch cù lao An Bình – tỉnh Vĩnh Long
    • Du lịch biển Vũng Tàu
    • Du lịch rừng quốc gia Bạch Mã – Tỉnh Thừa thiên – Huế

    3. Du lịch nghiên cứu:

    Là loại hình du lịch tổ chức cho cá nhân hay một nhóm nghiên cứu, tìm hiểu về các tài nguyên thiên nhiên ( động thực vật học , địa chất ) , các tài nguyên nhân văn ( văn hóa, trang phục của các dân tộc )

    • Du lịch nghiên cứu rừng quốc gia Cúc Phương
    • Du lịch nghiên cứu văn hóa Chăm
    • Du lịch nghiên cứu các dân tộc ở Tây Nguyên

    4. Du lịch tìm hiểu về lịch sử – văn hóa:

    Là loại hình du lịch tìm hiểu những tài nguyên nhân văn thích hợp cho mọi đối tượng khách tham quan đến những đình, đền, chùa, các công trình kiến trúc nghệ thuật, các công trình kỷ niệm những danh nhân và sự kiện lịch sử.

    • Điểm du lịch địa đạo Củ Chi ( TPHCM )
    • Điểm du lịch đình Bình Thủy ( tỉnh Cần Thơ )
    • Điểm du lịch đền Côn Cơn ( tỉnh Hải Dương )
    • Khu lưu niệm cụ Nguyễn Sinh Sắc ( tỉnh Đồng Tháp )

    5. Du lịch vui chơi, giải trí:

    Là loại hình du lịch giúp cho khách tham quan những giây phút được thư giãn về tinh thần sau một thời gian lao động cực nhọc, tăng cường sức khỏe để tiếp tục công việc.

    • Điểm du lịch tắm bùn và nước khoáng Tháp Bà (tỉnh Khánh hoà).
    • Điểm du lịch Suối Tiên (TPHCM).

    Chức năng của du lịch

    Chức năng xã hội :

    Thông qua hoạt động du lịch, khách tham quan có điều kiện tiếp xúc với những thành tựu về lịch sử, văn hóa phong phú, lâu đời của các dân tộc

    Chức năng kinh tế:

    Hoạt động du lịch là “ngành công nghiệp không khói”, nghành công nghiệp mới đem lại nhiều lợi nhuận cho đất nước thông qua các hình thức kinh doanh: khách sạn, nhà hàng, vận chuyển, hàng hóa lưu niệm và thúc đẩy các ngành khác phát triển như: vệ sinh, môi trường, hệ thống giao thông… Hoạt động du lịch còn giải quyết và thu hút một lực lượng lao động đông đảo.

    Chức năng sinh thái :

    Hoạt động du lịch góp phần tạo nên và phục hồi môi trường sống ổn định về mặt sinh thái (nhờ hoạt động du lịch các khu chợ nổi ở đồng bằng sông Cửu Long được phục hồi như chợ nổi Cái Bè- tỉnh Tiền Giang, chợ nổi Cái Răng, chợ nổi Phụng Hiệp, chợ nổi Phong Điền – tỉnh Cần thơ), Tràm chim Tam Nông – tỉnh Đồng Tháp được gìn giữ đã bảo vệ loài Sếu đầu đỏ được liệt kê vào danh sách những động vật quí hiếm có nguy cơ tuyệt chủng.

    Chức năng chính trị:

    Giúp cho khách du lịch nước ngoài hiểu rõ về một đất nước, dân tộc. Hoạt động du lịch là một nhân tố củng cố hoà bình, đẩy mạnh các quan hệ giao lưu quốc tế, mở rộng sự hiểu biết giữa các dân tộc.

    Các khóa học nghiệp vụ ngắn hạn nên tham gia

    Để làm hướng dẫn viên chuyên nghiệp thì bạn phải có thẻ hướng dẫn viên du lịch quốc tế – nội địa. Vì vậy với các bạn học trái ngành mà đam mê làm hướng dẫn viên thì nên học các khóa học sau.

    Trung cấp du lịch và Cao đẳng quản trị du lịch

    ĐĂNG KÝ HỌC NGAY

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Nội Dung Cơ Bản Của Luật Du Lịch Năm 2022 – Công An Tỉnh Quảng Bình
  • Ubnd Huyện Bắc Trà My
  • Khách Sạn Tại Bà Nà Hills
  • Top 10 Khách Sạn Long Hải Vũng Tàu Gần Biển Đẹp, Giá Rẻ Từ 200K
  • Top 20 Resort Khách Sạn Cần Giờ Giá Rẻ Đẹp View Biển Gần Thị Trấn Tốt Nhất
  • Giới Thiệu Khái Quát Về Tỉnh Bắc Giang

    --- Bài mới hơn ---

  • Xây Dựng Và Phát Triển Các Sản Phẩm Du Lịch Tỉnh Bắc Giang
  • Cho Thuê Xe Du Lịch Tại Thạnh Phú Tỉnh Bến Tre, Xe 4
  • Du Lịch Hậu Giang: Tạo Vị Thế Mới
  • Thành Lập Trung Tâm Xúc Tiến Đầu Tư, Thương Mại Và Du Lịch Tỉnh Lai Châu
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Và Tình Nguyện Viên Ở Nepal
  • 1. Vị trí địa lý

    Bắc Giang nằm cách Thủ đô Hà Nội 50 km về phía Bắc, cách cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị 110 km về phía Nam, cách cảng Hải Phòng hơn 100 km về phía Đông. Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Lạng Sơn, phía Tây và Tây Bắc giáp Hà Nội, Thái Nguyên, phía Nam và Đông Nam giáp tỉnh Bắc Ninh, Hải Dương và Quảng Ninh.

    Tỉnh có đặc điểm địa hình của cả miền núi lẫn trung du. Đặc điểm chủ yếu của địa hình miền núi là chia cắt mạnh, phức tạp, chênh lệch về độ cao lớn. Nhiều vùng đất đai còn tốt, đặc biệt ở khu vực còn rừng tự nhiên. Vùng đồi núi thấp có thể trồng được nhiều cây ăn quả, cây công nghiệp như vải thiều, cam, chanh, na, hồng, đậu tương, chè…; chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm, thuỷ sản. Đặc điểm này thể hiện chủ yếu ở các huyện Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam và Yên Thế, chiếm 72% diện tích toàn tỉnh.

    Đặc điểm chủ yếu của địa hình miền trung du là đất gò, đồi xen lẫn đồng bằng rộng, hẹp tuỳ theo từng khu vực. Vùng trung du có khả năng trồng nhiều loại cây lương thực, thực phẩm, cây ăn quả, cây công nghiệp, chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm, cá và nhiều loại thuỷ sản khác. Vùng trung du thể hiện chủ yếu ở các huyện Tân Yên, Hiệp Hoà, Việt Yên, Yên Dũng, Lạng Giang và thị xã Bắc Giang, chiếm 28% diện tích toàn tỉnh.

    Khí hậu được chia làm hai mùa rõ rệt, mùa hè từ tháng 4 đến tháng 10, thịnh hành gió đông nam, mùa đông từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, thịnh hành gió đông bắc. Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 22 – 23°C, độ ẩm dao động từ 73 – 75% vào mùa đông và từ 85 – 87% vào mùa hè. Lượng mưa hàng năm đủ đáp ứng nhu cầu nước cho sản xuất và đời sống. Nắng trung bình hàng năm từ 1.500 – 1.700 giờ, thuận lợi cho phát triển cây trồng nhiệt đới, á nhiệt đới.

    II. Tài nguyên thiên nhiên

    Bắc Giang có 382.200 ha đất tự nhiên; gồm 123 nghìn ha đất nông nghiệp, 110 nghìn ha đất lâm nghiệp, 66,5 nghìn ha đất đô thị, đất chuyên dụng và đất ở, còn lại là các loại đất khác. Nhìn chung, tỉnh Bắc Giang có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản. Quốc lộ 1A mới hoàn thành tạo ra quỹ đất lớn có nhiều lợi thế cho phát triển công nghiệp – dịch vụ. Đất nông nghiệp của tỉnh ngoài thâm canh lúa còn thích hợp để phát triển rau, củ, quả cung cấp cho Thủ đô Hà Nội và các tỉnh lân cận. Tỉnh Bắc Giang đã có kế hoạch chuyển hàng chục nghìn ha trồng lúa sang phát triển cây ăn quả, cây công nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản có giá trị kinh tế cao. Hơn 55 nghìn ha đất đồi núi chưa sử dụng là một tiềm năng lớn cho các doanh nghiệp, nhà đầu tư liên doanh, liên kết trồng rừng, chế biến lâm sản và nuôi trồng thuỷ sản.

    2. Tài nguyên rừng

    Bắc Giang có 110 nghìn ha rừng, trong đó có gần 64 nghìn ha rừng tự nhiên và hơn 46 nghìn ha rừng trồng. Trữ lượng gỗ có khoảng 3,5 triệu m³, tre nứa khoảng gần 500 triệu cây. Ngoài tác dụng tán che, cung cấp gỗ, củi, dược liệu, nguồn sinh thuỷ, rừng Bắc Giang còn có nhiều sông, suối, hồ đập, cây rừng nguyên sinh phong phú tạo cảnh quan môi sinh đẹp và hấp dẫn.

    3. Tài nguyên khoáng sản

    Trên địa bàn tỉnh tuy không có nhiều mỏ khoáng sản lớn nhưng lại có một số là nguồn nguyên liệu quan trọng để phát triển công nghiệp của tỉnh như: mỏ than đá ở Yên Thế, Lục Ngạn, Sơn Động, có trữ lượng hơn 10 triệu tấn; quặng sắt ước khoảng 0,5 triệu tấn ở Yên Thế, gần 100 nghìn tấn quặng đồng ở Lục Ngạn, Sơn Động; 3 triệu tấn cao lanh ở Yên Dũng; 100 m³ sét làm gạch chịu lửa ở Tân Yên, Việt Yên; sỏi, cuội kết ở Hiệp Hoà, Lục Nam.

    III. Tiềm năng kinh tế

    1. Những lĩnh vực kinh tế lợi thế

    Bắc Giang là một tỉnh miền núi nhưng có cả vùng trung du, đồng bằng xen kẽ. Lợi thế kinh tế của tỉnh là nông, lâm nghiệp, thương mại, dịch vụ, công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp. Nông, lâm nghiệp đang có sự chuyển dịch cơ cấu một cách tích cực. Tiến bộ khoa học kỹ thuật không ngừng được ứng dụng, nhất là việc đưa giống mới, phương pháp canh tác mới. Tốc độ tăng tỷ trọng nông sản hàng hoá mỗi năm đều tăng. Những cây trồng có giá trị kinh tế cao đã được phát triển, mở rộng ngày một nhanh hơn. Chăn nuôi theo phương pháp công nghiệp cùng với nuôi trồng thuỷ sản tiếp tục có những bước phát triển rất khả quan. Dịch vụ nông nghiệp không ngừng phát triển đến tận các thôn bản, xóm làng vùng cao, hẻo lánh. Thương mại dịch vụ phát triển nhanh trong nền kinh tế thị trường, nhiều chợ nông thôn đã được khôi phục, mở rộng hoặc nhanh chóng hình thành. Các thị trấn, thị tứ ngày càng sầm uất thêm.

    Công nghiệp là ngành kinh tế có nhiều tiềm năng của tỉnh. Khu công nghiệp Đình Trám rộng hơn 100 ha đã được các nhà đầu tư vào gần kín, ngoài ra còn gần 10 cụm công nghiệp tại các huyện, thị xã đã và đang đi vào hoạt động hoặc đang thiết kế quy hoạch hoàn chỉnh. Từ khi tỉnh có văn bản khuyến khích ưu đãi đầu tư trên địa bàn, sau một năm đã có 114 nhà đầu tư đăng ký với tổng số vốn hơn 1.187 tỷ đồng, trong đó 57 dự án đầu tư đã được chấp thuận. Các làng nghề truyền thống ngày càng được khôi phục và phát triển như: mây tre đan Tăng Tiến, tơ tằm Song Mai, bún Đa Mai, rượu làng Vân, mì Chũ, bánh đa Kế…

    2. Tiềm năng du lịch

    Bắc Giang là tỉnh miền núi nhưng địa lý lãnh thổ không những có nhiều vùng núi cao, mà còn có nhiều vùng đất trung du trải rộng xen kẽ với các vùng đồng bằng phì nhiêu. Rừng nguyên sinh còn khá nhiều, đặc biệt là trên 7.000 ha rừng tại Khe Rỗ (xã An Lạc, huyện Sơn Động), cách thị trấn An Châu hơn 10 km, với hơn 200 loài thực vật, 250 loài dược liệu, 40 loài thú, 70 loài chim, 20 loài bò sát và đặc biệt là 7 loài quý hiếm. Ngoài ra, Bắc Giang còn có rừng nguyên sinh Tây Yên Tử đang được bảo tồn với diện tích tự nhiên gần 15.000 ha gồm nhiều chủng loại cây hỗn giao phong phú, động vật rừng quý hiếm.

    Cùng với rừng núi, tỉnh còn có hệ thống sông, suối xen kẽ nổi tiếng trong vùng như: hồ Cấm Sơn (Lục Ngạn) rộng gần 3.000 ha, các hồ Khuôn Thần, làng Thum, Lòng Thuyền (Lục Ngạn), suối Nứa (Lục Nam), sông Sỏi (Yên Thế)…, mỗi hồ rộng hàng trăm ha với dáng vẻ đặc trưng riêng về sinh thái của mình. Có hồ chứa hoặc đang triển khai xây dựng kết cấu hạ tầng dịch vụ nhưng vẫn thu hút hàng vạn du khách tới thăm. Suối Mỡ (Lục Nam) là một thắng cảnh có di tích văn hoá hấp dẫn, đang tiếp tục xây dựng thêm các cơ sở dịch vụ…

    Ở Bắc Giang còn có vùng trồng vải thiều rộng lớn không chỉ có giá trị kinh tế cao, mà còn hấp dẫn nhiều du khách. Các chủ trang trại đã kết hợp phát triển kinh tế vườn đồi với du lịch sinh thái. Rất nhiều trang trại có chủng loại cây ăn quả phong phú cùng các loại đặc sản hấp dẫn. Tiếng hát quan họ có từ lâu đời ở nhiều huyện vẫn duy trì và phát huy ở Bắc Giang, đặc biệt tiếng hát Soong Hao nổi tiếng của đồng bào các dân tộc thiểu số luôn giữ vai trò chính trong những ngày lễ hội. Hơn 100 di tích lịch sử văn hoá lớn đang được bảo tồn như chùa Vĩnh Nghiêm, đình cổ Lỗ Hạnh, đình Phù Lão và chùa Tiên Lục với cây dạ hương nghìn năm tuổi, thành cổ Xương Giang, thành đất nhà Mạc, đồn Phồn Xương của nghĩa quân Đề Thám, an toàn khu Hoàng Vân… Các lễ hội cổ truyền vẫn được gìn giữ và ngày càng phát huy, mở rộng thêm.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mã Giảm Giá Vietravel Là Gì? Cách Lấy Và Sử Dụng Hiệu Quả!
  • Kinh Nghiệm Thuê Xe Ô Tô Khi Đi Du Lịch Đà Nẵng Tiết Kiệm
  • Kinh Nghiệm Thuê Xe Ô Tô Khi Đi Du Lịch Đà Nẵng Tiết Kiệm Nhất ⋆ Danangtransfer.vn
  • Kinh Nghiệm Đi Du Lịch Tự Túc Tiết Kiệm Tại Đà Nẵng
  • Tổng Hợp 7 Kinh Nghiệm Thuê Xe Du Lịch Tiết Kiệm Và Hiệu Quả Tại Đà Nẵng
  • Một Vài Nét Khái Quát Về Du Lịch Phú Quốc

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Quát Về Biển Của Vn
  • Du Lịch Khám Phá Tại Bình Dương, Nên Đi Những Đâu?
  • Khám Phá Du Lịch Bình Định
  • Cẩm Nang Khám Phá Đảo Ngọc Phú Quốc
  • Khám Phá Du Lịch Hà Giang
  • – Cần chuẩn bị những gì khi đi du lịch Phú Quốc

    – Du lịch Phú Quốc có gì hấp dẫn du khách?

    1. Những nét khái quát về du lịch Phú Quốc

    Nằm trong vùng vịnh Thái Lan, Phú Quốc là một hòn đảo du lịch lớn nhất của Việt Nam thuộc tỉnh Kiên Giang. Từ lâu, Phú Quốc đã trở nên nổi tiếng với khách du lịch khắp mọi miền đất nước và quốc tế.

    Điều này không chỉ vì Phú Quốc là một hòn đảo du lịch xinh đẹp vốn được mệnh danh là thiên đường rực nắng, mà nơi đây còn chứa đựng nhiều điều bí ẩn mà không phải ai cũng có thể khám phá hết được.

    Khái quát về du lịch ở Phú Quốc, du khách có thể trải nghiệm nhiều bãi biển đẹp trải dài từ phiá bắc đến phía nam, có 99 ngọn núi đồi và dãy rừng nguyên sinh với hệ động thực vật phong phú.

    Phía Nam của đảo có 12 hòn đảo nhỏ to khác nhau thuộc quần đảo An Thới, hay ở phía Bắc có hòn Móng Tay, hòn Đồi Mồi, hòn Bần và hòn Thầy Bói, … là điểm du lịch Phú Quốc lý tưởng cho du khách thâm gia các hoạt động du thuyền, câu cá, lặn ngắm san hô, khám phá đảo hoang và dã ngoại, …

    Phú Quốc ngày nay đã thay da đổi thịt và có thể làm ngỡ ngàng với những ai đã từng đến đây những năm cuối thế kỷ trước. Du khách đi tour du lịch Phú Quốc là đến với thiên nhiên hoang sơ và hơn hết là để chinh phục vùng đất tận cùng xa xôi của đất nước.

    Ngành du lịch Phú Quốc đã có sự chuyển biến rõ rệt, hệ thống khách sạn, nhà hàng, điểm vui chơi giải trí, … trên đảo hôm nay đã có thể sẵn sàng đón nhận khách du lịch từ khắp mọi nơi đến Phú Quốc để nghỉ dưỡng hay thỏa chí khám phá đảo xanh…

    2. Thời điểm thích hợp nhất để du lịch Phú Quốc

    Khái quát về du lịch tại Phú Quốc cho biết trong đó thì đẹp nhất vẫn là những ngày từ tháng 10 năm ngoái tới tháng 3 năm sau, tức là mùa khô ở Phú Quốc. Đồng thời đây cũng là mùa cao điểm du lịch.

    Khi tìm hiểu những nét khái quát về chuyến du lịch Phú Quốc, cũng như thời điểm tốt nhất để tới đây du lịch, bạn cũng không thể bỏ lỡ mùa hè từ từ tháng 4 – 9 trong năm. Nếu đi vào thời điểm này bạn sẽ tiết kiệm được kha khá chi phí du lịch tại Phú Quốc.

    Khoảng thời gian trên là mùa du lịch giá rẻ ở Phú Quốc nên lượng khách đổ về đây nghỉ mát cũng sẽ rất động. Đặc biệt là thời gian này cũng là dịp nghỉ hè. Mà các bạn biết rồi đấy, hè thì người ta thường đi du lịch biển mà Phú Quốc lại là một điểm vô cùng hút khách.

    3. Di chuyển tới Phú Quốc

    Để thực hiện hành trình du lịch tới Phú Quốc, việc tìm kiếm thông tin để lựa chọn phương tiện di chuyển tới đây rất quan trọng. Có khá nhiều phương tiện cùng cách thức di chuyển cho bạn lựa chọn như máy bay, tàu siêu tốc, …

    Máy bay

    Lựa chọn đi máy bay tới sân bay Phú Quốc, có rất nhiều hãng hàng không nội địa Việt Nam phục vụ như VietJet Air, Jetstar, Vietnam Airline, … Khái quát du lịch Phú Quốc chia sẻ nếu đi từ Hà Nội, bạn sẽ có mức vé từ 2,5 triệu tùy từng hãng bay, giờ bay và loại ghế ngồi.

    Tàu cao tốc

    Ngoài máy bay, hiện nay Phú Quốc khai thác những tuyến là Rạch Giá – Phú Quốc và chiều ngược lại. Với giá vé là 240.000 VNĐ/trẻ em và 330.000 VNĐ/người lớn. Với người cao tuổi và người khuyết tật thì giá vé sẽ thấp hơn.

    Tuy nhiên, khái quát về du lịch ở Phú Quốc khuyên bạn nên di chuyển bằng xe khách tới Rạch Giá và tiếp đó đi tàu cao tốc.

    Có nhiều hãng xe khách uy tín cho hành trình của bạn như nhà xe Phương Trang, Mai Linh, Kumho, … Giá vé là từ 170.000 VNĐ/người nếu bạn đi từ TP. Hồ Chí Minh. Còn đi từ bến xe miền Tây có các xe Châu Hà, Tuyết Hon, … với giá vé từ 110.000 VNĐ/người.

    4. Chơi gì khi đi du lịch Phú Quốc?

    Tổng quan về du lịch Phú Quốc, nhất định bạn phải tìm hiểu về các địa điểm du lịch, địa điểm vui chơi ở đây rồi phải không?

    Phú Quốc với 3 hướng tham quan chính, mà bất cứ ai khi tới đây cũng nhất định phải khám phá hết là Bắc đảo, Nam đảo và Đông đảo.

    Bắc đảo

    Cùng đừng quên tắm biển Bãi Dài – bãi biển đẹp nhất Phú Quốc với làn nước biển xanh trong, hàng cát trắng muốt và những hàng cây cao xanh rì rào.

    Nam đảo

    Bạn có biết khu vực Nam đảo nổi tiếng với địa điểm du lịch nào gắn với lịch sử Việt Nam không? Theo tổng quan du lịch Phú Quốc thì đó chính là nhà tù Phú Quốc. Nơi ấy đã giam cầm biết bao người yêu nước trong thời kì kháng chiến.

    Tới đây, bạn sẽ được tận mắt chứng kiến những hình ảnh còn sót lại về một thời kì của những con người vì nước ấy. Tìm hiểu khái quát du lịch Phú Quốc tại phần Nam đảo, bạn cũng sẽ không thể bỏ lỡ Suối Tranh.

    Suối Tranh với thác ba tầng đổ xuống những dòng nước mạnh mẽ, mát lạnh. Hay có thể chọn bãi Khem, một nơi thơ mộng với màu xanh êm đềm của biển cả.

    Đông đảo

    Và đến với khái quát du lịch Đông đảo Phú Quốc thì 2 địa danh nổi tiếng nhất là chợ đêm Dinh Cậu và nhà thờ Nam Ninh.

    Tại chợ đêm Dinh Cậu, bạn sẽ tìm thấy những món đồ lưu niệm. Không chỉ vậy, bạn còn được thưởng thức những món ăn ngon đặc trưng của hòn đảo xinh đẹp này. Còn nếu đến với khu làng chài Nam Ninh thì bạn sẽ được trải nghiệm cuộc sống của những người dân làng chài.

    Theo như khái quát về du lịch đảo Phú Quốc thì đây là cơ hội để khám phá các loại cá, ốc, cùng người dân đi câu cá, mực đêm; hay mua được những loại hải sản tươi ngon giá rẻ.

    5. Ăn gì khi du lịch Phú Quốc?

    Khám phá những nét khái quát về du lịch tại “đảo Ngọc”, các món ngon nơi đây cũng là một trong những yếu tố quan trọng góp phần đưa hình tượng địa điểm du lịch Phú Quốc đến với đông đảo du khách hơn.

    Nếu có cơ hội, đừng bỏ lỡ gỏi cá trích, gỏi cá nhống, còi chôm chôm, nhum, ghẹ Hàm Ninh, ốc nhảy lớn, … Và vô số các món ngon hấp dẫn khác nữa chỉ ở Phú Quốc mới mang lại cho bạn hương vị thơm ngon đặc trưng của biển khơi được.

    Chia sẻ với mọi người nếu bạn thấy nội dung hữu ích – Du lịch giá rẻ Onetour

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Quát Phát Triển Du Lịch Việt Nam Giai Đoạn 2010
  • Khái Niệm Xúc Tiến Bán Hàng Và Tầm Quan Trọng Của Công Tác Này
  • Tuyến Điểm Du Lịch Việt Nam
  • Tuyến Điểm Du Lịch Là Gì? Các Nhân Tố Hình Thành Nên Tuyến Điểm Du Lịch
  • Các Khái Niệm Về Du Lịch Sinh Thái
  • Giới Thiệu Khái Quát Huyện Yên Châu

    --- Bài mới hơn ---

  • Hà Giang – Yên Minh –Đồng Văn – Lũng Cú
  • Yên Tử 2 Ngày 1 Đêm
  • Đền Cửa Ông – Chùa Cái Bầu 2 Ngày
  • Công Ty Tnhh Du Lịch Yến Việt
  • Top 10 Điểm Tham Quan Ở Yokohama Bạn Cần Biết
  • Giới thiệu khái quát huyện Yên Châu

    Yên Châu là một huyện miền núi, biên giới của tỉnh Sơn La, nằm trên trục Quốc lộ 6, cách Hà nội 240 km theo hướng tây bắc, cách thị xã Sơn La 64 km về phía đông, là khu vực đệm giữa 2 cao nguyên Nà Sản và Mộc Châu, có toạ độ địa lý: 104010’ – 104040’ kinh độ đông, 210 07’ – 21014’ vĩ độ bắc, phía đông giáp huyện Mộc Châu, phía tây giáp huyện Mai Sơn, phía bắc giáp huyện Bắc Yên, phía nam tiếp giáp với nước CHDCND Lào, có 47 km đường biên giới.

    2. Địa hình: Yên Châu là một huyện miền núi cao, địa hình chia cắt nhiều và chia thành 2 vùng rõ rệt:

    – Vùng lòng chảo Yên Châu và vùng cao biên giới. Vùng lòng chảo có 9/15 xã, xen giữa 2 cao nguyên Mộc Châu và Nà Sản nằm ở độ cao trung bình 400 m so với mặt biển.

    – Vùng cao biên giới có 6/15 xã, nằm ở độ cao từ 900 – 1000m so với mặt nước biển, các xã cách trung tâm huyện từ  30 -70 km.

    3. Khí hậu thời tiết: Huyện thuộc vùng khí hậu nhiệt đới chia thành 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 5- 10, mùa khô hanh từ tháng 11-4 năm sau, mùa khô thường có rét đậm kéo dài nhiệt độ trung bình năm 23 0c, nhiệt độ có ngày cao nhất 40,5 0c, nhiệt độ có ngày thấp nhất 1,7 0c, biên độ chênh lệch ngày đêm khá cao. Độ ẩm trung bình 78,2 %, độ ẩm thấp nhất 38,7 %.

    4. Về gió: Chịu ảnh hưởng của gió bắc và gió đông bắc song không nhiều, gió thổi từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau. Vùng quốc lộ 6 bị ảnh hưởng của gió tây (gió Lào) khô và nóng, gió thường thổi từ tháng 3 đến tháng 5.

    5Tài nguyên đất: Gồm nhiều loại đất Ferlit phát triển trên các loại đá nên phụ thuộc nhiều vào tính chất của đá mẹ, do nguồn gốc hình thành chia ra làm 3 loại chính: Đất núi, đất nhiệt đới ẩm, đất ruộng.

    6. Tài nguyên nước:

    – Vùng quốc lộ 6 có 2 hệ thống suối chính: Hệ thống suối Sặp và hệ thống suối Vạt. Hệ thống suối Sặp bắt nguồn chảy từ Mộc Châu và các nhánh khác nhập về như: Huổi Tô Buông, Huổi Nà Ngà, Suối Phà… và hợp với suốt Vạt ở xã Sặp Vạt. trữ lượng nước nhiều nhưng giá trị sử dựng của suối này còn thấp, chưa đựơc khai thác tốt chủ yếu là phục vụ cho sinh hoạt. Hệ thống suối Vạt bắt nguồn từ dãy Khau cạn thuộc xã Chiềng Đông và các nhóm suối khác như: Huổi Hịt, Huổi Lưu, Huổi Tủm… nhập vào chữ lượng nước không nhiều nhưng nó là nguồn nước chủ yếu phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của vùng.

    – Vùng cao biên giới có hệ thống suối Nậm Pàn chảy theo hướng Tây bắc đổ ra sông Đà (huyện Mai Sơn), suối này chỉ phục vụ một phần ít cho xã Chiềng On, Yên Sơn, Phiêng Khoài và tập trung chủ yếu cho công trình thủy lợi Chờ Lồng.

    Lịch sử hình thành và phát triển huyện Yên Châu

    Yên Châu là một huyện miền núi biên giới của tỉnh Sơn La, là vùng đất có truyền thống lâu đời gắn liền với lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc. Trải qua các thời kì lịch sử, nhân dân các dân tộc Yên Châu luôn có truyền thống đoàn kết, cần cù, sáng tạo trong lao động, giàu tình yêu quê hương, đất nước. Đặc biệt, từ khi có ánh sáng cách mạng của Đảng, nhân dân các dân tộc Yên Châu đã một lòng, một dạ theo Đảng Cộng sản Việt Nam, theo cách mạng, lập được nhiều thành tích rất đáng tự hào.

    Như các địa phương khác trong tỉnh Sơn La, Yên Châu ngày nay đã trải qua nhiều lần thay đổi địa giới và tên gọi. Qua các di chỉ khảo cổ ở bản Phố, Thẳm Puốc (Tạ Khoa), Cum Đồn, Hang Chướng, Hang Tống, Thọc Kim (Chiềng Sại – Bắc Yên ngày nay) với các hiện vật có trước văn hoá Hoà Bình cho thấy, Yên Châu là một vùng đất có người cư trú từ lâu đời. Vào những năm thuộc thiên niên kỉ thứ nhất, ở vùng Tây Bắc đã có người Thái đến cư trú. Là mảnh đất nằm giữa những mường lớn của người Thái như Mường Sang (Mộc Châu), Mường Mụa (Mai Sơn), Yên Châu cũng nằm trong phạm vi cư trú đó hay Mường Vạt, tức là mường có người đàn ông mặc áo xẻ nách, có miếng vải viền bên trong gọi là Vạt theo tiếng Thái nên gọi là Mường Vạt (vạt áo), nên Mường Vạt còn có tên gọi là Chiềng Khoóng. Ngoài ra, Mường Vạt còn có cách giải thích nữa: Theo cuốn Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam của Cầm Trọng, người Thái Yên Châu ngày xưa theo Đạo Phật. Phật tiếng Thái gọi là Vạt. Người Thái ở Yên Châu người ta gọi là Thay Vạt (hoặc Mang Việt). Trần Minh Tông sau khi đánh Ngưu Hống đã đóng quân ở đây và gọi là phủ Thái Bình.

    Yên Châu lúc đó có 13 xã: Chiềng Đông (Chiềng Đông khi đó bao gồm cả Mường Khoa, Tạ Khoa ngày nay), Chiềng Sàng, Chiềng Pằn, Viêng Lán, Chiềng An (Sặp Vạt), Chiềng Hặc, Chiềng Xôm (Mường Lựm), Chiềng Sại, Chiềng Sinh (Phiêng Côn), Tạ Khoa, Chiềng On, Chiềng Chung (Phiêng Khoài) và Chiềng Khoi.

    Ngày 16-01-1979, Hội đồng Chính phủ (nay là Chính phủ) ban hành Quyết định số 18-CP, phân vạch hành chính một số xã của huyện Yên Châu, chia xã Tạ Khoa thuộc Yên Châu thành hai xã: Mường Khoa và Tạ Khoa.

    Ngày 16-5-1998, Chính phủ ban hành Nghị định số 31/1998/NĐ-CP về việc thành lập một số xã, phường thuộc thị xã Sơn La và các huyện Yên Châu, Mộc Châu, Mai Sơn, tỉnh Sơn La, trong đó có thành lập xã Yên Sơn– Tư liệu về Lịch sử xã hội dân tộc Thái, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997, tr 29.

    – Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997, tr 320.

     – Thay: theo tiếng Thái, nghĩa là người. Thay Vạt, nghĩa là người Mường Vạt.

    – Nguyễn Trãi: Toàn tập, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976, tr 603.

    – Xã Mường Khoa gồm các bản: Chẹn, Mường Khoa, Kép Bồ, Sông Pét, Pa Vé, Môn Khọc, Cáy Khe, Nóng Ỏ A, Phố, Phúc Pót, Huổi Thôn và Huổi Hế. Xã Tạ Khoa gồm các bản: Tà Đò, Hua Nhàn, Tân Tiến, Nhàn Nọc, Nóng Ỏ B, Sặp Việt và Khúm Khia.

    – Thành lập xã Yên Sơn trực thuộc huyện Yên Châu, trên cơ sở 4.596,2 ha diện tích tự nhiên và 3.308 nhân khẩu của xã Chiềng On.

    Điểm thăm quan du lịch trên địa bàn huyện Yên Châu

    I. Tổng hợp chung:

    Tổng số toàn huyện có: 05 di tích lịch sử và 04 danh lam thắng cảnh. 

    Trong đó:

    – Cấp quốc gia: 01 di tích (Khu di tích lịch sử Cách mạng Việt Nam – Lào), 01 danh lam (danh lam thắng cảnh Hồ Chiềng Khoi).

    – Cấp tỉnh: 04 di tích lịch sử (di tích lịch sử Cầu Tà Vài, di tích lịch sử Tượng đài chiến thắng Chiềng Đông, di tích lịch sử Bác Hồ nói chuyện với nhân dân các dân tộc huyện Yên Châu, di tích lịch sử Cầu Sắt Yên Châu) và 03 danh lam thắng cảnh (danh lam thắng cảnh Hang Chi Đảy, danh lam thắng cảnh Hang Nhả Nhung, danh lam thắng cảnh Hang Ta Búng).

    I. Tên gọi; địa điểm; ngày, nơi Quyết định công nhận:

    1- Danh lam thắng cảnh Hồ Chiềng Khoi (Bản Pút, xã Chiềng Khoi, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La). (Quyết định xếp hạng Danh lam thắng cảnh cấp quốc gia số 53/2001/QĐ-BVHTT, ngày 28/12/2001 của Bộ trưởng Bộ VHTT)

    2- Khu di tích lịch sử Cách mạng Việt Nam – Lào (Xã Phiêng Khoài, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La). (Quyết định xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc gia số 1240/QĐ-BVHTTDL, ngày 03/4/2012 của Bộ trưởng Bộ VH, TT&DL)

    3- Di tích lịch sử Cầu Tà Vài: (Quyết định xếp hạng Di tích lịch sử cấp tỉnh, số 174/2004/QĐ-UB, ngày 13/12/2004 của Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La)

    4- Di tích lịch sử Tượng đài chiến thắng Chiềng Đông (Bản Luông Mé, xã Chiềng Đông). (Quyết định xếp hạng Di tích lịch sử cấp tỉnh, số 174/2004/QĐ-UB, ngày 13/12/2004 của Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La)

    5- Di tích lịch sử Bác Hồ nói chuyện với nhân dân các dân tộc huyện Yên Châu (Tiểu khu 5 thị trấn Yên Châu, huyện Châu, tỉnh Sơn La). (Quyết định xếp hạng Di tích lịch sử cấp tỉnh số 174/2004/QĐ-UB, ngày 13/12/2004 của Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La)

    6- Di tích lịch sử Cầu sắt Yên Châu (Bản Hin Nam, xã Sặp Vạt, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La). (Quyết định xếp hạng Di tích lịch sử cấp tỉnh, số 1214/QĐ-UB, ngày 28/4/2006 của Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La)

    7- Danh lam thắng cảnh Hang Chi Đảy (Bản Đán, xã Yên Sơn, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La). (Quyết định xếp hạng Danh lam cấp tỉnh số 2234/QĐ-UBND, ngày 15/9/2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La)

    8- Danh lam thắng cảnh Hang Nhả Nhung (Bản Trạm Hốc, xã Chiềng On, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La). (Quyết định xếp hạng Danh lam cấp tỉnh số 2636/QĐ-UBND, ngày 11/11/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La).

    9- Danh lam thắng cảnh Hang Ta Búng (Bản Trạm Hốc, xã Chiềng On, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La). (Quyết định xếp hạng Danh lam cấp tỉnh số 2636/QĐ-UBND, ngày 11/11/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Family Resort Ba Vì: Giá Phòng, Voucher, Kinh Nghiệm 2022
  • Du Lịch Family Resort Yên Bài Hướng Dẫn Kinh Nghiệm A
  • Tour Mù Cang Chải 3N2Đ: Đèo Khau Phạ – Tú Lệ – Trạm Tấu Chỉ 2.300.000 Đồng/khách
  • Family Resort, Khu Nghỉ Dưỡng Family Yên Bài, Familyresort, Trang Trai Dong Que Family Resort
  • Cùng Nhau Khám Phá Du Lịch Yangon Myanmar Đầy Hấp Dẫn
  • Tổng Quan Khái Quát Về Du Lịch Của Tỉnh Quảng Ninh

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Quan Du Lịch Vùng Tây Bắc Và Các Tour Giá Rẻ
  • Tổng Quan Du Lịch Thái Lan
  • Giới Thiệu Tổng Quan Về Thừa Thiên
  • Tổng Quan Tìm Hiểu Về Singapore Đất Nước Và Du Lịch 2022
  • Tổng Quan Du Lịch Thừa Thiên Huế
  • Tổng Quan Khái Quát Về Du Lịch Của Tỉnh Quảng Ninh

    Chi tiết
    Được đăng: Thứ hai, 21 Tháng 10 2022 15:44
    Viết bởi Admin3
    Lượt xem: 843

    Quảng Ninh là một trong 25 tỉnh, thành phố có biên giới, tuy nhiên lại là tỉnh duy nhất có đường biên giới trên bộ và trên biển với Trung Quốc, với đường biên giới trên bộ dài 118,825 km và đường phân định Vịnh Bắc Bộ trên biển dài trên 191 km. Mặc khác, Quảng Ninh là một trong 28 tỉnh, thành có biển, với đường bờ biển dài 250 km.

    Quảng Ninh là tỉnh ven biển thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam. Du lịch Quảng Ninh được ví như một Việt Nam thu nhỏ, vì có cả biển, đảo, đồng bằng, trung du, đồi núi, biên giới.

    Quảng Ninh một địa danh giàu tiềm năng du lịch vậy nên du lịch Quảng Ninh vô cùng phát triển và ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn nữa.

    Các điểm du lịch Quảng Ninh

    Nói đến du lịch Quảng Ninh thì người ta nghĩ ngay đến danh thắng nổi tiếng nhất là Vịnh Hạ Long đã được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới và di sản thế giới. Hạ Long với vịnh nước trong xanh in bóng những núi đá vôi nhiều hình dáng, những động thạch nhũ tuyệt đẹp, bãi tắm hoang sơ luôn có sức hút đối với mọi du khách trong và ngoài nước

    Vịnh Bái Tử Long: Nằm liền với vịnh Hạ Long ở phía bắc với nhiều đảo đá trải dài ven biển. Một vẻ đẹp hoang sơ cùng với các bãi tắm tại các đảo như Quan Lạn, Minh Châu, Ngọc Vừng…(Vân Đồn). Phục vụ các du khách thích khám phá tận hưởng vẻ đẹp nguyên sơ của thiên nhiên.

    Hàng chục bãi tắm bãi tắm đẹp hiện đại như Trà Cổ (Móng Cái), Bãi Cháy, đảo Tuần Châu được cải tạo, nâng cấp với nhiều loại hình dịch vụ phục vụ đa dạng các nhu cầu của du khách.

    Đảo Cô Tô (phía đông bắc Quảng Ninh) một điểm du lịch Quảng Ninh hấp dẫn với nhiều bãi tắm đẹp như Hồng Vàn, Bắc Vàn, Vàn Chảy, đảo Cô Tô Con. Được đánh giá là những bãi biển đẹp nhất tại phía bắc.

    Di tích bãi cọc Bạch Đằng: Nằm trong cụm di tích chiến thắng Bạch Đằng của du lịch Quảng Ninh. Bãi cọc Bạch Ðằng nằm trong khu đầm nước của xã Yên Giang giáp đê sông Chanh thuộc xã Yên Giang, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh. Ðã được Bộ Văn hoá Thông tin cấp bằng công nhận là di tích lịch sử (số191 VH/QÐ ngày 22 tháng 3 năm 1988) nhân kỷ niệm 700 năm chiến thắng Bạch Ðằng. Bãi cọc Bạch Ðằng tồn tại cùng thời gian là nhân chứng trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta. Nơi ghi dấu thiên tài quân sự của anh hùng dân tộc Trần Quốc Tuấn ở thế kỷ XIII. Vào thế kỷ XIII, sau 2 lần tiến quân xâm lược Việt Nam bị thất bại thảm hại (1258, 1285) năm 1288 quân Nguyên Mông quyết tâm xâm lược nước ta một lần nữa với 30 vạn quân do Thoát Hoan chỉ huy và 70 vạn hộc lương do Trương Văn Hổ chỉ huy tiến vào Thăng Long bằng đuờng bộ và đường thuỷ.

    Đền Trần Hưng Đạo : Đền Trần Hưng Đạo toạ lạc trên đôi đất bên bờ sông Bạch Đằng thuộc địa phận xã Yên Giang, huyện Yên Hưng, Quảng Ninh. Đền được Bộ Văn hoá Thông tin cấp bằng công nhận là di tích lịch sử cùng với miếu Vua Bà (số 100 VH/QĐ ngày 21/ 1/ 1990) bổ sung cho di tích Bãi cọc Bạch Đằng.

    Đền Trần Hưng Đạo trước đây được xây dựng ở khu hậu đồng, cách đền ngày nay gần 1.000 m về hướng đông, năm 1936 mới chuyển về cạnh miếu Vua Bà ở vị trí hiện nay. Đền được xây dựng ngay trên mảnh đất diễn ra trận đại thắng Bạch Đằng năm 1288 mà những cọc gỗ dưới đầm Yên Giang là một minh chứng. Đền kiến trúc theo kiểu chữ “đinh” , gồm ba gian tiền đường, hai gian bái đường và một gian hậu cung. Hiện vật quý còn giữ lại trong đền là một số câu đối ca ngợi công lao to lớn của Trần Hưng Đạo đối với giang sơn đất Việt, một bộ kiệu bát cống được chạm trổ, điêu khắc tỉ mỉ và bốn đạo sắc của các vua triều Nguyễn phong cho các chủ nhân đền Trần Hưng Đạo. Lễ hội đền Trần Hưng Đạo – Miếu Vua Bà diễn ra vào ngày 8 tháng 3 âm lịch hàng năm.

    Thời tiết và khí hậu ở Quảng Ninh

    Khí hậu Quảng Ninh tiêu biểu cho khí hậu các tỉnh miền Bắc Việt Nam vừa có nét riêng của một tỉnh miền núi ven biển. Các quần đảo ở huyện Cô Tô và Vân Đồn … có đặc trưng của khí hậu đại dương.

    Quảng Ninh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới có một mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều; một mùa đông lạnh, ít mưa và tính nhiệt đới nóng ẩm là bao trùm nhất.

    Do nằm trong vành đai nhiệt đới nên hàng năm có hai lần mặt trời qua thiên đỉnh, tiềm năng về bức xạ và nhiệt độ rất phong phú.

    Ảnh hưởng bởi hoàn lưu gió mùa Đông Nam Á nên khí hậu bị phân hoá thành hai mùa: mùa hạ nóng ẩm với mùa mưa, mùa đông lạnh với mùa khô.

    Về nhiệt độ: được xác định có mùa đông lạnh, nhiệt độ không khí trung bình ổn định dưới 20oC. Mùa nóng có nhiệt độ trung bình ổn định trên 25oC.

    Về mưa: theo quy ước chung, thời kỳ có lượng mưa ổn định trên 100 mm là mùa mưa; còn mùa khô là mùa có lượng mưa tháng ổn định dưới 100 mm.

    Theo số liệu quan trắc, mùa lạnh ở Quảng Ninh bắt đầu từ hạ tuần tháng 11 và kết thúc vào cuối tháng 3 năm sau, mùa nóng bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào đầu tháng 10.

    Mùa ít mưa bắt đầu từ tháng 11 cho đến tháng 4 năm sau, mùa mưa nhiều bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào đầu tháng 10.

    Giữa hai mùa lạnh và mùa nóng, hai mùa khô và mùa mưa là hai thời kỳ chuyển tiếp khí hậu, mỗi thời kỳ khoảng một tháng (tháng 4 và tháng 10).

    Xem Thêm : Tổng quan về du lịch Phú Quốc và các tour giá rẻ , Tổng qu an về du lịch Nha Trang và các tour giá rẻ Sự chênh lệch về nhiệt độ trung bình của tháng tiêu biểu cho mùa đông (tháng 1) thấp hơn nhiệt độ trung bình của tháng tiêu biểu cho mùa hạ (tháng 7) là 120C và thấp hơn nhiệt độ trung bình của tháng 1 theo tiêu chuẩn nhiệt độ cùng vĩ tuyến là 5,10C

    Với quyết tâm đưa du lịch Quảng Ninh phát triển lên một tầm cao mới, định hướng đến năm 2022 của tỉnh Quảng Ninh là cơ cấu kinh tế dịch vụ – công nghiệp – nông nghiệp, toàn tỉnh Quảng Ninh đang tiếp tục đẩy mạnh nhiều giải pháp để thúc đẩy phát triển du lịch toàn diện. Cùng với việc triển khai thực hiện Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Quảng Ninh đến năm 2022, tầm nhìn 2030, Quảng Ninh đã và đang khai thác, phát huy tối đa lợi thế về du lịch để xây dựng Quảng Ninh trở thành trung tâm du lịch quốc tế của cả nước.

    Phấn đấu đến năm 2022, Quảng Ninh đón 8 triệu lượt khách, trong đó khách quốc tế 3 triệu lượt, tổng doanh thu đạt 8.000 tỷ đồng. Năm 2022, tổng số khách du lịch đến Quảng Ninh sẽ đạt 10,5 triệu lượt, trong đó khách quốc tế 4 triệu lượt, tổng doanh thu đạt 30.000 tỷ đồng

    Qúy khách đặt tour vui lòng liên hệ:

    Hotline/Zalo: 0964.346.255 hoặc 0988.999.525

    Tại Hà Nội: Phòng 2817, Chung cư số 349 Vũ Tông Phan , Thanh Xuân , Hà Nội (vui lòng liên hệ trước khi đến)

    Website: chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Quan Du Lịch Quảng Ninh
  • Tài Nguyên Du Lịch Quảng Bình
  • Tổng Quan Du Lịch Phú Quốc
  • Giới Thiệu Chung Về Nhật Bản: Tổng Quan Đất Nước, Văn Hóa & Con Người
  • Giới Thiệu Tổng Quan Về Nhật Bản
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100