Mục Tiêu Phát Triển Du Lịch Việt Nam Năm 2022 ‘liên Kết, Hành Động Và Phát Triển’

--- Bài mới hơn ---

  • Phát Triển Bền Vững Là Mục Tiêu Của Ngành Du Lịch
  • Điều Gì Khiến Du Khách Đi Tour Du Lịch Cù Lao Chàm Giá Rẻ Muốn Quay Lại
  • Muốn Đi Du Lịch Đài Loan? Đừng Bỏ Qua Các Homestay Giá Rẻ Mà Cực Chất
  • 10 Lý Do Khiến Bạn Muốn Đi Du Lịch Đài Loan Phần 2
  • Top Những Thứ Cần Chuẩn Bị Trước Chuyến Đi Du Lịch Đài Loan
  • Thứ trưởng Bộ VHTTDL Nguyễn Văn Hùng chỉ đạo phát triển du lịch Việt Nam năm 2022 với phương châm “Liên kết, hành động và phát triển” cùng 5 nhiệm vụ trọng tâm.

    Sáng ngày 29/12 tại Hà Nội đã diễn ra thành công tốt đẹp Hội nghị tổng kết công tác năm 2022 và triển khai nhiệm vụ năm 2022 của Tổng cục Du lịch. Hội nghị được tổ chức trong bối cảnh ngành du lịch đang nỗ lực vượt qua khó khăn do Covid-19, triển khai mạnh mẽ chương trình kích cầu du lịch nội địa để phục hồi hoạt động.

    Sự kiện có sự tham dự của các đồng chí Lãnh đạo Tổng cục Du lịch, lãnh đạo các Tổng cục, Cục, Vụ, đơn vị thuộc Bộ VHTTDL; cùng toàn thể cán bộ, công chức, viên chức và người lao động Tổng cục Du lịch.

    Phát biểu tại hội nghị, Tổng cục trưởng Nguyễn Trùng Khánh cho biết trước ảnh hưởng của dịch Covid-19, ngành du lịch thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng thiệt hại nặng nề. Năm 2022, khách quốc tế đến Việt Nam chỉ đạt khoảng 3,7 triệu lượt, giảm 79,5% so với 2022; khách nội địa đạt 56 triệu lượt, giảm 34,1%; tổng thu du lịch đạt 312 nghìn tỷ đồng, giảm 58,7% – mức giảm tương đương 19 tỷ USD.

    Chương trình kích cầu nhận được sự hưởng ứng rất tích cực của các địa phương, doanh nghiệp, thu hút khách tăng trở lại, qua đó giảm thiểu thiệt hại cho ngành du lịch.

    Dịch Covid-19 còn tiếp tục diễn biến phức tạp trên thế giới, đặt ra nhiều thách thức cho du lịch trên con đường phục hồi. Tổ chức Du lịch thế giới dự báo du lịch quốc tế chỉ có thể bắt đầu phục hồi từ quý 3 năm 2022.

    Tại hội nghị, các đại biểu đã đóng góp nhiều ý kiến tham luận về các giải pháp phục hồi du lịch trong thời gian tới. Trong đó tập trung vào định hướng công tác xúc tiến quảng bá du lịch, triển khai hoạt động du lịch an toàn, tiếp tục đề xuất chính sách tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và người lao động trong ngành, giải pháp quản lý một số loại hình cơ sở lưu trú du lịch mới, quy hoạch hệ thống du lịch Việt Nam trong thời kỳ mới…

    Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, Thứ trưởng Bộ VHTTDL Nguyễn Văn Hùng biểu dương và đánh giá cao những nỗ lực của ngành du lịch nhằm vượt qua khó khăn, phục hồi hoạt động trong năm 2022.

    Về phương hướng nhiệm vụ năm 2022, Thứ trưởng nhấn mạnh đây là năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2022-2025 của đất nước, ngành du lịch cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, thể hiện khát vọng phát triển trong thời kỳ mới.

    Thứ trưởng yêu cầu, năm 2022 với phương châm “Liên kết, hành động và phát triển” Tổng cục Du lịch cùng ngành du lịch cần tập trung vào các nhiệm vụ trọng tâm gồm có:

    Một là, tăng cường liên kết trong ngành du lịch để phát triển các sản phẩm du lịch, triển khai hiệu quả các chương trình liên kết phát triển du lịch.

    Hai là, tập trung vào công tác xây dựng thể chế, rà soát đề xuất sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật về du lịch phù hợp với tình hình thực tiễn và yêu cầu phát triển trong tình hình mới.

    Ba là, nghiên cứu định vị lại các thị trường du lịch quốc tế, chú trọng phát triển theo chiều sâu, nâng cao chất lượng khách, định hướng và xây dựng sản phẩm phù hợp với thị trường khách.

    Bốn là, tập trung tiếp tục triển khai hiệu quả chương trình kích cầu du lịch, phát triển mạnh thị trường du lịch nội địa.

    Năm là, tiếp tục thúc đẩy quá trình chuyển đổi số, trong đó tập trung vào phát triển hệ thống cơ sở dữ liệu số ngành du lịch, bản đồ du lịch…

    Sáu là, quan tâm phát triển đội ngũ nhân lực du lịch chất lượng cao ở cả cơ quan quản lý nhà nước và định hướng cho các địa phương, doanh nghiệp nhằm chuẩn bị tốt cho quá trình phục hồi và phát triển trong thời gian tới.

    Theo Tổng cục Du lịch

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mục Tiêu Của Ngành Du Lịch Việt Nam 10 Năm Tới
  • Bảo Hiểm Du Lịch Trong Nước Nhằm Đảm Bảo Cho Những Rủi Ro
  • Chi Phí Mua Bảo Hiểm Du Lịch Trong Nước Bao Nhiêu Tiền?
  • 9 Loại Bảo Hiểm Du Lịch Trong Nước Uy Tín Chất Lượng Mức Phí Phù Hợp
  • Thuật Ngữ Tiếng Anh Chuyên Ngành Du Lịch Thông Dụng, Cần Thiết
  • Phát Triển Bền Vững Là Mục Tiêu Của Ngành Du Lịch

    --- Bài mới hơn ---

  • Điều Gì Khiến Du Khách Đi Tour Du Lịch Cù Lao Chàm Giá Rẻ Muốn Quay Lại
  • Muốn Đi Du Lịch Đài Loan? Đừng Bỏ Qua Các Homestay Giá Rẻ Mà Cực Chất
  • 10 Lý Do Khiến Bạn Muốn Đi Du Lịch Đài Loan Phần 2
  • Top Những Thứ Cần Chuẩn Bị Trước Chuyến Đi Du Lịch Đài Loan
  • Những Lý Do Tuyệt Vời Khiến Bạn Muốn Đi Đài Loan Ngay Lập Tức
  • Tập trung cải thiện cơ bản điểm yếu về hạ tầng dịch vụ, nâng cao nhóm chỉ số mức độ ưu tiên cho ngành du lịch như mức độ chi tiêu của Chính phủ cho ngành du lịch, mức độ kịp thời của thông tin về du lịch… Ông Nguyễn Trùng Khánh – Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch nói về giải pháp để ngành du lịch Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh. Nhìn lại thời gian qua, ngành du lịch Việt Nam được cho là có những bước phát triển vượt bậc. Ông đánh giá như thế nào về tình hình phát triển du lịch trong thời gian qua?

    Trong những năm qua, du lịch Việt Nam liên tục đạt được những thành tựu quan trọng và là một trong những điểm sáng về kinh tế – xã hội của đất nước.

    Năm 2022, du lịch Việt Nam đã đón 15,5 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ 80 triệu lượt khách nội địa, tổng thu từ khách du lịch ước đạt 637.000 tỷ đồng, đóng góp trực tiếp của ngành du lịch ước đạt 8,39% GDP của cả nước. Trong 8 tháng đầu năm 2022, du lịch Việt Nam đã đón 11.309.232 lượt khách, tăng 8,7% so với cùng kỳ năm 2022 và tổng thu từ khách du lịch đạt 442.200 tỷ đồng, tăng 9,6% so với cùng kỳ năm 2022.

    Cùng với đó, ngành du lịch đã nhận được sự quan tâm của toàn xã hội khi thu hút nhiều nguồn lực đầu tư phát triển làm thay đổi cơ bản diện mạo ở nhiều địa phương… Những thành tựu của du lịch Việt Nam đã được các cơ quan, tổ chức uy tín quốc tế ghi nhận, trong đó nổi bật là “Giải thưởng Điểm đến hàng đầu châu Á” do Tổ chức giải thưởng Du lịch thế giới bình chọn.

    Hiệp hội Du lịch Mỹ bình chọn Việt Nam nằm trong danh sách 10 điểm đến mới nổi và 10 điểm đến hấp dẫn nhất thế giới. Tạp chí Forbes bình chọn là 1 trong 14 điểm đến của năm 2022…

    Tuy có sự tiến bộ vượt bậc nhưng thực tế năng lực cạnh tranh của ngành du lịch Việt so với thế giới và ngay trong khu vực ASEAN là chưa cao. Theo ông, chúng ta cần làm gì để nâng cao hơn nữa vị thế của du lịch Việt?

    Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) (ngày 4/9/2019) đã công bố Báo cáo năng lực cạnh tranh du lịch 2022 cơ bản của 140 nền kinh tế dựa trên các số liệu về kết quả hoạt động năm 2022-2018.

    Theo báo cáo, Việt Nam xếp hạng 63/140 nền kinh tế. Nếu so sánh trong Đông Nam Á, Việt Nam đứng thứ 5, còn trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương Việt Nam đứng thứ 13/22. Đây là kết quả đáng khích lệ trong bối cảnh các nước trong khu vực cải thiện hạn chế, thậm chí giảm về thứ hạng.

    Để nâng cao năng lực cạnh tranh của du lịch Việt Nam, cần tập trung triển khai các giải pháp như: tập trung cải thiện cơ bản điểm yếu về hạ tầng dịch vụ; nâng cao nhóm chỉ số mức độ ưu tiên cho ngành du lịch; nâng cao nhóm chỉ số quan trọng về mức độ mở cửa quốc tế và hạ tầng hàng không, cải thiện năng lực vận chuyển hàng không quốc tế và nội địa; cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao chất lượng nhân lực và mức độ sẵn sàng về công nghệ thông tin để thúc đẩy các hoạt động du lịch.

    Còn về nguồn nhân lực của ngành du dịch, xin ông cho biết quan điểm về thực trạng, phương hướng khắc phục những hạn chế, cũng như phát huy thế mạnh của nguồn nhân lực?

    Vấn đề phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt nhân lực có chất lượng cao đang là thách thức đối với du lịch Việt Nam trước yêu cầu của tình hình mới. Hiện nay, theo thống kê sơ bộ, ngành du lịch có khoảng 2,5 triệu lao động, trong đó có khoảng 800.000 lao động trực tiếp.

    Theo dự báo, năm 2022 ngành du lịch cần khoảng 1 triệu lao động trực tiếp, năm 2025 cần khoảng 1,6 triệu và năm 2030 cần khoảng 2,25 triệu lao động trực tiếp. Như vậy, trong giai đoạn tới mỗi năm ngành du lịch cần bổ sung khoảng 100 ngàn lao động được đào tạo.

    Tuy nhiên, vấn đề của ngành du lịch hiện nay là thiếu nhân lực có trình độ chuyên môn cao đặc biệt là quản trị cấp cao trong doanh nghiệp du lịch. Trình độ ngoại ngữ của lao động ngành du lịch còn hạn chế, thiếu lao động cục bộ trong mùa cao điểm ở một số trung tâm du lịch…

    Do đó, trong thời gian tới phải củng cố, phát triển mạng lưới các cơ sở đào tạo, đặc biệt là ngoại ngữ; đẩy mạnh đào tạo tại chỗ trong các doanh nghiệp, đào tạo trực tuyến…; huy động nguồn lực xã hội trong việc bồi dưỡng, đào tạo nguồn nhân lực; đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng tiếp cận năng lực, tăng cường kỹ năng và sử dụng bộ tiêu chuẩn nghề ASEAN trong đào tạo du lịch.

    Có ý kiến cho rằng, “Phát triển du lịch phải trong tầm kiểm soát, tránh tình trạng ‘tăng trưởng nóng’ hay ‘đánh đổi môi trường’,” ông có nhận định như thế nào về ý kiến này?

    Phát triển bền vững là một trong những mục tiêu được đặt ra trong “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050” mà ngành du lịch đang trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

    Theo đó, ngành du lịch phải triển khai có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp đã được đưa ra trong Nghị quyết 08 về phát triển du lịch; đẩy mạnh công tác xúc tiến quảng bá du lịch mở rộng thị trường, đa dạng hóa sản phẩm du lịch; triển khai các chính sách về khuyến khích phát triển các sản phẩm du lịch thân thiện môi trường; tăng cường phối hợp với các ngành và liên kết giữa các địa phương để phát triển du lịch bền vững…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mục Tiêu Phát Triển Du Lịch Việt Nam Năm 2022 ‘liên Kết, Hành Động Và Phát Triển’
  • Mục Tiêu Của Ngành Du Lịch Việt Nam 10 Năm Tới
  • Bảo Hiểm Du Lịch Trong Nước Nhằm Đảm Bảo Cho Những Rủi Ro
  • Chi Phí Mua Bảo Hiểm Du Lịch Trong Nước Bao Nhiêu Tiền?
  • 9 Loại Bảo Hiểm Du Lịch Trong Nước Uy Tín Chất Lượng Mức Phí Phù Hợp
  • Du Lịch Ninh Bình: Hướng Tới Mục Tiêu Phát Triển Bền Vững

    --- Bài mới hơn ---

  • Hội Nghị Thẩm Định Quy Hoạch Tổng Thể Phát Triển Du Lịch Tỉnh Ninh Bình Đến Năm 2025 Định Hướng 2030
  • Tiềm Năng Phát Triển Du Lịch Biển Đảo Phú Quốc
  • Phú Quốc Định Hướng Phát Triển Du Lịch Gắn Với Bảo Vệ Môi Trường
  • Tổng Cục Du Lịch Định Hướng Phục Hồi Và Phát Triển Du Lịch Phú Quốc
  • Định Hướng Cho Phát Triển Du Lịch Nông Nghiệp Việt Nam
  • Nếu như năm 2022, Ninh Bình đón 6,44 triệu lượt khách, thì

    năm 2022 đón gần 7,06 triệu lượt khách du lịch, tăng gần 9%, gấp 2 lần so với

    năm 2012. Lượng khách quốc tế đến Ninh Bình đạt gần 900 nghìn lượt. Doanh thu

    toàn ngành Du lịch đạt gần 2.500 tỷ đồng, tăng 41% so với năm 2022.

    Có thể khẳng định, du lịch Ninh Bình đang đi đúng hướng và

    có sự bứt phá mạnh mẽ, trở thành một trong những điểm đến đặc sắc trong vùng

    Đồng bằng sông Hồng và cả nước.

    Một điều dễ nhận thấy đó là, các doanh nghiệp, các nhà đầu

    tư không chỉ chú trọng gia tăng số lượng các cơ sở lưu trú mà còn quan tâm nâng

    cao chất lượng phục vụ ở hầu hết các dịch vụ kèm theo. Đến hết năm 2022, toàn

    tỉnh Ninh Bình có 463 cơ sở lưu trú, trong đó có 3 khách sạn 4 sao, 1 khách sạn

    3 sao, 28 khách sạn 2 sao và 24 khách sạn 1 sao và gần 140 cơ sở homestay ở

    nhiều địa phương.

    Trong năm, nhiều khu, điểm du lịch mới ra đời, nhiều công

    trình, điểm đến du lịch mới được hình thành với nhiều sản phẩm du lịch, dịch vụ

    giải trí được đưa ra phục vụ khách du lịch. Nếu như những năm trước đây, phần

    đông khách du lịch đi trong ngày, tỷ lệ khách lưu trú thấp hoặc lưu trú ngắn

    ngày, thì năm 2022, số khách đến các cơ sở lưu trú đã đạt 773 nghìn lượt, tăng

    39% và số ngày lưu trú qua đêm đãtăng

    41% so với năm 2022…

    Anh Đoàn Minh Thành, Phó Giám đốc điều hành Khách sạn

    Hoàng Sơn Peace chia sẻ: Trong năm 2022, khách sạn đã đưa vào sử dụng 214 phòng

    nghỉ (tăng hơn 60 phòng) với nhiều hạng phòng đa dạng, nhằm đáp ứng nhu cầu của

    du khách.

    Trong năm, nhiều khu điểm du lịch trên địa bàn tỉnh đã đưa

    thêm sản phẩm du lịch vào khai thác, phục vụ du khách. Nhiều tour, tuyến du

    lịch mới mở đã tạo được sự hấp dẫn, thu hút du khách, như: trải nghiệm Bái Đính

    về đêm, Tuyệt tịnh Cốc, Về với Cố đô ngàn lau, thăm Phim trường Kong: Skull

    Island…

    Đại diện Công ty cổ phần truyền thông du lịch Việt cho biết, sau khi bộ

    phim Kong: Skull Island được công chiếu (tháng 3/2017), có nhiều du khách trong

    và ngoài nước ngỏ ý muốn đi tour này nên đơn vị đã thiết kế lại tour cho du

    khách có nhiều thời gian tham quan các điểm đến có các cảnh quay trong phim.

    Theo đó,Công ty đã tổ chức đưa vào giới

    thiệu, chào bán cho du khách tour Hà Nội – Yên Tử, vịnh Hạ Long (Quảng Ninh) –

    Tràng An, Chùa Bái Đính (Ninh Bình) với thời gian 4 ngày, 3 đêm khá thành công.

    Bắt nhịp cùng xu hướng đó, cùng với việc tái hiện lại phim trường, Doanh nghiệp

    xây dựng Xuân Trường đã mở tuyến du lịch mới, kết nối các điểm Hành cung Vũ Lâm

    – hang Lấm – suối Tiên – phim trường Kong đã tạo hiệu ứng tích cực. Bằng chứng

    là số lượng du khách, đặc biệt là khách quốc tế đến Ninh Bình đã tăng 20% so

    với năm 2022.

    Các giải pháp thúc đẩy đào tạo, phát triển nguồn nhân

    lực từng bước được giải quyết. Đầu tư vào nhân lực tiếp tục được quan tâm kể cả

    từ góc độ nhà nước cho tới doanh nghiệp. Trong năm có trên 2.000 lao động của

    các doanh nghiệp, khu, điểm du lịch được đào tạo mới, đào tạo lại bằng việc dự

    các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ du lịch, sơ cấp nghề, như: kỹ năng giao tiếp, hướng

    dẫn viên, nghiệp vụ lễ tân, buồng, bar, bếp, nhà hàng, đội ngũ chụp ảnh, lái xe

    điện, chèo đò… Qua đó góp phần nâng cao kỹ năng nghề cho lao động và nâng cao

    nhận thức về phát triển du lịch bền vững cho những người đang tham gia trực

    tiếp hoạt động du lịch tại các địa phương.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ninh Bình Phấn Đấu Đưa Du Lịch Trở Thành Ngành Kinh Tế Mũi Nhọn
  • Ninh Bình Phát Triển Du Lịch Xanh
  • Trung Tâm Hỗ Trợ Du Khách Ninh Bình
  • Định Hướng Nào Cho Phát Triển Du Lịch Ninh Bình?
  • Lào Cai: Hướng Đến Xây Dựng Hệ Thống Sản Phẩm Du Lịch Đặc Sắc
  • Ba Mục Tiêu Mới Để Phát Triển Du Lịch Mộc Châu

    --- Bài mới hơn ---

  • Phát Triển Du Lịch Mộc Châu Cần Những Giải Pháp Đột Phá
  • Tiềm Năng Và Hiện Trạng Phát Triển Du Lịch Của Mộc Châu
  • Tiềm Năng Phát Triển Du Lịch Mộc Châu,tiem Nang Phat Trien Du Lich Moc Chau
  • Để Phát Triển Du Lịch Nghệ An Trở Thành Ngành Kinh Tế Mũi Nhọn
  • Để Phát Triển Du Lịch Nghệ An Thành Ngành Kinh Tế Mũi Nhọn
  • Ba Mục Tiêu Mới Để Phát Triển Du Lịch Mộc Châu

    Mộc Châu sẽ được quy hoạch trở thành khu vực động lực phát triển du lịch của tỉnh Sơn La và của vùng du lịch Trung du miền núi Bắc Bộ với hệ thống sản phẩm du lịch đa dạng, độc đáo, có thương hiệu và sức cạnh tranh cao gắn với cảnh quan tự nhiên và bản sắc văn hóa các dân tộc. Theo Quy hoạch tổng thể phát triển Khu du lịch quốc gia Mộc Châu, tỉnh Sơn La đến năm 2022, du lich Moc Chau đã đề ra ba mục tiêu mới trong thời gian sắp tới.

    Mộc Châu Happy Land Thiên Đường Có Thật

    Ba Mục Tiêu Mới Để Phát Triển chương trình

    Mộc Châu sẽ được quy hoạch trở thành khu vực động lực phát triển du lịch của tỉnh Sơn La và của vùng du lịch Trung du miền núi Bắc Bộ với hệ thống sản phẩm du lịch đa dạng, độc đáo, có thương hiệu và sức cạnh tranh cao gắn với cảnh quan tự nhiên và bản sắc văn hóa các dân tộc. Theo Quy hoạch tổng thể phát triển Khu du lịch quốc gia Mộc Châu, tỉnh Sơn La đến năm 2022, du lich Moc Chau đã đề ra ba mục tiêu mới trong thời gian sắp tới.

    Hình thành 3 trung tâm du lịch

    Trong thời gian tới, Khu DLQG Mộc Châu sẽ hình thành 3 trung tâm du lịch trọng điểm gồm: Trung tâm nghỉ dưỡng Mộc Châu, trung tâm du lịch sinh thái nơi này và trung tâm vui chơi giải trí Mộc Châu; hình thành các bản du lịch cộng đồng bao gồm: Bản Áng (xã Đông Sang, huyện Mộc Châu), bản Vặt (xã Mường Sang, huyện Mộc Châu), bản Tà Phình (xã Tân Lập, huyện Mộc Châu), bản Mường Khoa (xã Chiềng Khoa, huyện Vân Hồ)…

    Cùng với đó là thu hút đầu tư phát triển các khu, điểm du lịch quan trọng như: khu du lịch rừng thông Bản Áng; khu du lịch thác Dải Yếm; trung tâm thương mại cửa khẩu Lóng Sập; khu du lịch Ngũ động Bản Ôn; khu du lịch sinh thái rừng Pó Cốp; khu du lịch sinh thái rừng đặc dụng Xuân Nha…

    Hình thành tuyến du lịch liên quốc gia nơi đây – Lào qua cửa khẩu Lóng Sập và kết nối mở rộng sang các nước ASEAN như: Thái Lan, Myanma…; Phát triển các tuyến du lịch nội vùng từ Thị trấn vùng này tới các điểm tham quan, điểm di tích văn hóa – lịch sử trong Khu DLQG Mộc Châu…

    Ưu tiên phát triển thị trường khách và các sản phẩm du lịch

    Về định hướng, Khu DLQG mảnh đất này sẽ ưu tiên phát triển thị trường khách du lịch mục tiêu từ các tỉnh vùng đồng bằng Sông Hồng và vùng Trung du miền núi Bắc Bộ; tập trung phát triển và củng cố thị phần khách từ các thị trường mục tiêu truyền thống: Tây Âu, Bắc Mỹ, Đông Bắc Á, Đông Nam Á…

    Đồng thời, phát triển các sản phẩm du lịch hấp dẫn, có sức cạnh tranh cao; chú trọng nâng cao chất lượng các sản phẩm dịch vụ lữ hành, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí; tập trung phát triển các sản phẩm chính: Du lịch nghỉ dưỡng và điều dưỡng chữa bệnh; du lịch sinh thái gắn với nông nghiệp; du lịch tham quan di tích lịch sử văn hóa, danh thắng; đặc biệt chú trọng hình thức du lịch nghỉ tại nhà dân (homestay)…

    Phấn đấu đến năm 2030 đón khoảng 3 triệu lượt khách

    Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển Khu du lịch quốc gia Mộc Châu, tỉnh Sơn La đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030. Theo quy hoạch, Khu DLQG Mộc Châu có tổng diện tích tự nhiên là 206.150ha nằm trên địa bàn 2 huyện nơi này và Vân Hồ, tỉnh Sơn La.

    Khu DLQG nơi đây được quy hoạch trở thành khu vực động lực phát triển du lịch của tỉnh Sơn La và của vùng du lịch Trung du miền núi Bắc Bộ với hệ thống sản phẩm du lịch đa dạng, độc đáo, có thương hiệu và sức cạnh tranh cao gắn với cảnh quan tự nhiên và bản sắc văn hóa các dân tộc.

    Mục tiêu là đến năm 2022, Khu du lịch đón trên 1,2 triệu lượt khách, đến năm 2030 đón khoảng 3 triệu lượt khách, trong đó khách quốc tế đạt khoảng 50 nghìn lượt; phấn đấu tổng thu từ khách du lịch đạt khoảng 1.500 tỷ đồng vào năm 2022 và khoảng 6.000 tỷ đồng vào năm 2030.

    Xem Thêm Tour Du Lich Moc Chau Tet 2022 Hấp Dẫn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thực Trạng Du Lịch Mice Ở Việt Nam Và Giải Pháp Phát Triển
  • Phát Triển Du Lịch Lý Sơn Vẫn Ở Dạng Tiềm Năng
  • Những Tiềm Năng Và Lợi Thể Để Phát Triển Du Lịch Lý Sơn
  • Hội Thảo “phát Triển Du Lịch Lý Sơn”
  • Phát Triển Du Lịch Cộng Đồng Ở Lý Sơn
  • Mục Tiêu Của Ngành Du Lịch Việt Nam 10 Năm Tới

    --- Bài mới hơn ---

  • Mục Tiêu Phát Triển Du Lịch Việt Nam Năm 2022 ‘liên Kết, Hành Động Và Phát Triển’
  • Phát Triển Bền Vững Là Mục Tiêu Của Ngành Du Lịch
  • Điều Gì Khiến Du Khách Đi Tour Du Lịch Cù Lao Chàm Giá Rẻ Muốn Quay Lại
  • Muốn Đi Du Lịch Đài Loan? Đừng Bỏ Qua Các Homestay Giá Rẻ Mà Cực Chất
  • 10 Lý Do Khiến Bạn Muốn Đi Du Lịch Đài Loan Phần 2
  • Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030.

    Mục tiêu đến năm đến năm 2025, Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn, phấn đấu thuộc nhóm ba quốc gia dẫn đầu về phát triển du lịch trong khu vực Đông Nam Á và 50 quốc gia có năng lực cạnh tranh du lịch hàng đầu thế giới, trong đó tất cả 14 tiêu chí năng lực cạnh tranh du lịch đều tăng, phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững. Tổng thu từ khách du lịch đạt 1.700 – 1.800 nghìn tỷ đồng (tương đương 77 – 80 tỷ USD), tăng trưởng bình quân 13 – 14%/năm; đóng góp trực tiếp vào GDP đạt 12 – 14%; tạo ra khoảng 5,5 – 6 triệu việc làm, trong đó có khoảng 2 triệu việc làm trực tiếp, tăng trưởng bình quân 12 – 14%/năm.

    Về khách du lịch, phấn đấu đón được ít nhất 35 triệu lượt khách quốc tế và 120 triệu lượt khách nội địa, duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân về khách quốc tế từ 12 – 14%/năm và khách nội địa từ 6 – 7%/năm.

    Đến năm 2030, du lịch thực sự là ngành kinh tế mũi nhọn và phát triển bền vững. Việt Nam trở thành điểm đến đặc biệt hấp dẫn, thuộc nhóm 30 quốc gia có năng lực cạnh tranh du lịch hàng đầu thế giới, đáp ứng đầy đủ yêu cầu và mục tiêu phát triển bền vững. Tổng thu từ khách du lịch đạt 3.100 – 3.200 nghìn tỷ đồng (tương đương 130 – 135 tỷ USD), tăng trưởng bình quân 11 – 12%/năm; đóng góp trực tiếp vào GDP đạt 15 – 17%. Tạo ra khoảng 8,5 triệu việc làm, trong đó có khoảng 3 triệu việc làm trực tiếp, tăng trưởng bình quân 8 – 9%/năm.

    Phấn đấu đón được ít nhất 50 triệu lượt khách quốc tế và 160 triệu lượt khách nội địa; duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân về khách quốc tế từ 8 – 10%/năm và khách nội địa từ 5 – 6%/năm.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bảo Hiểm Du Lịch Trong Nước Nhằm Đảm Bảo Cho Những Rủi Ro
  • Chi Phí Mua Bảo Hiểm Du Lịch Trong Nước Bao Nhiêu Tiền?
  • 9 Loại Bảo Hiểm Du Lịch Trong Nước Uy Tín Chất Lượng Mức Phí Phù Hợp
  • Thuật Ngữ Tiếng Anh Chuyên Ngành Du Lịch Thông Dụng, Cần Thiết
  • Giá Vé Dịch Vụ Thuyền Kayak Tại Kdl Sinh Thái Tràng An
  • Giúp Huế Cụ Thể Hóa Mục Tiêu Phát Triển Du Lịch Thông Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • Làng Nghề Thủ Công Tiềm Năng Phát Triển Du Lịch Huế
  • Khánh Hòa Và Lâm Đồng Hợp Tác Phát Triển Du Lịch
  • Kiên Giang Triển Khai Thực Hiện Chiến Lược Phát Triển Du Lịch Việt Nam Đến Năm 2030
  • Nhiều Thuận Lợi Để Phát Triển Du Lịch Kiên Giang
  • Liên Kết Phát Triển Du Lịch Lai Châu
  • Chủ tịch UBND tỉnh Phan Ngọc Thọ trao đổi với doanh nghiệp về giải pháp thanh toán trực tuyến trong du lịch bên lề hội nghị

    Tham dự diễn đàn, về phía lãnh đạo tỉnh có các ông: Phan Ngọc Thọ, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh; Phan Thiên Định, Phó Chủ tịch UBND tỉnh. Phía Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có ông Nguyễn Trùng Khánh, Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch và hơn 200 đại biểu là các nhà đầu tư, doanh nghiệp (DN) du lịch và công nghệ thông tin, truyền thông, cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu, hiệp hội nghề nghiệp, chuyên gia công nghệ thông tin… trên cả nước.

    Xu hướng tất yếu

    Phát biểu khai mạc diễn đàn, Chủ tịch UBND tỉnh Phan Ngọc Thọ nhấn mạnh, với những thành tựu vượt bậc của công nghệ thông tin trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, ngành du lịch Việt Nam nói chung và du lịch tỉnh nói riêng đang đối mặt với những cơ hội lớn và cả những thách thức không nhỏ, yêu cầu phải có những chuyển đổi đột phá, kịp thời, mang tính sáng tạo phù hợp với xu hướng phát triển du lịch thông minh, hướng tới phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành du lịch.

    Theo xu hướng của du lịch thông minh, các đại biểu cho rằng, điều đặt ra cho Huế là phải xây dựng “Hệ sinh thái du lịch thông minh” và giải quyết được các yếu tố cơ bản, như xây dựng điểm đến thông minh, tạo nên sự trải nghiệm thông minh và hỗ trợ cho công tác quản lý, kinh doanh thông minh; trong đó, lấy người dân, du khách làm trung tâm và đặc biệt là phải có sự tương tác kịp thời giữa ba bên: nhà quản lý, đơn vị kinh doanh du lịch và du khách. Nếu giải quyết được các vấn đề trên, sẽ tạo cơ hội cho ngành du lịch của Huế vươn xa, cạnh tranh với các trung tâm du lịch lớn trong nước và khu vực.

    Các đại biểu, doanh nghiệp tham quan các dịch vụ, ứng dụng mới tại Huế được tổ chức bên lề hội nghị

    Ông Nguyễn Trùng Khánh, Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch cho biết, ngày 30/11/2018, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Đề án tổng thể ứng dụng công nghệ thông tin phát triển du lịch giai đoạn 2022 – 2022, định hướng đến năm 2025. Đây là lĩnh vực được Chính phủ đặc biệt quan tâm. Huế là trong số các địa phương có những bước “chuyển động” mạnh và nhanh chóng để cùng với cả nước xây dựng mục tiêu điểm đến thông minh.

    Dù đã có khá nhiều dịch vụ mới, tuy nhiên, đánh giá của ngành du lịch Huế, các dịch vụ chủ yếu mang tính công nghệ, chưa thể xem đó là thông minh. Các ứng dụng công nghệ đang còn ở dạng “tự thân vận động”, nên nhỏ lẻ, thiếu đi một hệ thống thông minh kết nối được cơ quan quản lý, DN, du khách và cộng đồng người dân để có thể tạo thành chuỗi sản phẩm, cung ứng liên hoàn.

    Điều đặt ra cho Huế thời gian đến là cần có nguồn lực để đầu tư hạ tầng, yếu tố tiên quyết cho nền tảng phát triển du lịch thông minh, gồm chủ máy, máy trạm, đường truyền tốc độ cao, phủ sóng wifi. Hệ thống dữ liệu được số hóa bằng công nghệ. Nguồn nhân lực có thể sáng tạo, liên kết và tương tác với công nghệ; tăng cường hợp tác công tư, “môi trường” mở với những quyền lợi rõ ràng khi xã hội hóa…

    Từ thông minh để hướng đến bền vững

    Định hướng của tỉnh về phát triển du lịch thông minh:

    Năm 2022: cung cấp dịch vụ thông tin du lịch, thông tin các dịch vụ bổ trợ du lịch, công cụ kết nối DN dịch vụ, sản phẩm. Năm 2022: cung cấp một số dịch vụ du lịch cơ bản, dịch vụ thanh toán điện tử liên kết, liên kết các dịch vụ du lịch và các dịch vụ khác. Sau năm 2022: hoàn thiện “Hệ sinh thái du lịch thông minh”, hoàn thành nền kinh tế số chia sẻ trong lĩnh vực du lịch.

    Tại diễn đàn, ngành du lịch Huế đã ký kết hợp tác với nhiều DN công nghệ hàng đầu trong cả nước, có nhiều thành công trong việc giúp một số địa phương và DN phát triển du lịch dựa trên nên tảng công nghệ số. Với sự góp sức của các DN, ngành du lịch Huế kỳ vọng sẽ tận dụng được những thành tựu của công nghệ trong phát triển du lịch Huế theo hướng thông minh và bền vững.

    Chủ tịch Phan Ngọc Thọ cũng mong muốn phát triển ngành du lịch Huế đồng bộ, bền vững, đạt chất lượng cao và thực sự chuyên nghiệp là mục tiêu mà Huế quyết tâm đạt được trong năm 2022 và các năm về sau. Để làm được việc này cần đòi hỏi có sự tham gia từ nhiều thành phần, trong đó, sự tham gia của xã hội là vô cùng quan trọng và đặc biệt là sự tham gia tích cực từ phía người dân, DN.

    Ông Nguyễn Trùng Khánh phân tích, đối với Huế, du lịch thông minh cần gắn với trọng tâm là phát huy giá trị di sản đặc sắc của Quần thể di tích Cố đô Huế. Huế phải thu hút du khách bởi giá trị và vẻ đẹp bất tận, giàu chiều sâu văn hóa trong cảnh đẹp nên thơ, hữu tình của Huế. Đồng thời kết hợp để du khách say mê khi trải nghiệm tại điểm đến với những ứng dụng, công nghệ đổi mới, sáng tạo.

    Một số đại biểu cho rằng, tiện ích của du lịch thông minh là cực kỳ lớn, song thách thức là sẽ làm giảm số lượng lao động, không hiệu quả khi nhiều ngành khác không phát triển mảng công nghệ tương ứng. Phát triển du lịch thông minh cần có lộ trình và đề án triển khai phù hợp.

    Bài, ảnh: Đức Quang

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hàn Quốc Công Bố Chiến Lược Mới Thúc Đẩy Ngành Du Lịch
  • Tại Sao Du Lịch Hàn Quốc Phát Triển?
  • Kinh Nghiệm Phát Triển Du Lịch Mice Của Hàn Quốc
  • Hà Giang: Phát Triển Du Lịch Bền Vững
  • Phát Triển Du Lịch Đảo Lý Sơn Bằng Truyền Miệng Điện Tử
  • Phát Triển Bền Vững Ở Việt Nam: Tiêu Chí Đánh Giá Và Định Hướng Phát Triển Đến Năm 2030

    --- Bài mới hơn ---

  • 15 Địa Điểm Du Lịch Bhutan Tự Túc Tham Quan Tu Viện, Leo Núi Hoang Sơ
  • Bhutan Của Tôi – Ký Sự Chuyến Đi Đến Quốc Gia Hạnh Phúc
  • Giới Thiệu Về Du Lịch Bỉ
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Bruges, Bỉ Tự Túc: Đi Lại, Ăn Chơi V.v
  • Top 2 Bãi Biển Bến Tre Cho Dịp Hè Này Đã Lộ Diện?
  • Năm 1980, trong bản “Chiến lược bảo tồn thế giới” do Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên (IUCN-International Union for Conservation of Nature and Natural Resources) đã đưa ra mục tiêu của phát triển bền vững là “đạt được sự phát triển bền vững bằng cách bảo vệ các tài nguyên sinh vật” và thuật ngữ phát triển bền vững ở đây được đề cập tới với một nội dung hẹp, nhấn mạnh tính bền vững của sự phát triển về mặt sinh thái, nhằm kêu gọi việc bảo tồn các tài nguyên sinh vật.

    1. Khái niệm phát triển bền vững

     

    Năm 1980, trong bản “Chiến lược bảo tồn thế giới” do Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên (IUCN-International Union for Conservation of Nature and Natural Resources) đã đưa ra mục tiêu của phát triển bền vững là “đạt được sự phát triển bền vững bằng cách bảo vệ các tài nguyên sinh vật” và thuật ngữ phát triển bền vững ở đây được đề cập tới với một nội dung hẹp, nhấn mạnh tính bền vững của sự phát triển về mặt sinh thái, nhằm kêu gọi việc bảo tồn các tài nguyên sinh vật.

     

    Năm 1987, trong Báo cáo “Tương lai chung của chúng ta”, Ủy ban Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED-World Commission on Environment and Development) của Liên hợp quốc định nghĩa “phát triển bền vững” là “phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn thương khả năng cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”.

     

    Phát triển bền vững vừa là nhu cầu cấp bách, 

    vừa là xu thế tất yếu của tiến trình phát triển xã hội

    Khái niệm phát triển bền vững của WCED chủ yếu nhấn mạnh khía cạnh sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo đảm môi trường sống cho con người trong quá trình phát triển. Phát triển bền vững là mô hình chuyển đổi nhằm tối ưu các lợi ích kinh tế và xã hội trong hiện tại nhưng không hề gây hại cho tiềm năng, lợi ích trong tương lai (Goodian và Hecdue, 1988, GS. Grima Lino).

    Nội hàm về phát triển bền vững được tái khẳng định ở Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và Phát triển tổ chức ở Rio de Janeiro (Brazil) năm 1992 và được bổ sung, hoàn chỉnh tại Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về Phát triển bền vững tổ chức ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002: “Phát triển bền vững” là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm: phát triển kinh tế (tăng trưởng kinh tế), phát triển xã hội (thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc làm) và bảo vệ môi trường (xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường; phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên).

     

    Khái niệm về phát triển bền vững dần được hình thành từ thực tiễn đời sống xã hội và có tính tất yếu. Tư duy về phát triển bền vững bắt đầu từ việc nhìn nhận tầm quan trọng của bảo vệ môi trường, là nhận ra sự cần thiết phải giải quyết những bất ổn trong xã hội. Năm 1992, Hội nghị thượng đỉnh về Môi trường và Phát triển của Liên hợp quốc được tổ chức ở Rio de Janeiro đề ra Chương trình nghị sự toàn cầu cho thế kỷ XXI, theo đó, phát triển bền vững được xác định là: “sự phát triển thỏa mãn những nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm hại đến khả năng đáp ứng những nhu cầu của thế hệ tương lai”.

     

    Về nguyên tắc, phát triển bền vững là quá trình vận hành đồng thời ba bình diện phát triển: kinh tế tăng trưởng bền vững, xã hội thịnh vượng, công bằng, ổn định, văn hoá đa dạng và môi trường được trong lành, tài nguyên được duy trì bền vững. Do vậy, hệ thống hoàn chỉnh các nguyên tắc đạo đức cho phát triển bền vững bao gồm các nguyên tắc phát triển bền vững trong cả “ba thế chân kiềng” kinh tế, xã hội, môi trường.

     

    Cho tới nay, khái niệm về phát triển bền vững trên bình diện quốc tế có được sự thống nhất chung. Mục tiêu để thực hiện phát triển bền vững trở thành mục tiêu thiên niên kỷ.

     

    2. Tiêu chí đánh giá phát triển bền vững

     

    Phát triển bền vững phải đồng thời đạt được 3 tiêu chí cơ bản sau:

     

    Thứ nhất, phát triển bền vững về kinh tế là phát triển nhanh, an toàn và chất lượng. Phát triển bền vững về kinh tế đòi hỏi sự phát triển của hệ thống kinh tế, trong đó cơ hội để tiếp xúc với những nguồn tài nguyên được tạo điều kiện thuận lợi và quyền sử dụng những nguồn tài nguyên thiên nhiên cho các hoạt động kinh tế được chia sẻ một cách bình đẳng. Yếu tố được chú trọng ở đây là tạo ra sự thịnh vượng chung cho tất cả mọi người, không chỉ tập trung mang lại lợi nhuận cho một số ít, trong một giới hạn cho phép của hệ sinh thái cũng như không xâm phạm những quyền cơ bản của con người.

     

    Khía cạnh phát triển bền vững về kinh tế gồm một số nội dung cơ bản: Một là, giảm dần mức tiêu phí năng lượng và các tài nguyên khác thông qua công nghệ tiết kiệm và thay đổi lối sống; Hai là, thay đổi nhu cầu tiêu thụ không gây hại đến đa dạng sinh học và môi trường; Ba là, bình đẳng trong tiếp cận các nguồn tài nguyên, mức sống, dịch vụ y tế và giáo dục; Bốn là, xóa đói, giảm nghèo tuyệt đối; Năm là, công nghệ sạch và sinh thái hóa công nghiệp (tái chế, tái sử dụng, giảm thải, tái tạo năng lượng đã sử dụng).

     

    Nền kinh tế được coi là bền vững cần đạt được những yêu cầu sau: (1) Có tăng trưởng GDP và GDP đầu người đạt mức cao. Nước phát triển có thu nhập cao vẫn phải giữ nhịp độ tăng trưởng, nước càng nghèo có thu nhập thấp càng phải tăng trưởng mức độ cao. Các nước đang phát triển trong điều kiện hiện nay cần tăng trưởng GDP vào khoảng 5%/năm thì mới có thể xem có biểu hiện phát triển bền vững về kinh tế. (2) Cơ cấu GDP cũng là tiêu chí đánh giá phát triển bền vững về kinh tế. Chỉ khi tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP cao hơn nông nghiệp thì tăng trưởng mới có thể đạt được bền vững. (3) Tăng trưởng kinh tế phải là tăng trưởng có hiệu quả cao, không chấp nhận tăng trưởng bằng mọi giá.

     

    Thứ hai, phát triển bền vững về xã hội được đánh giá bằng các tiêu chí như: Chỉ số phát triển con người (HDI – Human Development Index), hệ số bình đẳng thu nhập, các chỉ tiêu về giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội, hưởng thụ văn hóa. Ngoài ra, bền vững về xã hội là sự bảo đảm đời sống xã hội hài hòa; có sự bình đẳng giữa các giai tầng trong xã hội, bình đẳng giới; mức độ chênh lệch giàu nghèo không quá cao và có xu hướng gần lại; chênh lệch đời sống giữa các vùng miền không lớn.

     

    Công bằng xã hội và phát triển con người, chỉ số HDI là tiêu chí cao nhất về phát triển xã hội, bao gồm: thu nhập bình quân đầu người; trình độ dân trí, giáo dục, sức khỏe, tuổi thọ, mức hưởng thụ về văn hóa, văn minh.

     

    Phát triển bền vững về xã hội chú trọng vào sự công bằng và xã hội luôn cần tạo điều kiện thuận lợi cho lĩnh vực phát triển con người và cố gắng cho tất cả mọi người cơ hội phát triển tiềm năng bản thân và có điều kiện sống chấp nhận được. Phát triển bền vững về xã hội gồm một số nội dung chính: Một là, ổn định dân số, phát triển nông thôn để giảm sức ép di dân vào đô thị; Hai là, giảm thiểu tác động xấu của môi trường đến đô thị hóa; Ba là, nâng cao học vấn, xóa mù chữ; Bốn là, bảo vệ đa dạng văn hóa; Năm là, bình đẳng giới, quan tâm tới nhu cầu và lợi ích giới; Sáu là, tăng cường sự tham gia của công chúng vào các quá trình ra quyết định.

     

    Thứ ba, phát triển bền vững về môi trường. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nông nghiệp, du lịch; quá trình đô thị hóa, xây dựng nông thôn mới,… đều tác động đến môi trường và gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường, điều kiện tự nhiên. Bền vững về môi trường là khi sử dụng các yếu tố tự nhiên đó, chất lượng môi trường sống của con người phải được bảo đảm. Đó là bảo đảm sự trong sạch về không khí, nước, đất, không gian địa lý, cảnh quan. Chất lượng của các yếu tố trên luôn cần được coi trọng và thường xuyên được đánh giá kiểm định theo những tiêu chuẩn quốc gia hoặc quốc tế.

     

    Khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và cải thiện chất lượng môi trường sống. Phát triển bền vững về môi trường đòi hỏi chúng ta duy trì sự cân bằng giữa bảo vệ môi trường tự nhiên với sự khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ lợi ích con người nhằm mục đích duy trì mức độ khai thác những nguồn tài nguyên ở một giới hạn nhất định cho phép môi trường tiếp tục hỗ trợ điều kiện sống cho con người và các sinh vật sống trên trái đất.

     

    Phát triển bền vững về môi trường gồm những nội dung cơ bản sau: Một là, sử dụng có hiệu quả tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên không tái tạo; Hai là, phát triển không vượt quá ngưỡng chịu tải của hệ sinh thái; Ba là, bảo vệ đa dạng sinh học, bảo vệ tầng ôzôn; Bốn là, kiểm soát và giảm thiểu phát thải khí nhà kính; Năm là, bảo vệ chặt chẽ các hệ sinh thái nhạy cảm; Sáu là, giảm thiểu xả thải, khắc phục ô nhiễm (nước, khí, đất, lương thực thực phẩm), cải thiện và khôi phục môi trường những khu vực ô nhiễm…

     

    3. Thực trạng phát triển bền vững ở Việt Nam giai đoạn 2011 – 2022

     

    Việt Nam đã ban hành Chiến lược phát triển bền vững giai đoạn 2011 – 2022 nhằm mục tiêu tăng trưởng bền vững, có hiệu quả, đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi trường, giữ vững ổn định chính trị – xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.

     

    Việt Nam là một trong những quốc gia có nhiều nỗ lực và đã đạt được nhiều thành quả trên hành trình phát triển bền vững. Việt Nam đã ban hành chương trình quốc gia về phát triển bền vững, thành lập Hội đồng quốc gia về phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh. Năm 2022, Việt Nam xếp thứ 69/190 về môi trường kinh doanh (đánh giá của Ngân hàng Thế giới WB); xếp thứ 77/140 về năng lực cạnh tranh (đánh giá của Diễn đàn Kinh tế Thế giới WEF), xếp thứ 54/162 quốc gia lọt vào Top 30% quốc gia dẫn đầu về phát triển bền vững (chỉ thua Thái Lan trong ASEAN).

     

    Các chỉ tiêu giám sát và đánh giá phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011-2020 gồm: các chỉ tiêu tổng hợp (GDP xanh, chỉ số phát triển con người, chỉ số bền vững môi trường); Chỉ tiêu về kinh tế (hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, năng suất lao động xã hội, mức giảm tiêu hao năng lượng để sản xuất ra một đơn vị GDP, chỉ số giá tiêu dùng, cán cân vãng lai…); Chỉ tiêu về xã hội (tỷ lệ nghèo, tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ lao động đang làm việc trong nền kinh tế đã qua đào tạo, tỷ số giới tính khi sinh, hệ số bất bình đẳng trong phân phối thu nhập…); Chỉ tiêu về tài nguyên và môi trường (tỷ lệ che phủ rừng, tỷ lệ đất được bảo vệ, diện tích đất bị thoái hoá…).

     

    Chiến lược phát triển bền vững giai đoạn 2011 – 2022 được cụ thể hóa bằng những mục tiêu cơ bản:

     

    Về kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế bền vững, từng bước thực hiện tăng trưởng xanh, phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; thực hiện sản xuất và tiêu dùng bền vững; bảo đảm an ninh lương thực, phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững; phát triển bền vững các vùng và địa phương. Tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2022 – 2022 đạt trung bình 7%/năm, nâng mức thu nhập bình quân đầu người hằng năm tính theo GDP tăng lên 3.200 – 3.500 USD (so với mức 2.100 USD năm 2022). Lạm phát giữ ở mức dưới 5%.

     

    Về xã hội, tập trung đẩy mạnh công tác giảm nghèo theo hướng bền vững; tạo việc làm bền vững; Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân khoảng 2%/năm, riêng các huyện nghèo giảm trên 4%/năm. Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội. Chỉ trong 9 tháng/2019, số người tham gia BHXH bắt buộc khoảng 14,85 triệu người; Bảo hiểm thất nghiệp khoảng 13 triệu người; BHYT khoảng 85,2 triệu người, đạt tỷ lệ bao phủ 89,8% dân số. Đời sống nhân dân được cải thiện. Tuổi thọ trung bình đạt 73,5 tuổi (2018), cao hơn mức trung bình của thế giới (69 tuổi). Chỉ số phát triển con người đạt 0,694 (2017) thuộc nhóm trung bình cao trong tổng số 189 quốc gia. Theo Báo cáo đánh giá về tiến độ thực hiện các mục tiêu về phát triển bền vững, Việt Nam xếp thứ 54 (2019) tăng 3 bậc so với năm 2022 và chỉ số phát triển bền vững đứng thứ 2 trong khu vực Đông Nam Á. Hoàn thành nhiều mục tiêu Thiên niên kỷ. Ổn định quy mô, cải thiện và nâng cao chất lượng dân số; phát triển văn hoá hài hoà với phát triển kinh tế, xây dựng và phát triển gia đình Việt Nam; phát triển bền vững các đô thị, xây dựng nông thôn mới, phân bố hợp lý dân cư và lao động theo vùng; nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo để nâng cao dân trí và trình độ nghề nghiệp thích hợp với yêu cầu của sự phát triển đất nước, vùng và địa phương;…

     

    Về tài nguyên và môi trường: chống thoái hoá, sử dụng hiệu quả và bền vững tài nguyên đất; bảo vệ môi trường nước và sử dụng bền vững tài nguyên nước; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm, bền vững tài nguyên khoáng sản; bảo vệ môi trường biển, ven biển, hải đảo và phát triển tài nguyên biển; bảo vệ và phát triển rừng; giảm ô nhiễm không khí và tiếng ồn ở các đô thị lớn và khu công nghiệp…

     

    Việc triển khai tổ chức thực hiện Chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ, tạo điều kiện thuận lợi tiếp tục cho phát triển bền vững giai đoạn tới, thể hiện ở các điểm sau:

     

    Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 6 năm đạt gần 7% GDP giai đoạn 2006 – 2011 và đạt  7,08% GDP (2018) – mức kỷ lục cao nhất kể từ năm 2008; GDP bình quân đầu người đạt 2.587 USD (2018). Cơ cấu kinh tế cũng có những bước tiến triển tích cực, tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong cơ cấu GDP ngày càng tăng, khu vực nông nghiệp trong cơ cấu GDP ngày càng giảm. An ninh lương thực được bảo đảm. Những thành tựu đạt được trong lĩnh vực kinh tế đã góp phần tích cực vào việc phát triển bền vững các lĩnh vực khác. Tuy nhiên, kinh tế giai đoạn 2011 – 2022 phục hồi còn chậm, tăng trưởng chưa đạt mục tiêu đề ra (5,82%), thấp hơn các giai đoạn trước, chất lượng tăng trưởng thấp. Đóng góp của năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP-Total Factor Productivity) vào tăng trưởng còn hạn chế, hệ số sử dụng vốn (ICOR- Incremental Capital – Output Ratio) cao. Năng lực cạnh tranh quốc gia chưa được cải thiện nhiều, nhất là về thể chế kinh tế, kết cấu hạ tầng và đổi mới công nghệ.

    Thứ hai, sự nghiệp giáo dục có bước phát triển, chi ngân sách nhà nước cho giáo dục, đào tạo đạt tới 20% tổng chi ngân sách; đến năm 2011, tất cả các tỉnh, thành phố đã đạt chuẩn giáo dục trung học cơ sở. Giải quyết việc làm đạt kết quả tích cực: trong 6 năm (2006 – 2011), đã giải quyết được việc làm cho hơn 9 triệu lao động. Năm 2012 đã tạo việc làm mới cho hơn 1,5 triệu người; năm 2022, tạo việc làm cho 1,64 triệu người; thực hiện chiến lược dạy nghề gắn với tạo việc làm.

     

    Năm 2022, tỷ lệ thất nghiệp chung cả nước là 2,0%, trong đó tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị là 2,95%, ở khu vực nông thôn là 1,55%. Công tác xóa đói, giảm nghèo có nhiều tiến bộ, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 5,35% (2018). Chỉ số Phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt 0,694 (2017), đứng thứ 116/189 quốc gia và được xếp vào nhóm có tốc độ tăng chỉ số HDI cao. Việt Nam hoàn thành 6/8 nhóm Mục tiêu Thiên niên kỷ (MDG) do Liên hợp quốc đặt ra cho các nước đang phát triển đến năm 2022.

     

    Thứ ba, vấn đề môi trường trong giai đoạn 2011 – 2022 đã được chú trọng hơn. Việc bảo vệ tài nguyên, môi trường đã đi vào nền nếp. Bằng những chính sách hợp lý, các giải pháp quyết liệt, vấn đề bảo vệ môi trường sống, chống ô nhiễm các nguồn nước, không khí đã được tất cả các địa phương, các ngành và các tầng lớp nhân dân đồng thuận và cùng tham gia. Công tác trồng rừng, bảo vệ rừng được quan tâm hơn nên tình trạng cháy và chặt phá rừng đã giảm đi.

     

    4. Định hướng mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030 

     

    Việt Nam xây dựng Chiến lược phát triển giai đoạn 2022-2030 trong bối cảnh quốc tế, khu vực có nhiều khó khăn, biến động với những lo âu về căng thẳng chính trị, chiến tranh thương mại, chủ nghĩa bảo hộ, suy thoái kinh tế, thương mại toàn cầu, biến đổi khí hậu nặng nề,… Mặc dù vậy, Việt Nam vẫn cam kết thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững theo Chương trình nghị sự 2030 của Liên Hợp Quốc.

     

    Về kinh tế: Tốc độ tăng trưởng GDP trung bình tăng từ 5-6% hàng năm (2020-2030), GDP bình quân đầu người duy trì mức 4-4,45% hàng năm; tốc độ tăng năng suất lao động duy trì mức tăng 5% hàng năm. Mục tiêu đến năm 2030, tăng gấp 1,5 lần năng suất lao động trong nông nghiệp và thu nhập của lao động nông nghiệp với lộ trình đặt ra là thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn đạt 43 triệu (2020); 60 triệu (2025) và 90 triệu (2030). Tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP trên 85%. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội bình quân 5 năm bằng khoảng 32 – 34% GDP. Bội chi ngân sách nhà nước không quá 4% GDP. Yếu tố năng suất tổng hợp (TFP) đóng góp vào tăng trưởng khoảng 25 – 30%. Tiêu hao năng lượng tính trên GDP bình quân giảm 1 – 1,5%/năm. Tỷ lệ đô thị hoá đến năm 2022 đạt 38 – 40%.

     

    Về xã hội: Tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội khoảng 35 – 40% (2020). Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 65 – 70%, trong đó có bằng cấp, chứng chỉ đạt 25 – 26%. Tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị dưới 4%. Mục tiêu có 10 bác sĩ và trên 26 giường bệnh trên 1 vạn dân. Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt trên 80% dân số. Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân khoảng 1,3 – 1,5%/năm. Đến năm 2022 sẽ không còn hộ nghèo với mức thu nhập dưới 2 USD/ngày. Năm 2025 sẽ không còn tình trạng đói nghèo, chấm dứt nghèo đói ở mọi nơi.

     

    Về môi trường: Xây dựng một nền kinh tế phi phát thải. Giảm phát thải khí nhà kính: 5% năm 2022; 25% năm 2030 và 45% năm 2050. Năm 2030 có thể đạt được các mục tiêu phát triển bền vững về tài nguyên, môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Chống sa mạc hóa, phục hồi các vùng đất và đất bị thoái hóa, kể cả đất bị ảnh hưởng bởi sa mạc hóa, hạn hán và lũ lụt, và phấn đấu để đạt được một thế giới không thoái hóa đất.  Phấn đấu đạt 95% dân cư thành thị, 90% dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch, hợp vệ sinh  (2020) và 80 – 85% chất thải nguy hại, 95 – 100% chất thải y tế được xử lý. Tỷ lệ che phủ rừng đạt 44 – 45%. Hầu hết các hộ dân có điện. 

     

    Điểm mới trong cách tiếp cận về phát triển bền vững giai đoạn 2022-2030 là phát triển nhanh để duy trì ổn định, nhằm tạo nền tảng cho phát triển bền vững. Phát triển nhanh dựa trên sự thúc đẩy mạnh mẽ của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Thành quả của phát triển là dành cho tất cả mọi người và không để ai bị bỏ lại phía sau, đặc biệt là các đối tượng chính sách, người có công, người nghèo, người yếu thế, đồng bào dân tộc thiểu số.

     

    Để phát triển kinh tế nhanh và bền vững, Việt Nam còn nhiều việc phải làm, trong đó cần thúc đẩy hình thức đầu tư đối tác công tư (PPP-Public Private Partnership), cụ thể: ban hành Luật PPP, thay đổi mô hình PPP hiện nay, thu hút các nhà đầu tư mới để hướng tới phát triển bền vững. Các dự án giao thông, cơ sở hạ tầng trong nhiều lĩnh vực, thậm chí các dịch vụ công… đều cần có sự hợp tác PPP để phát triển bền vững. Nguồn vốn cho xây dựng cơ sở hạ tầng ở Việt Nam cần ít nhất 20 tỷ USD mỗi năm trong những năm tới. Trong điều kiện nguồn vốn nhà nước hạn hẹp, trợ giúp phát triển chính thức (ODA) hạn chế, thì hình thức đầu tư đối tác công tư và huy động nguồn vốn đầu tư từ khu vực tư nhân sẽ đóng vai trò quan trọng. Đối tác công tư không chỉ là sự chung tay giữa nhà nước và tư nhân trong phát triển cơ sở hạ tầng mà cần được mở rộng ra các lĩnh vực cung ứng dịch vụ công và thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp quan trọng có vai trò dẫn dắt nền kinh tế. Hình thức đầu tư đối tác công tư được xem là một trong những phương thức hiệu quả nhất để triển khai các hoạt động thúc đẩy phát triển bền vững, là mục tiêu của phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh cho Việt Nam. 

     

    Tóm lại, phát triển bền vững vừa là nhu cầu cấp bách, vừa là xu thế tất yếu của tiến trình phát triển xã hội. Trong hơn 30 năm đổi mới (1986-2019), Việt Nam đã thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp thúc đẩy phát triển bền vững và đạt được nhiều thành tựu quan trọng như kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam được duy trì ở mức cao, chất lượng tăng trưởng được nâng lên. Tuy nhiên, Việt Nam cần tiếp tục đầu tư mạnh vào cải thiện chất lượng nguồn nhân lực. Chú trọng nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân nghèo, vùng sâu, vùng xa, cả về thể lực và trí lực nhằm đạt mục tiêu thiên niên kỷ như đã cam kết về phát triển con người. PPP vì con người” (people-first PPP), ưu tiên phục vụ con người, phát huy cao nhất yếu tố con người trong mỗi chiến lược phát triển. Việt Nam đặt mục tiêu thuộc nhóm dẫn đầu các nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và trở thành nước công nghiệp phát triển hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào năm 2045.

    [1] Việt Nam thực hiện rất nhiều dự án PPP từ năm 1997, hiện có hơn 336 dự án PPP (2019), trong đó, 140 dự án áp dụng loại hợp đồng BOT, 188 dự án áp dụng loại hợp đồng BT và 08 dự án áp dụng các loại hợp đồng khác.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO:

    (1) Debra Lam (2014), Vietnam’s Sustainable Development Policies: Vision VS Implementation, World Scienctific Book, 2014.

    (2) Maho Mina d’s Ercole (2008), Statistics for Sustainable Development, OECD, 2008.

    (3) Nguyễn Quang Thái và Ngô Thắng Lợi (2007), Phát triển bền vững ở Việt Nam: Thành tựu, cơ hội, thách thức và triển vọng, NXB Lao động – xã hội, Hà Nội, 2007.

    (4) Trần Ngọc Ngoạn (2007), “Một số vấn đề lý thuyết và kinh nghiệm quốc tế trong phát triển bền vững nông thôn”, Tạp chí Nghiên cứu Phát triển bền vững, N2-2007, Tr.3 – 15.

    (5) Vũ Văn Hiển (2014), Phát triển bền vững ở Việt Nam, Tạp chí cộng sản (Communist Review), số tháng 1-2014.

    (6) Thiện Trần (2019), Hướng đến một thập niên phát triển bền vững hơn,  Thời báo Tài chính Việt Nam,  

    http://thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/thoi-su/2019-09-12/huong-den-mot-thap-nien-phat-trien-ben-vung-hon-76256.aspx.

    (7) Vũ Khuê (2019), Thay đổi cuộc chơi PPP tại Việt Nam, Vietnam Economic Time ngày 23/9/2019; 

    http://vneconomy.vn/thay-doi-cuoc-choi-ppp-tai-viet-nam-20190923074348174.htm

    PGS., TS. Phạm Thị Thanh Bình

    TCNH số 24/2019

    --- Bài cũ hơn ---

  • Du Lịch Bền Vững Và Có Trách Nhiệm Tại Miền Trung Việt Nam
  • Phát Triển Bền Vững Du Lịch Hội An
  • Khu Du Lịch Việt Nhật: Du Lịch Sinh Thái Tiền Giang Bến Tre
  • Khu Du Lịch Lan Vương – Bến Tre
  • Cập Nhật Tất Cả Các Địa Điểm Khi Đến Khu Du Lịch Bến Tre Nên Ghé Thăm
  • Thừa Thiên Huế Đặt Mục Tiêu Phát Triển Du Lịch Bền Vững, Chất Lượng Cao Và Chuyên Nghiệp

    --- Bài mới hơn ---

  • Du Lịch Hội An Vừa Mừng Vừa Lo (Kỳ 1): “giàu Nhưng Chưa Sang”
  • Thừa Thiên Huế Phát Triển Du Lịch Theo Hướng Bền Vững
  • Tình Nguyện Viên Hướng Dẫn Du Lịch: Những Nhịp Cầu Văn Hóa
  • Thanh Niên Tình Nguyện Hỗ Trợ Tốt Cho Du Lịch Hà Nội
  • Du Lịch Biển: Khắc Phục Tính Thời Vụ Do Tác Động Của Khí Hậu
  • Năm 2022 vừa đi qua với những thành công đáng ghi nhận và cả những thách thức đầy trăn trở của du lịch Thừa Thiên Huế. Bên cạnh những thắng lợi chung của ngành Du lịch cả nước, du lịch Huế đã có những chuyển biến tích cực tạo tiền đề cho sự phát triển bền vững và nâng cao sức thu hút đối với du khách về một điểm đến du lịch di sản văn hóa – xanh – thân thiện.

    Trao đổi với Báo điện tử Tổ Quốc, ông Lê Hữu Minh – Quyền GĐ Sở Du lịch Thừa Thiên Huế đã có những chia sẻ về những cơ hội cũng như khó khăn, thách thức và định hướng phát triển của ngành Du lịch Thừa Thiên Huế trong thời gian sắp đến.

    – Thưa ông, năm 2022 được xem là năm tăng trưởng ấn tượng của du lịch Thừa Thiên Huế. Tiếp nối những thành công đáng ghi nhận ấy, ngành Du lịch Thừa Thiên Huế đã đặt ra những mục tiêu và kế hoạch cụ thể nào trong năm 2022?

    + Năm 2022 là năm thứ ba Ngành Du lịch Thừa Thiên Huế triển khai thực hiện các nhiệm vụ của Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 của Bộ Chính trị và Nghị quyết 03-NQ/TƯ ngày 08/11/2016 của Tỉnh ủy về phát triển du lịch, dịch vụ Thừa Thiên Huế giai đoạn 2022 – 2022 và tầm nhìn đến năm 2030. Nghị quyết ra đời đã trở thành kim chỉ nam và tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động của du lịch Thừa Thiên Huế trong các năm về sau.

    Trên cơ sở Nghị quyết, tỉnh Thừa Thiên Huế tiếp tục phát triển ngành du lịch thực sự là ngành kinh tế mũi nhọn xứng tầm là trung tâm du lịch lớn của cả nước và khu vực; từng bước xây dựng thương hiệu du lịch Huế là Kinh đô của lễ hội và ẩm thực; triển khai thực hiện một số nhiệm vụ, hoạt động của dự án hệ sinh thái du lịch thông minh thuộc Đề án thành phố thông minh nhằm đáp ứng nhu cầu phục vụ và phát triển du lịch.

    Phát triển và nâng cao chất lượng các sản phẩm du lịch văn hóa di sản, tập trung khu vực Đại nội nhằm phục hồi và tái hiện không gian văn hoá Cung đình và vùng phụ cận theo xu hướng xã hội hóa các nguồn lực. Triển khai thí điểm chủ trương tổ chức Festival 4 mùa, tiến đến việc hình thành những sản phẩm du lịch định kỳ thường niên của Huế. Nghiên cứu hình thành các trung tâm du lịch (mô hình “stop and go”) trên địa bàn thành phố Huế phục vụ nhu cầu trải nghiệm các dịch vụ tại chỗ vừa thực hiện công tác quảng bá cho du lịch địa phương.

    Một số dự án lớn như các dự án nghỉ dưỡng, khách sạn cao cấp, sân golf của các tập đoàn, công ty lớn như Minh Viễn, Spirit Sanctuar, PSH, Logi3, Laguna, My Way, Ecopark,…thị trường đang tích cực được triển khai; Các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch, đặc biệt nâng cấp, mở rộng và đấu nối các con đường tiếp cận các điểm du lịch như đường tiếp cận điểm du lịch Thủy Biều, đường vào Lăng Gia Long, suối Voi, suối Mơ, một số tuyến đường kết nối các điểm du lịch trên địa bàn tỉnh đối với Dự án hạ tầng du lịch sông Mê Công mở rộng giai đoạn II; nâng cấp các bến thuyền sông Hương và đầm phá; tiếp tục triển khai dự án xây dựng Nhà ga hành khách T2 – Cảng hàng không Quốc tế Phú Bài giai đoạn 2022-2020…

    – PV: Theo ông, việc thay đổi phương pháp, hình thức xúc tiến quảng bá du lịch cho phù hợp với thực tế có được đặt ra và thực hiện trong năm 2022 không thưa không?

    + Việc thay đổi phương pháp, hình thức xúc tiến quảng bá du lịch cho phù hợp với thực tế là vấn đề cấp thiết. Trong năm 2022, trên cơ sở các khảo sát, nghiên cứu, đánh giá các thị trường trọng điểm được thực hiện trong năm 2022, ngành du lịch Thừa Thiên Huế tiếp tục quảng bá, xúc tiến thị trường Đông Bắc Á và thị trường ASEAN thông qua hình thức tham gia Hội chợ Hanatour tại Hàn Quốc, hội chợ Travex 2022 và hội chợ JATA Nhật Bản. Ngoài ra, sẽ mời blogger nổi tiếng làm phim giới thiệu điểm đến Thừa Thiên Huế, Festival Nghề truyền thống Huế 2022 để quảng bá trên các trang mạng xã hội; vận hành, khai thác phòng truyền thông media: sản xuất ấn phẩm điện tử, clip quảng bá du lịch. Biên dịch thông tin điểm đến, dịch vụ du lịch bằng 4 ngôn ngữ Anh, Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản; Xuất bản và tái bản ấn phẩm phục vụ công tác xúc tiến quảng bá tại các hội chợ, hội thảo trong và ngoài nước.

    Với kế hoạch cụ thể được được đề ra, Lượt khách du lịch đến Thừa Thiên Huế năm 2022 dự báo đạt khoảng 4,5- 4,7 triệu lượt khách, tăng khoảng 8% so với năm 2022 (trong đó, khách quốc tế chiếm từ 40% – 45%); khách lưu trú đạt từ 2,2 – 2,3 triệu lượt, tăng khoảng 7% so với cùng kỳ. Doanh thu du lịch dự kiến tăng khoảng 10% so với cùng kỳ năm 2022, ước đạt từ 4.700 – 4.900 tỷ đồng, doanh thu xã hội ước đạt 12 – 13 nghìn tỷ đồng.

    – Được biết, trong năm 2022, việc xây dựng đề án “Huế – Kinh đô ẩm thực Việt” là một trong những công việc được ngành du lịch Thừa Thiên Huế quan tâm, chú trọng. Xin ông cho biết cụ thể đề án này sẽ được triển khai như thế nào?

    + Huế từ lâu là một trung tâm du lịch lớn của miền Trung và cả nước. Tỉnh Thừa Thiên Huế luôn xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn và phát triển du lịch là một trong những chương trình trọng điểm của địa phương. Huế được nhiều khách trong nước và quốc tế biết đến như một điểm đến thân thiện, mến khách, một trong những địa phương tiềm năng lớn của du lịch cả nước, tiềm ẩn những giá trị hấp dẫn, độc đáo, tính khác biệt, nổi trội của vùng đất kinh kỳ. Huế không chỉ nổi tiếng bởi quần thể di tích nhà Nguyễn, các kiến trúc cổ truyền độc đáo, các danh lam thắng cảnh, Huế còn có một di sản ẩm thực phong phú và một nền văn hóa ẩm thực tinh tế bậc nhất Việt Nam.

    Ngày nay, ẩm thực đang trở thành một lợi thế cạnh tranh và là một nhân tố có tính quyết định trong quá trình xây dựng thương hiệu cho một quốc gia hoặc một điểm đến du lịch. Bản sắc riêng của ẩm thực được khai thác triệt để trong quá trình tạo nên sự khác biệt và làm mới hình ảnh của một điểm đến, giúp tạo nên cảm giác khác biệt của du lịch Thừa Thiên Huế. Đây không chỉ là thế mạnh, mà còn là một tiềm năng phong phú vô tận cần được khai thác đúng mức.

    Trước bối cảnh và xu hướng đó, lãnh đạo tỉnh Thừa Thiên Huế đã quyết định xây dựng Đề án “Huế – Kinh đô ẩm thực” để trở thành một quyết sách có hiệu lực với quan điểm phát triển đột phá, đáp ứng được những yêu cầu mới về tính chuyên nghiệp, tính hiện đại và tương xứng với tiềm năng, khẳng định vị thế và sự đa dạng của ẩm thực Huế trước áp lực cạnh tranh ngày càng lớn trong khu vực.

    Hiện nay, Đề án đã được UBND tỉnh Thừa Thiên Huế Quyết định số 2879/QĐ-UBND ngày 10/12/2018 về việc phê duyệt Đề cương Đề án đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030. Sở Du lịch được giao phối hợp với đơn vị tư vấn xây dựng nội dung cụ thể của Đề án để trình UBND tỉnh phê duyệt vào Quý II năm 2022 trước khi triển khai thực hiện các hoạt động, nhiệm vụ cụ thể.

    Bên cạnh đó, việc thực hiện Đề án cũng là cơ hội để vận động, thu hút được cộng đồng xã hội và các doanh nghiệp cùng tham gia giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa ẩm thực Huế, thúc đẩy phát triển du lịch và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho xã hội, tạo ra một sản phẩm du lịch đặc sắc của riêng Huế, hình thành một số khu ẩm thực tại một số tuyến phố đi bộ và tại một số điểm tham quan du lịch, thực hiện thành công Nghị quyết 03 của Tỉnh ủy về phát triển du lịch Thừa Thiên Huế đến năm 2030.

    Việc xây dựng Đề án “Huế – Kinh đô ẩm thực” nhằm quảng bá rộng rãi đến du khách trong và ngoài nước, Xây dựng và quảng bá thương hiệu ẩm thực Huế với các giá trị văn hóa và sản phẩm du lịch ẩm thực khác biệt, độc đáo, có chất lượng, có sức cạnh tranh trong nước, khu vực và quốc tế, đồng thời khẳng định vị thế và sự đa dạng của văn hóa ẩm thực Huế nói riêng và Việt Nam nói chung với bạn bè quốc tế.

    Củng cố, phát triển hệ thống sản phẩm và điểm đến du lịch, đa dạng hóa và nâng cao chất lượng các sản phẩm du lịch, dịch vụ mang đậm bản sắc văn hóa Huế. Thu hút các nhà đầu tư xây dựng các khu du lịch, các sản phẩm du lịch cao cấp ở vùng ven biển, đầm phá ở Chân Mây – Lăng Cô và Bạch Mã để bổ sung cho thành phố di sản Huế nhằm thu hút du khách quốc tế.

    Tiếp tục phát triển mạnh các dòng sản phẩm du lịch chủ đạo có lợi thế về tự nhiên và văn hóa: Du lịch văn hóa di sản tìm hiểu và khám phá các di tích văn hóa, lịch sử, bảo tàng và các công trình kiến trúc độc đáo; du lịch sinh thái; đẩy mạnh các hoạt động vui chơi giải trí, nhất là giải trí về đêm; du lịch MICE…

    Phát triển các sản phẩm du lịch mới: Đầu tư phát triển các công viên chuyên đề, tổ chức các sự kiện lớn, liên hoan văn hóa nghệ thuật, trình diễn nghệ thuật, biểu diễn thực cảnh, trình diễn ánh sáng.Các sản phẩm du lịch chuyên đề: Du lịch mạo hiểm; du lịch chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe, sắc đẹp; du lịch golf; du lịch thể thao, giải trí, hình thành các trung tâm mua sắm hiện đại, đồng thời với hệ thống cửa hàng lưu niệm, đặc sản vùng miền, sản phẩm thủ công truyền thống phục vụ du lịch. Sản phẩm du lịch cộng đồng: Trải nghiệm, tìm hiểu văn hóa, phong tục và tri thức bản địa, tìm hiểu ẩm thực địa phương, có sự tham gia tích cực, chia sẻ lợi ích với cộng đồng; gắn với bảo vệ tài nguyên tự nhiên và văn hóa.

    – Trong những năm gần đây, thị phần khách du lịch đến Thừa Thiên Huế có sự chuyển dịch lớn, trong đó phải kể đến thị trường Đông Bắc Á như Nhật Bản, Hàn quốc. Hiện tại ngành du lịch địa phương có kế hoạch gì để tiếp tục khai thác tốt “con gà đẻ trứng vàng” này?

    + Mỗi thị trường, khách du lịch sẽ có xu hướng khác nhau. Tuy cùng khu vực Đông Bắc Á nhưng người Nhật Bản và người Hàn Quốc có những xu hướng du lịch khác nhau. Vì vậy, để có một chiến lược khai thác thị trường khách Đông Bắc Á, cần thiết phải nghiên cứu đến nhu cầu, thị hiếu và tâm lý tiêu dùng của thị trường này để hình thành và phát triển các sản phẩm thích hợp với phân đoạn thị trường của các nước trong khu vực này

    Người Nhật có xu hướng du lịch MICE (du lịch kết hợp hội họp, sự kiện), du lịch thực tế (trải nghiệm nét đẹp trong sinh hoạt của người dân địa phương), du lịch nghỉ dưỡng, chữa bệnh và chăm sóc sắc đẹp (Spa), mua sắm và ẩm thực.

    Còn người Hàn Quốc có xu hướng đến tham quan các di tích lịch sử văn hóa như đình, chùa, tham gia lễ hội truyền thống, các loại hình nghệ thuật đặc sắc của địa phương.

    Do vậy, như đã trả lời ở câu hỏi trên, việc đa dạng hóa, phát triển sản phẩm nhằm thu hút khách quốc tế cũng chính là nhằm vào thị trường Đông Bắc Á.

    – Xin cảm ơn ông!

    Lê Chung (Thực hiện)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Du Lịch Đà Nẵng Ngày Càng Xứng Danh “mũi Nhọn”
  • Hơn 4,8 Triệu Lượt Khách Du Lịch Đến Huế Trong Năm 2022
  • Du Lịch Hy Lạp
  • Trọn Bộ Kinh Nghiệm Du Lịch Hoàn Kiếm
  • Hà Nội Nỗ Lực Phục Hồi, Phát Triển Du Lịch Không Gian Văn Hóa Quận Hoàn Kiếm
  • Phát Triển Du Lịch Biển Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Nguyên Nhân Khiến Bạn Bị Xin Visa Du Lịch Úc?
  • Một Mình Ở Singapore
  • Tour Bà Nà Trong Ngày Chất Lượng Cao Tại Đà Nẵng
  • Du Lịch Một Mình Ở Singapore Trong 2022: Hướng Dẫn Thưởng Thức Những Điều Tuyệt Vời Nhất Ở Châu Á
  • Đặc Sản Đảo Bình Ba, Ăn Gì Khi Du Lịch Đảo Bình Ba?
  • Published on

    Phát triển du lịch biển.

    Cơ hội và thách thức cho Việt Nam

    Bãi biển đỏ tuyệt đẹp này nằm ở Bàn Cẩm, tỉnh Liêu Ninh, thuộc đông bắc Trung Quốc. Nơi đây cũng được coi là vùng đất ngập nước lớn nhất và tốt nhất bảo vệ những bãi đầm lầy hiếm có, quý giá của thế giới.

    1. 1. PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CHO VIỆT NAM NHÓM THỰC HIỆN: NHÓM 4 GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: THS NGUYỄN TỐ UYÊN
    2. 2. CƠ HỘI NẰM Ở ĐÂU?
    3. 3. VỊ TRÍ ĐỊA LÍ  Bờ Tây của Biển Đông – biển lớn và thuộc loại quan trọng nhất của khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.  Vùng biển rộng 1 triệu km  Biển Đông bao bọc toàn bộ sườn phía Đông và phía Nam Việt Nam  Nhiều đảo, quần đảo
    4. 4. QUÀ CỦA TẠO HÓA  Tài nguyên khoáng sản, dầu mỏ. (Mỏ Bạch Hổ ở Bà Rịa – Vũng Tàu).  Hang động, vũng vịnh trên đảo.  Nguồn hải sản phong phú  Nhiều bãi tắm, bờ biển đẹp
    5. 5. NHẬN BIẾT ĐƯỢC NHỮNG CƠ HỘI VÀ TIỀM NĂNG NHƯ VẬY, ĐẢNG TA CÓ ĐỊNH HƯỚNG GÌ?
    6. 6. CÁC KÌ ĐẠI HỘI TRƯỚC ĐÂY  “Coi trọng phát triển kinh doanh du lịch biển, tổ chức tốt việc cung ứng cho tàu biển nước ngoài và các dịch vụ khác” – (Đại hội đảng IV.)  “Khai thác sự hấp dẫn của thiên nhiên, oo di sản văn hoá phong phú và các lợi thế khác của đất nước, mở rộng hợp tác với nước ngoài để phát triển mạnh du lịch”. – (Đại hội đảng VII.)
    7. 7. CÁC KÌ ĐẠI HỘI TRƯỚC ĐÂY  Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tương xứng với tiềm năng du lịch (theo hướng du lịch văn hóa, sinh thái môi trường)  Huy động các nguồn lực tham gia kinh doanh du lịch, ưu tiên xây dựng kết cấu hạ tầng ở những khu vực du lịch tập trung, ở các trung tâm lớn.  Nâng cao trình độ văn hóa và chất lượng dịch vụ phù hợp với các loại khách du lịch khác nhau. (Đại hội Đảng VIII)
    8. 8. CÁC KÌ ĐẠI HỘI TRƯỚC ĐÂY  Đưa ngành du lịch thành một ngành kinh tế mũi nhọn. – (Đại hội Đảng IX)  “Phát triển mạnh và nâng cao chất lượng hoạt động du lịch, đa dạng hoá sản phẩm và các loại hình du lịch”. – (Đại hội Đảng X)
    9. 10. NHÌN VÀO THỰC TẾ HIỆN NAY
    10. 11. DU LỊCH BIỂN Nhiều điểm du lịch biển nổi tiếng đã được đầu tư phát triển như:  Vịnh Hạ Long, bãi biển Trà Cổ, Vân Đồn, Quan Lạn, Minh Châu (Quảng Ninh);  đảo Cát Bà (Hải Phòng);  bãi biển Sầm Sơn (Thanh Hóa);  bãi biển Cửa Lò (Nghệ An);  bãi biển Nhật Lệ (Quảng Bình);  vịnh Lăng Cô (Thừa Thiên-Huế);  Bãi biển Non Nước, Mỹ Khê (Đà Nẵng);  bãi biển Cửa Đại (Quảng Nam);  bãi Dài, vịnh Nha Trang, vịnh Cam Ranh (Khánh Hòa);  bãi biển Mũi Né (Bình Thuận);  Vũng Tàu (Bà Rịa – Vũng Tàu);  đảo Phú Quốc, Hà Tiên (Kiên Giang)..
    11. 12. Biển Lăng Cô Huế
    12. 13. BÀ RỊA – VŨNG TÀU
    13. 14. XÁC ĐỊNH THÁCH THỨC
    14. 15. HẠN CHẾ  Trong một thời gian dài, tỷ trọng khách du lịch, thu nhập từ du lịch biển so với du lịch cả nước không có sự thay đổi đáng kể, mặc dù vùng ven biển là lãnh thổ có nhiều thuận lợi hơn những vùng lãnh thổ khác về tài nguyên du lịch.  Du lịch biển Việt Nam vẫn chưa tạo được sự hấp dẫn đặc biệt đối với khách du lịch, đặc biệt là du khách quốc tế.
    15. 16. NGUYÊN NHÂN  Công tác tuyên truyền và quảng bá về du lịch biển Việt Nam lâu nay chưa được quan tâm đúng mức.  Du lịch Việt Nam chưa tham gia các hội nghị, hội chợ chuyên về du lịch biển và du lịch tàu biển trên thế giới.  Không ít địa phương do nóng vội đã đưa ra các chiến lược phát triển thiếu tính bền vững.
    16. 17. NGUYÊN NHÂN  Tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên ngành du lịch còn thấp, trình độ chuyên môn chưa cao, khả năng giao tiếp kém.  Sự đầu tư của Nhà nước và sự huy động các nguồn vốn phục vụ cho du lịch chưa tương xứng với yêu cầu phát triển  Cơ chế quản lý nhà nước về du lịch chưa toàn diện, chưa chặt chẽ, chưa theo kịp với thực tế phát sinh.
    17. 18. BÀI HỌC CÁC QUỐC GIA ĐI TRƯỚC
    18. 20. THÁI LAN: CÁC BÃI BIỂN ĐẸP TẠI THÁI LAN Phuket Pattaya Nhảy dù
    19. 21. THÁI LAN: CHIẾN DỊCH QUẢNG BÁ VÀ XÚC TIẾN ĐA DẠNG  Ngành du lịch là nguồn thu ngoại tệ chủ yếu và cao hơn các ngành sản xuất khác.  Khuyến khích phát triển nguồn nhân lực, tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ du lịch cả về số lượng và chất lượng  Có những chính sách cụ thể với từng ngành  Thúc đẩy hợp tác giữa khu vực nhà nước và tư nhân  Khôi phục và giữ gìn các tài nguyên du lịch
    20. 22. TRUNG QUỐC
    21. 23. TRUNG QUỐC  Du lịch một ngành kinh tế trọng điểm, trụ cột cần ưu tiên đầu tư phát triển.  Trung Quốc phấn đấu đến năm 2022 sẽ trở thành một cường quốc về du lịch trên thế giới  Chủ đề du lịch được sắp xếp theo từng năm
    22. 24. NĂM CHỦ ĐỀ 1992 Năm Du lịch Trung Quốc (lần I) 1993 Năm Du lịch phong cảnh 1994 Năm Du lịch di tích văn vật cổ 1995 Năm Du lịch phong tục dân gian 1996 Năm Du lịch nghỉ dưỡng nghỉ mát 1997 Năm Du lịch Trung Quốc (lần II) 1998 Năm Du lịch thành phố – làng quê Hoa Hạ 1999 Năm Du lịch môi trường sinh thái 2000 Năm Du lịch Thế kỷ Thần Châu 2001 Năm Du lịch Thể dục sức khoẻ 2002 Năm Du lịch văn hóa nghệ thuật dân gian Trung Quốc 2003 Năm Du lịch vương quốc ẩm thực Trung Hoa 2004 Năm Du lịch đời sống dân dã Trung Quốc 2005 Năm Du lịch Trung Quốc (lần III) 2006 Nông thôn mới, du lịch mới, thể nghiệm mới, thời thượng mới
    23. 25. MALAYSIA : CHÚ TRỌNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI
    24. 26. MALAYSIA : CHÚ TRỌNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI
    25. 27. MALAYSIA : CHÚ TRỌNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI  Thường xuyên nâng cấp trang thiết bị cho ngành du lịch  Duy trì phát triển văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái.  Coi trọng công tác quảng bá sản phẩm du lịch trên cơ sở đa dạng sản phẩm – thỏa mãn khách hàng  Hiện nay Malaysia là quốc gia có nền kinh tế du lịch phát triển vào bậc nhất Đông Nam Á. Chỉ trong vài năm, với chính sách đầu tư hợp lý, ngành du lịch Malaysia đã vươn lên dẫn đầu khu vực.
    26. 28. GIẢI PHÁP CHO DU LỊCH BIỂN VIỆT NAM
    27. 29. PHẠM VI CẢ NƯỚC  Thẳng thắn nhận diện những hạn chế còn tồn tại.  Tập trung vào một số thị trường tiềm năng, đồng thời tìm thị trường mới.  Du lịch Việt Nam quyết tâm tăng cường bám biển, hướng tới mục tiêu phát triển nhanh và bền vững
    28. 30. HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU 1. Đẩy mạnh đầu tư hạ tầng (năng lượng điện, nước sạch, vừa phát triển du lịch, vừa phục vụ nhu cầu của cư dân) 2. Hỗ trợ về giá, thuế cho các doanh nghiệp. Hỗ trợ liên kết phát triển du lịch với các ngành thủy sản, vận tải biển,… 3. Triển khai các dự án phát triển du lịch biển song song với việc bảo vệ môi trường
    29. 31. HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU 4. Tôn vinh văn hóa biển, ẩm thực biển 5. Triển khai tuyến du lịch vì chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc (Hoàng Sa, Trường Sa) 6. Đưa khu bảo tồn biển quốc gia vào danh sách khu bảo tồn thiên nhiên thế giới (UNESCO) 7. Có các chế tài nghiêm khắc xử lí việc khai thác quá mức cho phép hoặc gây ô nhiễm môi trường.
    30. 32. PHẠM VI ĐỊA PHƯƠNG CỤ THỂ  PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DU LỊCH  Sản phẩm du lịch gắn với khai thác giá trị văn hóa, tài nguyên nhân văn  Sản phẩm du lịch gắn với thể thao, giải trí, nghỉ dưỡng biển  Sản phẩm du lịch – tham quan, nghiên cứu về sinh thái
    31. 33. PHẠM VI ĐỊA PHƯƠNG CỤ THỂ  PHÁT TRIỂN KHÔNG GIAN DU LỊCH  Không gian du lịch sinh thái biển đảo  Không gian du lịch sinh thái ven biển  Không gian du lịch văn hóa – lịch sử  Không gian du lịch nghỉ dưỡng, thể thao, giải trí tổng hợp biển
    32. 34. TRỌNG ĐIỂM PHÁT TRIỂN DU LỊCH  Móng Cái – Hạ Long – Cát Bà – Đồ Sơn: Tập trung nhiều tài nguyên du lịch đặc sắc, tiêu biểu là di sản thiên nhiên vịnh Hạ Long, VQG Cát Bà; các bãi biển nổi tiếng như Trà Cổ, Quan Lạn, Cát Bà…
    33. 35. TRỌNG ĐIỂM PHÁT TRIỂN DU LỊCH  Huế – Đà Nẵng – Hội An: Tập trung nhiều tài nguyên du lịch đặc sắc của vùng du lịch Bắc Trung Bộ tiêu biểu là di sản văn hóa thế giới; hệ sinh thái đầm phá lớn nhất Việt Nam; các cảnh quan đặc sắn đèo Hải Vân, Ngũ Hành Sơn…
    34. 36. TRỌNG ĐIỂM PHÁT TRIỂN DU LỊCH  Văn Phong – Nha Trang – Ninh Chữ – Phan Thiết: Tài nguyên du lịch đặc sắc tiêu biểu vịnh Văn Phong, Nha Trang, Cam Ranh với nhiều bãi biển đẹp như Đạ Lãnh, Nha Trang, Cam Ranh….; các hệ sinh thái biểu, hệ sinh thái cát ven biển; 2 khu du lịch tổng hợp vịnh Văn Phong – Đại Lãnh với Nha Trang và khu du lịch biển chuyên đề Phan Thiết – Mũi Né
    35. 37. TRỌNG ĐIỂM PHÁT TRIỂN DU LỊCH  Long Hải – Vũng Tàu – Cần Giờ -Côn Đảo: Ngoài lợi thế về tiềm năng du lịch đặc sản mà tiêu biểu là cảnh quan, các giá trị đa dạng sinh học thì đây được xem là không gian du lịch cuối tuần đặc biệt quan trọng của thành phố HCM và phụ cận – thị trường du lịch lớn nhất Việt Nam.
    36. 38. TRỌNG ĐIỂM PHÁT TRIỂN DU LỊCH  Rạch Giá – Hà Tiên – Phú Quốc: Có vị trí quan trọng đặc biệt đối với phát triển du lịch vùng đồng bằng sông Cửu Long với các giá trị đặc sắc về du lịch tiêu biểu là bãi biền Hòn Chông, Mũi Nai, Phú Quốc…; các hệ sinh thái rừng Tràm, rừng nhiệt đới trên đảo, san hô…; các cảnh quan hòn Phụ Tử, quần đảo Phú Quốc….
    37. 39. PHÁT TRIỂN ĐỒNG BỘ CƠ SỞ HẠ TẦNG DU LỊCH  Đường bộ  Đường không  Đường sắt  Đường biển
    38. 40. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA ĐẤT NƯỚC TRONG TƯƠNG LAI NẰM Ở CHÍNH CÁC BẠN! Ý tưởng Quyết tâm Kiên trì, bền bỉ
    39. 41. CẢM ƠN CÁC BẠN ĐÃ LẮNG NGHE

    --- Bài cũ hơn ---

  • Du Lịch Biển Việt Nam
  • 20 Món Đặc Sản Hà Nội Làm Quà Và Địa Chỉ Mua
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Bụi Tự Túc Đảo Quan Lạn (Phần 1)
  • Tour Cần Thơ 2 Ngày 1 Đêm
  • Nên Chơi Ở Đâu Và Ăn Gì Khi Đi Du Lịch Brussels, Bỉ ?
  • Phát Triển Du Lịch Xanh Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Phiêu Với Những Khu Du Lịch Xanh Mát Giữa Mùa Nắng Sài Thành
  • Tiềm Năng Du Lịch Xanh Của Việt Nam
  • “du Lịch Xanh” Phố Cổ Níu Lòng Du Khách
  • Phát Triển Du Lịch Bằng Xe Đạp Ở Việt Nam
  • 5 Tour Du Lịch Bằng Xe Đạp Tuyệt Vời Nhất Tại Việt Nam
  • Du lịch xanh

    Trước hết, chúng ta cần hiểu khái niệm du lịch xanh là gì? Du lịch xanh là loại hình du lịch dựa vào tự nhiên và văn hóa, có giáo dục môi trường, đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, có sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương. Có thể nói, phát triển du lịch xanh là chìa khóa để phát triển du lịch có trách nhiệm, đảm bảo du lịch bền vững.

    Cốt lõi của du lịch xanh là sản phẩm du lịch xanh. Để đảm bảo là sản phẩm xanh cần đạt các tiêu chí sau: sản phẩm được tạo ra từ các vật liệu thân thiện với môi trường; sản phẩm đem đến những giải pháp an toàn đối với môi trường và sức khỏe; sản phẩm giảm tác động đến môi trường trong quá trình sử dụng; sản phẩm tạo ra một môi trường thân thiện và an toàn đối với sức khỏe. Như vậy, tất cả các dịch vụ, sản phẩm du lịch như tour, sản phẩm, dịch vụ của khách sạn, nhà hàng muốn được công nhận là sản phẩm du lịch xanh đều phải đạt (thực hiện) được các nội dung cơ bản của các tiêu chí trên. Mức độ “xanh” của một sản phẩm du lịch sẽ phụ thuộc nhiều vào mức độ thân thiện môi trường của những yếu tố có khả năng ảnh hưởng đến tính chất tham gia vào việc hình thành nên sản phẩm du lịch.

    Với cách tiếp cận trên, sản phẩm du lịch xanh được hiểu là những sản phẩm du lịch có hàm lượng cao các yếu tố đặc biệt là dịch vụ, thân thiện môi trường, được phát triển phù hợp với các nguyên tắc bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

    Trong xu thế hiện nay, khi sự quan tâm của du khách đến môi trường tự nhiên ngày tăng thì việc phát triển những sản phẩm du lịch xanh có chất lượng cao sẽ góp phần quan trọng vào việc tạo ra tính cạnh tranh và hấp dẫn cao của điểm đến du lịch bên cạnh một số yếu tố khác như mức độ thuận lợi trong tiếp cận điểm đến (thủ tục ra, vào phương tiện); hình ảnh, thông tin về điểm đến.

    Du lịch xanh được áp dụng trong hệthống khách sạn, đơn vị vận chuyển, kinh doanh lữ hành, nhà hàng bằng các biện pháp bảo vệ môi trường: xử lý nước thải tránh ô nhiễm, thu gom triệt để rác thải, giảm tiếng ồn, hạn chế sử dụng túi ni lông, trồng cây xanh.

    Sự phát triển du lịch xanh ở Việt Nam những năm qua

    Việt Nam có tài nguyên du lịch tự nhiên và văn hóa – nhân văn rất phong phú, đa dạng. Đó là điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch xanh. Mặt khác, Việt Nam cũng là một quốc gia chịu ảnh hưởng lớn của biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Do vậy, chúng ta càng cần phải phát triển du lịch xanh, góp phần phát triển một nền kinh tế xanh bền vững.

    Thời gian qua, một số địa phương, công ty lữ hành, khách sạn đã có sự chú phát triển du lịch xanh, như một số tỉnh Tây Bắc, Quảng Bình, Nghệ An… phát triển du lịch cộng đồng; Huế phát triển du lịch nhà vườn; Nha Trang phát triển du lịch biển đảo; một số tỉnh Nam Bộ phát triển du lịch miệt vườn. Nhiều công ty lữ hành xây dựng các tour du lịch xanh; khách sạn đạt chứng chỉ xanh…

    Tuy nhiên, hoạt động du lịch còn tồn tại một số vấn đề khiến cho du lịch xanh chưa được phát triển, cụ thể: phát triển du lịch chưa gắn với khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên, hiệu suất sử dụng tài nguyên thấp; phát triển du lịch chưa gắn kết chặt chẽ với bảo vệ môi trường; phát triển du lịch chưa tính đến biến đổi khí hậu… Việc phát triển quá nhanh đã gây nhiều ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường du lịch. Tại nhiều khu, điểm du lịch xuất hiện các chất thải rắn, rác thải, nước thải chưa thu hồi, xử lý triệt để, việc phát triển du lịch làm gia tăng mức độ tắc nghẽn giao thông, ô nhiễm không khí, nước, tiếng ồn, thay đổi cảnh quan thiên nhiên và thay đổi quân bình môi sinh đối với môi trường sống của sinh vật. Ngày càng có nhiều cơ sở lưu trú, dịch vụ du lịch xây dựng trên các đảo không theo quy hoạch, đã làm tăng nguy cơ xói mòn đường bờ biển, làm suy thoái hệ sinh thái biển đảo. Nước thải chưa qua xử lý từ các cơ sở lưu trú, dịch vụ du lịch xả trực tiếp vào môi trường, làm tăng mức độ hữu cơ nước biển ven bờ. Sự xung đột về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể kinh tế và các ngành, tầm nhìn ngắn hạn và hạn chế về công nghệ dẫn tới một số tài nguyên du lịch bị tàn phá, sử dụng sai mục đích; những tệ nạn xã hội, văn hóa ngoại lai và những hạn chế trong nhận thức về bảo vệ môi trường đã làm giảm hiệu quả kinh tế do du lịch mang lại, làm môi trường xuống cấp, gây ảnh hưởng xấu tới hình ảnh và sự phát triển bền vững của Du lịch Việt Nam. Đây là nguy cơ chính cho du lịch trong giai đoạn tới.

    Bên cạnh đó, vì mục đích kinh tế, với mục tiêu kinh doanh ngắn hạn là nhằm giảm chi phí và tăng thu, tăng lợi nhuận, nhiều công ty du lịch thay vì phải tiến hành điều tra khảo sát xây dựng chương trình tour, đánh giá cung – cầu… để xây dựng sản phẩm du lịch phù hợp với xu thế hướng tới du lịch xanh đã tiến hành việc “sao chép” sản phẩm du lịch của các công ty khác mà chưa thực sự chú ý đến bảo vệ môi trường và sự phát triển lâu dài, bền vững. Đây là tình trạng khá phổ biến hiện nay ở Việt Nam trong phát triển sản phẩm du lịch.

    Chiến lược phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030 đã xác định: “Tập trung đầu tư phát triển các loại hình, sản phẩm du lịch có thể là thế mạnh về tài nguyên du lịch của đất nước và của từng địa phương. Ưu tiên phát triển loại hình du lịch gắn với biển, hải đảo; nhấn mạnh yếu tố văn hóa và sinh thái đặc sắc trong sản phẩm du lịch. Tập trung phát triển các khu du lịch biển tầm cỡ, chất lượng cao, tạo thương hiệu và có sức cạnh tranh trong khu vực và trên thế giới”.

    Những năm vừa qua, khách du lịch đến Việt Nam có xu hướng chọn các tour, các khách sạn, khu du lịch và các dịch vụ, hàng hóa bền vững, có nhãn sinh thái, thân thiện với môi trường. Đó là xu hướng của khách du lịch quốc tế, nhất là khách đến từ các nước châu Âu, Bắc Mỹ, Nhật Bản, Thái Lan. Họ có ý thức và nhu cầu cao về an toàn và sức khỏe, ngày càng nhiều người muốn quay về với thiên nhiên. Theo nghiên cứu của Tổ chức SNV của Hà Lan, 52% du khách có xu hướng thích đặt tour qua các hãng lữ hành được chứng nhận có điều kiện làm việc tốt, tham gia bảo vệ môi trường và hỗ trợ hoạt động từ thiện ở địa phương. Nghiên cứu của Tổ chức Trip Advisor cho thấy, 34% du khách sẵn sàng chi trả thêm để ở những khách sạn thân thiện với môi trường và cho các lựa chọn du lịch bền vững (WEF), 50% du khách quốc tế sẵn sàng chi trả thêm cho những công ty mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương và hoạt động bảo tồn (CESD và TIES). Vì vậy, các cơ sở lưu trú du lịch cần triển khai thực hiện và tập trung tuyên truyền cho những chương trình, dịch vụ thân thiện với môi trường để thu hút khách.

    Từ chiến lược, chính sách phát triển du lịch của Đảng và Nhà nước ta cũng như xu hướng nhu cầu của du lịch thế giới như trên, có thể thấy rằng việc phát triển du lịch xanh được đặt ra như một nội dung chiến lược quan trọng của Du lịch Việt Nam nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong quá trình hội nhập của Du lịch Việt Nam với khu vực và quốc tế và phát triển du lịch xanh, tăng trưởng xanh là hướng phát triển du lịch bên vững của tương lai.

    Để thực hiện được chiến lược trên cần phải thực hiện nhiều giải pháp. Bài viết này chỉ xin nêu một số giải pháp chủ yếu:

    Hai là, nhận thức trên cần được biến thành hành động cụ thể trong việc xây dựng, tổ chức thực hiện và quản lý quy hoạch, trong thẩm định và thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản phẩm du lịch ở các cấp từ trung ương đến địa phương trên phạm vi toàn quốc.

    Những chương trình này cần được xây dựng trên cơ sở những nghiên cứu cơ bản có định hướng về tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn đặc thù, đặc biệt chú trọng đến việc khai thác giá trị di sản thế giới gắn với các văn hóa bản địa; các giá trị văn hóa truyền thống của các vùng, miền, các làng quê Việt Nam và gắn với quá trình xây dựng nông thôn mới. Mặt khác, nhà nước cần có chính sách khuyến khích tăng cường tính “xanh” trong phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, trong các dịch vụ du lịch với những điều kiện cụ thể ở mỗi nơi như ứng dụng năng lượng gió, mặt trời, sử dụng vật liệu tái chế, vật liệu tự nhiên, chế biến rác thải, xử lý nước thải, giảm thiểu tiêu hao xăng, dầu trong giao thông, trong tiêu dùng, an toàn vệ sinh thực phẩm… hoặc khuyến khích các chương trình bảo tồn và truyền bá văn hóa dân gian, dân tộc trong phát triển du lịch. Cần kết hợp chặt chẽ giữa quá trình xây dựng nông thôn mới với phát triển du lịch xanh.

    Ba là, Nhà nước cần xây dựng và ban hành “bộ tiêu chí du lịch xanh”. Trên cơ sở đó các cơ quan quản lý, các doanh nghiệp du lịch vận dụng trong quá trình đầu tư, quy hoạch và kinh doanh. Đồng thời đó cũng là căn cứ để công nhận sản phẩm du lịch xanh như “tour xanh”, “khách sạn xanh”, “nhà hàng xanh”, “khu nghỉ dưỡng xanh”…

    Bốn là, Nhà nước cần tiếp tục mở rộng, phát triển các ý tưởng và tham gia tích cực vào các hoạt động của Công ước quốc tế về bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu, xây dựng nền kinh tế xanh. Phối hợp với UNESCO để làm tốt hơn công tác bảo tồn, phát huy, quảng bá nền văn hóa Việt Nam ra thế giới. Tiếp cận nhanh những kiến thức xanh và công nghệ sạch của cộng đồng khoa học thế giới, của các nước có nền du lịch xanh phát triển, từ đó vận dụng vào phát triển du lịch xanh Việt Nam. Ứng dụng những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 vào việc quản lý phát triển du lịch xanh, chú ý đến quản lý sức chứa của các điểm, khu du lịch; lựa chọn các nguồn khách có chất lượng và khả năng thanh toán cao để giảm quá tải, ô nhiễm cho những vùng nhất định. Có kế hoạch đào tạo ở nước ngoài đối với các cán bộ chuyên môn và cán bộ quản lý để quản lý du lịch xanh, tăng trưởng xanh và kinh tế xanh.

    Năm là, Nhà nước cũng như doanh nghiệp cần đẩy mạnh hơn nữa và đầu tư xứng đáng cho quảng bá, xúc tiến mạnh hơn về du lịch xanh trong phạm vi toàn xã hội, cho khách du lịch bằng nhiều hình thức khác nhau, phương tiện khác nhau nhằm xây dựng một hình ảnh du lịch xanh Việt Nam, một điểm đến thân thiện thu hút đối với du khách.

    Mặc dù có tiềm năng phát triển, song du lịch xanh ở Việt Nam mới ở giai đoạn khởi đầu. Đối với nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam, du lịch xanh còn là loại hình du lịch mới cả về khái niệm lẫn tổ chức quản lý và khai thác tài nguyên phục vụ cho mục đích du lịch. Do đó, nâng cao nhận thức, có chiến lược, có giải pháp đúng đắn để phát triển du lịch xanh là điều có ý nghĩa lý luận và thực tiễn hết sức quan trọng.

    Phát triển du lịch xanh, tăng trưởng xanh là cơ hội và cũng là thách thức, là mục tiêu quan trọng trong phát triển du lịch bền vững, góp phần phát triển kinh tế đất nước.

    2. Trang thông tin của TCDL Việt Nam, Viện NCPT Du lịch

    3. Web: chúng tôi 10/02/2018…

    GS.TS. Nguyễn Văn Đính

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xu Hướng ‘thực Hành Xanh’ Trong Các Khách Sạn Tại Việt Nam
  • Hội Nghị Xúc Tiến Đầu Tư Vào Lĩnh Vực Du Lịch Xanh Vùng Đbscl
  • Khám Phá Cồn Mỹ Phước
  • Khám Phá Cồn Mỹ Phước Điểm Du Lịch Xanh Tại Sóc Trăng
  • Du Lịch Xanh Ở Cần Thơ
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100