Ttlv: Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch Lễ Hội Tại Huế

--- Bài mới hơn ---

  • Du Lịch Mice Ở Việt Nam Đầy Tiềm Năng Trong Thời Hội Nhập
  • Thực Trạng Và Tiềm Năng Phát Triển Của Du Lịch Mice Tại Việt Nam
  • Tiềm Năng Phát Triển Du Lịch Mộc Châu
  • Du Lịch Mộc Châu Và Những Tiềm Năng Phát Triển
  • Thực Trạng Phát Triển Du Lịch Tại Khu Du Lịch Quốc Gia Mộc Châu
  • THÔNG TIN VỀ LUẬN VĂN THẠC SĨ

    1. Họ và tên học viên: Đặng Hùng Sơn

    2. Giới tính: Nam

    3. Ngày sinh:18/09/1970

    4. Nơi sinh: Xã Thanh Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình

    5. Quyết định công nhận học viên cao học số: 1501/2012/QĐ-XHNV-SĐH ngày 6/8/2012 của Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.

    6. Các thay đổi trong quá trình đào tạo: Không

    7. Tên đề tài luận văn: “Nghiên cứu phát triển du lịch lễ hội tại Huế”

    8. Chuyên ngành: Du lịch Mã số:

    9. Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Phạm Hùng, Công tác tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn – Đại học Quốc Gia Hà Nội

    10. Tóm tắt các kết quả của luận văn:

    – Giới thiệu tổng quan về lễ hội: Làm sáng tỏ khái niệm lễ hội, du lịch lễ hội, loại hình du lịch lễ hội. Những yếu tố và nguyên tắc phát triển du lịch lễ hội, các giá trị văn hóa của lễ hội.

    – Giới thiệu các yếu tố tạo nên nét đặc trưng văn hóa riêng của lễ hội tại Huế thông qua khảo sát các lễ hội ở thành phố Huế.

    – Đưa ra một số bài học kinh nghiệm về tổ chức lễ hội trên thế giới và ở Việt Nam (Hội An)

    – Giới thiệu chung về thành phố Huế, tài nguyên du lịch lễ hội tại Huế, đặc điểm nổi bật của các lễ hội tại thành phố Huế và điều kiện hỗ trợ cho du lịch lễ hội tại Huế.

    – Thống kê thị trường khách du lịch lễ hội tại Huế

    – Điều tra, đánh giá được thực trạng, những thuận lợi của các nguồn lực phát triển du lịch lễ hội hiện nay để đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển loại hình du lịch lễ hội tại Huế.

    – Tiến hành thống kê các lễ hội tại thành phố Huế được diễn ra theo từng tháng trong năm để thuận lợi cho việc tổ chức loại hình du lịch lễ hội.

    – Khẳng định việc phát triển loại hình du lịch lễ hội góp phần bảo tồn và phát triển di sản lễ hội và khai thác giá trị lễ hội để phát triển du lịch.

    – Kết hợp được giữa lễ hội và du lịch sẽ tạo thành thế mạnh cho du lịch văn hóa tại Huế phát triển, cụ thể phát triển loại hình du lịch lễ hội tại Huế.

    – Xây dựng các giải pháp về cơ chế chính sách, quy hoạch tổ chức và quản lý lễ hội. Các giải pháp phát triển, thị trường du lịch lễ hội. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực, tuyên truyền quảng bá, hợp tác đầu tư, bảo tồn văn hóa trong hoạt động du lịch lễ hội

    – Đưa ra các kiến nghị với các cơ quan quản lý nhà nước, các doanh nghiệp du lịch, chính quyền địa phương, khách du lịch, cũng như người dân địa phương tham gia trực tiếp vào các hoạt động du lịch lễ hội tại Huế.

    11. Khả năng ứng dụng trong thực tiễn:

    – Phát triển du lịch lễ hội tại Huế, đặc biệt áp dụng vào việc nghiên cứu phát triển lễ hội festival Huế. Đưa ra các giải pháp để các cơ quan quản lý du lịch và chính quyền địa phương có thể xây dựng các chính sách, quy định phù hợp hiệu quả cho phát triển du lịch lễ hội.

    – Góp phần đa dạng hóa, nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, đi đôi với bảo tồn và phát triển văn hóa trong, hoạt động du lịch lễ hội tại Huế.

    12. Những hướng nghiên cứu tiếp theo:

    – Khảo sát đánh giá tác động của du lịch lễ hội đối trong phát triển văn hóa, kinh tế và bảo tồn các lễ hội tại Huế./.

    INFORMATION ON MASTER’S THESIS

    1. Full name: Dang Hung Son 2. Sex: Male

    3. Date of birth: 18/09/1970. 4. Place of birth: Dong Hoi – Quang Binh

    5. Admission decision number: 1501/2012/QĐ-XHNV-SĐH, Deted 6/8/2012 of the University of Social Sciences anh Humanities, Vietnam National University, Hanoi.

    6. Changes in academic process: No

    7. Official thesis title: ” Research development of Festival tourism in Hue”

    8. Major: Tourism Code:

    9. Supervisors: Dr. Nguyen Pham Hung, the University of Social Sciences and Humanities, Vietnam National University, Hanoi.

    10. Summary the findings of the thesis:

    – Overview of the festival : Clarifying the concept festival, festival tourism , types of tourism festivals. The elements and principles of development of tourism festivals and cultural values ​​of the festival .

    – The relationship between the festival with tourist activities to contribute to the exploitation of the festival , creating tourism products of local characteristics .

    – Introduction to the elements that make up its own cultural characteristics of the Hue Festival through surveying the festivities in the city of Hue .

    – Give some lessons and experiences learned about organizing festivals in the world and in Vietnam (Hoi An)

    – Overview of Hue city, tourism resources of the Hue Festival, features of the festival in Hue and conditional support tourism in Hue Festival .

    – Statistics tourist market in Hue Festival

    – Enumerating the festivities in the city of Hue is happening in each month of the year to facilitate the organization of this kind of festival tourism.

    – Confirmed the development of tourism festivals contribute to the conservation and development of heritage and exploitation festival festive value for tourism development.

    – Matching between festivals and tourism will form strong cultural tourism in Hue development, specifically developed forms of tourism in Hue Festival.

    – Giving recommendations, Proposing solutions to the state authorities, tourism businesses, local authorities, tourists, as well as local people directly involved in tourism activities in Hue Festival .

    – Providing suggestions for tourism management agencies, local government and tourists as well as local people participating directly in tourism activities in the festival tourism in Hue.

    11. Practical applicability:

    – Developing tourism in Hue festival , especially applicable to the study of developmental Festival Hue festival . Provide solutions to the tourism authorities and local governments can develop policies and appropriate regulations for the effective development of tourism festivals.

    – Contribute to persify and improve the quality of tourism products, coupled with conservation and development of culture in , tourism activities in Hue Festival .

    12. The following research directions :

    – Survey and assess the impact of the festival tourism development on cultural , economic and conservation in Hue./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lễ Hội Dân Gian Và Sự Phát Triển Du Lịch
  • Lào Cai Phát Triển Du Lịch Thông Minh
  • Phát Triển Du Lịch Lào Cai Xứng Tầm Lợi Thế, Tiềm Năng
  • Khái Niệm Phát Triển Sản Phẩm Du Lịch
  • Phát Triển Du Lịch Bền Vững (Sustainable Tourism Development) Là Gì?
  • Nghiên Cứu Kinh Nghiệm Trong Định Hướng Phát Triển Sản Phẩm Du Lịch Của Một Số Nước Asean – Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch (Itdr)

    --- Bài mới hơn ---

  • Kinh Nghiệm Về Xây Dựng Chiến Lược Phát Triển Du Lịch Của Thái Lan – Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch (Itdr)
  • Du Lịch Thái Lan Tìm Cách Sống Còn Và Đi Tìm Bản Sắc Mới
  • Đà Nẵng: Phát Triển Du Lịch Chất Lượng Cao, Có Thương Hiệu, Có Khả Năng Cạnh Tranh Quốc Tế
  • Toạ Đàm “Làm Thế Nào Để Du Lịch Hội An Tốt Hơn?”
  • Kiến Thiết Cơ Chế, Chính Sách Cho Hội An
  •    1. Thái Lan – Văn hóa Thái là lợi thế cạnh tranh trong phát triển sản phẩm du lịch

       2. Singapore – Du lịch MICE khẳng định thế mạnh

       Singapore là một quốc đảo nhỏ, tài nguyên hạn chế, nhưng đã biết phát huy triệt để tiềm năng, thế mạnh về vị trí địa lý và nguồn lực con người để có những bước phát triển vượt bậc. Diện tích quốc đảo chỉ có 710 km2 nhưng có đến 5,2 triệu người đang sinh sống, làm việc ở đây, trong đó có gần 2 triệu người nước ngoài. Trong các thành công của Singapore thời gian qua phải kể đến sự thành công của chính sách phát triển du lịch phù hợp cho từng giai đoạn của Chính phủ Singgapore.

       Từ năm 1965 đến nay, Singapore đã hoạch định chiến lược, xây dựng 6 kế hoạch phát triển du lịch khác nhau, đó là: “Kế hoạch Du lịch Singapore” (năm 1968), “Kế hoạch Phát triển du lịch” (năm 1986), “Kế hoạch Phát triển chiến lược” (năm 1993), “Du lịch 21” (năm 1996), “Du lịch 2022” (năm 2005), “Địa giới du lịch 2022” (năm 2012).

       Với “Kế hoạch phát triển du lịch” (năm 1986), Singapore chủ trương bảo tồn và khôi phục các khu lịch sử văn hóa như: Khu phố của người Hoa, Tanjong Tagar, Little India, Kampong Glam, sông Singapore. Với “Kế hoạch Phát triển chiến lược” (năm 1993), Singgapore tập trung phát triển các sản phẩm du lịch mới như: du thuyền, du lịch chữa bệnh, du lịch giáo dục, du lịch trăng mật; phát triển các thị trường du lịch mới; tổ chức các lễ hội lớn mang tầm cỡ quốc tế; tập trung phát triển nguồn nhân lực phục vụ du lịch; trao các giải thưởng về du lịch; giáo dục, nâng cao nhận thức của người dân về du lịch…

       Năm 1996, Singapore triển khai “Du lịch 21”, chuẩn bị và thực hiện tầm nhìn dài hạn cho sự phát triển của du lịch trong Thế kỷ 21, với các chiến lược thị trường du lịch mới nổi, chiến lược du lịch khu vực, chiến lược phát triển sản phẩm du lịch mới, chiến lược nguồn vốn du lịch, chiến lược “Nhà vô địch du lịch Singapore”.

       Trong “Du lịch 2022”, Singapore tập trung phát triển các thị trường chính với phương châm tạo sự hiểu biết tốt hơn về Singapore, phát triển Singapore thành một điểm du lịch “phải đến”, cải thiện tiêu chuẩn dịch vụ nhằm cung cấp các dịch vụ đáng nhớ cho khách du lịch, nâng cấp cơ sở hạ tầng du lịch, phát triển các doanh nghiệp du lịch và nguồn nhân lực du lịch chuyên nghiệp, phát triển các sản phẩm trọng tâm của du lịch… Năm 2012, Singgapore chi 300 triệu đô Sing để tổ chức các sự kiện du lịch, chi 340 triệu đô Sing phát triển các sản phẩm du lịch, chi 265 triệu đô Sing phát triển nguồn nhân lực du lịch. Đến năm 2022, Singapore đầu tư cho Quỹ phát triển du lịch là 2 tỷ đô Sing, dự kiến đón khoảng 17 triệu khách du lịch quốc tế và doanh thu từ du lịch khoảng 30 tỷ đô Sing.

       Singapore xây dựng chiến lược phát triển du lịch MICE, xác định đưa quốc gia này trở thành cường quốc dẫn đầu trong khu vực Châu Á về du lịch hội nghị hội thảo. Đồng thời, Singapore sẽ phát triển trở thành trung tâm dịch vụ và nghỉ dưỡng của khu vực. Chiến lược này xác định ra các dự án du lịch lớn cần phải thực hiện như Giải đua công thức 1 (Formula OneTM Singapore Grand Prix), Khu phức hợp nghỉ dưỡng (Integrated Resorts) và Vòng đu quay khổng lồ (Singapore Flyer)…

       Xác định phát triển du lịch MICE là trọng tâm: với lợi thế về vị trí địa lý, hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại, là trung tâm của các hoạt động giao thương lớn trong khu vực, Singapore xác định phát triển du lịch MICE là trọng tâm của chiến lược phát triển sản phẩm du lịch.

       Từ năm 1971, quốc gia này đã xúc tiến hình ảnh “Trung tâm hội nghị của phía Đông”, cùng với việc thành lập Cục phát triển Hội nghị Singapore năm 1974 (Singapore Convention Bureau – SCB) với nhiệm vụ xây dựng nhận thức cho cả thế giới về châu Á – một điểm đến tổ chức hội nghị hội thảo và nghĩ đến Singapore – điểm đến MICE tốt nhất ở Châu Á.

       Xác định được mục tiêu, Singapore bắt tay với các khách sạn lớn hàng đầu thế giới phát triển các trung tâm hội nghị, các nhà đầu tư tư nhân để phát triển các cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại. Đến cuối những năm 1990, Singapore đã có đủ các cơ sở hạ tầng, VCKT cần thiết để tổ chức các sự kiện MICE tầm cỡ thế giới như Suntec Singapore International Convention, Exhibition Centre và the Singapore Expo.

       Đến năm 1996, SCB đổi tên thành Cục phát triển Hội nghị và Triển lãm Singapore (SECB) để mở rộng sang lĩnh vực tổ chức triển lãm. Cùng với đó là sự hợp tác với các bên đối tác là doanh nghiệp trong lĩnh vực tổ chức sự kiện, lữ hành để nâng cao chất lượng trải nghiệm du lịch MICE cho khách hàng là người đi du lịch công vụ.

       Hiện nay, Singapore đã trở thành điểm đến dẫn đầu thế giới về du lịch MICE, lĩnh vực này đóng góp hơn 30% vào tổng thu từ du lịch của quốc gia. Dù vậy, quốc gia này vẫn nỗ lực để thay đổi, phát triển không ngừng, để duy trì vị trí dẫn đầu.

       3. Malaysia – du lịch nghỉ dưỡng

       4. Indonesia – du lịch sinh thái và cộng đồng

       Indonesia đã xây dựng xong chiến lược tổng thể phát triển du lịch đến năm 2025, theo đó tư tưởng chính sẽ tập trung nâng cao chất lượng du lịch. Mục đích của chiến lược phát triển du lịch đến năm 2025 của Indonesia sẽ phát triển khoảng 50 điểm đến quy mô quốc gia với một số “hành lang du lịch”, lượng khách quốc tế dự kiến đến thời điểm này dự kiến đạt 25 triệu lượt người. Cùng với chiến lược là một kế hoạch phát triển đến năm 2022 cũng đã hoàn tất với nội dung tập trung phát triển 3 loại hình du lịch chính là du lịch sinh thái, du lịch nông thôn và du lịch biển. Đối với du lịch nông thôn sẽ triển khai trên 54 điểm, du lịch sinh thái là 50 điểm ở các vườn quốc gia.

       Indonesia có chủ trương phát triển du lịch dựa vào cộng đồng. Chính phủ hỗ trợ phát triển bằng việc cho thuê đất với giá rẻ để cộng động làm du lịch, đồng thời hướng dẫn và đào tạo cộng đồng về nghiệp vụ du lịch. Các sản phẩm chính được định hướng: du lịch di sản, du lịch sinh thái, du lịch đánh golf, du lịch lặn biển, du lịch MICE. Ở Indonesia, Vụ Thị trường của Cục Xúc tiến Indonesia có nhiệm vụ theo dõi diễn biến thị trường, định hướng và tổ chức các hoạt động xúc tiến quảng bà du lịch ở cấp quốc gia. Từ việc theo dõi thị trường và đánh giá tình hình, xu hướng phát triển kinh tế – xã hội và du lịch, Indonesia chuyển hướng thu hút thị trường khách du lịch ASEAN. Ngân sách xúc tiến quảng bá du lịch năm 2010 của Indonesia vào khoảng 40 triệu USD.

       Đối với việc phát triển sản phẩm du lịch, đặc biệt tại địa bàn đảo Bali – một trong những điểm du lịch nổi bật của Indonesia thì những thành công chính nằm ở vấn đề như tôn trọng ý kiến, tập tục và tư duy của người bản địa; nâng cao nhận thức về phát triển du lịch theo một quá trình; ban hành các quy định chặt chẽ và rõ ràng về kiến thức, có quan điểm bảo tồn và giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống.

     

    ThS. Nguyễn Hoàng Mai – Phòng QLKH&HTQT

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phát Huy Lợi Thế Biển Đà Nẵng Trong Phát Triển Du Lịch
  • Bảo Tồn, Phát Huy Di Sản Văn Hóa Hội An Từ Chính Sách Đến Thực Tiễn
  • Mấy Đề Xuất Về Phát Triển Du Lịch Hội An
  • An Giang Tập Trung Nâng Cao Chất Lượng Dịch…
  • Hội Nông Dân Việt Nam Tỉnh An Giang
  • Đề Án “Phát Triển Du Lịch Biển, Đảo Và Vùng Ven Biển Đến Năm 2022” – Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch (Itdr)

    --- Bài mới hơn ---

  • Quy Hoạch Tổng Thể Phát Triển Du Lịch Thành Phố Cần Thơ Thời Kỳ 2010 Định Hướng Đến 2022 – Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch (Itdr)
  • Đề Xuất Hội An Là Trung Tâm Của Chiến Lược Quảng Bá Du Lịch
  • Chiến Lược Phát Triển Du Lịch Việt Nam Đến Năm 2022, Tầm Nhìn Đến Năm 2030 – Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch (Itdr)
  • Quảng Ninh: Động Lực Phát Triển Từ Các Quy Hoạch Chiến Lược
  • Du Lịch Quảng Ninh: Sẵn Sàng Cho Những Bước Tiến Mới
  •    Việt Nam có vị trí địa lý chiến lược thuận lợi về biển. Lãnh thổ đất liền của Việt Nam được bao bọc bởi bờ biển Đông trải dài trên 3.200 Km trên 3 hướng : Đông, Nam và Tây Nam. Trung bình cứ 100 Km2 diện tích đất liền Việt Nam có 1 Km bờ biển, tỷ lệ vào loại cao so với tỷ lệ trung bình của thế giới (600 Km2 đất liền mới có 1 Km bờ biển). Bờ biển của Việt Nam trải dài từ Bắc xuống Nam vì thế biển có vị trí đặc biệt trong phát triển kinh tế – xã hội và đảm bảo an ninh quốc phòng của đất nước.

       Biển Đông với diện tích khoảng 3,4 triệu km2 được bao bọc bởi 9 nước là Việt Nam, Trung Quốc (bao gồm cả Đài Loan), Phillipine, Malaysia, Bruney, Indonesia, Thailand, Campodia và Singapore, là một biển lớn có tầm quan trọng thứ 2 trên thế giới sau biển Địa Trung Hải; là một bộ phận quan trọng của khu vực Châu Á – Thái Bình Dương; là một đầu mối giao thông hàng hải, hàng không huyết mạch giữa Châu Âu, Trung Đông, Châu Á và giữa các nước Châu Á với nhau. Khu vực này được đánh giá là một trong những khu vực phát triển kinh tế năng động nhất ở Châu Á – Thái Bình Dương và trên thế giới.

       Việt Nam nằm ở trung tâm Biển Đông, vì vậy Biển Đông có vị trí vô cùng quan trọng đối với Việt Nam về các mặt chiến lược, kinh tế, an ninh quốc phòng trước mắt và lâu dài. Vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của Việt Nam chứa đựng nhiều tài nguyên thiên nhiên đa dạng và phong phú, trong đó trước hết là cá biển với trữ lượng khoảng 3 triệu tấn, cho phép khai thác từ 1,2 đến 1,4 triệu tấn /năm; dầu khí với trữ lượng khoảng 10 tỷ tấn dầu, 250-300 tỷ m3 khí đồng hành. Với diện tích và vị trí địa lý thuận lợi về biển, biển Việt Nam vừa là điều kiện để liên kết kinh tế giữa các vùng, các miền trong nước, vừa là cửa ngõ thông thương giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới.

       Ngoài các quần đảo Hoàng Sa (thuộc TP. Đà Nẵng) và Trường Sa (thuộc tỉnh Khánh Hòa) ở vùng biển khơi, hệ thống đảo ven bờ Việt Nam có khoảng 2.773 hòn đảo lớn nhỏ, với tổng diện tích phần đất nổi là 1.720 Km2, trong đó chủ yếu là các đảo nhỏ, chỉ có 84 đảo có diện tích từ 1,0 Km2 trở lên. Đảo Phú Quốc (558 Km2), đảo Cái Bàu (194 Km2), đảo Cát Bà (160 Km2) là những đảo ven bờ có diện tích lớn nhất.

       Lãnh thổ vùng đất ven biển, vùng biển và hệ thống các đảo nơi diễn ra du lịch biển, đảo và vùng ven biển (sau đây gọi tắt là du lịch biển), về mặt hành chính bao gồm 28 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển với diện tích tự nhiên là 126.747 Km2,, dân số (2010) là 37,2 triệu bằng 38,2% diện tích tự nhiên và 41,1% dân số cả nước (Phụ lục 1). Lãnh thổ du lịch biển là nơi hội tụ nhiều điều kiện thuận lợi với nguồn tài nguyên tự nhiên đa dạng và phong phú cho phát triển kinh tế – xã hội đặc biệt là du lịch bởi trên lãnh thổ này hiện tập trung tới 07/13 di sản thế giới ở Việt nam; 06/08 các khu dự trữ sinh quyển; nhiều vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên; nhiều di tích văn hoá – lịch sử; v.v.

       Ở Việt Nam, du lịch biển có vai trò đặc thù và vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển du lịch của cả nước. Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2010 và Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2010 đư¬ợc Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đã xác định 7 khu vực trọng điểm ưu tiên phát triển du lịch, trong số đó đã có tới 5 khu vực là thuộc dải ven biển. Mặc dù cho đến nay, nhiều tiềm năng đặc sắc của du lịch biển, đặc biệt là hệ thống đảo, bao gồm cả quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, chưa được đầu tư khai thác một cách tương xứng, cho dù ở dải ven biển hiện đã có tới 70% các khu, điểm du lịch trong cả nước, hàng năm thu hút khoảng 48-65% lượng khách du lịch.Thu nhập từ hoạt động du lịch biển chiếm tỷ trọng cao trong thu nhập du lịch Việt Nam. 

       Du lịch biển phát triển góp phần thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành kinh tế khác; tạo thêm nhiều việc làm cho xã hội dải ven biển, nơi hiện có khoảng 21,2 triệu ng¬ười trong độ tuổi lao động và góp phần đảm bảo an ninh quốc phòng, bảo vệ môi trường biển. 

       Với không gian rộng lớn của dải ven biển với hàng ngàn đảo ven bờ và 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, du lịch biển với nhiều sản phẩm đặc thù, đóng vai trò rất quan trọng trong Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam. Bên cạnh các dự án phát triển du lịch ở dải đất ven biển, các dự án quy mô lớn phát triển du lịch đảo sẽ là những điểm nhấn, là động lực chính phát triển du lịch biển Việt Nam.

       Trong phát triển kinh tế biển nói chung và du lịch biển nói riêng hiện đang đứng trước những vấn đề lớn về môi trường, trong đó có vấn đề ô nhiễm, tai biến và sự cố môi trường biển, và vấn đề mực nước biển dâng, ảnh hưởng đến phát triển bền vững. Điều này đòi hỏi cần có những nghiên cứu lồng ghép các mục tiêu phát triển du lịch biển trong mối quan hệ với môi trường nhằm đảm bảo được sự phát triển du lịch bền vững.

       Phát triển du lịch biển là một nhiệm vụ quan trọng nhằm đẩy mạnh phát kinh tế biển Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết số 27/2007/NQ-CP ngày 30/5/2007 của Chính phủ nhằm thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2022”. 

       Trong bối cảnh trên, việc nghiên cứu xây dựng Đề án “Phát triển du lịch biển, đảo và vùng ven biển Viêt Nam đến năm 2022” là một nhiệm vụ quan trọng nhằm xác định rõ các định hướng phát triển chủ yếu của du lịch biển trong mối quan hệ với Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam; với các mục tiêu chiến lược về phát triển kinh tế biển; đảm bảo khai thác có hiệu quả những tiềm năng và lợi thế về du lịch biển gắn với việc đảm bảo an ninh quốc phòng và phù hợp với xu thế hội nhập của Việt Nam với khu vực và quốc tế.

       2. Mục tiêu và giới hạn của Đề án

       Mục tiêu của đề án là xác định những định hướng dài hạn và tổng hợp, toàn diện về du lịch biển thời kỳ đến năm 2022, góp phần đưa du lịch biển trở thành ngành mũi nhọn của kinh tế biển vào năm 2022 góp phần thực hiện mục tiêu “Phấn đấu đến năm 2022 đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền quốc gia trên biển, đảo, góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, làm cho đất nước giàu mạnh” (Nghị quyết 09/NQ-TƯ ngày 9/2/2007 của Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2022) và góp phần đưa du lịch trở thành ngành kinh tế có đóng góp quan trọng vào phát triển KT-XH của đất nước.

       Giới hạn về lãnh thổ nghiên cứu của Đề án là vùng biển quốc gia, hải đảo (bao gồm cả quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa) và vùng đất ven biển thuộc 28 tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương có biển

       Tuy nhiên do hoạt động du lịch biển diễn ra chủ yếu ở không gian của 138 thành phố (thuộc tỉnh), huyện/thị có biển (sau đây được gọi là dải ven biển), và 12 huyện đảo (Phụ lục 2), việc nghiên cứu, đặc biệt là phân tích các nguồn lực phát triển du lịch biển, những vấn đề tác động đến du lịch biển, sẽ được tập trung nhiều hơn đối với dải ven biển, vùng nước biển ven bờ và hệ thống các đảo.

       Về mặt thời gian, Đề án này bao quát chủ yếu cho thời kỳ 10 năm từ 2011 – 2022. Tuy nhiên tuỳ thuộc từng vấn đề, do yêu cầu phát triển, đòi hỏi có tầm nhìn xa hơn tới 30 – 50 năm.

       Thời gian để phân tích hiện trạng tập trung vào thời kỳ 2000 – 2008.

       3. Phương pháp xây dựng Đề án

       Các phương pháp chủ yếu được sử dụng trong nghiên cứu xây dựng Đề án bao gồm:

       4. Căn cứ pháp lý thực hiện Đề án

       – Luật Du lịch (44/2005/QH11 ngày 15/6/2005) và Nghị định 92/2007/NĐ-CP ngày 1/6/2007 của Chính phủ về việc hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều tại Luật Du lịch;

       – Luật Di sản Văn hóa và Nghị định 92/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 của Chính phủ về việc hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều tại Luật Di sản Văn hóa;

       – Nghị quyết 09/NQ-TƯ ngày 9/2/2007 của Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2022;

       – Nghị quyết số 27/2007/NQ-CP ngày 30/5/2007 của Chính phủ Ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2022;

       – Nghị định số 25/2009/NĐ-CP ngày 6/3/2009 của Chính phủ về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo;

       – Quyết định số 373/QĐ-TTg ngày 23/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đẩy mạnh công tác tuyên truyền về quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững biển và hải đảo;

       – Quyết định số 568/QĐ-TTg ngày 28/4/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phát triển kinh tế đảo Việt Nam đến năm 2022;

       – Quyết định số 1601/QĐ-TTg ngày 15/10/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phát triển vận tải biển Việt Nam đến năm 2022 và định hướng đến năm 2030;

       – Quyết định số 97/2002/QĐ-TTg ngày 22/7/2002 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam thời kỳ 2001 – 2010;

       – Quyết định số 307/QĐ-TTg ngày 24/5/1995 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt QHTT Phát triển du lịch Việt Nam thời kỳ 1995 – 2010;

       – Quyết định số 2473/QĐ-TTg ngày 30/12/2011 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030;

       – Quyết định số 201/QĐ-TTg ngày 22/1/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030;

       – Quyết định số 1482/QĐ-BVHTTDL ngày 21/4/2009 của Bộ trưởng Bộ VHTTDL về việc giao nhiệm vụ lập Đề án Phát triển du lịch biển, đảo và vùng ven biển Việt Nam đến năm 2022;

       – Quyết định số 160/QĐ-TCDL, ngày 29/4/2009 của Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch phê duyệt đề cương, dự toán kinh phí thực hiện Đề án Phát triển du lịch biển, đảo và vùng ven biển Việt Nam đến năm 2022.

         Ngày 15/8/2013, Bộ trưởng Bộ VHTT & DL đã ký Quyết định số 2782/QĐ-BVHTTDL Về việc Phê duyệt Đề án “Phát triển du lịch biển, đảo và vùng ven biển Việt Nam đến năm 2022”. Toàn văn quyết định: QĐ_PD_Biển_Đảo.pdf

     

     

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Marketing Du Lịch Là Gì? 10 Phương Pháp Marketing Du Lịch Nổi Bật
  • Lan Tỏa Chiến Dịch ‘việt Nam An Toàn’ Tới Bạn Bè Quốc Tế
  • “why Not Vietnam?” Chiến Dịch Quảng Bá Du Lịch Việt Hậu Covid
  • 03 Chiến Dịch Xuất Sắc Quảng Bá Thương Hiệu Quốc Gia Của Thái Lan
  • Chiến Dịch Quảng Bá Du Lịch Thái Lan Cực Sáng Tạo Và Quy Mô
  • Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch Triển Khai Công Tác Năm 2013

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Khai Tờ Khai Xin Visa Hungary
  • Dịch Vụ Làm Visa Hà Lan Trọn Gói Tại Hà Nội Và Hồ Chí Minh
  • Việt Nam Có Mấy Vùng Kinh Tế Trọng Điểm?
  • Canada Và Việt Nam Có Tiềm Năng Rất Lớn Để Hợp Tác Phát Triển Du Lịch
  • Việt Nam Học (Văn Hóa Du Lịch)
  • Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch triển khai công tác năm 2013

    (VTR) – Ngày 31/1/2013, Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch đã tổ chức hội nghị tổng kết công tác năm 2012 và triển khai nhiệm vụ năm 2013. Tham dự hội nghị có Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Hoàng Thị Điệp và đại diện các vụ, đơn vị thuộc Tổng cục Du lịch.

    Phát biểu khai mạc Hội nghị, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch, TS. Hà Văn Siêu nêu rõ: Năm 2012, Viện đã cơ bản hoàn thành theo tiến độ và chất lượng tốt các nhiệm vụ chính được giao. Nhiều nhiệm vụ đã hoàn thành tốt và được Tổng cục Du lịch đánh giá cao như triển khai quy hoạch 3 vùng du lịch đạt tiến độ, chất lượng; tổ chức thành công Hội thảo quốc tế tại Hạ Long, Quảng Ninh và nhiều nhiệm vụ khác. Năm 2012, Viện đã chủ động xúc tiến quy hoạch du lịch các địa phương. Thực hiện các dự án tư vấn giúp địa phương xây dựng quy hoạch phát triển du lịch. Phối hợp, liên kết với các đơn vị để tăng thêm nguồn thu cho Viện, góp phần tăng thu nhập cho viên chức và người lao động…

    Phát biểu tại Hội nghị, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch, TS. Hoàng Thị Điệp đánh giá cao những kết quả của tập thể Viện đã đạt được trong năm vừa qua, đặc biệt là đã hoàn thành các đề án phát triển du lịch. Trong năm 2013, Viện cần tiếp tục phát huy những kết quả đạt được, thực hiện tốt việc phổ biến, triển khai Quy hoạch tổng thể phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2022, tầm nhìn 2030; tổ chức triển khai các đề án năm 2013 theo kế hoạch; đồng thời, chú trọng việc nâng cao đời sống cho viên chức và người lao động của Viện…

    Ghi nhận những đóng góp của Viện trong năm 2012, Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch đã tặng Giấy khen cho tập thể và bốn cá nhân xuất sắc của Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch.

    Nguyễn Vũ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch, 30 Năm Gắn Liền Với Sự Phát Triển Của Du Lịch Việt Nam
  • Một Năm Thành Công Của Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch
  • Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch Kỷ Niệm 30 Năm Thành Lập
  • Viết Về Du Lịch Và Các Giải Pháp Thu Hút Du Khách Đi Du Lịch Khi Hết Dịch Covid 19
  • Top 10 Website Du Lịch Nổi Tiếng Nhất Việt Nam
  • Một Năm Thành Công Của Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch

    --- Bài mới hơn ---

  • Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch, 30 Năm Gắn Liền Với Sự Phát Triển Của Du Lịch Việt Nam
  • Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch Triển Khai Công Tác Năm 2013
  • Hướng Dẫn Khai Tờ Khai Xin Visa Hungary
  • Dịch Vụ Làm Visa Hà Lan Trọn Gói Tại Hà Nội Và Hồ Chí Minh
  • Việt Nam Có Mấy Vùng Kinh Tế Trọng Điểm?
  • Bên cạnh đó, Viện NCPTDL còn làm đầu mối chuẩn bị và tổ chức thành công Hội nghị phát triển du lịch kết nối di sản ASEAN trong thời đại công nghệ số trong khuôn khổ Diễn đàn Du lịch ASEAN và thực hiện nhiệm vụ đón tiếp đại biểu tham dự ATF 2022 theo kế hoạch và phân công nhiệm vụ…

    Năm 2022, nhiệm vụ nghiên cứu KHCN, môi trường, xây dựng tiêu chuẩn và nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng cũng được Viện NCPTDL quan tâm và đẩy mạnh thực hiện, cụ thể: Hoàn thành nghiệm thu 2 đề tài NCKH cấp Bộ: “Nghiên cứu phát triển loại hình sản phẩm du lịch đô thị ở Việt Nam” và “Nghiên cứu phát triển du lịch làng nghề vùng Đồng bằng sông Cửu Long”; Triển khai mới 2 đề tài NCKH cấp Bộ 2022- 2022; hoàn thành nội dung công việc theo kế hoạch 2022 của 2 đề tài: “Nghiên cứu chuỗi giá trị du lịch – ứng dụng cho khu vực Đồng bằng sông Cửu Long” và “Phát triển sản phẩm du lịch gắn với nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao – Nghiên cứu trường hợp khu vực Tây Nguyên”…

    Đối với nhiệm vụ tiêu chuẩn quốc gia, trong năm 2022, Viện NCPTDL tiếp tục thực hiện 2 dự án xây dựng TCVN: Dự án xây dựng TCVN 2022-2018 “Hệ thống quản lý sự kiện bền vững – các yêu cầu áp dụng trong lĩnh vực du lịch” và dự án xây dựng TCVN 2022-2018 về Du lịch mạo hiểm “…

    Song song đó, Viện NCPTDL đã tư vấn giúp các địa phương xây dựng quy hoạch, đề án phát triển du lịch, cụ thể: Phối hợp cùng UBND tỉnh Tuyên Quang tổ chức Hội nghị công bố “Quy hoạch tổng thể phát triển Khu du lịch quốc gia Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang đến năm 2030” tại Tuyên Quang; Dự án “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đến năm 2025 và định hướng đến năm 2030”; Dự án “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Ninh Bình đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”; Tổ chức triển khai, hoàn thiện 2 đề án phát triển du lịch, dự kiến hoàn thành nghiệm thu trong tháng 1/2019: Đề án “Phát triển du lịch TP. Lạng Sơn giai đoạn 2022-2025, tầm nhìn đến năm 2030” và Đề án “Phát triển du lịch huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2022-2025, tầm nhìn đến năm 2030″…

    Tập trung các nhiệm vụ trọng tâm

    Năm 2022, trên cơ sở phát huy những kết quả đạt được, khắc phục những hạn chế, tồn tại, Viện NCPTDL tập trung thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm sau:

    Bên cạnh đó, Viện NCPTDL triển khai thực hiện đề tài thuộc Chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp Bộ lĩnh vực Du lịch “Phát triển Du lịch theo hướng tăng trưởng xanh” theo hợp đồng được ký; triển khai các nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng, nhiêm vụ thuộc Chương trình hành động quốc gia về du lịch sau khi được cấp thẩm quyền phê duyệt.

    Cùng với đó, Viện NCPTDL tiếp tục xây dựng kế hoạch hợp tác quốc tế, tăng cường hợp tác với các tổ chức, viện nghiên cứu, các trường đại học trong và ngoài nước; thực hiện các dự án tư vấn phát triển du lịch cho các địa phương (chiến lược, đề án phát triển du lịch…).

    Với sự phấn đấu, nỗ lực của các tập thể, cá nhân, Viện NCPTDL đã hoàn thành tốt các nhiệm vụ trong năm 2022. Kết quả bình xét các danh hiệu cho các tập thể, cá nhân: 6 tập thể lao động xuất sắc; 8 Chiến sỹ thi đua cơ sở, 33 Lao động tiên tiến. Viện NCPTDL cũng đề nghị cấp trên xét tặng các danh hiệu cho tập thể, cá nhân: Tập thể lao động xuất sắc; Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ cho tập thể Viện; Giấy khen của Tổng cục trưởng cho 4 cá nhân

    Quang vinh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch Kỷ Niệm 30 Năm Thành Lập
  • Viết Về Du Lịch Và Các Giải Pháp Thu Hút Du Khách Đi Du Lịch Khi Hết Dịch Covid 19
  • Top 10 Website Du Lịch Nổi Tiếng Nhất Việt Nam
  • Video Vui Nhộn Quảng Bá Du Lịch Hàn Quốc Có Sự Tham Gia Của Leenalchi
  • Tăng Cường Hoạt Động Truyền Thông Du Lịch
  • Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch Kỷ Niệm 30 Năm Thành Lập

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Năm Thành Công Của Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch
  • Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch, 30 Năm Gắn Liền Với Sự Phát Triển Của Du Lịch Việt Nam
  • Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch Triển Khai Công Tác Năm 2013
  • Hướng Dẫn Khai Tờ Khai Xin Visa Hungary
  • Dịch Vụ Làm Visa Hà Lan Trọn Gói Tại Hà Nội Và Hồ Chí Minh
  • Chặng đường 30 năm xây dựng, trưởng thành và phát triển của Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch luôn gắn liền với lịch sử phát triển của ngành Du lịch Việt Nam và trải qua nhiều dấu mốc lịch sử quan trọng.

    Để các kết quả nghiên cứu được sử dụng có hiệu quả trong thực tiễn, cũng như phục vụ công tác quản lý, nghiên cứu, đào tạo Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch chú trọng đẩy mạnh phổ biến, thông tin khoa học thông qua việc phát hành “Báo cáo hoạt động khoa học công nghệ” hàng năm; xây dựng trang thông tin điện tử (http://www.itdr.org.vn); không ngừng củng cố và bổ sung tài liệu mới cho thư viện và thư viện điện tử (trên 2.000 đầu sách).

    Thời gian này, Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch đang tập trung hoàn thiện Dự thảo Chiến lược phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tổng cục Du lịch nhằm định hướng phát triển du lịch cho giai đoạn phát triển mới, phù hợp với tinh thần Nghị quyết 08/NQ-TW của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.

    Phát biểu tại buổi lễ, ông Lê Quang Tùng – Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Cán sự Đảng, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch khẳng định, những thành tựu to lớn và toàn diện trên các lĩnh vực xây dựng và hoạch định chính sách, xây dựng chiến lược, quy hoạch ngành, quy hoạch vùng và địa phương, các lĩnh vực nghiên cứu cơ bản, ứng dụng khoa học kỹ thuật… mà Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch đã đạt được trong suốt 30 năm qua là sự khẳng định vị trí và vai trò của Viện trong công cuộc phát triển Du lịch Việt Nam.

    Đồng thời, ông Lê Quang Tùng cũng chỉ đạo Viện Nghiện cứu Phát triển Du lịch cần đổi mới cơ chế hoạt động; xây dựng chiến lược phát triển có lộ trình phù hợp với yêu cầu thực tiễn trong giai đoạn mới; tăng cường, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ khoa học của Viện; đẩy mạnh các nghiên cứu khoa học, thực hiện các đề tài nghiên cứu, tích cực tham gia phản biện và đóng góp xây dựng phát triển ngành; tăng cường trao đổi, giao lưu, học hỏi kinh nghiệm của các nước tiên tiến trong các hội nghị, hội thảo khoa học quốc tế để giới thiệu, quảng bá các thành tựu nghiên cứu khoa học công nghệ của Việt Nam…

    Anh Minh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Viết Về Du Lịch Và Các Giải Pháp Thu Hút Du Khách Đi Du Lịch Khi Hết Dịch Covid 19
  • Top 10 Website Du Lịch Nổi Tiếng Nhất Việt Nam
  • Video Vui Nhộn Quảng Bá Du Lịch Hàn Quốc Có Sự Tham Gia Của Leenalchi
  • Tăng Cường Hoạt Động Truyền Thông Du Lịch
  • Video Lăng Vua Tự Đức Huế
  • Phát Triển Du Lịch Biển Đà Nẵng

    --- Bài mới hơn ---

  • Phát Triển Du Lịch Gắn Với Núi, Sông, Rừng, Biển…
  • Tìm Hướng Phát Triển Du Lịch Biển Đảo Việt Nam
  • Cà Mau: Nhiều Tiềm Năng Để Phát Triển Du Lịch
  • Du Lịch Cần Thơ Phát Triển
  • Dấu Ấn Phát Triển Du Lịch Cao Bằng
  • Đà Nẵng được đánh giá là một trong những thành phố biển xinh đẹp nhất nước và bãi biển Mỹ Khê từng được tạp chí Forber của Mỹ đánh giá là một trong sáu bãi biển đẹp nhất hành tinh. Tiềm năng để khai thác phát triển du lịch biển Đà Nẵng là rất phong phú.

    Lợi thế du lịch biển Đà Nẵng

    Đà Nẵng có đường bờ biển dài, bãi cát trắng mịn, có nhiều bãi tắm nông giúp phát triển du lịch biển tiện lợi. Các hình thức du lịch biển được Đà Nẵng khai thác khá phong phú như: du lịch ngắm xem, du ngoạn, nghỉ dưỡng, tắm biển, văn hóa biển, khoa học biển, du lịch hang động, du lịch sinh thái gắn với các khu bảo tồn biển, đảo; du lịch thể thao biển…

    Công tác bảo vệ giữ gìn môi trường biển cũng được chú trọng đầu tư. Các bãi biển tại Đà Nẵng luôn được giữ sạch sẽ phục vụ cho khách du lịch và người dân tham quan biển.

    Những bất cập trong du lịch biển tại Đà Nẵng

    Tuy sở hữu một trong sáu bãi biển đẹp nhất thế giới, nhưng hiện nay tiềm năng du lịch biển Đà Nẵng chưa được khai thác phù hợp để đủ sức thu hút khách du lịch. Vấn đề làm cản trở sức hấp dẫn của du lịch biển Đà Nẵng đã được không ít du khách cho rằng: các dịchvụ vui chơi giải trí ở các khu du lịch biển dường như quá thiếu và nghèo nàn; đồng thời với chất lượng các loại hình kinh doanh dịch vu ̣tại các khu du lịch biển còn quá nhiều bất cập.

    Bên cạnh đó, vấn đề ô nhiễm môi trường do thiếu ý thức của người dân, của khách du lịch, của việc xử lý nước thải, rác thải của các dịch vu ̣phục vụ du lịch. Cùng với đó là tình trạng chèo kéo khách du lịch vẫn diễn ra tại một số bãi tắm khu du lịch gây nhiều phiền nhiễu cho du kháchđã và đang trở thành yếu tố cản trở sự phát triển du lịch biển Đà Nẵng.

    Vào mùa du lịch biển, các bãi biển Đà Nẵng luôn đông khách, nhưng phần lớn là người dân thành phố, khách nội địa chiếm vị trí thứ hai. Khách du lịch nước ngoài có chăng chỉ tập trung ở khu vực bãi biển trước khách sạn 5 sao Furama.

    Làm thế nào để khai thác tiềm năng, lợi thế vốn có để phát triển du lịch biển Đà Nẵng và hạn chế những tồn tại đang có là nhiệm vụ cấp bách của thành phố Đà Nẵng.

    Để có thể tiện cho việc tham quan và du lịch biển Đà Nẵng, bạn nên lưu trú tại các khách sạn ven biển Đà Nẵng như Valencia Hotel chúng tôi để tiện lợi nhất.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ifc Hỗ Trợ Phát Triển Du Lịch Bền Vững Tại Việt Nam Và Lào
  • Bảo Tồn Và Phát Triển Du Lịch Bền Vững Ở Cù Lao Chàm
  • Luận Văn Đề Tài Nghiên Cứu Tiềm Năng Phát Triển Du Lịch Và Đề Xuất Giải Pháp Du Lịch Sinh Thái Bền Vững Tại Xã Đảo Cù Lao Chàm
  • Để Phát Triển Du Lịch Bền Vững Ở Miền Trung
  • Bến Tre Hướng Đến Phát Triển Du Lịch Cộng Đồng, Du Lịch Có Trách Nhiệm
  • Tìm Hướng Phát Triển Cho Du Lịch Làng Nghề Việt Nam – Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch (Itdr)

    --- Bài mới hơn ---

  • Sản Phẩm Du Lịch Làng Nghề Truyền Thống
  • 7 Điểm Du Lịch Làng Nghề Của Thành Phố Hà Nội
  • Khám Phá 8 Làng Nghề Truyền Thống Ở Quảng Nam
  • Khám Phá 7 Làng Nghề Nổi Tiếng Tại Quảng Nam
  • Phát Triển Sản Phẩm Du Lịch Làng Nghề
  • 1. Giới thiệu sơ lược về Du lịch làng nghề tại Việt Nam

    Trong xu thế hội nhập và mở cửa, làng nghề truyền thống đang dần lấy lại vị trí quan trọng của mình trong đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của mỗi dân tộc mỗi quốc gia. Những làng nghề này như một hình ảnh đầy bản sắc, khẳng định nét riêng biệt, độc đáo không thể thay thế. Một cách giới thiệu sinh động về đất, nước và con người của mỗi vùng, miền, địa phương. Phát triển du lịch làng nghề chính là một hướng đi đúng đắn và phù hợp, được nhiều quốc gia ưu tiên trong chính sách quảng bá và phát triển du lịch. Những lợi ích to lớn của việc phát triển du lịch làng nghề không chỉ thể hiện ở những con số tăng trưởng lợi nhuận kinh tế, ở việc giải quyết nguồn lao động địa phương mà hơn thế nữa, còn là một cách thức gìn giữ và bảo tồn những giá trị văn hoá của dân tộc. Đó là những lợi ích lâu dài không thể tính được trong ngày một ngày hai.

    Làng lụa Vạn Phúc (Hà Nội)

    Du lịch làng nghề truyền thống ngày càng hấp dẫn du khách và đang là một hướng phát triển du lịch ở nhiều quốc gia trên thế giới. Bên cạnh những lợi ích về kinh tế, xã hội, hình thức du lịch này còn góp phần bảo tồn và phát huy những bản sắc văn hoá độc đáo của từng vùng miền, địa phương.

    Một địa phương muốn thu hút khách du lịch, tạo ra nhiều loại hình du lịch hấp dẫn đáp ứng nhu cầu đa dạng của du khách thì phải bắt tay vào việc xây dựng và phát triển các sản phẩm du lịch gắn liền với việc khai thác có chiều sâu và khai thác đúng tài nguyên du lịch của địa phương đó.

    Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ, đáp ứng các nhu cầu trong quá trình đi du lịch của du khách, bao gồm:

    – Sản phẩm du lịch đặc trưng: đó là những sản phẩm hấp dẫn khách du lịch, tạo ra mục đích của khách du lịch tại điểm đến như: danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử văn hóa, nơi nghỉ mát, chữa bệnh, thăm quan …

    – Sản phẩm du lịch cần thiết: là những sản phẩm phục vụ các nhu cầu thiết yếu trong quá trình đi du lịch như: phương tiện vận chuyển, ăn, nghỉ…

    – Sản phẩm du lịch bổ sung: là những sản phẩm phục vụ các nhu cầu phát sinh trong quá trình đi du lịch như: cắt tóc, giặt là, massage, mua sắm hàng lưu niệm…

    Như vậy, làng nghề vừa là sản phẩm du lịch đặc trưng khi làng nghề đó có khả năng hấp dẫn, thu hút khách, vừa là sản phẩm du lịch bổ sung khi tạo ra những mặt hàng lưu niệm cho du khách.

    Trong những năm gần đây, loại hình du lịch làng nghề truyền thống ở Việt Nam ngày càng hấp dẫn du khách, đặc biệt là du khách nước ngoài, bởi những giá trị văn hóa lâu đời và cách sáng tạo sản phẩm thủ công đặc trưng ở mỗi vùng.

    Đi dọc chiều dài đất nước hình chữ S, du khách gần như có thể dừng chân ở bất cứ địa phương nào để tìm hiểu về làng nghề truyền thống. Theo thống kê của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, hiện nay cả nước có khoảng hơn 3000 làng nghề thủ công, thuộc 11 nhóm nghề chính là sơn mài, gốm sứ, thêu ren, mây tre đan, cói, dệt, giấy, tranh dân gian, gỗ, đá, kim khí.

    Lợi thế của phần lớn các làng nghề là nằm trên trục giao thông thuận lợi, cả đường bộ lẫn đường sông nên thuận tiện để xây dựng các chương trình du lịch kết hợp. Có thể kế đến các địa phương khá năng động trong việc phát huy lợi thế làng nghề để phát triển du lịch như Hà Nội, Hà Tây, Hoà Bình, Bắc Ninh, Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam…

    Tuy nhiên, các chuyên gia du lịch cho rằng, mặc dù ở một số làng nghề cụ thể nói riêng như lụa Vạn Phúc (Hà Tây cũ), gốm Bát Tràng (Hà Nội), tranh Đông Hồ, mộc Đồng Kỵ (Bắc Ninh), làng đá mỹ nghệ Non Nước (Đà Nẵng)… và Du lịch làng nghề Việt Nam nói chung trên thực tế đã thu hút một lượng du khách đáng kể nhưng vẫn chỉ là những nỗ lực tự phát, chưa hình thành được cách làm chuyên nghiệp.

    Bởi vậy, vấn đề đi tìm các biện pháp để du lịch làng nghề thực sự phát huy tiềm năng và hiệu quả, đóng góp ngày một lớn bền vững hơn cho mục tiêu phát triển du lịch cũng như phát triển kinh tế, xã hội, bảo tồn các giá trị văn hóa… được coi là nhiệm vụ hết sức cấp thiết, nhất là trong giai đoạn Việt Nam đang từng bước hội nhập toàn diện cùng với châu lục và thế giới.

    2. Tiềm năng của Du lịch làng nghề tại VN

    Làng nón Chuông (Thanh Oai – HN)

    Làng nghề Việt Nam mang tính tập tục truyền thống, đặc sắc, có tính kinh tế bền vững, mang đến nhu cầu việc làm tại chỗ và những lợi ích thiết thực cho các cộng đồng cư dân nhỏ lẻ trên mọi miền đất nước (chủ yếu ở các vùng ngoại vi thành phố và Nông thôn Việt Nam), đồng thời góp phần vào sự nghiệp phát triển chung của toàn xã hội. Các làng nghề thủ công, làng nghề truyền thống, hay làng nghề cổ truyền… có mặt khắp nơi trên đất nước Việt Nam, và thường được gọi chung là Làng nghề.

    Cùng với sự phát triển của nền văn minh nông nghiệp từ hàng ngàn năm trước đây, nhiều nghề thủ công cũng đã ra đời tại các vùng nông thôn Việt Nam, việc hình thành các làng nghề bắt đầu từ những nghề ban đầu được cư dân tranh thủ làm lúc nông nhàn, những lúc không phải là mùa vụ chính.

    Bởi lẽ trước đây kinh tế của người Việt cổ chủ yếu sống dựa vào việc trồng lúa nước mà nghề làm lúa không phải lúc nào cũng có việc. Thông thường chỉ những ngày đầu vụ, hay những ngày cuối vụ thì người nông dân mới có việc làm nhiều, vất vả như: cày bừa, cấy, làm cỏ (đầu vụ) cho đến gặt lúa, phơi khô… còn những ngày còn lại thì nhà nông rất nhàn hạ, rất ít việc để làm. Từ đó nhiều người đã bắt đầu tìm kiếm thêm công việc phụ để làm nhằm mục đích ban đầu là cải thiện bữa ăn và những nhu cầu thiết yếu hằng ngày về sau là tăng thêm thu nhập cho gia đình.

    Theo thời gian, nhiều nghề phụ ban đầu đã thể hiện vai trò to lớn của nó, mang lại lợi ích thiết thân cho cư dân. Như việc làm ra các đồ dùng bằng mây, tre, lụa… phục vụ sinh hoạt hay đồ sắt, đồ đồng phục vụ sản xuất. Nghề phụ từ chỗ chỉ phục vụ nhu cầu riêng đã trở thành hàng hóa để trao đổi, đã mang lại lợi ích kinh tế to lớn cho người dân vốn trước đây chỉ trông chờ vào các vụ lúa. Từ chỗ một vài nhà trong làng làm, nhiều gia đình khác cũng học làm theo, nghề từ đó mà lan rộng ra phát triển trong cả làng, hay nhiều làng gần nhau.

    Và cũng chính nhờ những lợi ích khác nhau do các nghề thủ công đem lại mà trong mỗi làng bắt đầu có sự phân hóa. Nghề đem lại lợi ích nhiều thì phát triển mạnh dần, ngược lại những nghề mà hiệu quả thấp hay không phù hợp với làng thì dần dần bị mai một. Từ đó bắt đầu hình thành nên những làng nghề chuyen sâu vào một nghề duy nhất nào đó, như làng Gốm, làng làm chiếu, làng làm lụa, làng làm đồ đồng…

    Những phát hiện về khảo cổ học, những cứ liệu lịch sử đã chứng minh được các làng nghề Việt Nam đã ra đời từ hàng ngàn năm trước đây. Các làng nghề thường tập trung chủ yếu ở các vùng châu thổ sông lớn như châu thổ sông Hồng, tại Hà Nội, Hà Tây, Bắc Ninh, Thái Bình, Nam Định …

    Những làng nghề nổi tiếng:

    Cùng với sự phát triển của đất nước, có rất nhiều làng nghề cũng phát triển mạnh và có những sản phẩm, những thương hiệu nổi tiếng, có sức hấp dẫn rất lớn như: Gốm Bát Tràng, Gia Lâm, Hà Nội; Làng gốm Phù Lãng, xã Phù Lãng, huyện Quế Võ, Bắc Ninh; Đồ gỗ Đồng Kỵ; Làng Tranh Đông Hồ, Thuận Thành, Bắc Ninh; Chiếu Nga Sơn, Thanh Hóa; Làng đá Non Nước, Đà Nẵng; Làng nghề truyền thống vàng bạc Châu Khê ( Làng vàng bạc Châu Khê ); Làng nghề chạm bạc Đồng Xâm; Làng Lụa Vạn Phúc, Hà Đông, Hà Nội; Làng Nghề Sơn Đồng (Hà Nội); Gốm xứ Bình Dương…

    Du lịch làng nghề là loại hình du lịch văn hoá tổng hợp đưa du khách tới tham quan, thẩm nhận các giá trị văn hoá và mua sắm những hàng hoá đặc trưng của các làng nghề truyền thống trên khắp miền đất nước.

    Vụ trưởng Vụ Lữ hành (Tổng cục Du lịch), ông Vũ Thế Bình khẳng định: Làng nghề truyền thống đã và đang trở thành nguồn lực quan trọng cho phát triển du lịch. Hàng thủ công truyền thống là một phần quan trọng của du lịch, là một trong ít mặt hàng phản ánh văn hóa bản địa đặc sắc. Hàng thủ công truyền thống có thể được ví như biểu tượng văn hóa và nghệ thuật của một quốc gia, là nhân tố quan trọng để hấp dẫn du khách. Xuất khẩu tại chỗ hàng thủ công truyền thống thông qua việc bán cho khách du lịch đã mang lại nguồn ngoại tệ không nhỏ. Điển hình nhất trong việc phát triển làng nghề với du lịch là làng nghề gốm sứ Bát Tràng. Người dân ở đây khá nhạy bén khi có nhiều hình thức lôi kéo sự tham gia của khách vào quá trình làm nghề, tạo sự hứng thú cho khách du lịch

    Mô hình phát triển làng nghề thủ công truyền thống đang trở thành hướng đi mới trong quá trình phát triển du lịch Việt Nam. Các làng nghề thường nằm trên trục đường giao thông, cả đường sông lẫn đường bộ, không chỉ tạo điều kiện lưu thông hàng hóa mà tiện xây dựng tuor, tuyến du lịch. Khi tham gia tour du lịch làng nghề, khách không chỉ được ngắm phong cảnh du lịch làng quê mà còn được thăm nơi sản xuất, thậm chí có thể tham gia vào một phần quá trình tạo ra sản phẩm. Chính điều này đã tạo nên sức hấp dẫn riêng của làng nghề truyền thống. Ông Vũ Thế Bình cho rằng, bằng sự nhạy bén, thông qua hoạt động phục vụ du lịch, một số nghề thủ công truyền thống đã được phục hồi như làng gốm Bát Tràng (Hà Nội), Phũ Lãng (Bắc Ninh). Thu nhập từ du lịch đã trở thành nguồn thu không nhỏ tại các làng nghề.

    Làng nghề truyền thống VN ra đời từ rất lâu với vai trò, vị trí vô cùng quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội của nhân dân các địa phương. Sự tồn tại của các làng nghề truyền thống không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế: giải quyết một số lượng lớn công ăn việc làm, tăng thu nhập . cho người dân địa phương mà còn có vai trò quan trọng trong việc gìn giữ, bảo vệ những giá trị đạo đức, văn hoá truyền thống của các làng, xã, phường, hội . Tuy nhiên, lịch sử các làng nghề truyền thống Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm, các ngành nghề thủ công truyền thống có những lúc có nguy cơ bị mai một, thất truyền đặc biệt là giai đoạn những năm cuối của thế kỷ XX. Nhận thức được tầm quan trọng của sự tồn tại các làng nghề truyền thống đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của các địa phương nói riêng và của cả nước nói chung, trong những năm gần đây Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra nhiều chính sách, giải pháp nhằm khôi phục và phát triển các làng nghề. Trong đó, Đảng và Nhà nước đặc biệt khuyến khích sự phát triển của loại hình du lịch làng nghề.

    Ngày nay, khi thu nhập , mức sống của người dân nhiều nơi trên thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng ngày một tăng, trình độ dân trí được ngày một cao thì nhu cầu khám phá, tìm hiểu thế giới xung quanh, tìm hiểu lịch sử, văn hoá, đời sống nhân dân các nước, các dân tộc, các địa phương ngày càng tăng. Và sự thoả mãn những nhu cầu ấy là một trong những động lực thúc đẩy con người đi du lịch nhiều hơn trong thời gian gần đây. Để thoả mãn phần nào những nhu cầu ấy một sản phẩm du lịch mới đã ra đời ở Việt Nam – các chương trình du lịch làng nghề truyền thống.

    Sự ra đời của các chương trình du lịch làng nghề một mặt đã thoả mãn phần nào nhu cầu tìm hiểu lịch sử, văn hoá, đời sống người dân Việt Nam nói chung và các làng nghề nói riêng của các du khách. Mặt khác, hoạt động du lịch làng nghề cũng có những đóng góp tích cực trong sự phát triển kinh tế – xã hội của các làng nghề đó.

    Những làng nghề thường là nơi thu hút nhiều nhất sự quan tâm của du khách trong và ngoài nước. Hà Nội và TP HCM là 2 thành phố có số lượng làng nghề rất lớn. Hầu hết những làng nghề này đều mang những nét đặc sắc riêng biệt, tạo nên một quần thể văn hóa đặc trưng riêng của từng vùng.

    Khu vực Nam Bộ cũng là khu vực có không ít tiềm năng để phát triển du lịch làng nghề. Không gian văn hóa ĐBSCL là một tiểu vùng văn hóa quan trọng của Việt Nam với đầy đủ bản sắc thiên nhiên, đa dạng các sản phẩm vật chất lẫn tinh thần, trong đó phải kể đến có hàng trăm làng nghề truyền thống. Những làng nghề ấy đã đang nóng lòng muốn bước ra khỏi… cổng làng, hội nhập và phát triển vào dòng chảy của ngành công nghiệp không khói.

    Theo dòng lịch sử trên 300 năm, ĐBSCL là vùng giao thoa văn hóa của 4 dân tộc Việt – Chăm – Hoa – Khơme. Đặc thù trên đã tạo nên bức chân dung sống động, bình dị nhưng vô cùng đặc sắc qua phong tục, đời sống văn hóa, kiến trúc nhà ở, nghệ thuật (cải lương, tài tử, thơ, ca, hò vè, hát ru), tế lễ, thờ cúng, ẩm thực, sản xuất, trong đó phải kể đến có hàng trăm làng nghề truyền thống dẫu trải qua nhiều thăng trầm nhưng vẫn hiện hữu như nghề kim hoàn, chạm khắc, làm trống, hàng thủ công mỹ nghệ từ dừa, từ lục bình, làm ghe, lu, gốm sứ, dệt chiếu, đan đát, bánh tráng, bánh phồng, kẹo dừa, bánh pía…

    Với không gian sinh thái đa dạng phong phú của vùng sông nước ĐBSCL, ngành du lịch dã ngoại đang hấp dẫn ngày càng nhiều du khách trong và ngoài nước. Từ lợi thế trên, đưa sản phẩm – đặc sản văn hóa của các làng nghề ĐBSCL vào thị trường du lịch là hướng tiếp thị khả thi, đồng thời sẽ tạo hiệu quả kép vừa phát triển du lịch vừa bán được sản phẩm làng nghề. Để làm được điều trên, nhiều chuyên gia du lịch cho rằng trước mắt phải nhanh chóng chấn hưng làng nghề, xây dựng các thiết chế về du lịch làng nghề, mở tour du lịch làng nghề, phát triển các Showroom du lịch làng nghề. Kêu gọi đầu tư các nguồn lực trong và ngoài nước xây dựng các đề án như: Hệ thống quản lý Showroom sản phẩm làng nghề gắn kết với hoạt động du lịch.

    Phát triển các công ty du lịch tư nhân phục vụ du lịch làng nghề (các showroom là điểm dừng du lịch). Thành lập trung tâm du lịch làng nghề Việt Nam có hệ thống điều hành, quảng bá trên cả nước với 3 trung tâm lớn tại Hà Nội, Huế, TPHCM, các chi nhánh quan trọng như Hải Phòng, Đà Nẵng, Đà Lạt và Cần Thơ. Và đặc biệt là cần củng cố, mở rộng tổ chức Hiệp hội Làng nghề Việt Nam từ trung ương đến cơ sở, qua đó xây dựng hệ thống mạng lưới Showroom du lịch làng nghề từ khu vực đến các tỉnh….

    Trong công cuộc CNH-HĐH nông nghiệp và nông thôn, các làng nghề không chỉ sản xuất, kinh doanh, mà còn là nơi tổ chức sinh hoạt cộng đồng, mang sắc thái văn hóa riêng biệt, có đặc trưng của từng làng theo ngành nghề truyền thống lâu đời, là nét độc đáo góp phần mở rộng phát triển các loại hình du lịch ở nước ta. Cho nên, đánh thức và phát triển du lịch làng nghề là hướng đi hữu hiệu nhằm đưa sản phẩm làng nghề vào thị trường, nâng cao thu nhập đời sống cho các nghệ nhân tâm huyết với nghề.

    3. Thực trạng và hướng phát triển của Du lịch làng nghề tại Việt Nam

    Làng tranh Đông Hồ (Bắc Ninh)

    Nguồn tài nguyên du lịch làng nghề truyền thống đang được khai thác tích cực ở khía cạnh là điểm đến đặc trưng của Việt Nam. Tuy nhiên chức năng sản xuất hàng hoá phục vụ du lịch thì vẫn còn chưa được khai thác một cách thực sự hiệu quả.

    Ở nước ta, mặc dù có chủ trương từ cấp quản lý gắn làng nghề với phát triển du lịch như: Cụm làng nghề mây tre đan ở Chương Mỹ, khảm trai Chuyên Mỹ, thêu Quất Động, nón làng Chuông, sơn mài Hạ Thái. Các làng nghề này dù có định hướng phát triển du lịch từ những năm 2003 – 2004, có tên trong sản phẩm tuor của các hãng lữ hành, song các tuor đến đây vẫn chưa có biến chuyển tích cực, lượng khách rất ít.

    Hiện cả nước có khoảng 3.000 làng nghề; trong đó có 400 làng nghề truyền thống với 53 nhóm nghề làm ra khoảng 200 loại sản phẩm thủ công khác nhau; trong đó nhiều sản phẩm nghề có lịch sử phát triển hàng năm, hàng nghìn năm. Tiềm năng là vậy nhưng ít khách đến làng nghề dù có khá nhiều chương trình tuor giới thiệu. Ông Lưu Duy Dần, Phó Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam cho rằng, tại các làng nghề này chưa có những điều kiện để trình diễn, dịch vụ phục vụ khách tham quan nghèo nàn. Sự tham gia của cộng đồng và phát triển du lịch chưa cao, bởi họ chưa nhận thức được giá trị của du lịch đem lại. Một làng nghề được coi là phát triển du lịch khu thu nhập từ du lịch chiếm ít nhất 25% thu nhập của làng. Bên cạnh đó, một số làng nghề hướng phát triển du lịch nhưng hạ tầng giao thông và môi trường còn nhiều bất cập.

    Cả nước hàng nghìn làng nghề, trong đó riêng Hà Nội đã có 1264 làng nghề với 530 làng nghề truyền thống, 244 làng nghề thủ công mỹ nghệ. Nhiều về số lượng, phong phú về loại hình sản xuất, nhưng hàng nghìn “mỏ tài nguyên du lịch” ấy không cho ra nổi một sản phẩm đồ lưu niệm đặc trưng của du lịch Việt Nam.

    Các làng nghề ở Hà Nội như gốm Bát Tràng, gỗ Đồng Kỵ, gỗ Vân Hà, sơn mài Hạ Thái, thêu Quất Động… có thể nói đã “ăn nên làm ra” nhờ xuất khẩu các đồ mỹ nghệ, nhưng việc “xuất khẩu tại chỗ” cho khách du lịch lại không được lưu tâm tới. Thời gian gần đây, khi du lịch làng nghề được đầu tư và quảng bá, các cửa hàng bày bán đồ thủ công mỹ nghệ trong làng nghề xuất hiện nhiều hơn. Thế nhưng, trên thực tế, hàng nằm trên giá bán cho du khách cũng chính là hàng bán ra thị trường tiêu dùng. Trong khi đó, nhu cầu của hai thị trường này lại hoàn toàn khác nhau.

    Khách Tây Âu rất thích đồ sơn mài. Khách Nhật rất thích tranh thêu. Khách Mỹ rất thích đồ mỹ nghệ bằng gỗ, tre, rơm… Họ sẵn sàng bỏ nhiều tiền ra mua những tác phẩm nghệ thuật chất lượng. Đó là lý do vì sao đồ thủ công mỹ nghệ Việt Nam xuất khẩu rất tốt sang những thị trường này. Nhưng khi họ sang Việt Nam với mục đích du lịch, thường là dài ngày, họ không thể mang đi vác lại những món đồ cồng kềnh, dễ vỡ trong suốt cuộc hành trình cho đến khi về nước và càng không thể mang với số lượng lớn về làm quà tặng bạn bè.

    Ông Nguyễn Hoàng Lưu – Phó Chủ tịch Hiệp hội Thủ công mỹ nghệ và làng nghề Hà Nội bày tỏ: “Đúng là không có sự rạch ròi trong việc sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ tại các làng nghề. Mặt hàng phục vụ tiêu dùng phải khác, mặt hàng phục vụ du lịch phải khác. Mỗi mặt hàng mang một chức năng khác nhau nên không thể giống nhau được. Trong khi đó, các làng nghề lại quá chú trọng vào thị trường tiêu dùng đồ mỹ nghệ cao cấp mà không quan tâm tới thị trường đồ lưu niệm bình dân khi mà thị trường này đang rất sôi động và mang lại nguồn thu lớn”.

    Đó cũng một trong những lý do khiến du lịch làng nghề Việt Nam hiện nay chưa phát triển được. Hạ tầng văn hoá truyền thống bị phá vỡ bởi quá trình đô thị hoá, môi trường ô nhiễm do sản xuất phát triển, khách du lịch không có nhiều điểm để tham quan đã đành, mong muốn mua được những món đồ lưu niệm do các nghệ nhân Việt Nam chế tác cũng không thực hiện được.

    “Họ không thể tìm được những sản phẩm ưng ý chứ chưa nói đến sản phẩm mang tính “ký ức”, mang dấu ấn Việt Nam. Ngay cả các làng nghề được coi là biết làm du lịch, mẫu mã, chủng loại sản phẩm cũng quá đơn điệu và không hợp với nhu cầu của thị trường. Người thợ mới chỉ để ý đến kỹ thuật, sản xuất theo ý thích bản thân hoặc rập khuôn theo truyền thống mà chưa có sự sáng tạo và tìm hiểu thị hiếu của khách du lịch.

    Khách Hàn Quốc, Đài Loan ưa những sản phẩm tinh tế, hoa văn cầu kỳ, chi tiết. Khách châu Âu lại thích những sản phẩm đơn giản, hoạ tiết gọn ghẽ, thẳng thắn, sang trọng và đặc biệt quan tâm đến độ an toàn của sản phẩm, như chất liệu có độc hại không, hàng mây tre có ngâm tẩm hoá chất có hại không, sản phẩm có dễ bị mốc, bong tróc trong điều kiện thời tiết lạnh không… Trong khi đó, các làng nghề Việt Nam lại giỏi kỹ thuật hàng chợ hơn là kỹ thuật tinh xảo. Gốm Bát Tràng nổi tiếng là thế nhưng vào chợ Bát Tràng thì hỗn tạp, hàng tinh ít, “hàng chợ” thì nhiều. Khách nước ngoài vào chợ chỉ để tham quan chứ không mua được gì” – ông Lưu khẳng định.

    Tuy nhiên, ông Lưu cũng cho rằng: khó có thể trách được các làng nghề bởi vì họ vốn sống bó hẹp trong môi trường nông thôn địa phương, ít nhạy cảm với thị trường và không có nhiều cơ hội giao thương với nước ngoài mà chỉ xuất hàng thông qua những doanh nghiệp. Cái gì bán được ra thị trường thì họ chỉ tập trung vào làm cái đó chứ không có khái niệm về sáng tạo mẫu mã. Trong khi đó, đa số các doanh nghiệp không có điều kiện làm “design”. Đội ngũ thợ chỉ giỏi tay nghề kỹ thuật mà thẩm mỹ yếu và bị bó khuôn.

    Bà Nguyễn Thị Lan Hương – Giảng viên khoa du lịch, Viện Đại học Mở – cũng cho rằng: “Sở dĩ các làng nghề không biết chiếm lĩnh thị trường đồ lưu niệm phục vụ du lịch là vì chẳng ai nói với họ điều ấy. Các làng nghề thường chia làm hai cách ứng xử: hoặc là cứ sản xuất bình thường và mặc cho khách thích tham quan gì thì tham quan như làng nón Chuông, gỗ Đồng Kỵ; hoặc là tự ý thức được việc phải làm du lịch, phải bán được hàng cho khách du lịch nhưng sản xuất một cách tự phát mà không có kiến thức đầy đủ về thị trường du lịch như gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, mây tre đan Chương Mỹ…”

    Cũng theo bà Lan Hương, do nhận thức về du lịch của các làng nghề rất hạn chế cho nên họ chỉ sản xuất dựa vào quan sát, học hỏi, kinh nghiệm bản thân mà không để ý đến tính bản sắc văn hoá vùng miền và thương hiệu của sản phẩm. Từ đó dẫn đến việc hơn 6000 làng nghề trên cả nước nhưng không có mẫu hàng lưu niệm nào đặc trưng nổi bật cho du lịch Việt Nam.

    “Ví dụ như, Việt Nam rất nổi trội về du lịch biển. Mỗi vùng biển lại có một đặc trưng và bản sắc văn hoá khác nhau. Thế nhưng, đi dọc các điểm du lịch biển từ Bắc tới Nam thấy đồ lưu niệm nơi nào cũng giống nơi nào, cứ na ná tương tự nhau. Cũng vỏ sò, vỏ ốc, ngọc trai, san hô đấy, nhưng nếu người thợ thủ công biết thể hiện cái đặc trưng vùng miền vào sản phẩm thì lại khác. Vịnh Hạ Long có thuyền buồm, có quần thể các núi đá vôi nhiều hình thù. Biển Nam Trung Bộ lại nổi bật bởi các loại ghe không đâu có. Nếu các chi tiết đặc sắc này được sáng tạo thành những mẫu đồ lưu niệm thay cho những chuỗi vòng ốc, sò đơn điệu thì chắc chắn sẽ khiến khách du lịch thích thú bỏ hầu bao ra mua”.

    Bà Lan Hương khẳng định thêm: “Nói thị trường đồ lưu niệm Việt Nam không có bất kỳ sản phẩm nào mang tính biểu tượng cho văn hoá Việt Nam thì không đúng. Cũng có thể liệt kê ra vài món như mặt nạ, như con rối, như cô gái đội nón lá mặc áo dài… nhưng tất cả những sản phẩm đó chưa đạt đến độ cô đọng văn hoá và gây ấn tượng thị giác với khách du lịch. Hơn nữa, lại được sản xuất quá lẻ tẻ, vụn vặt, không đủ mạnh để tạo ra tính biểu tượng phổ biến. Làng Bát Tràng làm du lịch đã nhiều năm nay. Gốm Bát Tràng nổi tiếng khắp cả nước. Nhưng sản phẩm nào có dấu ấn riêng của Bát Tràng, chỉ có ở Bát Tràng mà không đâu khác, khách nhìn vào là nhận ra ngay gốm Bát Tràng thì vẫn chưa có câu trả lời”.

    Ở Hà Nội nói riêng và Việt Nam nói chung thì hiện nay, các tour du lịch gắn với làng nghề đều còn mang tính tự phát.

    Hiện nay, trên địa bàn xã Bát Tràng (Gia Lâm) có hơn 1.000 lò gốm lớn, nhỏ. Sản phẩm gốm của Bát Tràng không chỉ thu hút khách du lịch trong nước, mà cả khách du lịch nước ngoài mỗi khi đến Hà Nội. Theo Ban quản lý chợ gốm sứ Bát Tràng, trung bình hàng tháng, chợ gốm Bát Tràng đón 25-30 nghìn lượt khách trong nước, 5-6 nghìn lượt khách quốc tế. Mặc dù năm 2009, được coi là năm khó khăn của nền kinh tế, nhiều làng nghề đều rơi vào hoàn cảnh khó khăn, sản xuất giảm sút, nhưng tại khu vực chợ gốm Bát Tràng khách đến tham quan vẫn khá tập nập, cho dù không phải là ngày cuối tuần. Từ khách nội thành tới khách du lịch ở các tỉnh khác, và tất nhiên, không thể vắng những du khách nước ngoài. Chị Nga, một người bán hàng tại khu vực chợ gốm Bát Tràng cho biết: “Lượng khách đến tham quan chợ gốm từ Tết ra đến giờ vẫn đông lắm, cả khách nước ngoài, khách các nơi khác đến, rồi học sinh, sinh viên các trường đại học cũng đi xe bus đến”.

    Trưởng phòng tiểu thủ công nghiệp và làng nghề (Sở Công Thương Hà Nội) Trịnh Thị Hồng Loan cho biết: “Bát Tràng được quy hoạch từ năm 2001, nên cơ sở hạ tầng đã khá tốt. Bên cạnh đó, trước Bát Tràng chỉ hướng tới xuất khẩu là chính, mặc dù có tiêu thụ tại thị trường trong nước nhưng người dân tự tìm đến chứ không phải qua hệ thống tour du lịch. Còn hiện nay, Bát Tràng đã hình thành hệ thống tour và có tuyến xe bus đến chợ gốm, đưa người dân nội đô đến Bát Tràng”.

    Mấy năm trở lại đây, Bát Tràng còn mở thêm dịch vụ để du khách tham quan trực tiếp một số xưởng sản xuất, tham gia trực tiếp vào một số công đoạn sản xuất… và đã thu hút được nhiều du khách. Thú chơi vẽ gốm ở Bát Tràng đã và đang là một thú chơi độc đáo, hấp dẫn trí tò mò của bất kỳ du khách nào có dịp ghé qua.

    Theo lời kể của các chủ xưởng gốm: Thú chơi vẽ gốm mới được người dân đưa vào hoạt động 5 năm trở lại đây. Tuy nhiên, chỉ sau một thời gian, hoạt động này đã thu hút một số lượng lớn khách du lịch tham gia, nhất là các bạn trẻ. Vẽ gốm, nặn gốm… không những giúp du khách hiểu hơn về những công đoạn của việc làm gốm, mà còn giúp du khách tiếp cận với nghệ thuật làm gốm theo cách riêng của mỗi người. Không chỉ thu hút các em học sinh, sinh viên… trò chơi vẽ gốm còn thu hút rất nhiều du khách quốc tế.

    Trên địa bàn Hà Nội, nhiều làng nghề hình thành từ lâu đời, nổi tiếng trong và ngoài nước, đã được du khách trong nước và quốc tế biết đến và trở thành những địa điểm của ngành du lịch, như: Lụa Vạn Phúc, khảm trai Chuyên Mỹ, thêu Quất Động, sơn mài Duyên Thái, mộc Chàng Sơn, rèn Đa Sỹ, đúc đồng Ngũ Xã… Các làng nghề trên địa bàn Hà Nội có mật độ lớn, nằm dọc các trục đường giao thông và gắn liền với những di tích lịch sử, văn hóa, lễ hội, nên rất thuận lợi cho các công ty du lịch lữ hành đầu tư, xây dựng những tour, tuyến du lịch. Thời gian qua, nhiều công ty du lịch lữ hành của Hà Nội và các tỉnh bạn đã triển khai các tour đưa du khách đến tham quan các điểm du lịch làng nghề nổi tiếng. Tuy nhiên, theo đánh giá, hiện việc phát triển các tour du lịch làng nghề trên địa bàn Thủ đô còn nhiều khó khăn về cơ sở hạ tầng, giao thông yếu kém, phong cách phục vụ không chu đáo, thiếu sự chuyên nghiệp…

    Bên cạnh đó, thuyết trình viên tại các làng nghề vừa thiếu lại yếu. Mặt khác, sản phẩm tại các làng nghề còn sơ sài, nghèo nàn về chủng loại và mẫu mã. Điển hình là Bát Tràng, việc phát triển làng nghề gắn với du lịch đã tạo ra một hình thức xuất khẩu tại chỗ hữu hiệu, góp phần quảng bá hình ảnh làng nghề, sản phẩm làng nghề ở khắp mọi nơi. Song, chỉ vì sản phẩm của Bát Tràng còn sơ sài, nghèo nàn về chủng loại mẫu mã, chất liệu… nên 2-3 năm trở lại đây, thị trường xuất khẩu cũng đã bị thu hẹp đáng kể.

    Ông Nguyễn Phương Thảo, Phó trưởng Phòng tiểu thủ công nghiệp và làng nghề (Sở Công thương Hà Nội) cho rằng: Việc nhìn nhận phát triển làng nghề gắn với du lịch của chúng ta đã bị chậm. “Khách du lịch hay các công ty du lịch đã nhìn nhận ra vấn đề này từ khá lâu và họ cũng đã gắn vào các tour du lịch của họ. Trong khi đó, năm 2004-2005, chúng ta mới chính thức có chủ trương làm dự án. Nhưng các bước triển khai của các cơ quan quản lý Nhà nước cũng còn chậm”.

    Theo bà Trịnh Thị Hồng Loan Loan, điểm yếu để phát triển làng nghề gắn với du lịch là hầu hết các làng nghề hiện nay cơ sở hạ tầng, giao thông còn kém phát triển. Phó trưởng phòng Công thương huyện Thường Tín Lê Tuấn Tú cho biết: Cách đây mấy năm, Sở Du lịch Hà Tây (cũ) có gắn một số biển “Điểm du lịch làng nghề” trên địa bàn huyện. Tuy vậy, trên thực tế chỉ là hình thức, bởi hầu hết các làng nghề này cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được nhu cầu của tour du lịch. Ngoài ra, ô nhiễm môi trường tại các làng nghề hiện nay cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc phát triển du lịch tại địa phương.

    Để phát triển làng nghề gắn với du lịch có tính xã hội hóa cao, yếu tố hạ tầng cơ sở, giao thông chiếm vị trí rất quan trọng. Theo bà Loan cần đẩy mạnh thực hiện theo đúng quy hoạch, chỗ nào xã hội hóa thì đưa vào xã hội hóa, chỗ nào Nhà nước hỗ trợ thì đưa vào hỗ trợ.

    Cũng theo ông Thảo, với các điều kiện hiện nay người dân làng nghề mới chỉ làm nghề, bởi vậy cần giúp họ hiểu ngoài làm nghề phải biết làm thương mại, gắn với du lịch. “Mấu chốt phải có sự xã hội hóa, tức Nhà nước chỉ đưa ra các cơ chế chính sách, lập ra quy hoạch hoặc có thể hỗ trợ một phần kinh phí các dự án trọng điểm, còn lại phải kêu gọi nhà đầu tư và kinh phí từ làng nghề, như vậy mới đưa được dự án thành hiện thực và phát huy hiệu quả”. Trên thực tế, trên địa bàn Hà Tây (cũ) trước đây đã quy hoạch và tiến hành xây dựng các điểm công nghiệp làng nghề cũng nhằm cải thiện cơ sở hạ tầng tại các làng nghề.

    Còn theo Ông Lưu Duy Dần, Phó Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam cho rằng, tại các làng nghề này chưa có những điều kiện để trình diễn, dịch vụ phục vụ khách tham quan nghèo nàn. Sự tham gia của cộng đồng và phát triển du lịch chưa cao, bởi họ chưa nhận thức được giá trị của du lịch đem lại. Một làng nghề được coi là phát triển du lịch khu thu nhập từ du lịch chiếm ít nhất 25% thu nhập của làng. Bên cạnh đó, một số làng nghề hướng phát triển du lịch nhưng hạ tầng giao thông và môi trường còn nhiều bất cập.

    Về phía cơ quan quản lý chuyên ngành du lịch, ông Vũ Thế Bình cho rằng: “Hiện chúng ta thiếu kế hoạch đồng bộ, dài hơi về làng nghề. Một số địa phương có quy hoạch làng nghề với du lịch nhưng quy hoạch thiếu thực tiễn và không được thực hiện nghiêm chỉnh. Việc quản lý làng nghề còn chồng chéo, không thống nhất dẫn đến không có người chịu trách nhiệm cụ thể. Đó là chưa kể việc chèo kéo khách ô nhiễm môi trường tại làng nghề khiến khó hấp dẫn du khách”.

    Mô hình phát triển làng nghề thủ công truyền thống đang trở thành hướng đi mới trong quá trình phát triển du lịch Việt Nam. Các làng nghề thường nằm trên trục đường giao thông, cả đường sông lẫn đường bộ, không chỉ tạo điều kiện lưu thông hàng hóa mà tiện xây dựng tuor, tuyến du lịch. Khi tham gia tour du lịch làng nghề, khách không chỉ được ngắm phong cảnh du lịch làng quê mà còn được thăm nơi sản xuất, thậm chí có thể tham gia vào một phần quá trình tạo ra sản phẩm. Chính điều này đã tạo nên sức hấp dẫn riêng của làng nghề truyền thống. Ông Vũ Thế Bình cho rằng, bằng sự nhạy bén, thông qua hoạt động phục vụ du lịch, một số nghề thủ công truyền thống đã được phục hồi như làng gốm Bát Tràng (Hà Nội), Phũ Lãng (Bắc Ninh). Thu nhập từ du lịch đã trở thành nguồn thu không nhỏ tại các làng nghề.

    Trong khu vực, các nước như Thái Lan, Malaixia đã đạt được những kết quả khả quan trong việc phát triển du lịch gắn với nghề thủ công. Thái Lan có chính sách “mỗi làng một nghề tiêu biểu” và người dân tại các làng nghề gắn với du lịch có đời sống khá giả nhờ bán hàng thủ công truyền thống, hàng lưu niệm cho khách du lịch. Trong khi đó, tại Việt Nam, phần lớn các làng nghề đang sản xuất cái chúng ta có chứ chưa sản xuất cái khách du lịch cần.

    Để phát triển du lịch làng nghề, chúng ta phải “đáp ứng” được nhu cầu của du khách. Muốn vậy, các cơ sở sản xuất tại làng nghề phải đầu tư nghiên cứu thị trường từng đối tượng khách để sản xuất ra những sản phẩm có mẫu mã, màu sắc phù hợp. Trước mắt là tổ chức bán hàng sản phẩm thủ công truyền tại các điểm du lịch. Còn lâu dài, muốn làng nghề trở thành điểm du lịch, chúng ta cần có quy hoạch, đầu tư về hạ tầng giao thông, cơ sở đón tiếp khách, điểm trình diễn; đào tạo nguồn nhân lực, xúc tiến quảng bá.

    Nông dân cần học cách làm du lịch

    Để nhân rộng các mô hình du lịch làng nghề giống như lụa Vạn Phúc, gốm Bát Tràng, tranh Đông Hồ, tại thủ đô Hà Nội, từ nhiều năm nay, các cơ quan chức năng đã tiến hành quy hoạch và phê duyệt một loạt dự án xây dựng các điểm du lịch làng nghề truyền thống như mây tre đan Phú Nghĩa, thêu ren Quất Động, tạc tượng Sơn Đồng, khảm trai Chuyên Mỹ…

    Nhiều làng nghề cho rằng, do xa trung tâm thủ đô, giao thông chưa thuận tiện nên khó thu hút khách. Do đó, nhiều địa phương đã đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng như đường dẫn từ quốc lộ vào làng nghề, nhà chợ, nhà trưng bày triển lãm. Điển hình như làng mây tre đan Phú Nghĩa, từ năm 2001, UBND tỉnh Hà Tây (cũ) và Sở Du lịch Hà Tây đã đầu tư 1 tỷ đồng để làm đường, xây nhà triển lãm… nhưng cho tới nay vẫn vắng hoe du khách.

    Nhiều làng nghề khác, dự án hiện vẫn dậm chân tại chỗ, thậm chí chỉ kịp treo lên tấm biển “địa điểm du lịch làng nghề”, sau đó để hoen ố bởi nắng mưa, và không có bóng dáng một khách du lịch nào. Nguyên nhân là do việc đầu tư không đồng bộ, không rõ cơ chế triển khai, hoặc dự án triển khai dở dang. Trong khi các dự án chỉ tập trung vào cơ sở hạ tầng thì người dân làng lại không được tập huấn các kỹ năng làm du lịch, bà con phải tự loay hoay mày mò.

    Chị Bùi Thúy Vinh, một chủ cơ sở mây tre đan ở làng nghề Phú Nghĩa, chia sẻ: “Ở đây chúng tôi đều hiểu nếu kéo được khách du lịch tới thăm làng nghề thì không những bán được nhiều hàng mà còn là cơ hội để quảng bá hình ảnh, thương hiệu của làng mình nữa, nhưng không biết phải bắt đầu từ đâu?”. Còn tại Bắc Ninh, các điểm du lịch làng nghề vẫn do các nghệ nhân mày mò, xây dựng các tour đón khách, còn các cơ quan chức năng chưa vào cuộc.

    Theo Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Hồ Xuân Hùng, việc đầu tiên là phải quy hoạch lại các làng nghề trở thành điểm tham quan du lịch, sau đó đào tạo cho nông dân kỹ năng làm du lịch, doanh nghiệp lữ hành và các làng nghề cần hợp tác chặt chẽ để thiết lập nên các tour tham quan làng nghề.

    Cùng với đó một yếu tố quan trọng để thu hút khách du lịch đến với các làng nghề đó là vấn đề môi trường. Bài toán đặt ra trong công tác quản lý làng nghề đã từ lâu nhưng chưa tìm được lời giải đáp thỏa đáng. Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hồ Xuân Hùng khẳng định: “Vấn đề môi trường làng nghề hiện nay đặt ra vấn đề là phải hoạch định rõ trách nhiệm của các cơ quan chức năng. Hiện nay chịu trách nhiệm quản lý về môi trường làng nghề là Bộ Khoa học-Công nghệ chứ không nằm ở Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Nhưng dù Bộ nào thì tôi cho rằng, vấn đề là từ chính quyền cơ sở, quan trọng nhất là quy hoạch cho làng nghề có được địa điểm, vị trí, nhất định phải làm rõ vấn đề xử lý môi trường khi xây dựng và phát triển làng nghề. Tôi xin lưu ý là không phải để xảy ra vấn đề môi trường rồi mới xử lý, mà phải bắt đầu từ quy hoạch, nếu không xử lý được vấn đề về môi trường thì nhất định không cho sản xuất”.

    Phát triển, quảng bá du lịch làng nghề đã khó, gìn giữ được bản sắc, những nét tinh hoa của làng nghề cũng như môi trường sống của người dân còn khó hơn nhiều. Nếu chỉ chú trọng tới làm du lịch, làm kinh tế mà quên mất những điều căn bản đó thì sẽ tự làm mất đi một phần di sản văn hóa lớn nhất của mình đó là các làng nghề.

    KẾT LUẬN:

    Du lịch làng nghề nước ta có nhiều lợi thế, tiềm năng để phát triển. Trong những năm gần đây, mặc dù đã có bước phát triển đáng ghi nhận, thể hiện những nỗ lực của những cơ quan quản lý ngành du lịch cũng như của các địa phương, du lịch làng nghề đã ngày càng đóng góp tích cực hơn so với tỷ trọng các loại hình du lịch. Tuy nhiên nhìn chung, loại hình du lịch làng nghề Việt Nam còn phát triển manh mún, tự phát và chưa xứng tầm với tiềm năng.

    Chính vì thế, vấn đề tìm và ứng dụng các phương hướng, biện pháp nhằm phát triển du lịch làng nghề ở nước ta là một vấn đề lớn, không chỉ là trách nhiệm của cơ quan quản lý ngành du lịch, mà còn cần sự phối hợp của nhiều ban ngành như các cơ quan quản lý văn hóa, Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thông; Bộ Tài Nguyên – Môi trường; Bộ Công thương… giống như ý kiến của Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hồ Xuân Hùng thì vấn đề phát triển, quảng bá du lịch làng nghề đã khó, gìn giữ được bản sắc, những nét tinh hoa của làng nghề cũng như môi trường sống của người dân còn khó hơn. Nếu chỉ chú trọng tới làm du lịch, làm kinh tế mà quên mất những điều căn bản đó thì sẽ tự làm mất đi một phần di sản văn hóa lớn nhất của mình đó là các làng nghề.

    Cinet Tổng hợp

    Nguồn: cinet.gov.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • 7 Làng Nghề Truyền Thống Hội An Giữ Nguyên Bản Sắc Việt
  • Vòng Quanh Hội An Ghé Thăm 5 Làng Nghề Truyền Thống
  • Ghé Thăm 4 Làng Nghề Truyền Thống Nức Danh Ở Hội An
  • Tour Làng Nghề Bình Định 1 Ngày: Làng Nghề Trên Kinh Đô Xưa
  • Hướng Dẫn Đường Đi Từ Đà Nẵng Tới Lăng Cô Nhanh, Gần Nhất
  • Nghiên Cứu Những Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Bền Vững Tại Bà Rịa

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Phát Triển Bền Vững Du Lịch Sinh Thái Cộng Đồng Vườn Quốc Gia Phước Bình
  • Phát Triển Du Lịch Hiệu Quả Và Bền Vững
  • Giải Pháp Thúc Đẩy Du Lịch Sinh Thái Nông Nghiệp Phát Triển Trong Bối Cảnh Ứng Phó Với Tác Động Của Biến Đổi Khí Hậu
  • Tập Trung Triển Khai Giải Pháp Phục Hồi Hoạt Động Du Lịch Trong Năm 2022
  • Ngành Du Lịch Chủ Động Tìm Giải Pháp Phục Hồi
  • QLMT – Nghiên cứu trên nền tảng của dữ liệu thống kê, phương pháp định tính và cơ sở lý thuyết để đề xuất những giải pháp phát triển du lịch bền vững tại Bà Rịa – Vũng Tàu là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến khả năng thu hút khách du lịch và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh du lịch bền vững. Theo đó, tác giả đề xuất các nhóm giải pháp với mục tiêu đem lại hiệu quả lâu dài cho Bà Rịa – Vũng Tàu, lan tỏa đến các địa phương trong cả nước và quốc tế.

    1. Đặt vấn đề

    Trong thời gian qua, ngành kinh tế du lịch của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có sự tăng trưởng khá bền vững, duy trì nhịp độ phát triển theo chỉ tiêu Nghị quyết Đảng bộ Tỉnh lần thứ VII đề ra, đạt được những thành tựu quan trọng về thu hút nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước, sản phẩm du lịch mới, các loại hình dịch vụ đạt chất lượng được đầu tư phát triển. Tỉnh đã tập trung ổn định có hiệu quả trật tự, an toàn tại các điểm du lịch. Tuy nhiên, so với tiềm năng và lợi thế về tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, ngành kinh tế du lịch vẫn đang phát triển chưa tương xứng, mà nguyên nhân chủ yếu là do vai trò của kinh tế du lịch chưa được các cấp chính quyền nhận thức đầy đủ, hạ tầng kỹ thuật đầu tư trực tiếp phục vụ cho du lịch chưa đồng bộ, chính sách về đất đai và đầu tư chưa ổn định. Năm 2022, dịch Covid 19 đã gây ảnh hưởng lớn cho các khu du lịch ven biển. Điều này phần nào làm chậm lại tốc độ tăng trưởng của ngành Du lịch. Trong bối cảnh đó, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bà Rịa – Vũng Tàu khóa VII theo chỉ đạo của Bộ Chính trị đã kịp thời đưa ra nhiều giải pháp đồng bộ, thể hiện quyết tâm của Đảng bộ, chính quyền, nhân dân tỉnh; nhằm duy trì và đẩy nhanh đà tăng trưởng của ngành kinh tế du lịch, xác định rõ những cơ sở khoa học để tìm ra những giải pháp phát triển du lịch bền vững cho tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là ngành kinh tế mũi nhọn.

    2. Những cơ sở khoa học

    2.1. Từ góc độ bền vững về kinh tế

    – Để ngành Du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và hướng tới phát triển du lịch bền vững, cùng với việc kiện toàn bộ máy tổ chức, tăng cường năng lực quản lý, công tác quản lý nhà nước về du lịch ở Bà Rịa – Vũng Tàu cần đánh giá lại tốc độ đầu tư các khu du lịch, chất lượng khai thác các nguồn tài nguyên; công tác bảo tồn, bảo vệ môi trường sinh thái; xác lập và duy trì, nuôi dưỡng tốt mối quan hệ với cộng đồng địa phương, doanh nghiệp kinh doanh du lịch.

    – Tốc độ đầu tư cho du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu được đánh giá khá cao thông qua sự đầu tư phát triển hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật,… Nhưng khi đầu tư quá nhanh, ồ ạt, sẽ tiềm ẩn nguy cơ suy thoái vì đầu tư càng nhiều, tốc độ khai thác các nguồn tài nguyên sẽ càng lớn, dẫn đến cạn kiệt nguồn tài nguyên.

     - Công tác xúc tiến quảng bá du lịch ở Bà Rịa – Vũng Tàu ngày càng có nhiều chuyển biến, bước đầu có hiệu quả. Tuy nhiên, quy mô hoạt động còn nhỏ, hiệu quả chưa cao, chương trình xúc tiến quảng bá chậm đổi mới chưa đáp ứng nhu cầu du khách, một số doanh nghiệp thiếu trách nhiệm trong việc cung cấp thông tin cho du khách gây tác động tiêu cực đến phát triển du lịch bền vững.

     - Thực trạng về chất lượng nguồn nhân lực du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu hiện nay chưa được nâng lên theo hướng bền vững, cần có chuyển biến đột phá, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đặc biệt trong bộ phận làm công tác chiến lược, quy hoạch ngành. Đồng thời, tỉnh cần nâng cao tay nghề đội ngũ lao động trực tiếp phục vụ khách du lịch cả về ngoại ngữ, tin học và kiến thức văn hóa, góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch.

    2.2. Từ góc độ bền vững về môi trường

    – Hoạt động khai thác nguồn tài nguyên du lịch ở Bà Rịa – Vũng Tàu đang diễn ra ồ ạt trong những năm gần đây. Phát triển cần có sự đầu tư khai thác các nguồn tài nguyên. Hoạt động du lịch có mức độ khai thác nhanh hơn, nhiều hơn, nhưng hiệu quả mang lại không cao. Do vậy, cần phải tránh đi “vết xe đổ” của nhiều nơi khi diễn ra xây dựng bê tông ồ ạt, khai thác du lịch bừa bãi, gây suy thoái môi trường nghiêm trọng.

     - Công tác quản lý hiện nay còn chồng chéo, chưa thể hiện trách nhiệm rõ ràng, nhận thức về khai thác, bảo vệ nguồn tài nguyên còn hạn chế; cần có sự phối hợp giữa các ngành chức năng, cộng đồng địa phương, các doanh nghiệp và du khách để góp phần bảo vệ hiệu quả các nguồn tài nguyên du lịch, đáp ứng yêu cầu du lịch bền vững.

    – Chính quyền địa phương chưa đánh giá được mức độ xuống cấp của các khu du lịch, các khu bảo tồn biển. Công tác bảo tồn hiện đang có nhiều bất cập, cần có điều chỉnh trong công tác quy hoạch để có kế hoạch bảo tồn cụ thể cho từng khu du lịch.

     - Những điểm du lịch chính ở Bà Rịa – Vũng Tàu có cường độ hoạt động khá cao, tập trung chủ yếu vào mùa du lịch. Sự quá tải do lượng du khách chắc chắn sẽ gây tác động đến môi trường sống, nguồn tài nguyên, ô nhiễm môi trường nước, môi trường không khí, sự suy giảm đa dạng sinh học là không tránh khỏi.

    2.3. Từ góc độ bền vững về xã hội

    – Phát triển du lịch làm thay đổi nhận thức trong việc đóng góp lợi ích kinh tế, tạo ra nhiều việc làm, giải quyết tình trạng thất nghiệp.

    – Mục tiêu của du lịch là vì sự phát triển của cộng đồng, đem lại lợi ích cho cộng đồng và phát triển du lịch bền vững chỉ có thể thực hiện được khi có sự tham gia của cộng đồng. Sự tham gia của người dân sẽ hạn chế các yếu tố xung đột có thể xảy ra trong du lịch.

     - Hoạt động xã hội hóa ngày càng ưu tiên trong lĩnh vực du lịch nhằm khai thác nguồn lực bên ngoài, cùng với nhiều chính sách ưu đãi góp phần vào quá trình phát triển kinh tế – xã hội của địa phương. Khó khăn hiện nay là việc kiểm soát, quản lý các khách sạn quy mô nhỏ, chưa đạt chuẩn trong việc đảm bảo chất lượng dịch vụ phục vụ du khách.

    – Du nhập của văn hóa ngoại lai ngày càng diễn biến phức tạp. Hoạt động du lịch là lĩnh vực dễ dẫn đến biến đổi bản sắc văn hóa nếu chúng ta không có giải pháp lâu dài và cần có sự phối hợp giữa các ban ngành về giữ gìn nét truyền thống văn hóa địa phương.

    3. Những giải pháp

    3.1. Về phía cơ quan quản lý nhà nước đối với phát triển du lịch bền vững

    3.1.1. Công tác quy hoạch du lịch

    Quy hoạch về phát triển văn hóa, thể thao và du lịch đến năm 2025 và tầm nhìn 2035  đã đánh giá thực trạng, xác định những điểm yếu, thuận lợi của ngành, đánh giá hiện trạng nguồn tài nguyên phục vụ du lịch, định hướng phát triển du lịch và đề ra giải pháp thực hiện quy hoạch. Nhìn chung, xây dựng quy hoạch đã phân tích được về hiệu quả kinh tế, quy mô hạ tầng du lịch, sản phẩm du lịch, thu hút dự án đầu tư nhưng chưa đề cập đến đánh giá tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến tài nguyên, môi trường, chưa đề ra giải pháp về bảo tồn khu danh thắng, quy mô đầu tư cho hoạt động bảo tồn. Để đảm bảo cho phát triển du lịch bền vững, cần bổ sung trong quy hoạch phát triển văn hóa, thể thao và du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu đến năm 2035 như sau:

    + Điều tra, thống kê những chỉ tiêu về kinh tế, môi trường và xã hội đã tác động đến phát triển du lịch thành phố. Qua đó, đánh giá mức độ cảnh báo ở mỗi tiêu chí để có định hướng cụ thể cho triển khai thực hiện quy hoạch hiệu quả hơn; phân bổ các nguồn lực hợp lý, tránh sự đầu tư lãng phí, không đúng đối tượng.

    + Đánh giá thực trạng công tác bảo tồn, tu bổ, tôn tạo các khu danh thắng thông qua các chỉ tiêu về quy mô đầu tư, số lượng và chất lượng các công trình được quy hoạch tu bổ, xây dựng giải pháp cho công tác tôn tạo các danh thắng, các khu di tích lịch sử nhằm bảo tồn các giá trị của nguồn tài nguyên.

    3.1.2. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực

    + Bổ sung những ngành nghề đào tạo về du lịch theo các đề án trong và ngoài nước.

    + Đẩy mạnh hợp tác phát triển nguồn nhân lực với các tập đoàn lớn, đa quốc gia về lĩnh vực du lịch, tiếp thu những kinh nghiệm trong quản lý, điều hành cũng như tính chuyên nghiệp trong phục vụ du khách. Khai thác thế mạnh về nguồn nhân lực chất lượng cao tại các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn thành phố.

    + Khảo sát, thống kê chính xác chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước, quản lý dự án và một số ngành nghề khác trong ngành du lịch, trên cơ sở đó xây dựng phương án đào tạo lại và bồi dưỡng.

    + Tiếp tục bồi dưỡng và nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức về văn hoá, xã hội, lịch sử của Bà Rịa – Vũng Tàu cho đội ngũ hướng dẫn viên du lịch, đào tạo và phát triển kỹ năng thành thạo nhiều ngoại ngữ khác ngoài tiếng Anh để phục vụ khách quốc tế.

    3.1.3. Đa dạng hóa sản phẩm du lịch và hướng tới sản phẩm có giá trị cao

    Phát triển sản phẩm giá trị cao, độc đáo và sáng tạo, phát huy lợi thế so sánh vùng là giải pháp bền vững. Theo đó, cần có một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm hiện có và phát triển đa dạng hóa sản phẩm mới, có giá trị kinh tế cao như sau:

    Đối với sản phẩm hiện có:

    – Đánh giá lại hiệu quả của toàn bộ sản phẩm du lịch hiện đang được cung cấp phục vụ du khách thông qua đánh giá sự hài lòng của họ về sản phẩm, hiệu quả kinh tế cho đầu tư phát triển loại sản phẩm đó thông qua một số tiêu chí như: Chất lượng, giá cả, mẫu mã, hình dáng sản phẩm, thái độ phục vụ, mức độ quan tâm của du khách đến với sản phẩm, mức chi tiêu đối với sản phẩm,…

    – Phân loại sản phẩm du lịch đặc trưng của thành phố, định vị sản phẩm chủ lực, sản phẩm bổ sung, sản phẩm thay thế để làm căn cứ phân bổ nguồn lực đầu tư hợp lý, hỗ trợ công tác quy hoạch, định hướng thu hút đầu tư nhằm khai thác tối đa hiệu quả các nguồn lực.

    – Tổ chức đan xen các hoạt động du lịch với nhau phù hợp theo mùa, theo sự kiện nhằm khai thác hợp lý nguồn lực, hạn chế sự quá tải dẫn đến suy thoái tài nguyên, ô nhiễm môi trường.

    – Cuộc thi quốc tế của Bà Rịa – Vũng Tàu là một loại hình sản phẩm du lịch đặc thù, mang tính độc đáo, có giá trị văn hóa cao. Lượng du khách về Bà Rịa – Vũng Tàu trong những ngày hội này rất đông. Để duy trì và nâng cao chất lượng chương trình, một sản phẩm đặc thù, tỉnh cần có sự đầu tư nhiều hơn nữa về đội tuyển tham gia, người dẫn chương trình, các hoạt động hỗ trợ, công tác thu gom, rác thải, an ninh trật tự,…

    – Củng cố và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch biển đảm bảo lợi thế cạnh tranh, coi đây là sản phẩm chủ lực của thành phố. Tổ chức lại khu phố mua sắm, phố ẩm thực đêm để đáp ứng nhu cầu du khách lưu trú. Loại hình này đã tổ chức nhưng không duy trì, hiệu quả không cao do sản phẩm quá nghèo nàn, trùng lặp, chất lượng thấp và giá cả quá cao. Nâng cao chất lượng bãi tắm, tiếp tục xây dựng các bãi tắm du lịch kiểu mẫu. Tổ chức các sự kiện du lịch, thể thao biển, các hoạt động văn hóa mang tính cộng đồng và các hoạt động khác tại bãi tắm. Tiếp tục tổ chức các dịch vụ du lịch trên biển ngày càng có chất lượng cao. Chú trọng hơn nữa công tác vệ sinh môi trường tại các bãi biển. Đầu tư về số lượng và chất lượng các khu nhà vệ sinh công cộng, đáp ứng lượng du khách tại các khu bãi tắm, tránh tình trạng đầu tư “cho có” mà không đưa vào sử dụng như thông tin đã phản ảnh trên phương tiện thông tin đại chúng.

    Phát triển sản phẩm mới:

    – Hình thành các khu bán hàng lưu niệm, giải trí và các dịch vụ phục vụ du khách khu vực ven biển.

    – Thu hút đầu tư phát triển khu vui chơi giải trí cao cấp nhiều thể loại phục vụ đối tượng du khách quốc tế và du khách trong nước có mức chi trả cao. Các loại hình vui chơi giải trí cũng phải được nghiên cứu cho phù hợp với điều kiện của địa phương để khai thác có hiệu quả.

    3.1.4. Hoàn thiện cơ chế chính sách, quản lý điều hành

    – Bà Rịa – Vũng Tàu cần quan tâm về tính minh bạch và trách nhiệm của bộ máy hành chính, thiết chế pháp lý. Cần cải thiện chất lượng các cơ chế, chính sách thu hút đầu tư, giảm thiểu những chi phí không chính thức cho các doanh nghiệp, thực hiện mô hình hành chính công hiện đại.

    – Sửa đổi, bổ sung và ban hành thống nhất quy chế quản lý các khu du lịch đã được quy hoạch để giúp cho việc triển khai được đồng bộ, phát huy năng lực quản lý điều hành, khai thác hiệu quả khu du lịch.

    – Phối hợp với các nhà cung cấp tài chính để xây dựng những chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp vay vốn kịp thời, thủ tục hồ sơ giải ngân vốn đảm bảo để đầu tư nâng cao chất lượng dịch vụ phục vụ du khách.

    – Ban hành các quy định, cơ chế chính sách khuyến khích sự tham gia đầu tư của các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp vào hoạt động phát triển du lịch, trong đó ưu tiên đối với những dự án đầu tư du lịch có giải pháp khả thi nhằm giảm thiểu các tác động của du lịch đến môi trường.

    3.1.5. Tập trung vào công tác thông tin, tuyên truyền

    + Tiếp tục duy trì và nâng cao chất lượng các chương trình để quảng bá du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu như: Vũng Tàu – Biển hát, Cuộc thi thả diều quốc tế, ẩm thực thế giới, hoa hậu quý bà… đồng thời tuyên truyền, quảng bá hoạt động du lịch qua các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương và Trung ương. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong việc xúc tiến, tuyên truyền, quảng bá du lịch thông qua hội chợ, triển lãm,…

    3.1.6. Phát triển hạ tầng đô thị, cơ sở vật chất phục vụ du lịch

    – Triển khai nhanh các dự án du lịch trên địa bàn thành phố nhằm đồng bộ các khu du lịch, cung cấp cơ sở lưu trú chất lượng cao nhằm đáp ứng nhu cầu của du khách.

    – Rà soát và thẩm định lại cơ sở lưu trú theo đúng quy định về tiêu chuẩn lưu trú góp phần duy trì, nâng cao chất lượng dịch vụ trong các cơ sở lưu trú du lịch.

    – Nâng cao chất lượng phục vụ, tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ quản lý, nhân viên tại các cơ sở lưu trú.

    – Hoàn chỉnh hệ thống thông tin liên lạc, xây dựng và cải tạo mạng lưới cấp điện cho các khu đô thị và du lịch. Cung cấp đầy đủ nước sạch đáp ứng yêu cầu của du lịch. Mở rộng, cải tạo hệ thống thoát nước.

    3.1.7. Tăng cường hợp tác quốc tế

    Mô hình phát triển du lịch bền vững đã được các nước trên thế giới triển khai thực hiện, đặc biệt là những quốc gia có nền kinh tế, du lịch phát triển; nguồn tài nguyên đa dạng như Mỹ, Úc, Nhật Bản… Bà Rịa – Vũng Tàu cần đẩy mạnh quan hệ hợp tác quốc tế về nhiều lĩnh vực nhưng trước mắt cần tăng cường liên kết với các nước về kinh nghiệm quản lý phát triển du lịch bền vững để từ đó xác định hướng đi phù hợp.

    3.1.8. Bảo vệ bền vững tài nguyên, môi trường

    + Xây dựng đề án bảo vệ môi trường, nâng cao năng lực ứng phó với các sự cố môi trường tại các khu du lịch, điểm du lịch; nghiên cứu xây dựng và áp dụng các tiêu chuẩn bền vững về môi trường trong du lịch phù hợp với tình hình phát triển du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu.

    + Thực hiện đánh giá chất lượng các dự án ảnh hưởng tới môi trường du lịch; kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất về công nghệ, thiết bị, quy trình vận hành, hệ thống xử lý nước thải và khả năng ứng phó sự cố môi trường của các cơ sở kinh doanh du lịch. Song song với những chính sách khuyến khích hoạt động phát triển du lịch bền vững, cần có biện pháp chế tài đối với những tổ chức du lịch thiếu trách nhiệm, làm ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên.

    + Khu vực bờ biển Bà Rịa – Vũng Tàu đầu tư rất nhiều cho hoạt động du lịch. Để phát triển bền vững du lịch vùng biển, cần xây dựng quy chế quản lý và kiểm soát chất thải, chống xói mòn bãi, bảo vệ rạn san hô và các hệ sinh thái nhạy cảm khác.

    + Xây dựng các quy chế sử dụng mặt nước, tàu thuyền du lịch câu cá, bơi lội, khu tắm biển văn minh, khu vực kinh doanh dịch vụ nhà hàng, hạn chế sự phát triển tràn lan các cơ sở kinh doanh ăn uống bình dân như hiện nay.

    + Phát triển du lịch cộng đồng cụ thể là xây dựng làng du lịch, khôi phục các làng nghề, thủ công truyền thống, chọn “điểm đến” để tạo ra các điểm tham quan du lịch mới, tăng trải nghiệm cho du khách.

    3.1.9. Về tính xã hội, nhân văn

    – Du lịch là ngành kinh tế mang tính liên ngành, đặt ra yêu cầu cần thiết phải có sự phối hợp, cùng tham gia của các Sở, ban, ngành, các thành phần kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi trong việc khai thác, sử dụng các nguồn lực hiệu quả, thúc đẩy cho ngành Du lịch phát triển bền vững. Giải pháp thành lập Quỹ phát triển du lịch thành phố trên cơ sở đóng góp của các doanh nghiệp, đơn vị kinh doanh du lịch góp phần cho công tác xã hội hóa, chia sẻ kinh phí và cùng với thành phố phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn là cần thiết.

    – Đảm bảo quyền lợi cho cộng đồng địa phương tham gia hoạt động du lịch:

    + Nhà nước tạo mọi điều kiện cho người dân tham gia vào việc hình thành sản phẩm du lịch mới gắn liền với cuộc sống người dân, cải thiện thu nhập, hạn chế việc khai thác tài nguyên phục vụ cuộc sống mưu sinh của họ.

    + Khuyến khích các doanh nhân, doanh nghiệp hoạt động kinh doanh du lịch trên địa bàn tham gia đóng góp, đầu tư các công trình phúc lợi, hoạt động an sinh xã hội, nâng cao nhận thức về du lịch bền vững, ưu tiên tuyển dụng và đào tạo lao động địa phương vào các hoạt động du lịch, thậm chí ở các vị trí quản lý.

    + Bảo đảm quyền lợi của cộng đồng cư dân tham gia vào việc bảo tồn các giá trị văn hoá, được hưởng lợi ích từ các sản phẩm du lịch.

    – Tiếp tục duy trì và củng cố hoạt động Đội vệ sinh môi trường chuyên làm nhiệm vụ vớt rong rêu, rác thải trên các tuyến sông và biển đảm bảo môi trường luôn sạch đẹp trong và ngoài khu du lịch; Đội quản lý an ninh trật tự nhằm xử lý kiên quyết các tình trạng chèo kéo, tranh giành khách.

    – Thông qua các tổ chức đoàn thể như Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Hội Người cao tuổi, Đoàn Thanh niên tổ chức tuyên truyền cho người dân địa phương tham gia tích cực vào các hoạt động du lịch, công tác bảo vệ, tôn tạo và phát triển tài nguyên du lịch; tham gia vệ sinh môi trường tại các khu du lịch, khu vui chơi giải trí trên địa bàn họ sinh sống.

    3.2. Đối với doanh nghiệp du lịch

    Doanh nghiệp du lịch là nhà cung cấp sản phẩm và dịch vụ cho du khách, là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển du lịch. Doanh nghiệp du lịch cần thực hiện những giải pháp sau để góp phần thúc đẩy hoạt động du lịch phát triển theo hướng bền vững:

    – Tích cực tham gia vào hoạt động du lịch bền vững theo chủ trương của chính quyền địa phương. Thực hiện kinh doanh theo đúng quy định của pháp luật.

    – Tăng cường sự đầu tư phát triển hệ thống nhà hàng, khách sạn theo tiêu chuẩn trong nước và quốc tế. Xây dựng hệ thống xử lý nước thải, bảo vệ môi trường, hạn chế sử dụng và loại bỏ những hoá chất trong việc chăm sóc cơ sở du lịch. Dần dần sử dụng những nguyên vật liệu phục vụ trong phát triển hoạt động kinh doanh theo hướng thân thiện môi trường.

    – Ứng dụng tiến bộ khoa học – công nghệ tiên tiến trong việc tiết kiệm nguồn năng lượng, hướng tới sử dụng năng lượng từ gió, mặt trời và các nguồn khác, góp phần giảm chi phí đầu vào cho doanh nghiệp.

    – Cam kết không tăng giá trong mùa du lịch. Cùng với cộng đồng địa phương chia sẻ lợi tức từ hoạt động du lịch mang lại, giải quyết việc làm, cải thiện thu nhập người lao động góp phần thực hiện công tác an sinh xã hội với chính quyền địa phương.

    – Trang bị đầy đủ kiến thức cho đội ngũ hướng dẫn viên du lịch, đội ngũ lao động trong ngành du lịch về đạo đức nghề nghiệp, tính chuyên nghiệp và đặc biệt là trang bị kiến thức hiểu biết toàn diện về lịch sử, văn hóa, ngoại ngữ, giữ vai trò như một PR về du lịch.

    3.3. Đối với cộng đồng dân cư địa phương

    Thông qua việc tham gia vào hoạt động du lịch giúp cho người dân không khai thác bừa bãi nguồn tài nguyên phục vụ nhu cầu sống, tạo việc làm, tăng thu nhập; trái lại chính họ góp phần vào sự phát triển du lịch bền vững. Để bảo vệ môi trường, góp phần cho phát triển du lịch bền vững, người dân địa phương cần:

    – Thực hiện phân loại, thu gom và xử lý rác thải, nước thải trước khi đưa ra môi trường; Tích cực hưởng ứng và tham gia vào các phong trào làm sạch môi trường tại địa phương.

    – Hưởng ứng và duy trì cùng với doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước trong việc triển khai chương trình phát triển sản phẩm du lịch cộng đồng, du lịch văn hóa, du lịch sinh thái như cung cấp điểm đến, cơ sở lưu trú, thực phẩm, sản phẩm lưu niệm…

    – Chấp hành các quy định, nội quy khi là khách du lịch tham quan. Tuyên truyền, giáo dục nhận thức cho các thế hệ trong gia đình về ý thức bảo vệ môi trường, bảo vệ di tích lịch sử văn hóa và thuần phong mỹ tục của dân tộc, thái độ ứng xử thân thiện với du khách.

    – Tuyệt đối không xả rác thải ra ao hồ, sông suối, khu vực công cộng; không chèo kéo, đeo bám, ép giá khách; không có những hành động chặt cây, đốt lửa, vẽ bậy lên các hang động, di tích xung quanh tại khu du lịch; không săn bắn, khai thác trái phép các loài động vật hoang dã; không xây dựng các công trình gây mất cảnh quan môi trường.

    3.4. Đối với du khách

    Du khách là người sử dụng cuối cùng đến môi trường, là người tác động trực tiếp đến nguồn tài nguyên du lịch. Du khách rất đa dạng, nhiều tầng lớp, trình độ nhận thức và mức chi tiêu khác nhau, tác động của du khách lên môi trường là phức tạp. Giải pháp để đóng góp vào phát triển du lịch bền vững đối với du khách là:

    – Đầu tư các phương tiện hỗ trợ trong việc thu gom, xử lý rác thải, có những biển báo, chỉ dẫn tại những khu vực thuận tiện cho du khách. Chính sự thiếu cung cấp các phương tiện, công cụ này sẽ là nguyên nhân gián tiếp cho du khách thải rác thải trực tiếp ra môi trường mặc dù họ không muốn hành động như vậy.

    – Tham gia đóng góp ý kiến sau hành trình tham quan tại điểm du lịch về cách thức phục vụ, cảnh quan thiên nhiên, sản phẩm du lịch, môi trường, con người, ẩm thực,… để các doanh nghiệp và chính quyền địa phương có sự điều chỉnh phù hợp.

    Mục tiêu của du lịch bền vững là phát triển, gia tăng sự đóng góp của du lịch vào kinh tế, cải thiện tính công bằng xã hội, cải thiện chất lượng cuộc sống của cộng đồng dân cư, đáp ứng nhu cầu của du khách và duy trì chất lượng môi trường.

    Bà Rịa – Vũng Tàu đã và đang tập trung các nguồn lực vào phát triển du lịch, thu hút rất nhiều dự án đầu tư, khai thác tại các khu bảo tồn, khu vực có nguồn tài nguyên. Chất lượng sản phẩm du lịch ngày càng được cải thiện, tạo môi trường du lịch thân thiện và an toàn, thu hút du khách đến với thành phố. Tuy nhiên, để đảm bảo thực hiện theo những nguyên tắc về phát triển du lịch bền vững, đòi hỏi phải có nỗ lực, cố gắng và sự đồng tâm nhất trí giữa các cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp, người dân thành phố và du khách trong việc triển khai các giải pháp. Chắc chắn rằng, trong thời gian tới, Bà Rịa – Vũng Tàu sẽ trở thành điểm du lịch nổi tiếng của cả nước, vươn ra tầm khu vực và thế giới.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO:

    Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

    Phạm Trung Lương (2002). Cơ sở khoa học và giải pháp phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam/Viện Nghiên cứu phát triển du lịch.

    Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển văn hoá, thể thao và du lịch đến năm 2022.

    Báo cáo tổng kết và phương hướng phát triển du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu

    Niên giám thống kê Bà Rịa – Vũng Tàu 2022, 2022.

     

    SOLUTIONS FOR DEVELOPING BA RIA – VUNG TAU PROVINCE’S TOURISM SUSTAINABILITY

    Ph.D VU VAN DONG

    Vice Rector, Ba Ria – Vung Tau University

    ABSTRACT:

    This research is based on statistical data, qualitative methods and theoretical bases to propose solutions for sustainable tourism development in Ba Ria – Vung Tau Province. The sustainable development is one of the most important factors determining the tourist attraction of Ba Ria – Vung Tau Province and the efficiency of tourism businesses in the long-term. Based on the research’s findings, 4 solution groups are proposed to develop Ba Ria – Vung Tau Province’s tourism industry sustainability including the solution group for state management agencies, the solution group for tourism businesses, the solution group for local communities, and the solution group for tourists. These solution groups are expected to create long-term effects and long lasting results for not only Ba Ria – Vung Tau Province but also other localities across Vietnam.

    Keywords:

    Research, tourism, sustainability, development, solutions, Ba Ria – Vung Tau Province.

    Theo TS. VŨ VĂN ĐÔNG (Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Bà Rịa – Vũng Tàu)/ Tạp Chí Công Thương

    --- Bài cũ hơn ---

  • Về Giá Vé Khu Du Lịch Ao Vua Một Cách Đầy Đủ Và Chi Tiết Nhất
  • Ăn Tối Trên Tàu Giá Rẻ Chỉ 280.000Đ
  • Mở Bán Vé Tàu 5 Sao Từ Sài Gòn Đi Nha Trang
  • Vé Tàu Sài Gòn Nha Trang Giá Ưu Đãi, Đặt Trực Tuyến
  • Bảng Giá Vé Tàu Lửa Tphcm Sài Gòn Đi Nha Trang Giá Rẻ Trực Tuyến
  • Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch, 30 Năm Gắn Liền Với Sự Phát Triển Của Du Lịch Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch Triển Khai Công Tác Năm 2013
  • Hướng Dẫn Khai Tờ Khai Xin Visa Hungary
  • Dịch Vụ Làm Visa Hà Lan Trọn Gói Tại Hà Nội Và Hồ Chí Minh
  • Việt Nam Có Mấy Vùng Kinh Tế Trọng Điểm?
  • Canada Và Việt Nam Có Tiềm Năng Rất Lớn Để Hợp Tác Phát Triển Du Lịch
  • Chặng đường 30 năm xây dựng và phát triển của Viện Nghiên cứu phát triển (NCPT) Du lịch luôn gắn liền với lịch sử phát triển của ngành Du lịch Việt Nam. Tập thể Viện NCPT Du lịch qua các thời kỳ đều có thể tự hào về những đóng góp tích cực cho sự phát triển của ngành Du lịch nói riêng và cho xã hội nói chung… Được Bộ VHTTDL, TCDL tin tưởng giao nhiệm vụ

    Hoạt động của Viện NCPT Du lịch trong những năm đầu mới thành lập thực sự là những thử thách rất lớn đối với sự phát triển của một Viện nghiên cứu chuyên ngành còn rất non trẻ. Theo tinh thần Nghị quyết 45/CP ngày 22/6/1993 của Chính phủ và Chỉ thị 46/BCH-CT ngày 14/10/1994 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về đổi mới quản lý và phát triển ngành Du lịch nhằm mục tiêu “Phát triển du lịch là một hướng chiến lược quan trọng trong đường lối phát triển kinh tế – xã hội nhằm góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, việc xây dựng Quy hoạch tổng thể phát triển Du lịch Việt Nam giai đoạn 1995-2010 là rất quan trọng và cấp bách. Nhiệm vụ quan trọng này đã được TCDL tin tưởng giao cho Viện NCPT Du lịch thực hiện. Sau gần 1 năm thực hiện, Quy hoạch tổng thể phát triển Du lịch Việt Nam giai đoạn 1995-2010 đã hoàn thành để trình Chính phủ và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Đây là lần đầu tiên trong suốt 35 năm xây dựng và trưởng thành, ngành Du lịch đã có quy hoạch chuyên ngành trên phạm vi toàn quốc.

    Với thành công bước đầu đó, Viện NCPT Du lịch tiếp tục được TCDL giao nhiệm vụ xây dựng Chiến lược phát triển Du lịch Việt Nam giai đoạn 2001-2010, trọng tâm xác định rõ quan điểm, mục tiêu phát triển Du lịch Việt Nam trong bối cảnh Việt Nam ngày càng hội nhập toàn diện với khu vực và quốc tế; và ngành Du lịch được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn, đóng vai trò quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước; được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 97/2002/QĐ-TTg ngày 22/7/2002.

    Phát triển Du lịch Việt Nam từ tầm nhìn chiến lược

    Để đáp ứng yêu cầu mới trong giai đoạn phát triển KT-XH của đất nước, Bộ VHTTDL và trực tiếp là TCDL tiếp tục chỉ đạo và giao nhiệm vụ cho Viện NCPT Du lịch xây dựng Chiến lược và Quy hoạch phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030. Đây là căn cứ pháp lý quan trọng để Viện tiếp tục thực hiện nhiệm vụ quy hoạch du lịch cho các vùng du lịch, các khu du lịch quốc gia đã được xác định trong giai đoạn phát triển mới đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030…

    Bên cạnh đó, Viện NCPT Du lịch còn tích cực tham gia thực hiện nhiều đề án, quy hoạch phát triển KT-XH trên phạm vi cả nước, các địa bàn kinh tế trọng điểm và tham gia thực hiện một số các quy hoạch phát triển du lịch cấp khu vực, góp phần tích cực để Du lịch Việt Nam hội nhập với du lịch khu vực và thế giới.

    Có thể nói, sau một thời gian không phải dài trong lịch sử phát triển của ngành Du lịch, từ khi được thành lập đến nay, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của TCDL và bằng sự nỗ lực của tập thể lãnh đạo và đội ngũ cán bộ nghiên cứu, cùng với sự phối hợp của các đơn vị chức năng trong, ngoài ngành và các địa phương… Viện NCPT Du lịch đã thực hiện thành công nhiệm vụ xây dựng Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam cho hai giai đoạn phát triển là giai đoạn 2001-2010 và giai đoạn từ 2011 đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030; xây dựng hệ thống quy hoạch du lịch quốc gia từ quy mô toàn quốc đến các vùng (cũng cho hai giai đoạn phát triển), các trung tâm du lịch, các khu du lịch quốc gia; đồng thời trực tiếp và hỗ trợ xây dựng quy hoạch du lịch các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương… Đây là những đóng góp quan trọng cho công tác chỉ đạo, quản lý nhà nước về du lịch nói riêng, cho sự phát triển Du lịch Việt Nam nói chung trên phạm vi toàn quốc của Viện NCPT Du lịch.

    Song song với đó, Viện NCPT Du lịch còn được giao nhiệm vụ xây dựng đề án “Chiến lược phát triển sản phẩm du lịch Việt Nam” và xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù cho 7 vùng du lịch. Kết quả nghiên cứu đã và đang tạo điều kiện thuận lợi cho các địa phương, cho các doanh nghiệp du lịch, cho cộng đồng… xây dựng các sản phẩm du lịch cạnh tranh, phù hợp với các điều kiện của mình, và phù hợp với nhu cầu của các thị trường du lịch.

    Bên cạnh đó, Viện NCPT Du lịch còn chú trọng đến việc phát triển đội ngũ cán bộ chuyên môn có trình độ để đáp ứng yêu cầu ngày một cao của công tác nghiên cứu. Hiện nay, đội ngũ cán bộ nghiên cứu của Viện có 4 tiến sỹ, 13 thạc sỹ, trong đó có nhiều cán bộ đã được trưởng thành từ chính môi trường NCKH của Viện.

    Nhìn lại chặng đường 30 năm xây dựng và phát triển, tập thể Viện NCPT Du lịch qua các thời kỳ đều có thể tự hào về những đóng góp tích cực cho sự phát triển của ngành Du lịch nói riêng và cho xã hội nói chung. Với những gì đã đạt được và những bài học kinh nghiệm rút ra, chắc chắn Viện NCPT Du lịch sẽ tiếp tục phát triển nhanh và vững chắc để trở thành một tập thể khoa học mạnh, xứng đáng hơn với niềm tin của toàn ngành và xã hội và sẽ có nhiều đóng góp tích cực hơn cho sự phát triển Du lịch Việt Nam để trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước.

    Đỗ Văn Vinh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Năm Thành Công Của Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch
  • Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch Kỷ Niệm 30 Năm Thành Lập
  • Viết Về Du Lịch Và Các Giải Pháp Thu Hút Du Khách Đi Du Lịch Khi Hết Dịch Covid 19
  • Top 10 Website Du Lịch Nổi Tiếng Nhất Việt Nam
  • Video Vui Nhộn Quảng Bá Du Lịch Hàn Quốc Có Sự Tham Gia Của Leenalchi
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100