Những Địa Điểm Du Lịch Bí Ẩn Ở Phú Thọ

--- Bài mới hơn ---

  • Quận 9 Có Gì Chơi Hấp Dẫn Giới Trẻ Sài Thành
  • Du Lịch Quy Nhơn Có Gì Chơi
  • Top 15+ Điểm Du Lịch Ở Singapore Đẹp Nổi Tiếng Phải Ghé
  • Top Địa Điểm Du Lịch Ở Singapore Mới Toanh 2022 Siêu Hấp Dẫn
  • 8 Địa Điểm Du Lịch Ở Sơn La Vô Số Đặc Sản Hấp Dẫn
  • Vườn quốc gia Xuân Sơn nổi tiếng với vẻ đẹp hoang sơ tự nhiên, có hệ sinh thái phong phú và đa dạng. Du khách khi tới đây có thể tận mắt chiêm ngưỡng khu rừng chò trỉ đẹp nhất miền bắc cùng một số loài thực vật số lượng lớn như cây rau sắng, dẻ, mộc lan…

    Gần đây, giới phượt đang truyền tai nhau về một địa điểm du lịch còn khá mới và hoang sơ, được ví von như “Tuyệt tình cốc” phiên bản Phú Thọ. Đó là hồ Ly, nằm ở xã Thượng Long, huyện Yên Lập. Từ Hà Nội, xuôi theo Quốc lộ 32 hướng qua cầu Trung Hà khoảng hơn 100km, đến thị trấn Yên Lập thì hỏi đường vào xã Thượng Long. Hồ nằm ở gần cuối xã, đường vào nhỏ, không có biển chỉ dẫn nên khá khó đi.

    Điểm nhấn làm nên sự ấn tượng của hồ Ly đó chính là cây cầu treo bằng sắt. Cầu bắc qua lòng hồ, nối 2 quả núi với nhau. Đứng trên cầu, các bạn có thể nhìn ngắm khung cảnh hùng vĩ của núi rừng, vẻ đẹp hiền hòa của mặt hồ phẳng lặng.

    Không cần lặn lội đến Sơn La xa xôi, ở Phú Thọ cũng có đồi chè đẹp chẳng kém gì Mộc Châu- đồi chè Long Cốc ở huyện Tân Sơn, Phú Thọ. Những đồi chè xanh mướt, trùng trùng điệp điệp, cung đường quanh co nối liền bên sườn đồi tạo nên vẻ đẹp huyền bí khiến bất cứ ai có dịp ghé chơi cũng ngỡ ngàng.

    Đến đây, bạn sẽ được đắm mình trong không gian yên tĩnh, không khí mát lành cùng hương gió vấn vương vị thơm thơm, chát chát đặc trưng của chè Long Cốc.

    Điểm du lịch nổi tiếng nhất Phú Thọ chính là khu di tích đền Hùng, tọa lạc trên núi Nghĩa Lĩnh, xã Hy Cương, thành phố Việt Trì. Đền được xây dựng vào thế kỷ 15, tương truyền đây là nơi mà người con trưởng của Lạc Long Quân và Âu Cơ lên làm vua lấy hiệu Hùng Vương, đặt tên nước là Văn Lang.

    Khu di tích đền Hùng là một quần thể kiến trúc bao gồm đền Hạ và chùa, đền Giếng, đền Trung, đền Thượng và lăng vua Hùng. Nếu có cơ hội đến đền Hùng vào ngày 10/3 âm lịch hằng năm, du khách sẽ được hòa mình vào những nghi thức truyền thống hướng về cội nguồn.

    Để tri ơn công đức Tổ Mẫu Âu Cơ, cách đây hơn 500 năm, thế kỷ thứ XV thời hậu Lê, vua Lê Thánh Tông đã phong thần và cho xây dựng Đền Mẫu Âu Cơ tại xã Hiền Lương – huyện Hạ Hoà. Đền Mẫu Âu Cơ đã được công nhận là di tích lịch sử văn hoá Quốc gia năm 1991.

    Mỗi dịp Tết đến, xuân về, nơi đây còn thu hút rất đông du khách đến du xuân, cầu may.

    Đầm Ao Châu nằm trên địa bàn xã ấm Thượng, xã Y Sơn và xã Phụ Khánh, huyện Hạ Hoà tỉnh Phú Thọ, cách thành phố Việt Trì 80km, cách Hà Nội 150km. Nằm giữa một vùng đồi thấp, đầm Ao Châu có hình dáng khá đặc biệt. Nhìn trên bản đồ, đầm giống như đầu một con Trâu có hai sừng choãi ra hai phía sông Thao và sông Lô.

    Trải qua nhiều năm nơi đây vẫn giữ được vẻ đẹp hoang sơ, bốn mùa nước chẳng bao giờ cạn, luôn giữ được màu xanh trong. Trong hồ có rất nhiều đảo lớn nhỏ và loại cây ăn quả như vải, nhãn, mít, bưởi… đã khiến Ao Châu như một Hạ Long thu nhỏ.

    Suối bắt nguồn từ núi Nả, một ngọn núi cao nhất của huyện Hạ Hòa và có nhiều thác. Có những thác độ cao đến 20m tạo nên những cảnh quan rất hấp dẫn, có thác đổ xuống những vực nước sâu trong xanh, có thác lại đổ xuống những bãi cuội ngũ sắc lấp lánh tạo nên những vẻ đẹp kỳ ảo cho nơi đây. Đến nơi đây bạn sẽ có cảm giác như lạc trong những bộ phim kiếm hiệp.

    Khu du lịch nước khoáng nóng Thanh Thủy là một trong những khu du lịch có nguồn suối khoáng nóng tự nhiên. Đến với Thanh Thủy du khách sẽ được ngâm mình trong những bồn nước khoáng nóng tự nhiên từ trong lòng đất và tận hưởng những giây phút thư thái, hòa mình vào thiên nhiên trong lành.

    Làm thế nào để săn vé thành công mà vẫn nhanh chóng

    Bạn vẫn thường thắc mắc tại sao bạn bè mình book được vé giá rẻ thậm chí là có những tấm vé với giá trị 0 đồng rất dễ dàng trong khi mình luôn “trắng tay” khi săn vé. Vậy thì hãy lưu ý những điều sau, việc săn vé sẽ dễ dàng hơn nhiều. Điều quan trọng là bạn không có nguồn săn vé uy tín và chất lượng, vì vậy chúng tôi muốn giới thiệu đến bạn trang web săn vé đang được nhiều người tin dùng với tên chúng tôi đến đây bạn sẽ được cung cấp những thông tin mới nhất về các chuyến bay, giờ bay, địa điểm cũng như các đợt khuyến mãi cực sống dành cho hành khách. Các bài giới thiệu, chia sẻ kinh nghiệm du lịch lại là một kiến thức mới mà chúng tôi dành cho bạn khi đến với trang web này. Bên cạnh đó, đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp luôn có mặt 24/7 để hỗ trợ bạn mọi lúc khi bạn gặp khó khăn trong quá trình săn vé, bạn chỉ cẩn nhấc máy và gọi đến tổng đài săn vé 02871 065 065 – 1900 2690. Hãy để chúng tôi phục vụ bạn!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Món Ăn Ngon Ở Phú Thọ (Cập Nhật 01/2021)
  • Những Lưu Ý Khi Đi Du Lịch Oxford Dành Cho Người Mới Đến Lần Đầu
  • Khám Phá Những Điểm Du Lịch Nổi Tiếng Ở Osaka
  • Top 7 Điểm Du Lịch Nổi Tiếng Ở Osaka Nhật Bản Nên Đến Một Lần Trong Đời
  • 5 Địa Điểm Du Lịch Nổi Tiếng Ở Osaka
  • Các Địa Điểm Du Lịch Ở Phú Thọ (Cập Nhật 09/2020)

    --- Bài mới hơn ---

  • Tour Du Lịch Kuala Lumpur
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Nha Trang 2022 Vui Chơi, Ăn Hải Sản Thả Ga
  • Du Lich Cao Bang Lang Son, Thac Ban Gioc, Hang Pắc Bó Cao Bằng, Lạng Sơn
  • Quy Hoạch Tổng Thể Phát Triển Du Lịch Tỉnh Quảng Bình Đến Năm 2022 Và Tầm Nhìn Đến Năm 2025
  • 8 Địa Điểm Không Nên Bỏ Qua Khi Du Lịch Mông Cổ
  • Các địa điểm du lịch ở Phú Thọ

    Cùng Phượt – Phú Thọ được biết đến là cái nôi của nền văn hóa Lạc Việt, trung tâm sinh tụ của người Việt Cổ, thời các Vua Hùng dựng nước Văn Lang – nhà nước đầu tiên của dân tộc Việt Nam. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, nơi đây vẫn giữ được dấu ấn của những buổi đầu bình minh dựng nước của dân tộc. Với hệ thống các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể phong phú: 1.372 di tích lịch sử văn hóa (trong đó Khu di tích lịch sử Đền Hùng là Di tích quốc gia đặc biệt), cùng với “Hát Xoan Phú Thọ”, “Ca Trù”, “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ” đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Đến với các địa điểm du lịch ở Phú Thọ để được trải nghiệm nét văn hóa độc đáo với nhiều di chỉ khảo cổ, di tích lịch sử, lễ hội dân gian, các loại hình nghệ thuật đặc sắc gắn liền thời đại các Vua Hùng, cội nguồn dân tộc Việt Nam.

    Đền Hùng là tên gọi khái quát của Khu di tích lịch sử Đền Hùng – quần thể đền chùa thờ phụng các Vua Hùng và tôn thất của nhà vua trên núi Nghĩa Lĩnh, gắn với Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng được tổ chức tại địa điểm đó hàng năm vào ngày 10 tháng 3 âm lịch. Hiện nay, theo các tài liệu khoa học đã công bố đa số đều thống nhất nền móng kiến trúc đền Hùng bắt đầu được xây dựng từ thời vua Đinh Tiên Hoàng trị vì. Đến thời Hậu Lê (thế kỷ 15) được xây dựng hoàn chỉnh theo quy mô như hiện tại.

    Đền Quốc Tổ Lạc Long Quân

    Đền Quốc tổ Lạc Long Quân được xây dựng tại đồi Sim, cách núi Nghĩa Lĩnh khoảng 1 km, nơi có vị trí đắc địa, có thế “sơn chầu thuỷ tụ”. Đồi Sim có hình thế giống một con rùa lớn, hai bên có Thanh Long, Bạch Hổ, phía trước là hồ Hóc Trai và sông Hồng chảy xuôi về biển. Ngôi đền tọa lạc trên lưng rùa biểu hiện sự linh thiêng huyền diệu.

    Đền chính có diện tích 210m2, kiến trúc kiểu chữ đinh truyền thống, nội thất bằng gỗ lim, sơn son thếp vàng, mái lợp ngói mũi hài, nền lát gạch Bát Tràng, bó vỉa đá xanh. Hậu cung đặt tượng thờ Đức Quốc Tổ Lạc Long Quân dáng vẻ uy nghiêm. Tượng được đúc bằng đồng, nặng 1,5 tấn, cao 1,98m ở tư thế ngồi trên ngai, đặt trên bệ đá chạm khắc hoa văn theo mô típ văn hóa Đông Sơn. Hai bên là tượng Lạc hầu và Lạc tướng ở tư thế đứng có chiều cao 1,80m, mỗi pho nặng 0,5 tấn.

    Cổng đền (nghi môn) cũng được xây dựng theo kiểu truyền thống, gồm có 4 cột, cổng chính rộng 4,2m, cổng phụ rộng khoảng 2m. Cổng được xây dựng bằng bê tông cốt thép, phía ngoài ốp đá xanh chạm họa tiết hoa văn 4 mặt. Phía trước nghi môn là cổng biểu tượng cũng có kết cấu cột bê tông cốt thép ốp đá và chạm khắc. Hai bên sân đền là nhà tả vu, hữu vu xây dựng 5 gian, khung gỗ lim, lợp ngói mũi hài. Hai trụ biểu đối xứng nhau cũng bằng bê tông cốt thép, phía ngoài ốp đá xanh. Đền thờ Quốc Tổ Lạc Long Quân được Nhà nước đầu tư xây dựng đồng bộ các hạng mục công trình kiến trúc, các họa tiết trang trí được mô phỏng theo hoa văn trên trống đồng Đông Sơn được cách điệu như: Hình ảnh người giã gạo, hình ảnh chim lạc… thể hiện sinh động, độc đáo mang nét kiến trúc đặc trưng riêng của ngôi đền tôn thêm sự uy nghiêm, linh thiêng.

    Nằm trên đường Trần Phú, bên bờ hồ công viên Văn Lang – trung tâm của thành phố Việt Trì – Bảo tàng Hùng Vương được ví như một “cuốn sử bằng hiện vật” thu hút đông đảo du khách thập phương đến tham quan, tìm hiểu và khám phá các giá trị độc đáo, riêng có về lịch sử, văn hóa của vùng đất Tổ cội nguồn.

    Khu du lịch Bạch Hạc – Bến Gót

    Phường Bạch Hạc, phường Bến Gót nằm ở phía Nam thành phố Việt Trì, cửa ngõ nối liền giữa Phú Thọ và các tỉnh miền núi phía Tây Bắc với thủ đô Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ.

    Bến Gót ngày nay thuộc phủ Tam Đới xưa, còn tồn tại rất nhiều di tích lịch sử văn hoá, các truyền thuyết, chuyện kể về quá trình dựng nước và giữ nước của ông cha ta như: “Hoa Long Thiền Tự” xưa ở bến sông Thông, cạnh chùa có một tảng đá ven sông, trên mặt còn hằn vết gót chân. Tương truyền, đây là nơi Lạc Long Quân lập đàn tế trời và đã được tiên ông từ trên trời xuống, ngồi trên tảng đá này, đặt tên, phân định anh em cho một trăm người con do Âu Cơ sinh ra, sau nơi đây buôn bán kinh doanh sầm uất, trên bến dưới thuyền mới có tên là Bến Gót, Đình Bạch Hạc còn có tên là đình thôn Việt Trì là nơi thờ các vua Hùng, Đền Lang Đài là nơi hai chàng Sơn Tinh và Thuỷ Tinh đấu võ, Miếu Hà Thần là nơi thờ thần Sông đã có công giúp vua Trần Minh Tông đánh Man Đà Giang dẹp yên bờ cõi, Đền Bạch Hạc là nơi thờ thổ lệnh có tên huý là Trần Lan và em là Thạch Khanh tên huý là Trần Bảo có phép thuật thần y, chữa được bách bệnh cho nhân dân, sau hoá thần ở Tam Thanh Quán bên bờ sông Bạch Hạc, được phong làm thần thiêng ở ngã ba sông Hạc….. Ngoài ra trên mảnh đất này còn tồn tại rất nhiều sự tích ly kỳ, nhiều lễ hội truyền thống đặc sắc như: Hội bơi chải, Hội giã bánh dầy,… nói lên sự hình thành tên làng, tên xóm, tên sông, những nét sinh hoạt văn hoá truyền thống của của nhân dân ta gắn liền với nền văn minh sông Hồng và nền văn minh lúa nước.

    Với diện tích 100 ha, khu Du lịch Bến Gót được chia thành 2 phần ở bờ Bắc và bờ Nam sông Lô, trong đó phần lãnh thổ phía Bắc (thuộc phường Bến Gót) là chủ yếu. Khu du lịch có đặc trưng điển hình của vùng trung du Bắc Bộ, với địa hình nhấp nhô, phần đất phía Bắc có vị thế như một bán đảo quay về hướng Đông Nam, tạo nên hình ảnh về bến nước, dòng sông. Đặc biệt là sự gắn kết hài hoà giữa đồi núi, cây cối, sông nước tạo nên phong cảnh sơn thuỷ hữu tình, thích hợp để xây dựng khu du lịch nghỉ ngơi, thư giãn, vọng cảnh. Khu du lịch Bến Gót bao gồm những thành phần chủ yếu như: vui chơi giải trí, thể thao, nhà vườn, cắm trại, khách sạn, nhà nghỉ, câu cá, trại sáng tác, lầu bình thơ,… được tổ chức tạo thành trục chủ đạo đi từ cổng chính đến khu lầu tưởng niệm và vọng cảnh phía bờ sông, kết thúc là Lầu Bạch Hạc.

    Lầu Bạch Hạc được xây dựng theo hướng vươn cao vừa tượng trưng cho đàn tế trời vừa là nơi du khách có thể ngắm cảnh xa xa, dưới tầng lầu có bia tưởng niệm 100 người con của Lạc Long Quân – Âu Cơ, giúp cho du khách hiểu rõ hơn nguồn gốc của đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Bên cạnh Lầu Bạch Hạc được tái dựng tảng đá lưu vết chân và hình dáng tiên ông phân định ngôi thứ, mở đầu cho sự hưng thịnh, đoàn kết, thương yêu, đùm bọc của đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Phần đất phía Nam chủ yếu dành cho các di tích lịch sử và thể thao nước truyền thống, một phần dành cho các nhà nghỉ nhỏ dưới dạng vườn nông thôn, vườn sinh thái…

    Nằm trong địa phận của kinh đô Văn Lang xưa, đền Thiên Cổ uy nghiêm ngự trên một quả đồi nhỏ thuộc thôn Hương Lan, xã Trưng Vương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Đây là ngôi đền thờ vợ chồng thầy giáo Vũ Thê Lang, người thầy giáo đầu tiên của dân tộc đã có công dạy dỗ hai công chúa Tiên Dung – Ngọc Hoa con vua Hùng Vương thứ 18.

    Tương truyền, thầy giáo Vũ Thê Lang quê ở Mộ Trạch, Hải Dương cùng vợ là bà Nguyễn Thị Thục, quê ở Đông Ngàn, Kinh Bắc lên kinh đô Văn Lang dạy học từ thời Hùng Vương thứ 18. Hai người tạ thế cùng một giờ, một ngày mồng 2 tháng 2 năm Quý Dậu (năm 228 trước Công nguyên). Đến nay phần mộ của hai vợ chồng thầy cô vẫn còn được nhân dân giữ gìn và bảo vệ cẩn thận ở trong ngôi đền. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, ngôi đền vẫn được người dân thôn Hương Lan, xã Trưng Vương hết lòng bảo vệ.

    Đền Tam Giang – Chùa Đại Bi

    Khu di tích lịch sử văn hóa Quốc gia đền Tam Giang, chùa Đại Bi thuộc phường Bạch Hạc, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Ngôi đền nằm bên tả ngạn nơi hợp lưu của ba dòng sông: sông Hồng, sông Lô, sông Đà mà xưa nay nhân dân vẫn quen gọi là ngã ba Hạc. Đây là một thắng cảnh đẹp của vùng đất Tổ, thu hút đông đảo du khách đến tham quan và lễ bái.

    Khu di tích lịch sử văn hóa Quốc gia đền Tam Giang, chùa Đại Bi là cụm di tích hoàn chỉnh, thống nhất, gồm có: đền Tam Giang, đền Mẫu, chùa Đại Bi, vết chân Thổ lệnh Cao quan Bạch Hạc Đại Vương, bến bơi chải, tượng đài Chiêu Văn Vương Tả Thánh Thái Sư Trần Nhật Duật và bức phù điêu 18 ngôi chùa tiêu biểu của Phật Giáo Việt Nam.

    Đền Tam Giang thờ nhân vật lịch sử huyền thoại thời Hùng Vương dựng nước là thần Thổ Lệnh, ông là thần làng – thần sông Bạch Hạc đã có công chu du thiên hạ tìm phương thuốc quý chữa trị tật bệnh cho muôn dân, khi mất lại linh ứng giúp cho các tướng lĩnh đánh giặc ngoại xâm giữ nước. Chùa Đại Bi, ngôi chùa cổ do Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật và cháu gái là công chúa Thiên Thụy xây dựng từ đời Trần (năm 1328) đã có gần 700 năm tuổi.

    Hùng Lô xưa là vùng đất trù phú, có lịch sử phát triển lâu đời. Đình Hùng Lô là quần thể di tích có giá trị văn hóa, lịch sử nổi bật trên vùng Đất Tổ, niên đại khoảng hơn 300 năm. Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình vẫn bảo tồn được nguyên vẹn giá trị kiến trúc, văn hóa, lịch sử: Ngôi miếu cổ, tòa Đại đình, Long đình, nhà Tiền tế, lầu chuông, lầu trống, nhà thờ Phật, bệ thờ thần nông, nhà Văn chỉ và nhà Yến lão.

    Đình Hùng Lô, thuộc làng cổ Hùng Lô, nằm dọc ven sông Lô, cách Đền Hùng chừng 10km về phía Đông. Đình Hùng Lô được công nhận di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1990. Tương truyền, đây là vùng đất thiêng, nơi Vua Hùng từng nghỉ chân trong một lần đi du ngoạn. Về sau, dân lập miếu thờ, đến đời Lê Hy Tông (1697), đình được xây dựng, hướng về núi Nghĩa Lĩnh…

    Một điểm đặc sắc đáng lưu ý nữa, đình Hùng Lô rất nổi tiếng về truyền thống trong lễ hội rước kiệu Đền Hùng từ xưa đến nay. Năm Mậu Ngọ (1918), đình Hùng Lô đã được thưởng “Kỷ niệm Hùng Vương đệ nhất hội”; hiện nay, biển thưởng này vẫn được trang trọng lưu giữ trong đình. Vào dịp lễ hội Đền Hùng hằng năm, đến đình Hùng Lô, du khách sẽ được hòa mình trong lễ rước kiệu quy mô rất hoành tráng của trên 200 nam trung, đi đến đâu náo động cả một vùng đến đó. Cuộc rước sẽ đi từ đình làng đến Đền Hùng; trở về từ Đền Hùng, các lễ tế tại đình làng mới được tiến hành, sau cùng là thụ lễ tại nhà Yến lão.

    Đền Tiên Cát và Chùa Cát Tường nằm bên bờ sông Hồng thuộc khu phố Anh Dũng, phường Tiên Cát, thành phố Việt Trì. Đền Tiên thờ Mẫu Thần Long Hồng Đăng Ngạn- Hoàng Hậu nước Xích Quỷ, vợ vua Kinh Dương Vương, mẹ đẻ của Vua Lạc Long Quân. Người đã sát cánh cùng chồng trong buổi đầu dựng nước, trong việc dạy dỗ nhân dân và người đã được vua Kinh Dương Vương phong làm “Vi Cung Chính Khổn” thưởng cho cung Tiên Cát. Khi người mất nơi đây được chuyển thành Tiên Cát lăng được nhân dân trông nom gìn giữ suốt mấy nghìn năm.

    Quần thể Lộc Vừng ở Cẩm Khê

    Quần thể lộc vừng được công nhận là cây di sản nằm tại Gò Thờ, xã Chương Xá, huyện Cẩm Khê. Từ xa, quần thể lộc vừng như một chậu cây cảnh khổng lồ hay một khu rừng rậm rạp. Quần thể lộc vừng này có hơn 80 cây, nằm trên một quả gò chỉ rộng chừng 500 m2, trên đầm Láng Chương, hay còn gọi là gò Vình. Rất ít tài liệu ghi chép chính xác số tuổi của quần thể lộc vừng này, nhưng nhiều người ước tính nó đã hơn 1.000 năm tuổi.

    Nằm trên khu vực của thị trấn ấm Thượng, xã Yên Sơn. Đầm Ao Châu có diện tích mặt nước trên 300 ha nổi lên giữa một vùng đồi trung du, tạo nên 99 ngách ăn sâu vào một vùng đồi gò rộng lớn với diện tích trên 1000ha. Nước trong đầm luôn trong xanh và sạch, độ sâu của nước trung bình từ 8 đến 10m, chỗ sâu nhất là 15m. Những quả đồi đất nổi lên giữa đầm nước mênh mông được trồng các loại cây bản địa như chè, cọ đặc biệt là các đồi vải chín đỏ vải vào mùa hè hàng năm tạo nên bức tranh sơn thủy tuyệt đẹp. Vùng núi và đồi ven hồ là những rừng cây xanh tốt tạo nên một cảnh quan rất thơ mộng.

    Đầm Ao Châu đã được quy hoạch để xây dựng thành một khu du lịch sinh thái với hệ thống các khách sạn sang trọng, các khu nghỉ dưỡng với các trò vui chơi giải trí như bơi thuyền, đua thuyền trên mặt đầm.

    Đền nằm giữa một cánh đồng lúa bên dòng sông Thao thuộc xã Hiền Lương, huyện Hạ Hoà. Tương truyền trong số 50 người con theo mẹ Âu Cơ lên núi, người con cả dừng ở đất Phong Châu dựng kinh đô Văn Lang cai quản đất nước truyền ngôi được 18 đời, gọi là các vua Hùng. 49 người con theo mẹ tiếp tục ngược thượng nguồn sông Thao, đến vùng Hiền Lương thấy sơn thuỷ hữu tình, đất đai tươi tốt bèn hạ trại khai hoang lập ấp, dạy cho dân làng nghề trồng lúa, nuôi tằm…

    Lễ chính đền Mẫu Âu Cơ vào ngày 7-1, kéo dài trong ba ngày, sau khi tế nữ xong mới đến lễ Mẫu dâng hương sớ. Trong dịp này trước sân đền và tại đình làng có nhiều trò chơi dân gian địa phương như: cướp cờ, đánh phết, hát ghẹo, hát xoan… Đặc biệt có tục làm bánh vôi từ bột gạo nếp và nước mía là đặc sản ngon nổi tiếng của vùng Hạ Hoà.

    Ao Giời – Suối Tiên thuộc huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ; hai bên đường tới Ao Giời – Suối Tiên có hàng trăm đỉnh núi lớn, nhỏ có độ cao trung bình từ 500 – 600m so với mặt biển. Với đỉnh cao 1.200m, núi Nả cao vượt lên sừng sững, trông thật hùng vĩ như điểm tựa của miền thượng vùng trung du rộng lớn, được phủ một màu xanh dày đặc của các loài cây nhiệt đới, chen chúc nhau tầng tầng, lớp lớp với khá nhiều loài cây quí hiếm như đinh, lim, gụ, vàng tâm… Trong rừng còn có các bầy khỉ, nai, hoẵng, lợn rừng, cầy hương…

    Dưới chân các thác nước cao là những phiến đá khổng lồ, trải qua thời gian dài bị xói mòn, đã thành những chiếc ao nhỏ mà đáy ao là cả một phiến đá, làm nên vẻ đẹp riêng có ở nơi đây. Theo truyền thuyết: “xưa kia chỉ có Giếng Tiên, hàng ngày có các nàng tiên thường tới đây tắm mát, Ngọc Hoàng đã cho nước giếng dâng lên tạo thành các thác nước đổ xuống, lâu dần tạo thêm các ao. Ai được tắm ở Ao Giời – Suối Tiên trong 3 năm sẽ có làn da trắng mịn như ngọc, khuôn mặt sáng đẹp như trăng rằm, tâm hồn thư thái, sáng láng”.

    Đầm Vân Hội có diện tích trên 200 ha, độ sâu của nước từ 7 m đến 8 m, chỗ sâu nhất đạt 20 m. Đầm có hệ thống cung cấp và thoát nước mở nên luôn giữ mực nước ổn định, mùa mưa và mùa cạn nước chỉ chênh lệch nhau khoảng 1,3 m. Nước trong Đầm rất trong và sạch. Xung quanh Đầm có hệ thống núi và đồi và rừng của các xã Quân Khê (Hạ Hòa), xã Vân Hội, xã Việt Cường (Văn Chấn, Yên Bái) vây bọc tạo nên cảnh quan thơ mộng. Trên mặt Đầm có khoảng 40 đảo, đảo lớn nhất có diện tích 10 ha, còn lại là đảo nhỏ từ 0,5 đến 1 ha với các loại cây như: Cọ, chè, keo… tạo nên phong cảnh hữu tình. Đầm Vân Hội cách Đền Mẫu Âu Cơ (Hạ Hòa) 1km, cách Ao Giời – Suối Tiên 3 km. Đầm Vân Hội được quy hoạch thành khu du lịch nghỉ dưỡng – vui chơi giải trí cao cấp.

    Cách Hà Nội khoảng 120km, Vườn quốc gia Xuân Sơn rộng hơn 15.000ha, đứng thứ 12 trong số 15 vườn quốc gia lớn nhất Việt Nam. Vườn được ví là “lá phổi xanh,” là điểm du lịch hấp dẫn của Phú Thọ với độ che phủ rừng lên tới 84%, chất lượng các hệ sinh thái rừng ổn định và được bảo vệ tốt. Vườn được đánh giá là nơi có môi trường không khí, môi trường nước sạch sẽ, mát mẻ, nhiệt độ trung bình năm từ 22-23ºC.

    Đặc biệt, một ngày ở Xuân Sơn, thời tiết có nét đặc trưng của 4 mùa: buổi sáng mát mẻ của mùa Xuân, buổi trưa ấm áp của mùa Hè, buổi chiều hiu hiu như mùa Thu, buổi tối trời se lạnh đặc trưng của mùa Đông. Đây là lợi thế của vườn trong phát triển du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng.

    Tại đây hiện có 365 loài động vật, trong đó có 46 loài ghi trong Sách đỏ Việt Nam và 18 loài ghi trong Sách đỏ Thế giới. Các loài đặc trưng cho hệ động vật Tây Bắc như voọc xám, vượn chó, cầy bạc má, sóc bụng đỏ đuôi trắng, gấu, báo,… về chim có: gà lôi, gà tiền, đại bàng đất,… riêng sơn dương có nhiều nhất toàn quốc. Bên cạnh đó, vườn còn có 726 loài thực vật bậc cao trong đó có 52 loài thuộc ngành quyết và ngành hạt trần. Nằm trong khu vực giao tiếp của hai luồng thực vật Mã Lai và Hoa Nam, hệ thực vật ở Xuân Sơn có các loài re, dẻ, sồi và mộc lan chiếm ưu thế.

    Ngoài ra, ở Xuân Sơn còn có các loài tiêu biểu cho khu vực Tây Bắc như táu muối, táu lá duối, sao mặt quỷ và chò chỉ, chò vảy, nghiến, dồi, vầu đắng, kim giao (rừng chò chỉ ở Xuân Sơn là một trong những rừng chò chỉ đẹp và giàu nhất miền Bắc). Xuân Sơn còn là kho giống bản địa, kho cây thuốc khổng lồ, đặc biệt là cây rau đắng mọc tự nhiên có mật độ cao nhất miền Bắc.

    Ngoài sức hấp dẫn của hệ động thực vật phong phú, Xuân Sơn còn có nhiều cảnh quan thiên nhiên kỳ thú. Nằm trong quần thể vườn quốc gia Xuân Sơn có ba đỉnh núi cao trên 1.000m là: núi Voi, núi Ten và núi Cẩn với hàng trăm hang động; sông suối như suối Lấp, suối Thang; và nhiều thác nước có độ cao trên 50m, che phủ hang, hốc đá, hòa quyện màu thác bạc với màu xanh của rừng già làm cho phong cảnh vừa hùng vĩ vừa thơ mộng.

    Do quá trình phong hóa, thủy hóa tạo thành Xuân Sơn có 16 hang động đá với thạch nhũ đẹp, đa dạng, tạo nên muôn hình vạn trạng. Vào thăm hang động ở đây, du khách không khỏi ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của các nhũ đá rủ xuống thành muôn hình kỳ lạ. Ðộng Tiên là một hang ngầm trong lòng núi đá cẩm thạch dài 10km. Trong hang có đường thông gió lên thẳng đỉnh núi, làm cho không khí trong lành mát dịu. Hồ nước có nhiều loài cá lạ hấp dẫn.

    Bên cạnh đó, cộng đồng các dân tộc nơi đây hiện vẫn giữ được bản sắc văn hoá dân tộc của mình như trang phục, lễ hội, các hoạt động đời sống sinh hoạt hàng ngày như đan lát đồ dùng thủ công, dệt thổ cẩm, thêu, lễ cấp sắc, múa đâm đuống, múa xòe, uống rượu hoẵng, cơm lam…, những nét đẹp văn hóa đặc trưng của vùng đất các vua Hùng. Quan trọng hơn, vườn nằm trong thế chân kiềng của tổng thể cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ Tam Đảo – Ba Vì – Xuân Sơn. Trong trục tâm linh của truyền thuyết lịch sử Quốc mẫu Lăng Thị Tiêu, Sơn Tinh – Thủy tinh, vua Hùng, tạo nên một Xuân Sơn kỹ vĩ và có nhiều lợi thế trong bảo tồn, phát triển bền vững kết hợp với du lịch.

    Đây là ngôi làng cổ xưa nhất của người Dao Tiền, bản cuối cùng của Vườn Quốc gia Xuân Sơn. Do có loài gà chín cựa, một loài vật tưởng như chỉ có trong truyền thuyết Sơn Tinh Thủy Tinh mà bản Cỏi hiện nay được nhiều người biết tới. Từ một khu dân cư heo hút nằm sâu trong vùng lõi Vườn Quốc gia Xuân Sơn, nay bản Cỏi biến thành địa điểm thu hút được nhiều khách du lịch cũng như các thương lái đến thu mua loại gà này để tiêu thụ.

    Phú Thọ đã từ lâu nổi tiếng là đất trồng chè, với diện tích trồng chè trên 12 ngàn ha và sản lượng chè búp tươi vô cùng lớn. Ai đã từng qua vùng đồi trung du Phú Thọ khu vực các huyện Tân Sơn, Thanh Sơn sẽ không thể nào quên những đồi chè xanh mơn mởn, trông như những mâm xôi tầng tầng, lớp lớp ngút ngàn tạo nên cảnh quan thiên nhiên kỳ thú. Đồi chè Long Cốc ở Tân Sơn được xếp vào một trong những đồi chè đẹp nhất Việt Nam.

    Đèo Khế là ranh giới tự nhiên giữa 2 tỉnh Phú Thọ và Yên Bái. Từ Hà Nội qua địa phận xã Thu Cúc (Phú Thọ) đi thẳng tiếp là lên đến đèo Khế. Vượt qua đèo Khế sẽ sang tới địa phận của huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái. Trước đây, đèo Khế từng là “nỗi sợ hãi” đối với cánh tài xế và những người đi đường đêm. Sau khi được tu sửa lại, con đường đèo dài gần 30km không chỉ giúp giao thông thuận tiện mà còn trở thành điểm lui tới quen thuộc của dân mê phượt.

    Thác Mây thuộc xã Hương Cần, nằm cách trung tâm huyện Thanh Sơn khoảng 25km. Trên đỉnh núi Hem có một hồ nước nhỏ, nước từ đó đổ xuống sườn núi tạo thành suối Hem và nhiều tầng thác liên hoàn kế tiếp nhau, gọi là thác Mây. Thác Mây gồm 13 thác nước lớn nhỏ, trong đó thác cao nhất là thác Thượng với nhiều cột nước tung bọt trắng xoá. Những ngày trong xanh, hoà cùng màu xanh của núi rừng và màu xanh của trời là những dòng thác như giải lụa mềm giữa trời. Nhiều thác nước lớn nhỏ đã tạo nên những cung bậc âm thanh khác nhau, có thác nước đổ rào rào, có thác nước chảy róc rách giống như những bản nhạc của thiên nhiên. Tới gần thác, không khí như dịu mát hẳn, khác biệt với không khí bên ngoài, du khách có thể đắm mình trong dòng nước suối trong mát sau khi khám phá bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp.

    Thác Mơ thuộc xã Cự Thắng, cách trung tâm huyện 15km. Trước đây, thác có tên gọi khác là thác Vạn Mơ nhưng lâu dần người ta gọi thác là thác Mơ. Ngay từ tên gọi của thác đã tạo cho du khách hình dung được khung cảnh mộc mạc, mà nên thơ. Đường vào thác được bao bọc bởi màu xanh của núi rừng, các loại hoa dại hai bên đường, góp phần tạo nên vẻ đẹp hoang sơ cho khung cảnh nơi đây.

    Thác Mơ có đến 9 tầng khác nhau, từ xa, đã nghe tiếng thác nước đổ rì rào như lời hát của các sơn nữ. Men theo con suối nhỏ để đến chân thác, du khách sẽ được đắm mình trong cảnh sắc thiên nhiên còn hoang sơ của đại ngàn. Thác được vây quanh bởi những ngọn núi xanh mát, hệ động thực vật nguyên sinh phong phú, đa dạng. Sau khi khám phá vẻ đẹp của thiên nhiên, du khách có thể nghỉ ngơi tại nhà sàn, thưởng thức các món ăn dân giã đặc sắc của đồng bào các dân tộc Thanh Sơn.

    Suối khoáng nóng Thanh Thủy

    Khu du lịch nước khoáng nóng Thanh Thủy nằm trên địa phận các xã La Phù và Bảo Yên huyện Thanh Thủy, cách thành phố Việt Trì hơn 40km, giáp với Hà Nội, nằm bên tả sông Đà, đối diện với núi Ba Vì. Khu du lịch nước khoáng nóng Thanh Thủy là khu vực đắc địa sở hữu nguồn nước khoáng nóng cùng với các cảnh quan đẹp được coi là những tài nguyên vô giá của tự nhiên ban tặng cho Thanh Thủy để phát triển du lịch nghỉ dưỡng. Qua tài liệu nghiên cứu khoa học cho thấy, nước khoáng Thanh Thuỷ có nhiệt độ dao động trong khoảng từ 37ºC – 54ºC thuộc loại nước khoáng ấm – nóng. Trong nước khoáng có nhiều chất vi lượng như: Natri, Canxi, Magie, đặc biệt có hàm lượng chất Radon vừa phải để tạo nên một loại nước quý hiếm rất thích hợp cho việc tắm ngâm, phục hồi sức khoẻ và chữa bệnh.

    Sau khi ngăn đập, hồ Thượng Long hay còn gọi (hồ Ly) trở thành một trong 10 hồ có trữ lượng nước lớn nhất tỉnh, hồ có khả năng tưới cho trên 500ha lúa và cung cấp nước sinh hoạt cho hàng ngàn người dân ở xã Thượng Long, Nga Hoàng, Hưng Long, Phúc Khánh, Đồng Thịnh và thị trấn Yên Lập. Đập ngăn nước đã tạo nên một hồ nước xanh như viên ngọc giữa núi rừng.

    Hồ Ly được tạo từ hai khe nước là khe Ly và khe Chanh. Người dân địa phương đã lấy tên khe Ly đặt tên gọi cho hồ. Hồ Ly có vẻ đẹp non nước hữu tình mà thiên nhiên ưu đãi ban tặng cho nơi đây với cảnh đẹp yên bình thu hút nhiều bạn trẻ đến tham quan, chụp hình và trải nghiệm thú vị khi khám phá văn hóa dệt thổ cẩm, thưởng thức những đặc sản của bà con dân tộc người Dao, Mường tại địa phương.

    Tìm trên Google:

    • các địa điểm du lịch ở Phú Thọ
    • chơi gì khi đến Phú Thọ
    • phượt Phú Thọ có gì
    • cảnh đẹp Phú Thọ
    • danh lam thắng cảnh Phú Thọ
    • địa điểm du lịch tâm linh Phú Thọ
    • đến Phú Thọ nên đi đâu
    • địa điểm chụp ảnh đẹp ở Phú Thọ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tour Du Lịch Miền Tây Phú Quốc 5 Ngày 4 Đêm
  • Mua Gì Khi Đi Du Lịch Nước Anh?
  • Du Lịch Đà Lạt Tự Túc Giá Rẻ
  • Tour Côn Đảo 3 Ngày 2 Đêm Giá Rẻ
  • Du Lịch Phú Quốc Bằng Đường Bộ
  • Điểm Qua Những Địa Danh Du Lịch Nổi Tiếng Tỉnh Phú Thọ

    --- Bài mới hơn ---

  • Địa Danh Du Lịch Phú Thọ
  • 8 Địa Danh Du Lịch Nổi Tiếng Của Phú Yên
  • Du Lịch Phú Yên, Những Địa Danh Nổi Tiếng (Phần 1)
  • Địa Danh Du Lịch Nổi Tiếng Của Phú Yên
  • Vi Vu Quảng Ninh, Khám Phá 6 Địa Danh Du Lịch Nổi Tiếng
  • Điểm qua những địa danh du lịch nổi tiếng tỉnh Phú Thọ

    Chi tiết
    Được đăng: Thứ năm, 10 Tháng 10 2022 16:02
    Viết bởi Admin4
    Lượt xem: 221

    Điểm du lịch nổi tiếng nhất Phú Thọ chính là khu di tích đền Hùng, tọa lạc trên núi Nghĩa Lĩnh, xã Hy Cương, thành phố Việt Trì. Đền được xây dựng vào thế kỷ 15, tương truyền đây là nơi mà người con trưởng của Lạc Long Quân và Âu Cơ lên làm vua lấy hiệu Hùng Vương, đặt tên nước là Văn Lang.

    Khu di tích đền Hùng là một quần thể kiến trúc bao gồm đền Hạ và chùa, đền Giếng, đền Trung, đền Thượng và lăng vua Hùng. Đến với đền Hùng, du khách không chỉ được xem kiến trúc, thiết kế, nghệ thuật điêu khắc, mà còn cảm nhận được vẻ đẹp của công trình hoành tráng ẩn mình dưới những cây cổ thụ to lớn…Đặc biệt, nếu có cơ hội đến đền Hùng vào ngày 10/3 âm lịch hàng năm, du khách sẽ được hòa mình vào những nghi thức, tinh thần hướng về cội nguồn của một lễ hội được nâng tầm quốc lễ.

    Đền Mẫu Âu Cơ nằm trong khu di tích đền Hùng, mang nét thanh bình của một ngôi đến ẩn dưới một gốc đa cổ thụ, bên tả có cái giếng Loan, bên hữu lại có giếng Phượng, phía trước có núi Giác, còn sau lưng có sông Hồng uốn khúc. Đền được thiết kế dựa trên nền kiến trúc độc đáo mang đậm dấu ấn tinh hoa văn hóa của thời kỳ Đông Sơn.

    Bảo tàng Hùng Vương

    Đây là bảo tàng tổng hợp có tính chất đặc trưng của bảo tàng khảo cứu địa phương, mục đích giới thiệu về lịch sử Phú Thọ từ thời khai sơn lập địa và dựng nước của thời đại các vua Hùng cho tới thời đại Hồ Chí Minh thông qua các bộ sưu tập, tài liệu, cùng những hiện vật quý hiếm. Qua đó tái hiện một không gian địa văn hóa hào hùng, vẻ vang của đất nước trên vùng Đất tổ.

    Đầm Ao Châu được coi là một Hạ Long ở trên đất Phú Thọ. Đây là một tiềm năng du lịch hấp dẫn và có nhiều triển vọng của vùng đất tổ Vua Hùng. Ao Châu có những điều kiện thuận lợi để phát triển khu du lịch sinh thái với các loại hình du lịch như nghỉ dưỡng, bơi thuyền, câu cá, hay leo núi… đáp ứng được nhu cầu của du khách trong và ngoài nước.

    Ao Giời – Suối Tiên

    Suối bắt nguồn từ núi Nả, một ngọn núi cao nhất của huyện Hạ Hòa và có nhiều thác. Có những thác nước ở độ cao đến 20m tạo nên những cảnh quan rất hấp dẫn, có thác đổ xuống những vực nước sâu trong xanh, có thác lại đổ xuống những bãi cuội ngũ sắc lấp lánh tạo nên những vẻ đẹp kỳ ảo cho nơi đây.

    Công trình hồ công viên Văn Lang là công trình trọng điểm của thành phố Việt Trì được đầu tư xây dựng với không gian đẹp, có hạ tầng kỹ thuật đồng bộ kết hợp với các công trình có kiến trúc độc đáo mô phỏng thời đại Hùng Vương. Đây là điểm nhấn quan trọng để Phú Thọ xây dựng Việt Trì trở thành thành phố lễ hội về với cội nguồn dân tộc Việt Nam. Hơn thế, việc đưa công viên đi vào sử dụng còn đáp ứng được nhu cầu của nhân dân thành phố thăm quan, đi bộ, vãn cảnh, hay nghỉ ngơi thư giãn. Đây sẽ trở thành địa điểm du lịch Phú Thọ mới của du khách.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Địa Danh Không Thể Bỏ Qua Khi Du Lịch Phú Quốc
  • Những Địa Danh Du Lịch Nổi Tiếng Tại Pháp
  • 10 Địa Danh Du Lịch Đẹp Đến Nao Lòng Của Nước Pháp
  • Các Địa Danh Cực Đẹp Bạn Cần Biết Đến Khi Đi Du Lịch Quy Nhơn
  • Các Địa Danh Du Lịch Quy Nhơn
  • Các Địa Điểm Du Lịch Ở Phú Thọ (Cập Nhật 08/2020)

    --- Bài mới hơn ---

  • Du Lịch Lâm Đồng Và Những Danh Lam Thắng Cảnh Nổi Tiếng
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Thái Lan Tự Túc, Bụi Phượt A
  • Du Lịch Bụi Nam Phi
  • Tour Du Lịch Bắc Kinh 4 Ngàytour Du Lịch Bắc Kinh 4 Ngày Khởi Hành Từ Hà Nội
  • Bản Đồ Du Lịch Và Hành Chính Tỉnh Tây Ninh Online Chuẩn Và Chính Xác Nhất 2022
  • Các địa điểm du lịch ở Phú Thọ

    Cùng Phượt – Phú Thọ được biết đến là cái nôi của nền văn hóa Lạc Việt, trung tâm sinh tụ của người Việt Cổ, thời các Vua Hùng dựng nước Văn Lang – nhà nước đầu tiên của dân tộc Việt Nam. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, nơi đây vẫn giữ được dấu ấn của những buổi đầu bình minh dựng nước của dân tộc. Với hệ thống các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể phong phú: 1.372 di tích lịch sử văn hóa (trong đó Khu di tích lịch sử Đền Hùng là Di tích quốc gia đặc biệt), cùng với “Hát Xoan Phú Thọ”, “Ca Trù”, “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ” đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Đến với các địa điểm du lịch ở Phú Thọ để được trải nghiệm nét văn hóa độc đáo với nhiều di chỉ khảo cổ, di tích lịch sử, lễ hội dân gian, các loại hình nghệ thuật đặc sắc gắn liền thời đại các Vua Hùng, cội nguồn dân tộc Việt Nam.

    Đền Hùng là tên gọi khái quát của Khu di tích lịch sử Đền Hùng – quần thể đền chùa thờ phụng các Vua Hùng và tôn thất của nhà vua trên núi Nghĩa Lĩnh, gắn với Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng được tổ chức tại địa điểm đó hàng năm vào ngày 10 tháng 3 âm lịch. Hiện nay, theo các tài liệu khoa học đã công bố đa số đều thống nhất nền móng kiến trúc đền Hùng bắt đầu được xây dựng từ thời vua Đinh Tiên Hoàng trị vì. Đến thời Hậu Lê (thế kỷ 15) được xây dựng hoàn chỉnh theo quy mô như hiện tại.

    Đền Quốc Tổ Lạc Long Quân

    Đền Quốc tổ Lạc Long Quân được xây dựng tại đồi Sim, cách núi Nghĩa Lĩnh khoảng 1 km, nơi có vị trí đắc địa, có thế “sơn chầu thuỷ tụ”. Đồi Sim có hình thế giống một con rùa lớn, hai bên có Thanh Long, Bạch Hổ, phía trước là hồ Hóc Trai và sông Hồng chảy xuôi về biển. Ngôi đền tọa lạc trên lưng rùa biểu hiện sự linh thiêng huyền diệu.

    Đền chính có diện tích 210m2, kiến trúc kiểu chữ đinh truyền thống, nội thất bằng gỗ lim, sơn son thếp vàng, mái lợp ngói mũi hài, nền lát gạch Bát Tràng, bó vỉa đá xanh. Hậu cung đặt tượng thờ Đức Quốc Tổ Lạc Long Quân dáng vẻ uy nghiêm. Tượng được đúc bằng đồng, nặng 1,5 tấn, cao 1,98m ở tư thế ngồi trên ngai, đặt trên bệ đá chạm khắc hoa văn theo mô típ văn hóa Đông Sơn. Hai bên là tượng Lạc hầu và Lạc tướng ở tư thế đứng có chiều cao 1,80m, mỗi pho nặng 0,5 tấn.

    Cổng đền (nghi môn) cũng được xây dựng theo kiểu truyền thống, gồm có 4 cột, cổng chính rộng 4,2m, cổng phụ rộng khoảng 2m. Cổng được xây dựng bằng bê tông cốt thép, phía ngoài ốp đá xanh chạm họa tiết hoa văn 4 mặt. Phía trước nghi môn là cổng biểu tượng cũng có kết cấu cột bê tông cốt thép ốp đá và chạm khắc. Hai bên sân đền là nhà tả vu, hữu vu xây dựng 5 gian, khung gỗ lim, lợp ngói mũi hài. Hai trụ biểu đối xứng nhau cũng bằng bê tông cốt thép, phía ngoài ốp đá xanh. Đền thờ Quốc Tổ Lạc Long Quân được Nhà nước đầu tư xây dựng đồng bộ các hạng mục công trình kiến trúc, các họa tiết trang trí được mô phỏng theo hoa văn trên trống đồng Đông Sơn được cách điệu như: Hình ảnh người giã gạo, hình ảnh chim lạc… thể hiện sinh động, độc đáo mang nét kiến trúc đặc trưng riêng của ngôi đền tôn thêm sự uy nghiêm, linh thiêng.

    Nằm trên đường Trần Phú, bên bờ hồ công viên Văn Lang – trung tâm của thành phố Việt Trì – Bảo tàng Hùng Vương được ví như một “cuốn sử bằng hiện vật” thu hút đông đảo du khách thập phương đến tham quan, tìm hiểu và khám phá các giá trị độc đáo, riêng có về lịch sử, văn hóa của vùng đất Tổ cội nguồn.

    Khu du lịch Bạch Hạc – Bến Gót

    Phường Bạch Hạc, phường Bến Gót nằm ở phía Nam thành phố Việt Trì, cửa ngõ nối liền giữa Phú Thọ và các tỉnh miền núi phía Tây Bắc với thủ đô Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ.

    Bến Gót ngày nay thuộc phủ Tam Đới xưa, còn tồn tại rất nhiều di tích lịch sử văn hoá, các truyền thuyết, chuyện kể về quá trình dựng nước và giữ nước của ông cha ta như: “Hoa Long Thiền Tự” xưa ở bến sông Thông, cạnh chùa có một tảng đá ven sông, trên mặt còn hằn vết gót chân. Tương truyền, đây là nơi Lạc Long Quân lập đàn tế trời và đã được tiên ông từ trên trời xuống, ngồi trên tảng đá này, đặt tên, phân định anh em cho một trăm người con do Âu Cơ sinh ra, sau nơi đây buôn bán kinh doanh sầm uất, trên bến dưới thuyền mới có tên là Bến Gót, Đình Bạch Hạc còn có tên là đình thôn Việt Trì là nơi thờ các vua Hùng, Đền Lang Đài là nơi hai chàng Sơn Tinh và Thuỷ Tinh đấu võ, Miếu Hà Thần là nơi thờ thần Sông đã có công giúp vua Trần Minh Tông đánh Man Đà Giang dẹp yên bờ cõi, Đền Bạch Hạc là nơi thờ thổ lệnh có tên huý là Trần Lan và em là Thạch Khanh tên huý là Trần Bảo có phép thuật thần y, chữa được bách bệnh cho nhân dân, sau hoá thần ở Tam Thanh Quán bên bờ sông Bạch Hạc, được phong làm thần thiêng ở ngã ba sông Hạc….. Ngoài ra trên mảnh đất này còn tồn tại rất nhiều sự tích ly kỳ, nhiều lễ hội truyền thống đặc sắc như: Hội bơi chải, Hội giã bánh dầy,… nói lên sự hình thành tên làng, tên xóm, tên sông, những nét sinh hoạt văn hoá truyền thống của của nhân dân ta gắn liền với nền văn minh sông Hồng và nền văn minh lúa nước.

    Với diện tích 100 ha, khu Du lịch Bến Gót được chia thành 2 phần ở bờ Bắc và bờ Nam sông Lô, trong đó phần lãnh thổ phía Bắc (thuộc phường Bến Gót) là chủ yếu. Khu du lịch có đặc trưng điển hình của vùng trung du Bắc Bộ, với địa hình nhấp nhô, phần đất phía Bắc có vị thế như một bán đảo quay về hướng Đông Nam, tạo nên hình ảnh về bến nước, dòng sông. Đặc biệt là sự gắn kết hài hoà giữa đồi núi, cây cối, sông nước tạo nên phong cảnh sơn thuỷ hữu tình, thích hợp để xây dựng khu du lịch nghỉ ngơi, thư giãn, vọng cảnh. Khu du lịch Bến Gót bao gồm những thành phần chủ yếu như: vui chơi giải trí, thể thao, nhà vườn, cắm trại, khách sạn, nhà nghỉ, câu cá, trại sáng tác, lầu bình thơ,… được tổ chức tạo thành trục chủ đạo đi từ cổng chính đến khu lầu tưởng niệm và vọng cảnh phía bờ sông, kết thúc là Lầu Bạch Hạc.

    Lầu Bạch Hạc được xây dựng theo hướng vươn cao vừa tượng trưng cho đàn tế trời vừa là nơi du khách có thể ngắm cảnh xa xa, dưới tầng lầu có bia tưởng niệm 100 người con của Lạc Long Quân – Âu Cơ, giúp cho du khách hiểu rõ hơn nguồn gốc của đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Bên cạnh Lầu Bạch Hạc được tái dựng tảng đá lưu vết chân và hình dáng tiên ông phân định ngôi thứ, mở đầu cho sự hưng thịnh, đoàn kết, thương yêu, đùm bọc của đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Phần đất phía Nam chủ yếu dành cho các di tích lịch sử và thể thao nước truyền thống, một phần dành cho các nhà nghỉ nhỏ dưới dạng vườn nông thôn, vườn sinh thái…

    Nằm trong địa phận của kinh đô Văn Lang xưa, đền Thiên Cổ uy nghiêm ngự trên một quả đồi nhỏ thuộc thôn Hương Lan, xã Trưng Vương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Đây là ngôi đền thờ vợ chồng thầy giáo Vũ Thê Lang, người thầy giáo đầu tiên của dân tộc đã có công dạy dỗ hai công chúa Tiên Dung – Ngọc Hoa con vua Hùng Vương thứ 18.

    Tương truyền, thầy giáo Vũ Thê Lang quê ở Mộ Trạch, Hải Dương cùng vợ là bà Nguyễn Thị Thục, quê ở Đông Ngàn, Kinh Bắc lên kinh đô Văn Lang dạy học từ thời Hùng Vương thứ 18. Hai người tạ thế cùng một giờ, một ngày mồng 2 tháng 2 năm Quý Dậu (năm 228 trước Công nguyên). Đến nay phần mộ của hai vợ chồng thầy cô vẫn còn được nhân dân giữ gìn và bảo vệ cẩn thận ở trong ngôi đền. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, ngôi đền vẫn được người dân thôn Hương Lan, xã Trưng Vương hết lòng bảo vệ.

    Đền Tam Giang – Chùa Đại Bi

    Khu di tích lịch sử văn hóa Quốc gia đền Tam Giang, chùa Đại Bi thuộc phường Bạch Hạc, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Ngôi đền nằm bên tả ngạn nơi hợp lưu của ba dòng sông: sông Hồng, sông Lô, sông Đà mà xưa nay nhân dân vẫn quen gọi là ngã ba Hạc. Đây là một thắng cảnh đẹp của vùng đất Tổ, thu hút đông đảo du khách đến tham quan và lễ bái.

    Khu di tích lịch sử văn hóa Quốc gia đền Tam Giang, chùa Đại Bi là cụm di tích hoàn chỉnh, thống nhất, gồm có: đền Tam Giang, đền Mẫu, chùa Đại Bi, vết chân Thổ lệnh Cao quan Bạch Hạc Đại Vương, bến bơi chải, tượng đài Chiêu Văn Vương Tả Thánh Thái Sư Trần Nhật Duật và bức phù điêu 18 ngôi chùa tiêu biểu của Phật Giáo Việt Nam.

    Đền Tam Giang thờ nhân vật lịch sử huyền thoại thời Hùng Vương dựng nước là thần Thổ Lệnh, ông là thần làng – thần sông Bạch Hạc đã có công chu du thiên hạ tìm phương thuốc quý chữa trị tật bệnh cho muôn dân, khi mất lại linh ứng giúp cho các tướng lĩnh đánh giặc ngoại xâm giữ nước. Chùa Đại Bi, ngôi chùa cổ do Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật và cháu gái là công chúa Thiên Thụy xây dựng từ đời Trần (năm 1328) đã có gần 700 năm tuổi.

    Hùng Lô xưa là vùng đất trù phú, có lịch sử phát triển lâu đời. Đình Hùng Lô là quần thể di tích có giá trị văn hóa, lịch sử nổi bật trên vùng Đất Tổ, niên đại khoảng hơn 300 năm. Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình vẫn bảo tồn được nguyên vẹn giá trị kiến trúc, văn hóa, lịch sử: Ngôi miếu cổ, tòa Đại đình, Long đình, nhà Tiền tế, lầu chuông, lầu trống, nhà thờ Phật, bệ thờ thần nông, nhà Văn chỉ và nhà Yến lão.

    Đình Hùng Lô, thuộc làng cổ Hùng Lô, nằm dọc ven sông Lô, cách Đền Hùng chừng 10km về phía Đông. Đình Hùng Lô được công nhận di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1990. Tương truyền, đây là vùng đất thiêng, nơi Vua Hùng từng nghỉ chân trong một lần đi du ngoạn. Về sau, dân lập miếu thờ, đến đời Lê Hy Tông (1697), đình được xây dựng, hướng về núi Nghĩa Lĩnh…

    Một điểm đặc sắc đáng lưu ý nữa, đình Hùng Lô rất nổi tiếng về truyền thống trong lễ hội rước kiệu Đền Hùng từ xưa đến nay. Năm Mậu Ngọ (1918), đình Hùng Lô đã được thưởng “Kỷ niệm Hùng Vương đệ nhất hội”; hiện nay, biển thưởng này vẫn được trang trọng lưu giữ trong đình. Vào dịp lễ hội Đền Hùng hằng năm, đến đình Hùng Lô, du khách sẽ được hòa mình trong lễ rước kiệu quy mô rất hoành tráng của trên 200 nam trung, đi đến đâu náo động cả một vùng đến đó. Cuộc rước sẽ đi từ đình làng đến Đền Hùng; trở về từ Đền Hùng, các lễ tế tại đình làng mới được tiến hành, sau cùng là thụ lễ tại nhà Yến lão.

    Đền Tiên Cát và Chùa Cát Tường nằm bên bờ sông Hồng thuộc khu phố Anh Dũng, phường Tiên Cát, thành phố Việt Trì. Đền Tiên thờ Mẫu Thần Long Hồng Đăng Ngạn- Hoàng Hậu nước Xích Quỷ, vợ vua Kinh Dương Vương, mẹ đẻ của Vua Lạc Long Quân. Người đã sát cánh cùng chồng trong buổi đầu dựng nước, trong việc dạy dỗ nhân dân và người đã được vua Kinh Dương Vương phong làm “Vi Cung Chính Khổn” thưởng cho cung Tiên Cát. Khi người mất nơi đây được chuyển thành Tiên Cát lăng được nhân dân trông nom gìn giữ suốt mấy nghìn năm.

    Quần thể Lộc Vừng ở Cẩm Khê

    Quần thể lộc vừng được công nhận là cây di sản nằm tại Gò Thờ, xã Chương Xá, huyện Cẩm Khê. Từ xa, quần thể lộc vừng như một chậu cây cảnh khổng lồ hay một khu rừng rậm rạp. Quần thể lộc vừng này có hơn 80 cây, nằm trên một quả gò chỉ rộng chừng 500 m2, trên đầm Láng Chương, hay còn gọi là gò Vình. Rất ít tài liệu ghi chép chính xác số tuổi của quần thể lộc vừng này, nhưng nhiều người ước tính nó đã hơn 1.000 năm tuổi.

    Nằm trên khu vực của thị trấn ấm Thượng, xã Yên Sơn. Đầm Ao Châu có diện tích mặt nước trên 300 ha nổi lên giữa một vùng đồi trung du, tạo nên 99 ngách ăn sâu vào một vùng đồi gò rộng lớn với diện tích trên 1000ha. Nước trong đầm luôn trong xanh và sạch, độ sâu của nước trung bình từ 8 đến 10m, chỗ sâu nhất là 15m. Những quả đồi đất nổi lên giữa đầm nước mênh mông được trồng các loại cây bản địa như chè, cọ đặc biệt là các đồi vải chín đỏ vải vào mùa hè hàng năm tạo nên bức tranh sơn thủy tuyệt đẹp. Vùng núi và đồi ven hồ là những rừng cây xanh tốt tạo nên một cảnh quan rất thơ mộng.

    Đầm Ao Châu đã được quy hoạch để xây dựng thành một khu du lịch sinh thái với hệ thống các khách sạn sang trọng, các khu nghỉ dưỡng với các trò vui chơi giải trí như bơi thuyền, đua thuyền trên mặt đầm.

    Đền nằm giữa một cánh đồng lúa bên dòng sông Thao thuộc xã Hiền Lương, huyện Hạ Hoà. Tương truyền trong số 50 người con theo mẹ Âu Cơ lên núi, người con cả dừng ở đất Phong Châu dựng kinh đô Văn Lang cai quản đất nước truyền ngôi được 18 đời, gọi là các vua Hùng. 49 người con theo mẹ tiếp tục ngược thượng nguồn sông Thao, đến vùng Hiền Lương thấy sơn thuỷ hữu tình, đất đai tươi tốt bèn hạ trại khai hoang lập ấp, dạy cho dân làng nghề trồng lúa, nuôi tằm…

    Lễ chính đền Mẫu Âu Cơ vào ngày 7-1, kéo dài trong ba ngày, sau khi tế nữ xong mới đến lễ Mẫu dâng hương sớ. Trong dịp này trước sân đền và tại đình làng có nhiều trò chơi dân gian địa phương như: cướp cờ, đánh phết, hát ghẹo, hát xoan… Đặc biệt có tục làm bánh vôi từ bột gạo nếp và nước mía là đặc sản ngon nổi tiếng của vùng Hạ Hoà.

    Ao Giời – Suối Tiên thuộc huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ; hai bên đường tới Ao Giời – Suối Tiên có hàng trăm đỉnh núi lớn, nhỏ có độ cao trung bình từ 500 – 600m so với mặt biển. Với đỉnh cao 1.200m, núi Nả cao vượt lên sừng sững, trông thật hùng vĩ như điểm tựa của miền thượng vùng trung du rộng lớn, được phủ một màu xanh dày đặc của các loài cây nhiệt đới, chen chúc nhau tầng tầng, lớp lớp với khá nhiều loài cây quí hiếm như đinh, lim, gụ, vàng tâm… Trong rừng còn có các bầy khỉ, nai, hoẵng, lợn rừng, cầy hương…

    Dưới chân các thác nước cao là những phiến đá khổng lồ, trải qua thời gian dài bị xói mòn, đã thành những chiếc ao nhỏ mà đáy ao là cả một phiến đá, làm nên vẻ đẹp riêng có ở nơi đây. Theo truyền thuyết: “xưa kia chỉ có Giếng Tiên, hàng ngày có các nàng tiên thường tới đây tắm mát, Ngọc Hoàng đã cho nước giếng dâng lên tạo thành các thác nước đổ xuống, lâu dần tạo thêm các ao. Ai được tắm ở Ao Giời – Suối Tiên trong 3 năm sẽ có làn da trắng mịn như ngọc, khuôn mặt sáng đẹp như trăng rằm, tâm hồn thư thái, sáng láng”.

    Đầm Vân Hội có diện tích trên 200 ha, độ sâu của nước từ 7 m đến 8 m, chỗ sâu nhất đạt 20 m. Đầm có hệ thống cung cấp và thoát nước mở nên luôn giữ mực nước ổn định, mùa mưa và mùa cạn nước chỉ chênh lệch nhau khoảng 1,3 m. Nước trong Đầm rất trong và sạch. Xung quanh Đầm có hệ thống núi và đồi và rừng của các xã Quân Khê (Hạ Hòa), xã Vân Hội, xã Việt Cường (Văn Chấn, Yên Bái) vây bọc tạo nên cảnh quan thơ mộng. Trên mặt Đầm có khoảng 40 đảo, đảo lớn nhất có diện tích 10 ha, còn lại là đảo nhỏ từ 0,5 đến 1 ha với các loại cây như: Cọ, chè, keo… tạo nên phong cảnh hữu tình. Đầm Vân Hội cách Đền Mẫu Âu Cơ (Hạ Hòa) 1km, cách Ao Giời – Suối Tiên 3 km. Đầm Vân Hội được quy hoạch thành khu du lịch nghỉ dưỡng – vui chơi giải trí cao cấp.

    Cách Hà Nội khoảng 120km, Vườn quốc gia Xuân Sơn rộng hơn 15.000ha, đứng thứ 12 trong số 15 vườn quốc gia lớn nhất Việt Nam. Vườn được ví là “lá phổi xanh,” là điểm du lịch hấp dẫn của Phú Thọ với độ che phủ rừng lên tới 84%, chất lượng các hệ sinh thái rừng ổn định và được bảo vệ tốt. Vườn được đánh giá là nơi có môi trường không khí, môi trường nước sạch sẽ, mát mẻ, nhiệt độ trung bình năm từ 22-23ºC.

    Đặc biệt, một ngày ở Xuân Sơn, thời tiết có nét đặc trưng của 4 mùa: buổi sáng mát mẻ của mùa Xuân, buổi trưa ấm áp của mùa Hè, buổi chiều hiu hiu như mùa Thu, buổi tối trời se lạnh đặc trưng của mùa Đông. Đây là lợi thế của vườn trong phát triển du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng.

    Tại đây hiện có 365 loài động vật, trong đó có 46 loài ghi trong Sách đỏ Việt Nam và 18 loài ghi trong Sách đỏ Thế giới. Các loài đặc trưng cho hệ động vật Tây Bắc như voọc xám, vượn chó, cầy bạc má, sóc bụng đỏ đuôi trắng, gấu, báo,… về chim có: gà lôi, gà tiền, đại bàng đất,… riêng sơn dương có nhiều nhất toàn quốc. Bên cạnh đó, vườn còn có 726 loài thực vật bậc cao trong đó có 52 loài thuộc ngành quyết và ngành hạt trần. Nằm trong khu vực giao tiếp của hai luồng thực vật Mã Lai và Hoa Nam, hệ thực vật ở Xuân Sơn có các loài re, dẻ, sồi và mộc lan chiếm ưu thế.

    Ngoài ra, ở Xuân Sơn còn có các loài tiêu biểu cho khu vực Tây Bắc như táu muối, táu lá duối, sao mặt quỷ và chò chỉ, chò vảy, nghiến, dồi, vầu đắng, kim giao (rừng chò chỉ ở Xuân Sơn là một trong những rừng chò chỉ đẹp và giàu nhất miền Bắc). Xuân Sơn còn là kho giống bản địa, kho cây thuốc khổng lồ, đặc biệt là cây rau đắng mọc tự nhiên có mật độ cao nhất miền Bắc.

    Ngoài sức hấp dẫn của hệ động thực vật phong phú, Xuân Sơn còn có nhiều cảnh quan thiên nhiên kỳ thú. Nằm trong quần thể vườn quốc gia Xuân Sơn có ba đỉnh núi cao trên 1.000m là: núi Voi, núi Ten và núi Cẩn với hàng trăm hang động; sông suối như suối Lấp, suối Thang; và nhiều thác nước có độ cao trên 50m, che phủ hang, hốc đá, hòa quyện màu thác bạc với màu xanh của rừng già làm cho phong cảnh vừa hùng vĩ vừa thơ mộng.

    Do quá trình phong hóa, thủy hóa tạo thành Xuân Sơn có 16 hang động đá với thạch nhũ đẹp, đa dạng, tạo nên muôn hình vạn trạng. Vào thăm hang động ở đây, du khách không khỏi ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của các nhũ đá rủ xuống thành muôn hình kỳ lạ. Ðộng Tiên là một hang ngầm trong lòng núi đá cẩm thạch dài 10km. Trong hang có đường thông gió lên thẳng đỉnh núi, làm cho không khí trong lành mát dịu. Hồ nước có nhiều loài cá lạ hấp dẫn.

    Bên cạnh đó, cộng đồng các dân tộc nơi đây hiện vẫn giữ được bản sắc văn hoá dân tộc của mình như trang phục, lễ hội, các hoạt động đời sống sinh hoạt hàng ngày như đan lát đồ dùng thủ công, dệt thổ cẩm, thêu, lễ cấp sắc, múa đâm đuống, múa xòe, uống rượu hoẵng, cơm lam…, những nét đẹp văn hóa đặc trưng của vùng đất các vua Hùng. Quan trọng hơn, vườn nằm trong thế chân kiềng của tổng thể cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ Tam Đảo – Ba Vì – Xuân Sơn. Trong trục tâm linh của truyền thuyết lịch sử Quốc mẫu Lăng Thị Tiêu, Sơn Tinh – Thủy tinh, vua Hùng, tạo nên một Xuân Sơn kỹ vĩ và có nhiều lợi thế trong bảo tồn, phát triển bền vững kết hợp với du lịch.

    Đây là ngôi làng cổ xưa nhất của người Dao Tiền, bản cuối cùng của Vườn Quốc gia Xuân Sơn. Do có loài gà chín cựa, một loài vật tưởng như chỉ có trong truyền thuyết Sơn Tinh Thủy Tinh mà bản Cỏi hiện nay được nhiều người biết tới. Từ một khu dân cư heo hút nằm sâu trong vùng lõi Vườn Quốc gia Xuân Sơn, nay bản Cỏi biến thành địa điểm thu hút được nhiều khách du lịch cũng như các thương lái đến thu mua loại gà này để tiêu thụ.

    Phú Thọ đã từ lâu nổi tiếng là đất trồng chè, với diện tích trồng chè trên 12 ngàn ha và sản lượng chè búp tươi vô cùng lớn. Ai đã từng qua vùng đồi trung du Phú Thọ khu vực các huyện Tân Sơn, Thanh Sơn sẽ không thể nào quên những đồi chè xanh mơn mởn, trông như những mâm xôi tầng tầng, lớp lớp ngút ngàn tạo nên cảnh quan thiên nhiên kỳ thú. Đồi chè Long Cốc ở Tân Sơn được xếp vào một trong những đồi chè đẹp nhất Việt Nam.

    Đèo Khế là ranh giới tự nhiên giữa 2 tỉnh Phú Thọ và Yên Bái. Từ Hà Nội qua địa phận xã Thu Cúc (Phú Thọ) đi thẳng tiếp là lên đến đèo Khế. Vượt qua đèo Khế sẽ sang tới địa phận của huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái. Trước đây, đèo Khế từng là “nỗi sợ hãi” đối với cánh tài xế và những người đi đường đêm. Sau khi được tu sửa lại, con đường đèo dài gần 30km không chỉ giúp giao thông thuận tiện mà còn trở thành điểm lui tới quen thuộc của dân mê phượt.

    Thác Mây thuộc xã Hương Cần, nằm cách trung tâm huyện Thanh Sơn khoảng 25km. Trên đỉnh núi Hem có một hồ nước nhỏ, nước từ đó đổ xuống sườn núi tạo thành suối Hem và nhiều tầng thác liên hoàn kế tiếp nhau, gọi là thác Mây. Thác Mây gồm 13 thác nước lớn nhỏ, trong đó thác cao nhất là thác Thượng với nhiều cột nước tung bọt trắng xoá. Những ngày trong xanh, hoà cùng màu xanh của núi rừng và màu xanh của trời là những dòng thác như giải lụa mềm giữa trời. Nhiều thác nước lớn nhỏ đã tạo nên những cung bậc âm thanh khác nhau, có thác nước đổ rào rào, có thác nước chảy róc rách giống như những bản nhạc của thiên nhiên. Tới gần thác, không khí như dịu mát hẳn, khác biệt với không khí bên ngoài, du khách có thể đắm mình trong dòng nước suối trong mát sau khi khám phá bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp.

    Thác Mơ thuộc xã Cự Thắng, cách trung tâm huyện 15km. Trước đây, thác có tên gọi khác là thác Vạn Mơ nhưng lâu dần người ta gọi thác là thác Mơ. Ngay từ tên gọi của thác đã tạo cho du khách hình dung được khung cảnh mộc mạc, mà nên thơ. Đường vào thác được bao bọc bởi màu xanh của núi rừng, các loại hoa dại hai bên đường, góp phần tạo nên vẻ đẹp hoang sơ cho khung cảnh nơi đây.

    Thác Mơ có đến 9 tầng khác nhau, từ xa, đã nghe tiếng thác nước đổ rì rào như lời hát của các sơn nữ. Men theo con suối nhỏ để đến chân thác, du khách sẽ được đắm mình trong cảnh sắc thiên nhiên còn hoang sơ của đại ngàn. Thác được vây quanh bởi những ngọn núi xanh mát, hệ động thực vật nguyên sinh phong phú, đa dạng. Sau khi khám phá vẻ đẹp của thiên nhiên, du khách có thể nghỉ ngơi tại nhà sàn, thưởng thức các món ăn dân giã đặc sắc của đồng bào các dân tộc Thanh Sơn.

    Suối khoáng nóng Thanh Thủy

    Khu du lịch nước khoáng nóng Thanh Thủy nằm trên địa phận các xã La Phù và Bảo Yên huyện Thanh Thủy, cách thành phố Việt Trì hơn 40km, giáp với Hà Nội, nằm bên tả sông Đà, đối diện với núi Ba Vì. Khu du lịch nước khoáng nóng Thanh Thủy là khu vực đắc địa sở hữu nguồn nước khoáng nóng cùng với các cảnh quan đẹp được coi là những tài nguyên vô giá của tự nhiên ban tặng cho Thanh Thủy để phát triển du lịch nghỉ dưỡng. Qua tài liệu nghiên cứu khoa học cho thấy, nước khoáng Thanh Thuỷ có nhiệt độ dao động trong khoảng từ 37ºC – 54ºC thuộc loại nước khoáng ấm – nóng. Trong nước khoáng có nhiều chất vi lượng như: Natri, Canxi, Magie, đặc biệt có hàm lượng chất Radon vừa phải để tạo nên một loại nước quý hiếm rất thích hợp cho việc tắm ngâm, phục hồi sức khoẻ và chữa bệnh.

    Sau khi ngăn đập, hồ Thượng Long hay còn gọi (hồ Ly) trở thành một trong 10 hồ có trữ lượng nước lớn nhất tỉnh, hồ có khả năng tưới cho trên 500ha lúa và cung cấp nước sinh hoạt cho hàng ngàn người dân ở xã Thượng Long, Nga Hoàng, Hưng Long, Phúc Khánh, Đồng Thịnh và thị trấn Yên Lập. Đập ngăn nước đã tạo nên một hồ nước xanh như viên ngọc giữa núi rừng.

    Hồ Ly được tạo từ hai khe nước là khe Ly và khe Chanh. Người dân địa phương đã lấy tên khe Ly đặt tên gọi cho hồ. Hồ Ly có vẻ đẹp non nước hữu tình mà thiên nhiên ưu đãi ban tặng cho nơi đây với cảnh đẹp yên bình thu hút nhiều bạn trẻ đến tham quan, chụp hình và trải nghiệm thú vị khi khám phá văn hóa dệt thổ cẩm, thưởng thức những đặc sản của bà con dân tộc người Dao, Mường tại địa phương.

    Tìm trên Google:

    • các địa điểm du lịch ở Phú Thọ
    • chơi gì khi đến Phú Thọ
    • phượt Phú Thọ có gì
    • cảnh đẹp Phú Thọ
    • danh lam thắng cảnh Phú Thọ
    • địa điểm du lịch tâm linh Phú Thọ
    • đến Phú Thọ nên đi đâu
    • địa điểm chụp ảnh đẹp ở Phú Thọ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Du Lịch Vũng Tàu Về Đêm Có Gì Vui?
  • Giới Thiệu Tổng Quan Du Lịch Phú Quốc
  • Tour Du Lịch Nghệ An (Vinh)
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Đảo Lý Sơn 2 Ngày 1 Đêm Tự Túc, Chi Tiết Từ A
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Bụi Cần Thơ Có Gì Hay?
  • Các Địa Điểm Du Lịch Ở Phú Thọ (Cập Nhật 11/2020)

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Địa Điểm Nổi Tiếng Ở Phú Yên Khiến Các Bạn Trẻ ‘đứng Ngồi Không Yên’
  • Các Địa Điểm Du Lịch Ở Quảng Nam (Cập Nhật 11/2020)
  • Các Địa Điểm Du Lịch Ở Quảng Ngãi (Cập Nhật 11/2020)
  • Top 20 Địa Điểm Du Lịch Quảng Trị Check
  • Các Địa Điểm Du Lịch Ở Sơn La (Cập Nhật 11/2020)
  • Các địa điểm du lịch ở Phú Thọ

    Cùng Phượt – Phú Thọ được biết đến là cái nôi của nền văn hóa Lạc Việt, trung tâm sinh tụ của người Việt Cổ, thời các Vua Hùng dựng nước Văn Lang – nhà nước đầu tiên của dân tộc Việt Nam. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, nơi đây vẫn giữ được dấu ấn của những buổi đầu bình minh dựng nước của dân tộc. Với hệ thống các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể phong phú: 1.372 di tích lịch sử văn hóa (trong đó Khu di tích lịch sử Đền Hùng là Di tích quốc gia đặc biệt), cùng với “Hát Xoan Phú Thọ”, “Ca Trù”, “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ” đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Đến với các địa điểm du lịch ở Phú Thọ để được trải nghiệm nét văn hóa độc đáo với nhiều di chỉ khảo cổ, di tích lịch sử, lễ hội dân gian, các loại hình nghệ thuật đặc sắc gắn liền thời đại các Vua Hùng, cội nguồn dân tộc Việt Nam.

    Đền Hùng là tên gọi khái quát của Khu di tích lịch sử Đền Hùng – quần thể đền chùa thờ phụng các Vua Hùng và tôn thất của nhà vua trên núi Nghĩa Lĩnh, gắn với Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng được tổ chức tại địa điểm đó hàng năm vào ngày 10 tháng 3 âm lịch. Hiện nay, theo các tài liệu khoa học đã công bố đa số đều thống nhất nền móng kiến trúc đền Hùng bắt đầu được xây dựng từ thời vua Đinh Tiên Hoàng trị vì. Đến thời Hậu Lê (thế kỷ 15) được xây dựng hoàn chỉnh theo quy mô như hiện tại.

    Đền Quốc Tổ Lạc Long Quân

    Đền Quốc tổ Lạc Long Quân được xây dựng tại đồi Sim, cách núi Nghĩa Lĩnh khoảng 1 km, nơi có vị trí đắc địa, có thế “sơn chầu thuỷ tụ”. Đồi Sim có hình thế giống một con rùa lớn, hai bên có Thanh Long, Bạch Hổ, phía trước là hồ Hóc Trai và sông Hồng chảy xuôi về biển. Ngôi đền tọa lạc trên lưng rùa biểu hiện sự linh thiêng huyền diệu.

    Đền chính có diện tích 210m2, kiến trúc kiểu chữ đinh truyền thống, nội thất bằng gỗ lim, sơn son thếp vàng, mái lợp ngói mũi hài, nền lát gạch Bát Tràng, bó vỉa đá xanh. Hậu cung đặt tượng thờ Đức Quốc Tổ Lạc Long Quân dáng vẻ uy nghiêm. Tượng được đúc bằng đồng, nặng 1,5 tấn, cao 1,98m ở tư thế ngồi trên ngai, đặt trên bệ đá chạm khắc hoa văn theo mô típ văn hóa Đông Sơn. Hai bên là tượng Lạc hầu và Lạc tướng ở tư thế đứng có chiều cao 1,80m, mỗi pho nặng 0,5 tấn.

    Cổng đền (nghi môn) cũng được xây dựng theo kiểu truyền thống, gồm có 4 cột, cổng chính rộng 4,2m, cổng phụ rộng khoảng 2m. Cổng được xây dựng bằng bê tông cốt thép, phía ngoài ốp đá xanh chạm họa tiết hoa văn 4 mặt. Phía trước nghi môn là cổng biểu tượng cũng có kết cấu cột bê tông cốt thép ốp đá và chạm khắc. Hai bên sân đền là nhà tả vu, hữu vu xây dựng 5 gian, khung gỗ lim, lợp ngói mũi hài. Hai trụ biểu đối xứng nhau cũng bằng bê tông cốt thép, phía ngoài ốp đá xanh. Đền thờ Quốc Tổ Lạc Long Quân được Nhà nước đầu tư xây dựng đồng bộ các hạng mục công trình kiến trúc, các họa tiết trang trí được mô phỏng theo hoa văn trên trống đồng Đông Sơn được cách điệu như: Hình ảnh người giã gạo, hình ảnh chim lạc… thể hiện sinh động, độc đáo mang nét kiến trúc đặc trưng riêng của ngôi đền tôn thêm sự uy nghiêm, linh thiêng.

    Nằm trên đường Trần Phú, bên bờ hồ công viên Văn Lang – trung tâm của thành phố Việt Trì – Bảo tàng Hùng Vương được ví như một “cuốn sử bằng hiện vật” thu hút đông đảo du khách thập phương đến tham quan, tìm hiểu và khám phá các giá trị độc đáo, riêng có về lịch sử, văn hóa của vùng đất Tổ cội nguồn.

    Khu du lịch Bạch Hạc – Bến Gót

    Phường Bạch Hạc, phường Bến Gót nằm ở phía Nam thành phố Việt Trì, cửa ngõ nối liền giữa Phú Thọ và các tỉnh miền núi phía Tây Bắc với thủ đô Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ.

    Bến Gót ngày nay thuộc phủ Tam Đới xưa, còn tồn tại rất nhiều di tích lịch sử văn hoá, các truyền thuyết, chuyện kể về quá trình dựng nước và giữ nước của ông cha ta như: “Hoa Long Thiền Tự” xưa ở bến sông Thông, cạnh chùa có một tảng đá ven sông, trên mặt còn hằn vết gót chân. Tương truyền, đây là nơi Lạc Long Quân lập đàn tế trời và đã được tiên ông từ trên trời xuống, ngồi trên tảng đá này, đặt tên, phân định anh em cho một trăm người con do Âu Cơ sinh ra, sau nơi đây buôn bán kinh doanh sầm uất, trên bến dưới thuyền mới có tên là Bến Gót, Đình Bạch Hạc còn có tên là đình thôn Việt Trì là nơi thờ các vua Hùng, Đền Lang Đài là nơi hai chàng Sơn Tinh và Thuỷ Tinh đấu võ, Miếu Hà Thần là nơi thờ thần Sông đã có công giúp vua Trần Minh Tông đánh Man Đà Giang dẹp yên bờ cõi, Đền Bạch Hạc là nơi thờ thổ lệnh có tên huý là Trần Lan và em là Thạch Khanh tên huý là Trần Bảo có phép thuật thần y, chữa được bách bệnh cho nhân dân, sau hoá thần ở Tam Thanh Quán bên bờ sông Bạch Hạc, được phong làm thần thiêng ở ngã ba sông Hạc….. Ngoài ra trên mảnh đất này còn tồn tại rất nhiều sự tích ly kỳ, nhiều lễ hội truyền thống đặc sắc như: Hội bơi chải, Hội giã bánh dầy,… nói lên sự hình thành tên làng, tên xóm, tên sông, những nét sinh hoạt văn hoá truyền thống của của nhân dân ta gắn liền với nền văn minh sông Hồng và nền văn minh lúa nước.

    Với diện tích 100 ha, khu Du lịch Bến Gót được chia thành 2 phần ở bờ Bắc và bờ Nam sông Lô, trong đó phần lãnh thổ phía Bắc (thuộc phường Bến Gót) là chủ yếu. Khu du lịch có đặc trưng điển hình của vùng trung du Bắc Bộ, với địa hình nhấp nhô, phần đất phía Bắc có vị thế như một bán đảo quay về hướng Đông Nam, tạo nên hình ảnh về bến nước, dòng sông. Đặc biệt là sự gắn kết hài hoà giữa đồi núi, cây cối, sông nước tạo nên phong cảnh sơn thuỷ hữu tình, thích hợp để xây dựng khu du lịch nghỉ ngơi, thư giãn, vọng cảnh. Khu du lịch Bến Gót bao gồm những thành phần chủ yếu như: vui chơi giải trí, thể thao, nhà vườn, cắm trại, khách sạn, nhà nghỉ, câu cá, trại sáng tác, lầu bình thơ,… được tổ chức tạo thành trục chủ đạo đi từ cổng chính đến khu lầu tưởng niệm và vọng cảnh phía bờ sông, kết thúc là Lầu Bạch Hạc.

    Lầu Bạch Hạc được xây dựng theo hướng vươn cao vừa tượng trưng cho đàn tế trời vừa là nơi du khách có thể ngắm cảnh xa xa, dưới tầng lầu có bia tưởng niệm 100 người con của Lạc Long Quân – Âu Cơ, giúp cho du khách hiểu rõ hơn nguồn gốc của đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Bên cạnh Lầu Bạch Hạc được tái dựng tảng đá lưu vết chân và hình dáng tiên ông phân định ngôi thứ, mở đầu cho sự hưng thịnh, đoàn kết, thương yêu, đùm bọc của đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Phần đất phía Nam chủ yếu dành cho các di tích lịch sử và thể thao nước truyền thống, một phần dành cho các nhà nghỉ nhỏ dưới dạng vườn nông thôn, vườn sinh thái…

    Nằm trong địa phận của kinh đô Văn Lang xưa, đền Thiên Cổ uy nghiêm ngự trên một quả đồi nhỏ thuộc thôn Hương Lan, xã Trưng Vương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Đây là ngôi đền thờ vợ chồng thầy giáo Vũ Thê Lang, người thầy giáo đầu tiên của dân tộc đã có công dạy dỗ hai công chúa Tiên Dung – Ngọc Hoa con vua Hùng Vương thứ 18.

    Tương truyền, thầy giáo Vũ Thê Lang quê ở Mộ Trạch, Hải Dương cùng vợ là bà Nguyễn Thị Thục, quê ở Đông Ngàn, Kinh Bắc lên kinh đô Văn Lang dạy học từ thời Hùng Vương thứ 18. Hai người tạ thế cùng một giờ, một ngày mồng 2 tháng 2 năm Quý Dậu (năm 228 trước Công nguyên). Đến nay phần mộ của hai vợ chồng thầy cô vẫn còn được nhân dân giữ gìn và bảo vệ cẩn thận ở trong ngôi đền. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, ngôi đền vẫn được người dân thôn Hương Lan, xã Trưng Vương hết lòng bảo vệ.

    Đền Tam Giang – Chùa Đại Bi

    Khu di tích lịch sử văn hóa Quốc gia đền Tam Giang, chùa Đại Bi thuộc phường Bạch Hạc, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Ngôi đền nằm bên tả ngạn nơi hợp lưu của ba dòng sông: sông Hồng, sông Lô, sông Đà mà xưa nay nhân dân vẫn quen gọi là ngã ba Hạc. Đây là một thắng cảnh đẹp của vùng đất Tổ, thu hút đông đảo du khách đến tham quan và lễ bái.

    Khu di tích lịch sử văn hóa Quốc gia đền Tam Giang, chùa Đại Bi là cụm di tích hoàn chỉnh, thống nhất, gồm có: đền Tam Giang, đền Mẫu, chùa Đại Bi, vết chân Thổ lệnh Cao quan Bạch Hạc Đại Vương, bến bơi chải, tượng đài Chiêu Văn Vương Tả Thánh Thái Sư Trần Nhật Duật và bức phù điêu 18 ngôi chùa tiêu biểu của Phật Giáo Việt Nam.

    Đền Tam Giang thờ nhân vật lịch sử huyền thoại thời Hùng Vương dựng nước là thần Thổ Lệnh, ông là thần làng – thần sông Bạch Hạc đã có công chu du thiên hạ tìm phương thuốc quý chữa trị tật bệnh cho muôn dân, khi mất lại linh ứng giúp cho các tướng lĩnh đánh giặc ngoại xâm giữ nước. Chùa Đại Bi, ngôi chùa cổ do Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật và cháu gái là công chúa Thiên Thụy xây dựng từ đời Trần (năm 1328) đã có gần 700 năm tuổi.

    Hùng Lô xưa là vùng đất trù phú, có lịch sử phát triển lâu đời. Đình Hùng Lô là quần thể di tích có giá trị văn hóa, lịch sử nổi bật trên vùng Đất Tổ, niên đại khoảng hơn 300 năm. Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình vẫn bảo tồn được nguyên vẹn giá trị kiến trúc, văn hóa, lịch sử: Ngôi miếu cổ, tòa Đại đình, Long đình, nhà Tiền tế, lầu chuông, lầu trống, nhà thờ Phật, bệ thờ thần nông, nhà Văn chỉ và nhà Yến lão.

    Đình Hùng Lô, thuộc làng cổ Hùng Lô, nằm dọc ven sông Lô, cách Đền Hùng chừng 10km về phía Đông. Đình Hùng Lô được công nhận di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1990. Tương truyền, đây là vùng đất thiêng, nơi Vua Hùng từng nghỉ chân trong một lần đi du ngoạn. Về sau, dân lập miếu thờ, đến đời Lê Hy Tông (1697), đình được xây dựng, hướng về núi Nghĩa Lĩnh…

    Một điểm đặc sắc đáng lưu ý nữa, đình Hùng Lô rất nổi tiếng về truyền thống trong lễ hội rước kiệu Đền Hùng từ xưa đến nay. Năm Mậu Ngọ (1918), đình Hùng Lô đã được thưởng “Kỷ niệm Hùng Vương đệ nhất hội”; hiện nay, biển thưởng này vẫn được trang trọng lưu giữ trong đình. Vào dịp lễ hội Đền Hùng hằng năm, đến đình Hùng Lô, du khách sẽ được hòa mình trong lễ rước kiệu quy mô rất hoành tráng của trên 200 nam trung, đi đến đâu náo động cả một vùng đến đó. Cuộc rước sẽ đi từ đình làng đến Đền Hùng; trở về từ Đền Hùng, các lễ tế tại đình làng mới được tiến hành, sau cùng là thụ lễ tại nhà Yến lão.

    Đền Tiên Cát và Chùa Cát Tường nằm bên bờ sông Hồng thuộc khu phố Anh Dũng, phường Tiên Cát, thành phố Việt Trì. Đền Tiên thờ Mẫu Thần Long Hồng Đăng Ngạn- Hoàng Hậu nước Xích Quỷ, vợ vua Kinh Dương Vương, mẹ đẻ của Vua Lạc Long Quân. Người đã sát cánh cùng chồng trong buổi đầu dựng nước, trong việc dạy dỗ nhân dân và người đã được vua Kinh Dương Vương phong làm “Vi Cung Chính Khổn” thưởng cho cung Tiên Cát. Khi người mất nơi đây được chuyển thành Tiên Cát lăng được nhân dân trông nom gìn giữ suốt mấy nghìn năm.

    Quần thể Lộc Vừng ở Cẩm Khê

    Quần thể lộc vừng được công nhận là cây di sản nằm tại Gò Thờ, xã Chương Xá, huyện Cẩm Khê. Từ xa, quần thể lộc vừng như một chậu cây cảnh khổng lồ hay một khu rừng rậm rạp. Quần thể lộc vừng này có hơn 80 cây, nằm trên một quả gò chỉ rộng chừng 500 m2, trên đầm Láng Chương, hay còn gọi là gò Vình. Rất ít tài liệu ghi chép chính xác số tuổi của quần thể lộc vừng này, nhưng nhiều người ước tính nó đã hơn 1.000 năm tuổi.

    Nằm trên khu vực của thị trấn ấm Thượng, xã Yên Sơn. Đầm Ao Châu có diện tích mặt nước trên 300 ha nổi lên giữa một vùng đồi trung du, tạo nên 99 ngách ăn sâu vào một vùng đồi gò rộng lớn với diện tích trên 1000ha. Nước trong đầm luôn trong xanh và sạch, độ sâu của nước trung bình từ 8 đến 10m, chỗ sâu nhất là 15m. Những quả đồi đất nổi lên giữa đầm nước mênh mông được trồng các loại cây bản địa như chè, cọ đặc biệt là các đồi vải chín đỏ vải vào mùa hè hàng năm tạo nên bức tranh sơn thủy tuyệt đẹp. Vùng núi và đồi ven hồ là những rừng cây xanh tốt tạo nên một cảnh quan rất thơ mộng.

    Đầm Ao Châu đã được quy hoạch để xây dựng thành một khu du lịch sinh thái với hệ thống các khách sạn sang trọng, các khu nghỉ dưỡng với các trò vui chơi giải trí như bơi thuyền, đua thuyền trên mặt đầm.

    Đền nằm giữa một cánh đồng lúa bên dòng sông Thao thuộc xã Hiền Lương, huyện Hạ Hoà. Tương truyền trong số 50 người con theo mẹ Âu Cơ lên núi, người con cả dừng ở đất Phong Châu dựng kinh đô Văn Lang cai quản đất nước truyền ngôi được 18 đời, gọi là các vua Hùng. 49 người con theo mẹ tiếp tục ngược thượng nguồn sông Thao, đến vùng Hiền Lương thấy sơn thuỷ hữu tình, đất đai tươi tốt bèn hạ trại khai hoang lập ấp, dạy cho dân làng nghề trồng lúa, nuôi tằm…

    Lễ chính đền Mẫu Âu Cơ vào ngày 7-1, kéo dài trong ba ngày, sau khi tế nữ xong mới đến lễ Mẫu dâng hương sớ. Trong dịp này trước sân đền và tại đình làng có nhiều trò chơi dân gian địa phương như: cướp cờ, đánh phết, hát ghẹo, hát xoan… Đặc biệt có tục làm bánh vôi từ bột gạo nếp và nước mía là đặc sản ngon nổi tiếng của vùng Hạ Hoà.

    Ao Giời – Suối Tiên thuộc huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ; hai bên đường tới Ao Giời – Suối Tiên có hàng trăm đỉnh núi lớn, nhỏ có độ cao trung bình từ 500 – 600m so với mặt biển. Với đỉnh cao 1.200m, núi Nả cao vượt lên sừng sững, trông thật hùng vĩ như điểm tựa của miền thượng vùng trung du rộng lớn, được phủ một màu xanh dày đặc của các loài cây nhiệt đới, chen chúc nhau tầng tầng, lớp lớp với khá nhiều loài cây quí hiếm như đinh, lim, gụ, vàng tâm… Trong rừng còn có các bầy khỉ, nai, hoẵng, lợn rừng, cầy hương…

    Dưới chân các thác nước cao là những phiến đá khổng lồ, trải qua thời gian dài bị xói mòn, đã thành những chiếc ao nhỏ mà đáy ao là cả một phiến đá, làm nên vẻ đẹp riêng có ở nơi đây. Theo truyền thuyết: “xưa kia chỉ có Giếng Tiên, hàng ngày có các nàng tiên thường tới đây tắm mát, Ngọc Hoàng đã cho nước giếng dâng lên tạo thành các thác nước đổ xuống, lâu dần tạo thêm các ao. Ai được tắm ở Ao Giời – Suối Tiên trong 3 năm sẽ có làn da trắng mịn như ngọc, khuôn mặt sáng đẹp như trăng rằm, tâm hồn thư thái, sáng láng”.

    Đầm Vân Hội có diện tích trên 200 ha, độ sâu của nước từ 7 m đến 8 m, chỗ sâu nhất đạt 20 m. Đầm có hệ thống cung cấp và thoát nước mở nên luôn giữ mực nước ổn định, mùa mưa và mùa cạn nước chỉ chênh lệch nhau khoảng 1,3 m. Nước trong Đầm rất trong và sạch. Xung quanh Đầm có hệ thống núi và đồi và rừng của các xã Quân Khê (Hạ Hòa), xã Vân Hội, xã Việt Cường (Văn Chấn, Yên Bái) vây bọc tạo nên cảnh quan thơ mộng. Trên mặt Đầm có khoảng 40 đảo, đảo lớn nhất có diện tích 10 ha, còn lại là đảo nhỏ từ 0,5 đến 1 ha với các loại cây như: Cọ, chè, keo… tạo nên phong cảnh hữu tình. Đầm Vân Hội cách Đền Mẫu Âu Cơ (Hạ Hòa) 1km, cách Ao Giời – Suối Tiên 3 km. Đầm Vân Hội được quy hoạch thành khu du lịch nghỉ dưỡng – vui chơi giải trí cao cấp.

    Cách Hà Nội khoảng 120km, Vườn quốc gia Xuân Sơn rộng hơn 15.000ha, đứng thứ 12 trong số 15 vườn quốc gia lớn nhất Việt Nam. Vườn được ví là “lá phổi xanh,” là điểm du lịch hấp dẫn của Phú Thọ với độ che phủ rừng lên tới 84%, chất lượng các hệ sinh thái rừng ổn định và được bảo vệ tốt. Vườn được đánh giá là nơi có môi trường không khí, môi trường nước sạch sẽ, mát mẻ, nhiệt độ trung bình năm từ 22-23ºC.

    Đặc biệt, một ngày ở Xuân Sơn, thời tiết có nét đặc trưng của 4 mùa: buổi sáng mát mẻ của mùa Xuân, buổi trưa ấm áp của mùa Hè, buổi chiều hiu hiu như mùa Thu, buổi tối trời se lạnh đặc trưng của mùa Đông. Đây là lợi thế của vườn trong phát triển du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng.

    Tại đây hiện có 365 loài động vật, trong đó có 46 loài ghi trong Sách đỏ Việt Nam và 18 loài ghi trong Sách đỏ Thế giới. Các loài đặc trưng cho hệ động vật Tây Bắc như voọc xám, vượn chó, cầy bạc má, sóc bụng đỏ đuôi trắng, gấu, báo,… về chim có: gà lôi, gà tiền, đại bàng đất,… riêng sơn dương có nhiều nhất toàn quốc. Bên cạnh đó, vườn còn có 726 loài thực vật bậc cao trong đó có 52 loài thuộc ngành quyết và ngành hạt trần. Nằm trong khu vực giao tiếp của hai luồng thực vật Mã Lai và Hoa Nam, hệ thực vật ở Xuân Sơn có các loài re, dẻ, sồi và mộc lan chiếm ưu thế.

    Ngoài ra, ở Xuân Sơn còn có các loài tiêu biểu cho khu vực Tây Bắc như táu muối, táu lá duối, sao mặt quỷ và chò chỉ, chò vảy, nghiến, dồi, vầu đắng, kim giao (rừng chò chỉ ở Xuân Sơn là một trong những rừng chò chỉ đẹp và giàu nhất miền Bắc). Xuân Sơn còn là kho giống bản địa, kho cây thuốc khổng lồ, đặc biệt là cây rau đắng mọc tự nhiên có mật độ cao nhất miền Bắc.

    Ngoài sức hấp dẫn của hệ động thực vật phong phú, Xuân Sơn còn có nhiều cảnh quan thiên nhiên kỳ thú. Nằm trong quần thể vườn quốc gia Xuân Sơn có ba đỉnh núi cao trên 1.000m là: núi Voi, núi Ten và núi Cẩn với hàng trăm hang động; sông suối như suối Lấp, suối Thang; và nhiều thác nước có độ cao trên 50m, che phủ hang, hốc đá, hòa quyện màu thác bạc với màu xanh của rừng già làm cho phong cảnh vừa hùng vĩ vừa thơ mộng.

    Do quá trình phong hóa, thủy hóa tạo thành Xuân Sơn có 16 hang động đá với thạch nhũ đẹp, đa dạng, tạo nên muôn hình vạn trạng. Vào thăm hang động ở đây, du khách không khỏi ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của các nhũ đá rủ xuống thành muôn hình kỳ lạ. Ðộng Tiên là một hang ngầm trong lòng núi đá cẩm thạch dài 10km. Trong hang có đường thông gió lên thẳng đỉnh núi, làm cho không khí trong lành mát dịu. Hồ nước có nhiều loài cá lạ hấp dẫn.

    Bên cạnh đó, cộng đồng các dân tộc nơi đây hiện vẫn giữ được bản sắc văn hoá dân tộc của mình như trang phục, lễ hội, các hoạt động đời sống sinh hoạt hàng ngày như đan lát đồ dùng thủ công, dệt thổ cẩm, thêu, lễ cấp sắc, múa đâm đuống, múa xòe, uống rượu hoẵng, cơm lam…, những nét đẹp văn hóa đặc trưng của vùng đất các vua Hùng. Quan trọng hơn, vườn nằm trong thế chân kiềng của tổng thể cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ Tam Đảo – Ba Vì – Xuân Sơn. Trong trục tâm linh của truyền thuyết lịch sử Quốc mẫu Lăng Thị Tiêu, Sơn Tinh – Thủy tinh, vua Hùng, tạo nên một Xuân Sơn kỹ vĩ và có nhiều lợi thế trong bảo tồn, phát triển bền vững kết hợp với du lịch.

    Đây là ngôi làng cổ xưa nhất của người Dao Tiền, bản cuối cùng của Vườn Quốc gia Xuân Sơn. Do có loài gà chín cựa, một loài vật tưởng như chỉ có trong truyền thuyết Sơn Tinh Thủy Tinh mà bản Cỏi hiện nay được nhiều người biết tới. Từ một khu dân cư heo hút nằm sâu trong vùng lõi Vườn Quốc gia Xuân Sơn, nay bản Cỏi biến thành địa điểm thu hút được nhiều khách du lịch cũng như các thương lái đến thu mua loại gà này để tiêu thụ.

    Phú Thọ đã từ lâu nổi tiếng là đất trồng chè, với diện tích trồng chè trên 12 ngàn ha và sản lượng chè búp tươi vô cùng lớn. Ai đã từng qua vùng đồi trung du Phú Thọ khu vực các huyện Tân Sơn, Thanh Sơn sẽ không thể nào quên những đồi chè xanh mơn mởn, trông như những mâm xôi tầng tầng, lớp lớp ngút ngàn tạo nên cảnh quan thiên nhiên kỳ thú. Đồi chè Long Cốc ở Tân Sơn được xếp vào một trong những đồi chè đẹp nhất Việt Nam.

    Đèo Khế là ranh giới tự nhiên giữa 2 tỉnh Phú Thọ và Yên Bái. Từ Hà Nội qua địa phận xã Thu Cúc (Phú Thọ) đi thẳng tiếp là lên đến đèo Khế. Vượt qua đèo Khế sẽ sang tới địa phận của huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái. Trước đây, đèo Khế từng là “nỗi sợ hãi” đối với cánh tài xế và những người đi đường đêm. Sau khi được tu sửa lại, con đường đèo dài gần 30km không chỉ giúp giao thông thuận tiện mà còn trở thành điểm lui tới quen thuộc của dân mê phượt.

    Thác Mây thuộc xã Hương Cần, nằm cách trung tâm huyện Thanh Sơn khoảng 25km. Trên đỉnh núi Hem có một hồ nước nhỏ, nước từ đó đổ xuống sườn núi tạo thành suối Hem và nhiều tầng thác liên hoàn kế tiếp nhau, gọi là thác Mây. Thác Mây gồm 13 thác nước lớn nhỏ, trong đó thác cao nhất là thác Thượng với nhiều cột nước tung bọt trắng xoá. Những ngày trong xanh, hoà cùng màu xanh của núi rừng và màu xanh của trời là những dòng thác như giải lụa mềm giữa trời. Nhiều thác nước lớn nhỏ đã tạo nên những cung bậc âm thanh khác nhau, có thác nước đổ rào rào, có thác nước chảy róc rách giống như những bản nhạc của thiên nhiên. Tới gần thác, không khí như dịu mát hẳn, khác biệt với không khí bên ngoài, du khách có thể đắm mình trong dòng nước suối trong mát sau khi khám phá bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp.

    Thác Mơ thuộc xã Cự Thắng, cách trung tâm huyện 15km. Trước đây, thác có tên gọi khác là thác Vạn Mơ nhưng lâu dần người ta gọi thác là thác Mơ. Ngay từ tên gọi của thác đã tạo cho du khách hình dung được khung cảnh mộc mạc, mà nên thơ. Đường vào thác được bao bọc bởi màu xanh của núi rừng, các loại hoa dại hai bên đường, góp phần tạo nên vẻ đẹp hoang sơ cho khung cảnh nơi đây.

    Thác Mơ có đến 9 tầng khác nhau, từ xa, đã nghe tiếng thác nước đổ rì rào như lời hát của các sơn nữ. Men theo con suối nhỏ để đến chân thác, du khách sẽ được đắm mình trong cảnh sắc thiên nhiên còn hoang sơ của đại ngàn. Thác được vây quanh bởi những ngọn núi xanh mát, hệ động thực vật nguyên sinh phong phú, đa dạng. Sau khi khám phá vẻ đẹp của thiên nhiên, du khách có thể nghỉ ngơi tại nhà sàn, thưởng thức các món ăn dân giã đặc sắc của đồng bào các dân tộc Thanh Sơn.

    Suối khoáng nóng Thanh Thủy

    Khu du lịch nước khoáng nóng Thanh Thủy nằm trên địa phận các xã La Phù và Bảo Yên huyện Thanh Thủy, cách thành phố Việt Trì hơn 40km, giáp với Hà Nội, nằm bên tả sông Đà, đối diện với núi Ba Vì. Khu du lịch nước khoáng nóng Thanh Thủy là khu vực đắc địa sở hữu nguồn nước khoáng nóng cùng với các cảnh quan đẹp được coi là những tài nguyên vô giá của tự nhiên ban tặng cho Thanh Thủy để phát triển du lịch nghỉ dưỡng. Qua tài liệu nghiên cứu khoa học cho thấy, nước khoáng Thanh Thuỷ có nhiệt độ dao động trong khoảng từ 37ºC – 54ºC thuộc loại nước khoáng ấm – nóng. Trong nước khoáng có nhiều chất vi lượng như: Natri, Canxi, Magie, đặc biệt có hàm lượng chất Radon vừa phải để tạo nên một loại nước quý hiếm rất thích hợp cho việc tắm ngâm, phục hồi sức khoẻ và chữa bệnh.

    Sau khi ngăn đập, hồ Thượng Long hay còn gọi (hồ Ly) trở thành một trong 10 hồ có trữ lượng nước lớn nhất tỉnh, hồ có khả năng tưới cho trên 500ha lúa và cung cấp nước sinh hoạt cho hàng ngàn người dân ở xã Thượng Long, Nga Hoàng, Hưng Long, Phúc Khánh, Đồng Thịnh và thị trấn Yên Lập. Đập ngăn nước đã tạo nên một hồ nước xanh như viên ngọc giữa núi rừng.

    Hồ Ly được tạo từ hai khe nước là khe Ly và khe Chanh. Người dân địa phương đã lấy tên khe Ly đặt tên gọi cho hồ. Hồ Ly có vẻ đẹp non nước hữu tình mà thiên nhiên ưu đãi ban tặng cho nơi đây với cảnh đẹp yên bình thu hút nhiều bạn trẻ đến tham quan, chụp hình và trải nghiệm thú vị khi khám phá văn hóa dệt thổ cẩm, thưởng thức những đặc sản của bà con dân tộc người Dao, Mường tại địa phương.

    Tìm trên Google:

    • các địa điểm du lịch ở Phú Thọ
    • chơi gì khi đến Phú Thọ
    • phượt Phú Thọ có gì
    • cảnh đẹp Phú Thọ
    • danh lam thắng cảnh Phú Thọ
    • địa điểm du lịch tâm linh Phú Thọ
    • đến Phú Thọ nên đi đâu
    • địa điểm chụp ảnh đẹp ở Phú Thọ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khu Du Lịch Malaysia Những Khám Phá Mới
  • Những Khu Du Lịch Ở Malaysia Có Gì Đặc Sắc
  • Các Địa Điểm Du Lịch Ở Lâm Đồng (Cập Nhật 11/2020)
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Kon Tum Tự Túc 2022 : Đi Đâu, Chơi Gì Và Ăn Gì?
  • Các Địa Điểm Du Lịch Ở Khánh Hòa (Cập Nhật 11/2020)
  • Các Địa Điểm Du Lịch Ở Phú Thọ (Cập Nhật 01/2021)

    --- Bài mới hơn ---

  • Bản Đồ Tỉnh Phú Thọ Về Du Lịch Và Quy Hoạch
  • Bản Đồ Du Lịch Phú Yên
  • Bản Đồ Du Lịch Phú Yên【Update 2022】
  • Bản Đồ Du Lịch Phú Yên: Đầy Đủ, Chi Tiết Nhất (Cập Nhật 2022)
  • Lịch Trình Đi Phượt Hà Giang (Cập Nhật 01/2021)
  • Các địa điểm du lịch ở Phú Thọ

    Cùng Phượt – Phú Thọ được biết đến là cái nôi của nền văn hóa Lạc Việt, trung tâm sinh tụ của người Việt Cổ, thời các Vua Hùng dựng nước Văn Lang – nhà nước đầu tiên của dân tộc Việt Nam. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, nơi đây vẫn giữ được dấu ấn của những buổi đầu bình minh dựng nước của dân tộc. Với hệ thống các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể phong phú: 1.372 di tích lịch sử văn hóa (trong đó Khu di tích lịch sử Đền Hùng là Di tích quốc gia đặc biệt), cùng với “Hát Xoan Phú Thọ”, “Ca Trù”, “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ” đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Đến với các địa điểm du lịch ở Phú Thọ để được trải nghiệm nét văn hóa độc đáo với nhiều di chỉ khảo cổ, di tích lịch sử, lễ hội dân gian, các loại hình nghệ thuật đặc sắc gắn liền thời đại các Vua Hùng, cội nguồn dân tộc Việt Nam.

    Đền Hùng là tên gọi khái quát của Khu di tích lịch sử Đền Hùng – quần thể đền chùa thờ phụng các Vua Hùng và tôn thất của nhà vua trên núi Nghĩa Lĩnh, gắn với Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng được tổ chức tại địa điểm đó hàng năm vào ngày 10 tháng 3 âm lịch. Hiện nay, theo các tài liệu khoa học đã công bố đa số đều thống nhất nền móng kiến trúc đền Hùng bắt đầu được xây dựng từ thời vua Đinh Tiên Hoàng trị vì. Đến thời Hậu Lê (thế kỷ 15) được xây dựng hoàn chỉnh theo quy mô như hiện tại.

    Đền Quốc Tổ Lạc Long Quân

    Đền Quốc tổ Lạc Long Quân được xây dựng tại đồi Sim, cách núi Nghĩa Lĩnh khoảng 1 km, nơi có vị trí đắc địa, có thế “sơn chầu thuỷ tụ”. Đồi Sim có hình thế giống một con rùa lớn, hai bên có Thanh Long, Bạch Hổ, phía trước là hồ Hóc Trai và sông Hồng chảy xuôi về biển. Ngôi đền tọa lạc trên lưng rùa biểu hiện sự linh thiêng huyền diệu.

    Đền chính có diện tích 210m2, kiến trúc kiểu chữ đinh truyền thống, nội thất bằng gỗ lim, sơn son thếp vàng, mái lợp ngói mũi hài, nền lát gạch Bát Tràng, bó vỉa đá xanh. Hậu cung đặt tượng thờ Đức Quốc Tổ Lạc Long Quân dáng vẻ uy nghiêm. Tượng được đúc bằng đồng, nặng 1,5 tấn, cao 1,98m ở tư thế ngồi trên ngai, đặt trên bệ đá chạm khắc hoa văn theo mô típ văn hóa Đông Sơn. Hai bên là tượng Lạc hầu và Lạc tướng ở tư thế đứng có chiều cao 1,80m, mỗi pho nặng 0,5 tấn.

    Cổng đền (nghi môn) cũng được xây dựng theo kiểu truyền thống, gồm có 4 cột, cổng chính rộng 4,2m, cổng phụ rộng khoảng 2m. Cổng được xây dựng bằng bê tông cốt thép, phía ngoài ốp đá xanh chạm họa tiết hoa văn 4 mặt. Phía trước nghi môn là cổng biểu tượng cũng có kết cấu cột bê tông cốt thép ốp đá và chạm khắc. Hai bên sân đền là nhà tả vu, hữu vu xây dựng 5 gian, khung gỗ lim, lợp ngói mũi hài. Hai trụ biểu đối xứng nhau cũng bằng bê tông cốt thép, phía ngoài ốp đá xanh. Đền thờ Quốc Tổ Lạc Long Quân được Nhà nước đầu tư xây dựng đồng bộ các hạng mục công trình kiến trúc, các họa tiết trang trí được mô phỏng theo hoa văn trên trống đồng Đông Sơn được cách điệu như: Hình ảnh người giã gạo, hình ảnh chim lạc… thể hiện sinh động, độc đáo mang nét kiến trúc đặc trưng riêng của ngôi đền tôn thêm sự uy nghiêm, linh thiêng.

    Nằm trên đường Trần Phú, bên bờ hồ công viên Văn Lang – trung tâm của thành phố Việt Trì – Bảo tàng Hùng Vương được ví như một “cuốn sử bằng hiện vật” thu hút đông đảo du khách thập phương đến tham quan, tìm hiểu và khám phá các giá trị độc đáo, riêng có về lịch sử, văn hóa của vùng đất Tổ cội nguồn.

    Khu du lịch Bạch Hạc – Bến Gót

    Phường Bạch Hạc, phường Bến Gót nằm ở phía Nam thành phố Việt Trì, cửa ngõ nối liền giữa Phú Thọ và các tỉnh miền núi phía Tây Bắc với thủ đô Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ.

    Bến Gót ngày nay thuộc phủ Tam Đới xưa, còn tồn tại rất nhiều di tích lịch sử văn hoá, các truyền thuyết, chuyện kể về quá trình dựng nước và giữ nước của ông cha ta như: “Hoa Long Thiền Tự” xưa ở bến sông Thông, cạnh chùa có một tảng đá ven sông, trên mặt còn hằn vết gót chân. Tương truyền, đây là nơi Lạc Long Quân lập đàn tế trời và đã được tiên ông từ trên trời xuống, ngồi trên tảng đá này, đặt tên, phân định anh em cho một trăm người con do Âu Cơ sinh ra, sau nơi đây buôn bán kinh doanh sầm uất, trên bến dưới thuyền mới có tên là Bến Gót, Đình Bạch Hạc còn có tên là đình thôn Việt Trì là nơi thờ các vua Hùng, Đền Lang Đài là nơi hai chàng Sơn Tinh và Thuỷ Tinh đấu võ, Miếu Hà Thần là nơi thờ thần Sông đã có công giúp vua Trần Minh Tông đánh Man Đà Giang dẹp yên bờ cõi, Đền Bạch Hạc là nơi thờ thổ lệnh có tên huý là Trần Lan và em là Thạch Khanh tên huý là Trần Bảo có phép thuật thần y, chữa được bách bệnh cho nhân dân, sau hoá thần ở Tam Thanh Quán bên bờ sông Bạch Hạc, được phong làm thần thiêng ở ngã ba sông Hạc….. Ngoài ra trên mảnh đất này còn tồn tại rất nhiều sự tích ly kỳ, nhiều lễ hội truyền thống đặc sắc như: Hội bơi chải, Hội giã bánh dầy,… nói lên sự hình thành tên làng, tên xóm, tên sông, những nét sinh hoạt văn hoá truyền thống của của nhân dân ta gắn liền với nền văn minh sông Hồng và nền văn minh lúa nước.

    Với diện tích 100 ha, khu Du lịch Bến Gót được chia thành 2 phần ở bờ Bắc và bờ Nam sông Lô, trong đó phần lãnh thổ phía Bắc (thuộc phường Bến Gót) là chủ yếu. Khu du lịch có đặc trưng điển hình của vùng trung du Bắc Bộ, với địa hình nhấp nhô, phần đất phía Bắc có vị thế như một bán đảo quay về hướng Đông Nam, tạo nên hình ảnh về bến nước, dòng sông. Đặc biệt là sự gắn kết hài hoà giữa đồi núi, cây cối, sông nước tạo nên phong cảnh sơn thuỷ hữu tình, thích hợp để xây dựng khu du lịch nghỉ ngơi, thư giãn, vọng cảnh. Khu du lịch Bến Gót bao gồm những thành phần chủ yếu như: vui chơi giải trí, thể thao, nhà vườn, cắm trại, khách sạn, nhà nghỉ, câu cá, trại sáng tác, lầu bình thơ,… được tổ chức tạo thành trục chủ đạo đi từ cổng chính đến khu lầu tưởng niệm và vọng cảnh phía bờ sông, kết thúc là Lầu Bạch Hạc.

    Lầu Bạch Hạc được xây dựng theo hướng vươn cao vừa tượng trưng cho đàn tế trời vừa là nơi du khách có thể ngắm cảnh xa xa, dưới tầng lầu có bia tưởng niệm 100 người con của Lạc Long Quân – Âu Cơ, giúp cho du khách hiểu rõ hơn nguồn gốc của đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Bên cạnh Lầu Bạch Hạc được tái dựng tảng đá lưu vết chân và hình dáng tiên ông phân định ngôi thứ, mở đầu cho sự hưng thịnh, đoàn kết, thương yêu, đùm bọc của đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Phần đất phía Nam chủ yếu dành cho các di tích lịch sử và thể thao nước truyền thống, một phần dành cho các nhà nghỉ nhỏ dưới dạng vườn nông thôn, vườn sinh thái…

    Nằm trong địa phận của kinh đô Văn Lang xưa, đền Thiên Cổ uy nghiêm ngự trên một quả đồi nhỏ thuộc thôn Hương Lan, xã Trưng Vương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Đây là ngôi đền thờ vợ chồng thầy giáo Vũ Thê Lang, người thầy giáo đầu tiên của dân tộc đã có công dạy dỗ hai công chúa Tiên Dung – Ngọc Hoa con vua Hùng Vương thứ 18.

    Tương truyền, thầy giáo Vũ Thê Lang quê ở Mộ Trạch, Hải Dương cùng vợ là bà Nguyễn Thị Thục, quê ở Đông Ngàn, Kinh Bắc lên kinh đô Văn Lang dạy học từ thời Hùng Vương thứ 18. Hai người tạ thế cùng một giờ, một ngày mồng 2 tháng 2 năm Quý Dậu (năm 228 trước Công nguyên). Đến nay phần mộ của hai vợ chồng thầy cô vẫn còn được nhân dân giữ gìn và bảo vệ cẩn thận ở trong ngôi đền. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, ngôi đền vẫn được người dân thôn Hương Lan, xã Trưng Vương hết lòng bảo vệ.

    Đền Tam Giang – Chùa Đại Bi

    Khu di tích lịch sử văn hóa Quốc gia đền Tam Giang, chùa Đại Bi thuộc phường Bạch Hạc, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Ngôi đền nằm bên tả ngạn nơi hợp lưu của ba dòng sông: sông Hồng, sông Lô, sông Đà mà xưa nay nhân dân vẫn quen gọi là ngã ba Hạc. Đây là một thắng cảnh đẹp của vùng đất Tổ, thu hút đông đảo du khách đến tham quan và lễ bái.

    Khu di tích lịch sử văn hóa Quốc gia đền Tam Giang, chùa Đại Bi là cụm di tích hoàn chỉnh, thống nhất, gồm có: đền Tam Giang, đền Mẫu, chùa Đại Bi, vết chân Thổ lệnh Cao quan Bạch Hạc Đại Vương, bến bơi chải, tượng đài Chiêu Văn Vương Tả Thánh Thái Sư Trần Nhật Duật và bức phù điêu 18 ngôi chùa tiêu biểu của Phật Giáo Việt Nam.

    Đền Tam Giang thờ nhân vật lịch sử huyền thoại thời Hùng Vương dựng nước là thần Thổ Lệnh, ông là thần làng – thần sông Bạch Hạc đã có công chu du thiên hạ tìm phương thuốc quý chữa trị tật bệnh cho muôn dân, khi mất lại linh ứng giúp cho các tướng lĩnh đánh giặc ngoại xâm giữ nước. Chùa Đại Bi, ngôi chùa cổ do Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật và cháu gái là công chúa Thiên Thụy xây dựng từ đời Trần (năm 1328) đã có gần 700 năm tuổi.

    Hùng Lô xưa là vùng đất trù phú, có lịch sử phát triển lâu đời. Đình Hùng Lô là quần thể di tích có giá trị văn hóa, lịch sử nổi bật trên vùng Đất Tổ, niên đại khoảng hơn 300 năm. Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình vẫn bảo tồn được nguyên vẹn giá trị kiến trúc, văn hóa, lịch sử: Ngôi miếu cổ, tòa Đại đình, Long đình, nhà Tiền tế, lầu chuông, lầu trống, nhà thờ Phật, bệ thờ thần nông, nhà Văn chỉ và nhà Yến lão.

    Đình Hùng Lô, thuộc làng cổ Hùng Lô, nằm dọc ven sông Lô, cách Đền Hùng chừng 10km về phía Đông. Đình Hùng Lô được công nhận di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1990. Tương truyền, đây là vùng đất thiêng, nơi Vua Hùng từng nghỉ chân trong một lần đi du ngoạn. Về sau, dân lập miếu thờ, đến đời Lê Hy Tông (1697), đình được xây dựng, hướng về núi Nghĩa Lĩnh…

    Một điểm đặc sắc đáng lưu ý nữa, đình Hùng Lô rất nổi tiếng về truyền thống trong lễ hội rước kiệu Đền Hùng từ xưa đến nay. Năm Mậu Ngọ (1918), đình Hùng Lô đã được thưởng “Kỷ niệm Hùng Vương đệ nhất hội”; hiện nay, biển thưởng này vẫn được trang trọng lưu giữ trong đình. Vào dịp lễ hội Đền Hùng hằng năm, đến đình Hùng Lô, du khách sẽ được hòa mình trong lễ rước kiệu quy mô rất hoành tráng của trên 200 nam trung, đi đến đâu náo động cả một vùng đến đó. Cuộc rước sẽ đi từ đình làng đến Đền Hùng; trở về từ Đền Hùng, các lễ tế tại đình làng mới được tiến hành, sau cùng là thụ lễ tại nhà Yến lão.

    Đền Tiên Cát và Chùa Cát Tường nằm bên bờ sông Hồng thuộc khu phố Anh Dũng, phường Tiên Cát, thành phố Việt Trì. Đền Tiên thờ Mẫu Thần Long Hồng Đăng Ngạn- Hoàng Hậu nước Xích Quỷ, vợ vua Kinh Dương Vương, mẹ đẻ của Vua Lạc Long Quân. Người đã sát cánh cùng chồng trong buổi đầu dựng nước, trong việc dạy dỗ nhân dân và người đã được vua Kinh Dương Vương phong làm “Vi Cung Chính Khổn” thưởng cho cung Tiên Cát. Khi người mất nơi đây được chuyển thành Tiên Cát lăng được nhân dân trông nom gìn giữ suốt mấy nghìn năm.

    Quần thể Lộc Vừng ở Cẩm Khê

    Quần thể lộc vừng được công nhận là cây di sản nằm tại Gò Thờ, xã Chương Xá, huyện Cẩm Khê. Từ xa, quần thể lộc vừng như một chậu cây cảnh khổng lồ hay một khu rừng rậm rạp. Quần thể lộc vừng này có hơn 80 cây, nằm trên một quả gò chỉ rộng chừng 500 m2, trên đầm Láng Chương, hay còn gọi là gò Vình. Rất ít tài liệu ghi chép chính xác số tuổi của quần thể lộc vừng này, nhưng nhiều người ước tính nó đã hơn 1.000 năm tuổi.

    Nằm trên khu vực của thị trấn ấm Thượng, xã Yên Sơn. Đầm Ao Châu có diện tích mặt nước trên 300 ha nổi lên giữa một vùng đồi trung du, tạo nên 99 ngách ăn sâu vào một vùng đồi gò rộng lớn với diện tích trên 1000ha. Nước trong đầm luôn trong xanh và sạch, độ sâu của nước trung bình từ 8 đến 10m, chỗ sâu nhất là 15m. Những quả đồi đất nổi lên giữa đầm nước mênh mông được trồng các loại cây bản địa như chè, cọ đặc biệt là các đồi vải chín đỏ vải vào mùa hè hàng năm tạo nên bức tranh sơn thủy tuyệt đẹp. Vùng núi và đồi ven hồ là những rừng cây xanh tốt tạo nên một cảnh quan rất thơ mộng.

    Đầm Ao Châu đã được quy hoạch để xây dựng thành một khu du lịch sinh thái với hệ thống các khách sạn sang trọng, các khu nghỉ dưỡng với các trò vui chơi giải trí như bơi thuyền, đua thuyền trên mặt đầm.

    Đền nằm giữa một cánh đồng lúa bên dòng sông Thao thuộc xã Hiền Lương, huyện Hạ Hoà. Tương truyền trong số 50 người con theo mẹ Âu Cơ lên núi, người con cả dừng ở đất Phong Châu dựng kinh đô Văn Lang cai quản đất nước truyền ngôi được 18 đời, gọi là các vua Hùng. 49 người con theo mẹ tiếp tục ngược thượng nguồn sông Thao, đến vùng Hiền Lương thấy sơn thuỷ hữu tình, đất đai tươi tốt bèn hạ trại khai hoang lập ấp, dạy cho dân làng nghề trồng lúa, nuôi tằm…

    Lễ chính đền Mẫu Âu Cơ vào ngày 7-1, kéo dài trong ba ngày, sau khi tế nữ xong mới đến lễ Mẫu dâng hương sớ. Trong dịp này trước sân đền và tại đình làng có nhiều trò chơi dân gian địa phương như: cướp cờ, đánh phết, hát ghẹo, hát xoan… Đặc biệt có tục làm bánh vôi từ bột gạo nếp và nước mía là đặc sản ngon nổi tiếng của vùng Hạ Hoà.

    Ao Giời – Suối Tiên thuộc huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ; hai bên đường tới Ao Giời – Suối Tiên có hàng trăm đỉnh núi lớn, nhỏ có độ cao trung bình từ 500 – 600m so với mặt biển. Với đỉnh cao 1.200m, núi Nả cao vượt lên sừng sững, trông thật hùng vĩ như điểm tựa của miền thượng vùng trung du rộng lớn, được phủ một màu xanh dày đặc của các loài cây nhiệt đới, chen chúc nhau tầng tầng, lớp lớp với khá nhiều loài cây quí hiếm như đinh, lim, gụ, vàng tâm… Trong rừng còn có các bầy khỉ, nai, hoẵng, lợn rừng, cầy hương…

    Dưới chân các thác nước cao là những phiến đá khổng lồ, trải qua thời gian dài bị xói mòn, đã thành những chiếc ao nhỏ mà đáy ao là cả một phiến đá, làm nên vẻ đẹp riêng có ở nơi đây. Theo truyền thuyết: “xưa kia chỉ có Giếng Tiên, hàng ngày có các nàng tiên thường tới đây tắm mát, Ngọc Hoàng đã cho nước giếng dâng lên tạo thành các thác nước đổ xuống, lâu dần tạo thêm các ao. Ai được tắm ở Ao Giời – Suối Tiên trong 3 năm sẽ có làn da trắng mịn như ngọc, khuôn mặt sáng đẹp như trăng rằm, tâm hồn thư thái, sáng láng”.

    Đầm Vân Hội có diện tích trên 200 ha, độ sâu của nước từ 7 m đến 8 m, chỗ sâu nhất đạt 20 m. Đầm có hệ thống cung cấp và thoát nước mở nên luôn giữ mực nước ổn định, mùa mưa và mùa cạn nước chỉ chênh lệch nhau khoảng 1,3 m. Nước trong Đầm rất trong và sạch. Xung quanh Đầm có hệ thống núi và đồi và rừng của các xã Quân Khê (Hạ Hòa), xã Vân Hội, xã Việt Cường (Văn Chấn, Yên Bái) vây bọc tạo nên cảnh quan thơ mộng. Trên mặt Đầm có khoảng 40 đảo, đảo lớn nhất có diện tích 10 ha, còn lại là đảo nhỏ từ 0,5 đến 1 ha với các loại cây như: Cọ, chè, keo… tạo nên phong cảnh hữu tình. Đầm Vân Hội cách Đền Mẫu Âu Cơ (Hạ Hòa) 1km, cách Ao Giời – Suối Tiên 3 km. Đầm Vân Hội được quy hoạch thành khu du lịch nghỉ dưỡng – vui chơi giải trí cao cấp.

    Cách Hà Nội khoảng 120km, Vườn quốc gia Xuân Sơn rộng hơn 15.000ha, đứng thứ 12 trong số 15 vườn quốc gia lớn nhất Việt Nam. Vườn được ví là “lá phổi xanh,” là điểm du lịch hấp dẫn của Phú Thọ với độ che phủ rừng lên tới 84%, chất lượng các hệ sinh thái rừng ổn định và được bảo vệ tốt. Vườn được đánh giá là nơi có môi trường không khí, môi trường nước sạch sẽ, mát mẻ, nhiệt độ trung bình năm từ 22-23ºC.

    Đặc biệt, một ngày ở Xuân Sơn, thời tiết có nét đặc trưng của 4 mùa: buổi sáng mát mẻ của mùa Xuân, buổi trưa ấm áp của mùa Hè, buổi chiều hiu hiu như mùa Thu, buổi tối trời se lạnh đặc trưng của mùa Đông. Đây là lợi thế của vườn trong phát triển du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng.

    Tại đây hiện có 365 loài động vật, trong đó có 46 loài ghi trong Sách đỏ Việt Nam và 18 loài ghi trong Sách đỏ Thế giới. Các loài đặc trưng cho hệ động vật Tây Bắc như voọc xám, vượn chó, cầy bạc má, sóc bụng đỏ đuôi trắng, gấu, báo,… về chim có: gà lôi, gà tiền, đại bàng đất,… riêng sơn dương có nhiều nhất toàn quốc. Bên cạnh đó, vườn còn có 726 loài thực vật bậc cao trong đó có 52 loài thuộc ngành quyết và ngành hạt trần. Nằm trong khu vực giao tiếp của hai luồng thực vật Mã Lai và Hoa Nam, hệ thực vật ở Xuân Sơn có các loài re, dẻ, sồi và mộc lan chiếm ưu thế.

    Ngoài ra, ở Xuân Sơn còn có các loài tiêu biểu cho khu vực Tây Bắc như táu muối, táu lá duối, sao mặt quỷ và chò chỉ, chò vảy, nghiến, dồi, vầu đắng, kim giao (rừng chò chỉ ở Xuân Sơn là một trong những rừng chò chỉ đẹp và giàu nhất miền Bắc). Xuân Sơn còn là kho giống bản địa, kho cây thuốc khổng lồ, đặc biệt là cây rau đắng mọc tự nhiên có mật độ cao nhất miền Bắc.

    Ngoài sức hấp dẫn của hệ động thực vật phong phú, Xuân Sơn còn có nhiều cảnh quan thiên nhiên kỳ thú. Nằm trong quần thể vườn quốc gia Xuân Sơn có ba đỉnh núi cao trên 1.000m là: núi Voi, núi Ten và núi Cẩn với hàng trăm hang động; sông suối như suối Lấp, suối Thang; và nhiều thác nước có độ cao trên 50m, che phủ hang, hốc đá, hòa quyện màu thác bạc với màu xanh của rừng già làm cho phong cảnh vừa hùng vĩ vừa thơ mộng.

    Do quá trình phong hóa, thủy hóa tạo thành Xuân Sơn có 16 hang động đá với thạch nhũ đẹp, đa dạng, tạo nên muôn hình vạn trạng. Vào thăm hang động ở đây, du khách không khỏi ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của các nhũ đá rủ xuống thành muôn hình kỳ lạ. Ðộng Tiên là một hang ngầm trong lòng núi đá cẩm thạch dài 10km. Trong hang có đường thông gió lên thẳng đỉnh núi, làm cho không khí trong lành mát dịu. Hồ nước có nhiều loài cá lạ hấp dẫn.

    Bên cạnh đó, cộng đồng các dân tộc nơi đây hiện vẫn giữ được bản sắc văn hoá dân tộc của mình như trang phục, lễ hội, các hoạt động đời sống sinh hoạt hàng ngày như đan lát đồ dùng thủ công, dệt thổ cẩm, thêu, lễ cấp sắc, múa đâm đuống, múa xòe, uống rượu hoẵng, cơm lam…, những nét đẹp văn hóa đặc trưng của vùng đất các vua Hùng. Quan trọng hơn, vườn nằm trong thế chân kiềng của tổng thể cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ Tam Đảo – Ba Vì – Xuân Sơn. Trong trục tâm linh của truyền thuyết lịch sử Quốc mẫu Lăng Thị Tiêu, Sơn Tinh – Thủy tinh, vua Hùng, tạo nên một Xuân Sơn kỹ vĩ và có nhiều lợi thế trong bảo tồn, phát triển bền vững kết hợp với du lịch.

    Đây là ngôi làng cổ xưa nhất của người Dao Tiền, bản cuối cùng của Vườn Quốc gia Xuân Sơn. Do có loài gà chín cựa, một loài vật tưởng như chỉ có trong truyền thuyết Sơn Tinh Thủy Tinh mà bản Cỏi hiện nay được nhiều người biết tới. Từ một khu dân cư heo hút nằm sâu trong vùng lõi Vườn Quốc gia Xuân Sơn, nay bản Cỏi biến thành địa điểm thu hút được nhiều khách du lịch cũng như các thương lái đến thu mua loại gà này để tiêu thụ.

    Phú Thọ đã từ lâu nổi tiếng là đất trồng chè, với diện tích trồng chè trên 12 ngàn ha và sản lượng chè búp tươi vô cùng lớn. Ai đã từng qua vùng đồi trung du Phú Thọ khu vực các huyện Tân Sơn, Thanh Sơn sẽ không thể nào quên những đồi chè xanh mơn mởn, trông như những mâm xôi tầng tầng, lớp lớp ngút ngàn tạo nên cảnh quan thiên nhiên kỳ thú. Đồi chè Long Cốc ở Tân Sơn được xếp vào một trong những đồi chè đẹp nhất Việt Nam.

    Đèo Khế là ranh giới tự nhiên giữa 2 tỉnh Phú Thọ và Yên Bái. Từ Hà Nội qua địa phận xã Thu Cúc (Phú Thọ) đi thẳng tiếp là lên đến đèo Khế. Vượt qua đèo Khế sẽ sang tới địa phận của huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái. Trước đây, đèo Khế từng là “nỗi sợ hãi” đối với cánh tài xế và những người đi đường đêm. Sau khi được tu sửa lại, con đường đèo dài gần 30km không chỉ giúp giao thông thuận tiện mà còn trở thành điểm lui tới quen thuộc của dân mê phượt.

    Thác Mây thuộc xã Hương Cần, nằm cách trung tâm huyện Thanh Sơn khoảng 25km. Trên đỉnh núi Hem có một hồ nước nhỏ, nước từ đó đổ xuống sườn núi tạo thành suối Hem và nhiều tầng thác liên hoàn kế tiếp nhau, gọi là thác Mây. Thác Mây gồm 13 thác nước lớn nhỏ, trong đó thác cao nhất là thác Thượng với nhiều cột nước tung bọt trắng xoá. Những ngày trong xanh, hoà cùng màu xanh của núi rừng và màu xanh của trời là những dòng thác như giải lụa mềm giữa trời. Nhiều thác nước lớn nhỏ đã tạo nên những cung bậc âm thanh khác nhau, có thác nước đổ rào rào, có thác nước chảy róc rách giống như những bản nhạc của thiên nhiên. Tới gần thác, không khí như dịu mát hẳn, khác biệt với không khí bên ngoài, du khách có thể đắm mình trong dòng nước suối trong mát sau khi khám phá bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp.

    Thác Mơ thuộc xã Cự Thắng, cách trung tâm huyện 15km. Trước đây, thác có tên gọi khác là thác Vạn Mơ nhưng lâu dần người ta gọi thác là thác Mơ. Ngay từ tên gọi của thác đã tạo cho du khách hình dung được khung cảnh mộc mạc, mà nên thơ. Đường vào thác được bao bọc bởi màu xanh của núi rừng, các loại hoa dại hai bên đường, góp phần tạo nên vẻ đẹp hoang sơ cho khung cảnh nơi đây.

    Thác Mơ có đến 9 tầng khác nhau, từ xa, đã nghe tiếng thác nước đổ rì rào như lời hát của các sơn nữ. Men theo con suối nhỏ để đến chân thác, du khách sẽ được đắm mình trong cảnh sắc thiên nhiên còn hoang sơ của đại ngàn. Thác được vây quanh bởi những ngọn núi xanh mát, hệ động thực vật nguyên sinh phong phú, đa dạng. Sau khi khám phá vẻ đẹp của thiên nhiên, du khách có thể nghỉ ngơi tại nhà sàn, thưởng thức các món ăn dân giã đặc sắc của đồng bào các dân tộc Thanh Sơn.

    Suối khoáng nóng Thanh Thủy

    Khu du lịch nước khoáng nóng Thanh Thủy nằm trên địa phận các xã La Phù và Bảo Yên huyện Thanh Thủy, cách thành phố Việt Trì hơn 40km, giáp với Hà Nội, nằm bên tả sông Đà, đối diện với núi Ba Vì. Khu du lịch nước khoáng nóng Thanh Thủy là khu vực đắc địa sở hữu nguồn nước khoáng nóng cùng với các cảnh quan đẹp được coi là những tài nguyên vô giá của tự nhiên ban tặng cho Thanh Thủy để phát triển du lịch nghỉ dưỡng. Qua tài liệu nghiên cứu khoa học cho thấy, nước khoáng Thanh Thuỷ có nhiệt độ dao động trong khoảng từ 37ºC – 54ºC thuộc loại nước khoáng ấm – nóng. Trong nước khoáng có nhiều chất vi lượng như: Natri, Canxi, Magie, đặc biệt có hàm lượng chất Radon vừa phải để tạo nên một loại nước quý hiếm rất thích hợp cho việc tắm ngâm, phục hồi sức khoẻ và chữa bệnh.

    Sau khi ngăn đập, hồ Thượng Long hay còn gọi (hồ Ly) trở thành một trong 10 hồ có trữ lượng nước lớn nhất tỉnh, hồ có khả năng tưới cho trên 500ha lúa và cung cấp nước sinh hoạt cho hàng ngàn người dân ở xã Thượng Long, Nga Hoàng, Hưng Long, Phúc Khánh, Đồng Thịnh và thị trấn Yên Lập. Đập ngăn nước đã tạo nên một hồ nước xanh như viên ngọc giữa núi rừng.

    Hồ Ly được tạo từ hai khe nước là khe Ly và khe Chanh. Người dân địa phương đã lấy tên khe Ly đặt tên gọi cho hồ. Hồ Ly có vẻ đẹp non nước hữu tình mà thiên nhiên ưu đãi ban tặng cho nơi đây với cảnh đẹp yên bình thu hút nhiều bạn trẻ đến tham quan, chụp hình và trải nghiệm thú vị khi khám phá văn hóa dệt thổ cẩm, thưởng thức những đặc sản của bà con dân tộc người Dao, Mường tại địa phương.

    Tìm trên Google:

    • các địa điểm du lịch ở Phú Thọ
    • chơi gì khi đến Phú Thọ
    • phượt Phú Thọ có gì
    • cảnh đẹp Phú Thọ
    • danh lam thắng cảnh Phú Thọ
    • địa điểm du lịch tâm linh Phú Thọ
    • đến Phú Thọ nên đi đâu
    • địa điểm chụp ảnh đẹp ở Phú Thọ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bản Đồ Du Lịch Và Hành Chính Tỉnh Phú Thọ Online 2022
  • Trình Làng Bản Đồ Phong Nha
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Phong Nha Kẻ Bàng (Cập Nhật 01/2021)
  • Đôi Nét Giới Thiệu Về Phố Cổ Hội An
  • Bản Đồ Du Lịch Manila Và Những Điềucần Biết Cho Người Du Lịch
  • Hót Hòn Họt Những Điểm Đến Lý Tưởng Ở Thị Xã Phú Thọ

    --- Bài mới hơn ---

  • Thiền Là Gì Và Những Lợi Ích Của Thiền?
  • Du Lịch Thiện Nguyện, Các Loại Hình Của Du Lịch Thiện Nguyện!
  • Vân & Veo & Du Lịch Thiện Nguyện
  • Thiên Nhiên Đà Nẵng Có Gì Hấp Dẫn? Chuyến Du Lịch Khám Phá
  • Phát Triển Du Lịch Gần Gũi Thiên Nhiên
  • Hót hòn họt những điểm đến lý tưởng ở thị xã Phú Thọ

    Hiện tại giá thuê xe đi Phú Thọ tại Taxinoibai đang có mức giá rất tốt so với các đại lý khác. Bạn có thể sử dụng tính năng tính giá tự động để nhanh chóng xem được mức giá tốt nhất đi Phú Thọ.

    Có núi rừng yên bình, hoang sơ giống trong các bộ phim kiếm hiệp chính là điều mà bạn dễ dàng cảm nhận khi đi du lịch địa danh thị xã Phú Thọ.

    Tại sao nên đi du lịch thị xã Phú Thọ?

    Thị xã Phú Thọ nằm trong tỉnh Phú Thọ, đây là vùng đất tổ cội nguồn, nơi có bản sắc văn hóa dân tộc đã gắn liền với lịch sử từ thời Hùng Vương cho tới nay.

    Bên cạnh đó, Phú Thọ còn là tỉnh trung du miền núi, là cửa ngõ ở phía Tây Bắc thủ đô Hà Nội nên việc du lịch Phú Thọ đã và đang thu hút và hấp dẫn các khách du lịch trong nước cũng như khách quốc tế đổ về đây để có thể du lịch, tham quan và trải nghiệm cũng như khám phá được nét văn hóa, nền lịch sử lâu đời của vùng đất này.

    Các điểm du lịch tại thị xã Phú Thọ

    Xung quanh thị xã Phú Thọ có rất nhiều điểm đến du lịch lý tưởng thu hút được nhiều người tìm đến khám phá và trải nghiệm:

    Hồ nằm ở gần cuối xã, con đường đi vào hồ khá nhỏ và không có biển chỉ dẫn nên việc di chuyển tới đây khá khó. Nhưng khi đứng trước nét đẹp hùng vĩ của con hồ này, bạn sẽ cảm thấy công sức của mình bỏ ra không hề lãng phí.

    Đi thăm quan lòng hồ, bạn nên thuê chiếc thuyền máy. Người lái thuyền sẽ trở bạn đi vòng hồ cũng như giới thiệu từng ngõ ngách và từng loại thủy sản ở hồ. Điểm nhấn tạo ra sự ấn tượng cho hồ Ly là cây cầu treo làm bằng sắt. Cây cầu bắc qua, nối liền hai quả núi, đứng ở trên cầu, bạn dễ dàng ngắm nhìn được khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ của cảnh núi rừng và vẻ đẹp của mặt hồ hiền hòa, phẳng lặng.

    Đền Hùng này chính là quần thể kiến trúc độc đáo gồm có chùa, đền Hạ, đền Trung, đền Giếng, đền Thượng cùng với lăng vua Hùng. Nếu như bạn có cơ hội tới đền Hùng vào ngày Giỗ tổ Hùng Vương 10/3 âm lịch thì bạn sẽ được hòa mình trong nghi thức truyền thống hướng tới cội nguồn.

    Phương tiện di chuyển đến thị xã Phú Thọ

    Giống như các địa điểm du lịch khác, có rất nhiều phương tiện di chuyển tới thị xã Phú Thọ như bạn có thể đi bằng xe khách, đi bằng xe máy hoặc có thể lựa chọn dịch vụ cho thuê xe du lịch có người lái.

    Đối với dịch vụ cho thuê xe du lịch, bạn không chỉ chủ động được thời gian di chuyển mà còn giúp có chuyến đi an toàn, thú vị hơn, đồng thời có những khoảng không gian riêng vui tươi cùng với gia đình/bạn bè của mình.

    Lý do nên chọn dịch vụ cho thuê xe của Taxinoibai.net:

    Địa chỉ: 51 Quan Nhân, Thanh Xuân, HN

    Hotline: 1900.1888; 024.35.666.000

    • net đảm bảo an toàn cho đoạn hành trình dài với tài xế lái xe giàu kinh nghiệm, bạn hoàn toàn yên tâm trong chuyến đi của mình bởi lái xe thông thạo đường, di chuyển an toàn.
    • Có dàn xe chất lượng, đời mới, không gian nội thất sang trọng mang tới cho bạn chuyến đi khám phá thị xã Phú Thọ thoải mái.
    • Tài xế lái xe chuyên nghiệp, nhiều kinh nghiệm, thân thiện giúp bạn cảm nhận được sự thoải mái và có chuyến đi vui vẻ.
    • Có nhiều ưu đãi, chi phí thuê xe phù hợp.

    Email: [email protected]

    Thông tin liên hệ chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tx. Gò Công: Khai Thác Lợi Thế Để Phát Triển Du Lịch
  • Thị Xã Gò Công, Tỉnh Tiền Giang: Phát Triển Bền Vững Theo Cơ Cấu Kinh Tế “thương Mại
  • Đại Lý Vé Máy Bay Giá Rẻ Tại Thị Xã Gia Nghĩa
  • Thị Xã Gia Nghĩa: Phấn Đấu Trở Thành Trung Tâm Du Lịch
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Hàn Quốc Theo Mùa Siêu Hữu Ích
  • Địa Danh Du Lịch Phú Thọ

    --- Bài mới hơn ---

  • 8 Địa Danh Du Lịch Nổi Tiếng Của Phú Yên
  • Du Lịch Phú Yên, Những Địa Danh Nổi Tiếng (Phần 1)
  • Địa Danh Du Lịch Nổi Tiếng Của Phú Yên
  • Vi Vu Quảng Ninh, Khám Phá 6 Địa Danh Du Lịch Nổi Tiếng
  • Khám Phá, Trải Nghiệm Các Địa Danh Du Lịch
  • ĐỊA DANH DU LỊCH PHÚ THỌ – CÁC ĐỊA ĐIỂM DU LỊCH PHÚ THỌ

    MỎ NƯỚC KHOÁNG THANH THỦY – PHÚ THỌ

    Khu mỏ nước khoáng nóng Thanh Thuỷ thuộc địa phận xã La Phù và xã Bảo Yên, huyện Thanh Thuỷ, cách thành phố Việt Trì 30 km, cách Xuân Sơn 60 km.

    Qua nghiên cứu cho thấy, mỏ nước khoáng này được phân bố trên diện tích chừng 1 km2, có hình dạng như một quả bầu nậm, kéo dài theo hướng sông Đà. Nhiệt độ trung bình của nước khoáng nóng từ 37oC đến 43oC, tổng trữ lượng là 19.710.000 m3, lưu lượng khai thác đạt 483 m3/ngày. Trong nước khoáng nóng có nhiều hàm chất vi lượng như natri, canxi, magiê, đặc biệt có chứa nhiều hàm chất radon – một loại nước radon quý hiếm lần đầu tiên được phát hiện ở Việt Nam rất thích hợp cho việc tắm ngâm, phục hồi sức khoẻ và chữa bệnh.

    Với đặc điểm gần Hà Nội, tiếp giáp Hà Tây – mảnh đất nhiều điểm du lịch nổi tiếng cả nước, hơn nữa còn khá nhiều cảnh quan thuộc các xã xung quanh La Phù trên địa bàn huyện Thanh Thủy nên chắc chắn đây sẽ là một sự lựa chọn mới cho du khách khi đến với Phú Thọ!

    LÀNG NGHỀ PHÚ THỌ

    Làng Nghề Phú thọ: Phú Thọ là một vùng đất cổ, nơi phát tích của dân tộc Việt Nam . Kế thừa những truyền thống tốt đẹp, người Phú Thọ qua bao đời còn lưu giữ nhiều tính cách đặc trưng của con người Việt Nam . Không chỉ giàu sáng tạo trong lao động, giàu khí phách trong đấu tranh, giàu nhân ái trong cuộc sống, con người nơi đây còn có óc thẩm mỹ và bàn tay tài hoa của người nghệ sỹ. Sản phẩm làng nghề Phú Thọ là một trong những bằng chứng cho nhận định đó. Mặc dù không phải là đất nghề nhưng nghề thủ công ở Phú Thọ lại tồn tại và phát triển khá bền vững theo thời gian. Và đến nay, các sản phẩm đó chưa hẳn đã đem lại giá trị kinh tế cao nhưng mỗi sản phẩm lại gửi gắm trong đó tâm hồn, tính cách của những người con Đất Tổ.

    Đa dạng các làng nghề ở Phú Thọ

    Trong những năm gần đây sự kết hợp giữa công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại để làm cho các sản phẩm của làng nghề ngày càng tinh xảo, hiện đại hơn, năng suất lao động cũng được nâng cao.

    Tính đến hết năm 2010, số làng nghề trên địa bàn được UBND tỉnh công nhận là (làng nghề chè Đá Hen – Cẩm Khê; Dốc Đen – Thanh Ba; làng nghề chè Khuân – Thanh Sơn; làng nghề chè Phú Thịnh, Chu Hưng, Phú ích, Lê Lợi – Hạ Hoà, làng nghề chè Chùa Tà – Phù Ninh; làng nghề chè Vân Hùng – Đoan Hùng); sản xuất nón (làng nghề Sơn Nga, Sai Nga – Cẩm Khê; Gia Thanh – Phù Ninh). Những năm gần đây có các làng nghề mới như làng nghề trồng hoa (làng Thượng – Phù Ninh), làng nghề chăn nuôi và chế biến rắn (x* Tứ X* – 37 làng nghề với đa dạng các loại ngành nghề khác nhau nhưng tập trung chủ yếu là các nhóm nghề như: Nghề mộc (Làng nghề Dư Ba – Cẩm Khê; Minh Đức – Tam Nông…); nghề đan lát mây tre ( Làng nghề Ngô Xá, Tùng Khê – Cẩm Khê; Minh Hoà – Hạ Hoà …); chế biến chè Lâm Thao), làng nghề sản xuất cá chép đỏ (Thuỷ Trầm – Cẩm Khê). Việc phát triển các làng nghề với những ngành nghề mới cho thấy các làng nghề để quan tâm đến nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng. Các làng nghề với những ngành nghề mới nhưng phát triển rất mạnh và bền vững, có tác dụng rõ rệt đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu nông thôn, góp phần tăng tỷ trọng công nghiệp, thương mại, giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp. Qua đó cho thấy các làng nghề trên địa bàn tỉnh đang dần phát triển trở lại và đem lại hiệu quả kinh tế. Các lĩnh vực ngành nghề đa dạng để tác động tích cực tới đời sống nhân dân ở các vùng nông thôn. Chất lượng hoạt động của các làng nghề được nâng lên, có tính phát triển ổn định và bền vững. Sự lan toả của các làng nghề để thu hút được nhiều lao động và kéo theo sự phát triển của nhiều ngành nghề khác nhau.

    KHU DU LICH BẾN GIÓT – PHÚ THỌ

    Khu du lịch Bến Giót nằm tại Ngã ba Hạc thuộc hai phường Bạch Hạc và Bến Gót, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

    Khu du lịch có diện tích khoảng 100ha, được chia thành 2 phần ở bờ Bắc và bờ Nam sông Lô, phần phía Bắc thuộc phường Bến Gót đây là phần chủ yếu, còn phần phía Nam thuộc phường Bạch Hạc.

    Tương truyền, đây là nơi Lạc Long Quân lập đàn tế trời và đã được tiên ông từ trên trời xuống, ngồi trên tảng đá này, đặt tên, phân định anh em cho một trăm người con do Âu Cơ sinh ra, sau nơi đây buôn bán kinh doanh sầm uất, trên bến dưới thuyền mới có tên là Bến Gót, Đình Bạch Hạc còn có tên là đình thôn Việt Trì là nơi thờ các vua Hùng, Đền Lang Đài là nơi hai chàng Sơn Tinh và Thuỷ Tinh đấu võ, Miếu Hà Thần là nơi thờ thần Sông đã có công giúp vua Trần Minh Tông đánh Man Đà Giang dẹp yên bờ cõi, Đền Bạch Hạc là nơi thờ thổ lệnh có tên huý là Trần Lan và em là Thạch Khanh tên huý là Trần Bảo có phép thuật thần y, chữa được bách bệnh cho nhân dân, sau hoá thần ở Tam Thanh Quán bên bờ sông Bạch Hạc, được phong làm thần thiêng ở ngã ba sông Hạc….

    Ngoài ra trên mảnh đất này còn tồn tại rất nhiều sự tích ly kỳ, nhiều lễ hội truyền thống đặc sắc như: Hội bơi chải, Hội giã bánh dầy,… nói lên sự hình thành tên làng, tên xóm, tên sông, những nét sinh hoạt văn hoá truyền thống của của nhân dân ta gắn liền với nền văn minh sông Hồng và nền văn minh lúa nước.

    Khu du lịch Bến Gót có đặc trưng điển hình của vùng trung du Bắc Bộ, với địa hình nhấp nhô, phần đất phía Bắc có vị thế như một bán đảo quay về hướng Đông Nam, tạo nên hình ảnh về bến nước, dòng sông. Đặc biệt là sự gắn kết hài hoà giữa đồi núi, cây cối, sông nước tạo nên phong cảnh sơn thuỷ hữu tình, thích hợp để xây dựng khu du lịch nghỉ ngơi, thư giãn, vọng cảnh.

    Khu du lịch bao gồm các khu vui chơi giải trí, thể thao, nhà vườn, cắm trại, khách sạn, nhà nghỉ, câu cá, trại sáng tác, lầu bình thơ,… được tổ chức tạo thành trục chủ đạo đi từ cổng chính đến khu lầu tưởng niệm và vọng cảnh phía bờ sông, kết thúc là Lầu Bạch Hạc. Lầu Bạch Hạc được xây dựng theo hướng vươn cao vừa tượng trưng cho đàn tế trời vừa là nơi du khách có thể ngắm cảnh xa xa, dưới tầng lầu có bia tưởng niệm 100 người con của Lạc Long Quân – Âu Cơ, giúp cho du khách hiểu rõ hơn nguồn gốc của đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Bên cạnh Lầu Bạch Hạc được tái dựng tảng đá lưu vết chân và hình dáng tiên ông phân định ngôi thứ, mở đầu cho sự hưng thịnh, đoàn kết, thương yêu, đùm bọc của đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Phần đất phía Nam chủ yếu dành cho các di tích lịch sử và thể thao nước truyền thống, một phần dành cho các nhà nghỉ nhỏ dưới dạng vườn nông thôn, vườn sinh thái,…

    BẢO TÀNG HÙNG VƯƠNG – PHÚ THỌ

    Bảo Tàng Hùng Vương Phú Thọ: Nhà bảo tàng Hùng Vương hai tầng, cao trên ba chục mét, hình vuông. Nhìn từ xa nhà bảo tàng giống như một khối hộp lập phương, cao vút nằm trên đỉnh một quả đồi ngay sát đền chính. Bảo tàng Hùng Vương là một ngôi nhà có hình thức đậm chắc mà trang nhã, bề thế mà lại rất thanh thoát, bắt đầu được khai móng năm 1986, với tổng số vốn đầu tư trển tỷ đồng, các nhà xây dựng đã cấu thành một ngôi nhà hoàn hảo hiện đại mà dân tộc. Hiện đại ở sự bề thế của quy mô xây dựng, tường ốp đá xẻ bao quanh với diện tích mặt bằng gần 1.000m2. Còn dân tộc vì đây là một chiếc nhà sàn, bốn bề có cột chống trụ. Đứng từ đỉnh núi Hùng nhìn xuống, nhà bảo tàng Hùng Vương như một chiếc bánh chưng vuông khổng lồ. Sự khổng lồ ấy được các nhà thiết kế giải thích dó là biểu hiện tượng trưng của quả đất theo quan niệm người xưa: Đất vuông trời tròn. Ở giữa nhà Bảo Tàng là một vùng trần thủng có khoảng trời nghiêng xuống lồng trong một khuôn trăng đầy đặn. Tổng thể sự hiện diện trời tròn đất vuông ấy là ý tưởng của người kiến trúc sư muốn khắc hoạ lại huyền thoại lịch sử: sự tích bánh dày, bánh chưng, mà ở đây, huyền thoại ấy chắc rằng mỗi người chúng ta nếu không thuộc lòng thí chí ít cũng đã một lần được nghe bà kể chuyện về hoàng tử Lang Liêu làm bánh dày, bánh chưng dâng tiến vua cha.

    Câu chuyện cổ tích ấy đã phần nào nói lên được quan niệm vũ trụ của con người Việt Nam cổ đại, đồng thời còn nói lên được quan niệm vuông tròn trong tiềm thức, trong ước lệ, đó còn là triết lý nhân văn, triết lý toàn vẹn của con người Việt Nam. Sức người bằng sức lao động sáng tạo, lộc trời bằng hạt gạo, hoa đất bằng hương vị cây lá thiên nhiên đã cấu thành sản phẩm vật chất duy trì sự sinh tồn của đất nước qua nhiều thế hệ.

    Ý đồ nổi bật trong trưng bày bảo tàng Hùng Vương về nội dung và giải pháp kỹ thuật, mỹ thuật là việc giải quyết đề tài trưng bày mối quan hệ hữu cơ giữa văn hoá Hùng Vương, văn minh sông Hồng với lịch sử phát triển dân tộc Việt Nam.

    Mục đích của ý đồ trưng bày nhằm làm rõ tầm quan trọng của khu di tích lịch sử Đền Hùng, Bộ Văn Lang và địa thế dựng nước của các Vua Hùng.

    Trưng bày bảo tàng Hùng Vương đã cố gắng đảm bảo sự tuân thủ những nguyên tắc của phương pháp luận sử học Mác Xít và nguyên tắc bảo tàng học, trên đài trưng bày có 5 trọng tâm- 5 mốc lịch sử quan trọng trong quá trình hình thành con người Việt Nam, 5 trọng tâm ấy được nhân dân ở 5 vị trí trang trọng:

    – Đất nước, con người một thời nguyên thuỷ

    – Bắt đầu dựng nước.

    – Sự nghiệp xây dựng nước Văn Lang của các Vua Hùng

    – Khu di tích Đền Hùng và việc thờ cúng Vua Hùng trên thềm đất cổ Phong Châu

    – Tình cảm của nhân dân, sự quan tâm của các chế độ trước đến Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo Đảng ngày nay với Đền Hùng.

    Dọc theo 5 trọng tâm có 5 điểm phim tài liệu, khoa học phù trợ với nội dung lịch sử: Giỗ Tổ Hùng Vương, Vua Hùng dạy nhân dân cấy lúa, lễ hội Làng He, trò Trám và sự tích rước lúa thần, hát xoan và sự tích làm bánh chưng bánh dày, Vua Hùng đi săn.

    Trưng bày Bảo Tàng Hùng Vương hướng tới chiều sâu. Tìm về cuội nguồn. Mục đích của giải pháp này nhằm làm rõ giai đoạn văn hoá Hùng Vương và thời đại Hùng Vương dựng nước.

    Phòng 1: giới thiệu chung nội dung trọng tâm thứ nhất:

    Đất nước, con người một thời nguyên thuỷ. Với số lượng hiện vật gồm 1 sa bàn, 1 hộp hình, 2 bức tranh sơn mãi cỡ lớn, 18 mẫu động thực vật, 12 mẫu khoáng sản, 20 công cụ đá Sơn Vi và một số ảnh chụp cùng những hiện vật khác đã khái lược hình thế thiên nhiên và sức sống buổi bình minh lịch sử của con người Việt Nam. Một vùng đất hợp lưu nơi ngã ba sông Hồng, Đà, Lô giàu đẹp và thuận lợi từ hàng vạn năm xa xưa đã trở thành môi trường tụ cư sinh sống cho các loại động, thực vật và cho con người. Lớp trầm tích tìm được và hộp hình cùng những ảnh chụp hang Ngựa (Thu Cúc- Thanh Sơn) là di chỉ xa xưa đầu tiên có dấu vết cư trú của con người cách nay trên 4 vạn năm. Dấu vết hoá thạch của các xương lợn rừng, hươu nai là dấu vết minh chứng cho sự vận động của con người chinh phục thiên nhiên để duy trì sự sinh tồn ở thời kỳ xa xưa ấy.

    Trong tiến trình phát triển lịch sử xã hội, con người Việt Nam thời thượng cổ đã trải qua 5 giai đoạn văn hoá: Sơn Vi, Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn, 5 giai đoạn phát triển văn hoá là 5 bước tiến dài vạn dặm trong lịch sử phát triển của dân tộc. Hơn 100 địa điểm văn hoá Sơn Vi có độ tuổi từ 1 vạn rưỡi đến 2 vạn năm với những công cụ cuộc ghè đập là chứng tích sinh tồn của người nguyên thuỷ trên đất Vĩnh Phú- Văn Lang, đất bản bộ của các Vua Hùng.

    Phòng 2: Bắt đầu thời dựng nước

    Bằng những hiện vật gốc có chọn lựa phong phú từ ba nền văn hoá: Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun… có nhiều tài liệu khoa học phụ mô tả từng mảng cuộc sống sinh hoạt của con người vận động hợp quy luật biến thiên của lịch sử. Công cụ đá mài từ giản đơn đến phức tạp, từ thô ráp đến tinh xảo: rìu có vai, rìu mài tứ diện, cuốc đá, chày nghiền, đồ trang sức (vòng tay đá, khuyên đá…) vô cùng phong phú bên cạnh những sưu tập gốm đa dạng: nồi, vò, bình gốm, bát gốm, dọc xe chỉ, chài lưới… được trưng bày nhằm giới thiệu cho người xem thấy được nghề sống chính của cư dân nguyên thuỷ nước ta là làm nông nghiệp, trồng lúa nước, săn bắt và hái lượm. Qua từng bước biến thiên của lịch sử, con người từ chỗ sống bằng săn bắt, hái lượm đã biết đấu tranh cải tạo thiên nhiên, chinh phục thiên nhiên, bắt thiên nhiên phục vụ cuộc sống con người. Nền kinh tế nông nghiệp một ngày phát triển. Cuộc sống con người dần no đủ, có tích luỹ của cải, có sự phân chia người nghèo, kẻ giàu có sự hình thành giai cấp. Những Nha chương bằng đá tìm được ở Gia Thanh, Thanh Đình(Phong Châu) là vật chứng điển hình chứng minh cho sự hình thành các tộc người, sự tập trung uy quyền vào người đứng đầu bộ tộc. Khi công cụ bằng đồng xuất hiện, những mùi cày đồng (Vạn Thắng), lưỡi liền đồng (Gò De), lưỡi rìu đồng (Làng Cả) được ra đời và ngày càng đa dạng, phong phú. Đó là dấu tích chứng minh cho sự phát triển của nền kinh tế nông nghiệp buổi ban đầu.

    Những mũi lao, mũi tên đồng, lưỡi câu đồng là vật chứng không chỉ chứng minh cho sự phát triển trí tuệ và khả năng chinh phục thiên nhiên phục vụ cuộc sống con người. Đó còn là dấu hiệu khả năng tự vệ của con người trong sự đấu tranh giai cấp, đấu tranh sinh tồn giữa các tộc người trong xã hội có sự phân chia đẳng cấp.

    Dấu tích sự ra đời của hạt lúa đã đánh dấu bước tiến dài trong lịch sử kinh tế nông nghiệp. Đó là hiện vật gốc chứng minh cho thành tựu lớn lao của con người chinh phục tự nhiên, bắt tự nhiên phục vụ cuộc sống con người.

    Phòng 3: Sự nghiệp dựng nước Văn Lang của các Vua Hùng

    Bên cạnh trống đồng Đền Hùng là trống đồng Tân Long. Đây là một trong những chiếc trống có đường kính lớn nhất so với toàn bộ trống đồng tìm thấy ở Việt Nam (trống đồng có đường kính mặt 108 cm).

    Bộ hiện vật điển hình thứ 2 là sưu tập vũ khí bằng đồng, lưỡi cày đồng, thuổng đồng, rìu đồng, dao găm đồng, mũi tên đồng, lao đồng…đa dạng và phong phú. Đó là dấu hiệu phản ánh giai đoạn văn hoá Đông Sơn phát triển rực rỡ, có sự phân diện rộng rãi từ biên giới phía bắc tới các tỉnh miền trung nước ta bây giờ. Công cụ đồng xuất hiện ngày càng đa dạng, phong phú và điêu luyện, cục diện kinh tế ngày càng phát triển đã đưa trình độ xã hội phát triển cao hơn. Các thủ lĩnh họ Hùng với cương vị đứng đầu bộ lạc văn lang từ nền tảng kinh tế lạc hậu thời kỳ đá mới qua giai đoạn sơ kỳ đồng thau đã vượt lên mở rộng địa bàn, đẩy mạnh sự phát triển văn minh và xã hội tới bước phát triển cực thịnh trong gia đoạn văn hoá công cụ đồng thau – sắt sớm. Từ sự liên minh bộ lạc đến sự áp phục 15 bộ lạc gần xa để trở thành thủ lĩnh liên minh bộ lạc rồi quân chủ quốc gia: Hùng Vương ở thiên niên kỷ 11 trước công nguyên. Bộ Văn Lang của các thủ lĩnh họ Hùng đã trở thành địa bàn gốc của nước Văn Lang. Một nhà nước xã hội kiểu ” phương thức sản xuất Châu A” ra đời, nhà nước đầu tiên của xã hội Việt Nam. Đó là thành tựu, là công lao vĩ đại không gì sánh nổi của các vua Hùng. Nền văn hoá mang sắc thái riêng và cốt cách riêng của dân tộc bắt đầu được hình thành và phát triển. Một giai đoạnh lịch sử, một thời đại mới ra đời: Thời đại xây dựng đất nước của các vua Hùng.

    Phòng 4 và 5: giới thiệu khi di tích lịch sử Đền Hùng, vịêc thờ cúng vua Hùng trên thềm đất cổ Phong Châu, tình cảm của nhân dân, sự quan tâm của các chế độ xã hội tới Đền Hùng.

    Cho tới nay qua kiểm kê di tích lịch sử văn hoá, trên đất Vĩnh Phú có 587 nơi thờ Hùng Vương, vợ con và tướng lĩnh các vua Hùng. Bên cạnh những dấu tích vật chất còn có những trang huyền thoại kỳ diệu phản ánh sự hào hùng, sự bay bổng kỳ diệu của những nhân thần, người anh hùng dân tộc đã có công dựng nước và bảo vệ đất nước.

    Các ngôi đình làng: Hùng Lô, Đào Xá, Hương Nộn, Lâu Thượng, Cổ Tích…là những công trình kiến trúc hoàn hảo ở mọi góc độ được nhân dân lập nên để thờ cúng vua Hùng nhưng đó lại là di tích quan trọng vào bậc nhất. Ơ đó di tích không chỉ mang tính tưởng niệm trong các ngôi đền do dân đời sau lập nên mà ở đây dấu tích lưu niệm của các vua Hùng vẫn còn phảng phất trong những pho huyền thoại lịch sử.

    Còn nhiều nữa hình ảnh các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước thăm viếng Đền Hùng xem xét quy hoạch tổng thể di tích Đền Hùng xây dựng nhà bảo tàng Hùng Vương…. Bên cạnh một số hình ảnh các đoàn khách quốc tế thăm Đền Hùng đều phản ánh tấm lòng của dân tộc và bè bạn với Tổ tiên dân tộc Việt Nam.

    Trong nhà bảo tàng còn có 1 phòng chiếu video với sức chứa trên 50 người xem một lượt các bộ phim về lễ hội Đền Hùng xưa, nay, phim về một số tích trò dân gian theo thuyền thoại, lịch sử được chiếu phục vụ khách tham quan. Đó là những tài liệu hình ảnh sống động mô phỏng sự tích lịch sử đã cung cấp cho người xem nhiều tư liệu khoa học và một số lượng thông tin lớn về lịch sử Việt Nam, dân tộc Việt Nam, xã hội Việt Nam, văn hoá Việt Nam thời vua Hùng dựng nước.

    Nhà bảo tàng Hùng Vương ra đời đã phần nào đáp ứng lòng mong đợi của đồng bào cả nước, của người Việt Nam sống xa Tổ quốc, của các nhà khoa học và của bè bạn Quốc tế. Thăm viếng Đền Hùng và tham quan nhà bảo tàng Hùng Vương người Việt Nam có được một dịp ôn lại truyền thống đạo lý uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây, hiểu sâu sắc hơn về thời đại các vua Hùng dựng nước và tấm lòng toàn dân tộc với Đền Hùng. Còn đối với khách Quốc tế thăm Đền Hùng và bảo tàng Hùng Vương sẽ có dịp hiểu được ngọn nguồn dân tộc Việt Nam, văn hoá Việt Nam, truyền thống Việt Nam và đạo lý của con người Việt Nam.

    Nhìn tổng thể nội dung và ý đồ trưng bày bảo tàng Hùng Vương là hướng người xem vào chiều sâu tư tưởng, nhận được dung mạo con người Việt Nam: Quá khứ – Hiện tại – Tương lai. Mặt khác nội dung trưng bày bảo tàng Hùng Vương phản ánh được mối quan hệ giữa vua Hùng – Đền Hùng và thời đại Hùng Vương dựng nước.

    Bảo tàng Hùng Vương đã trở thành di sản văn hoá mọi thời đại. Đó là một thiết chế văn hoá quan trọng của nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tưởng niệm công lao của các vua Hùng đã có công dựng nước.

    Phú Thọ là nơi có các đình, đền, miếu để thờ các vua Hùng và các tướng lĩnh của vua Hùng nhiều nhất Việt Nam. Cho nên, lễ hội quan trọng và đáng kể nhất nơi đây phải nói đến đó là lễ hội giỗ tổ Hùng Vương- lễ hội đã được nhà nước công nhận là Quốc Lễ.

    Toàn tỉnh có 700 điểm thờ, tập trung nhiều nhất ở Lâm Thao, huyện Tam Nông, thành phố Việt Trì, huyện Phù Ninh, huyện Thanh Thủy, huyện Cẩm Khê. Các đền thờ này chủ yếu thờ các bài vị sắc phong của các vua Hùng và tướng lĩnh.

    Phường Bạch Hạc, phường Bến Gót nằm ở phía Nam thành phố Việt Trì, cửa ngõ nối liền giữa Phú Thọ và các tỉnh miền núi phía Tây Bắc với thủ đô Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ.

    Ngã ba Hạc từ lâu đã nổi tiếng bởi vùng sông nước hữu tình, nơi tụ nhân, tụ thuỷ, tụ khí, buôn bán kinh doanh sầm uất. Trên mảnh đất này còn tồn tại nhiều di tích lịch sử văn hoá, gắn liền với vùng “địa linh, hào khí”, bên cạnh đó là những sự tích từ thời vua Hùng dựng nước Văn Lang. Cho đến ngày nay, vùng ngã ba Hạc vẫn còn tồn tại nhiều di tích lịch sử văn hoá có giá trị, có thể phát triển nhiều loại hình du lịch như thể thao, nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí….

    Ngã ba Hạc hợp lưu bởi sông Thao, sông Đà, sông Lô, tạo nên dòng trong, dòng đục, nước sông rộng mênh mông như biển cả, xa xa tả có Tam Đảo, hữu có Ba Vì, hai bên bờ là các làng mạc, ruộng vườn tươi tốt, bến sông thuyền bè tấp nập vào ra…. tất cả những phong cảnh đó đã tạo cho ngã ba Hạc có cảnh trí vừa thơ mộng, vừa hữu tình. Bạch Hạc – Bến Gót ngày nay thuộc phủ Tam Đới xưa, còn tồn tại rất nhiều di tích lịch sử văn hoá, các truyền thuyết, chuyện kể về quá trình dựng nước và giữ nước của ông cha ta như: “Hoa Long Thiền Tự” xưa ở bến sông Thông, cạnh chùa có một tảng đá ven sông, trên mặt còn hằn vết gót chân. Tương truyền, đây là nơi Lạc Long Quân lập đàn tế trời và đã được tiên ông từ trên trời xuống, ngồi trên tảng đá này, đặt tên, phân định anh em cho một trăm người con do Âu Cơ sinh ra, sau nơi đây buôn bán kinh doanh sầm uất, trên bến dưới thuyền mới có tên là Bến Gót, Đình Bạch Hạc còn có tên là đình thôn Việt Trì là nơi thờ các vua Hùng, Đền Lang Đài là nơi hai chàng Sơn Tinh và Thuỷ Tinh đấu võ, Miếu Hà Thần là nơi thờ thần Sông đã có công giúp vua Trần Minh Tông đánh Man Đà Giang dẹp yên bờ cõi, Đền Bạch Hạc là nơi thờ thổ lệnh có tên huý là Trần Lan và em là Thạch Khanh tên huý là Trần Bảo có phép thuật thần y, chữa được bách bệnh cho nhân dân, sau hoá thần ở Tam Thanh Quán bên bờ sông Bạch Hạc, được phong làm thần thiêng ở ngã ba sông Hạc….. Ngoài ra trên mảnh đất này còn tồn tại rất nhiều sự tích ly kỳ, nhiều lễ hội truyền thống đặc sắc như: Hội bơi chải, Hội giã bánh dầy,… nói lên sự hình thành tên làng, tên xóm, tên sông, những nét sinh hoạt văn hoá truyền thống của của nhân dân ta gắn liền với nền văn minh sông Hồng và nền văn minh lúa nước.

    Với diện tích 100 ha, khu Du lịch Bến Gót được chia thành 2 phần ở bờ Bắc và bờ Nam sông Lô, trong đó phần lãnh thổ phía Bắc (thuộc phường Bến Gót) là chủ yếu. Khu du lịch có đặc trưng điển hình của vùng trung du Bắc Bộ, với địa hình nhấp nhô, phần đất phía Bắc có vị thế như một bán đảo quay về hướng Đông Nam, tạo nên hình ảnh về bến nước, dòng sông. Đặc biệt là sự gắn kết hài hoà giữa đồi núi, cây cối, sông nước tạo nên phong cảnh sơn thuỷ hữu tình, thích hợp để xây dựng khu du lịch nghỉ ngơi, thư giãn, vọng cảnh. Khu du lịch Bến Gót bao gồm những thành phần chủ yếu như: vui chơi giải trí, thể thao, nhà vườn, cắm trại, khách sạn, nhà nghỉ, câu cá, trại sáng tác, lầu bình thơ,… được tổ chức tạo thành trục chủ đạo đi từ cổng chính đến khu lầu tưởng niệm và vọng cảnh phía bờ sông, kết thúc là Lầu Bạch Hạc. Lầu Bạch Hạc được xây dựng theo hướng vươn cao vừa tượng trưng cho đàn tế trời vừa là nơi du khách có thể ngắm cảnh xa xa, dưới tầng lầu có bia tưởng niệm 100 người con của Lạc Long Quân – Âu Cơ, giúp cho du khách hiểu rõ hơn nguồn gốc của đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Bên cạnh Lầu Bạch Hạc được tái dựng tảng đá lưu vết chân và hình dáng tiên ông phân định ngôi thứ, mở đầu cho sự hưng thịnh, đoàn kết, thương yêu, đùm bọc của đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Phần đất phía Nam chủ yếu dành cho các di tích lịch sử và thể thao nước truyền thống, một phần dành cho các nhà nghỉ nhỏ dưới dạng vườn nông thôn, vườn sinh thái,… Việc phân khu chức năng trên cơ sở địa hình của khu vực quy hoạch và các di tích lịch sử, truyền thuyết sẵn có của khu vực, tạo nên hệ thống không gian sinh động, gây ấn tượng mạnh mẽ, có sức hấp dẫn lớn đối với khách du lịch.

    ĐỀN GIẾNG – PHÚ THỌ

    Đền Giếng Phú Thọ: Kiến trúc có vào khoảng thế kỷ XVIII. Đền Giếng nằm dưới chân núi Hùng gồm ba lớp nhà và hai nhà oản hai bên. Tương truyền khi theo cha đi kính lý qua vùng này, hai nàng Tiên Dung- Ngọc Hoa con gái Vua Hùng Vương thứ 18 thường đến đây soi gương chải tóc. Hai nàng đã có công cùng chồng khẩn hoang, trị thuỷ, dạy dân trồng lúa xây dựng cuộc sống.

    Theo truyền thuyết nàng Tiên Dung xinh đẹp, đến tuổi trăng tròn có nhiều người tài giỏi đến cầu hôn. Nàng Tiên Dung không muốn lấy chồng, để được thường xuyên đi du ngoạn núi rừng. Một lần Tiên Dung bơi dọc sông hồng về xuôi, tới vùng dạ trạch (khoái châu-hải hưng) Tiên Dung nghỉ, tắm trên bãi cát. Không ngờ gặp Không ngờ gặp Chữ Đồng Tử, chàng trai nghèo khổ vì mẹ mất sớm, cha gà trống nuôi con, hai cha con nghèo có mỗi chiếc khố che thân, một năm cha chết nốt, Chữ Đồng Tử không nỡ bó chiếu chôn cha ở trần, còn cái khố cuối cùng nhường cha. Thấy thuyền của tiên dung neo bên bến cát, Chữ Đồng Tử không có quần áo đang ngâm mình đánh dậm dưới đầm, liền vùi mình trong cát. Vô hình nàng tiên dung quây màn tắm đúng chỗ Chữ Đồng Tử dấu mình, nước chảy cát trôi Chữ Đồng Tử bị lộ. Chàng trình bày gia cảnh vất vả xin nàng tha tội. Tiên dung thấy chàng là người hiếu nghĩa nên xin cha cho lấy. Nàng theo chồng về vùng dạ trạch, cùng chồng khẩn hoang, dạy dân trồng lúa.

    Còn ngọc hoa xinh đẹp vua cho dựng lầu kén rể, hai chàng trai giỏi sơn tinh- thủy tinh cùng đến cầu hôn, thi tài. Cuối cùng sơn tinh thắng cuộc lấy được nàng ngọc hoa, hai vợ chồng về vùng núi tản quê hương của sơn tinh cùng dân làng trị thủy sông, trồng lúa nước, xây dựng cuộc sống. Thủy tinh thua cuộc hàng năm ôm hận, cứ đến mùa tháng 6, tháng 7 ( âm lịch), lại dâng nước làm lũ lụt lội đòi lại người yêu.

    Tại đền giếng chiều ngày 18/9/1945, bác hồ đã về nghỉ ở đây, hôm sau 19/9/1945, bác đã gặp gỡ và nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ đại đoàn quân tiên phong trước khi về tiếp quản thủ đô. Lời bác dặn đã trở thành chân lý:

    ” các vua hùng đã có công dựng nước bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

    Ngày xa xưa, núi nghĩa lĩnh là nơi thờ thần tự nhiên trước khi các vua Hùng. Tục truyền rằng hùng vương và các quan tướng thường đến đây làm lễ tế trời thờ lúa, cầu mong cho giống nòi sinh sôi nảy nở, mùa màng tốt tưới, cộng đồng no đủ. Do đó cho đến nay đền thượng vẫn còn có tên gọi kính thên lĩnh điện (tức điện thờ trời trên núi Nghĩa Lĩnh), là nơi cấm địa (đất cấm). Đồng bào địa phương còn kể chuyện lại rằng: trước đấy gần một thế kỷ vẫn có thờ hạt lúa thần. Đó là hình tượng hạt thóc làm bằng đá to như cái thuyền ba cẵng được thờ tại đền thượng. Phía sau núi nghĩa lĩnh còn có núi thứ hai cao gần bằng nghĩa lĩnh đó là núi trọc, còn có hòn cối xay hay là hòn đá ông đá bà( tục truyền là nghi thức thờ sinh lực khí). Như vậy từ xa xưa, cư dân ở đây đã có những tín ngưỡng phồn thực nông nghiệp tôn thờ những thế lực huyền bí của tự nhiên, mong được những thế lực đó phù hộ cuộc sống của con người. Khi con người chưa chế ngự khắc phục nổi tự nhiên, thì việc thờ các thần tự nhiên là lẽ tất nhiên. Về sau vào thời phong kiến độc lập tự chủ, khoảng thế kỉ XIII-XIV, với ý thức ” uống nước nhớ nguồn”, nhớ ơn tổ tiên dựng nước, ngườ việt xây dựng các ngôi đến thờ hùng vương trên núi nghĩa lĩnh. Ba ngôi đền : đền thượng, đền trung, đền hạ đều thờ 18 đời vua Hùng cùng các vị thần núi. Trong ba ngôi đền đều gồm 4 cỗ long ngai, 3 cỗ ngai chính diện bài vị thờ :

    Đột ngột cao sơn cổ việt hùng, thị thập bát thế thánh vương thánh vị (thần núi cao, 18 đời hùng vương thánh vương thánh vị).

    – Ất sơn thánh vương thánh vị (thần núi gần thánh vương thánh vị).

    – Viễn sơn thánh vương thánh vị (thần núi xa thánh vương thánh vị ).

    Đó là tục thờ thần núi (tam sơn cấm địa – 3 ngọn núi cấm) của cư dân vùng cao và cả 18 đời Hùng Vương. Như vậy vào khoảng thế kỷ VIII-XIV trên núi Nghĩa Lĩnh đã có tín ngưỡng thờ nhân thần (vua Hùng tổ tiên người Việt) bên cạnh các thiên thần.

    – Cỗ long ngai thứ 4 lùi xuống phía bên trái của đền không bài vị thờ con gái vua Hùng. Trong truyền thuyết và văn tế đền hùng ngày xưa là thờ hai nàng Tiên Dung – Ngọc Hoa.

    – Ngôi chùa thiền quang thờ phật

    – Đền giếng thờ hai nàng công chúa tiên dung – ngọc hoa. Như vậy không kể một chùa và đền giếng thì các ngôi đền trên núi hùng ở ban cấp khác nhau, thờ giống nhau. Nguyên do là sự phát triển phân chia làng xã ở khu vực. Trước thế kỷ XIV, làng trẹo là cư dân duy nhất ở vùng này, làm đền giữa núi hùng để thờ tổ tiên (bây giờ là đền trung). Làng Trẹo về sau đông con cháu, mới tách làm hai làng. Làng mới đi vào Lũng Cỏ lập làng Cả là tiền thân của làng Cổ Tích sau này. Thế kỷ XV giặc ngoại xâm đã tàn phá Đền Trung và Làng Cả. Hoà bình trở lại, những người còn sống sót của cư dân làng Cả và một vài nơi khác đến ngụ cư tại chân núi Hùng, làng Cô Tích có từ đó. Làng Cổ Tích dựng đền Thượng, Chùa và Gác Chuông. Cùng thời gian đó làng Trẹo dựng lại Đền Trung trên nền đền cũ ở lưng chừng núi, kiến thiết cột gỗ lớn có thớt đá kê, mái lợp ngói.

    Thế kỷ XVII làng Trẹo tách một dân nữa, làng mới này là làng Vi (nay thuộc xã Chu Hoá- huyện Phong Châu), làng Vi dựng Đền Hạ còn làng Trẹo và Cổ Tích thuộc xã Hy Cương- huyện Phong Châu. Vốn nguồn gốc cùng một cư dân, cùng thờ một vị thần nên khi tách làng xã các thần vẫn thờ giống nhau ở các đền khác nhau trên núi Nghĩa Lĩnh. Dân làng Cổ Tích quản lý và trông coi Đền Thượng, Chùa và Gác Chuông, Đền Giếng, làng Trẹo trông coi Đền Trung, Làng Vi trông coi Đền Hạ.

    Thường ngày xưa có hai ngày cầu chính vào tháng giêng và tháng tám. Tháng ba cùng nhau mở cửa đền làm hội. Cư dân xã Hy Cương vào thời nhà Lê được nhận làm “con trưởng tạo lệ”, trong cuốn “Ngọc Phả” do trực hoạ Nguyễn Cố soạn năm 1470 có đoạn viết: “Phụng ban hương Trung Nghĩa (Cổ Tích) làm dân trưởng tạo lễ, cấp 500 mẫu ruộng tại xã Hy Cương, lại cho thu thuế ruộng của một vùng trên từ Tuyên Quang, Hưng Hoá, dưới Việt Trì làm hương hoả phụng thờ”.

    Hàng năm con trưởng chỉ có nghĩa vụ đi lính, còn được miễn thuế khoá, tiền thuết và ruộng chỉ làm đèn nhang cúng lễ Đền Hùng. Thời xưa việc cúng Tổ vào ngày 12 tháng 3 âm lịch hàng năm, thường khi con cháu ở những miền xa về làm giỗ trước một ngày vào ngày 11 tháng 3 âm lịch. Cuốn Ngọc Phả Hùng Vương chép thời Hồng Đức hậu Lê còn có đoạn “Từ đời nhà Đinh, nhà Lê, Nhà Lý, nhà Trần rồi đến triều đại ta bây giờ là Hồng Đức Hậu Lê vẫn cùng hương khói trong ngôi đền ở làng Trung Nghĩa (Cổ Tích). Ở đây nhân dân toàn quốc đều đến lễ bái để tưởng nhớ công lao của đấng thánh tổ xưa…”

    Đền thời nhà Nguyễn định lệ 5 năm mở hội lớn một lần (vào các năm thứ 5 và 10 của thập kỷ) có quan triều đình về cúng tế cùng quan hàng tỉnh và ông chủ tế địa phương cúng vào ngày 10 tháng 3 âm lịch, để những ngày sau cho nhân dân mọi miền về làm lễ hội. Do đó ngày giỗ tổ sau này mới là ngày 10/3 âm lịch hàng năm:

    ” Dù ai đi ngược về xuôi

    Nhớ ngày Giỗ Tổ mùng 10 tháng 3

    Khắp miền truyền mãi câu ca

    Nước non vẫn nước non nhà ngàn năm”.

    Như vậy trong thời đại phong kiến, các vương triều luôn luôn coi trọng việc tế lễ Vua Hùng và xem đó như một việc hệ trọng của cả nước. Từ khi có Cách Mạng Tháng Tám thành công đến nay. Chính phủ nước Việt Nam đều tổ chức dâng hương tưởng niệm các Vua Hùng vào ngày 10/3 âm lịch hàng năm theo nghi thức nhà nước.

    Vào ngày lễ hội, lá cờ thần được treo trên đỉnh núi Hùng, có 41 làng xã thuộc đất Vĩnh Phú (riêng huyện Phong Châu là 38 làng xã) rước kiệu dâng lễ về lễ tổ. Trên các cỗ kiệu có bày lễ vật, đi kèm có phường bát âm tấu nhạc, cờ quạt bát bửu, lọng che cùng chiêng trống. Những làng ở xa thường phải rước 2-3 ngày mới tới. Lại có những hoạt động văn hoá mang đậm sắc thái dân gian truyền thống, trí thông minh và tinh thần thượng võ của người Việt như: Đu quay, đấu vật, chọi gà, kéo co, kéo lửa, nấu cơm thi, đánh cờ tướng, hát xoan, hát ví ghẹo… cờ tướng ở hội Hùng xưa không thể thiếu được, thường các năm tướng bà bao giờ cũng là người đẹp của đất Phong Châu, còn tướng ông có thể từ các vùng khác đến: hội xưa thường mở từ mùng 7 đến mùng 10/3 âm lịch, các cuộc cờ tướng cũng được tổ chức suốt mấy ngày hội. Đã không ít hội xưa, sau ba ngày hội, tướng bà theo tướng ông về xuôi, bất chấp cả luật lệ phong kiến hà khắc khi chưa cưới hỏi.

    Hội Hùng là một lễ hội đặc biệt của dân tộc Việt Nam, người Việt về giỗ tổ tỏ lòng kính hiếu tôn trọng tổ tiên, nhưng cũng là để nhân thêm tình yêu thương con người, xứ sở, niềm tin vào cộng đồng của dân tộc Việt Nam.

    Đền Hùng cùng ngày giỗ tổ giành cho tất cả mọi người Việt Nam, từ các Nguyên thủ quốc gia đến người dân nước Việt, tất cả các số phận, các cuộc đời, các ngành giới không kể tông giáo, miền ngược hay miền xuôi, trải qua bao thế kỷ người Việt vẫn về kính viếng tổ tiên. Tín ngưỡng cả nước thờ chung một ông tổ có lẽ trên thế giới này chỉ có ở Việt Nam, điều đó đã trở thành truyền thống, lẽ tự nhiên của dân tộc Việt.

    LĂNG TỔ – PHÚ THỌ

    Lăng Tổ Phú Thọ: Lăng Tổ Được xây dựng vào thời gian nào không ai nhớ rõ. Xưa có thể là mộ đất có mái che, sau tới năm 1874, được xây dựng kiểu dáng như ngày nay.

    Tương truyền phần mộ là của Vua Hùng thứ 6, theo lời dặn của Người: hãy chôn ta trên núi Cả, để đứng trên núi cao ta còn trông nom bờ cõi cho con cháu.

    Cạnh Đền Thượng còn có một cột đá, người xưa truyền lại khi Thục Phán được Vua Hùng nhường ngôi, đã dựng cột đá trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh thề nguyện muôn đời bảo vệ giang sơn gấm vóc mà Vua Hùng trao lại và đời đời hương khói tại miều Vua Hùng. Đứng ở đỉnh cao Nghĩa Lĩnh nhìn quay lên hướng bắc, những quả đồi lớn nhấp nhô nối nhau thấp dần về Nam giống như đàn voi phục. Truyền thuyết kể rằng: đã có một trăm voi khi nghe tin Hùng Vương chọn đất đóng đô đã chầu về đất Tổ. Trong đàn voi có 99 con cùng quay đầu một hướng, có một con quay ngược lại hướng đàn, đã bị nàng Bầu (con gái cả của Hùng Vương thứ nhất) vâng lệnh cha chém chết con voi bất nghĩa. Ngày nay vẫn thấy cách đền Hùng Vương khảong 10km về phía Bắc (thuộc xã Phú Lộc) vẫn còn một quả đồi giống con voi quay ngược bị trừng trị vì tội phản phúc.

    Ngày 19.9.1954 chủ tịch Hồ Chí Minh thăm đền Thượng, xem bài minh chuông của quả chuông đền Thượng treo trên cây đại cổ thụ trước đền. Ngày 19.8.1962 Bác Hồ về thăm Đền Hùng lần thứ hai và nghỉ lại tại cửa ngách đông nam của Đền Thượng.

    Nguồn: saigontoserco

    --- Bài cũ hơn ---

  • Điểm Qua Những Địa Danh Du Lịch Nổi Tiếng Tỉnh Phú Thọ
  • Những Địa Danh Không Thể Bỏ Qua Khi Du Lịch Phú Quốc
  • Những Địa Danh Du Lịch Nổi Tiếng Tại Pháp
  • 10 Địa Danh Du Lịch Đẹp Đến Nao Lòng Của Nước Pháp
  • Các Địa Danh Cực Đẹp Bạn Cần Biết Đến Khi Đi Du Lịch Quy Nhơn
  • Top 10 Địa Điểm Du Lịch Nổi Tiếng Của Phú Thọ

    --- Bài mới hơn ---

  • Kinh Nghiệm Du Lịch Phượng Hoàng Cổ Trấn Đầy Đủ Nhất
  • Kinh Nghiệm Khi Đi Du Lịch Phượt Sapa
  • Visa Đi Du Lịch Qatar
  • Đi Du Lịch Qatar Bạn Phải Chú Ý Những Gì?
  • Du Lịch Quảng Bình Có Gì Hay?
  • Điểm du lịch nổi tiếng nhất Phú Thọ chính là khu di tích đền Hùng tọa lạc trên núi Nghĩa Lĩnh, xã Hy Cương, thành phố Việt Trì. Đền được xây dựng vào thế kỷ 15, và tương truyền đây là nơi mà người con trưởng của Lạc Long Quân và Âu Cơ lên làm vua lấy hiệu Hùng Vương, đặt tên nước là Văn Lang.

    Khu di tích đền Hùng là một quần thể kiến trúc bao gồm đền Hạ và chùa, đền Giếng, đền Trung, đền Thượng và lăng vua Hùng. Đến với đền Hùng, du khách không chỉ được xem kiến trúc, thiết kế, nghệ thuật điêu khắc, mà còn cảm nhận được vẻ đẹp của công trình hoành tráng ẩn mình dưới những cây cổ thụ to lớn…Đặc biệt, nếu có cơ hội đến đền Hùng vào ngày 10/3 âm lịch hàng năm, du khách sẽ được hòa mình vào những nghi thức, tinh thần hướng về cội nguồn của một lễ hội được nâng tầm quốc lễ.

    Đền Mẫu Âu Cơ nằm trong khu di tích đền Hùng, mang nét thanh bình của một ngôi đến ẩn dưới một gốc đa cổ thụ, bên tả có cái giếng Loan, bên hữu lại có giếng Phượng, phía trước có núi Giác, còn sau lưng có sông Hồng uốn khúc. Đền được thiết kế dựa trên nền kiến trúc độc đáo mang đậm dấu ấn tinh hoa văn hóa của thời kỳ Đông Sơn.

    Đây là bảo tàng tổng hợp có tính chất đặc trưng của bảo tàng khảo cứu địa phương, mục đích giới thiệu về lịch sử Phú Thọ từ thời khai sơn lập địa và dựng nước của thời đại các vua Hùng cho tới thời đại Hồ Chí Minh thông qua các bộ sưu tập, tài liệu, cùng những hiện vật quý hiếm. Qua đó tái hiện một không gian địa văn hóa hào hùng, vẻ vang của đất nước trên vùng Đất tổ.

    Đầm Ao Châu được coi là một Hạ Long ở trên đất Phú Thọ. Đây là một tiềm năng du lịch hấp dẫn và có nhiều triển vọng của vùng đất tổ Vua Hùng. Ao Châu có những điều kiện thuận lợi để phát triển khu du lịch sinh thái với các loại hình du lịch như nghỉ dưỡng, bơi thuyền, câu cá, hay leo núi… đáp ứng được nhu cầu của du khách trong và ngoài nước.

    Suối bắt nguồn từ núi Nả, một ngọn núi cao nhất của huyện Hạ Hòa và có nhiều thác. Có những thác độ cao đến 20m tạo nên những cảnh quan rất hấp dẫn, có thác đổ xuống những vực nước sâu trong xanh, có thác lại đổ xuống những bãi cuội ngũ sắc lấp lánh tạo nên những vẻ đẹp kỳ ảo cho nơi đây.

    Hang Lạng là hang lớn và dài nhất trong số hang động thạch nhũ ở Xuân Sơn, Thanh Sơn, Phú Thọ. Ðến với vùng Xuân Sơn, du khách không thể không đến hang Lạng, một kỳ tích thiên nhiên làm say đắm bao lòng người. Hang Lạng ăn sâu trong lòng núi Ten, có cửa vào hang nhìn thẳng ra cánh đồng Mường Lạng.

    Vườn quốc gia Xuân Sơn nổi tiếng với vẻ đẹp hoang sơ tự nhiên, có hệ sinh thái phong phú và đa dạng. Du khách khi tới đây có thể tận mắt chiêm ngưỡng khu rừng chò trỉ đẹp nhất miền bắc cùng một số loài thực vật số lượng lớn như cây rau sắng, dẻ, mộc lan…

    Ngoài sức hấp dẫn của hệ động thực vật phong phú, Xuân Sơn còn có nhiều cảnh quan thiên nhiên kỳ thú thu hút khách du lịch như núi Voi, núi Ten và núi Cẩn. Cùng với các con suối như suối Lấp, suối Thang; với nhiều thác nước có độ cao trên 50m. Màu thác bạc hoà quyện với màu xanh của rừng già làm cho phong cảnh nơi đây vừa hùng vĩ vừa thơ mộng.

    Công trình hồ công viên Văn Lang là công trình trọng điểm của thành phố Việt Trì được đầu tư xây dựng với không gian đẹp, có hạ tầng kỹ thuật đồng bộ kết hợp với các công trình có kiến trúc độc đáo mô phỏng thời đại Hùng Vương. Đây là điểm nhấn quan trọng để Phú Thọ xây dựng Việt Trì trở thành thành phố lễ hội về với cội nguồn dân tộc Việt Nam. Hơn thế, việc đưa công viên đi vào sử dụng còn đáp ứng được nhu cầu của nhân dân thành phố thăm quan, đi bộ, vãn cảnh, hay nghỉ ngơi thư giãn. Đây sẽ trở thành địa điểm du lịch Phú Thọ mới của du khách.

    Khu du lịch nước khoáng nóng Thanh Thủy là một trong những khu du lịch có nguồn suối khoáng nóng tự nhiên. Đến với Thanh Thủy du khách sẽ được ngâm mình trong những bồn nước khoáng nóng tự nhiên từ trong lòng đất và tận hưởng những giây phút thư thái, hòa mình vào thiên nhiên trong lành.

    Núi Thắm hay còn gọi là núi Đầu Rồng, có độ dài khoảng 4km chạy dọc lên khu du lịch Thanh Ba.

    Trên đỉnh núi có một ao nhỏ gọi là ao Tiên, nước luôn trong xanh và không bao giờ cạn. Xung quanh núi Thắm là hàng trăm ngọn đồi thoai thoải nằm gần kề nhau, nhấp nhô như hình bát úp. Núi Thắm hiện vừa là một thắng cảnh đẹp, vừa là một trung tâm kinh tế của vùng trung du Phú Thọ.

    Thu Vân

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bỏ Túi Vài Kinh Nghiệm Khi Đi Du Lịch Phú Thọ.
  • Nên Đi Du Lịch Phú Quốc Tháng Mấy? Mùa Nào Đẹp Nhất?
  • Đi Du Lịch Phú Quốc Nên Ở Khách Sạn, Resort Nào
  • Đi Du Lịch Phú Quốc Cần Chuẩn Bị Gì?
  • Hướng Dẫn Đi Du Lịch Phong Nha
  • Phú Thọ Có Gì Chơi? Những Thắng Cảnh Tuyệt Đẹp Tại Phú Thọ

    --- Bài mới hơn ---

  • Bí Kíp Du Lịch Phú Yên 1 Ngày: Cùng Hội Bạn Thân Lưu Gấp
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Phú Yên 1 Ngày Siêu Chi Tiết Dành Cho Bạn
  • Tour Du Lịch Phú Yên 2 Ngày 2 Đêm
  • Du Lịch Phú Yên 2 Ngày 1 Đêm Tự Túc Bằng Xe Máy
  • Hành Trình Khám Phá Du Lịch Phú Yên Với 2 Ngày 1 Đêm
  • Phú Thọ là tỉnh thuộc miền núi phía Đông Bắc Bộ có rất nhiều phong cảnh thiên nhiên hoang sơ, hùng vĩ với những hang động kì bí, những thác nước thơ mộng, những con suối, ao, đầm rải rác khắp núi rừng. Đến với Phú Thọ ngoài cảnh quan thiên nhiên rộng lớn ra còn có các di tích lịch sử và lễ hội truyền thống lâu đời.

    Cho đến ngày nay nhiều lễ hội truyền thống, diễn xướng, trò chơi dân gian, phong tục tập quán, nếp sống đẹp của đồng bào miền núi vẫn được giữ gìn với đúng bản chất vốn có của nó. Và chính điều đó đã thu hút du khách thập phương đến với Phú Thọ.

    1. Đền Hùng

    Khu di tích lịch sử Đền Hùng là di tích lịch sử văn hoá đặc biệt quan trọng của quốc gia, một quần thể kiến trúc tuyệt vời trên núi Nghĩa Lĩnh (cao 175m) thuộc thôn Cổ Tích, xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

    • Đền Hạ: Là nơi bà Âu Cơ đã sinh ra bọc trứng, sau nở thành năm mươi người con trai – tổ tiên của dân tộc Việt.
    • Đền Trung: Nơi Vua Hùng cùng các quan thần luận bàn việc nước.
    • Đền Thượng: Nơi hàng năm vua Hùng làm lễ tế trời, thờ thần lúa, đây cũng là nơi Vua Hùng lập đền thờ Gióng sau khi đánh tan giặc Ân và cũng là nơi an nghỉ của vua Hùng thứ 6.
    • Đền Giếng: Nơi có Giếng Ngọc để hai công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa hàng ngày soi gương, chải tóc.

    Ngoài ra còn có đền Mẫu Âu Cơ và đền thờ Lạc Long Quân tọa lạc dưới chân núi Nghĩa Lĩnh.

    2. Đền Mẫu Âu Cơ

    Khác với đền Mẫu Âu Cơ nằm trong khu di tích lịch sử Đền Hùng. Đền Mẫu Âu Cơ nằm trên vùng đất địa linh nhân kiệt, xã Hiền Lương (Hạ Hoà, Phú Thọ) là một công trình lịch sử văn hoá đặc biệt, là biểu tượng của tinh thần yêu nước và truyền thống đại đoàn kết dân tộc.

    Để tri ơn công đức Tổ Mẫu Âu Cơ và giáo dục truyền thống dân tộc, cách đây hơn 500 năm, thế kỷ thứ XV thời hậu Lê, vua Lê Thánh Tông đã phong thần và cho xây dựng Đền Mẫu Âu Cơ tại xã Hiền Lương – huyện Hạ Hoà; Đền Mẫu Âu Cơ đã được công nhận là di tích lịch sử văn hoá Quốc gia năm 1991.

    Ngôi đền không rộng lớn, đồ sộ nhưng lại được đánh giá cao về mặt nghệ thuật. Khách tham quan có thể tìm thấy ở đây nhiều di vật như tượng Tổ Mẫu Âu Cơ, tượng Đức Ông Đột Ngột Cao Sơn hay các bức chạm tinh tế trên cửa võng, xà ngang, diềm chung quanh cửa thượng cung. Hiện nay, đền chính có bố cục theo kiểu chữ Đinh với ba gian hậu cung và năm gian đại bái.

    Đền thờ Mẫu Âu Cơ kết hợp với chùa Linh Phúc tạo thành một quần thể di tích có sức hút đặc biệt với du khách thập phương.

    3. Vườn quốc gia Xuân Sơn

    Vườn quốc gia Xuân Sơn là danh lam thắng cảnh tuyệt đẹp tại Phú Thọ. Cách tp Việt Trì 70km về phía Tây Nam thuộc xã Xuân Sơn, huyện Tân Sơn.

    Ngoài sức hấp dẫn của hệ động thực vật phong phú, Xuân Sơn còn có nhiều cảnh quan thiên nhiên kỳ thú như Suối Lấp, Suối Thang, các thác nước, hang động… Xuân Sơn được coi là tiềm năng du lịch tự nhiên nổi trội nhất của Phú Thọ.

    4. Hồ Ly xanh – Yên Lập

    Phú Thọ có gì chơi? Đến Phú Thọ mà bỏ qua Hồ Ly xanh là đáng tiếc lắm.

    Hồ Ly ở Yên Lập, Phú Thọ vẫn giữ được nét đẹp hoang sơ của cảnh vật, bản sắc văn hóa dân tộc của người Dao, người Mường đang nổi lên là điểm check-in mới đặc biệt hấp dẫn các bạn trẻ.

    Hồ Ly có cảnh đẹp yên bình và hoang sơ một cách nguyên thủy nhất. Với sắc xanh rì của cây rừng in bóng xuống mặt hồ trong vắt. Vào những ngày đông sớm, khi nhiệt độ khá thấp và buổi sáng thì mù sương, mặt hồ mây mờ trải dài lập lờ tạo cảm giác bí ẩn và ma mị.

    5. Ao Giời – Suối Tiên

    Thắng cảnh này thuộc xã Quân Khê, huyện Hạ Hoà. Suối bắt nguồn từ núi Nả, ngọn núi cao nhất của huyện Hạ Hòa, nên có nhiều thác. Có những thác có độ cao đến 20m tạo nên những cảnh quan rất hấp dẫn, có thác đổ xuống những vực nước sâu và trong xanh, có thác lại đổ xuống những bãi cuội ngũ sắc lấp lánh tạo nên những vẻ đẹp kỳ ảo.

    Hơn 10 thác lớn, nhỏ với những đặc điểm riêng biệt về độ cao, về vực đổ và cảnh quan xung quanh trên toàn suối được người dân nơi đây đặt cho những tên gọi vừa dân dã vừa mang sắc thái của những truyền thuyết trong thế giới thần tiên như Ao Giời, Giếng Bụt, Vực Xanh, Động Không Đáy, Thác Lòng Thuyền, Thác Mây, Động Tiên, Thác Gió, Thác Ba Tầng, Bể Ngọc, Thác Chum…

    Dọc theo suối còn có những phiến đá nhiều hình thù khác nhau được gắn với những tên độc đáo như bệ đá Voi Quỳ, bệ đá Hổ Phục, đá Bệ Rồng, Cổng Trời, Cánh Tiên… Đây là một địa chỉ du lịch quen thuộc đối với nhân dân trong tỉnh Phú Thọ.

    6. Đảo Ngọc Xanh, Thanh Thủy

    Thuộc địa phận huyện La Phù, Thanh Thủy, Phú Thọ, Đảo Ngọc Xanh đã được định hướng là một trong những khu du lịch trọng điểm của vùng đất Tổ. Vốn là một bãi bồi nổi giữa sông Hồng, bên dưới là một mạch ngầm nước khoáng nóng có trữ lượng lớn nhất cả nước. Vì thế, Đảo Ngọc Xanh đúng như tên gọi của mình, là một hòn đảo ngọc xanh biếc giữa lòng thành phố.

    Đảo Ngọc Xanh là khu du lịch vui chơi giải trí thú vị nhất cho trẻ em và thanh niên, với nhiều trò chơi cùng khuôn viên vui chơi rộng lớn. Với giá vé trọn gói bao gồm tất cả gần 20 trò chơi, đặc biệt hơn mùa hè khi đến đây, bạn thỏa thích bơi lội, trượt máng tại khu Công Viên Nước, hòa mình với thiên nhiên cảnh quan đẹp tuyệt vời.

    7. Những đồi chè xanh thơ mộng

    Đồi chè Long Cốc ở huyện Tân Sơn, Phú Thọ xanh mướt, trùng trùng điệp điệp, cung đường quanh co nối liền bên sườn đồi tạo nên vẻ đẹp huyền bí khiến bất cứ ai có dịp ghé chơi cũng ngỡ ngàng.

    Đến đây, bạn sẽ được đắm mình trong không gian yên tĩnh, không khí mát lành cùng hương gió vấn vương vị thơm thơm, chát chát đặc trưng của chè Long Cốc.

    Phú Thọ còn có nhiều địa danh du lịch nằm rải rác khắp các vùng trong tỉnh như: Hồ Phượng Mao (Thanh Thuỷ), núi Trang (Phù Ninh), động chùa Hang (Đoan Hùng), đình Lân Thượng (Việt Trì), chùa Xuân Lũng (Lâm Thao), chùa Hiền Quan (Tam Nông), đình Hùng Lô và lễ hội bánh chưng bánh dày (Phù Ninh), Bến Gót (Ngã 3 Hạc Việt Trì), công viên Văn Lang (Việt Trì), di tích lưu niệm Hồ Chủ Tịch ở Cổ Tiết (Tam Thanh), chiến khu Hiền Lương (Hạ Hoà), chiến khu Lòng Chảo Minh Hoà (Yên Lập), di tích chiến thắng Sông Lô (Đoan Hùng), di tích chiến thắng Tư Vũ (Thanh Thuỷ)… và nhiều địa danh thắng cảnh khác vừa là điểm du lịch, vừa là nơi tham quan, nghiên cứu khoa học có giá trị.

    9. Du lịch Phú Thọ nên thưởng thức đặc sản gì?

    Đặc sản Phú Thọ vô cùng đặc sắc với sự có mặt của 21 dân tộc đang cùng sinh sống. Nơi đây có cả một kho tàng ẩm thực phong phú mà bất kì du khách nào đã tới thì không thể bỏ qua.

    Du lịch Phú Thọ như thế nào? Phú Thọ có gì chơi? Chắc hẳn bạn đã có câu trả lời cho riêng mình. Phú Thọ rất hiếu khách, nếu có cơ hội, mời bạn ghé qua để cảm nhận vẻ đẹp thiên nhiên, sự hòa nhã của tình người ở miền trung du đất tổ Phú Thọ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tour Du Lịch Phú Thọ 2 Ngày 1 Đêm Giá Rẻ
  • Tour Du Lịch Phú Thọ Sầm Sơn 2 Ngày 1 Đêm
  • Tour Du Lịch Việt Trì Phú Thọ Sầm Sơn 2 Ngày 1 Đêm
  • Thuê Xe Du Lịch Đi Phú Thọ Từ Hà Nội 1 Ngày
  • Du Lịch Phú Thọ 1 Ngày Đi Đâu? Ăn Gì?
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100