Phát Triển Bền Vững Du Lịch Nha Trang

--- Bài mới hơn ---

  • Kinh Nghiệm Du Lịch Đà Nẵng 3 Ngày 2 Đêm
  • Tour Du Lịch Hà Giang 3 Ngày 2 Đêm Của Sinhcafe
  • 7 Bài Hát Nên Nghe Khi Đi Du Lịch
  • Những Địa Điểm Hấp Dẫn Khi Đi Du Lịch Hàn Quốc
  • Tour Du Lịch Đảo Lý Sơn 3 Ngày Từ Hà Nội Giá Rẻ
  • Nguyễn Trịnh Ngọc Hiền

    Chuyên ngành : Địa lý học

    Mã số : 60 31 95

    LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC

    NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

    TS. NGUYỄN ĐỨC TUẤN

    Thành phố Hồ Chí Minh – 2009

     Tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng

    Khoa học Công nghệ và Sau Đại học, Ban Chủ nhiệm khoa Địa

    lí và các Thầy Cô trong khoa Địa lí trường Đại học Sư phạm

    Thành phố Hồ Chí Minh.

     Xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Samthienha.com Nguyễn Đức

    Tuấn – Thầy đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình nghiên

    cứu để hoàn thành luận văn.

     Xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc và các bạn đồng nghiệp

    công ty Polaris đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi

    hoàn thành luận

    văn.

     Cuối cùng, Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn gia đình, những người

    thân yêu, bạn hữu đã dành tình cảm, động viên và giúp đỡ trong

    những ngày học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.

    Thành phố Hồ Chí Minh 2009

    Tác giả

    Nguyễn Trịnh Ngọc Hiền

    MỞ ĐẦU

    3. Nhiệm vụ của đề tài

    Đề tài tập trung giải quyết các vấn đề cơ bản sau:

    – Tổng quan một số vấn đề lý luận và thực tiễn vế phát triển du lịch bền vững

    trên thế giới và Việt Nam, vận dụng vào thực tế phát triển du lịch biển tại

    thành phố Nha Trang.

    – Phân tích tiềm năng, hiện trạng phát triển du lịch biển ở Nha Trang theo

    hướng bền vững

    – Trên cơ sở lý luận về phát triển du lịch bền vững, các định hướng chiến lược

    phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia, của khu vực, kiến nghị một số giải

    phá

    p phát triển du lịch bền vững ở thành phố Nha Trang.

    4. Nội dung nghiên cứu

    Luận văn tập trung vào việc tổng quan các cơ sở lý luận cho việc phát triển bền

    vững du lịch biển thành phố Nha Trang. Phân tích tiềm năng, hiện trạng và đề xuất

    một số giải phá

    p để phát triển bền vững du lịch biển ở thành phố Nha Trang.

    5. Phạm vi nghiên cứu

    Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề du lịch biển trên địa bàn thành phố Nha

    Trang từ năm 2000 đến nay trên quan điểm phát triển bền vững.

    6. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

    6.1. Trên thế giới

    Nga

    y từ những năm 1980, khi các vấn đề về phát triển bền vững bắt đầu được đề

    cập đã có nhiều nghiên cứu khoa học được thực hiện nhằm phân tích những ảnh

    hưởng của du lịch đến sự phát triển bền vững. trọng tâm của các nghiên cứu này

    nhằm giải thích cho sự cần thiết phải đảm bảo tính vẹn toàn của môi trường sinh

    thái trong khi tiến hà

    nh các hoạt động khai thác tài nguyên phục vụ phát triển du

    lịch tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững. Krippendorf (1975) và Jungk (1980) là

    những nhà khoa học đầu tiên trên thế giới cảnh báo về những suy thoái do hoạt

    động du lịch gây ra và đưa ra khái niệm “du lịch rắn” (hard tourism) để chỉ kiểu du

    lịch ồ ạt và “du lịch mềm” (soft tourism) để chỉ một chiến lược du lịch mới tôn

    trọng môi trường.

    nói chung và thành phố Nha Trang nói riêng dựa trên quan điểm phát triển

    bền vững.

    Tiếp thu các nghiên cứu đi trước, tôi mạnh dạn chọn hướng nghiên cứu còn khá

    mới mẻ này: Phát triển bền vững du lịch biển Nha Trang với mong muốn được

    đóng góp một phần nhỏ bé của mình, cũng như hy vọng đề tài của mình thực sự có

    ý nghĩa thực tiễn nhằm làm cho du lịch ở thành phố quê hương phát triển ngày một

    bền vững hơn, góp phần tạo nên sự phát triển bền vững của đất nước.

    7. Cơ sở phương pháp l

    uận và phương pháp nghiên cứu

    7.1. Cơ sở phương pháp luận

    7.1.1. Quan điểm hệ thống

    Hệ thống lãnh thổ du lịch được cấu thành bởi nhiều phân hệ khác nhau về

    bản chất nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau. Quan điểm hệ thống giúp chúng

    ta nắm bắt và điều khiển được hoạt động của mỗi phân hệ nói riêng và toà

    n bộ hệ

    thống du lịch nói chung. Hệ thống lãnh thổ du lịch là một hệ thống phức tạp gồm

    nhiều thành phần có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Đây là một dạng đặc biệt của

    địa hệ mang tính chất hỗn hợp, có đầy đủ các thành phần: tự nhiên, kinh tế, xã hội

    và chịu sự chi phối của nhiều quy luật cơ bản. Vì vậy,

    quan điểm hệ thống luôn

    được quán triệt trong nghiên cứu luận văn.

    Du lịch biển Nha Trang là một bộ phận hữu cơ trong hệ thống lãnh thổ du

    lịch Việt Nam và đồng thời cũng chính là một hệ thống lãnh thổ du lịch gồm nhiều

    thành phần.

    7.1.2. Quan điểm tổng hợp lãnh thổ

    Các đối tượng nghiên cứu của địa lý không thể tách rời một lãnh thổ cụ thể

    với những đặc trưng riêng. Lã

    nh thổ du lịch được tổ chức như một hệ thống liên kết

    không gian của các đối tượng du lịch và trên cơ sở các nguồn tài nguyên, các dịch

    vụ cho du lịch. Quan điểm này được vận dụng vào luận văn thông qua việc phân

    tích các tiềm năng và các tác động nhiều mặt đối với lãnh thổ du lịch Nha Trang,

    kết hợp có quy luật trên cơ sở phân tích, tổng hợp các thành phần của hệ thống lãnh

    thổ du lịch,

    phát hiện và xác định những điểm đặc thù của chúng.

    7.2.3. Phương pháp khai thác thông tin địa lý (GIS)

    Đây cũng là một trong những phương pháp đặc thù của địa lý. Phương pháp

    này được sử dụng trong việc xây dựng các cơ sở dữ liệu, quản lý dữ liệu, cập nhật,

    xử lý các dữ liệu và thiết kế các bản đồ phục vụ cho nội dung đề tài nghiên cứu.

    7.2.4. Phương pháp điều tra thực địa

    Đây cũng là một phương pháp truyền thống và đặc trưng của địa lý. Phương

    phá

    p này được xem là đặc biệt quan trọng trong nghiên cứu khoa học nhằm tích luỹ

    tư liệu thực tế về đặc điểm hình thành, phát triển của lãnh thổ du lịch. Trong quá

    trình nghiên cứu đề tài, phương pháp này luôn được chú trọng thực hiện để đạt được

    tính thực tiễn về đặc trưng của lãnh thổ. Trong nghiên cứu du lịch, các thông tin thu

    thập được qua điều tra thực tế gi

    úp các nhà nghiên cứu tổng hợp được nhiều ý kiến

    và quan điểm của các du khách, các nhà quản lý du lịch một cách khách quan.

    7.2.5. Phương pháp đánh giá tổng hợp

    Các tài liệu đã được tác giả thu thập, điều tra, thống kê sẽ được tổng hợp,

    phân tích với quan điểm hệ thống để làm cơ sở nghiên cứu nội dung đề tài.

    7.2.6. Phương pháp điều tra và lấy ý kiến chuyên gia

    Trong quá trình nghiên cứu tác giả luôn tranh thủ ý kiến của giá

    o viên hướng

    dẫn đồng thời cũng tham khảo ý kiến của các chuyên gia về du lịch, các nhà điều

    hành du lịch ở thành phố Nha Trang và tỉnh Khánh Hoà.

    8. Những nội dung cơ bản của luận văn, dự kiến các chương mục

    Phần mở đầu

    Phần nội dung

    Chương 1 : Cơ sở lý luận về phát triển du lịch bền vững

    Chương 2 :

    Tiềm năng và thực trạng phát triển bền vững du lịch biển thành

    phố Nha Trang

    Chương 3 : Định hướng và một số giải pháp phát triển bền vững du lịch

    biển ở thành phố Nha Trang

    Kết luận và kiến nghị

    Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

    VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG

    WTO định nghĩa “Du lịch theo nghĩa hành động, được định nghĩa là một

    hoạt động di chuyển vì mục đích giải trí, tiêu khiển và tổ chức các dịch vụ xung

    quanh hoạt động này. Người đi du lịch là người đi ra khỏi nơi mình cư trú một

    quãng đường tối thiểu là 80 km trong khoảng thời gian hơn 24 giờ với mục đích

    giải trí, tiêu khiển”.

    Tuy có khá nhiều các quan điểm khác nhau về du lịch nhưng vẫn chưa có sự

    thống nhất chung. Do đó, tác giả m

    ong muốn được áp dụng một quan điểm mới của

    Ts. Nguyễn Đức Tuấn với nội dung khá đầy đủ về du lịch như sau: “Du lịch là sự

    ra đi của các cư dân và tạm trú cách xa (khoảng 600m) nơi ở thường xuyên của

    mình để tạo ra các mối quan hệ với nhà cung ứng dịch vụ du lịch, chính quyền

    và dân địa phương nơi đến, nhằm mục đích phục vụ cho việc nghỉ ngơi, giải trí,

    tham qu

    an các danh lam thắng cảnh, nghỉ dưỡng, chữa bệnh, đoàn tụ gia đình,

    và thực hiện các hoạt động kinh tế, văn hóa, chính trị, tôn giáo, thể thao có tác

    dụng nâng cao chất lượng cuốc sống của con người. Ngoài ra, du khách phải

    nghỉ đêm và mua các dịch vụ ở nơi đến”.

    1.1.2. Quan niệm về phát triển bền vững

    Từ thế kỷ XIX, qua thực tiễn quản lý rừng ở Đức, người ta đã đề cập tới sự

    “phát triển bền vững”. Nhưng mãi đến thập kỷ 80 của thế kỷ XX, khái niệm này

    mới được phổ biến tương đối rộng rãi.

    Năm 1980, IUCN cho rằng “phát triển bền vững” phải và cân nhắc đến việc

    khai thác các tài nguyên có khả năng phục hồi và không phục hồi, cần xem

    xét các

    điều kiện khó khăn cũng như thuận lợi trong việc tổ chức xen kẽ các hoạt động ngắn

    hạn và dài hạn.

    Đến năm 1987, Ủy ban môi trường và phát triển thế giới WCED do bà

    Grohalem Brundtland thành lập đã công bố thuật ngữ “phát triển bền vững” trong

    bản báo cáo “Tương lai chúng ta” như sau: “Phát triển bền vững được hiểu là sự

    phát triển có thể đáp ứng những điều kiện hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại

    đến k

    hả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”.

    Theo ơng Jordan Ryan – đại diện thường trú của UNDP tại Việt Nam thì

    “phát triển bền vững là một q trình đảm bảo tăng tối đa phúc lợi của xã hội và

    xóa bỏ đói nghèo thơng qua việc quản lý ở mức tối ưu và có hiệu quả tài ngun

    thiên nhiên”. Ơng khẳng định phát triển bền vững nằm ở phần giao nhau của 3 vòng

    tròn: bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội và bền vững về mơi trường. Cũng

    theo ơng, chúng ta khơng nê

    n coi phát triển bền vững như một phương tiện thuận

    lợi để gom tất cả các vấn đề về kinh tế, xã hội và mơi trường lại với nhau, mà cần

    có một quan điểm tồn diện để đảm bảo các chính sách có tác dụng hỗ trợ thay vì

    mâu thuẫn nhau.

    Hình 1.1. Mơ hình phát triển bền vững mơ phỏng theo quan điểm của Jordan Ryan

    Trong Hội nghị thượng đỉnh về Trái Đất tháng 6/1992 tại Rio De Janeiro,

    “phát triển bền vững được hình thành trong sự hòa nhập, xen cài và thỏa hiệp giữa

    ba hệ thống là hệ tự nhiên, hệ kinh tế và hệ xã hội”.

    Bà Nguyễn Ngọc Lý (Trưởng ban Phát triển bền vững – UBND thành phố

    Hà Nội) cũng đồng ý với các định nghĩa về phát triển bền vững của hội nghị Rio De

    Janeiro, cho rằng khái niệm về phát triển bền vững cần đư

    ợc vận dụng linh hoạt tùy

    theo từng thời điểm lịch sử, từng nền kinh tế – xã hội khác nhau và tùy theo những

    nền văn hóa khác nhau của các quốc gia.

    Ngồi ra, còn có một số tác giả cho rằng: “phát triển bền vững bên cảnh yếu

    tố là bền vững về kinh tế, xã hội và mơi trường, cần phải có cả sự bền vững về an

    Hệ kinh tế

    Hệ tự nhiên

    Hệ xã hội

    Phát triển

    bền vững

    ninh, chính trị và bảo đảm công bằng xã hội. Khái niệm phát triển bền vững mang

    tính chất toàn cầu nên không thể hiểu phát triển bền vững chỉ trong phạm vi một

    nước mà phải tính đến những yếu tố hợp tác quốc tế, yếu tố phối hợp phát triển giữa

    các quốc gia, nhất là những ảnh hưởng trong lĩnh vực môi trường.

    Ngày nay, tất cả các quốc gia đều đề cập đến “phát triển bền vững” t

    rong quá

    trình hoạch định chính sách và quản lý phát triển kinh tế với ý muốn nhấn mạnh

    phương thức và việc sử dụng có trách nhiệm các nguồn lực của sự phát triển.

    Tuy hiện có khá nhiều quan điểm khác nhau về phát triển bền vững, song tựu

    trung, tất cả đều thống nhất ở các nội dung sau:

    ” Phát triển bền vững là sự phát triển hài hòa cả về 3 mặt: Kinh tế – xã hội

    môi trường

    để đáp ứng những nhu cầu về đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần

    của thế hệ hiện tại nhưng không làm tổn hại, gây trở ngại đến khả năng cung

    cấp tài nguyên để phát triển kinh tế – xã hội mai sau, không làm giảm chất lượng

    cuộc sống của các thế hệ trong tương lai”.

    Như vậy, để PTBV thì phải cùng đồng thời thực hiện 3 mục tiêu: (1) Phát triển

    có hiệu quả về ki

    nh tế; (2) Phát triển hài hòa các mặt xã hội; nâng cao mức sống,

    trình độ sống của các tầng lớp dân cư; (3) Cải thiện môi trường môi sinh, bảo đảm

    phát triển lâu dài vững chắc cho thế hệ hôm nay và mai sau. Thể hiện qua hình 1.2

    và hình 1.3 sau đây:

    Mục tiêu kinh tế

    Phát triển

    bền vững

    Mục tiêu xã hội Mục tiêu sinh thái

    Hình 1.2: Mô hì

    nh phát triển bền vững của ngân hàng Thế giới World Bank

    Giá trị máy móc

    Cạnh tranh quốc tế

    Kinh tế

    Nông nghiệp bền vững

    Bảo vệ nguồn nước

    Kiểm soát thuốc BVTV

    Bảo vệ cuộc sống, văn hóa

    trong nông nghiệp

    Phát triển

    Hệ thống quata

    Hợp tác nông trại

    Chính sách thu nhập

    Nghiên cứu phát triển

    Phát triển bền vững

    Sinh thái

    Xã hội

    Bảo vệ

    Bả ệ habitat o v

    Bình ổn giá

    Du lịch sinh thái

    Chất lượng cảnh quan Quản lí và bảo vệ MT

    vùng nông thôn Chất lượng nước

    Đa dạng sinh học

    Sức khỏe và sự an toàn

    Các giá trị giải trí

    Chống t

    hất nghiệp

    Hình 1.3: Mô hì

    nh phát triển bền vững của Villen, 1990

    của các hệ sinh thái và các hệ thống hỗ trợ cho cuộc sống của con người”.

    Năm 1996, Diễn đàn lãnh đạo các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp lữ

    hành – du lịch (WTTC – The World Travel and Tourism council) đưa ra khái niệm:

    “Du lịch bền vững là sự đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và vùng du lịch

    mà vẫn đảm bảo khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ du lịch mai sau”.

    Du lịch bền vững đòi hỏi các cấp và các đơn vị kinh doanh du lịch quản l

    ý tất

    cả các dạng tài nguyên du lịch theo một cách nào đó để một mặt đáp ứng các nhu

    cầu kinh tế, xã hội và thẩm mỹ, trong khi vẫn duy trì được bản sắc văn hóa, các quá

    trình sinh thái cơ bản, sự đa dạng sinh học và các hệ thống sinh thái đảm bảo sự

    sống. (Theo Hens.L, 1998).

    Ở Việt Nam, phát triển bền vững được thể hiện trong chỉ thị 36CT của bộ

    Chí

    nh Trị, ban chấp hành Trung ương Đảng ngày 25 tháng 6 năm 1998: Mục tiêu

    và các quan điểm cơ bản cho phát triển bền vững chủ yếu dựa vào hoạt động bảo vệ

    môi trường sinh thái, sử dụng hợp lý tài nguyên như một bộ phận cấu thành không

    thể tách rời của phát triển bền vững.

    Theo quan điểm của Tổng cục Du lịch Việt Nam, phát triển du lịch phải

    được định hướng và quản lý theo phương châm: Kết hợp hài hòa nhu cầu của hiện

    tại và tương lai trên cả hai góc độ sản xuất và tiêu dùng du lịch, khai thác, sử dụng

    hợp lý và phát triển tài nguyên du lịch tự nhi

    ên; chú trọng bảo tồn, tôn tạo và phát

    huy giá trị của tài nguyên du lịch nhân văn; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân

    tộc, tránh hiện đại hóa hoặc làm biến dạng môi trường, cảnh quan di tích, xây dựng

    và giữ gìn môi trường xã hội lành mạnh, đảm bảo an ni

    nh chính trị và trật tự an toàn

    xã hội, đặc biệt là ở các đô thị du lịch và các điểm tham quan du lịch.

    Theo điều 5, luật Du lịch Việt Nam:

    “Phát triển du lịch bền vững, theo quy hoạch, kế hoạch, đảm bảo hài hòa

    giữa kinh tế – xã hội – môi trường, phát triển có trọng tâm, trọng điểm theo hướng

    du lịch – văn hóa, lịch sử, du lịch sinh thái, bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị của

    tài

    nguyên du lịch.

    Đảm bảo chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an ninh, trật tự và an toàn xã hội.

    Đảm bảo lợi ích quốc gia, lợi ích cộng đồng, lợi ích chính đáng và an ninh,

    an toàn cho khách du lịch, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân kinh

    doanh du lịch.

    Đảm bảo sự tham gia của các thành phần kinh tế, mọi tầng lớp dân cư trong

    phát triển du lịch.

    Góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại và giao lưu quốc tế để quảng bá hình

    ảnh đất nước, con người Việt Nam.

    Phát triển đồng thời du lịc

    h trong nước và du lịch quốc tế, tăng cường thu

    hút ngày càng nhiều khách du lịch nước ngoài vào Việt Nam.

    Từ đó, chúng ta có thể thấy mục tiêu của phát triển du lịch bền vững là:

    – Phát triển bền vững về kinh tế: du lịch là một ngành kinh tế nên phát triển du lịch

    bền vững cần phải bền vững về kinh tế, thu nhập phải lớn hơn chi phí, phải đạt được

    sự tăng trưởng cao, ổn định trong thời gian dài, tối ưu hóa đóng góp của ngành du

    lịch thu nhập quốc dân,

    góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển.

    – Phát triển bền vững về môi trường: phải sử dụng, bảo vệ tài nguyên và môi trường

    theo hướng tiết kiệm, bền vững, đảm bảo sự tái tạo và phục hồi của tài nguyên,

    nâng cao chất lượng của tài nguyên và môi trường, thu hút cộng đồng và du khách

    vào các hoạt động bảo tồn, tôn tạo tài nguyên.

    – Phát triển bền vững về xã hội: thu hút cộng đồng tham gia vào các hoạt động du

    lịch, tạo nhiều việc làm góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng địa

    phương, cải thiện tính công bằng xã hội, đa dạng hóa, nâng cao chất lượng sản

    phẩm du lịch, đáp ứng cao độ nhu cầu của du khách.

    1.2. Các yêu cầu để phát triển du lịch bền vững

    1.2.1. Hệ sinh thái

    Hệ sinh t

    hái đề cập đến việc duy trì các hệ thống trợ giúp cuộc sống (đất,

    nước, không khí, cây xanh), bảo vệ sự đa dạng và ổn định của các loài và hệ sinh

    thái.

    Tiêu chuẩn này đòi hỏi các hoạt động du lịch và cơ sở hạ tầng phải phù hợp

    với các điều kiện của môi trường.

    kinh tế, dịch vụ được môi trường thiên nhiên cung cấp, những dịch vụ này không

    phải là “hàng hóa cho không”.

    Các nguyên tắc như vậy cũng được áp dụng đối với tài nguyên nhân văn.

    Chúng ta cần trân trọng các nền văn hóa địa phương, truyền thống dân tộc, kế sinh

    nhai và đất đai mà người ta dựa vào để sống.

    Việc sử dụng tiết kiệm, bảo tồn và bảo vệ các nguồn lực này đa

    ng ngày càng

    được nhìn nhận như là vấn đề sống còn đối với việc quản lý hợp lý mang tính toàn

    cầu và nó cũng khiến cho việc kinh doanh phát triển lâu dài.

    1.3.2. Hạn chế sử dụng quá mức tài nguyên và giảm thiểu chất thải

    Sự tiêu thụ tài nguyên quá mức các nguồn tài nguyên sẽ dẫn tới sự hủy hoại

    môi trường trên toàn cầu chúng ta và đi ngược lại với sự phát triển của du lịch. Kiểu

    tiêu thụ quá mức nà

    y là một đặc trưng của các nước có nền công nghiệp phát triển

    và đã lan rộng rất nhanh trên toàn cầu như là phong cách sống phương Tây. Các dự

    án du lịch được triển khai mà không có các đánh giá tác động môi trường hoặc

    không thực thi các kiến nghị về tác động môi trường của các dự án đó đã dẫn tới sự

    tiêu dùng lãng phí, vô trách nhiệm đối với các tài nguyên môi trường. Chính điều

    này đã gây ra sự ô nhiễm môi trường, suy thoái tài nguyên và xáo trộn về mặt văn

    hóa và xã hội.

    Khai thác, sử dụng quá mức tài nguyê

    n và không kiểm soát lượng chất thải

    từ du lịch góp phần dẫn đến suy thoái môi trường mà hậu quả của nó là sự phát triển

    không bền vững của ngành du lịch nói riêng và kinh tế – xã hội nói chung.

    Việc giảm tiêu thụ quá mức và giảm chất thải ra ngoài môi trường sẽ tránh

    được những chi phí tốn kém cho việc phục hồi tổn hại môi trường và góp phần nâng

    sự chia sẻ, phối hợp với các ngành khác và không quan tâm đến lợi ích kinh tế

    chung cũng như quyền lợi của người dân địa phương thì tất yếu sẽ gây khó khăn

    cho cuộc sống của người dân địa phương. Điều đó không chỉ ảnh hưởng đến sự

    thuận lợi trong việc phát triển kinh tế của ngành đó mà còn đẩy người dân địa

    phương vào thế phải tăng cường khai thác các tài nguyên sẵn có của m

    ình để đáp

    ứng các nhu cầu của cuộc sống, dẫn tới sự cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên và sự phát

    triển kém ổn định, bền vững của địa phương. Do đó, du lịch phải làm nền cho sự đa

    dạng hóa kinh tế bằng hoạt động trong nhiều lĩnh vực. Sự đầu tư có kế hoạch đúng

    đắn về hạ tầng cơ sở như đường sá, điện nước, thông tin liên lạc, … có thể phục vụ

    cho sự phát

    triển tổng thể, thông qua đó, thúc đẩy sự phát triển nhanh của du lịch.

    Du lịch cũng cần lưu tâm đến các chức năng kinh tế có tính chất quan trọng

    và hợp nhất các giá trị môi trường trong các quyết định đầu tư.

    Ngành du lịch hỗ trợ được các hoạt động kinh tế địa phương và có tính đến

    các giá trị và chi

    phí về mặt môi trường thì mới bảo vệ được nền kinh tế địa phương

    và tránh được sự tổn hại về môi trường.

    1.3.6. Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương vào các hoạt

    động du lịch

    Sự tham gia của cộng đồng địa phương là rất cần thiết cho ngành du lịch.

    Người dân địa phương với nền văn hóa bản địa, môi trường, lối sống và truyền

    thống của họ là những nhân tố quan trọng thu hút khá

    ch du lịch đến với một điểm

    du lịch, đồng thời cũng hỗ trợ, đáp ứng nhu cầu sống của người dân địa phương,

    bảo vệ môi trường thiên nhiên và văn hóa của họ; và sự tham gia của cộng đồng địa

    phương cũng làm phong phú thêm các loại hình và sản phẩm du lịch.

    Hơn nữa, khi cộng đồng địa phương được tham gia chỉ đạo phát triển du lịch

    thì sẽ tạo r

    a được những điều kiện đặc biệt thuận lợi cho du lịch bởi cộng đồng sở

    tại là chủ nhân và là người có trách nhiệm chính với tài nguyên và môi trường khu

    vực. Điều này sẽ tạo ra khả năng phát triển lâu dài của du lịch. Sự tham gia của

    cộng đồng địa phương vào hoạt động du lịch được thực hiện t

    hông qua việc khuyến

    khích họ sử dụng các phương tiện, các cơ sở vật chất của mình để phục vụ khách du

    lịch như chuyên chở, thuyết minh hướng dẫn du khách, cho thuê nhà ở, nấu ăn cho

    khách, sản xuất các hàng thủ công mỹ nghệ làm đồ lưu niệm.

    Khuyến khích cộng đồng địa phương cùng làm du lịch không chỉ qua những

    việc làm có thu nhập thấp, theo mùa và những việc phục vụ như bồi bàn, dọn phòng

    mà nên có những công việc ở mức cao hơn và những công việc quản lý có thu nhập

    cao thường do người nước ngoài làm thì người dân địa phương cũng có thể đảm

    đư

    ơng bởi họ cũng có kinh nghiệm và sự hiểu biết đặc biệt về địa phương mình để

    góp phần không nhỏ cho sự phát triển du lịch của địa phương mình.

    Việc tham gia của cộng đồng địa phương vào du lịch sẽ không chỉ mang lại

    lợi ích cho họ và môi trường mà còn nâng cao chất lượng du lịch.

    1.3.7. Thường xuyên trao đổi, tham khảo ý kiến với cộng đồng địa phương

    thỏa mãn toàn diện của du khách.

    1.3.10. Thường xuyên tiến hành công tác nghiên cứu

    Để ngành du lịch tồn tại và phát triển một cách bền vững, điều cốt yếu là cần

    có sự dự đoán vấn đề và nắm trước các chi phí giải quyết vấn đề. Tốc độ phát triển

    nhanh của du lịch tại những khu vực dễ bị tổn thương về mặt môi trường, kinh tế và

    xã hội. Những môi trường nà

    y thường có ít số liệu do khó khăn trong việc thu thập.

    Điều đó cho thấy nhu cầu cấp thiết cần thực hiện các nghiên cứu cơ bản hơn nữa để

    đảm bảo không chỉ cho hiệu quả kinh doanh mà còn cho sự phát triển bền vững

    trong mối quan hệ với cơ chế, chính sách, với việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên,

    môi trường. Việc nghiên cứu toàn diện đòi hỏi phải có sự hợp tác

    giữa ngành du

    lịch với các trường đại học, viện nghiên cứu, chính phủ và các tổ chức phi chính

    phủ về tiềm năng, kỹ năng nghiên cứu và tổ chức cũng như thiện chí về chính trị, sự

    trung thực và cam kết về nghiệp vụ.

    Tiếp tục nghiên cứu và giám sát ngành du lịch thông qua việc sử dụng và

    phân tích có hiệu quả các số liệu là cần thiết để giúp cho việc giải quyết những vấn

    đề còn tồn đọng và m

    ang đến lợi ích cho các điểm tham quan, cho cộng đồng địa

    phương, cho du lịch và cho du khách.

    Kết luận chương 1

    Cuộc sống con người ngày càng nâng cao thì các nhu cầu để thỏa mãn cuộc

    sống cũng ngày càng được cải thiện, trong đó, hoạt động du lịch cũng đòi hỏi phải

    được phát triển bền vững để không chỉ đáp ứng cho nhu cầu hiện tại mà cho cả

    trong tương lai. Hiện nay đã có một số nguyên tắc và yêu cầu được đưa ra để làm

    kim chỉ nam hoạt động nhằm đảm bảo cho sự phát triển đư

    ợc bền vững. Việt Nam

    nói chung và thành phố Nha Trang nói riêng, đã và đang tiếp thu kinh nghiệm trong

    phát triển du lịch, gắn du lịch với các hoạt động kinh tế – xã hội khác cũng như gắn

    với cộng đồng dân cư để tạo nên một tổng thể hoàn thiện phát triển bền vững.

    Chương 2. TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN

    DU LỊCH BIỂN THÀNH PHỐ NHA TRANG

    2.1. Tài nguyên du lịch biển Nha Trang

    2.1.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên

    2.1.1.1. Vị trí địa lý

    Thành phố Nha Trang là một thành phố biển nằm ở cực đông Việt Nam, là

    tỉnh lỵ của tỉnh Khánh Hòa, thuộc vùng Nam Trung bộ, có diện tích là 250.692 km

    2

    ,

    trải dọc theo chiều dài của đất nước từ vĩ độ bắc 12

    o

    8’33” đến 12

    o

    25’18” và từ

    kinh độ đông 109

    o

    6’16” đến 109

    o

    14’30”.

    Hình 2.1: Bản đồ thành phố Nha Trang – Nguồn: Samthienha.com

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tour Du Lịch Kim Bôi
  • #15 Món Đặc Sản Đà Lạt Làm Quà Vô Cùng Nổi Tiếng
  • Tour Du Lịch Bắc Kinh Thượng Hải ❼ Ngày Từ Hà Nội
  • Chia Sẻ Những Kinh Nghiệm Du Lịch Bụi Rạch Giá: Ăn Gì, Chơi Gì, Ở Đâu?
  • 16 Giờ Du Lịch Bụi Rạch Giá
  • Phát Triển Bền Vững Du Lịch Biển Nha Trang

    --- Bài mới hơn ---

  • Nguyễn Thị Hải Lê. Văn Hóa Sinh Thái Biển Trong Phát Triển Du Lịch Bền Vững Ở Nha Trang
  • Giải Pháp Cho Bài Toán Phát Triển Du Lịch Bền Vững Ở Khánh Hòa
  • Phát Triển Du Lịch Bền Vững Là Gì?
  • Phát Triển Du Lịch Bền Vững Tại Cù Lao Chàm
  • Phát Triển Du Lịch Biển Bền Vững Tại Việt Nam
  • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

    KHOA KINH TẾ

    BỘ MÔN QUẢN TRỊ DU LỊCH

    KỶ YẾU

    HỘI THẢO KHOA HỌC

    Phát triển bền vững du lịch biển Nha Trang – Khánh Hòa

    Sustainable marine tourism development in Nha Trang – Khánh Hòa

    Nha Trang, ngày 11 tháng 01 năm 2013

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

    KHOA KINH TẾ

    BỘ MÔN QUẢN TRỊ DU LỊCH

    KỶ YẾU

    HỘI THẢO KHOA HỌC

    Phát triển bền vững du lịch biển Nha Trang – Khánh Hòa

    Sustainable marine tourism development in Nha Trang – Khánh Hòa

    Nha Trang, ngày 11 tháng 01 năm 2013

    1

    MỤC LỤC

    1. Quan điểm về phát triển du lịch bền vững và du lịch không bền vững ……………………………. 3

    2. Phát triển du lịch sinh thái bền vững tại Khánh Hòa ………………………………………………….. 6

    3. Nhận diện một số thách thức với du lịch bền vững ở thành phố Nha Trang …………………… 13

    4. Một số giải pháp xây dựng nhãn bông sen xanh cho các khách sạn tại Nha Trang…………. 19

    5. Những nguyên tắc phát triển du lịch bền vững …………………………………………………………. 23

    2

    LUẬN BÀN VỀ QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG

    VÀ KHÔNG BỀN VƯNG

    Th.S Lê Chí Công

    1. Dẫn nhập

    Sự phát triển nhanh và mạnh của ngành công nghiệp không khói trong những năm vừa qua

    đã và đang mang lại nguồn thu quan trọng cho các nền kinh tế. Hơn nữa, với tiềm năng hết sức to

    lớn của mình, du lịch ngày càng được xem là một trong những ngành kinh tế lớn của thế giới. Tuy

    nhiên, cũng như các ngành kinh tế khác phát triển của ngành du lịch ngày càng nhận được nhiều sự

    quan tâm hơn và đã được đặt trong bối cảnh của sự phát triển hướng tới tính bền vững. Vì thế, chủ

    đề phát triển du lịch bền vững đang được nhiều nhà khoa học, các nhà quản lý ở trong và ngoài nước

    nước hết sức quan tâm. Để có cơ sở về mặt lý luận cho phát triển các nghiên cứu tiếp theo, trong

    khuôn khổ Hội thảo này tác giả xin bước đầu luận bàn đến quan điểm phát triển du lịch bền vững, và

    không bền vững.

    2. Phát triển du lịch bền vững và không bền vững

    2.1

    Quan điểm phát triển du lịch bền vững

    Butler’s (1993) cho rằng phát triển du lịch bền vững là quá trình phát triển và duy trì trong

    Du lịch bền vững

    Chậm

    Phù hợp

    Dài hạn

    Theo chất lượng

    Tìm kiếm sự cân bằng

    Địa phương

    Quy hoạch trước,

    triển khai sau

    Theo quan điểm

    Toàn bộ

    Phân tán

    Quanh năm, cân bằng

    Địa phương

    Bản địa

    Tập trung, theo đối tượng

    Vừa phải, tiết kiệm

    Sản xuất tại địa phương

    Có chất lượng

    Số lượng ít

    Không

    Thông cảm và lịch thiệp

    Trở lại tham quan

    4

    Du lịch không bền vững

    Nhanh

    Không

    Không phù hợp

    Ngắn hạn

    Theo số lượng

    Tìm kiếm sự tối đa

    Trung ương

    Không có quy hoạch,

    triển khai tùy tiện

    Theo dự án

    Vùng trọng điểm

    Tập trung

    Thời vụ, cao điểm

    Bên ngoài

    Theo thị hiếu của du khách

    Tràn lan

    Lãng phí

    Không

    Nhập khẩu

    Kém chất lượng

    Số lượng nhiều

    Không

    Không ý tứ

    Không trở lại tham quan

    5

    6

    vệ, hạn chế những tác động tiêu cực do khách tham quan gây ra, và tạo ra ích lợi cho những người dân

    địa phương tham gia tích cực.”

    Ở Việt Nam, tại Hội thảo quốc gia về “Xây dựng chiến lược phát triển du lịch sinh thái ở

    Việt Nam” đã đưa ra định nghĩa: “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn

    hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững,

    với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”.

    Như vậy, có thể nói du lịch sinh thái biển là loại hình du lịch dựa vào các nguồn tài nguyên

    thiên nhiên gắn liền với biển và văn hóa bản địa vùng biển, gắn với giáo dục môi trường biển, có

    đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững hệ sinh thái biển, với sự tham gia tích cực của

    cộng đồng địa phương vùng biển.

    Du lịch sinh thái biển có bản chất và mục tiêu đảm bảo cho cả việc bảo tồn và mang lại lợi

    ích kinh tế thông qua việc giúp đỡ cộng đồng địa phương quản lý tài nguyên của họ. Do đó, du lịch

    sinh thái biển được coi như một hoạt động bảo tồn giúp cho quá trình phát triển bền vững về tài

    nguyên và môi trường biển. Tuy nhiên, tính bền vững của tài nguyên sẽ tồn tại và phát triển khi mức

    độ sử dụng một tài nguyên không vượt quá mức độ bổ sung của tài nguyên đó. Thực tế, sự tồn tại và

    phát triển du lịch sinh thái biển luôn gắn với môi trường biển và trong nhiều trường hợp hoạt động

    du lịch đã làm mất đi tính hấp dẫn cùng với sự xuống cấp của tài nguyên và môi trường tự nhiên.

    Bên cạnh đó, phát triển bền vững và bảo vệ môi trường chịu sức ép lớn từ những quan điểm

    chính trị. “Phi chính trị hoá môi trường” là một quan điểm nhằm làm cho các vấn đề môi trường trở

    nên ít được quan tâm. Trong khi đó thì quan điểm “Xanh hoá chính trị” lại đặt các chính sách, chiến

    lược đều phải được thẩm định về mặt môi trường. Mặc dù “Xanh hoá chính trị” là con đường ngắn

    nhất dẫn tới phát triển bền vững, nhưng hình như khả năng “Xanh hoá chính trị” sẽ khó được thực

    hiện vì chính các nhà lập kế hoạch là những người đầu tiên cảm thấy bị mất quyền lực. Phát triển

    cực đoan và môi trường cực đoan là hai quan điểm đối lập cả hai đều nhằm làm tan rã tính hệ thống

    của môi trường. Tệ nạn tham nhũng, lối sống tiêu thụ, bùng nổ dân số là những sức ép dễ thấy, tuy

    nhiên thay đổi được hiện trạng này lại là vấn đề cực kỳ khó khăn. Cuối cùng, mặt trái của khoa học

    và công nghệ là thách thức khó quản trị nhất. Vì chúng chỉ được nhận thấy sau một thời gian khá dài

    kể từ khi các tiến bộ khoa học và công nghệ được ứng dụng vào thực tiễn. Vì lẻ đó nên việc nghiên

    cứu phát triển du lịch sinh thái, đặc biệt là du lịch sinh thái biển trong mối quan hệ với sự phát

    triển bền vững nhằm mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương thực sự cần thiết.

    2. Tác động của hoạt động du lịch sinh thái biển đến tài nguyên và môi trường tự nhiên

    Tác động từ hoạt động du lịch sinh thái và việc thực hiện các dự án quy hoạch phát triển du

    lịch thường tác động đến tài nguyên môi trường tự nhiên, gồm những thành phần: tài nguyên nước,

    7

    tài nguyên không khí, tài nguyên đất và cát, tài nguyên sinh vật… Trong phạm vi bài viết, tác giả đề

    cập đến sự hưởng của du lịch sinh thái biển lên chính tài nguyên và môi trường biển.

    2.1. Ảnh hưởng đến tài nguyên nước

    Du lịch sinh thái biển phát triển kéo theo sự phát triển các khách sạn, nhà nghỉ, cửa hàng ăn uống

    và các dịch vụ khác làm tăng lượng nước thải sinh hoạt (thường xử lý không triệt để) lâu ngày

    ngấm xuống nguồn nước ngầm, ảnh hưởng đến nguồn nước giếng ở các địa phương.

    Du khách xả rác bừa bãi, dầu mỡ do phương tiện giao thông đường thủy trong quá trình phục vụ

    các tour trên biển nên ảnh hưởng đến nước sạch ở các sông, biển.

    Theo kết quả khảo sát môi trường của chúng tôi Phạm Trung Lương tại Nha Trang cho hay chỉ số

    ô nhiễm đo trong nước và hàm lượng kim loại nặng đã vượt quá tiêu chuẩn cho phép. Điều này

    làm hạn chế lớn tới chất lượng các bãi tắm tự nhiên.

    2.2. Ảnh hưởng đến không khí

    Các phương tiện giao thông vận tải phục vụ du khách thải vào không khí khói bụi và các chất

    gây ô nhiễm. Đồng thời, một số hoạt động của du lịch như ăn uống thường diễn ra cùng một thời

    điểm, dẫn đến việc gia tăng bụi khói, làm nóng dần bầu không khí.

    2.3. Ảnh hưởng đến tài nguyên đất, cát

    Phát triển du lịch kéo theo việc xây dựng các cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du

    lịch, điều này đã làm cho diện tích biển bị xâm lấn và thu hẹp.

    Việc quy hoạch du lịch sinh thái không đúng nơi, xây dựng các công trình hạ tầng không đúng

    quy cách cũng là nguyên nhân khiến tài nguyên đất bị phá vỡ.

    Tại Khánh Hoà, ven bờ biển xuất hiện các lớp nhầy màu xám đen dày cả gang tay, trộn với xác

    chết của sinh vật, gây ô nhiễm nghiêm trọng. Một số khu vực tại Tp. Nha Trang có nhiều loại rác

    thải, từ túi nilon, bao bì, vỏ bánh kẹo đến vỏ bánh lọc, vỏ hoa quả,… Rác và nước thải ra đã gây

    ô nhiễm nghiêm trọng bờ biển, gây ấn tượng không tốt cho du khách đến tham quan.

    2.4. Ảnh hưởng lên tài nguyên sinh vật và đa dạng sinh học biển

    Hoạt động du lịch làm gia tăng lượng rác thải, gây ô nhiễm môi trường biển, tác động tới sự tăng

    trưởng của nhiều loài sinh vật biển.

    Các hành động thái quá của khách như: đánh bắt hải sản, gặt hái san hô,… của người dân để

    phục vụ du khách cũng là nguyên nhân làm giảm sút cả số lượng và chất lượng của giới sinh vật

    trong phạm vi khu du lịch.

    8

    Việc phát triển thiếu quy hoạch các khu vực thuộc phạm vi các khu bảo tồn tự nhiên biển, vùng

    ven biển có thể phá huỷ môi trường cư trú, gây ô nhiễm, ảnh hưởng đến các loài sinh vật biển.

    3. Một số khuyến nghị nhằm phát triển du lịch sinh thái biển Khánh Hòa bền vững

    3.1. Trách nhiệm với các nhà hoạch định chính sách

    Tổ chức quản lý việc sử dụng và bảo vệ tài nguyên du lịch biển

    Thành lập ban quản lý có trách nhiệm quản lý, kiểm tra và giám sát việc khai thác, bảo vệ, tôn

    tạo tài nguyên môi trường du lịch biển ở Tp. Nha Trang và các huyện, đảo trong tỉnh có gắn liền

    với biển.

    Quy hoạch phát triển du lịch sinh thái biển bền vững

    Tiến hành lập và thực hiện quy hoạch phát triển du lịch sinh thái biển bền vững, đảm bảo phát

    triển du lịch sinh thái biển có quy hoạch, thực hiện các mục tiêu, nguyên tắc và yêu cầu phát

    triển du lịch bền vững; hòa nhập chung trong quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.

    Tiến hành phân chia các khu vực để đầu tư bảo vệ tài nguyên có hiệu quả.

    Duy trì tính đa dạng sinh học, sử dụng và bảo vệ tài nguyên môi trường du lịch sinh thái

    biển một cách bền vững

    Sử dụng nguồn quỹ hỗ trợ cho công tác giáo dục môi trường biển, xây dựng thu gom và xử lý

    chất thải đúng quy định, khuyến khích việc tái chế và sử dụng các sản phẩm tái chế.

    Tăng cường thu hút vốn đầu tư và các nguồn lực cho việc thực hiện các dự án, chiến lược,

    chương trình hành động nhằm bảo vệ sự đa dạng sinh học, bảo tồn các sinh vật biển đặc hữu quý

    hiếm, các hệ sinh thái bị phá hủy.

    Tiến hành thu phí môi trường, sử dụng các công cụ tài chính thưởng phạt nhằm ngăn chặn việc

    khai thác bừa bãi, phá hủy và gây hậu quả xấu cho tài nguyên và môi trường biển trong du lịch.

    Áp dụng các quy chế ngăn chặn sự phá hủy các hệ sinh thái, các hành động khai thác sinh vật

    biển mang tính hủy diệt. Nghiêm cấm việc sử dụng các loại sinh vật biển quý hiếm có nguy cơ bị

    tuyệt chủng để làm sản phẩm lưu niệm, hoặc thực phẩm phục vụ cho nhu cầu của du khách.

    9

    Tăng cường hợp tác, thu hút đầu tư thực hiện các dự án hỗ trợ phát triển kinh tế và du lịch địa

    phương, khuyến khích cộng đồng tham gia vào hoạt động du lịch và bảo tổn sinh thái biển, phát

    triển kinh tế sản xuất hàng hóa cung cấp cho du khách để giảm sự lệ thuộc của cộng đồng địa

    phương và tác động tiêu cực của họ lên các hệ sinh thái.

    Ưu tiên miễn giảm hoặc không thu thuế trong thời gian nhất định với các hình thức đầu tư thuần

    túy cho hoạt động bảo vệ môi trường du lịch biển…

    3.2. Trách nhiệm với các đơn vị tổ chức đào tạo

    Nguồn nhân lực du lịch được đào tạo có chất lượng cao, được trang bị những kiến thức về nghiệp

    vụ, phẩm chất nói chung và những kiến thức về tài nguyên môi trường du lịch, văn hóa đầy đủ sẽ

    làm cho du khách nhận thức đúng và có những hành vi đúng đắn, có ý thức trách nhiệm đóng góp

    cho việc bảo vệ tài nguyên môi trường du lịch và nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng địa

    phương. Để làm được điều này, Sở VHTT&DL tỉnh Khánh Hòa khi thiết lập và thực hiện các dự án

    quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch tỉnh cần hoạch định các chiến lược giải pháp đầu tư nâng cao

    chất lượng nguồn nhân lực và nhận thức của các đối tượng tham gia du lịch về tài nguyên môi

    trường du lịch. Riêng các trường, trung tâm đào tạo du lịch cần tăng cường đào tạo nhân lực, nâng

    cao nhận thức của các đối tượng tham gia du lịch về tài nguyên và môi trường tự nhiên, bao gồm:

    Đưa nội dung phát triển du lịch bền vững, tài nguyên môi trường, văn hóa vào chương trình

    đào tạo cũng như trong các chương trình giáo dục du lịch cho cộng đồng địa phương.

    Ưu tiên đào tạo, tuyển dụng nguồn nhân lực du lịch là người địa phương, đặc biệt chú ý đào tạo

    cán bộ lãnh đạo quản lý là người địa phương và nâng cao nhận thức của họ về tài nguyên và môi

    trường tự nhiên.

    Tăng cường phối hợp, hợp tác đầu tư giữa các cơ sở đào tạo trong nước với các tổ chức và cơ sở

    đào tạo quốc tế, đào tạo nguồn nhân lực du lịch nói chung và đặc biệt là giáo dục nâng cao nhận

    thức của các đối tượng tham gia du lịch về tài nguyên và môi trường.

    Lồng ghép giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng về các vấn đề phát triển du lịch bền vững, tài

    nguyên và môi trường du lịch với các chương trình phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội.

    Dành một tỷ lệ thỏa đáng thu nhập từ du lịch cho việc đầu tư giáo dục nâng cao hiểu biết của các

    đối tượng tham gia du lịch về các vấn đề tài nguyên và môi trường du lịch.

    Khuyến khích phát triển nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ trong lĩnh vực môi trường

    biển; ưu tiên các dự án đầu tư du lịch có giải pháp hữu hiệu cho vấn đề môi trường, các loại hình

    du lịch thân thiện với môi trường.

    10

    3.3 Trách nhiệm với các đơn vị tổ chức du lịch

    Các nhà điều hành là những người có hiểu biết toàn diện về tổ chức kinh doanh, song phải luôn

    tôn trọng những nguyên tắc của du lịch sinh thái biển.

    Đảm bảo tiếp thị du lịch sinh thái biển (du lịch xanh) phản ánh đúng chất lượng sản phẩm du

    lịch, các chính sách và những hoạt động có lợi cho môi trường du lịch, hướng dẫn cho du khách

    những điều họ cần làm, nên làm, những điều họ không nên làm và không được làm về phương

    diện tài nguyên môi trường, văn hóa và xã hội.

    Cung cấp cho du khách những thông tin về việc cần tôn trọng những di sản văn hóa địa phương,

    tài nguyên môi trường và dân cư ở những nơi họ đến. Đồng thời khuyến khích du khách sử dụng

    những sản phẩm du lịch có lợi cho tài nguyên môi trường, kinh tế, và xã hội địa phương.

    Hướng dẫn viên du lịch sinh thái phải có kiến thức, nắm được đầy đủ thông tin về đặc điểm môi

    trường tự nhiên và sinh thái biển, văn hoá cộng đồng địa phương; có trách nhiệm phổ biến nội

    quy của tour du lịch sinh thái với du khách nhằm hạn chế hành vi gây hại hệ sinh thái và môi

    trường của du khách, bằng cách nào đó giúp khơi dậy và kích thích sự hưng phấn của khách du

    lịch sinh thái muốn tìm hiểu về hệ sinh thái biển và có ý thức bảo vệ hệ sinh thái biển.

    11

    thác. Kết quả là các dự án luôn tác động xấu đến cảnh quan, môi trường biển mà lẽ ra người ta

    hoàn toàn có thể hạn chế được”.

    Như vậy, quản lý phát triển du lịch sinh thái biển bền vững là hoạt động không ngừng phải đổi mới

    trên cơ sở khoa học kinh tế và xã hội. Theo ý kiến của Phó GSTS. Nguyễn Tác An – Viện trưởng

    Viện Hải dương học Nha Trang thì không có bất cứ một mô hình quản lý phát triển nào có thể áp

    dụng có hiệu quả cho tất cả mọi vùng địa lý nên trong điều kiện cụ thể của Khánh Hòa, quản lý phát

    triển bền vững hoạt động du lịch biển là nhằm xây dựng cơ chế, chính sách và công cụ phù hợp, dựa

    trên cơ sở khoa học, kinh tế, xã hội, đặc thù của tỉnh, nhằm đạt được mục tiêu là xây dựng, phát

    triển ngành kinh tế du lịch Khánh Hòa có vị thế cạnh tranh cao trong hệ thống kinh tế của Việt Nam,

    của khu vực và quốc tế.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Du lịch sinh thái (2009), Lê Huy Bá, NXB Giáo dục

    2. Môi trường và phát triển bền vững (2009), Nguyễn Đình Hòe, NXB Giáo dục

    3. Tài nguyên du lịch (2009), Bùi Thị Hải Yến, NXB Giáo dục

    4. Tư duy sáng tạo sản phẩm du lịch (2011), Nguyễn Thu Hạnh, NXB Xây dựng

    5. Website:

    www.dulichbenvung.vn

    http://www.fc4.edu.vn/du-lich-bien-vn-lai-dau-dau-chuyen-pht-trien-ben-vung-2/

    http://thuvienkhanhhoa.gov.vn/Default.aspx?ArticleId=3ccd50d7-ee5e-4a7d-a38fc9bd804efcfa

    http://vnexpss.net/gl/khoa-hoc/bao-ve-moi-truong/2012/07/o-nhiem-moi-truong-tai-cacdiem-du-lich-ven-bien/

    www.wikipedia.org

    12

    NHẬN DIỆN MỘT SỐ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI DU LỊCH BỀN VỮNG

    TẠI THÀNH PHỐ NHA TRANG

    Th.S Phan Thị Kim Liên

    Mục đích của du lịch bền vững ra là mang lợi ích cho cộng đồng địa phương nhưng vẫn bảo tồn

    nguồn lợi tự nhiên và giá trị văn hoá truyền thống của địa phương. Tuy nhiên, thực tế hiện nay du

    lịch Việt Nam nói chung, thành phố Nha Trang nói riêng đang phải đối mặt với một số thách thức

    trong quá trình gìn giữ và phát triển du lịch bền vững. Sự phát triển quá nóng của kinh tế du lịch

    mang lại hình ảnh lộn trộn của sự phát triển ồ ạt thiếu kiểm soát làm mất cảm tình đối với du khách

    khi lưu trú. Sự ô nhiễm văn hóa từ sự phát triển du lịch quá nhanh đã góp phần làm giảm các giá trị

    văn hóa địa phương. Ngoài ra, một thách thức đáng chú ý nhất là sự phát triển nóng du lịch biển đã

    gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường sinh thái nơi đây. Dựa vào việc xem xét những thách thức

    trên đối với du lịch bền vững Nha Trang, bài viết đề xuất một số giải pháp trên bốn phương diện,

    nhà chức trách, các doanh nghiệp du lịch, cộng đồng địa phương và du khách, để giúp cho lịch bền

    vững ở thành phố Nha Trang được đảm bảo đúng nguyên tắc phát triển của nó.

    1. Bối cảnh chung

    Du lịch được ví như ngành công nghiệp không khói đóng góp phần lớn vào thu nhập quốc gia,

    nó cũng là một trong những ngành công nghiệp lớn nhất trên toàn cầu, có thị trường phát triển

    nhanh tập trung vào các môi trường còn hoang sơ như các vùng biển và các khu bảo tồn biển.

    Du lịch mang lại nhiều lợi ích cho cộng đồng địa phương thông qua việc tạo ra việc làm và

    nguồn thu nhập từ du khách. Tuy nhiên, du lịch cũng có thể đe doạ đến nguồn lợi của địa phương.

    Chính vì vậy du lịch bền vững ra đời và được lập kế hoạch một cách cẩn thận để mang những lợi

    ích đến cho cộng đồng địa phương nhưng vẫn bảo tồn nguồn lợi tự nhiên, và tôn trọng các giá trị

    văn hoá truyền thống của địa phương, đồng thời tuyên truyền và hướng dẫn du khách cũng như cư

    dân địa phương về tầm quan trọng của việc bảo tồn các giá trị này.

    Có thể đưa ra định nghĩa du lịch bền vững như sau: “Du lịch bền vững là du lịch mà giảm thiểu

    các chi phí và nâng cao tối đa các lợi ích của du lịch cho môi trường tự nhiên và cộng đồng địa

    phương và có thể được thực hiện lâu dài nhưng không ảnh hưởng xấu đến nguồn lợi mà nó phụ

    thuộc vào”, hay “du lịch bền vững là việc di chuyển và tham quan đến các vùng tự nhiên một cách

    có trách nhiệm với môi trường để tận hưởng và đánh giá cao tự nhiên (và tất cả những đặc điểm văn

    hoá kèm theo, có thể là trong quá khứ và cả hiện tại) theo cách khuyến cáo về bảo tồn, có tác động

    13

    thấp từ du khách và mang lại những lợi ích cho sự tham gia chủ động về kinh tế – xã hội của cộng

    đồng địa phương (World Conservation Union,1996).

    Du lịch bền vững mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương, nhưng hiện tại vấn đề này ở Nha

    Trang đang đối mặt với một số thách thức cần được xem xét. Bài viết này sẽ đi vào xem xét những

    thách thức đáng chú ý mà Nha Trang đang phải đối mặt trong việc duy trì và phát triển du lịch bền

    vững, qua đó đưa ra một số giải pháp hỗ trợ việc duy trì du lịch bền vững ở Nha Trang.

    2. Nhận diện một số thách thức đối với du lịch bền vững tại Nha Trang

    Du lịch bền vững cần đảm bảo 3 yếu tố: lợi ích kinh tế, môi trường và cộng đồng (International

    Ecotourism Society, 2004). Tuy nhiên, hiện tại du lịch Nha Trang đang đối mặt với thách thức là 3

    các yếu tố trên chưa được đảm bảo hoạt động đúng nguyên tắc và hướng phát triển của nó.

    2.1 Thách thức từ sự phát triển kinh tế

    Du lịch góp phần lớn cho sự phát triển kinh tế Nha Trang thông qua việc tạo việc làm và thu

    nhập cho cộng đồng địa phương từ hoạt động chi tiêu của du khách. Tuy nhiên, những năm gần đây

    ngành du lịch Nha Trang phát triển quá nhanh, dẫn đến sự xuất hiện ngày càng đông các doanh

    nghiệp du lịch như khách sạn, nhà hàng, các đơn vị lữ hành làm mất đi vẻ đẹp đặc trưng của thành

    phố. Ngoài ra sự nâng giá phòng thiếu kiểm soát của các nhà quản lý trong các thời điểm nóng và

    sự phân biệt giá đối với khách quốc tế và khách nội địa; cộng thêm sự lôi kéo khách một cách ồ ạt

    đã làm giảm sự lưu trú và việc quay trở lại của khách.

    2.2 Thách thức từ yếu tố văn hóa – xã hội

    Một trong những thách thức lớn nhất đối với du lịch bền vững là sự ô nhiễm văn hóa (World

    Tourism Forum, 2012). Bản chất của du lịch bền vững là không gây hại đến các cấu trúc xã hội hoặc

    văn hoá của cộng đồng, mà ngược lại du lịch bền vững thể hiện sự tôn trọng văn hoá và truyền thống

    địa phương. Trên thực thế, có một xu hướng tiêu cực cho du lịch bền vững ở Nha Trang là văn hóa

    bị ô nhiễm bởi những hành vi tận hưởng thái quá của một bộ phận du khách quốc tế.

    Du khách quốc tế khi đi du lịch ngoài mục đích được hưởng thụ vẻ đẹp của điểm đến, một bộ

    phận khách còn có tâm lý muốn được làm những điều mình thích mà ở cuộc sống thường nhật cần

    phải kiểm soát như uống rượu thâu đêm, hút cần sa v.v… điều này đã góp phần làm tăng các tệ nạn

    như ma túy và mại dâm.

    Do sự cám dỗ của việc kiếm tiền dễ dàng, một số ngư dân ngừng việc đánh bắt cá để chuyển

    hướng sang làm tour du lịch thuyền, điều này góp phần làm xóa dần các văn hóa làng nghề; một bộ

    14

    phận trẻ em khu vực nông thôn không thích đi học để đi làm trò giải trí cho du khách vì nghĩ rằng

    đây là cách kiếm tiền nhanh hơn, giáo dục vì thế bị ảnh hưởng tụt lùi. Đây là một mô hình đáng buồn

    có thể được nhìn thấy ở trên khắp thế giới nói chung và ở Nha Trang, Việt Nam nói riêng vì tính bền

    vững của du lịch bị vi phạm do tính chất phát triển kinh tế thiếu tầm nhìn của một số bộ phận người

    dân.

    Ngoài ra các giá trị văn hóa cũng đang bị hòa nhập một cách thiếu kiểm soát và tiêu cực, nhất là

    sự gia tăng du khách quốc tế đã du nhập một số văn hóa không phù hợp, thậm chí làm ảnh hưởng

    xấu đến văn hóa truyền thống địa phương.

    Sự phát triển quá tải các điểm du lịch tâm linh góp phần phá hủy các giá trị văn hóa tâm linh địa

    phương. Số lượng khách đến thăm gia tăng tại các đình, chùa như Chùa Long Sơn, Tháp Bà Po-naga v.v… làm giảm đi sự tôn nghiêm của những địa điểm văn hóa tâm linh này, nhất là khi sự phát

    triển kinh tế “ăn theo” của những người bán hàng rong, ăn xin.

    2.3 Thách thức từ sự ô nhiễm môi trường

    Bản chất của du lịch bền vững là gây tác động thấp đến nguồn lợi tự nhiên nói chung và các khu

    bảo tồn nói riêng. Nhưng trên thực tế hiện nay ở Nha Trang sự phát triển nóng của ngành du lịch đã

    làm cho việc tham quan ồ ạt thiếu sự hướng dẫn bảo vệ môi trường đã góp phần phá hỏng hệ sinh

    thái các khu bảo tồn địa phương.

    Du lịch biển được xem là một vấn đề rất quan trọng của du lịch bền vững. Sự biệt lập của các

    khu bảo tồn biển đảo giúp tạo nên sự đa dạng sinh học riêng biệt ở quần đảo đó, nhưng bằng cách

    mở cửa cho du lịch, một số đa dạng sinh học có nguy cơ bị phá hủy. Các hoạt động của du lịch biển

    như lặn, câu cá, và chèo thuyền đều được xem là một trong những tác nhân đáng kể của sự ô nhiễm

    và phá hoại các rạn san hô và làm cạn kiệt nguồn tài nguyên biển. Một ví dụ điển hình là, Hòn Mun

    15 năm trở về trước được xem là khu bảo tồn biển đa dạng sinh thái bậc nhất Đông Nam Á (WWF),

    nhưng thực tế hiện nay các rạn san hô quý hiếm ở hòn đảo này và những đảo lân cận đã bị phá hủy

    nghiêm trọng do sự thiếu ý thức bảo vệ của một bộ phận khách du lịch.

    Ngoài ra vấn đề ô nhiễm tiếng ồn cũng là một thách thức đáng chú ý khác của du lịch bền vững

    Nha Trang. Du khách phương tây thường thích nhiều hoạt động giải trí về đêm nên các quầy bar

    xuất hiện và hoạt động thâu đêm gây nên sự ô nhiễm tiếng ồn đến cộng đồng dân cư xung quanh,

    nổi bật là khu vực gọi là “khu phố Tây” trên cụm đường Biệt Thự, Nguyễn Thiện Thuật, Hùng

    Vương, và Trần Quang Khải.

    15

    17

    4. Kết luận:

    Bản chất của du lịch bền vững là mang lại các lợi ích ngắn hạn và dài hạn cho môi trường và

    cộng đồng địa phương từ du lịch mà không gây tác hại cho các nguồn lại khác. Tuy nhiên, du lịch

    bền vững cũng đang đối mặt mới một số thách thức, bài viết này đã xác định một số thách thức đối

    đối với du lịch bền vững ở thành phố Nha Trang, Khánh Hòa. Qua đó đưa ra một số đề xuất chính

    sách và phương pháp để hỗ trợ trong lĩnh vực này.

    18

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG NHÃN BÔNG SEN XANH

    CHO CÁC KHÁCH SẠN TẠI NHA TRANG – KHÁNH HÒA

    Đoàn Nguyễn Khánh Trân

    Ngày nay, du lịch đã và đang trở thành một ngành kinh tế quan trọng của nhiều quốc gia. Song

    một vấn đề quan trọng không kém là làm sao phát triển du lịch một cách bền vững hơn. Nhìn nhận được

    vấn đề đó Bộ VHTT&DL đã ban hành Bộ tiêu chí Nhãn du lịch bền vững Bông sen xanh áp dụng đối với

    các cơ sở lưu trú du lịch tại Việt Nam để đánh giá hoạt động bảo vệ môi trường, sử dụng hiệu quả các

    tài nguyên, góp phần phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương và phát triển du lịch bền vững.

    Bài viết này sẽ giúp người đọc có cái nhìn tổng quát về các tiêu chí đánh giá và đưa ra các giải pháp,

    chính sách phù hợp để các cơ sở lưu trú phát triển mình một cách hiệu quả và bền vững hơn.

    1. Khái niệm Nhãn du lịch bền vững Bông sen xanh

    Nhãn du lịch bền vững Bông sen xanh (sau đây gọi là Nhãn Bông sen xanh) là nhãn hiệu cấp

    cho các cơ sở lưu trú du lịch (viết tắt là CSLTDL) đạt tiêu chuẩn về bảo vệ một trường và phát triển

    bền vững. CSLTDL được cấp Nhãn Bông sen xanh là đơn vị đã có những nỗ lực trong việc bảo vệ

    môi trường, sử dụng hiệu quả tài nguyên, năng lượng, góp phần bảo vệ các di sản, phát triển kinh tế,

    văn hóa, xã hội của địa phương và phát triển du lịch bền vững.

    2. Tổng quát Bộ tiêu chí Nhãn du lịch bền vững Bông sen xanh

    Bộ tiêu chí Nhãn Bông sen xanh gồm 81 tiêu chí với tổng số 154 điểm và 25 điểm thưởng,

    chia làm 3 cấp: cấp cơ sở (30 tiêu chí), cấp khuyến khích (29 tiêu chí), cấp cao (22 tiêu chí)

    Tiêu chí cấp cơ sở là những tiêu chí cần thiết, dễ thực hiện, chủ yếu mang tính quản lý nội

    bộ.

    Tiêu chí cấp khuyến khích và cấp cao là các tiêu chí yêu cầu cao hơn, khó hơn, đòi hỏi phải

    đầu tư nhiều hơn nhằm khuyến khích các cơ sở lưu trú du lịch liên tục đổi mới, cố gắng để đạt được

    ở mức cao hơn.

    Tiêu chí thưởng với tổng số điểm thưởng 25 điểm, áp dụng cho các CSLTDL đã đạt chứng

    chỉ Công trình Xanh – LOTUS (15 điểm) hay được cấp chứng chỉ ISO 14001 chứng nhận đạt tiêu

    chuẩn quốc tế về hệ thống quản lý môi trường (10 điểm).

    Nguyên tắc cho điểm: Mỗi tiêu chí cấp cơ sở: 1 điểm.

    – Mỗi tiêu chí cấp khuyến khích: 2 điểm.

    19

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luận Án: Kinh Tế Du Lịch Theo Hướng Phát Triển Bền Vững Ở Huế
  • Phát Triển Du Lịch Đà Nẵng Bền Vững Theo Hướng Từ “lượng” Sang “chất”
  • Giải Pháp Chủ Yếu Phát Triển Du Lịch Đà Nẵng Theo Hướng Bền Vững
  • Bến Tre: Điểm Nhấn Trong Phát Triển Du Lịch?
  • Bến Tre Phát Triển Du Lịch Bền Vững
  • Phát Triển Du Lịch Bền Vững

    --- Bài mới hơn ---

  • Kiên Giang: Phát Triển Du Lịch Thành Ngành Kinh Tế Mũi Nhọn
  • Quy Hoạch Phát Triển Du Lịch Tỉnh Kiên Giang Đến Năm 2022, Tầm Nhìn Đến Năm 2030 – Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch (Itdr)
  • Định Hướng Quy Hoạch Tổng Thể Xây Dựng Đảo Phú Quốc
  • Phát Triển Toàn Diện Kinh Tế Biển: Xây Dựng Phú Quốc Thành Trung Tâm Dịch Vụ, Du Lịch Tầm Quốc Tế
  • Tổng Hợp Địa Chỉ Cửa Hàng Bán Đồ Phượt Tốt, Chuẩn Ở Hà Nội
  • Những năm gần đây, ngành Du lịch Nha Trang tiếp tục phát triển mạnh mẽ, lượng khách du lịch quốc tế đến thành phố biển tăng nhanh. Không chỉ vậy, du lịch Nha Trang ngày càng đi vào chiều sâu, hướng đến sự phát triển bền vững.

    Khẳng định thương hiệu

    5 năm trở lại đây, TP. Nha Trang đã phát triển rất nhanh, ngày càng mang dáng dấp của một đô thị du lịch hiện đại. Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch không ngừng được đầu tư; sản phẩm du lịch Nha Trang ngày càng đa dạng; việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, phục vụ du lịch ngày càng được đẩy mạnh. Theo thống kê của Sở Du lịch, đến thời điểm này, Nha Trang có gần 800 cơ sở lưu trú với hơn 36.000 phòng, trong đó có hơn 100 cơ sở lưu trú chất lượng 3 – 5 sao, đáp ứng nhu cầu lưu trú của du khách kể cả mùa cao điểm. Những năm qua, lượng khách du lịch đến Nha Trang tăng rất nhanh. Năm 2022, Nha Trang chỉ đón 4,2 triệu lượt khách du lịch thì đến cuối năm 2022 đã đón 6,5 triệu lượt khách (tăng 55%), trong đó có gần 3 triệu lượt khách quốc tế, tăng hơn 181,9% so với năm 2022 (hơn 1 triệu lượt khách). Năm 2022, doanh thu du lịch trên địa bàn Nha Trang được 24.258,7 tỷ đồng, tăng 211,2% so với năm 2022 (7.794 tỷ đồng).

     

    Sự phát triển của Nha Trang không chỉ ở những con số về cơ sở lưu trú, lượng khách du lịch mà còn ở chất lượng dịch vụ. Bên cạnh lợi thế về “biển xanh, cát trắng, nắng vàng” để làm du lịch, cộng đồng làm du lịch của thành phố còn biết tạo ra những sản phẩm du lịch hấp dẫn như: Tắm bùn, lặn biển, các môn thể thao nước. Hiện nay, Nha Trang là địa phương nổi tiếng nhất trong cả nước về lặn biển và tắm bùn. Lặn biển ở Hòn Mun (vịnh Nha Trang), tắm bùn ở I-resort, Trung tâm Suối khoáng nóng Tháp Bà, thưởng thức Ducashow… là những trải nghiệm mà khách du lịch khó có thể bỏ qua khi đến Nha Trang. Đặc biệt, khu vui chơi giải trí Vinpearl Land đã trở thành điểm “check in” nổi tiếng nhất của thành phố biển. Các nhà đầu tư đã xây dựng các trung tâm mua sắm hiện đại như: Nha Trang Center, Vincom Plaza; xây dựng các sân golf đẳng cấp… để phục vụ du khách. Sự xuất hiện của các tập đoàn quản lý khách sạn hàng đầu thế giới như: Marriott,  InterContinental, Best Western, Accor, Wyndham, Park Hyatt… trong vai trò quản lý, điều hành đã góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch của Nha Trang.

    Bà Nguyễn Thị Lệ Thanh – Phó Giám đốc Sở Du lịch đánh giá, Nha Trang không chỉ là trung tâm du lịch nghỉ dưỡng mà còn đủ sức để đón tiếp các đoàn khách hội nghị cao cấp. Đầu năm 2022, Nha Trang đã được lựa chọn để tổ chức nhiều sự kiện quan trọng của APEC 2022. Với những kết quả đạt được, Nha Trang đã được National Geographic (Tạp chí địa lý du lịch của Mỹ) xếp vào top 50 điểm đến quan trọng trên thế giới.

     

    Khách du lịch tàu biển ghé Nha Trang.

     

    Phát triển du lịch gắn với bảo vệ môi trường

    Du lịch Nha Trang đang phát triển mạnh mẽ, trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, tạo động lực thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển. Những năm qua, TP. Nha Trang luôn kiên định theo hướng phát triển du lịch gắn với bảo vệ môi trường, phát huy giá trị di sản văn hóa. Cuối năm 2022, UBND TP. Nha Trang đã kiến nghị UBND tỉnh hạn chế việc cấp phép các công trình khách sạn cao tầng ở khu vực trung tâm thành phố để giữ nét đẹp yên bình cho thành phố biển. Việc khai thác du lịch ở khu vực vịnh Nha Trang luôn được gắn với việc bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường biển. Đặc biệt, TP. Nha Trang đã giữ được công viên bờ biển tuyệt đẹp chạy dọc theo đường Trần Phú – Phạm Văn Đồng để người dân và du khách đến vui chơi. Theo đánh giá của nhiều đoàn khách du lịch quốc tế, cung đường biển của TP. Nha Trang là cung đường biển đẹp nhất Việt Nam hiện nay.

    Công tác đảm bảo an toàn trong hoạt động du lịch, văn minh du lịch luôn được thành phố chú trọng. Thành phố cũng đã ban hành bộ quy tắc ứng xử văn minh du lịch trên địa bàn nhằm xây dựng hình ảnh và hình thành thói quen, hành vi ứng xử văn minh, thái độ lịch sự, thân thiện của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động làm việc trong ngành du lịch; đội ngũ quản lý và nhân viên các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh phục vụ khách du lịch; khuyến nghị những hành vi không phù hợp đối với du khách tại các điểm đến… Nhờ đó, những năm qua, môi trường du lịch ở Nha Trang đã tốt hơn. Tình trạng hàng rong chèo kéo khách du lịch; tình trạng trộm, cướp tài sản của du khách đã giảm.

    Tuy nhiên, hoạt động du lịch trên địa bàn thành phố vẫn còn bộc lộ hạn chế, trong đó đáng chú ý là tình trạng kẹt xe do lượng khách du lịch tăng cao, không gian đô thị ngày càng bức bối do quá nhiều khách sạn cao tầng. Nhiều chuyên gia cho rằng, cần phải tái cơ cấu để đưa du lịch Nha Trang lên một tầm cao mới, giữ vững thương hiệu du lịch của thành phố biển…

    Tại hội thảo về phát triển du lịch được tổ chức ở Nha Trang mới đây, ông Nicolas Urvois – Giám đốc Cấp cao Tập đoàn Tư vấn Du lịch THR (Dubai, UAE) khuyến cáo, để phát triển du lịch lên tầm cao, du lịch Nha Trang cần “chậm lại” để có cái nhìn toàn cảnh về thực trạng của mình; nghiên cứu, chọn lọc thị trường, định vị sản phẩm dịch vụ đặc trưng và xây dựng thương hiệu điểm đến.

    Dịch Covid-19 đã khiến du lịch Nha Trang gặp nhiều tổn thất. Hiện nay, hoạt động du lịch ở thành phố đang được khôi phục trở lại. Với những định hướng trên, trong thời gian tới, hy vọng du lịch Nha Trang sẽ phát triển lên tầm cao mới; thương hiệu du lịch Nha Trang sẽ tiếp tục lan tỏa ra thị trường quốc tế. 

    THÀNH NGUYỄN

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Du Lịch Khánh Hòa: Đổi Mới Để Phát Triển Bền Vững
  • Du Lịch Hội An Trước Định Hướng Thu Hút Dòng Khách Truyền Thống, Có Chi Tiêu Cao
  • Định Hướng An Toàn Cho Du Lịch Cần Thơ
  • Phát Triển Du Lịch Bình Định Giai Đoạn 2022 – 2022: Tạo Đà Tăng Tốc, Chuyển Biến Tích Cực
  • Phát Triển Du Lịch Ẩm Thực: Bài Toán Về Sự Khác Biệt
  • Tây Ban Nha Phát Triển Du Lịch Biển Bền Vững

    --- Bài mới hơn ---

  • Tour Bình Ba 2 Ngày 1 Đêm
  • Du Lịch Bình Ba 2 Ngày 1 Đêm Từ Cảng Cam Ranh
  • Tour Đảo Bình Ba 2 Ngày 1 Đêm【Trực Tiếp Tổ Chức】
  • Tour Bình Ba 2 Ngày 1 Đêm Giá Rẻ【 Du Lịch Nha Trang 】Lh: 0932.464.111
  • Tour Du Lịch Bình Ba
  • Nằm ở phía Tây – Nam của châu Âu, Tây Ban Nha cùng với Bồ Đào Nha, Andorra, Gibilterra tạo thành bán đảo Iberica xinh đẹp. Diện tích của Tây Ban Nha là 504.782km2 ,trong đó diện tích phần đất là 499.542km2 và phần nước là 5.240km2 . 88% ranh giới của Tây Ban Nha tiếp giáp với các biển và vịnh với chiều dài 4.964km. Tây Ban Nha có hai quần đảo chính là quần đảo Balearic ở vùng Địa Trung Hải và quần đảo Canary ở Đại Tây Dương. Với hơn 89,4 triệu lượt khách du lịch quốc tế trong năm 2022, Tây Ban Nha đứng hàng thứ hai trên toàn thế giới về số khách du lịch. Theo thống kê, ngành Du lịch đóng góp 178 tỷ Euro vào GDP Tây Ban Nha. Vùng biển đảo Balearic

    Đến Tây Ban Nha, biển xanh là sự lựa chọn hàng đầu của du khách. Thiên nhiên ưu đãi cho Tây Ban Nha nhiều bãi tắm quyến rũ nhất thế giới như Barcelona, Saint Sebastián, Valence, Marbella… Mỗi năm, hàng triệu du khách từ khắp nơi trên thế giới đến đây tắm biển, phơi mình dưới nắng tận hưởng không khí biển đầy sảng khoái. Khu vực thu hút du khách nhiều nhất là vùng biển đảo Balearic và khu vực bờ biển Mediterranean. Theo thống kê của cơ quan Du lịch Tây Ban Nha, vùng biển đảo Balearic đã đón 34% trong tổng số đêm nghỉ của du khách quốc tế, tiếp theo sau là các vùng The Costa Brava và The Costa Dorada chiếm 22%; The Costa del Sol and Costa de la Luz ở phía Nam chiếm 12%. Vùng bán đảo nằm ở phía Bắc đối diện với vịnh Biscay là nơi thu hút phần lớn du khách đến từ châu Âu và châu Mỹ.

    Với gần 5000km đường bờ biển, tất cả các bãi tắm biển của Tây Ban Nha đều có phong cảnh rất đẹp với nhiều loại cát, màu sắc khác nhau như The Costa Daurada cho cát vàng, The Costa del Azahar cho màu cam, Costa Blanca cho cát trắng và Costa Calida cho cát đen. Tổ chức Giáo dục Môi trường (Foundation for Environmental Education) đã xếp hạng 450 bãi biển của Tây Ban Nha theo nhãn sinh thái Lá Cờ xanh (Blue Flag). Các bãi biển muốn đạt được Lá Cờ xanh phải hội tụ đủ các tiêu chuẩn như chất lượng nước biển, chất lượng bờ cát, công tác quản lý môi trường, sự an toàn cho du khách, quy trình cung cấp thông tin và giáo dục du khách… Chiếu theo những tiêu chuẩn này, bãi biển Costa Blanca đạt 48 cờ xanh, Costa Dorada và Mallorca đạt lần lượt 37 và 33 cờ…

    Du khách lặn biển ở Isla de Tabarca

    Nhận thức rõ vai trò của vùng biển và bờ biển trong phát triển các ngành kinh tế, đặc biệt là du lịch và để đảm bảo sự bền vững hệ sinh thái biển, Tây Ban Nha đã phân chia thành các khu vực bảo tồn biển theo các địa phương khác nhau. Hiện Tây Ban Nha có các khu bảo tồn biển chính gồm La Palma, La Restinga, Isla Graciosa, Isla de Alboran, Cobo de Gata, Isla de Tabarca, Masia Blanca… Các khu bảo tồn biển của Tây Ban Nha đã có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn và duy trì sự bền vững của các hệ sinh thái biển và các loài sinh vật biển. Ở một số khu bảo tồn biển, một số hoạt động thể thao như chèo thuyền kayak, lướt ván không hạn chế nhưng đối với hầu hết các khu bảo tồn biển của Tây Ban Nha đều có những yêu cầu du khách phải xin phép và được cấp phép từ các cơ quan có thẩm quyền thì mới được bơi, lặn, xem san hô, các loại cá hoặc tham gia các hoạt động thể thao biển. Mỗi một loại hình du lịch trên mặt biển hoặc dưới nước đều có các loại giấy phép tương ứng khác nhau.

    Để duy trì là điểm đến hàng đầu thế giới, Bộ Du lịch Tây Ban Nha đã ban hành kế hoạch phát triển chiến lược toàn diện mang tên “Tourism Plan Horizon 2022”. Kế hoạch đặt ra mục tiêu nâng cao chất lượng sản phẩm; phát triển du lịch bền vững hài hòa với môi trường, xã hội và văn hóa; bảo vệ cảnh quan thiên nhiên và nền văn hóa phong phú; thúc đẩy mô hình du lịch bền vững thông qua việc hỗ trợ các điểm đến trong việc phát triển các công cụ quản lý toàn diện; giảm thiểu các tác động của biến đổi khí hậu; thúc đẩy các sáng kiến nhằm giảm tính mùa vụ; tăng cường khả năng thu hút du khách đến với những vùng kém phát triển…

    Thanh Bình

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kinh Nghiệm Du Lịch Biển Tân Thành
  • Tiểu Luận Marketing Du Lịch Biển Tại Việt Nam
  • 7 Lý Do Bạn Nên Đi Du Lịch Biển Tại Thái Lan
  • Phát Triển Du Lịch Sinh Thái Ven Biển Sóc Trăng
  • Hấp Dẫn Vẻ Hoang Sơ Của Biển Mỏ Ó Và Hồ Bể
  • Để Hội An Phát Triển Bền Vững

    --- Bài mới hơn ---

  • Tiếp Tục Khai Thác Tiềm Năng Đưa Lai Châu Phát Triển
  • Lễ Hội Với Phát Triển Kinh Tế Du Lịch – Góc Nhìn Từ Quốc Tế
  • Phát Triển Du Lịch Mice Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh Của Du Lịch Việt Nam – Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch (Itdr)
  • Kích Cầu Du Lịch Miền Tây
  • Hà Tĩnh Và Tiềm Năng Phát Triển Du Lịch Được Dự Báo Trước
  • TP.Hội An là đô thị di sản của thế giới, được xác định phát triển theo hướng “sinh thái – văn hóa và du lịch”. Vì vậy 2 yếu tố sinh thái và văn hóa là giá trị cho sự phát triển bền vững của thành phố.

    Hiếm có nơi nào như Hội An – một thành phố có đến 2 di sản thế giới: một di sản văn hóa – phố cổ và một di sản thiên nhiên – khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm. Từ chỗ chỉ có 10 đơn vị hành chính cấp xã phường đến nay đã tăng lên 13 đơn vị gồm 9 phường và 4 xã với hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật, xã hội được quan tâm đầu tư, cơ bản đáp ứng nhu cầu phát triển KTXH và đang trở thành một trung tâm du lịch của tỉnh cũng như của quốc gia.

    Định hướng phát triển thành phố theo hướng vừa giữ gìn cẩn trọng khu phố cổ vừa mở rộng liên hoàn các khu đô thị mới, đảm bảo phát huy bản sắc riêng và yếu tố hiện đại bền vững, gần 45 năm qua, đặc biệt là 20 năm kể từ khi được UNESCO công nhận khu phố cổ Hội An là di sản văn hóa thế giới (4.12.1999), Đảng bộ và chính quyền thành phố thường xuyên tăng cường công tác quản lý, vận động nhân dân thực hiện bảo vệ nghiêm ngặt quần thể kiến trúc đô thị cổ. Không thể tránh khỏi những bất cập, thiếu sót nhưng kết quả đạt được như hiện tại thật đáng phấn khởi, đã được UNESCO Châu Á – Thái Bình Dương trao các giải thưởng kiệt xuất về công tác giữ gìn, bảo tồn và phát huy giá trị di sản. Năm 2006 được Bộ xây dựng công nhận là đô thị loại 3, đầu năm 2008 được Chính Phủ ra Nghị định nâng thành Thành phố trực thuộc tỉnh. Ông Trần Ánh – Bí thư Thành ủy, Chủ tịch HĐND thành phố cho rằng, một đô thị được hình thành cách đây mấy trăm năm chắc chắn sẽ gây cản trở, khó khăn nhất định đối với nhu cầu của con người hiện nay vì không dễ dàng để vừa bảo tồn những giá trị nguyên gốc nhưng vừa đáp ứng nhu cầu dân sinh đương đại của thế kỷ XXI. “Chính vì vậy, rất nhiều nhiệm kỳ nay Đảng bộ thành phố luôn chú tâm vấn đề này, làm thế nào để vừa bảo tồn vừa phát triển. Thực tế bằng những giải pháp cụ thể, nhiều năm qua chúng tôi đã giải quyết hài hòa mối quan hệ này, vừa bảo tồn được giá trị truyền thống kiến trúc phố cổ vừa đáp ứng được nhu cầu của cư dân. Và điều đáng mừng là thông qua việc bảo tồn và phát huy di sản này, đại bộ phận người dân đã có thu nhập đáng kể và thậm chí nhiều người đã khá giả và giàu lên”, ông Ánh nói.

    Thực tế là khu phố cổ Hội An bây giờ đã trở thành điểm đến được yêu thích của đông đảo du khách trong nước và quốc tế. Lượng khách đến tham quan ngày càng đông, năm sau luôn cao hơn năm trước. Sự phát triển kinh tế “quá nóng” thời du lịch thịnh hành ngay trong lòng di sản đã trở thành nguy cơ “tự đánh mất” của Hội An trong tương lai nếu không kịp điều chỉnh, thiết lập quy củ. Là vùng động lực, tạo sức lan tỏa trong quá trình phát triển du lịch của cả thành phố nhưng cũng từ đó đã đặt ra thách thức lớn. Khoảng cách phát triển, sự phân cực giàu nghèo giữa cộng đồng dân cư nội thành và ngoại ô, giữa phố cổ với phần còn lại của thành phố cũng đang là vấn đề không dễ khỏa lấp. Mật độ dân số trong phố cổ và của thành phố hiện cũng tăng cao gấp 7 – 8 lần mức bình quân của cả nước và gấp khoảng 40 lần so với mật độ chuẩn trên thế giới đang cảnh báo chính quyền sở tại hằng ngày. Cạnh đó là ảnh hưởng của tình trạng biến đổi khí hậu, lũ lụt thường xuyên đe doạ vùng đô thị cửa sông – ven biển này. Bờ biển Cửa Đại đang bị xâm thực nặng nề cũng là vấn đề quá nan giải, chưa có phương án hữu hiệu. Giao thông đô thị ngày càng quá tải, tăng áp lực cho cuộc sống nhân dân và sự phát triển của thành phố… Ông Trần Chương – Trưởng Phòng Quản lý đô thị thành phố cho biết:“Thành phố xác định, khi nâng lên đô thị loại 2 trong thời gian đến thành phố cố gắng để vừa có một quy hoạch chung hợp lý, quy hoạch về kiến trúc xanh và tạo cơ sở hạ tầng hợp lý để thoát ra khỏi ách tắt giao thông hiện nay”.

    Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XVII đã xác định, Hội An có 3 khu vực phát triển gồm: đô thị, biển đảo và làng quê luôn gắn kết, tương tác với nhau tạo động lực để phát triển đồng đều và ổn định. Hội An trong tương lai phát triển theo định hướng trở thành thành phố “sinh thái – văn hoá và du lịch” giàu bản sắc. Sinh thái và văn hóa là 2 giá trị để phát triển du lịch và kinh tế xã hội thành phố một cách bền vững. Bí thư Thành ủy, Chủ tịch HĐND thành phố Trần Ánh nói: “Rút kinh nghiệm từ sự phát triển của các đô thị khác, phát triển rất nhanh rất “nóng” nhưng thiếu tính bền vững thì Hội An đang quyết tâm thực hiện, đảm bảo cho sự phát triển nhưng phát triển không “nóng”, phát triển theo tính bền vững, phát triển phù hợp với nguồn tài nguyên của mình. Chúng tôi cố gắng vừa bảo tồn phát huy các di sản văn hóa, vừa bảo tồn phát huy các di sản thiên nhiên: sông nước, cây cỏ, biển đảo…”

    Để bảo đảm phát triển hiệu quả, thành phố tập trung điều chỉnh, bổ sung quy hoạch chung, trọng tâm là quy hoạch không gian phát triển du lịch; ban hành các cơ chế chính sách phát triển vùng kinh tế sông nước, làng quê, biển đảo…

     Đỗ Huấn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Du Lịch Hàn Quốc 2022 Đạt Kỷ Lục Mới Sau Hai Năm Liền Suy Giảm
  • Tình Hình Phát Triển Du Lịch Tại Hàn Quốc Và Những Chính Sách Phát Triển Du Lịch Trong Thời Gian Tới – Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch (Itdr)
  • Lý Sơn: Cơ Hội Để Trở Thành Khu Du Lịch Quốc Gia
  • Gợi Nghĩ Về Tiềm Năng Di Sản Gắn Với Phát Triển Du Lịch Ở Lý Sơn, Quảng Ngãi
  • Lý Sơn: Tiềm Năng Phát Triển Du Lịch Sinh Thái Gắn Với Cộng Đồng
  • Phát Triển Du Lịch Huế Bền Vững

    --- Bài mới hơn ---

  • “định Hướng Phát Triển Du Lịch Huế Và Vùng Duyên Hải Miền Trung
  • Cổng Điện Tử Tỉnh Kiên Giang
  • Định Hướng Phục Hồi Và Phát Triển Du Lịch Kiên Giang
  • Lào Cai: Hướng Đến Xây Dựng Hệ Thống Sản Phẩm Du Lịch Đặc Sắc
  • Định Hướng Nào Cho Phát Triển Du Lịch Ninh Bình?
  • Đến Huế sẽ được đạp sẽ trên những con đường rợp bóng mát

    Xanh và sạch

    Gần đây, trong chuyến đến Huế để khảo sát các điểm du lịch mới, Tổng Giám đốc Công ty Du lịch Việt, ông Trần Văn Long có chia sẻ, sau một thời gian dài quay lại, Huế vẫn yên bình với những con đường phủ cây xanh, cảnh quan thiên nhiên không bị phá vỡ, là thế mạnh để phát triển du lịch.

    Nghiên cứu của Khoa Du lịch- Đại học Huế gần đây về khả năng thu hút khách của điểm đến Huế cho thấy, phong cảnh thiên nhiên, hấp dẫn về văn hóa và an ninh, an toàn là ba yếu tố quan trọng nhất khiến du khách chọn Huế. Với ba yếu tố này vẫn có sự dịch chuyển khác nhau giữa khách quốc tế và nội địa, riêng phong cảnh thiên nhiên được cả hai dòng khách lựa chọn đầu tiên.

    Ngày 28/6/2016, Huế đã vượt qua 125 thành phố trên toàn thế giới, được Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế vinh danh là “Thành phố Xanh quốc gia”. Và với những nỗ lực để gìn giữ cảnh quan thiên nhiên, vệ sinh môi trường, cuối tháng 12/2017, Tổng cục Du lịch thông báo, Huế vinh dự đạt giải thưởng “Thành phố Du lịch sạch ASEAN”. Giải thưởng này sẽ được trao cho Huế tại diễn đàn Du lịch Đông Nam Á – ATF 2022, diễn ra ngày 26/1 tới ở Chiang Mai, Thái Lan.

    Hiện nay, khá nhiều công ty du lịch ở Huế triển khai những tour tuyến, phát triển du lịch dựa trên yếu tố bảo vệ môi trường, cảnh quan thiên nhiên. Ông Trần Quang Hào, Giám đốc Huetourist cho biết, lý do hình thành tour “Sáng Thủy Biều – Chiều Tam Giang” là giúp du khách có trải nghiệm gần với thiên nhiên, đây cũng là xu hướng phát triển du lịch xanh trên thế giới. Theo đó, nguồn năng lượng để phục vụ du khách ở homestay Thủy Biều hoàn toàn sử dụng bằng năng lượng mặt trời. Khi đến đây, du khách còn tham gia làm vườn, trồng cây, tận hưởng những giá trị sống gắn với thiên nhiên.

    Ông Nguyễn Văn Phúc, Phó Giám đốc Sở Du lịch nhận định, du lịch xanh đang phát triển tại Huế và ngày càng thu hút được du khách. Ngoài ý nghĩa góp phần bảo tồn tự nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học, sự phát triển du lịch xanh đã và đang mang lại những lợi ích, tạo cơ hội tăng thêm việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân các địa phương. Ngoài ra, du lịch xanh còn góp phần nâng cao dân trí và sức khoẻ cộng đồng thông qua các hoạt động bảo vệ môi trường và nghỉ ngơi giải trí.

    Hàng cây mới được trồng tạo bóng mát trên tuyến đường tham quan Đại Nội Phát triển du lịch Huế bền vững

    Nguyễn Diễn, Phó Giám đốc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, chi nhánh Đà Nẵng cho hay, tốc độ phát triển của du lịch đang khiến nhiều địa phương phải “khổ sở”. Chẳng hạn như ở Hội An. Nhiều người nơi khác đến Hội An mua đất, xây nhà và kinh doanh dịch vụ homestay. Khi phát triển quá nhanh đã làm mất đi các giá trị, khiến UBND tỉnh Quảng Nam ban hành một quy định được xem là vi hiến, trái pháp luật. Một loạt yêu cầu bắt buộc khi kinh doanh, như: Nhà ít nhất có 2 thế hệ, có thành viên ở tại đó, có bàn thờ tổ tiên… quy định này ở cấp độ địa phương là không thể.

    Cũng theo ông Nguyễn Diễn, sự phát triển du lịch gây ra nhiều tác động tiêu cực tới môi trường và biến đổi khí hậu. Phát triển du lịch bền vững được xác định là yêu cầu cấp bách của toàn cầu nói chung, của Việt Nam nói riêng và Huế không ngoại lệ. Phát triển bền vững được hiểu đó là sự phát triển nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai.

    Ông Nguyễn Văn Phúc cho biết, từ năm 2008, tỉnh đã có kế hoạch phát triển bền vững giai đoạn 2008 – 2022, trong đó, đã ý thức rõ việc cần bảo vệ tài nguyên du lịch của địa phương, nhất là yếu tố môi trường tự nhiên và di sản văn hóa, với những định hướng phát triển bền vững du lịch.

    “Để du lịch phát triển bền vững và hiệu quả theo định hướng, ngành du lịch Huế đã, đang tập trung thực hiện các giải pháp, lập kế hoạch phát triển từng sản phẩm du lịch một cách cẩn thận từ lúc bắt đầu để mang lại những lợi ích cho cộng đồng địa phương, tôn trọng văn hoá, bảo tồn nguồn lợi tự nhiên; nâng cao năng lực cạnh tranh với các điểm đến du lịch khác trong khu vực, thông qua việc nghiên cứu xu hướng, nhu cầu của du khách, lồng ghép các nguyên tắc bảo tồn văn hóa và thiên nhiên đặc hữu để tạo ra những sản phẩm mới, hấp dẫn, đáp ứng đúng nguyện vọng. Mang đến sự hài lòng cho du khách mà vẫn đảm bảo tính toàn vẹn của văn hóa địa phương, các giá trị thiên nhiên và giá trị di sản”, ông Nguyễn Văn Phúc chia sẻ.

    Cũng theo lãnh đạo Sở Du lịch, một trong những định hướng phát triển du lịch của Huế là bảo tồn những giá trị địa phương thông qua việc phát triển những ngành nghề thân thiện với môi trường và sử dụng một cách tiết kiệm nhất các năng lượng không có khả năng tái tạo; chú trọng bảo vệ môi trường tự nhiên và môi trường xã hội tại các điểm du lịch, mỗi một doanh nghiệp khi tổ chức tour tuyến mới phải duy trì hệ sinh thái tự nhiên vốn có tại các điểm du lịch.

    Phát triển du lịch là tất yếu và bảo vệ môi trường thiên nhiên sẽ giúp phát triển bền vững, điều này Huế đang làm rất tốt.

    Bảy chương trình hành động của Huế khi nhận danh hiệu “Thành phố Xanh quốc gia”: Tăng cường xanh hoá đô thị thông qua việc trồng thêm nhiều diện tích cây xanh, bảo vệ diện tích mặt nước tự nhiên; xây dựng và cải thiện công tác giám sát, xử lý nước thải và chất thải rắn của thành phố; áp dụng hệ thống chiếu sáng thông minh hiệu suất năng lượng cao; thúc đẩy phát triển du lịch bền vững cho thành phố, trong đó chú trọng vào việc tổ chức xây dựng các tuyến thăm quan nhà vườn và các công trình di tích, hệ thống sông hồ, thủy đạo; đẩy mạnh sử dụng năng lượng tái tạo vào các hoạt động du lịch và dịch vụ; sử dụng vật liệu tự nhiên, vật liệu xây dựng không nung để xây dựng các công trình, cơ sở công cộng và tư nhân/hộ gia đình; tiến hành khẩn trương xóa, giảm và di dời các cơ sở ô nhiễm môi trường ra

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phát Triển Du Lịch Đô Thị
  • Định Hướng Phát Triển Du Lịch Đà Nẵng Theo Hướng Bền Vững, Hài Hòa Với Thiên Nhiên Và Môi Trường
  • Định Hướng Phát Triển Của Đà Nẵng Đến 2022
  • Định Hướng Đầu Tư Du Lịch Đà Nẵng
  • Định Hướng Phát Triển Mới Của Ngành Du Lịch Thành Phố
  • Phát Triển Bền Vững Du Lịch Hội An

    --- Bài mới hơn ---

  • Du Lịch Bền Vững Và Có Trách Nhiệm Tại Miền Trung Việt Nam
  • Phát Triển Bền Vững Ở Việt Nam: Tiêu Chí Đánh Giá Và Định Hướng Phát Triển Đến Năm 2030
  • 15 Địa Điểm Du Lịch Bhutan Tự Túc Tham Quan Tu Viện, Leo Núi Hoang Sơ
  • Bhutan Của Tôi – Ký Sự Chuyến Đi Đến Quốc Gia Hạnh Phúc
  • Giới Thiệu Về Du Lịch Bỉ
  • Áp lực môi trường du lịch, thiếu sản phẩm giải trí đẳng cấp, sức cạnh tranh yếu…, vấn đề không mới của du lịch Hội An một lần nữa được phân tích mổ xẻ tại buổi tọa đàm “Du lịch Hội An hội nhập và phát triển bền vững” vừa diễn ra sáng qua 1.11 tại TP.Hội An.

    Sức chứa du lịch Hội An đang quá tải. Ảnh: G.K

    Sức chứa quá tải

    Qua gần 20 năm, kể từ khi khu phố cổ được công nhận di sản văn hóa thế giới, du lịch Hội An phát triển khá nhanh với tốc độ tăng trưởng khoảng 15%/năm. Thống kê 5 năm gần đây cho thấy, khách du lịch đến Hội An tăng gấp 2 lần, từ khoảng 1,6 triệu lượt (2013) lên trên 3,3 triệu lượt (2017), tốc độ phát triển bình quân 5 năm (2013 – 2022) gần 119%.  Riêng 9 tháng đầu năm 2022, Hội An đã đón 4,55 triệu lượt khách, tăng 76,84% so với cùng kỳ. Mặc dù khách lưu trú tăng 18,29% đạt con số 1,32 triệu lượt khách, tuy nhiên số ngày lưu trú có chiều hướng giảm. Nếu năm 2013, bình quân ngày lưu trú của khách là 2,3 ngày thì năm 2022 con số này đã giảm xuống còn 2,11 ngày, 9 tháng đầu năm 2022 số ngày lưu trú ước khoảng 2,18 ngày, công suất sử dụng phòng đạt 54%.

    Đặc biệt, vài năm gần đây, thị trường khách truyền thống Hội An (châu Âu, Bắc Mỹ) sụt giảm mạnh, ngược lại khách Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Kông tăng nhanh. Nguyên nhân chủ yếu ngày càng có nhiều đường bay thẳng từ Đà Nẵng đến các nước trên và ngược lại. Hiện tại đã có 16 đường bay trực tiếp từ Trung Quốc đến Đà Nẵng với tần suất 79 chuyến/tuần và 4 đường bay từ Hàn Quốc, tần suất 127 chuyến/tuần, đến Osaka là 11 chuyến/tuần.

    Theo ông Nguyễn Văn Lanh – Trưởng phòng VHTT TP.Hội An, sức cạnh tranh của du lịch Hội An còn yếu, chất lượng phát triển chưa cao, chưa có nhiều sản phẩm chủ lực. Kết cấu hạ tầng còn thiếu đồng bộ và chưa hiện đại, mật độ dân số cao (gấp 7 – 8 lần bình quân cả nước và khoảng 40 lần so với mật độ chuẩn thế giới), riêng mật độ dân trong khu phố cổ hiện đã hơn 10 nghìn người/km², dẫn đến quá tải giao thông, ô nhiễm môi trường… Còn theo ông Hồ Tấn Cường – Phó Giám đốc Sở VH-TT&DL, sức chứa của Hội An đã đến ngưỡng, nên cần phải có những nghiên cứu cụ thể để tìm giải pháp hợp lý.

    Nâng cao trách nhiệm doanh nghiệp

    Tại buổi tọa đàm, bên cạnh những tồn tại cố hữu như thiếu hụt nguồn nhân lực, sản phẩm du lịch, an ninh trật tự, ô nhiễm môi trường… một số ý kiến doanh nghiệp cho rằng, nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trên thể hiện ở công tác quản lý nhà nước chưa theo kịp với sự phát triển nhanh của du lịch. Bà Trịnh Diễm Vy – Tổng Giám đốc Công ty Tổ chức sự kiện ẩm thực Hội An nhìn nhận, để du lịch phát triển bền vững thành phố cần thành lập tổ tư vấn du lịch để giải đáp cho doanh nghiệp cũng như lãnh đạo thành phố những vướng mắc, giải pháp hữu hiệu. “Có nhiều vấn đề phát sinh hàng ngày thành phố cần phải biết để xử lý. Đơn cử như tình trạng taxi không chở khách đường ngắn hay cau có với khách, dù đây là vấn đề nhỏ nhưng nó sẽ ảnh hưởng không tốt đến hình ảnh du lịch Hội An trong mắt khách” – bà Vy dẫn chứng. Theo ông Lê Thái Vũ – Chủ tịch HĐQT Công ty CP Tơ lụa Quảng Nam, một vấn đề cần quan tâm chính là xây dựng sản phẩm du lịch đặc trưng. “Bên cạnh những lễ hội về gốm hay ẩm thực đã được tổ chức, thành phố cũng cần nghiên cứu nâng tầm nghề may đo, biến Hội An như là xưởng may đo du lịch của thế giới vì đây là một một sản phẩm riêng có từ rất lâu của Hội An kể từ khi thành phố làm du lịch” – ông Vũ đề xuất.

    Ông Kiều Cư – Bí thư Thành ủy Hội An cho rằng, những đóng góp của doanh nghiệp cho sự phát triển du lịch Hội An là không bàn cãi, nhưng doanh nghiệp không thể trông chờ và đổ hết trách nhiệm cho nhà nước. “Hội An thiếu khu vui chơi giải trí tầm cỡ, không có nhà hàng tầm cỡ, không có trung tâm thương mại phục vụ khách… thành phố luôn tạo điều kiện thuận lợi nhất nhưng đã có doanh nghiệp nào đầu tư vào các lĩnh vực này chưa” – ông Cư đặt câu hỏi. Theo ông Kiều Cư, sắp đến thành phố sẽ xây dựng 3 trung tâm đón tiếp khách, ngoài ra cũng sẽ mở rộng phố đi bộ xuống đường Phan Bội Châu để giảm áp lực phố cổ. “Chất lượng sản phẩm du lịch Hội An phải dựa trên giá trị văn hóa của Hội An, đó là di sản, là sự nhân tình thuần hậu vốn trở thành nét riêng níu chân du khách. Đặc biệt, mỗi doanh nghiệp phải là một đại sứ du lịch để tuyên truyền giới thiệu hình ảnh, du lịch Hội An ra thế giới để Hội An trở thành điểm đến hấp dẫn, thân thiện và hiếu khách” – ông Kiều Cư nói.

    GIA KHANG

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khu Du Lịch Việt Nhật: Du Lịch Sinh Thái Tiền Giang Bến Tre
  • Khu Du Lịch Lan Vương – Bến Tre
  • Cập Nhật Tất Cả Các Địa Điểm Khi Đến Khu Du Lịch Bến Tre Nên Ghé Thăm
  • Phượt Bến Tre 1 Ngày Cùng Đồng Bọn
  • Tour Bến Tre 2 Ngày 1 Đêm
  • Hội An Phát Triển Du Lịch Bền Vững

    --- Bài mới hơn ---

  • Đưa Chính Sách Phát Triển Du Lịch Vào Cuộc Sống
  • Chính Sách Phát Triển Vùng Ảnh Hưởng Như Nào Đến Vinpearl Nam Hội An?
  • Hội Thảo Bàn Về Chính Sách Phát Triển Du Lịch Cộng Đồng Tại Việt Nam
  • Phú Quốc Đẩy Mạnh Phát Triển Du Lịch Biển
  • Phú Quốc Phát Triển Du Lịch Gắn Với Bảo Vệ Môi Trường Biển
  • Từ khi khu phố cổ được công nhận di sản văn hóa thế giới (1999) du lịch Hội An phát triển khá nhanh với tốc độ tăng trưởng khoảng 15%/năm

    Báo cáo của Phòng VHTT TP Hội An cho biết, kể từ khi khu phố cổ được công nhận Di sản văn hóa thế giới (1999) du lịch Hội An phát triển khá nhanh với tốc độ tăng trưởng khoảng 15%/năm. Thống kê 5 năm gần đây cho thấy, khách du lịch đến Hội An tăng gấp 2 lần, từ khoảng 1,6 triệu lượt (2013) lên trên 3,3 triệu lượt (2017), tốc độ phát triển bình quân 5 năm (2013 – 2022) gần 119%.

    Riêng 9 tháng đầu năm 2022, Hội An đã đón 4,55 triệu lượt khách, tăng 76,84% so với cùng kỳ. Mặc dù khách lưu trú tăng 18,29% đạt con số 1,32 triệu lượt khách, tuy nhiên số ngày lưu trú khách có chiều hướng giảm. Nếu năm 2013, bình quân ngày lưu trú của khách là 2,3 ngày thì năm 2022 con số này đã giảm xuống còn 2,11 ngày.

    Hiện nay Hội An đang bị quá tải giao thông và ô nhiễm môi trường

    Bên cạnh đó, thị trường khách truyền thống Hội An là châu Âu, Bắc Mỹ đang sụt giảm mạnh, ngược lại khách Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc tăng nhanh.

    Đặc biệt, sức cạnh tranh của du lịch Hội An còn yếu, chất lượng phát triển chưa cao, chưa có nhiều sản phẩm chủ lực; hạ tầng đường sá thiếu đồng bộ; mật độ dân số cao, (gấp 7 -8 lần bình quân cả nước và khoảng 40 lần so với mật độ chuẩn trên thế giới), riêng mật độ dân trong khu phố cổ hiện đã hơn 10 nghìn người/km², dẫn đến quá tải giao thông, ô nhiễm môi trường…

    Quang cảnh buổi tọa đàm

    Một số ý kiến doanh nghiệp cho rằng, nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trên thể hiện ở công tác quản lý nhà nước chưa theo kịp với sự phát triển nhanh của du lịch.

    Theo ông Kiều Cư, Bí thư Thành ủy Hội An, sắp đến thành phố sẽ xây dựng 3 trung tâm đón tiếp khách, ngoài ra cũng sẽ mở rộng phố đi bộ xuống đường Phan Bội Châu để giảm áp lực phố cổ. Đồng thời cũng sẽ xây dựng các sản phẩm du lịch Hội An đặc thù dựa trên những giá trị văn hóa của Hội An để níu chân du khách, hướng đến sự phát triển bền vững.

    NGỌC PHÚC

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thái Lan Điều Chỉnh Chính Sách Phát Triển Du Lịch
  • Bài Học Kinh Nghiệm Tổ Chức Quản Lý Phát Triển Du Lịch Của Một Số Nước
  • 5 Yếu Tố Nền Tảng Khiến Singapore Trở Thành Con Rồng Châu Á
  • Bình Định Phát Triển Du Lịch Kéo Thị Trường Bất Động Sản Đi Lên Mchính Sách Phát Triển Du
  • Tiềm Năng Phát Triển Du Lịch Của Quy Nhơn
  • Phát Triển Du Lịch Bền Vững Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Phát Triển Du Lịch Bền Vững Tại Cù Lao Chàm
  • Phát Triển Du Lịch Biển Bền Vững Tại Việt Nam
  • Du Lịch Bền Vững: Thực Trạng, Khung Lý Thuyết Và Gợi Ý Hướng Phát Triển Cho Tỉnh Đồng Nai
  • Phát Triển Du Lịch Biển, Đảo Việt Nam
  • Phát Triển Du Lịch Biển Đảo Việt Nam
  • Ngoài sự phát triển thân thiện với môi trường, khái niệm bền vững còn bao hàm cách tiếp cận du lịch thừa nhận vai trò của cộng đồng địa phương, phương thức đối xử với lao động và mong muốn tối đa hóa lợi ích kinh tế của du lịch cho cộng đồng địa phương. Nói cách khác, du lịch bền vững không chỉ có bảo vệ môi trường, mà còn quan tâm tới khả năng duy trì kinh tế dài hạn và công bằng xã hội. Du lịch bền vững không thể tách rời phát triển bền vững.

    Hiện nay, trên thế giới vẫn chưa thống nhất về quan niệm phát triển du lịch bền vững. Du lịch bền vững được định nghĩa theo một số cách.

    Machado, 2003 , thì “Du lịch bền vững đòi hỏi phải quản lý tất cả các dạng tài nguyên theo cách nào đó để chúng ta có thể đáp ứng các nhu cầu kinh tế, xã hội và thẩm mỹ trong khi vẫn duy trì được bản sắc văn hoá, các quá trình sinh thái cơ bản, đa dạng sinh học và các hệ đảm bảo sự sống”. Định nghĩa này mới chỉ chú trọng đến công tác quản lý tài nguyên du lịch để cho du lịch được phát triển bền vững.

    – Phát triển, gia tăng sự đóng góp của du lịch vào kinh tế và môi trường;

    – Cải thiện tính công bằng xã hội trong phát triển;

    – Cải thiện chất lượng cuộc sống của cộng đồng bản địa;

    – Đáp ứng cao độ nhu cầu của du khách;

    – Duy trì chất lượng môi trường.

    Trong giai đoạn hiện nay, phát triển du lịch bền vững đòi hỏi phải phát triển các sản phẩm du lịch có chất lượng cao, có khả năng thu hút và đáp ứng các nhu cầu ngày càng cao của khách du lịch, song không gây tổn hại đến môi trường tự nhiên và văn hóa bản địa, đồng thời phải có trách nhiệm bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên và môi trường. Về vấn đề này, trong Chương trình Nghị sự 21 về công nghiệp du lịch và lữ hành hướng tới sự phát triển môi trường bền vững của Tổ chức Du lịch Thế giới và Hội đồng Thế giới đã xác định ” Các sản phẩm du lịch bền vững là các sản phẩm được xây dựng phù hợp với môi trường, cộng đồng và các nền văn hóa, nhờ đó sẽ mang lại lợi ích chắc chắn chứ không phải là hiểm họa cho phát triển du lịch ” . Kết quả này được coi là sự mở đầu thuận lợi cho các bước tiếp theo trong quá trình thúc đẩy sự phát triển của du lịch sinh thái nói riêng và du lịch bền vững nói chung ở Việt Nam.

    Trên quan điểm thống nhất với các diễn giải khái niệm “Phát triển du lịch bền vững” của Luật du lịch Việt Nam (2005). Đồng thời, với tư duy theo hướng tiếp cận theo mục tiêu của thuật ngữ “PTBV” khái niệm ” PTDLBV”, được tác giả đề xuất như sau: ” Phát triển du lịch bền vững là phát triển những hoạt động du lịch với mục tiêu mang lại lợi ích kinh tế, tạo công ăn việc làm cho xã hội và cộng đồng; thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của các thành phần tham gia du lịch… trên cơ sở khai thác các nguồn tài nguyên; đồng thời có ý thức đến việc đầu tư tôn tạo, bảo tồn và duy trì tính nguyên vẹn của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đảm bảo môi trường trong sạch; phải gắn trách nhiệm và quyền lợi của cộng đồng trong việc khai thác sử dụng và bảo vệ tài nguyên, môi trường.

    Một số vấn đề cần giải quyết đối với phát triển du lịch bền vững

    Theo quan điểm phát triển bền vững thì các hoạt động du lịch được coi là có tính bền vững sẽ được phát triển sao cho các bản chất, quy mô, và phương thức phù hợp và bền vững theo thời gian; phù hợp với khả năng chịu tải của môi trường; có hỗ trợ cho công tác bảo tồn các giá trị tự nhiên và văn hóa, cho cuộc sống của cộng đồng. Như vậy phát triển du lịch bền vững cần chú trọng giải quyết một số vấn đề sau:

    Một là. Hiệu quả kinh tế: Đảm bảo tính hiệu quả kinh tế và tính cạnh tranh để các doanh nghiệp và các điểm du lịch có khả năng tiếp tục phát triển phồn thịnh và đạt lợi nhuận lâu dài.

    Hai là. Sự phồn thịnh cho địa phương: Tăng tối đa đóng góp của du lịch đối với sự phát triển thịnh vượng của nền kinh tế địa phương tại các điểm du lịch, khu du lịch; bao gồm phần tiêu dùng của khách du lịch được giữ lại tại địa phương.

    Ba là. Chất lượng việc làm: Tăng cường số lượng và chất lượng việc làm tại địa phương do ngành du lịch tạo ra và được ngành du lịch hỗ trợ, không có sự phân biệt đối xử về giới và các mặt khác.

    Bốn là. Công bằng xã hội: Cần có sự phân phối lại lợi ích kinh tế và xã hội thu được từ hoạt động du lịch một cách công bằng và rộng rãi cho tất cả những người trong cộng đồng đáng được hưởng.

    Năm là. Sự thỏa mãn của khách du lịch: Cung cấp những dịch vụ an toàn, chất lượng cao thỏa mãn đầy đủ yêu cầu của du khách, không phân biệt đối xử về giới, chủng tộc, thu nhập cũng như các mặt khác.

    Bảy là. An sinh cộng đồng: Duy trì và tăng cường chất lượng cuộc sống của người dân địa phương, bao gồm cơ cấu tổ chức xã hội và cách tiếp cận các nguồn tài nguyên, hệ thống hỗ trợ đời sống, tránh làm suy thoái và khai thác quá mức môi trường cũng như xã hội dưới mọi hình thức.

    Tám là. Đa dạng văn hoá: Tôn trọng và tăng cường giá trị các di sản lịch sử, bản sắc văn hoá dân tộc, truyền thống và những bản sắc đặc biệt của cộng đồng dân cư địa phương tại các điểm du lịch.

    Chín là. Thống nhất về tự nhiên: Duy trì và nâng cao chất lượng của cảnh vật, kể cả ở nông thôn cũng như thành thị, tránh để môi trường xuống cấp.

    Mười là. Đa dạng sinh học: Hỗ trợ cho việc bảo tồn khu vực tự nhiên, môi trường sống, sinh vật hoang dã và giảm thiểu thiệt hại đối với các yếu tố này.

    Mười một là. Hiệu quả của các nguồn lực: Giảm thiểu mức sử dụng những nguồn tài nguyên quý hiếm và không thể tái tạo được trong việc phát triển và triển khai các cơ sở, phương tiện và dịch vụ du lịch.

    Mười hai là. Môi trường trong lành: Giảm thiểu ô nhiễm không khí, nước, đất và rác thải từ du khách và các hãng du lịch.

    Quá trình phát triển du lịch mà đảm bảo giải quyết được các vấn đề nêu trên sẽ được đánh giá là bền vững. Tuy nhiên sự phát triển đó chỉ mang tính tương đối bởi vì trong xã hội luôn luôn có sự thay đổi và phát triển thì sự bền vững của yếu tố này có thể sẽ là nguyên nhân ảnh hưởng đến sự bền vững của những yếu tố khác. Không một xã hội nào, một nền kinh tế nào có thể đạt được sự bền vững tuyệt đối. Mọi hoạt động, mọi biện pháp của con người chỉ nhằm mục đích đảm bảo khả năng khai thác lâu dài các nguồn tài nguyên tự nhiên.

    Nguồn trích dẫn trong bài:

    Hens L. (1998), Tourism and Environment, chúng tôi Course, Free University of Brussel, Belgium.

    Inskeep, E.(1995), National and Regional Tourism planning, Metholodogies and Case Studies, Routledge, London.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Cho Bài Toán Phát Triển Du Lịch Bền Vững Ở Khánh Hòa
  • Nguyễn Thị Hải Lê. Văn Hóa Sinh Thái Biển Trong Phát Triển Du Lịch Bền Vững Ở Nha Trang
  • Phát Triển Bền Vững Du Lịch Biển Nha Trang
  • Luận Án: Kinh Tế Du Lịch Theo Hướng Phát Triển Bền Vững Ở Huế
  • Phát Triển Du Lịch Đà Nẵng Bền Vững Theo Hướng Từ “lượng” Sang “chất”
  • Bến Tre Phát Triển Du Lịch Bền Vững

    --- Bài mới hơn ---

  • Bến Tre: Điểm Nhấn Trong Phát Triển Du Lịch?
  • Giải Pháp Chủ Yếu Phát Triển Du Lịch Đà Nẵng Theo Hướng Bền Vững
  • Phát Triển Du Lịch Đà Nẵng Bền Vững Theo Hướng Từ “lượng” Sang “chất”
  • Luận Án: Kinh Tế Du Lịch Theo Hướng Phát Triển Bền Vững Ở Huế
  • Phát Triển Bền Vững Du Lịch Biển Nha Trang
  • Theo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bến Tre, trong năm 2022 địa phương này phấn đấu thu hút 440 nghìn lượt khách quốc tế và 560 nghìn lượt khách nội địa đến tham quan du lịch. Định hướng của tỉnh Bến Tre trong những năm tiếp theo là phát triển du lịch theo hướng bền vững.

    Chợ hoa bên sông ở Bến Tre (Nguồn: Báo Đồng Khởi)

    Bến Tre là vùng đất được thiên nhiên ưu đãi, có diện tích trồng dừa lớn nhất cả nước với gần 60 nghìn ha, cung ứng trên thị trường hàng năm trên 500 triệu trái dừa, đang dần khẳng định vị thế của mình trong phát triển ngành dừa, với tổng kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm dừa hàng năm trên 40% kim ngạch xuất khẩu của tỉnh.

    Bến Tre còn có nhiều tài nguyên du lịch không chỉ về du lịch sinh thái sông nước miệt vườn mà còn là nơi bảo tồn và phát triển đa dạng loại hình du lịch khác như: du lịch văn hóa – lịch sử, du lịch làng nghề, du lịch vui chơi giải trí. Ba năm trở lại đây, Bến Tre đã triển khai chương trình kích cầu du lịch đến các doanh nghiệp lữ hành, nhà hàng, khách sạn, điểm du lịch trên địa bàn tỉnh gắn với thúc đẩy các ngành dịch vụ, tổ chức các sự kiện văn hóa, du lịch, đầu tư hạ tầng giao thông du lịch và đặc biệt là trong lĩnh vực lưu trú.

    Với những lợi thế sẵn có, cùng với những định hướng chiến lược phát triển du lịch cụ thể, du lịch cũng là một trong những ngành được tỉnh Bến Tre xác định là ngành quan trọng đóng góp vào sự tăng trưởng của kinh tế địa phương. Rất nhiều các điểm du lịch và kết cấu hạ tầng được tỉnh Bến Tre đầu tư, nâng cấp ngày một khang trang, hấp dẫn du khách, như: công trình nhà cổ Hương Liêm (xã Đại Điền, huyện Thạnh Phú), di tích đình Bình Hòa (huyện Giồng Trôm), mộ và đền thờ nhà giáo Võ Trường Toản (xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri), di tích Nguyễn Đình Chiểu (xã An Đức, huyện Ba Tri), di tích Đồng Khởi (xã Định Thủy, huyện Mỏ Cày Nam). Hiện nay, một số doanh nghiệp lữ hành trong tỉnh Bến Tre đã khai thác chương trình tour du lịch về nguồn kết hợp với tham quan các điểm du lịch sinh thái thu hút một số lượng lớn du khách quốc tế từ thành phố Hồ Chí Minh, miền Đông Nam Bộ, chủ yếu là khách đến từ các nước Đức, Pháp, Thụy Sĩ, Hàn Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản và các nước trong khu vực Đông Nam Á.

    Những năm gần đây, loại hình du lịch homestay đã phát triển mạnh ở Bến Tre. Du lịch homestay mang đến cho du khách những trải nghiệm thực tế với sinh hoạt đời thường của người dân, khám phá cuộc sống làng quê sông nước và văn hóa bản địa, từ đó được du khách lựa chọn trong hành trình tour du lịch tại Bến Tre ngày một đông.

    Trên địa bàn tỉnh Bến Tre hiện có khoảng 20 điểm homestay, chủ yếu tập trung ở huyện Châu Thành, Chợ Lách, Mỏ Cày Bắc và thành phố Bến Tre. Nhiều homestay được đầu tư khang trang, đầy đủ tiện nghi như: Homestay Năm Hiền, Homestay Mai Thanh Vân, Jardindu Mekong Homestay, Tám Lộc, Năm Vũ, Đại Lộc, đó là những ngôi nhà được xây dựng thoáng mát, tiện nghi gắn liền với cảnh làng quê miệt vườn rất đẹp, không khí trong lành, cách xa thành phố, sân vườn rộng lớn, nội thất sang trọng.

    Với ưu thế phát triển kết hợp nhiều loại hình du lịch như vậy, nên trong thời gian gần đây, các công ty du lịch tại Bến Tre cũng đã tập trung khai thác các chương trình tham quan tại các huyện như: Ba Tri, Mỏ Cày Bắc, Bình Đại, Chợ Lách như đưa du khách đi tham quan các di tích văn hóa – lịch sử. Ngoài ra các doanh nghiệp du lịch cũng đưa khách khám phá các làng nghề truyền thống của các huyện để gắn kết giữa du lịch về nguồn với du lịch biển và du lịch làng nghề tạo nên sự đa dạng sản phẩm trong tour du lịch về với vùng đất Bến Tre.

    Quyết tâm đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn

    Trên cơ sở các tiềm năng sẵn có, Bến Tre xác định du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh đến năm 2030 và chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu tăng trưởng kinh tế, tạo động lực phát triển kinh tế – xã hội. Trong năm 2022, tỉnh Bến Tre phấn đấu doanh thu từ du lịch đạt khoảng 700 tỷ đồng và đến năm 2022, sẽ thu hút 1,6 triệu lượt khách du lịch nội địa và quốc tế, doanh thu đạt 1.900 tỷ đồng.

    Để đạt được mục tiêu trên, tỉnh Bến Tre đã có những giải pháp phát triển du lịch theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, có trọng tâm, trọng điểm, chú trọng phát triển theo chiều sâu nhằm đảm bảo chất lượng và hiệu quả, khẳng định được thương hiệu và khả năng cạnh tranh. Phát triển du lịch phải theo hướng bền vững, gắn chặt với việc bảo tồn và phát huy các giá trị di tích lịch sử – văn hóa của tỉnh; giữ gìn cảnh quan, bảo vệ môi trường và đảm bảo an ninh, quốc phòng, trật tự an toàn xã hội. Đẩy mạnh xã hội hóa, huy động mọi nguồn lực cả trong và ngoài nước đầu tư phát triển du lịch; tăng cường liên kết phát triển du lịch với các tỉnh, thành phố trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long nhằm tạo thị trường khách du lịch bền vững…

    Bến Tre đang tập trung xây dựng hệ thống giao thông nhánh đến các vùng quy hoạch du lịch, cùng với các dịch vụ khác như điện, nước sạch, bưu chính – viễn thông. Theo đó, tỉnh Bến Tre đang vận động, khuyến khích các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh du lịch đầu tư phát triển các điểm du lịch cộng đồng, tập trung ở các xã ven sông thuộc huyện Châu Thành. Các điểm du lịch ở xã Mỹ Thạnh An, Phú Nhuận, Hưng Phong, du lịch sinh thái huyện Chợ Lách, Ba Tri, Bình Đại. Ngoài ra, Bến Tre hiện đang có hai khu du lịch đặc thù là “Forever Green Resort” và dự án “Bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích lịch sử đường Hồ Chí Minh trên biển tại Bến Tre”, đây là 2 khu du lịch đang được tập trung xây dựng hoàn chỉnh. Các khu di tích văn hóa – lịch sử như Lăng Nguyễn Đình Chiểu, Khu lưu niệm Nguyễn Thị Định, Di tích Đồng Khởi, Căn cứ Quân Khu ủy Sài Gòn – Gia Định cũng đang tiếp tục nâng cấp và phát triển kết hợp với phát triển loại hình du lịch tham quan làng nghề.

    Ngoài những sản phẩm du lịch truyền thống, các ngành hữu quan tỉnh Bến Tre còn phối hợp tổ chức các sự kiện, chiến dịch về nguồn, phát triển dịch vụ vui chơi, giải trí, góp phần giữ khách lưu trú và kích thích nhu cầu chi tiêu của du khách. Thực hiện các chương trình thông tin, xúc tiến quảng bá du lịch, giới thiệu đất nước, con người, tài nguyên, sản phẩm du lịch của tỉnh, huyện đến với du khách, doanh nghiệp, nhà đầu tư trong và ngoài nước. Ngành du lịch Bến Tre cũng biên soạn và phát hành ấn phẩm với những thông tin chính thức về du lịch để tạo lực đẩy mới cho du lịch địa phương.

    Bên cạnh đó, tiếp tục củng cố và nâng cao nhận thức của xã hội về phát triển du lịch; nâng cấp các di tích văn hóa – lịch sử; tổ chức các sự kiện lễ hội mang nét đặc thù của địa phương; tăng cường số lượng các khu, điểm du lịch, hướng đến nhóm khách cao cấp, có thời gian lưu trú dài và có khả năng chi tiêu cao. Đồng thời tiếp tục củng cố và thực hiện các chương trình liên kết phát triển du lịch với các thành phố phía Nam như thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Cần Thơ, các tỉnh Tiền Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh và Long An; cải thiện chất lượng dịch vụ ở tất cả các cơ sở kinh doanh du lịch; xây dựng cơ chế chính sách, tạo môi trường thuận lợi thu hút đầu tư và phát triển du lịch; phát triển du lịch gắn với khai thác các di tích lịch sử – văn hóa, công trình kiến trúc; triển khai thi công nhanh các dự án đầu tư phát triển du lịch; tăng cường hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch…/.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Du Lịch Nông Nghiệp: Hướng Đi Mới Trong Phát Triển Du Lịch Bạc Liêu
  • Phát Triển Tour Du Lịch Ẩm Thực Tại Việt Nam
  • Bàn Về Nguyên Tắc Phát Triển Bền Vững Của Ngành Du Lịch Việt Nam
  • Đề Tài: Hoàn Thiện Pháp Luật Trong Lĩnh Vực Du Lịch Việt Nam, Hot
  • Pháp Lệnh Du Lịch 1999 11/1999/pl
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100