Lễ Hội Với Phát Triển Kinh Tế Du Lịch

--- Bài mới hơn ---

  • Phát Triển Du Lịch Mice Gắn Với Trải Nghiệm Sản Phẩm Du Lịch Văn Hóa
  • Mice Là Gì? Du Lịch Mice Có Lợi Ích Như Thế Nào?
  • Việt Nam Quảng Bá Nhiều Sản Phẩm Du Lịch Mới Tại Wtm 2014
  • Việt Nam Quảng Bá Nhiều Sản Phẩm Du Lịch Mới Tại Anh
  • Tăng Cường Công Tác Quảng Bá Điểm Đến Và Phát Triển Sản Phẩm Du Lịch Ninh Bình
  • (Cinet)- Lễ hội là hoạt động văn hóa truyền thống tốt đẹp của mỗi dân tộc có hàng ngàn năm lịch sử. Lễ hội thể hiện lòng tri ân, uống nước nhớ nguồn, là dịp để ôn lại lịch sử và ghi nhận công đức của các bậc tiền nhân đã có công dựng nước, giữ nước và bảo vệ nền độc lập của dân tộc.

    Lễ hội Carnival ở thành phố Rio De Janeiro, Brazil được đánh giá là lễ hội ấn tượng nhất với sự tham gia diễu hành

    của hàng triệu người trong điệu nhạc samba truyền thống. Ảnh: Carnaval.Rio

    Mang truyền thống đặc trưng của mỗi dân tộc, vùng miền, lễ hội phản ánh những nét đẹp văn hoá truyền thống, tôn giáo, tín ngưỡng, tính nhân văn riêng có. Đến với lễ hội ngoài việc tham dự phần lễ, thì phần hội cũng không kém phần đặc sắc và phong phú với sự tham gia của cộng đồng cùng các diễn xướng, trò chơi dân gian … Vì vậy lễ hội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc giáo dục tư tưởng, chính trị, gìn giữ nét đẹp văn hóa dân tộc trong mỗi người.

    Giá trị của lễ hội chính là giá trị cộng cảm và cộng mệnh. Ngày lễ hội là thời gian cư dân tụ họp để tưởng nhớ người có công với cộng đồng. Đây là sinh hoạt cộng đồng diễn ra long trọng, đem lại sự phấn chấn cho tất cả mọi người. Lễ hội cũng chính là một bảo tàng văn hóa nơi lưu giữ các giá trị văn hóa và các sinh hoạt văn hóa qua các thời kì lịch sử được tái hiện lại ở nhịp sống đương thời.

    Hiện nay, lễ hội đang được tổ chức với quy mô ngày càng lớn và nhiều lễ hội đã trở thành biểu tượng của một quốc gia. Chính điều đó khiến một thành phố ban đầu là bình thường có thể trở thành “thành phố lễ hội”. Nhìn ra thế giới, có thể kể đến thành phố Edmonton của Canada, mỗi năm nơi đây diễn ra tới 30 cuộc hội hè hoành tráng, sôi động với hàng triệu người tham gia. Lễ hội hóa trang Carnaval của các tín đồ Ky tô giáo luôn nổi tiếng toàn thế giới nhân dịp Mardi Gras (ngày thứ ba trước tuần chay). Và lễ hội Carnaval tại thành phố Rio De Janeiro, Brazil được đánh giá là lễ hội ấn tượng nhất với sự tham gia diễu hành của hàng triệu người trong điệu nhạc samba truyền thống đan xen các đoàn xe hoa rực rỡ và các nghệ sĩ hóa trang nghệ thuật…đã trở nên nổi tiếng khắp thế giới.

    Sức hấp dẫn của các lễ hội đang trở thành tiềm năng lớn để các nhà kinh doanh du lịch quan tâm đầu tư và khai thác. Du lịch lễ hội trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng được ví như một mỏ vàng vẫn còn hoang sơ. Ở Việt Nam, mỗi năm có hơn 8000 lễ hội nhưng chưa được khai thác hiệu quả và thu hút mạnh mẽ khách du lịch.

    Hiện nay, du lịch lễ hội ở nhiều quốc gia trên thế giới đã có bước tiến mới và đem lại những lợi ích kinh tế không nhỏ. Có thể điểm qua một số lễ hội như: Lễ hội Carnival ở Rio de Janeiro (Brazil, gọi tắt là lễ hội Rio Carnival) lừng danh thế giới chính thức khai mạc vào ngày 9-2 hàng năm và mang lại doanh thu khoảng 1 tỷ USD với hơn 1,5 triệu khách du lịch về cho thành phố này.

    Lễ hội bia Oktoberfes nổi tiếng ở Munich kéo dài từ 16/9 đến 3/10 thu hút trung bình khoảng 6 triệu lượt khách tham dự để thưởng thức các loại bia tươi nổi tiếng và những món ăn đặc sản của Đức với doanh thu từ lễ hội này ước tính khoảng gần 8 tỷ USD.

    Tết cổ truyền Songkran tại Thái Lan. Ảnh: Phuket

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sản Phẩm Du Lịch Là Gì? Các Yếu Tố Cấu Thành Sản Phẩm Du Lịch
  • Chiến Lược Phát Triển Sản Phẩm Du Lịch Tỉnh Kiên Giang
  • Du Lịch Kiên Giang Còn Nhiều Dư Địa Phát Triển
  • Sản Phẩm Du Lịch Huế Quá Rẻ
  • Hội An Biến Rác Thải Thành Sản Phẩm Du Lịch
  • Phát Triển Lễ Hội Thành Sản Phẩm Du Lịch

    --- Bài mới hơn ---

  • Điểm Mặt Những Sản Phẩm Du Lịch Mới Tại Quảng Bình
  • Đến Huế Trải Nghiệm Du Lịch Mưa
  • “mưa Huế” Trở Thành Sản Phẩm Du Lịch Tại Festival Huế 2012
  • Ninh Bình Giới Thiệu Sản Phẩm Du Lịch
  • Hội An Với Sản Phẩm Du Lịch Đặc Trưng
  • Nếu lễ tết là một hệ thống phân bổ theo thời gian thì lễ hội là hệ thống phân bố theo không gian. Mỗi vùng, miền đều có những lễ hội riêng của mình. Các lễ hội Việt chủ yếu tập trung vào mùa xuân và mùa thu là thời gian mà công việc ruộng vườn đã hoàn tất. Lễ hội bao gồm hai phần: phần lễ và phần hội. Phần lễ mang tính chất tâm linh có ý nghĩa tạ ơn và cầu xin (tạ ơn các vị thần thánh đã phù hộ cho dân làng trong năm qua và cầu xin các vị tiếp tục giúp đỡ trong năm tới). Phần lễ bao gồm các nghi thức được tiến hành theo một trình tự chặt chẽ nghiêm ngặt có tính bắt buộc: lễ mộc dục (lễ tắm tượng hay thần vị), lễ tế gia quan (nghi thức mặc áo, đội mũ cho tượng thần), lễ rước, lễ tế thần, lễ khai hội và cuối cùng là lễ tế giã đám.

    Phần hội gồm các trò chơi giải trí hết sức phong phú. Xét về nguồn gốc, phần lớn các trò chơi này đều xuất phát từ những ước vọng thiêng liêng của cư dân nông nghiệp, bao gồm các trò chơi thể hiện ước vọng cầu mưa như các trò chơi tạo ra tiếng nổ mô phỏng tiếng sấm trong hội mùa xuân để nhắc trời làm mưa (thi đốt pháo, ném pháo, đánh pháo đất). Xuất phát từ ước vọng cầu an là các trò chơi thi thả diều vào các hội mùa hè, mong gió lên, nắng lên để nước lụt mau rút xuống. Xuất phát từ ước vọng phồn thực bao gồm các trò chơi cướp cầu thả lỗ, đánh đáo ném còn, nhún đu, bắt chạch trong chum. Xuất phát từ ước vọng rèn luyện sự nhanh nhẹn, tháo vát là các trò chơi thi thổi cơm, thi luộc gà, thi dọn cỗ, thi bắt lợn, thi dệt vải, thi leo cầu vồng…

    Như vậy, lễ hội là sự tổng hợp uyển chuyển của cái linh thiêng (lễ) và cái trần thế (hội).

    Lễ hội tôn giáo gồm các lễ hội chùa Hương (Mỹ Đức – Hà Tây), hội chùa Tây Phương (Thạch Thất – Hà Tây), lễ hội Yên Tử (Quảng Ninh)…

    – Lễ hội là một phần quan trọng trong nền văn hóa Việt Nam, chứa đựng trong nó bản sắc văn hóa dân tộc của con người Việt . Lễ hội là dịp con người được trở về với cội nguồn tự nhiên, dân tộc của mỡnh; được giãi bày phiền muộn, lo âu cầu mong thần linh giúp đỡ chở che.

    – Lễ hội thể hiện sức mạnh cộng đồng làng xã, địa phương hay rộng hơn là quốc gia dân tộc. Người dân thờ chung các vị thần đều có chung mục tiêu đoàn kết để vượt qua gian khổ, xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc.

    – Lễ hội thể hiện nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ giá trị vật chất tinh thần của mọi tầng lớp dân cư, là hình thức giáo dục chuyển giao cho các thế hệ sau biết giữ gìn thừa kế và phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống quý báu của dân tộc.

    Thực trạng du lịch lễ hội tại Việt Nam

    Hoạt động du lịch lễ hội trong thời gian qua đã đạt được một số thành công ban đầu như sau:

    – Công tác tôn tạo cơ sở vật chất, các di tích lịch sử văn hóa gắn với lễ hội, các làng nghề truyền thống được khơi dậy và từng bước phát triển.

    – Công tác tổ chức lễ hội, quản lý các lễ hội ngày càng được tăng cường. Việc thanh tra, kiểm tra lễ hội và các hoạt động văn hóa dịch vụ văn hóa được đẩy mạnh, giúp chấn chỉnh những sai phạm trong hoạt động lễ hội.

    – Một số lễ hội đặc sắc được tổ chức thành công ở cả 3 miền Bắc – Trung – thu hút đông đảo du khách trong nước và quốc tế.

    – Việc khôi phục lễ hội dân gian, trong đó có lễ hội dân gian của các dân tộc thiểu số được chú trọng.

    – Thông qua lễ hội, các thế hệ người Việt hiểu hơn về những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc từ đó nâng cao lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc. Lễ hội đã giúp cho du khách quốc tế thay đổi những nhận thức trước đây về Việt . Nhận thức này đã tạo điều kiện cho ngành Du lịch Việt phát triển.

    Bên cạnh những mặt tích cực, du lịch lễ hội cũng đã bộc lộ những tồn tại nhất định đó là:

    – Nhiều di tích đã biến dạng do bị lấn chiếm hoặc tu bổ không hợp lý. Chẳng hạn, mới đây Cục Di sản Văn hóa thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã buộc Ban Quản lý khu di tích chùa Dâu (Bắc Ninh) ngừng việc xây dựng cổng chùa Dâu do công trình này làm biến dạng khu di tích, vi phạm nghiêm trọng Luật Di sản.

    – Thực tế hiện nay, có không ít người đi lễ hội nhưng không có hiểu biết về nơi mình đến, về lễ hội mà mình tham gia, về nhân vật lịch sử mà mình đang dự lễ tôn vinh tưởng nhớ, nên mặc trang phục không phù hợp.

    – Một số lễ hội rơi vào tình trạng mê tín dị đoan. Xu hướng thương mại hóa các lễ hội đã dẫn đến nguy cơ phai mờ giá trị bản sắc văn hóa dân tộc, tạo ra những biểu hiện tiêu cực, thiếu lành mạnh trong tổ chức hoạt động lễ hội, hiện tượng nâng giá hàng hóa, dịch vụ đối với du khách.

    – Sự lãng phí tiền của ở các lễ hội: quần áo nghi lễ, các loại hương khói, vàng mã đã tiêu phí một số tiền không nhỏ. Theo thống kê hàng năm, cả nước đốt cháy khoảng 350 tỷ đồng vàng mã.

    – Vấn đề rác thải làm ô nhiễm môi trường, tệ nạn cờ bạc phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau.

    – Hoạt động quảng bá sản phẩm đặc trưng của từng vùng, miền, địa phương và những nét văn hóa du lịch đặc trưng chưa được chú trọng.

    – Đội ngũ hướng dẫn viên du lịch lễ hội cho du khách quốc tế còn thiếu và yếu do đó chưa truyền tải được hết các giá trị văn hóa, lịch sử của lễ hội cho du khách.

    Một số giải pháp phát triển du lịch lễ hội

    – Trong phần lễ chỉ nên giữ những nghi lễ đặc trưng, lược bỏ những thủ tục rườm rà mất nhiều thời gian, tránh rơi vào mê tín dị đoan. Tăng cường phát triển các hoạt động trong phần hội bằng cách khôi phục các trò chơi dân gian đặc trưng, tạo ra không gian mở để khách du lịch có thể trực tiếp tham gia vào những trò chơi và hoạt động của lễ hội. Kết hợp với các hoạt động khác như múa rối nước, hát quan họ, hát giao duyên…

    – Kết hợp với lễ hội mở các cuộc triển lãm, gian hàng bán đồ lưu niệm, những sản phẩm độc đáo, đặc sản của địa phương.

    – Sân khấu hóa lễ hội một cách linh hoạt, hợp lý, chọn sự kiện tiêu biểu có giá trị văn hóa cao đưa vào lễ hội, tìm nét riêng độc đáo của từng vùng miền, nhằm khác biệt hóa sản phẩm của từng địa phương.

    – Tạo điều kiện cho du khách đi lại và ăn ở thuận lợi, an toàn, đảm bảo an ninh trật tự và đặc biệt là vệ sinh an toàn thực phẩm cho du khách trong quá trình lưu trú và tham gia vào các hoạt động của lễ hội.

    – Coi trọng việc đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ hướng dẫn viên du lịch lễ hội, để họ có đủ kiến thức và kỹ năng truyền tải được nội dung và ý nghĩa của các lễ hội cho du khách đặc biệt là du khách quốc tế. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục để mọi tầng lớp nhân dân hiểu được ý nghĩa văn hóa lịch sử của các lễ hội từ đó nâng cao ý thức bảo tồn các di tích, bản sắc văn hóa của dân tộc.

    – Đẩy mạnh việc xúc tiến quảng bá du lịch lễ hội một cách thường xuyên và có hiệu quả.

    1. Nguyễn Đình Hòa: Giữ gìn và làm giàu bản sắc văn hóa dân tộc để phát triển du lịch bền vững. Tạp chí kinh tế và phát triển số 117 tháng 3 năm 2007

    2. Trần Ngọc Thêm: Tìm về bản sắc văn hóa Việt – NXB TP Hồ Chí Minh 3-2001

    3. Trần Quốc Vượng: Văn hóa Việt – Tìm tòi và suyngẫm – NXB Văn học 2003

    4. http:// www.Lehoivietnam. gov. vn.

    * Khoa Du lịch và Khách sạn – Đại học Kinh tế Quốc dân

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kiên Giang: Xây Dựng Sản Phẩm Du Lịch Đặc Trưng Gắn Liền Với Bảo Vệ Môi Trường
  • Khánh Hòa Khai Thác Nhiều Sản Phẩm Du Lịch Độc Đáo
  • Huế Phát Triển 2 Sản Phẩm Du Lịch Mới
  • Du Khách Đến Huế Sẽ Được Trải Nghiệm Nhiều Sản Phẩm Du Lịch Mới
  • Làm Mới Sản Phẩm Du Lịch Hội An: Cần Thiết, Nhưng Phải Phù Hợp
  • Lễ Hội Dân Gian Và Sự Phát Triển Du Lịch

    --- Bài mới hơn ---

  • Ttlv: Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch Lễ Hội Tại Huế
  • Du Lịch Mice Ở Việt Nam Đầy Tiềm Năng Trong Thời Hội Nhập
  • Thực Trạng Và Tiềm Năng Phát Triển Của Du Lịch Mice Tại Việt Nam
  • Tiềm Năng Phát Triển Du Lịch Mộc Châu
  • Du Lịch Mộc Châu Và Những Tiềm Năng Phát Triển
  • (Xã hội) – Có thể nói Việt Nam là đất nước của những lễ hội dân gian. Và trong bức tranh văn hóa, từ quá khứ cho đến hiện tại, thì lễ hội dân gian luôn là điểm nhấn quan trọng, là mảng màu đặc sắc thể hiện tập trung và đa dạng những nét tinh hoa văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Lễ hội làng Dâu (huyện Bình Lục, Hà Nam) – Nguồn: chúng tôi Lễ hội dân gian – nguồn lực quan trọng cho phát triển du lịch

    Với số lượng 7.039 lễ hội dân gian (theo thống kê chính thức của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch năm 2008) trải rộng khắp các làng quê, vùng, miền trên cả nước, có thể thấy Việt Nam có tiềm năng vô cùng to lớn để phát triển du lịch. Hơn thế, các lễ hội dân gian rất đa dạng về loại hình, mỗi lễ hội lại có những giá trị đặc sắc gắn với từng vùng, miền, như lễ hội Pháo Đồng Kỵ (tỉnh Bắc Ninh), lễ hội Chọi trâu Đồ Sơn (thành phố Hải Phòng), lễ hội Trò Trám (tỉnh Phú Thọ), lễ hội Nghinh Ông ở nhiều địa phương ven biển miền Trung và Nam Bộ,…

    Lễ hội và du lịch luôn gắn bó chặt chẽ với nhau. Những hội làng tưng bừng thuở xưa, cho dù chưa xuất hiện thuật ngữ du lịch, đã luôn hấp dẫn những người tham gia từ các làng khác, vùng khác hay ít nhất cũng là những làng kết chạ hay có quan hệ mật thiết với làng có lễ hội. Có thể nói không có (hoặc là rất hiếm có) lễ hội dân gian nào lại chỉ được tổ chức với số người tham dự chỉ của cộng đồng ấy mà không có sự tham dự của những người ngoài cộng đồng. Yếu tố hành hương, yếu tố du lịch đã manh nha từ đó. Hiện nay, trong xu thế phát triển nở rộ của các lễ hội dân gian, trong bối cảnh một thế giới hội nhập, một xã hội hiện đại, các lễ hội dân gian ngày càng trở thành đối tượng thu hút đông đảo khách du lịch, khách hành hương. Chính trong sự nở rộ của lễ hội dân gian và sự phát triển nhanh chóng của du lịch mà sự gắn kết của hai loại hình này đã dẫn đến sự hình thành và phổ biến của các thuật ngữ “du lịch văn hóa”, “du lịch cộng đồng”, “du lịch khám phá”, “du lịch trải nghiệm”, “du lịch về nguồn”,… trong đó lễ hội luôn là đối tượng quan trọng và đặc biệt đã xuất hiện thuật ngữ chỉ mối quan hệ này là “du lịch lễ hội”.

    Lễ hội dân gian đáp ứng nhu cầu thực hành tín ngưỡng ngày càng cao của người dân. Người đi hội có thể không chơi, không xem hội nhưng việc lễ bái cho cá nhân thì không thể thiếu. Thực tế cho thấy đi lễ là nhu cầu lớn nhất, quan trọng nhất và thiêng liêng nhất của hầu như tất cả những người đi lễ hội. Đây cũng là lẽ thường tình của người hành hương từ xưa đến nay. Hầu hết những lễ hội của các làng đã được khôi phục lại và hấp dẫn khách thập phương đến thực hành tín ngưỡng. Chúng ta có những lễ hội kéo dài, như lễ hội chùa Hương, lễ hội đền Hùng, lễ hội Yên Tử,… thu hút số lượng khách hành hương rất đông. Điều này cho thấy loại hình du lịch lễ hội ngày càng là một nhu cầu lớn đối với nhiều người dân.

    Lễ hội dân gian đáp ứng nhu cầu giải trí, thưởng ngoạn của khách du lịch. Khách du lịch ngày càng tìm đến những lễ hội dân gian nhiều hơn do bản chất của du lịch là tìm đến những gì là mới và lạ để được thưởng ngoạn cảnh đẹp, được khám phá cuộc sống hay những đặc sản địa phương và để vui chơi, giải trí. Lễ hội dân gian hoàn toàn đáp ứng được những nhu cầu đó. Bởi vậy, lễ hội dân gian vốn đã gắn bó với cuộc sống của người dân từ lâu nay lại có dịp mở rộng và phát triển ở các vùng quê, từ đồng bằng cho đến miền núi xa xôi, thậm chí lễ hội ở các vùng xa xôi, hẻo lánh và hoang sơ lại càng thu hút du khách. Hơn thế nữa, các lễ hội dân gian lại thường xuyên được tổ chức ở các không gian thiêng, những cơ sở tín ngưỡng có kiến trúc và trang trí đẹp, truyền thống, những địa điểm phong cảnh hữu tình, nên thơ, những khung cảnh làng quê truyền thống,… nên rất hấp dẫn du khách.

    Gắn với du lịch, vai trò giải trí của lễ hội dân gian được nâng cao, cả về mặt tin h thần và vật chất, nhưng cao hơn đó là việc giải tỏa về mặt tâm linh cho con người. Sự cân bằng tâm lý, giảm bớt sự căng thẳng trong cuộc sống để tạo ra sự bình tâm cho mỗi con người là yếu tố tích cực của lễ hội dân gian.

    Lễ hội dân gian đáp ứng nhu cầu góp công góp sức đầu tư vào các hoạt động tâm linh cũng như các cơ sở tín ngưỡng hiện nay. Với sự tham gia của du khách thập phương, các lễ hội ở khắp nơi được tiếp thêm một nguồn lực mới bao gồm cả vật chất (tiền công đức và chi phí của khách thập phương khi đến hội) và tinh thần (người đến hội đông làm cho người dân vừa có thu nhập, vừa thấy lễ hội của địa phương mình được coi trọng); từ đó càng khuyến khích người dân khôi phục, gìn giữ những giá trị văn hóa mà lễ hội của họ đang có để có thể thu hút được khách du lịch.

    Như vậy, du lịch đã góp phần phát triển lễ hội dân gian một cách tích cực. Nhờ sự phát triển của du lịch mà lễ hội dân gian được gìn giữ, phát huy và làm giàu, các phong tục tập quán, các giá trị văn hóa trong lễ hội dân gian được khôi phục lại để phục vụ du khách, các nét bản sắc văn hóa của từng lễ hội, từng vùng, miền được khẳng định trong niềm tự hào và ý thức bảo tồn, phát huy các giá trị đặc sắc của lễ hội ở người dân nơi đó. Ở chiều tương tác ngược lại, lễ hội dân gian hỗ trợ đắc lực cho sự tăng trưởng của ngành du lịch, góp phần làm cho bức tranh du lịch của nước ta thêm phong phú với đa dạng hơn các sự lựa chọn cho du khách, với bản sắc của văn hóa Việt Nam hấp dẫn các du khách nước ngoài. Ngành du lịch dựa vào nguồn lực văn hóa đa dạng và đặc sắc này mà có thêm được số lượng lớn du khách trong nước và nước ngoài.

    Các xu hướng thực hành lễ hội dân gian hiện nay và vấn đề đặt ra cho phát triển du lịch

    Cũng nằm trong mục tiêu phát triển lễ hội dân gian để phục vụ du lịch, trong khoảng hơn chục năm qua đã xuất hiện xu hướng làm mới lễ hội dân gian để phục vụ cho việc quảng bá du lịch của các địa phương. Trên cơ sở và hình mẫu của những lễ hội dân gian, những lễ hội du lịch này truyền tải những thông điệp mới, mục đích mới, được tổ chức chủ yếu tại các khu vực đô thị đông đúc với mục đích quảng bá du lịch, thu hút khách du lịch. Bên cạnh sự thành công của xu hướng hình thành lễ hội mới trên cơ sở của các lễ hội dân gian gắn với việc quảng bá du lịch thì cũng còn có nhiều vấn đề đặt ra khiến cho các lễ hội dạng này không phải khi nào cũng hấp dẫn khách du lịch, ví như sự kết hợp nhiều khi vụng về, chắp vá vội vàng các yếu tố của lễ hội dân gian trong các lễ hội du lịch hay sân khấu hóa nhiều loại hình nghệ thuật dân gian khó được du khách chấp nhận, rồi “hội chứng kỷ lục” (như cặp bánh chưng bánh dày lớn nhất, dàn nhạc dân tộc có số lượng nhạc công đông nhất, nồi nấu nước phở lớn nhất, rồng gốm dài nhất, tà áo dài dài nhất,…) cũng bộc lộ rõ sự khoa trương, tùy tiện, kém chất lượng,… khiến cho các lễ hội này trở nên pha tạp, lai căng, kém hấp dẫn khách du lịch.

    Xu hướng thương mại hóa có lẽ là xu hướng phổ biến trong các lễ hội dân gian hiện nay cho dù xã hội đã lên tiếng nhiều về tình trạng này. Những chiêu trò thu hút khách du lịch bằng nhiều cách, hòm công đức đặt khắp nơi, các dịch vụ tín ngưỡng nở rộ, tình trạng dựa vào lễ hội đông người để chèn ép khách, tranh giành khách, cò mồi, dịch vụ lấn át hoạt động hội, giá cả phục vụ ăn uống, thu lệ phí chưa hợp lý,… xảy ra thường xuyên trong các lễ hội. Tình trạng bán vé và công khai thu các loại phí dịch vụ quá nhiều đã làm mất đi nét đẹp của lễ hội, tính thương mại cũng đã len lỏi cả vào các không gian thực hành nghi lễ linh thiêng.

    Nhìn vào số lượng lễ hội có thể thấy lễ hội dân gian ở nước ta rất đa dạng, phong phú, song hiện nay xu hướng đồng dạng hóa lễ hội đang trở nên phổ biến và khiến cho lễ hội dân gian phần nào trở nên nhạt nhòa, các lễ hội mất dần tính đặc trưng và ảnh hưởng lớn đến du lịch lễ hội. Lễ hội dân gian vốn gắn bó với từng làng quê, từng vùng, miền và mang tính đặc trưng, song hiện nay lại được tổ chức theo một khuôn mẫu, một trình tự, một kịch bản gần như nhau, tạo nên sự đơn điệu, kém hấp dẫn.

    Bên cạnh đó, xu hướng thế tục hóa cũng đã mang tới cho lễ hội dân gian những màu sắc mới, đời thường hơn và cũng ít thiêng hơn. Xu hướng thế tục hóa đã tạo ra sự đa dạng và gần gũi cho lễ hội dân gian. Nhiều người dân đi lễ hội không phải vì để khấn vị thần được tôn thờ, nhiều người đi hội cũng không biết lễ hội đó tôn vinh vị thần nào, họ cứ đi và được hòa vào không khí tâm linh, như vậy đã là đủ. Đó là chưa kể nhiều người dân đi lễ hội không vì mục đích đi lễ mà mục đích của họ chỉ là đi chơi, lấy lễ hội làm không gian gặp gỡ, tụ họp,… Nhiều người có mục đích đi lễ nhưng không hiểu biết về trình tự nghi lễ, lễ vật,… Họ cầu cúng trong tâm lý chung là kéo thần thánh về gần với cuộc sống đời thường để phục vụ cho những nhu cầu cũng hết sức đời thường. Xu hướng này cũng góp phần làm hạn chế tính thiêng của lễ hội, khiến cho lễ hội trở nên tự do, thậm chí có phần tùy tiện, lộn xộn, không còn đáp ứng được sự trông đợi của khách du lịch.

    Với sự nở rộ của lễ hội dân gian, việc quản lý được đặt ra là cần thiết, song quản lý lễ hội theo xu hướng nhà nước hóa lại đang mang tới cho lễ hội dân gian nhiều bất cập. Không ít những lễ hội dân gian cũng đã theo xu hướng nhà nước hóa và mất dần đi giá trị truyền thống vốn có. Ví dụ những sự lạm dụng kịch bản trong lễ hội, sự ganh đua danh tiếng, sự can thiệp quá sâu của chính quyền địa phương và những định hướng, chỉ đạo, hướng lễ hội nghiêng về mục đích tuyên truyền,… đã khiến cho nhiều lễ hội phai nhạt màu sắc dân gian và giảm sút quyền chủ động của người dân trong vai trò là chủ thể của lễ hội. Nhà nước hóa lễ hội cũng thể hiện qua việc phân cấp lễ hội. Không chỉ vậy, “hội chứng xin nâng cấp lễ hội” cũng khiến cho sự ganh đua xảy ra, dẫn đến lãng phí và cả sự không đoàn kết trong cộng đồng. Điều này đang có nguy cơ khiến cho lễ hội bị sa đà vào xu hướng hình thức, không còn thực chất là ngày hội của nhân dân,…

    Lễ hội dân gian thường gắn chặt với các cơ sở tín ngưỡng, vì thế cùng với sự phát triển của lễ hội dân gian thì các cơ sở tín ngưỡng cũng trong xu hướng được chú trọng trùng tu, tôn tạo và xây mới, tạo ra không gian rộng rãi hơn cho việc tổ chức lễ hội. Hiện nay, việc trùng tu, tôn tạo và xây mới các di tích đã trở thành hoạt động thường xuyên và liên tục từ những ngôi chùa, đình, đền, miếu, phủ,… ở các vùng quê xa xôi cho đến các di tích ở các đô thị. Việc mở mang các di tích tạo điều kiện thuận lợi cho khách du lịch đến tham quan di tích và tham dự lễ hội. Song việc này cũng gây nên nhiều bàn luận và mâu thuẫn, đây đó việc trùng tu các di tích được thực hiện tùy tiện, làm mất đi giá trị vốn có của những không gian tâm linh, nhiều di tích sơn tượng mới lòe loẹt, thay cột gỗ bằng cột xi-măng, những bức chạm khắc cổ nhuốm màu thời gian thay bằng những bức chạm mới,… khiến cho các di tích cũng dần trở nên giống nhau, khiến cho du khách không còn có nhu cầu khám phá nhiều di tích và lễ hội khác nhau nữa. Lễ hội, di tích, theo đó mà dần trở nên mờ nhạt, không còn thu hút được du khách, nhất là du khách nước ngoài.

    Để lễ hội dân gian trở thành một nguồn lực quan trọng cho phát triển du lịch

    Cũng như nhiều hiện tượng văn hóa khác, lễ hội dân gian trong xã hội đương đại vừa có những sự đổi mới, sáng tạo, vừa giữ gìn, khôi phục được những giá trị truyền thống sau những thăng trầm nhất định mà nó phải trải qua. Có cái mất đi, có cái thay đổi và có cả những sáng tạo mới mẻ, nhưng điều quan trọng là lễ hội dân gian vẫn đáp ứng được nhu cầu văn hóa của đông đảo người dân và phần nào đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu của du khách quốc tế khi mà du lịch hiện đang là một ngành công nghiệp quan trọng ở nhiều quốc gia.

    Muốn lễ hội dân gian luôn là một nguồn lực bền vững cho phát triển du lịch, trước tiên, phải giữ được tính đa dạng của lễ hội dân gian (đa dạng loại hình, đa dạng các thực hành nghi lễ, đa dạng các biểu đạt văn hóa gắn với đặc thù của từng lễ hội, từng cộng đồng địa phương, có như vậy khách du lịch mới có nhu cầu khám phá, trải nghiệm nhiều lễ hội khác nhau, ở nhiều vùng, miền, địa phương khác nhau.

    Thứ hai, khắc phục tối đa tình trạng phục hồi, làm mới tràn lan lễ hội dân gian, đưa những yếu tố mới vào lễ hội một cách tùy tiện, không phù hợp, chạy theo hình thức. Việc phục hồi, sáng tạo, làm mới lễ hội nên được thực hiện bởi những chủ thể của lễ hội trong sự kết hợp chặt chẽ với các cơ quan văn hóa, các nhà chuyên môn để quá trình này đáp ứng đúng nhu cầu và nguyện vọng của người dân.

    Thứ ba, khắc phục thương mại hóa một cách quá mức ở các lễ hội dân gian, bố trí các hòm công đức phù hợp, quản lý chặt chẽ các hình thức dịch vụ trong lễ hội, tránh việc coi khách du lịch đến lễ hội như đối tượng để kiếm lợi – một trong những nguyên nhân khiến du khách không muốn trở lại điểm du lịch đó.

    Thứ tư, cần thiết củng cố yếu tố thiêng – yếu tố cốt lõi trong lễ hội dân gian, để lễ hội dân gian thực sự là điểm thiêng, điểm thăng hoa của cả cộng đồng địa phương và khách du lịch.

    Thứ năm, lễ hội dân gian chỉ hấp dẫn khách du lịch khi đó là sản phẩm văn hóa của người dân, do chính người dân sáng tạo ra, gìn giữ, thực hành và trao truyền. Quản lý nhà nước là cần thiết, nhưng không có nghĩa là giành lấy quyền quản lý hoàn toàn, “ngoài lề hóa” người dân với chính lễ hội của họ.

    Thứ sáu, thận trọng với việc trùng tu, tôn tạo và làm mới các di tích – không gian quan trọng của lễ hội, khách du lịch luôn muốn được nhìn thấy những giá trị nghệ thuật, giá trị truyền thống của các di tích chứ không phải những công trình chắp vá, lai căng, quá hiện đại hoặc quá phô trương.

    Có thể thấy rõ, lễ hội dân gian bằng chính sự đa dạng, phong phú và đặc sắc của nó đã là một nguồn lực quan trọng cho phát triển du lịch. Song khi mối quan hệ giữa lễ hội dân gian và du lịch được nhìn nhận đúng mức hơn và có sự gắn kết chặt chẽ với nhau hơn thì nguồn lực đó sẽ được vận hành tốt hơn và tạo ra hiệu quả thực sự. Lễ hội dân gian trở nên sôi động hơn và có thể phát triển, mở rộng được, có được nhiều hơn nguồn lợi vật chất khi có du lịch, du lịch cũng trở nên nhộn nhịp hơn, có chiều sâu hơn và hấp dẫn hơn khi dựa trên các giá trị văn hóa đặc sắc như lễ hội dân gian. Tuy nhiên, tự bản thân lễ hội dân gian khó có thể trở thành một sản phẩm du lịch hấp dẫn nếu không có bàn tay của những người làm du lịch và du lịch cũng khó có thể phát triển được nếu thiếu điểm tựa là các giá trị văn hóa, trong đó có lễ hội dân gian. Điều này có nghĩa là những chủ nhân của lễ hội dân gian và những người làm du lịch cần có sự gắn kết chặt chẽ với nhau trên cơ sở cả hai bên cùng có lợi và cùng vì mục đích lâu dài, có như vậy thì nguồn lực lễ hội dân gian mới được vận hành tốt trong phát triển du lịch./.

    Nguyễn Thị Phương ChâmTheo Tạp chí Cộng Sản

    PGS, TS, Viện Nghiên cứu văn hóa

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lào Cai Phát Triển Du Lịch Thông Minh
  • Phát Triển Du Lịch Lào Cai Xứng Tầm Lợi Thế, Tiềm Năng
  • Khái Niệm Phát Triển Sản Phẩm Du Lịch
  • Phát Triển Du Lịch Bền Vững (Sustainable Tourism Development) Là Gì?
  • Kiêm Giang: Tìm Giải Pháp Phát Triển 3 Vùng Du Lịch Trọng Điểm
  • Ttlv: Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch Lễ Hội Tại Huế

    --- Bài mới hơn ---

  • Du Lịch Mice Ở Việt Nam Đầy Tiềm Năng Trong Thời Hội Nhập
  • Thực Trạng Và Tiềm Năng Phát Triển Của Du Lịch Mice Tại Việt Nam
  • Tiềm Năng Phát Triển Du Lịch Mộc Châu
  • Du Lịch Mộc Châu Và Những Tiềm Năng Phát Triển
  • Thực Trạng Phát Triển Du Lịch Tại Khu Du Lịch Quốc Gia Mộc Châu
  • THÔNG TIN VỀ LUẬN VĂN THẠC SĨ

    1. Họ và tên học viên: Đặng Hùng Sơn

    2. Giới tính: Nam

    3. Ngày sinh:18/09/1970

    4. Nơi sinh: Xã Thanh Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình

    5. Quyết định công nhận học viên cao học số: 1501/2012/QĐ-XHNV-SĐH ngày 6/8/2012 của Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.

    6. Các thay đổi trong quá trình đào tạo: Không

    7. Tên đề tài luận văn: “Nghiên cứu phát triển du lịch lễ hội tại Huế”

    8. Chuyên ngành: Du lịch Mã số:

    9. Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Phạm Hùng, Công tác tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn – Đại học Quốc Gia Hà Nội

    10. Tóm tắt các kết quả của luận văn:

    – Giới thiệu tổng quan về lễ hội: Làm sáng tỏ khái niệm lễ hội, du lịch lễ hội, loại hình du lịch lễ hội. Những yếu tố và nguyên tắc phát triển du lịch lễ hội, các giá trị văn hóa của lễ hội.

    – Giới thiệu các yếu tố tạo nên nét đặc trưng văn hóa riêng của lễ hội tại Huế thông qua khảo sát các lễ hội ở thành phố Huế.

    – Đưa ra một số bài học kinh nghiệm về tổ chức lễ hội trên thế giới và ở Việt Nam (Hội An)

    – Giới thiệu chung về thành phố Huế, tài nguyên du lịch lễ hội tại Huế, đặc điểm nổi bật của các lễ hội tại thành phố Huế và điều kiện hỗ trợ cho du lịch lễ hội tại Huế.

    – Thống kê thị trường khách du lịch lễ hội tại Huế

    – Điều tra, đánh giá được thực trạng, những thuận lợi của các nguồn lực phát triển du lịch lễ hội hiện nay để đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển loại hình du lịch lễ hội tại Huế.

    – Tiến hành thống kê các lễ hội tại thành phố Huế được diễn ra theo từng tháng trong năm để thuận lợi cho việc tổ chức loại hình du lịch lễ hội.

    – Khẳng định việc phát triển loại hình du lịch lễ hội góp phần bảo tồn và phát triển di sản lễ hội và khai thác giá trị lễ hội để phát triển du lịch.

    – Kết hợp được giữa lễ hội và du lịch sẽ tạo thành thế mạnh cho du lịch văn hóa tại Huế phát triển, cụ thể phát triển loại hình du lịch lễ hội tại Huế.

    – Xây dựng các giải pháp về cơ chế chính sách, quy hoạch tổ chức và quản lý lễ hội. Các giải pháp phát triển, thị trường du lịch lễ hội. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực, tuyên truyền quảng bá, hợp tác đầu tư, bảo tồn văn hóa trong hoạt động du lịch lễ hội

    – Đưa ra các kiến nghị với các cơ quan quản lý nhà nước, các doanh nghiệp du lịch, chính quyền địa phương, khách du lịch, cũng như người dân địa phương tham gia trực tiếp vào các hoạt động du lịch lễ hội tại Huế.

    11. Khả năng ứng dụng trong thực tiễn:

    – Phát triển du lịch lễ hội tại Huế, đặc biệt áp dụng vào việc nghiên cứu phát triển lễ hội festival Huế. Đưa ra các giải pháp để các cơ quan quản lý du lịch và chính quyền địa phương có thể xây dựng các chính sách, quy định phù hợp hiệu quả cho phát triển du lịch lễ hội.

    – Góp phần đa dạng hóa, nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, đi đôi với bảo tồn và phát triển văn hóa trong, hoạt động du lịch lễ hội tại Huế.

    12. Những hướng nghiên cứu tiếp theo:

    – Khảo sát đánh giá tác động của du lịch lễ hội đối trong phát triển văn hóa, kinh tế và bảo tồn các lễ hội tại Huế./.

    INFORMATION ON MASTER’S THESIS

    1. Full name: Dang Hung Son 2. Sex: Male

    3. Date of birth: 18/09/1970. 4. Place of birth: Dong Hoi – Quang Binh

    5. Admission decision number: 1501/2012/QĐ-XHNV-SĐH, Deted 6/8/2012 of the University of Social Sciences anh Humanities, Vietnam National University, Hanoi.

    6. Changes in academic process: No

    7. Official thesis title: ” Research development of Festival tourism in Hue”

    8. Major: Tourism Code:

    9. Supervisors: Dr. Nguyen Pham Hung, the University of Social Sciences and Humanities, Vietnam National University, Hanoi.

    10. Summary the findings of the thesis:

    – Overview of the festival : Clarifying the concept festival, festival tourism , types of tourism festivals. The elements and principles of development of tourism festivals and cultural values ​​of the festival .

    – The relationship between the festival with tourist activities to contribute to the exploitation of the festival , creating tourism products of local characteristics .

    – Introduction to the elements that make up its own cultural characteristics of the Hue Festival through surveying the festivities in the city of Hue .

    – Give some lessons and experiences learned about organizing festivals in the world and in Vietnam (Hoi An)

    – Overview of Hue city, tourism resources of the Hue Festival, features of the festival in Hue and conditional support tourism in Hue Festival .

    – Statistics tourist market in Hue Festival

    – Enumerating the festivities in the city of Hue is happening in each month of the year to facilitate the organization of this kind of festival tourism.

    – Confirmed the development of tourism festivals contribute to the conservation and development of heritage and exploitation festival festive value for tourism development.

    – Matching between festivals and tourism will form strong cultural tourism in Hue development, specifically developed forms of tourism in Hue Festival.

    – Giving recommendations, Proposing solutions to the state authorities, tourism businesses, local authorities, tourists, as well as local people directly involved in tourism activities in Hue Festival .

    – Providing suggestions for tourism management agencies, local government and tourists as well as local people participating directly in tourism activities in the festival tourism in Hue.

    11. Practical applicability:

    – Developing tourism in Hue festival , especially applicable to the study of developmental Festival Hue festival . Provide solutions to the tourism authorities and local governments can develop policies and appropriate regulations for the effective development of tourism festivals.

    – Contribute to persify and improve the quality of tourism products, coupled with conservation and development of culture in , tourism activities in Hue Festival .

    12. The following research directions :

    – Survey and assess the impact of the festival tourism development on cultural , economic and conservation in Hue./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lễ Hội Dân Gian Và Sự Phát Triển Du Lịch
  • Lào Cai Phát Triển Du Lịch Thông Minh
  • Phát Triển Du Lịch Lào Cai Xứng Tầm Lợi Thế, Tiềm Năng
  • Khái Niệm Phát Triển Sản Phẩm Du Lịch
  • Phát Triển Du Lịch Bền Vững (Sustainable Tourism Development) Là Gì?
  • Làm Gì Để Phát Triển Du Lịch Lễ Hội Bắc Ninh

    --- Bài mới hơn ---

  • Review Ba Hòn Đầm Chuyến Đi Tới Quần Đảo Bà Lụa
  • Địa Điểm Du Lịch Hấp Dẫn Tại San Francisco
  • Những Địa Điểm Du Lịch Và Lễ Hội Đặc Sắc Tại San Francisco
  • Đi Du Lịch Hà Nội Nên Mua Gì Về Làm Quà?
  • Nên Mua Gì Làm Quà Khi Du Lịch Hà Nội, Mua Ở Đâu Rẻ, Uy Tín?
  • Liền anh, liền chị với khúc hát quan họ làm mê đắm lòng người

    Thứ nhất, tổ chức, tuyên truyền quảng bá về du lịch lễ hội

    Thứ hai, đa dạng hóa sản phẩm du lịch

    Bắc Ninh cần phải đa dạng hóa sản phẩm du lịch, không chỉ du lịch lễ hội đến các đình, chùa mà còn phải kết hợp thêm với những thế mạnh du lịch làng nghề (làng tranh Đông Hồ), du lịch sinh thái (du thuyền trên sông Cầu), thưởng thức những làn điệu quan họ… để làm đa dạng hóa các sản phẩm, tour tuyến, đáp ứng ngày càng tốt nhu cầu của du khách.

    Thứ ba, nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng

    Tỉnh Bắc Ninh cần chỉ đạo các đơn vị hoạt động kinh doanh du lịch đầu tư, cải tạo nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật, nâng cao chất lượng phục vụ các đối tượng khách đến với các mục đích khác nhau. Cần tổ chức triển khai quy hoạch, nâng cấp sản phẩm du lịch tại các khu du lịch sinh thái, di tích lịch sử văn hóa lễ hội, tập trung khai thác du lịch tại các làng nghề truyền thống trên cơ sở đầu tư cơ sở hạ tầng thuận tiện cho việc tham quan của du khách.

    Thứ tư, nâng cao chất lượng nguồn lực lao động

    Để đáp ứng nhu cầu đặt ra và đưa du lịch phát triển bền vững, đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về du lịch phải được đào tạo chuyên ngành du lịch, những cán bộ học ở ngành khác phải được tham gia các lớp đào tạo ngắn ngày về du lịch, đặc biệt phải khuyến khích cán bộ ngành Du lịch đi học trên đại học chuyên ngành về du lịch.

    Chú trọng giáo dục và nâng cao nhận thức về du lịch, về môi trường cho nhân dân các vùng có điểm di tích lịch sử, phát huy tính cộng đồng vào khai thác du lịch. Cần gắn việc đào tạo nghiệp vụ du lịch với việc đào tạo về an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội. Có chiến lược tuyên truyền sâu rộng trong toàn dân về ngành kinh tế du lịch để người dân không chỉ là những người tham gia vào các lễ hội mà còn là những người làm du lịch.

    Thứ năm, bảo tồn và phát triển các khu di tích lịch sử, các giá trị văn hóa

    Bắc Ninh cần có các biện pháp bảo tồn và phát triển như tăng cường bảo vệ di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh của địa phương; tiếp tục tiến hành đầu tư kinh phí cho việc bảo tồn, tu bổ, tôn tạo những di tích lịch sử văn hóa có giá trị đặc biệt như lăng và đền thờ Kinh Dương Vương, khu di tích Đền Đô, Văn Miếu Bắc Ninh, chùa Dâu, chùa Tam Sơn, chùa Phật Tích, đền thờ Lê Văn Thịnh…; đồng thời, tiếp tục xây dựng và triển khai các dự án khu văn hóa du lịch như khu văn hóa quan họ Cổ Mễ (TP. Bắc Ninh), khu du lịch sinh thái Thiên Thai, khu văn hóa du lịch đền Đầm, khu văn hóa du lịch Phật Tích…; từng bước kiện toàn đội ngũ cán bộ làm công tác bảo tồn di sản văn hóa ở cơ sở; tiếp tục đẩy mạnh công tác xã hội hóa trong việc bảo tồn di sản văn hóa; xây dựng cơ chế, chính sách cụ thể đối với Ban Quản lý di tích ở cơ sở để hoạt động có hiệu quả hơn.

    Đặc biệt, để bảo tồn và phát huy giá trị của di sản dân ca quan họ Bắc Ninh, Tỉnh cần tiếp tục đẩy mạnh các hình thức tuyên truyền, giới thiệu, quảng bá về những giá trị đặc sắc và độc đáo của dân ca quan họ Bắc Ninh dưới nhiều hình thức, khơi dậy niềm tự hào dân tộc, nâng cao ý thức tự tôn, trách nhiệm của từng cá nhân, tập thể, các cộng đồng dân cư về bảo tồn và phát huy giá trị dân ca quan họ Bắc Ninh. Cần có các hình thức công nhận và tôn vinh các nghệ nhân dân ca quan họ Bắc Ninh nhằm động viên, khích lệ các nghệ nhân làm tốt vai trò lưu giữ và truyền dạy dân ca quan họ Bắc Ninh trong cộng đồng; chỉ đạo duy trì, nâng cao chất lượng, quy mô các hoạt động sinh hoạt văn hóa quan họ như liên hoan, hội thi, hội diễn, lễ hội… Xây dựng các dự án quy hoạch, bảo tồn, tôn tạo các không gian, những di tích lịch sử văn hóa, các thiết chế văn hóa, lễ hội truyền thống, phong tục, tập quán… trong các cộng đồng – nơi đã từng là môi trường, là không gian sản sinh và gắn kết với sự trường tồn của dân ca quan họ. Nâng cao chất lượng hoạt động của đoàn dân ca quan họ Bắc Ninh để làm nòng cốt trong các hoạt động trình diễn, giới thiệu dân ca quan họ Bắc Ninh với công chúng; nghiên cứu xây dựng đề án thành lập Nhà hát quan họ nhằm đáp ứng tốt hơn nhiệm vụ sưu tầm, nghiên cứu, bảo tồn và quảng bá về dân ca quan họ Bắc Ninh.

    Đỗ Thị Thu Huyền*

    --- Bài cũ hơn ---

  • 28 Địa Điểm Du Lịch Phú Quốc Mới, Về Đêm, Miễn Phí Tổng Hợp Từ A
  • Thiên Đường Du Lịch Maldives Ở Đâu? Thuộc Nước Nào? Cách Việt Nam Bao Xa?
  • Du Lịch Sài Gòn Có Gì Hay?
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Biển Nhật Lệ, Quảng Bình Đầy Đủ & Cụ Thể
  • Hướng Dẫn Kinh Nghiệm Du Lịch Bụi Hà Tiên Siêu Tiết Kiệm
  • Lễ Hội Dân Gian Góp Phần Phát Triển Du Lịch Địa Phương

    --- Bài mới hơn ---

  • Thông Báo Về Việc Thay Đổi Lệ Phí Xin Visa Anh Quốc 2022
  • Chi Phí Xin Visa Anh Là Bao Nhiêu?
  • Nộp Đơn Xin Visa New Zealand Ở Đâu? Lệ Phí Xin Visa Bao Nhiêu?
  • Phí Và Lệ Phí Lãnh Sự
  • Phí Xin Visa Du Lịch Úc Bao Nhiêu? – Dịch Vụ Visa
  • Thực hiện Chỉ thị 41-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý và tổ chức lễ hội, Phú Yên xác định rõ chiến lược bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa (đặc biệt là lễ hội dân gian) trên địa bàn. Theo đó, tỉnh nỗ lực phát huy giá trị lễ hội dân gian gắn với việc định hình sản phẩm du lịch văn hóa địa phương nhằm tạo nên sự khác biệt của Phú Yên trong chuỗi liên kết, phát triển du lịch với các tỉnh Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.

    Lễ hội đua thuyền truyền thống huyện Sơn Hòa, thu hút đông đảo du khách và người dân địa phương xem, cổ vũ.

    Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có nhiều lễ hội dân gian được tổ chức trong năm như: Lễ hội cầu ngư, hội đua ngựa truyền thống Gò Thì Thùng, lễ hội cầu mưa, lễ bỏ mả của người Ê Đê, lễ hội bài chòi… Tất cả lễ hội này ngày càng lan tỏa rộng rãi và mang nhiều ý nghĩa đối với đời sống vật chất và tinh thần của con người Phú Yên.

    Giá trị hiện thực

    Lễ hội dân gian là một loại hình lễ hội, do con người sáng tạo phục vụ lợi ích cho cả cộng đồng, cho những người cư trú trên cùng một địa bàn, chung một tín ngưỡng, hay cùng một phương thức sản xuất, một không gian sinh tồn để cộng mệnh, cộng cam, cộng sinh.

    Ở Phú Yên, lễ hội dân gian được xem như một hình thức sinh hoạt văn hóa của con người nơi đây, ẩn mình trong các lễ hội dân gian là hình ảnh con người Phú Yên chịu thương, chịu khó với mong muốn thiên nhiên ưu đãi cho hoạt động sản xuất, hay là hình ảnh phảng phất của niềm vui sau mùa thu hoạch… Lễ hội dân gian mang đến nhiều giá trị về mặt vật chất và tinh thần, gắn kết với đời sống sinh hoạt, phát triển hiện nay của con người. Điều này thể hiện cụ thể thông qua ba giá trị cơ bản.

    Lễ hội dân gian xuất hiện từ nhu cầu của cuộc sống cộng đồng dân cư, phản ánh những tư duy ước vọng của con người, gắn liền với bản chất của một đất nước nông nghiệp lúa nước. Xuất phát từ nguồn gốc này mà lễ hội dân gian là dịp biểu dương sức mạnh của cộng đồng, tạo sự kết dính của một cộng đồng người lại với nhau trong quá trình sản xuất, chiến đấu với tự nhiên, với giặc ngoại xâm. Giá trị này luôn được lưu giữ trong các lễ hội dân gian hiện nay, giá trị của nó càng được nâng lên trong xã hội hiện đại, khi mà con người ngày càng muốn khẳng định cái tôi của mình.

    Không chỉ riêng lễ hội dân gian mà bất kỳ lễ hội nào cũng đều hướng về cội nguồn. Lễ hội dân gian được tổ chức hàng năm, gắn liền với từng vùng đất, từng giai đoạn lịch sử giúp con người nhớ về cội nguồn, về dân tộc, về dòng tộc, về văn hóa… Điều này làm cho lễ hội dân gian ở từng vùng mang nét đặc sắc riêng, giá trị nhân văn khác nhau. Sự khác nhau này được quy định bởi lịch sử, phong tục, tập quán, tính cách của con người tại vùng đất đó.

    Thêm vào đó, lễ hội dân gian thường được tổ chức vào các thời điểm sau thu hoạch, đầu mùa sản xuất, đầu năm, vào lúc nông nhàn, thời tiết ôn hòa. Lễ hội phản ánh ước vọng, tôn thờ sự phồn thịnh, sự vui tươi cho cuộc sống, trong đó còn bao gồm cả niềm tin tôn giáo, tín ngưỡng. Điều này tạo nên giá trị về sự thỏa mãn trong đời sống tâm linh của con người khi tham gia lễ hội dân gian.

    Xã hội hiện đại luôn tấp nập, vội vàng với máy móc, kỹ thuật, với những con số, làm cho đời sống con người trở nên căng thẳng, khô cứng. Thông qua các lễ hội dân gian, con người như được tắm mình trong văn hóa dân tộc, đồng thời giải tỏa những nỗi lo, những băn khoăn khi cuộc sống hiện đại đặt ra mà con người chưa tìm được cách giải thích.

    Ba giá trị cơ bản của lễ hội dân gian vừa phân tích ở trên đã tạo nên những giá trị hiện thực của lễ hội dân gian trong đời sống hiện nay. Hàng năm, lễ hội dân gian trên cả nước nói chung và trên địa bàn tỉnh Phú Yên nói riêng đều được tổ chức tại địa điểm và thời gian cụ thể trong năm. Đây là dịp để con người thụ hưởng những thành quả lao động của mình làm ra, để con người tự thưởng cho mình những giá trị văn hóa, vui chơi sau những ngày lao động mệt nhọc; đồng thời tiếp thêm sức mạnh để chuẩn bị tiếp cho một năm làm việc, lao động vui vẻ với những mong ước giản dị là cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

    Yếu tố kích thích du lịch phát triển

    Thông thường, tổ chức lễ hội dân gian thường kéo theo các hoạt động buôn bán, họp chợ… để trưng bày các sản phẩm gắn với đặc điểm của lễ hội, của địa phương, dân cư. Tất cả những hoạt động này xuất phát từ nhu cầu của con người, không chỉ có sự tham gia của người dân địa phương mà còn thu hút người dân mọi miền đất nước và trên thế giới. Với đặc điểm này, công tác tổ chức và hoạt động lễ hội dân gian gắn với phát triển du lịch cần thực hiện tốt.

    Lễ hội xoay trâu tại xã Xuân Lãnh, huyện Đồng Xuân.

    Cụ thể, công tác tuyên truyền về việc thực hiện nếp sống văn minh tại các lễ hội dân gian cần tiếp tục được đẩy mạnh. Tuyên truyền, vận động nâng cao ý thức trách nhiệm của cán bộ, nhân dân và du khách nghiêm túc thực hiện các quy định của Nhà nước về tổ chức lễ hội. Tuyên truyền, giới thiệu nguồn gốc của các lễ hội dân gian, các di tích, nhân vật gắn liền với các lễ hội dân gian để từ đó có cái nhìn đúng về những giá trị văn hóa mang lại cho con người, nâng cao trách nhiệm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa.

    Bên cạnh đó cần có sự chỉ đạo cụ thể của cơ quan quản lý nhà nước và sự vào cuộc của các cấp, ngành về công tác quản lý và tổ chức lễ hội dân gian. Bất kỳ lễ hội dân gian nào cũng bao gồm hai phần: phần lễ và phần hội. Do vậy cần phải có sự chuẩn bị chu đáo về phần lễ và phần hội phù hợp với văn hóa truyền thống dân tộc. Đồng thời tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa về tổ chức lễ hội phù hợp với địa phương và các quy định về tổ chức lễ hội dân gian.

    Với chiến lược phát triển bền vững, lễ hội dân gian phát triển song hành cùng phát triển du lịch nên cần quản lý chặt chẽ phần lễ nhằm đảm bảo giá trị truyền thống của lễ hội; trong phần hội cần kết hợp việc tổ chức trò chơi với nhiều nhu cầu cụ thể để thu hút khách du lịch và người tham quan. Ngoài ra, việc tổ chức lễ hội dân gian kết hợp với các hoạt động văn hóa, thể thao truyền thống với quảng bá du lịch, giới thiệu về mảnh đất, con người Phú Yên là điều cần thiết. Tuy nhiên, điều cần lưu ý là vẫn phải đảm bảo giá trị văn hóa, nếp sống văn minh gắn liền với truyền thống ở mỗi địa phương diễn ra lễ hội.

    Ngoài ra, khi tổ chức lễ hội cần nghiên cứu kỹ nội dung của lễ hội để tránh những biểu hiện không phù hợp, phản cảm trong lễ hội. Trong quá trình chuẩn bị, tổ chức lễ hội cần có những quy hoạch cụ thể để sắp xếp, bố trí khu dịch vụ đảm bảo thuận tiện, không gây cản trở, ùn tắc giao thông; niêm yết giá, bán đúng giá, không chèo kéo khách, không ép giá. Đồng thời tăng cường kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm, đây là một trong những tiêu chí thu hút khách du lịch trên địa bàn tỉnh.

    Lễ hội dân gian là tài nguyên du lịch nhân văn. Việc tổ chức các lễ hội dân gian kết hợp với phát triển du lịch là mô hình đang được thực hiện hiệu quả không chỉ đối với Phú Yên mà còn trên cả nước. Bởi vậy, việc xây dựng, quản lý, tổ chức lễ hội dân gian sao cho hiệu quả, tạo nên yếu tố kích thích sự phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh là điều cần thiết. Trong thời gian tới, hoạt động này sẽ càng phát triển mạnh mẽ, đem lại hiệu quả về mặt vật chất và tinh thần cho con người Phú Yên./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cần Thơ: Bế Mạc Tuần Lễ Du Lịch Xanh Đbscl
  • Những Lễ Hội Truyền Thống Diễn Ra Hàng Năm Tại Sầm Sơn
  • Cơ Cấu Lại Ngành Du Lịch Hướng Đến Phát Triển Bền Vững Và Hiệu Quả Hơn
  • Điểm Đến Mới Khi Du Lịch Cà Ná Ninh Thuận 2022
  • Dịch Vụ Làm Visa Thái Lan
  • Quảng Ninh Phát Triển Du Lịch Văn Hóa Lễ Hội, Tâm Linh

    --- Bài mới hơn ---

  • Gợi Ý Top 11 Địa Điểm Du Lịch Tâm Linh Quảng Ninh Cho Khách Du Lịch
  • Huyền Bí Miền Tây Tạng 8 Ngày 7 Đêm, Du Lịch Tâm Linh Miền Tây Tạng 8 Ngày 7 Đêm
  • Khám Phá Văn Hóa Tâm Linh Của Tây Tạng Qua Những Lá Cờ Lungta
  • Hành Hương Trung Quốc: Nam Ninh
  • Hành Hương Trung Quốc:chinh Phục Tứ Đại Danh Sơn, Du Lịch Tâm Linh Đến Trung Quốc
  • Thực trạng du lịch văn hóa lễ hội, tâm linh tại tỉnh Quảng Ninh

    Thời gian qua, Du lịch Quảng Ninh đã có sự tăng trưởng khá mạnh mẽ, đóng góp vào sự tăng trưởng đó có sự gắn kết chặt chẽ giữa văn hóa và du lịch. Chính văn hóa đã góp phần làm nên bản sắc riêng của nhiều loại hình du lịch hấp dẫn tại Quảng Ninh, trong đó có du lịch văn hóa lễ hội, tâm linh đang rất phát triển trên địa bàn tỉnh. Các di sản văn hóa của Quảng Ninh trải dài suốt từ Đông Triều đến Móng Cái, cho đến các đảo xa đất liền như: Cô Tô, Quan Lạn – Minh Châu, Ngọc Vừng… Hiện nay, Quảng Ninh đang lưu giữ 625 di tích lịch sử văn hóa và danh thắng. Trong đó có vịnh Hạ Long 2 lần được tổ chức UNESCO công nhận là Di sản Thiên nhiên thế giới, 60 di tích được xếp hạng cấp quốc gia, 47 di tích đã được xếp hạng cấp tỉnh…

    Du lịch văn hóa lễ hội

    Hiện Quảng Ninh có khoảng 70 lễ hội được tổ chức hàng năm, tập trung chủ yếu ở loại hình lễ hội dân gian truyền thống, thời gian tổ chức tập trung từ tháng 1 – 3 âm lịch, mang nét đặc trưng của mỗi vùng đất như: lễ hội đền Cửa Ông (Cẩm Phả), lễ hội Yên Tử (Uông Bí), lễ hội Tiên Công (Yên Hưng), lễ hội đình Trà Cổ (Móng Cái), lễ hội đình Quan Lạn (Vân Đôn)

    Du lịch văn hóa tâm linh

    Quảng Ninh có 4 khu di tích trọng điểm là khu di tích danh thắng Yên Tử (TP. Uông Bí), khu di tích lăng mộ các vua Trần (huyện Đông Triều), khu di tích Bãi Cọc Bạch Đằng (huyện Yên Hưng), khu di tích Vân Đồn (huyện Vân Đồn). Ngoài ra, còn có nhiều di tích tiêu biểu khác như: đền Cửa Ông, đình Trà Cổ, đình Quan Lạn, chùa Cái Bầu – Thiền Viện Trúc lâm Giác tâm, chùa Long Tiên…

    Trên thực tế, tiềm năng du lịch văn hóa lễ hội, tâm linh của Quảng Ninh vẫn còn thiếu những điều kiện “đủ”. Trong khi khách nội địa rất ưa chuộng tour trảy hội Yên Tử thì với du khách nước ngoài lại không thực sự hấp dẫn. Không chỉ riêng Yên Tử, nhiều điểm du lịch văn hóa lễ hội, tâm linh của tỉnh phần lớn cũng chủ yếu dành cho khách du lịch nội địa. Để vừa khai thác yếu tố tâm linh, đan xen yếu tố cảnh quan ở các điểm di tích phục vụ du lịch, mở rộng thị trường khách nước ngoài, cần phải có hướng khai thác hợp lý hơn.

    Với nguồn nhân lực du lịch như hiện nay, Quảng Ninh chủ yếu tập trung vào lực lượng nhân lực cho phát triển du lịch cảnh quan, nghỉ dưỡng, nhân lực tham gia vào du lịch lễ hội, tâm linh vẫn còn hạn chế, chưa được đào tạo bài bản, chủ yếu là người dân địa phương, sống tại các khu di tích. Họ tham gia bán hàng, mở các nhà nghỉ, quán ăn xung quanh khu diễn ra lễ hội, hầu hết đều tự phát, nhỏ lẻ, chưa có sự quy hoạch, liên kết với các cơ quan chức năng về du lịch trong việc kinh doanh sản phẩm dịch vụ du lịch đến với khách hàng.

    Cơ sở hạ tầng đến các khu du lịch lễ hội, tâm linh tại Quảng Ninh còn bị hạn chế. Các điểm đến nổi tiếng trong cả nước như đền Yên Tử, chùa Cái Bầu, lễ hội Trà Cổ… hiện nay du khách tiếp cận còn khá khó khăn do địa hình hiểm trở tại các khu di tích; mặt khác, các tuyến đường độc đạo từ bên ngoài vào các điểm du lịch đều rất hẹp, đông phương tiện vận chuyển lưu thông.

    Sản phẩm du lịch lễ hội, tâm linh còn ít, thiếu sự đa dạng và tinh tế. Tại các khu vực đền chùa, các khu di tích nơi diễn ra lễ hội tại Quảng Ninh, các sản phẩm bán cho du khách chủ yếu vẫn là những sản phẩm được sản xuất hàng loạt, nhập khẩu từ Trung Quốc với giá rẻ, không mang tính chất là các sản phẩm đặc trưng của lễ hội, là các sản phẩm thủ công truyền thống của các làng nghề địa phương. Mặt khác, tệ nạn xã hội tại các khu vực tổ chức lễ hội vẫn còn tồn tại như nạn trộm cắp, cướp giật, lừa đảo, ăn xin… khiến cho du khách cảm thấy khó chịu và lo lắng khi đến các lễ hội tại Quảng Ninh.

    Bên cạnh đó, sự pha trộn, lai tạp giữa văn hóa gốc và văn hóa hiện đại trong nhiều dân tộc trên địa bàn tỉnh xuất hiện ngày càng nhiều, gây khó khăn không nhỏ cho việc khai thác du lịch. Phần lớn các lễ hội lại diễn ra vào mùa xuân nên việc tổ chức, kết nối các tour cũng gặp nhiều trở ngại.

    Giải pháp phát triển du lịch văn hóa lễ hội, tâm linh tại Quảng Ninh

    Tiếp tục đẩy mạnh công tác xúc tiến tuyên truyền quảng bá du lịch: Cùng với việc nâng cao chất lượng các sản phẩm du lịch nói chung, ngành Du lịch Quảng Ninh cần tăng cường các hoạt động nghiên cứu tâm lý, thị hiếu, sở thích của du khách đối với loại hình sản phẩm du lịch văn hóa lễ hội, tâm linh. Qua đó xây dựng và hoàn thiện sản phẩm đặc trưng đối với từng vùng, từng khu di tích trên địa bàn tỉnh; từ đó nâng cao sức cạnh tranh, góp phần vào việc tuyên truyền, quảng bá sản phẩm du lịch, dịch vụ của Quảng Ninh không chỉ trong nước mà còn trên toàn thế giới, nhằm thu hút đối tượng khách du lịch quốc tế.

    Tăng cường đào tạo nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: Tổ chức các lớp bồi dưỡng về phát triển du lịch văn hóa lễ hội, tâm linh. Các địa phương cần tranh thủ các dự án đào tạo nhân lực và hỗ trợ kinh phí của tỉnh để đẩy mạnh công tác đào tạo nhân lực du lịch cho địa phương, khuyến khích đào tạo tại chỗ. Tăng cường mở rộng hợp tác giữa các vùng miền có tiềm năng phát triển du lịch văn hóa lễ hội, tâm linh trong toàn tỉnh cũng như cả nước để học hỏi, trao đổi kinh nghiệm, kỹ năng chuyên môn, ngoại ngữ, đào tạo nghề. Chính quyền và ngành Du lịch của tỉnh cần có sự phối hợp với viện nghiên cứu, trường cao đẳng, đại học chuyên ngành về du lịch để tham gia vào công tác đào tạo nhân lực, tổ chức các khóa đào tạo ngắn hạn và bồi dưỡng kiến thức sâu rộng cho đội ngũ hướng dẫn viên là những người hướng dẫn cho du khách hiểu biết về các khu di tích gắn liền với đời sống văn hóa lễ hội, tâm linh của người dân địa phương.

    Nâng cấp cơ sở hạ tầng: Việc mở rộng các tuyến đường trọng điểm trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh hiện nay là hết sức cần thiết, có ảnh hưởng rất lớn đến kinh tế của tỉnh, không chỉ riêng ngành Du lịch. Các ban ngành cần có sự phối hợp với chính quyền để mở rộng các tuyến đường huyết mạch nối liền tỉnh với các vùng lân cận để giảm thời gian lưu thông của người dân cũng như khách du lịch khi muốn tiếp cận các điểm đến ở Quảng Ninh. Tại các khu di tích, chính quyền cần phối hợp với địa phương mở thêm nhiều tuyến đường nhánh tiếp cận các điểm đến hiện nay để tiếp cận các khu du lịch lễ hội, tâm linh nổi tiếng như Yên Tử, chùa Cái Bầu, Trà Cổ,… thì chỉ có một tuyến đường độc đạo duy nhất, điều này gây khó khăn không nhỏ đến khả năng tiếp cận điểm đến của du khách.

    Đa dạng hóa sản phẩm du lịch văn hóa lễ hội, tâm linh: Hiện nay, Quảng Ninh đang xây dựng 4 trung tâm du lịch lớn gắn với thế mạnh của từng vùng. Đông Triều – Uông Bí – Quảng Yên là trung tâm du lịch văn hoá tâm linh; Hạ Long là trung tâm du lịch cảnh quan; Vân Đồn – Cô Tô là trung tâm du lịch nghỉ dưỡng và Móng Cái là trung tâm du lịch thương mại biên giới. Từ các tâm điểm này, du lịch văn hoá lễ hội, tâm linh trên địa bàn tỉnh sẽ có thêm cơ hội để phát triển mạnh mẽ hơn, tạo thành những “vệ tinh” mạnh, góp phần đa dạng hoá các sản phẩm du lịch trên địa bàn. Toàn tỉnh cần có sự đầu tư xây dựng mới, nâng cấp các điểm đến thành các khu du lịch tham quan nghỉ dưỡng, khu du lịch sinh thái, vui chơi giải trí, nghỉ dưỡng cuối tuần; gắn kết các hoạt động tín ngưỡng, lễ hội, tôn tạo các di tích lịch sử; xây dựng các sản phẩm du lịch văn hoá, sinh thái… phục vụ nhu cầu tham quan du lịch của người dân và du khách. Tại các điểm đến du lịch lễ hội, tâm linh cần đưa thêm nhiều sản phẩm du lịch vào phục vụ du khách. Ngoài các sản phẩm vốn có, cần quan tâm tới các sản phẩm thủ công truyền thống, các sản vật quý của từng vùng để cung cấp cho du khách cả trong và ngoài nước.

    Bên cạnh đó, cần nâng cao nhận thức cho người dân tại các điểm đến về ý thức phát triển du lịch gắn với bảo tồn nhằm hướng đến sự phát triển bền vững.

    ThS. Đỗ Thị Thu Huyền

    --- Bài cũ hơn ---

  • 5 Điểm Du Lịch Tâm Linh Nổi Tiếng Quảng Ninh,5 Diem Du Lich Tam Linh Noi Tieng Quang Ninh
  • Các Điểm Du Lịch Tâm Linh Ở Quảng Bình
  • Phát Triển Du Lịch Tâm Linh Theo Hướng Bền Vững Tại Quảng Bình
  • Tour Du Lịch Tâm Linh Quảng Bình 2022 (2 Ngày 1 Đêm)
  • Du Lịch Tâm Linh Tại Quảng Bình
  • Lễ Hội Dân Gian Với Phát Triển Du Lịch Văn Hóa Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Suối Tiên Kích Cầu Du Lịch Nội Địa Mừng Tết Dương Lịch 2022
  • Kinh Nghiệm Leo Fansipan An Toàn, Thú Vị Nhất 2022
  • Top 10 Địa Điểm Leo Núi Hot Nhất Với Dân Phượt
  • Tổng Hợp 19 Cung Đường Trekking Đẹp Nhất Việt Nam
  • “Note” Ngay 10 Điểm Lý Tưởng Leo Núi Miền Bắc.
  • 1. Đặc điểm của lễ hội dân gian ở Việt Nam

    Các lễ hội dân gian ở Việt nam đều được tạo thành bởi một chuỗi các cảnh diễn liên tiếp, theo một kịch bản quy định. Những cảnh diễn, cũng như những quy định của kịch bản, lại xuất phát từ chính cuộc sống sinh hoạt và lao động của những người nông dân, nên chúng có nhiều điểm chung. Mỗi cảnh diễn được tạo thành bởi sự tập trung và tập hợp của nhiều loại hình văn hóa, để diễn tả một hoạt động, một sinh hoạt vật chất nào đó của người nông dân. Đương nhiên, sự diễn tả ấy là nhằm vào một mục đích nhất định: nói lên một nguyện vọng, một mong ước của cộng đồng vào thế giới siêu nhiên. Chính những quy tắc và quy định này đã làm cho các hoạt động lễ hội được cấu tạo theo cơ chế mô hình, nghĩa là chúng bao gồm những yếu tố có tính chất “bộ xương”, còn phần “thịt”, tức các chi tiết thì do các cá nhân, cộng đồng sáng tạo bồi đắp khi thực hiện. Điều này khiến các lễ hội dân gian nông nghiệp dù giống nhau về bộ khung, nhưng về chi tiết thể hiện thì khác nhau.

    Cũng phải nói thêm rằng, chính vì được sản sinh trong những môi trường tự nhiên và xã hội tương đồng, mà các loại hình văn hóa trong lễ hội luôn gắn bó hữu cơ với nhau đến mức: nếu tách một loại hình văn hóa nào đó ra khỏi cảnh diễn, hoặc một cảnh diễn ra khỏi lễ hội thì chúng không còn ý nghĩa như nó vốn có trong cảnh diễn và trong lễ hội nữa. Ở đây, lễ hội đã bộc lộ rõ nét một đặc điểm trong phương thức nhận thức và phản ánh của văn hóa dân gian là phương thức tổng thể nguyên hợp. Vậy mới nói, lễ hội dân gian là một loại hình văn hóa dân gian tiêu biểu.

    Khi nói lễ hội dân gian thực chất là các lễ hội nông nghiệp cũng là muốn nói chúng là sản phẩm văn hóa của những người nông dân. Họ là những người sáng tạo, nhưng đồng cũng là người tiêu dùng, hưởng thụ các lễ hội dân gian. Các hoạt động lễ hội nhằm đáp ứng nhu cầu không phải cho một cá nhân, mà cho cả cộng đồng. Nó là sáng tạo của cả cộng đồng người nông dân. Vì thế mọi tri thức, tư tưởng, tình cảm… cũng như những hành vi, quy ước, ước lệ… trong lễ hội dân gian đều được biểu tượng hóa bằng những hình ảnh, những dấu hiệu quen thuộc của cộng đồng. Mọi thành viên trong cộng đồng đều có thể cảm nhận được chúng. Cũng vì nhằm đáp ứng nhu cầu cho cả cộng đồng người nông dân mà lễ hội được lưu truyền chủ yếu qua trí nhớ chứ không phải qua chữ viết (đa số người nông dân xưa không biết chữ), nên quá trình sáng tạo ra lễ hội, cũng đồng thời là quá trình lễ hội đó được phân phối đến từng người và từng người tiếp nhận tiêu thụ.

    Tóm lại, do được cấu thành bởi sự tham gia của nhiều loại hình văn hóa dân gian mà lễ hội dân gian có mọi đặc điểm của văn hóa dân gian. Vì thế, muốn tìm hiểu được văn hóa dân gian Việt Nam, không thể không tìm hiểu các lễ hội dân gian. Và để phát triển loại hình du lịch văn hoá ở Việt Nam, không thể bỏ qua được nguồn tài nguyên văn hóa hết sức quan trọng đó là các lễ hội dân gian.

    2. Khái quát về du lịch văn hóa

    Có thể hiểu, du lịch văn hoá là một loại du lịch mà mục đích chính là nâng cao hiểu biết cho cá nhân các giá trị văn hóa nhân văn khi họ trải nghiệm ở những vùng đất mới, cộng đồng mới. Đó có thể là những di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuât, phong tục tập quán của cộng đồng dân cư nơi mà du khách đặt chân đến. Xu thế quốc tế hoá trong sinh hoạt văn hoá giữa cộng đồng và các dân tộc trên thế giới được mở rộng, dẫn tới việc giao lưu văn hoá, tìm kiếm những giá trị về nền văn hoá nhân loại, về những miền đất lạ đã trở thành một nhu cầu cho nhiều tầng lớp dân cư trong xã hội. Du lịch không còn hoàn toàn là nghỉ ngơi giải trí đơn thuần, mà còn là hình thức nghỉ ngơi tích cực có tác dụng bổ sung tri thức, làm phong phú đời sống tinh thần của con người. Đó chính là nội hàm của khái niệm du lịch văn hoá.

    Du lịch văn hoá vừa là phương tiện, vừa là mục đích của kinh doanh du lịch. Du lịch văn hoá nhằm chuyển hoá các giá trị văn hoá, các giá trị vật chất cũng như tinh thần cho hoạt động du lịch. Tuỳ theo các tiêu thức khác nhau mà người ta có thể phân chia du lịch văn hoá ra nhiều loại:

    – Du lịch tìm hiểu bản sắc văn hoá: khách đi tìm hiểu các nền văn hoá là chủ yếu mục đích chuyến đi mang tính chất khảo cứu, nghiên cứu. Đối tượng khách chủ yếu là các nhà nghiên cứu, học sinh, sinh viên – đó là các chương trình du lịch dã ngoại đến các làng dân tộc ít người thuộc các tỉnh Hoà Bình, Sơn La, Lai Châu,… để khách tìm hiểu phong tục tập quán, lối sống văn hoá của các dân tộc đó. Khách sẽ đi bộ khi tham quan các bản làng và thường nghỉ qua đêm tại các bản làng đó.

    – Du lịch tham quan văn hoá: Đây là loại hình du lịch phổ biến nhất. Du khách thường kết hợp giữa tham quan với nghiên cứu tìm hiểu văn hoá trong một chuyến đi. Đối tượng tham gia vào loại hình du lịch này rất phong phú, bên cạnh những khách vừa kết hợp đi để tham quan, vừa để nghiên cứu còn có những khách chỉ để chiêm ngưỡng để biết, để thoả mãn sự tò mò,… Do vậy, trong một chuyến du lịch, du khách thường đi đến nhiều điểm du lịch, trong đó vừa có những điểm du lịch văn hoá, vừa có những điểm du lịch núi, du lịch biển, du lịch dã ngoại, … Đối tượng khách là những người ưa mạo hiểm, thích tìm cảm giác mới và chủ yếu là những người trẻ tuổi.

    – Du lịch kết hợp giữa tham quan văn hoá với các mục đích khác: mục đích chính của khách là trong chuyến đi nhằm thực hiện công tác hoặc nghề nghiệp nào đó và có kết hợp với tham quan văn hoá. Đối tượng của loại hình này là những người đi tham dự hội nghị, hội thảo, kỷ niệm những ngày lễ lớn, các cuộc triển lãm. Loại khách này đòi hỏi trình độ phục vụ hiện đại, phong phú, có chất lượng cao, qui trình phục vụ đồng bộ, chính xác, họ có khả năng thanh toán cao nhưng nói chung thời gian dành cho du lịch của họ rất ít. Thể loại du lịch cụ thể của loại hình du lịch này là du lịch công vụ.

    Tuy nhiên, sự phân loại du lịch văn hoá thành các loại hình trên chỉ là tương đối. Vì trong một chương trình du lịch thường được kết hợp nhiều hoạt động khác nhau như: Kết hợp đi du lịch dã ngoại với du lịch theo chuyên đề văn hoá, hoặc du lịch săn bắn,… trong một chuyến hành trình nhằm tránh gây cho khách cảm giác nhàm chán.

    Du lịch văn hoá là loại hình du lịch chịu sự tác động của các yếu tố:

    – Yếu tố thời vụ du lịch: so với các loại hình du lịch khác, du lịch văn hoá mang tính đại chúng. Tuy có chịu ảnh hưởng tính thời vụ nhưng không phụ thuộc hoàn toàn. Những đặc điểm này thể hiện rất rõ ở loại hình du lịch lễ hội. Đồng thời mức độ chênh lệch cung cầu của du lịch văn hoá thường không lớn.

    – Các yếu tố nhân khẩu học:

    + Yếu tố giới tính: Có tác động đến động cơ đi du lịch và động cơ đi du lịch văn hoá là một trong những nguyên nhân chủ yếu của nam giới vì đối với họ ít chịu sự ràng buộc của gia đình, thường có trình độ học vấn cao, có địa vị xã hội,…

    + Yếu tố độ tuổi: Tham gia vào các chuyến du lịch văn hoá chủ yếu vẫn là những khách du lịch cao tuổi và thanh niên. Đối với khách cao tuổi họ thường có nhiều thời gian rỗi,… thường có kinh nghiệm trong việc đi du lịch, họ thích tìm hiểu về âm nhạc, nghệ thuật quần chúng, các món ăn đậm đà tính dân tộc,… và họ quan tâm nhiều đến chất lượng phục vụ. Ngược lại, đối với khách du lịch thanh niên đây là nhóm có số lượng đông đúc với các đặc trưng của thanh niên như: ưa khám phá, thích tìm tòi, muốn thử sức mình, thích đi xa, thích sự tự do, thích thay đổi điểm du lịch và thường đi thành nhóm lẻ,… Do đó, họ có xu hướng đòi hỏi tính mới mẻ, đa dạng trong dịch vụ du lịch, họ có khả năng thanh toán thấp, ít có kinh nghiệm trong đi du lịch, họ thường quan tâm đến giá cả nhưng ít quan tâm đến yêu cầu về chất lượng dịch vụ. Khách du lịch thanh nhiên thường tham gia vào các chuyến du lịch dã ngoại, săn bắn mạo hiểm, tham quan văn hoá,… Đối với những khách trung niên thường là những người có địa vị xã hội có khả năng thanh toán cao, có sự tự chủ lớn trong khi đi du lịch. Họ quan tâm nhiều đến chất lượng phục vụ,… họ thường kết hợp giữa đi công tác với đi du lịch.

    + Yếu tố trình độ học vấn: Những người có trình độ học vấn cao là loại khách được các nhà kinh doanh du lịch quan tâm nhiều vì những nhà học vấn cao thường thường là những người có địa vị xã hội cao, thu nhập cao, trình độ văn hoá cao nên có nhu cầu mở rộng sự hiểu biết tìm hiểu thế giới xung quanh cao hay có thể nói họ có động cơ văn hoá cao trong nhu cầu đi du lịch.

    3. Mối quan hệ giữa lễ hội dân gian và phát triển du lịch văn hóa ở Việt Nam

    – Tác động của lễ hội dan giân đến du lịch văn hóa

    Trong điều luật 79 của luật du lịch Việt Nam đã xác định rõ, Nhà nước tổ chức hoạt động hướng dẫn du lịch xúc tiến du lịch với các nội dung tuyên truyền giao tiếp rộng rãi về đất nước, con người Việt Nam, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử,… Do đó, lễ hội sẽ làm cho du lịch phát triển hơn, lễ hội làm cho du lịch trở nên hấp dẫn tạo cho số lượng khách đông hơn. Du khách đến lễ hội đông kéo theo những nhu cầu khác nhau, khi đó những mặt hàng ngành du lịch tăng lên.

    Thực tiễn phát triển ngành du lịch trên thế giới và ở Việt Nam cho thấy, du lịch Việt Nam muốn phát triển tất yếu phải khai thác sử dụng giá trị văn hoá truyền thống, cách tân và hiện đại hoá sao cho phù hợp hiệu quả, trong đó có kho tàng âm nhạc dân gian, lễ hội dân gian truyền thống. Đây là một thành tố đặc sắc văn hoá Việt Nam cho nên phát triển du lịch lễ hội chính là lễ hội sử dụng ưu thế của du lịch Việt Nam trong việc thu hút và phục vụ  khách du lịch. Mùa lễ hội cũng là mùa du lịch tạo nên hình thức du lịch lễ hội mang bản sắc văn hóa dân tộc được thể hiện qua các sắc thái văn hoá các địa phương, vùng miền phong phú đặc sắc.

    – Tác động của du lịch văn hóa đến lễ hội dân gian

    Lễ hội dân gian và du lịch văn hóa luôn luôn có sự tác động qua lại với nhau và cùng nhau phát triển làm hoàn thiện hơn ngành du lịch. Trước hết, hoạt động du lịch văn hóa có nhiều tác động tích cực đối với lễ hội. Du lịch văn hóa có những đặc trưng riêng làm cải biến hay làm hấp dẫn hơn lễ hội dân gian truyền thống. Du lịch mang đến nguồn lợi kinh tế và các loại hình sinh kế mới có khả năng tạo ra thu nhập cao cho các địa phương có lễ hội. Du lịch văn hóa nói riêng, du lịch nói chung tạo việc làm cho người dân địa phương thông qua dịch vụ như: Vận chuyển khách, bán hàng hoá, đồ lưu niệm,… Nhân dân vùng có lễ hội vừa quảng bá hình ảnh văn hoá về đời sống mọi mặt của địa phương mình, vừa có dịp giao lưu hoa văn hoá được du khách mang đến.

    Bên cạnh những tác động tích cực, du lịch văn hóa còn có những tác động tiêu cực đối với lễ hội dân gian. Với thời gian và không gian hữu hạn của các lễ hội truyền thống vốn chỉ phù hợp với điều kiện riêng của các địa phương, thực tế, khi khách du lịch tới đông sẽ làm thay đổi, đôi khi đảo lộn các hoạt động bình thường của địa phương nơi có lễ hội. Đồng thời, hoạt động du lịch với những đặc thù riêng của nó có khả năng làm biến dạng các lễ hội dân gian truyền thống. Vì lễ hội truyền thống có đặc tính mở thì vẫn còn những hạn chế nhất định về điều kiện kinh tế, văn hoá xã hội cổ truyền. Nay hoạt động du lịch mang tính liên chất, liên ngành, liên vùng, xã hội hoá cao,… sẽ làm mất đi sự cân bằng dẫn đến phá vỡ các khuôn mẫu truyền thống của địa phương trong quá trình diễn ra lễ hội. Hiện tượng thương mại hoá các hoạt động lễ hội như: Lừa đảo, bắt chẹt khách để thu lợi nhuận tạo hình ảnh xấu làm cho du khách có cảm giác hụt hẫng trước một không gian linh thiêng mà tính tôn nghiêm vẫn chưa được kiểm soát chặt chẽ, làm cho khách đi mà không muốn quay lại lần sau. Du khách đến với lễ hội kéo theo những nhu cầu mất cân đối trong quan hệ cung cầu dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường sinh thái nhân văn. Bản sắc văn hoá của vùng miền có nguy cơ bị “mờ” do kết quả của sự giao thoa văn hoá thiếu lành mạnh không thể tránh khỏi đem đến từ một bộ phận du khách.

    4. Tạm kết

    Tóm lại, phát triển du lịch văn hóa là xu hướng phát triển tất yếu và mang tính bền vững trong chiến lược phát triển du lịch của mỗi quốc gia. Phát triển du lịch văn hóa sẽ tạo nên điều kiện sinh kế thuận lợi cho người dân địa phương. Việt Nam có 54 dân tộc cùng sinh sống qua hàng nghìn năm lịch sử với những giá trị, bản sắc văn hóa riêng. Đó chính là tài sản quan trọng và rất tiềm năng để Việt Nam có thể thúc đẩy phát triển loại hình du lịch văn hóa. Tuy nhiên, để phát triển du lịch văn hóa thành công, ít để lại những hệ lụy mà do tác động tiêu cực từ hoạt động du lịch của du khách để lại, Nhà nước Việt Nam cần xây dựng hoàn chính những thể chế chính sách phù hợp. Trong đó, đặc biệt lưu tâm là hệ thống pháp luật và hành lang pháp lý khác.

     

    Nguồn: Kỷ yếu Hội thảo quốc tế: “Văn hóa với du lịch trong thế giới hội nhập” tổ chức tại Phú Yên ngày 18- 19/02/2017.

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Danh Sách Các Lễ Hội Ở Việt Nam Nổi Tiếng Nhất Trên Cả Ba Miền
  • Những Lễ Hội Đầu Năm Ở Miền Bắc Không Nên Bỏ Qua
  • 8 Lễ Hội Tiêu Biểu Ở Lạng Sơn
  • Top 7 Lễ Hội Ở Kiên Giang Thu Hút Đông Đảo Du Khách
  • Du Lịch Lễ Hội: Đền Bà Chúa Kho – Quan Họ Làng Diềm Bắc Ninh
  • Khai Thác Lễ Hội Truyền Thống Trong Phát Triển Du Lịch Ở Cao Bằng

    --- Bài mới hơn ---

  • Du Lịch Mộc Châu Từ Tphcm
  • Cẩm Nang Du Lịch Mộc Châu Từ Tphcm Đầy Đủ Từ A Đến Z
  • Tour Du Lịch Sapa 4 Ngày Từ Huế Trọn Gói Giá Rẻ
  • Tour Du Lịch Huế Sapa 5 Ngày 4 Đêm
  • Phát Triển Du Lịch Cộng Đồng Ở Sơn La: Những Đổi Thay Tích Cực
  • Ngày đăng: 21/05/2015, 13:59

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bí Quyết Mặc Gì Khi Đi Du Lịch Đà Nẵng
  • Nên Mặc Gì Khi Đi Du Lịch Đà Nẵng? Cách Phối Đồ Đi Du Lịch Đà Nẵng Cực Đẹp
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Vũng Tàu Tắm Biển, Vui Chơi & Ăn Hải Sản ‘ngập Răng’
  • Du Lịch Đảo Lý Sơn
  • Đi Du Lịch Thái Lan Cần Lưu Ý Gì?
  • Lễ Hội Với Phát Triển Kinh Tế Du Lịch – Góc Nhìn Từ Quốc Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Phát Triển Du Lịch Mice Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh Của Du Lịch Việt Nam – Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch (Itdr)
  • Kích Cầu Du Lịch Miền Tây
  • Hà Tĩnh Và Tiềm Năng Phát Triển Du Lịch Được Dự Báo Trước
  • Nha Trang Và Bài Toán Phát Triển Du Lịch
  • Ninh Bình: Tiềm Năng Phát Triển “Du Lịch Xanh”
  • Lễ hội Carnival ở thành phố Rio De Janeiro, Brazil được đánh giá là lễ hội ấn tượng nhất với sự tham gia diễu hành của hàng triệu người trong điệu nhạc samba truyền thống. Ảnh: chúng tôi truyền thống đặc trưng của mỗi dân tộc, vùng miền, lễ hội

    phản ánh những nét đẹp văn hoá truyền thống, tôn giáo, tín ngưỡng, tính nhân

    văn riêng có. Đến với lễ hội ngoài việc tham dự phần lễ, thì phần hội cũng

    không kém phần đặc sắc và phong phú với sự tham gia của cộng đồng cùng các diễn

    xướng, trò chơi dân gian … Vì vậy lễ hội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong

    việc giáo dục tư tưởng, chính trị, gìn giữ nét đẹp văn hóa dân tộc trong mỗi

    người.

    Giá trị của lễ hội chính là giá trị cộng cảm và cộng mệnh. Ngày lễ hội là thời

    gian cư dân tụ họp để tưởng nhớ người có công với cộng đồng. Đây là sinh hoạt cộng

    đồng diễn ra long trọng, đem lại sự phấn chấn cho tất cả mọi người. Lễ hội cũng

    chính là một bảo tàng văn hóa nơi lưu giữ các giá trị văn hóa và các sinh hoạt

    văn hóa qua các thời kì lịch sử được tái hiện lại ở nhịp sống đương thời.

    Hiện nay, lễ hội đang được tổ chức với quy mô ngày càng lớn và nhiều lễ hội đã

    trở thành biểu tượng của một quốc gia. Chính điều đó khiến một thành phố ban đầu

    là bình thường có thể trở thành “thành phố lễ hội”. Nhìn ra thế giới, có thể kể

    đến thành phố Edmonton của Canada, mỗi năm nơi đây diễn ra tới 30 cuộc hội hè

    hoành tráng, sôi động với hàng triệu người tham gia. Lễ hội hóa trang Carnaval

    của các tín đồ Ky tô giáo luôn nổi tiếng toàn thế giới nhân dịp Mardi Gras

    (ngày thứ ba trước tuần chay). Và lễ hội Carnaval tại thành phố Rio De Janeiro,

    Brazil được đánh giá là lễ hội ấn tượng nhất với sự tham gia diễu hành của hàng

    triệu người trong điệu nhạc samba truyền thống đan xen các đoàn xe hoa rực rỡ

    và các nghệ sĩ hóa trang nghệ thuật…đã trở nên nổi tiếng khắp thế giới.

    Sức hấp dẫn của các lễ hội đang trở thành tiềm năng lớn để các nhà kinh doanh

    du lịch quan tâm đầu tư và khai thác. Du lịch lễ hội trên thế giới nói chung và

    ở Việt Nam nói riêng được ví như một mỏ vàng vẫn còn hoang sơ. Ở Việt Nam, mỗi

    năm có hơn 8000 lễ hội nhưng chưa được khai thác hiệu quả và thu hút mạnh mẽ

    khách du lịch.

    Hiện nay, du lịch lễ hội ở nhiều quốc gia trên thế giới đã có bước tiến mới và

    đem lại những lợi ích kinh tế không nhỏ. Có thể điểm qua một số lễ hội như: Lễ

    hội Carnival ở Rio de Janeiro (Brazil, gọi tắt là lễ hội Rio Carnival) lừng

    danh thế giới chính thức khai mạc vào ngày 9-2 hàng năm và mang lại doanh thu

    khoảng 1 tỷ USD với hơn 1,5 triệu khách du lịch về cho thành phố này.

    Lễ hội bia Oktoberfes nổi tiếng ở Munich kéo dài từ 16/9 đến 3/10 thu hút trung

    bình khoảng 6 triệu lượt khách tham dự để thưởng thức các loại bia tươi nổi tiếng

    và những món ăn đặc sản của Đức với doanh thu từ lễ hội này ước tính khoảng gần

    8 tỷ USD.

     Tết cổ truyền Songkran tại Thái Lan. Ảnh: Phuket

    Ở khu vực Châu Á có lễ hội té nước trong dịp lễ Tết cổ truyền

    Songkran tại Thái Lan. Mặc dù vào một số năm, Thái Lan gặp hạn hán nhưng lễ té

    nước truyền thống vẫn được diễn ra bởi đây là cơ hội để người Thái xúc tiến

    phát triển du lịch. Tổng cục Du lịch Thái Lan cho biết, sự kiện này luôn thu

    hút khoảng 500.000 khách du lịch và đóng góp khoảng hơn 15 tỉ bath tương đương

    427 triệu USD trong mỗi mùa lễ hội.

    Phải chăng tầm ảnh hưởng của các lễ hội đã đem lại những lợi ích không nhỏ về

    kinh tế và việc quảng bá điểm đến du lịch cho các Quốc gia có Lễ hội được chú

    ý. Các sự kiện lễ hội phần nào được coi là đòn bẩy phát triển kinh tế và tạo

    công ăn việc làm ( mang tính thời vụ) . Tuy nhiên không chỉ vì kinh tế được

    quan tâm mà bỏ qua những ảnh hưởng từ môi trường xã hội. Khi quản lý các lễ hội,

    cần phải chú trọng tới việc lập kế hoạch, tiếp thị để đảm bảo cho sự kiện thành

    công. Để lập được kế hoạch một cách hiệu quả, cần phải dựa vào những mục tiêu

    có tính khả thi. Nếu không đánh giá được kết quả lễ hội thì khó có thể đánh giá

    được thành công quản lý đạt được tới đâu.

    Nguồn nhân lực và lãnh đạo cũng rất quan trọng nếu muốn có được sự quản lý “lễ

    hội lấy khách hàng làm trọng tâm”. Ngoài ra, sự tâm huyết của những người tình

    nguyện cũng giúp các nhà quản lý có được đội ngũ làm việc hiệu quả. Kỹ năng của

    chính và ngân sách, khả năng đàm phán, thuế, bảo hiểm, những vấn đề hành chính

    cũng đóng vai trò quan trọng trong cơ chế quản lý. Quản lý rủi ro, kỹ năng xác

    định, đánh giá và kiểm soát rủi ro cũng phải được xem xét. Quản lý hậu cần, quản

    lý và đánh giá sân khấu (ánh sáng, âm thanh) cũng là những phần quan trọng của

    quản lý. Dự đoán những nhu cầu phát sinh cũng không nằm ngoài cơ chế quản lý.

    Lễ hội ở bất kể quốc gia nào cũng mang giá trị di sản văn hóa riêng của quốc

    gia đó. Mỗi quốc gia đều có những biện pháp quản lý nhằm bảo tồn và phát huy

    giá trị văn hóa của lễ hội. Hầu hết những thành công của các lễ hội nổi tiếng

    thế giới đã và đang thu hút mạnh mẽ khách du lịch đều có chính sách quản lý

    riêng biệt. Chúng ta sẽ phải đúc kết kinh nghiệm ra sao trước bao lễ hội trên

    thế giới đã được tổ chức thành công rực rỡ về quảng bá văn hóa đồng thời có

    doanh thu hàng tỷ USD từ nguồn du lịch lễ hội hàng năm? Quản lý lễ hội sẽ là

    thuật ngữ khó tìm khi nghiên cứu về lễ hội ở các quốc gia trên thế giới. Chính vì

    vậy để tìm ra kinh nghiệm quản lý lễ hội quốc tế để làm bài học cụ thể cho Việt

    Nam sẽ là điều không tưởng. Tuy nhiên, nhìn một cách toàn diện chúng ta có thể

    đưa ra mẫu số chung nhất đối với việc quản lý lễ hội ở nước ta hiện nay đó là:

    Thứ nhất, các nước trên thế giới đã thực sự coi một “lễ hội” như là một “sự kiện”.

    Từ đó thuật ngữ “quản lý lễ hội” mà chúng ta hay dùng sẽ được chuyển

    thể thành “quản lý sự kiện”. “Quản lý sự kiện” lúc này có thể giải quyết cả về

    mặt ý nghĩa và vai trò của nó trong xã hội hiện đại. Từ thực tế này, quản lý sự

    kiện là một hoạt động phổ biến, nhằm mục đích thông báo và kết nối mọi người.

    Thứ hai, động cơ gắn kết chặt chẽ “sự kiện” và du lịch” luôn được các quốc gia

    thúc đẩy mạnh mẽ. Hiện nay, du lịch có thể được chia thành nhiều loại mục tiêu

    khác nhau như: đi bộ đường dài, du lịch mua sắm, tham quan, du lịch spa, du lịch

    thực phẩm, du lịch mạo hiểm… và nhiều lựa chọn khác. Mặc dù quản lý sự kiện và

    du lịch là các khái niệm khác nhau nhưng chúng đã được liên kết chặt chẽ với

    nhau. Thực tế đã minh chứng, bất kể loại hình du lịch được khách chọn thì quản

    lý sự kiện sẽ đi kèm với nó trong suốt thời gian hoạt động. Rõ ràng “sự kiện” -

    “du lịch” như cặp đôi hoàn hảo tạo doanh thu đóng góp đối với kinh tế. Kinh tế

    du lịch – kết quả tốt đẹp là mắt xích khép lại một vòng tuần hoàn có khuynh hướng

    phát triển đang được thịnh hành trên thế giới hiện nay.

    Những lễ hội trên là ví dụ cụ thể về mối quan hệ biện chứng của sự kiện – du lịch

    và kinh tế. Ở Việt Nam, các nhà hoạch định chính sách, các nhà nghiên cứu văn

    hóa cũng đã bước đầu nhìn nhận rất tích cực về mối quan hệ biện chứng này. Điều

    đầu tiên, có lẽ phải nói tới việc xác định giá trị văn hóa của di sản văn hóa

    trước khi tiến tới quảng bá hình ảnh và khai thác tiềm năng của nó.

    Từ ngàn đời nay, cây lúa đã gắn bó với con người, làng quê Việt Nam. Khoảng thời

    gian nông nhàn là dịp để người dân hưởng thụ thành quả lao động và thể hiện

    lòng thành của mình tới những đấng siêu nhiên nhằm cầu xin cho mùa màng sắp tới

    bội thu. Đó là giá trị đặc sắc trong di sản văn hóa của chúng ta.

    Các di sản văn hóa là những giá trị của cha ông sáng tạo, chắt lọc, kết tinh và

    lưu truyền tạo nên các sản phẩm du lịch văn hóa đặc trưng của từng vùng. Trong

    xu thế phát triển hiện nay, hưởng thụ các sản phẩm du lịch văn hóa nói chung

    cũng như sản phẩm du lịch lễ hội nói riêng là nhu cầu ngày càng tăng của các tầng

    lớp nhân dân, đặc biệt du lịch tâm linh đang rất hấp dẫn và thu hút lượng lớn

    du khách nhất ở Việt Nam.

    Chúng ta đều biết rằng kinh tế và văn hóa có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Kinh

    tế có ảnh hưởng lớn trong công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa; ngược

    lại, văn hóa lại có khả năng kích thích tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, không

    phải lúc nào, mối quan hệ này cũng thuận chiều và đạt hiệu quả cho cả đôi bên.

    Nhìn từ kinh nghiệm quốc tế cho thấy di sản văn hóa luôn là nguồn lực kích

    thích phát triển kinh tế địa phương, đặc biệt thông qua hoạt động du lịch. Với

    tiềm năng và lợi thế của Việt Nam, điều này hoàn toàn có thể trở thành hiện thực.

    Vấn đề đặt ra hiện nay là làm thế nào để vừa có thể bảo tồn được di sản nói

    chung, lễ hội nói riêng lại vừa có thể khai thác những giá trị di sản văn hóa

    phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội trở thành một vấn đề cấp bách

    trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trước mắt, chúng ta cần có cái

    nhìn tổng quát để mở rộng con đường “phát triển kinh tế du lịch Việt Nam” trong

    tương lai như sau:

    Cần dự báo về tác động của bối cảnh trong nước và quốc tế tới việc bảo tồn di sản

    văn hóa nói chung và lễ hội nói riêng đối với phát triển kinh tế du lịch. Chính

    sách mở cửa, giao lưu, hợp tác du lịch Việt Nam trong thời gian đã có những bước

    tăng trưởng đáng kể về nguồn khách và lợi ích từ du lịch đem lại. Dự báo trong

    những năm tới, chính trị – kinh tế thế giới sẽ có diễn biến phức tạp. Thế giới

    trong bối cảnh có nhiều biến động sẽ vừa là thời cơ vừa là thách thức trên mọi

    lĩnh vực đối với Việt Nam, đặc biệt là tác động trực tiếp đến văn hóa và du lịch.

    Toàn cầu hóa là một xu thế khách quan, lôi cuốn các nước, các vùng lãnh thổ vừa

    thúc đẩy hợp tác vừa tăng sức ép cạnh tranh và tính phụ thuộc lẫn nhau. Quan hệ

    song phương, đa phương ngày càng mở rộng trong các vấn đề kinh tế, văn hóa, xã

    hội, môi trường.

    Du lịch thế giới liên tục tăng trưởng và có khả năng phục hồi nhanh nhất sau

    các cuộc khủng hoảng. Nhu cầu du lịch thế giới có nhiều thay đổi, hướng tới những

    giá trị mới được thiết lập trên cơ sở giá trị văn hóa truyền thống (tính độc

    đáo, nguyên bản), giá trị tự nhiên (tính nguyên sơ, hoãng dã). Du lịch bền vững,

    du lịch xanh, du lịch hướng về cội nguồn… là những xu hướng nổi trội trong

    tương lai.

    Du lịch lễ hội nằm trong loại hình du lịch di sản – một loại hình có tốc độ

    phát triển cao. Khách du lịch di sản có những đặc điểm khác biệt với khách du lịch

    nói chung. Họ có xu hướng lưu lại lâu hơn, tiêu dùng nhiều hơn cho mỗi ngày

    tham gia tại một địa điểm. Do đó, tác động kinh tế của mỗi khách du lịch di sản

    có thể lớn hơn . Chính vì điều này, Nhà nước cần xây dựng các chính sách bảo tồn

    di sản văn hóa nói chung và lễ hội nói riêng trong cuộc song hành với phát triển

    kinh tế du lịch.

    Du lịch là một ngành công nghiệp không khói, lễ hội được các nước trên thế giới

    coi như là một mặt hàng của ngành công nghiệp đó. Một mặt hàng chất lượng phải

    có thương hiệu. Thương hiệu đó thể hiện bằng: “việc xác định ý nghĩa biểu tượng

    riêng để xây dựng thương hiệu. Quá trình xây dựng thương hiệu này là do cách

    chúng ta giới thuyết về di sản và cách thức chúng ta quản lý nó…Để tạo ra một

    thương hiệu cho một di sản văn hoá trước hết phải có sự đúc kết về mọi giá trị

    trưng của di sản”.

    “Du lịch cũng được xem như là cứu tinh cho việc quảng bá về văn hóa bản địa và

    nghề thủ công truyền thống. Thực tế cho thấy, sức hút về cảnh quan thiên nhiên

    hay nhân tạo luôn làm động lực thu hút lựa chọn điểm đến của khách du lịch. Tuy

    nhiên, lôi cuốn mạnh mẽ nhất đối với du khách lại chính là sự khám phá về những

    nền văn hóa khác nhau đã và đang tồn tại ra sao trên thế giới”. Intangible Heritage in conservation management planning:

    the case of Robben Island, Harriet Deacon International Journal of Heritage

    Studies, 2004

    Craig – Smith, S., and French, C (1995), Learning to live with Tourism,

    Melburne, Longman House, tr. 39.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tiếp Tục Khai Thác Tiềm Năng Đưa Lai Châu Phát Triển
  • Để Hội An Phát Triển Bền Vững
  • Du Lịch Hàn Quốc 2022 Đạt Kỷ Lục Mới Sau Hai Năm Liền Suy Giảm
  • Tình Hình Phát Triển Du Lịch Tại Hàn Quốc Và Những Chính Sách Phát Triển Du Lịch Trong Thời Gian Tới – Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch (Itdr)
  • Lý Sơn: Cơ Hội Để Trở Thành Khu Du Lịch Quốc Gia
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100