Phát Triển Du Lịch Tỉnh Quảng Ngãi

--- Bài mới hơn ---

  • Du Lịch Vĩnh Phúc Nên Đi Đâu Chơi Đẹp, Tuyệt Nhất?
  • Điểm Ăn Chơi Ở ‘thiên Đàng Hạ Giới’ Tô Châu
  • Lịch Trình Du Lịch 1 Ngày Quanh Asakusa, Tokyo Sky Tree, Odaiba
  • 24 Giờ Ở Tokyo: Hành Trình Du Lịch 1 Ngày Dành Cho Những Người Lần Đầu Đến Tokyo
  • Lịch Trình Tham Quan Tokyo 2 Ngày
  • LỜI CAM ĐOAN

    Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.

    Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được

    ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

    Tác giả luận văn

    Trần Công Huy

    QUYÊT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)

    GIẤY ĐỀ NGHỊ BẢO VỆ LUẬN VĂN (Bản sao)

    KIỂM DUYỆT HÌNH THỨC LUẬN VĂN

    Diễn nghĩa

    Khu du lịch

    Thành phố

    Nhà xuất bản

    Du lịch

    Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

    Ủy ban nhân dân

    Văn hóa – Thể thao – Du lịch

    Tổ chức lao động quốc tế

    Tổng sản phẩm quốc nội

    Hỗ trợ phát triển chính thức

    Đầu tư trực tiếp nước ngoài

    Công nghiệp hóa – hiện đại hóa

    Tên bảng

    39

    DANH MỤC CÁC HÌNH

    Tên hình

    Trang

    2.1.

    Đồ thị thể hiện cơ cấu doanh thu du lịch tỉnh Quảng

    Ngãi phân theo hoạt động giai đoạn 2011 – 2022

    49

    MỞ ĐẦU

    1. Tính cấp thiết của đề tài

    Trong tiến trình đổi mới ở Việt Nam, du lịch đã và đang là ngành kinh tế

    mũi nhọn, ngày càng có vị trí quan trọng đối với phát triển kinh tế, chính trị,

    xã hội và bảo vệ tài nguyên môi trường. Du lịch góp phần vào việc chuyển

    dịch cơ cấu kinh tế, mang lại nguồn thu cho ngân sách quốc gia, thu hút vốn

    đầu tư và xuất khẩu hàng hóa tại chổ. Trong quá trình hội nhập quốc tế, du

    lịch xác lập và nâng cao vai trò, vị thế hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế,

    góp phần vào tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và thực hiện đường lối đối

    ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa của Đảng và Nhà nước.

    Quảng Ngãi nằm ở trung tâm hai miền Bắc – Nam của đất nước, trong

    vùng kinh tế trọng điểm miền Trung Việt Nam và dọc theo hành lang kinh tế

    Đông – Tây, có đường giao thông thuận tiện và có truyền thống văn hóa đặc

    trưng…là những điều kiện thuận lợi giúp Quảng Ngãi phát huy tiềm năng du

    lịch của mình.

    Tiềm năng du lịch của Quảng Ngãi khá phong phú trải khắp các địa bàn

    vùng núi, vùng biển và trung du. Với lợi thế có hơn trăm km bờ biển, có cảng

    nước sâu Dung Quất, cảng Sa Kỳ, nhiều khu du lịch (KDL) biển nổi tiếng như

    KDL Mỹ Khê (TP.Quảng Ngãi), Sa Huỳnh (Đức Phổ); KDL sinh thái Vạn

    Tường (Bình Sơn); KDL đảo Lý Sơn (Lý Sơn); KDL Thiên Đàng…đang hấp

    dẫn các nhà đầu tư và khách du lịch. Vùng núi Quảng Ngãi có Quần thể di

    tích theo dòng nhật ký Đặng Thùy Trâm (Đức Phổ – Ba Tơ), KDL nghỉ dưỡng

    sinh thái Cà Đam, Hồ Nước Trong (Trà Bồng, Tây Trà), Thác Trắng (Minh

    Long), Cà Đú (Trà Bồng), Du lịch nước nóng Nghĩa Thuận (Tư Nghĩa), nước

    nóng Thạch Trụ (Mộ Đức). Các điểm di tích lịch sử văn hóa như Sơn Mỹ, Ba

    Gia, Vạn Tường, di chỉ văn hóa Sa Huỳnh, Óc Eo. Quảng Ngãi có nhiều danh

    thắng nổi tiếng như: Thạch Ky điếu tẩu, Vu Sơn lộc trường, Vân Phong túc

    vũ, Liên Trì dục nguyệt, Cổ Lũy cô thôn, Hà Nhai vãn độ, Thạch Bích tà

    dương, La Hà thạch trận, An Hải sa bàn, Thiên Bút phê vân, Long Đầu hý

    thủy, Thiên Ấn Niêm hà …

    Vùng đất này còn có nhiều làng nghề truyền thống với những sản phẩm

    đặc trưng như dệt chiếu, đúc đồng, rén sắt, dệt thổ cẩm của người H’re, Kor,

    K’dong; nhiều lễ hội đặc trưng của vùng biển như Lễ khao lề thế lính Hoàng

    Sa, cầu ngư, đua thuyền, cúng cá ông…

    Những năm gần đây du lịch Quảng Ngãi đã có những bước phát triển và

    đạt được nhiều thành quả. Tuy nhiên, ngành du lịch Quảng Ngãi cũng đang

    tồn tại rất nhiều hạn chế và yếu kém. Trong số đó, nhiều tiềm năng du lịch

    còn chưa được khai thác, môi trường ô nhiễm, phát triển thiếu tính bền vững,

    các sản phẩm du lịch còn đơn điệu, nghèo nàn; hệ thống cơ sở hạ tầng chưa

    tạo điều kiện tiếp cận tài nguyên; hoạt động du lịch ở nhiều nơi còn nghiệp

    dư, không hấp dẫn du khách; hiệu quả kinh tế, môi trường và xã hội mang lại

    chưa cao, chưa toàn diện…

    Xuất phát từ những vấn đề trên, tác giả quyết định thực hiện đề tài “Phát

    triển du lịch tỉnh Quảng Ngãi” cho luận văn thạc sĩ của mình. Hy vọng rằng,

    việc thực hiện đề tài sẽ giúp tác giả làm rõ được thực trạng phát triển du lịch

    tỉnh Quảng Ngãi những năm qua và tìm được những giải pháp cần thiết góp

    phần thúc đẩy du lịch Quảng Ngãi không ngừng phát triển.

    2. Mục tiêu nghiên cứu

    2.1.

    Mục tiêu nghiên cứu tổng quát

    Dựa vào lý luận về phát triển du lịch của một điểm đến du lịch, đề tài

    nghiên cứu tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch tỉnh Quảng Ngãi làm cơ

    sở để đưa ra những giải pháp phát triển du lịch tỉnh Quảng Ngãi.

    2.2.

    Mục tiêu nghiên cứu cụ thể

    – Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về phát triển một điểm đến du lịch.

    – Phân tích thực trạng và xác định nguyên nhân thwực trạng phát triển du lịch

    tỉnh Quảng Ngãi thời gian qua.

    hành của doanh nghiệp lữ hành cũng như cung cấp các chỉ tiêu đánh giá hoạt

    động kinh doanh du lịch.

    – Bộ Văn Hóa Thể Thao Và Du Lịch (2011), “Chiến lược phát triển du lịch Việt

    Nam đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030″. Bao gồm những nội dung quan

    trọng như: Đến năm 2022 du lịch cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn;

    phát triển sản phẩm du lịch; phát triển hệ thống hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ

    thuật phục vụ du lịch; đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch; phát triển

    thị trường, xúc tiến quảng bá và thương hiệu du lịch; đầu tư và chính sách

    phát triển du lịch; hợp tác quốc tế về du lịch; quản lý nhà nước về du lịch và

    các chương trình hành động.

    – Hà Văn Siêu (2011), “Đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức

    đối với du lịch Việt Nam bước sang thập kỷ tới 2011 – 2022″. Website viện

    nghiên cứu và phát triển du lịch ngày 17/10/2011. Bài báo cho biết, mặt dù có

    những vấn đề không còn đúng trong bối cảnh hiện nay nhưng bài viết cũng đã

    cho chúng ta nhìn nhận được cơ hội thách thức điểm mạnh, điểm yếu của

    ngành du lịch Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới.

    – Hà Văn Siêu (2011), “Một số giải pháp phát triển bền vững du lịch biển đảo ở

    Quảng Ngãi và các tỉnh vùng duyên hải Nam Trung bộ”, Website của Viện

    nghiên cứu phát triển du lịch ngày 08/06/2011. Bài viết khái quát tiềm năng du

    lịch biển, đảo vùng duyên hải Nam Trung bộ; thực trạng phát triển du lịch biển,

    đảo ở Quãng Ngãi và các tỉnh duyên hải Nam Trung bộ; đánh giá điểm mạnh,

    điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với du lịch biển, đảo các tỉnh duyên hải

    Nam Trung bộ. Ngoài ra bài viết cũng đưa ra các giải pháp phát triển bền vững

    du lịch biển đảo Quảng Ngãi và các tỉnh duyên hải Nam Trung bộ.

    – Lê Văn Minh (2015), “Xu hướng phát triển thị trường khách du lịch quốc tế

    và sản phẩm du lịch của Việt Nam”, Website Viện nghiên cứu và phát triển du

    lịch. Bài viết đề cập tới thực trạng về thị trường và sản phẩm của du lịch Việt

    Nam hiện nay, đánh giá cụ thể, chi tiết thị trường khách quốc tế của du lịch

    Việt Nam trong thời gian qua về phương tiện du lịch, mục đích chuyến đi…

    Từ đó đề ra xu hướng phát triển cho thị trường khách quốc tế và sản phẩm du

    lịch của Việt nam.

    – Lê Văn Sáu (2012), “Phát triển du lịch bền vững trong bối cảnh khủng hoảng

    tài chính công và suy thoái kinh tế ở Châu Âu hiện nay”, Website của Đại học

    Văn Hóa Hà Nội. Bài viết đề cập tới những ảnh hưởng của khủng hoảng tài

    chính và suy thoái kinh tế đến phát triển du lịch. Cụ thể, khách lẻ sẽ thắt chặt

    chi tiêu, cắt giảm chi phí giảm bớt việc đi lại du lịch gây ảnh hưởng tới thu

    nhập của các doanh nghiệp. Do đó, tác giả đã đề xuất đưa ra các giải pháp giải

    quyết tình hình này như “hòa để tiến”, giảm giá các tour du lịch, tăng mối liên

    kết giữa các điểm các khu du lịch để du khách có them nhiều sự lựa chọn…

    – Đỗ Cẩm Thơ (2015), “Kinh nghiệm phát triển sản phẩm du lịch một số nước

    trong khu vực và trên thế giới”, Website Viện nghiên cứu và phát triển du lịch.

    Bài viết cho thấy sự thay đổi theo thời gian của phương pháp luận về sản phẩm

    du lịch, cho thấy xu hướng cải tiến sản phẩm du lịch theo khuynh hướng tiêu

    dung hiện đại. Đưa ra các ví dụ cụ thể để chứng minh cho các lập luận nêu trên

    từ đó đưa ra bài học kinh nghiệm cho phát triển du lịch Việt Nam.

    – Đỗ Hồng Thuận (2013), “Phát triển du lịch bền vững – Đâu là giải pháp cho

    Việt Nam”, Website chúng tôi Bài viết đề cập tới khái niệm du lịch

    bền vững và lí giải cho việc tại sao cần phải phát triển bền vững qua đó cho ta

    thấy được tầm quan trọng của việc phát triển du lịch bền vững trong chính sách

    phát triển bền vững của quốc gia cũng như khu vực. Ngoài ra, bài viết còn đề

    cập tới thực trạng phát triển du lịch ở Việt Nam và lí giải nguyên nhân khó

    khăn trong việc thực hiện phát triển du lịch bền cững ở Việt Nam.

    – Hữu Đức (biên dịch) và Quế Tâm (hiệu đính) (2003) “Tiếp thị địa phương”,

    Chương trình giảng dạy kinh tế Fullbringt. Tài liệu đã định hình cho người

    CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH

    1.1. KHÁI QUÁT VỀ DU LỊCH

    1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của du lịch, điểm đến du lịch

    a. Khái niệm du lịch

    Mặc dù doạt động du lịch đã xuất hiện rất lâu và phát triển với tốc độ

    nhanh, song cho đến ngày nay khái niệm du lịch vẫn chưa có sự thống nhất.

    Năm 1881, định nghĩa về du lịch lần đầu tiên được xuất hiện ở nước Anh:

    “Du lịch là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lý thuyết và thực hành của các cuộc

    hành trình với mục đích giải trí”. Năm 1930, Clusmam – người Thụy Sỹ cho

    rằng “Du lịch là sự chinh phục không gian của những người đến một địa điểm

    mà ở đó họ không có chỗ cư trú thường xuyên”.

    Tháng 6 năm 1991, tại Otawa (Canada) diễn ra Hội nghị Quốc tế về

    thống kê Du lịch cũng đưa ra định nghĩa. “Du lịch là hoạt động của con người

    đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở thường xuyên của

    mình), trong một khoảng thời gian ít hơn đã được các tổ chức du lịch quy

    định trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động

    kiếm tiền trong phạm vi vùng đến thăm”.

    Theo Luật du lịch Việt Nam thì “Du lịch là một hoạt động của con người

    ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan,

    giải trí, nghĩ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”.

    Khác với các quan điểm trên, các học giả biên soạn Từ điển Bách khoa

    toàn thư Việt Nam (1966) đã tách hai nội dung cơ bản của du lịch thành hai

    phần riêng biệt.

    Nghĩa thứ nhất (đứng trên góc độ mục đích của chuyến đi): Du lịch là

    một dạng nghỉ dưỡng sức tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú

    với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử,

    công trình văn hóa, nghệ thuật…

    Nghĩa thứ hai (đứng trên góc độ kinh tế): Du lịch là một ngành kinh

    doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên

    nhiên, truyền thống lịch sử và văn hóa dân tộc, từ đó góp phần tăng thêm tình

    yêu đất nước; đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về

    mặt kinh tế, du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn: có thể

    coi là hình thức xuất khẩu hàng hóa tại chỗ.

    Trong khuôn khổ luận văn này, khái niệm du lịch được hiểu theo nghĩa

    thứ hai của Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, tức là xem xét du lịch dưới

    góc độ một ngành kinh tế.

    a. Đặc điểm của du lịch

    + Du lịch là ngành phụ thuộc vào tài nguyên du lịch.

    + Du lịch là ngành kinh doanh tổng hợp phục vụ nhu cầu tiêu dùng đa

    dạng của khách du lịch

    + Du lịch ngoài kinh doanh dịch vụ ra còn phải đảm bảo nhu cầu về an

    ninh, chính trị và trật tự xã hội cho du khách, cho địa phương và cho các quốc

    gia tiếp nhận du khách.

    + Ngành du lịch là ngành dịch vụ nên việc tiêu thụ sản phẩm phụ thuộc

    rất nhiều vào các yếu tố chủ quan và khách quan.

    + Ngành du lịch mang tính thời vụ. Do đó, ảnh hưởng rất lớn tới việc sử

    dụng lao động. Đây là bài toán khó cho các nhà quản lý.

    + Du lịch có thể làm ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến tài nguyên

    của đất nước do khai thác không hợp lý, làm phát sinh các xáo trộn hoặc xóa

    mòn các giá trị văn hóa truyền thống…

    Với các đặc điểm trên thì du lịch là ngành đặc biệt có nhiều đặc điểm và

    tính chất pha trộn vào nhau tạo thành một tổng thể phức tạp vừa mang đặc

    điểm của ngành kinh tế vừa mang đặc điểm của ngành kinh tế xã hội.

    b. Các loại hình du lịch

    Loại hình du lịch có thể được hiểu là một tập hợp các sản phẩm du lịch

    có những đặc điểm giống nhau, hoặc vì chúng thỏa mãn những nhu cầu, động

    cơ du lịch tương tự, hoặc được bán cho cùng một nhóm khách hàng, hoặc vì

    chúng có cùng một cách phân phối, một cách tổ chức như nhau, hoặc được

    xếp chung theo một mức giá bán nào đó.

    Hoạt động du lịch có thể phân nhóm theo các nhóm khác nhau tùy thuộc

    tiêu chí đưa ra. Hiện nay đa số các chuyên gia về du lịch Việt Nam phân chia

    các loại hình du lịch theo các tiêu chí cơ bản sau đây:

    – Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ của chuyến đi

    + Du lịch quốc tế:

    Bản thân du lịch quốc tế được phân thành: Du lịch quốc tế chủ động và

    du lịch quốc tế thụ động.

    + Du lịch nội địa

    – Căn cứ vào loại hình lưu trú

    + DL ở trong khách sạn (Hotel)

    + DL ở khách sạn ven đường (Motel): Khách sạn ở bên lề những chặn

    đường dài cho khách du lịch đi bằng ô tô.

    + DL ở liều trại (Camping)

    + DL ở làng du lịch (Tourism Village)

    – Căn cứ vào thời gian chuyến đi

    + DL dài ngày

    + DL ngắn ngày

    – Căn cứ vào mục đích chuyến đi

    + DL chữa bệnh

    + DL nghỉ ngơi giải trí

    + DL thể thao

    + DL văn hóa

    + DL công vụ

    + DL sinh thái

    + DL tôn giáo

    + DL thăm hỏi, du lịch quê hương

    + DL quá cảnh …

    – Căn cứ vào đối tượng đi du lịch

    + DL thanh thiếu niên

    + DL dành cho những người cao tuổi

    + DL phụ nữ, gia đình …

    – Căn cứ vào phương tiện vận chuyển KDL

    + DL bằng máy bay

    + DL bằng ô tô, xe máy

    + DL bằng tàu hỏa

    + DL tàu biển

    + DL bằng thuyền, ghe …

    – Căn cứ vào cách thức tổ chức chuyến đi

    + DL theo đoàn

    + DL cá nhân

    – Căn cư vào vị trí địa lý nơi đến DL

    + DL nghỉ núi

    + DL nghỉ biển, sông hồ

    + DL đồng quê

    + DL thành phố …

    Trong các chuyến đi du lịch người ta thường kết hợp một số loại hình du

    lịch với nhau.

    c. Điểm đến du lịch

    Trong tiếng Anh từ “Tourist Destination” được dịch ra tiếng Việt là điểm

    đến du lịch. Tổ chức Du lịch Thế giới (UN-WTO), đã đưa ra quan niệm về

    điểm đến du lịch (Tourist Destination): “Điểm đến du lịch là vùng không gian

    địa lý mà khách du lịch ở lại ít nhất một đêm, bao gồm các sản phẩm du lịch,

    các dịch vụ cung cấp, các tài nguyên du lịch thu hút khách, có ranh giới hành

    Tại điểm đến du lịch, có nhiều sản phẩm của các ngành nghề cung cấp

    không chỉ cho du khách mà còn cung cấp cho cộng đồng dân cư địa phương. Đối

    với khách du lịch, đó là các dịch vụ như: lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, vận

    chuyển …; đối với cộng đồng dân cư địa phương đó là các hàng hóa về lương

    thực, thực phẩm, sinh hoạt và các loại dịch vụ như: chữa bệnh, giải trí …

    – Điểm đến du lịch chịu sự tác động của nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hoạt

    động du lịch.

    + Những yếu tố khách quan: Đó là thời tiết, khí hậu, dịch bệnh …

    + Những yếu tố chủ quan: Đó là việc đảm bảo an ninh, an toàn cho

    khách du lịch tại điểm đến du lịch …

    1.1.2. Sản phẩm du lịch

    a. Khái niệm sản phẩm du lịch

    Sản phẩm du lịch là các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho du khách, được

    tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc

    sử dụng các nguồn lực: cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động tại một cơ sở, một

    vùng hay một quốc gia nào đó.

    b. Những bộ phận hợp thành sản phẩm du lịch

    Xét theo quá trình tiêu dùng của khách du lịch trên chuyến hành trình du

    lịch thì chúng ta có thể tổng hợp các thành phần của sản phẩm du lịch theo

    các nhóm cơ bản sau:

    Dịch vụ vận chuyển;

    Dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống, đồ ăn, thức uống;

    Dịch vụ tham quan, giải trí;

    Hàng hóa tiêu dùng và đồ lưu niệm;

    Các dịch vụ khác phục vụ khách du lịch

    c. Những nét đặc trưng cơ bản của sản phẩm du lịch:

    Sản phẩm du lịch về cơ bản là không cụ thể, không tồn tại dưới dạng vật

    thể. Thành phần chính của sản phẩm du lịch là dịch vụ (thường chiếm 80% 90% về mặt giá trị), hàng hóa chiếm tỷ trọng nhỏ.

    Do vậy, việc đánh giá chất lượng sản phẩm du lịch rất khó khăn, vì

    thường mang tính chủ quan và phần lớn không phụ thuộc vào người kinh

    doanh mà phụ thuộc vào khách du lịch. Chất lượng sản phẩm du lịch được

    xác định dựa vào sự chênh lệch giữa mức độ kỳ vọng và mức độ cảm nhận về

    chất lượng của khách du lịch.

    Sản phẩm du lịch thường được tạo ra gắn liền với yếu tố tài nguyên du lịch.

    Do vậy, sản phẩm du lịch không thể dịch chuyển được. Trên thực tế,

    không thể đưa sản phẩm du lịch đến nơi có khách du lịch mà bắt buộc khách

    du lịch phải đến với nơi có sản phẩm du lịch để thỏa mãn nhu cầu của mình

    thông qua việc tiêu dùng sản phẩm du lịch.

    Phần lớn quá trình tạo ra và tiêu dùng các sản phẩm du lịch trùng nhau

    về không gian và thời gian, chúng không thể cất đi, tồn kho như các hàng hóa

    thông thường khác.

    Do vậy, để tạo sự ăn khớp giữa sản xuất và tiêu dùng là rất khó khăn.

    Việc thu hút khách du lịch nhằm tiêu thụ sản phẩm du lịch là vấn đề vô cùng

    quan trọng đối với các nhà kinh doanh du lịch.

    Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch thường không diễn ra điều đặn, mà có

    thể chỉ tập trung vào những thời gian nhất định trong ngày (đối với sản phẩm

    ở bộ phận nhà hàng), trong tuần (đối với sản phẩm của thể loại du lịch cuối

    tuần), trong năm (đối với sản phẩm của một số loại hình du lịch như: du lịch

    nghỉ biển, du lịch nghỉ núi …).

    1.1.3. Ý nghĩa kinh tế, xã hội của việc phát triển du lịch

    a. Về mặt kinh tế

    + Phát triển du lịch thực hiện xuất khẩu “vô hình” với hiệu quả kinh tế

    cao các giá trị tự nhiên và giá trị văn hóa thông qua việc thu hút khách đến

    tham quan du lịch và thưởng thức các giá trị đó.

    Các giá trị tự nhiên và giá trị văn hóa, đặc biệt là các giá trị văn hóa vật

    thể và giá trị văn hóa phi vật thể là tài sản quốc gia, của địa phương và của

    cộng đồng cần được gìn giữ không chỉ cho thế hệ mai sau mà cho cả toàn

    nhân loại. Những giá trị này không thể mang ra thị trường bán được mà chỉ có

    thể thu hút khách du lịch đến tham quan chiêm ngưỡng. Sau khi khách tham

    quan và cảm thụ các giá trị văn hóa và thiên nhiên này không mất đi, mà ngày

    càng được tôn tạo và gìn giữ tốt hơn. Nguồn thu từ vé tham quan bằng ngoại

    tệ gọi là “xuất khẩu vô hình”.

    + Du lịch thực hiện “xuất khẩu tại chỗ” các sản phẩm của các ngành

    (nông nghiệp, công nghiệp …) và các giá trị văn hóa mang tính vật thể từ văn

    hóa ẩm thực đến việc mua sắm các vật lưu niệm và hàng hóa mang tính dân

    tộc.

    Khách du lịch nước ngoài đến tham quan và du lịch họ tiêu thụ một số

    lượng lớn hàng hóa và dịch vụ sản xuất trong nước và thanh toán bằng ngoại

    tệ. Đây là một hình thức xuất khẩu, nhưng là xuất khẩu tại chổ với hiệu quả

    kinh tế cao.

    + Du lịch gửi công dân ra nước ngoài du lịch gọi là nhập khẩu dịch vụ,

    nhưng có tác động mạnh mẽ đến việc sản xuất kinh doanh, mở rộng thị trường

    tiêu thụ sản phẩm. Những người đi du lịch hõ sẽ đem về những kinh nghiệm

    làm ăn, buôn bán, những thông tin về thị trường và thúc đẩy sản xuất kinh

    doanh phát triển.

    + Du lịch nội địa thực hiện tái phân chia nguồn thu nhập giữa các địa

    phương, giữa các tầng lớp dân cư và làm tăng giá trị của hàng hóa. Khách du

    lịch nội địa đem tiền kiếm được từ một địa phương này sang địa phương khác

    tiêu dùng, như vậy địa phương đón khách sẽ có thu nhập và dân cư ở địa

    phương này cũng có thu nhập từ việc bán hàng hóa, dịch vụ cho khách. Hàng

    hóa và dịch vụ này nếu bán cho cư dân của địa phương thì giá sẽ rẻ, nhưng

    khi bán cho khách du lịch tại các khách sạn, nhà hàng giá sẽ cao hơn dẫn đến

    làm gia tăng giá trị của hàng hóa và dịch vụ.

    + Phát triển du lịch tạo ra môi trường xúc tiến đầu tư, kinh doanh và mở

    cửa ra bên ngoài. Thông qua du lịch thúc đẩy việc giao lưu giữa con người và

    con người để trao đổi kinh nghiệm.

    + Phát triển du lịch là động lực để thúc đẩy các ngành kinh tế khác trong

    nền kinh tế phát triển thông qua việc tạo ra một thị trường tiêu thụ sản phẩm

    cho các ngành.

    + Phát triển du lịch là động lực để chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nền

    kinh tế quốc dân từ nông nghiệp, công nghiệp chuyển sang dịch vụ.

    + Phát triển du lịch nhằm khôi phục và phát triển các nghề thủ công, mỹ

    nghệ truyền thống, các làng nghề với mục đích cho khách du lịch tham quan

    và tìm hiểu cũng như mua những sản phẩm này.

    b. Về mặt xã hội

    + Du lịch góp phần giải quyết việc làm cho nhân dân địa phương.

    Du lịch với tính chất là ngành kinh tế tổng hợp mang tính liên ngành,

    liên vùng và xã hội hóa cao, du lịch phát triển sẽ tạo công ăn việc làm cho lao

    động nông thôn mà không cần phải đào tạo công phu, từ đó từng bước góp

    phần nâng cao tích lũy và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn. Tiếp tục phát

    triển mạnh thêm du lịch sẽ giúp cho nông thôn giải quyết hàng loạt vấn đề:

    tạo công ăn việc làm, nâng cao dân trí, phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn.

    Từ đó, làm thay đổi cơ cấu kinh tế và lao động trong nông thôn theo hướng

    tăng tỷ trọng dịch vụ, phát triển nông thôn văn minh hiện đại phù hợp với sự

    nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

    Một thực tế nữa là, ở nước ta trên ¾ số các khu di tích văn hóa, lịch sử,

    khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng của đất nước đều nằm tại các vùng nông

    thôn, miền núi và vùng hải đảo. Song thu nhập từ du lịch mới tập trung chủ

    + Du lịch làm tăng tầm hiểu biết chung về văn hóa – xã hội, thúc đẩy

    giao lưu văn hóa giữa các địa phương, các quốc gia, dân tộc.

    Du lịch nội địa và quốc tế đến nay là một trong những phương tiện hàng

    đầu để trao đổi văn hóa, tạo cơ hội cho mỗi con người được trải nghiệm. Du

    lịch ngày càng được thừa nhận rộng rãi, là một động lực tích cực cho việc bảo

    vệ di sản thiên nhiên văn hóa. Du lịch có thể nắm bắt các đặc trưng về kinh tế

    của di sản và sử dụng chúng vào việc bảo vệ bằng cách gây quỹ, giáo dục

    cộng đồng và tác động đến chính sách. Đây là một bộ phận chủ yếu của nhiều

    nền kinh tế quốc gia và khu vực, và có thể là một nhân tố quan trọng trong

    phát triển khi được quản lý hữu hiệu.

    Du lịch cũng tác động trở lại văn hóa thông qua việc xây dựng và cải tạo

    môi trường văn hóa, xã hội, làm cho môi trường này khởi sắc, tươi mới, làm

    cho các hoạt động văn hóa năng động và linh hoạt hơn trong cơ chế thị

    trường. Hoạt động du lịch góp phần khơi dậy các tiềm năng văn hóa giàu có

    và phong phú đang còn ẩn chứa khắp nơi để cả xã hội chiêm ngưỡng, thưởng

    thức cái đẹp, không để cái đẹp ấy bị che phủ, mai một và lãng quên. Nhờ có

    du lịch, hàng năm trung bình từ hai đến ba triệu du khách quốc tế đến nước ta

    tham quan, họ được hiểu sâu về đất nước, con người Việt Nam, được tận mắt

    chứng kiến sự thay da đổi thịt tươi mới và tốt đẹp đang diễn ra hàng ngày,

    hàng giờ trong đời sống xã hội Việt Nam.

    c. Một số tác động tiêu cực do du lịch gây ra

    + Phát triển du lịch quốc tế thụ động quá tải dẫn đến việc làm mất thăng

    bằng cán cân thanh toán quốc tế, gây áp lực cho lạm phát.

    Khác với du lịch quốc tế chủ động, du lịch quốc tế thụ động là một hình

    thức nhập khẩu đối với đất nước có khách đi ra nước ngoài. Cái mà họ nhận

    được đó chính là các “lợi ích vô hình” như nâng cao hiểu biết, học hỏi kỹ

    thuật mới, củng cố sức khỏe… của người dân. Nhưng nếu đi với mục đích

    + Du lịch làm ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến tài nguyên của đất

    nước do khai thác quá mức hoặc không hợp lý.

    Một mặt, du lịch mang lại nguồn ngoại tệ và tạo ra nhiều việc làm cho

    người lao động, trong đó có những công việc không đòi hỏi trình độ học vấn

    hay trình độ chuyên môn cao và đa phần ở các vùng sâu vùng xa nơi người

    lao động địa phương vốn rất khó tìm việc làm. Mặt khác, du lịch phát triển

    nhanh nhưng quản lý yếu kém sẽ dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng như:

    Sức chứa của nhiều địa bàn du lịch đã quá tải. Ô nhiễm nước và không

    khí do nước thải, tràn dầu, do chất thải, khí thải của phương tiện vận tải như

    tàu thuyền, ô tô, xe máy, nuôi trồng thủy sản. Từ đó đã ảnh hưởng tới tính đa

    dạng sinh học. Phá hủy nơi cư trú (trên mặt đất hoặc biển) do giải phóng mặt

    bằng hoặc quy hoạch xây dựng hạ tầng, cơ sở dịch vụ du lịch. Xáo trộn cuộc

    sống hoang dã hủy hoại thực vật do đi lại và phương tiện. Săn bắt động vật,

    khai thác san hô làm đồ lưu niệm, phá hủy nơi sinh sản do dung các phương

    tiện đánh bắt mang tính hủy diệt.

    + Du lịch gây ra một số tệ nạn xã hội do kinh doanh các loại hình không

    lành mạnh.

    Bên cạnh những tác động tích cực làm tăng tầm hiểu biết và ý thức con

    người đối với nền văn hóa, một số nhân tố tiêu cực đã làm xấu đi bộ mặt của

    ngành nghề, gây ra những ấn tượng không tốt. Đó là việc tranh dành, lôi kéo

    khách hay những hoạt động buôn bán tại các lễ hội, các hình thức vui chơi có

    thưởng với mục đích lừa đảo hay kinh doanh các loại hình không lành mạnh

    trong nhà hàng khách sạn…

    1.2.

    HỆ THỐNG CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN DU

    LỊCH CỦA MỘT ĐIỂM ĐẾN

    Phát triển du lịch là một trong những nội dung quan trọng trong phát triển kinh

    tế, đặc biệt trong điều kiện Việt Nam rất nhiều tiềm năng để phát triển du lịch. Phát

    --- Bài cũ hơn ---

  • Top List 25 Điểm Tham Quan, Trải Nghiệm Hot Nhất Ninh Thuận
  • Du Lịch Tình Nguyện Và Những Trải Nghiệm Thú Vị
  • 10 Cơ Hội Lớn Tham Gia Du Lịch Tình Nguyện Miễn Phí
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Gia Lai Chi Tiết Từ A
  • Tổng Hợp Các Địa Điểm Du Lịch Cao Bằng Nổi Tiếng Nhất
  • Quảng Ngãi: Cơ Hội Phát Triển Du Lịch Biển, Đảo

    --- Bài mới hơn ---

  • 5 Điểm Du Lịch Biển Tuyệt Vời Nhất Quảng Ngãi
  • Lấy Lý Sơn Làm Hạt Nhân Để Phát Triển Du Lịch Biển, Đảo Trở Thành Loại Hình Du Lịch Chủ Đạo Của Quảng Ngãi
  • Những Bãi Biển Đẹp Nhất Ở Quảng Ninh Bạn Nên Đến Hè Này
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Chi Tiết 2022
  • Top 10 Bãi Biển Đẹp Nhất Việt Nam & Cẩm Nang Du Lịch Biển
  • Đây chính là tiền đề, cơ hội để thu hút các doanh nghiệp du lịch, dịch vụ đến với Quảng Ngãi đầu tư, góp phần thúc đẩy ngành “công nghiệp không khói” của tỉnh phát triển mạnh mẽ trong những năm đến.

    Tiềm năng, thế mạnh còn “ẩn mình”

    Quảng Ngãi có vị trí quan trọng trong Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và hành lang kinh tế Đông Tây; có đường cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi, gần sân bay Chu Lai, cảng nước sâu Dung Quất và sắp đến là tuyến đường ven biển nối liền các tỉnh miền Trung. Còn về cảnh quan, Quảng Ngãi có địa hình đa dạng với đầy đủ đặc điểm của vùng núi, trung du, đồng bằng ven biển, hải đảo. Từ xưa, Quảng Ngãi đã nổi tiếng với “Cẩm Thành thập nhị cảnh”.

    Ở vùng núi phía tây Quảng Ngãi, thiên nhiên đã ban tặng cho tỉnh những thắng cảnh đẹp như Thác Trắng (Minh Long), suối Chí (Nghĩa Hành), suối Trà Bói, núi Cà Đam (Trà Bồng)… Đồng bằng thì có suối nước nóng Nghĩa Thuận, Mộ Đức. Bên cạnh đó, với truyền thống hào hùng, theo dòng chảy lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc đã tạo nên nhiều di tích lịch sử như: Khu chứng tích Sơn Mỹ; Khu lưu niệm Thủ tướng Phạm Văn Đồng; Khu di tích Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam Trung Bộ; Đền thờ Trương Định; Bệnh xá Đặng Thùy Trâm…

    Đặc biệt, Quảng Ngãi có hơn 130 km bờ biển trong xanh, sạch đẹp, với nhiều bãi biển nổi tiếng như Khe Hai, Mỹ Khê, Đức Minh, Sa Huỳnh. Vùng biển trải rộng trên 11.000 km2, ngoài khơi có đảo Lý Sơn còn giữ được vẻ đẹp nguyên sơ, kỳ vĩ. Tất cả những địa danh nói trên cho thấy tiềm năng, thế mạnh của ngành du lịch Quảng Ngãi, nhất là du lịch biển, đảo.

    Tuy nhiên, trong nhiều năm qua, mặc dù tỉnh có chủ trương tập trung thu hút đầu tư phát triển du lịch, nhưng đến nay ngành du lịch của tỉnh vẫn chưa thể bứt phá. Nhiều cảnh đẹp, di tích lịch sử ở miền núi, đồng bằng trên địa bàn tỉnh chưa được phát huy. Sự kết nối các tour, tuyến du lịch vẫn còn rời rạc; du lịch Quảng Ngãi chưa có một điểm nhấn cụ thể, rõ ràng để làm đầu tàu “kéo” ngành du lịch của tỉnh đi lên một cách mạnh mẽ.

    “Với tiềm năng, thế mạnh vượt trội về du lịch, có thể khẳng định Lý Sơn là hạt nhân lý tưởng để thúc đẩy phát triển du lịch biển, đảo thành loại hình du lịch chủ đạo của tỉnh”.

    Bí thư Huyện ủy Lý Sơn Nguyễn Viết Vy

    Ưu tiên phát triển du lịch biển, đảo

    Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XX đã đề ra nhiệm vụ, giải pháp để đẩy mạnh phát triển du lịch trong 5 năm đến là: “Tích cực thu hút đầu tư, nhất là các nhà đầu tư chiến lược đầu tư các khu, điểm du lịch quy mô lớn, hiện đại. Tạo điều kiện thuận lợi để khai thác có hiệu quả các khu, điểm du lịch đã được đầu tư. Phát triển du lịch biển, đảo trở thành loại hình du lịch chủ đạo, lấy Lý Sơn làm hạt nhân. Đẩy mạnh phát triển du lịch văn hóa, lịch sử, tâm linh trên cơ sở nâng tầm giá trị di sản văn hóa Sa Huỳnh, Trường Lũy Quảng Ngãi, các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể. Kêu gọi đầu tư phát triển du lịch sinh thái ở núi Cà Đam, gành Yến, suối nước nóng Thạch Bích…”.

    Lý Sơn với bao thế hệ người hướng về phía biển, nhắc đến hòn đảo này lại vọng bóng tiền nhân, những trai tráng tuân mệnh triều đình giong thuyền mở cõi Hoàng Sa, Trường Sa. Tinh thần yêu nước, yêu biển của người Lý Sơn được kết tinh qua Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa. Tiếp nối quá khứ hào hùng, ngày nay Lý Sơn vẫn giữ vị thế đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển. Không những thế, du khách đến với Lý Sơn trong những năm qua bởi sức hút đặc biệt từ “tài nguyên” du lịch của huyện đảo. Toàn huyện có 7 di tích cấp quốc gia, 19 di tích cấp tỉnh như đình làng An Hải, An Vĩnh; mộ gió Âm Linh Tự.

    Bên cạnh đó là các thắng cảnh có giá trị địa mạo, địa chất độc đáo hình thành từ sự phun trào núi lửa cách đây hàng chục triệu năm như hang Câu; hòn Đụn; chùa Hang; cổng Tò Vò; giếng Tiền. Ngoài ra, Lý Sơn có hệ sinh thái biển đa dạng, đặc sắc với nhiều rạn san hô đẹp nguyên sơ tự nhiên. Bởi vậy, Lý Sơn được tạp chí Forbes (Mỹ) bình chọn nằm trong 10 bãi biển đẹp nhất Việt Nam.

    Bí thư Huyện ủy Lý Sơn Nguyễn Viết Vy cho biết: Hiện nay, hạ tầng du lịch của Lý Sơn đang từng bước hoàn thiện theo hướng phát triển du lịch cộng đồng, người dân sẽ là trung tâm của sự phát triển. Toàn huyện hiện có 133 cơ sở lưu trú với hơn 1.000 phòng, từ khách sạn, nhà nghỉ đến homestay cho du khách lựa chọn. Khoảng cách đất liền với Lý Sơn cũng đã rút ngắn chỉ còn 40 phút bởi những đội tàu siêu tốc. Nhiều sự kiện lớn tổ chức ở Lý Sơn như Giải dù lượn quốc tế; Giải Marathon Báo Tiền phong vừa qua đã góp phần làm cho Lý Sơn thêm phần sinh động.

    Trên bản đồ du lịch hiện nay, Lý Sơn đã có tên trong nhiều hành trình của du khách trong và ngoài nước. Du lịch, dịch vụ đã trở thành kinh tế chủ đạo của huyện đảo, đóng góp hơn 50% GRDP của huyện.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 10 Bãi Biển Tuyệt Vời Hấp Dẫn Khi Du Lịch Phú Yên
  • 19 Bãi Biển Phú Yên Đẹp Thu Hút Khách Du Lịch Nhất
  • Du Lịch Biển Đảo – Tương Lai Của Du Lịch Việt Nam
  • Đảo Lý Sơn Ở Đâu? Có Gì Hấp Dẫn Mà Ai Cũng Ao Ước Một Lần Đặt Chân Đến?
  • Thiên Đường Du Lịch Biển Đảo
  • Quảng Ngãi Đầu Tư Phát Triển Du Lịch Biển Đảo

    --- Bài mới hơn ---

  • Cơ Hội Phát Triển Du Lịch Biển, Đảo
  • Hội Thảo Quảng Bá Sản Phẩm Du Lịch Biển Đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi
  • Đánh Thức Du Lịch Biển Đảo
  • Hòn Khô Du Lịch Biển Đảo Quy Nhơn 2022
  • Du Lịch Biển Đảo Quy Nhơn
  • Quảng Ngãi đầu tư phát triển du lịch biển đảo

    Đến với du lịch Lý Sơn, bạn sẽ có cảm giác như đang hòa mình vào trời biển bao la, xanh ngắt cùng những ngọn núi nhô cao, tạo nên thắng cảnh độc đáo, hùng vĩ. Trên đỉnh núi là thảm rừng, bên dưới là nẻo đường quanh co chạy suốt, thấp thoáng xa xa là vài ngôi nhà và những cánh đồng hành tỏi Lý Sơn trải dài xanh mướt.

    Du lịch biển đảo Lý Sơn đang hút khách

    Đến với chương trình, bạn sẽ có cảm giác như đang hòa mình vào trời biển bao la, xanh ngắt cùng những ngọn núi nhô cao, tạo nên thắng cảnh độc đáo, hùng vĩ. Trên đỉnh núi là thảm rừng, bên dưới là nẻo đường quanh co chạy suốt, thấp thoáng xa xa là vài ngôi nhà và những cánh đồng hành tỏi Lý Sơn trải dài xanh mướt.

    Đến ới đảo nơi nàynếu muốn tắm biển, bạn nên ghé qua đảo Bé. Chắc chắn bạn sẽ choáng ngợp bởi vẻ đẹp không bút nào tả xiết. Ngoài ra, vì được hình thành từ dung nham núi lửa nên nơi đâycó một hệ thống hang động cùng cầu đá vô cùng đặc biệt.

    Đến đây, bạn còn có cơ hội được thưởng thức những món ăn đặc sản vùng này tươi ngon do người dân chế biến. Ngoài các món ăn quen thuộc như gỏi tỏi, gỏi rong biển, cua huỳnh đế,… mảnh đất nàycòn nổi tiếng với đặc sản tôm hùm.

    Lý Sơn – vùng đất chứa đựng những giá trị văn hóa, lịch sử gắn với nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể quý giá – đặt mục tiêu phấn đấu đến năm 2025 sẽ đón trên 500.000 lượt khách du lịch, trong đó có 3.000 lượt khách quốc tế.

    Không chỉ riêng Lý Sơn, tiềm năng du lịch biển đảo của tỉnh Quảng Ngãi rất đa dạng, phong phú. Tài nguyên về địa chất, đặc biệt là núi lửa biển là tài nguyên vô cùng nổi trội và rất độc đáo. Dọc chiều dài 130 km, bờ biển Quảng Ngãi còn có nhiều di sản thiên nhiên và văn hóa độc đáo. Các giá trị nhân văn gắn với văn hóa miền biển, văn hóa Sa Huỳnh với bề dày lịch sử và truyền thống lâu đời.

    Quảng Ngãi đầu tư phát triển du lịch biển đảo

    --- Bài cũ hơn ---

  • Du Lịch Biển Đảo Quan Lạn 2 Ngày 1 Đêm
  • Những Tour Du Lịch Biển Đảo Của Phú Yên
  • Tour Du Lịch Biển Đảo Phú Quốc 3 Ngày 2 Đêm
  • Thiên Đường Du Lịch Biển Đảo Phú Quốc
  • Tốp Du Lịch Biển Miền Bắc Đẹp Ấn Tượng Nhất
  • Liên Kết Phát Triển Du Lịch 4 Tỉnh Quảng Ngãi

    --- Bài mới hơn ---

  • Bắt Nguyên Phó Giám Đốc Sở Văn Hóa, Thể Thao Và Du Lịch Thanh Hoá
  • Quy Hoạch Chi Tiết Khu Du Lịch Biển Nhơn Lý
  • Đi Đâu Và Làm Gì Khi Du Lịch Cù Lao Xanh Bình Định?
  • “bỏ Túi” Kinh Nghiệm Du Lịch Cù Lao Xanh Bình Định
  • Du Lịch Bình Định Về Thăm Cù Lao Xanh
  • Liên kết phát triển du lịch 4 tỉnh Quảng Ngãi – Bình Định – Gia Lai – Kon Tum

    23/11/2012

    Tại Hội nghị, các đại biểu đều nhận xét việc liên kết phát triển du lịch 4 tỉnh trong thời gian qua đạt kết quả chưa cao, mức độ liên kết còn rất hạn chế, các hoạt động quảng bá chỉ mới đạt 10% so với yêu cầu; các ngành chức năng chưa triển khai cụ thể nội dung hợp tác liên kết đến các doanh nghiệp. Ngoài ra, các ý kiến đóng góp còn xoay quanh các vấn đề như: định vị sản phẩm du lịch đặc thù của 4 tỉnh; xây dựng thương hiệu du lịch vùng như lập trang web chung, slogan, logo, chiến lược xúc tiến quảng bá chung của 4 tỉnh; Xây dựng thương hiệu “Bốn địa phương một điểm đến”.

    Trao đổi tại Hội nghị, các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành, khách sạn cũng đề xuất các cơ quan quản lý nhà nước nên có sự đầu tư tập trung và hoàn thiện đối với các dự án trọng tâm của 4 tỉnh, đầu tư hạ tầng giao thông đến các điểm tham quan, quan tâm và đẩy mạnh việc đào tạo nguồn nhân lực, đặt văn phòng đại diện ở các nước Lào, Thái Lan, Campuchia để thu hút lượng khách du lịch của các nước này.

    Tính riêng tại Bình Định (theo báo cáo của Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch), lượng khách du lịch đến Bình Định tăng trên 24%, doanh thu tăng 30% so với năm 2011. Tính riêng khách du lịch quốc tế đến Bình Định trong năm 2012 đạt 1.341.567 lượt khách, tăng 24% so với năm 2011. Dự báo sang năm 2013 khách quốc tế sẽ đạt 1.558.000 lượt khách. Trong năm qua công tác tuyên truyền quảng bá xúc tiến du lịch được tăng cường cả về số lượng và chất lượng, thường xuyên giới thiệu hình ảnh quê hương đất nước con người Bình Định trên các phương tiện thông tin đại chúng trên các thị trường lớn Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh. Đồng thời, trong giai đoạn 2011 – 2022, Bình Định sẽ tập trung đầu tư phát triển sản phẩm, loại hình du lịch trên 4 tuyến du lịch trọng điểm gồm:

    Tuyến du lịch Quy Nhơn – Sông Cầu trọng tâm là thành phố Quy Nhơn. Phấn đấu đến năm 2022 đưa vào hoạt động một số điểm du lịch của tuyến này. Đồng thời, đầu tư chỉnh trang khu vực bãi biển Quy Nhơn từ Mũi Tấn đến Ghềnh Ráng, đảm bảo vệ sinh môi trường phục vụ phát triển du lịch.

    Tuyến Quy Nhơn – Nhơn Hội – Tam Quan với 5 điểm nhấn là tuyến du lịch sinh thái Phương Mai – Núi Bà trở thành Khu du lịch quốc gia; Khu du lịch Vĩnh Hội; Khu du lịch Hải Giang; Khu du lịch Mũi Tấn – tượng Trần Hưng Đạo (ốc đảo); Quần thể du lịch, lịch sử, sinh thái và tâm linh chùa Linh Phong.

    Tuyến Quy Nhơn – An Nhơn – Tây Sơn – Vĩnh Thạnh và phụ cận nhằm đẩy mạnh đầu tư phát triển để tạo sản phẩm du lịch mang tính đặc trưng văn hóa Bình Định nhất là các di sản văn hóa – lịch sử gắn với Nhà Tây Sơn, di sản văn hóa Chăm, Võ cổ truyền Bình Định…. Tập trung đầu tư vào 5 điểm nhấn là: Nâng cấp Bảo tàng Quang Trung thành Bảo tàng quốc gia; Di tích Lăng Mai Xuân Thưởng giai đoạn 2; Xây dựng mới đền thờ Võ Văn Dũng; Đường vào các lò võ; Đàn tế trời đất.

    Tuyến du lịch di tích lịch sử – cách mạng và kháng chiến gồm: Căn cứ Núi Bà; Nhà lưu niệm chi bộ Nhà Đèn; Nhà Chi bộ Cửu Lợi….

    Trong năm 2013, Bình Định sẽ tập trung thực hiện: Xây dựng cầu tàu du lịch và kêu gọi đầu tư một số tàu du lịch đảm bảo chất lượng phục vụ khách tham quan trên Đầm và trên biển; Xây dựng các loại hình văn hóa phục vụ cho hoạt động giải trí, tham quan du lịch về đêm đáp ứng nhu cầu mua quà lưu niệm, vui chơi giải trí, ăn uống về đêm cho du khách nhằm kéo dài thời gian lưu trú tại Quy Nhơn như: Chợ đêm, Đấu Võ đài; Đồng thời, tập trung đẩy mạnh công tác liên kết xúc tiến quảng bá với các tỉnh, thành phố: TP. Hồ Chí Minh, Quảng Ngãi – Gia Lai – Kom Tum và các nước Lào, Thái Lan nhằm xây dựng các tour du lịch mới hấp dẫn; Xây dựng nhà vệ sinh công cộng đạt chuẩn để phục vụ khách du lịch tại các khu, điểm du lịch và các khu vực công cộng./.

    Hạnh Nguyên

    CÁC TIN KHÁC:

    Đang online: 182

    Số lượt truy cập: 40751

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hàn Mặc Tử, Nhà Thơ Gắn Với Quy Nhơn
  • Ghé Vườn Hoa Thăm Mộ Hàn Mặc Tử
  • Du Lịch Bình Định Giới Thiệu Về Mình?
  • Khám Phá Hải Giang Từ Trên Cao
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Đảo Hải Giang Tự Túc
  • Phát Triển Du Lịch Huyện Đảo Lý Sơn, Tỉnh Quảng Ngãi

    --- Bài mới hơn ---

  • Huyện Kim Bôi Hướng Tới Phát Triển Du Lịch Chất Lượng Cao
  • Luận Văn Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch Sinh Thái Tại Huyện Kim Bôi, Tỉnh Hoà
  • Quản Lí Nhà Nước Trong Phát Triển Du Lịch Trên Địa Bàn Huyện Nam Giang, Tỉnh
  • Top 10 Địa Điểm Du Lịch Hy Lạp Hấp Dẫn Nhất
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Hy Lạp Tự Túc Giá Rẻ 2022 Chi Tiêu Hợp Lý
  • BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

    ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

    LÊ VĂN HUY

    PHÁT TRIỂN DU LỊCH

    HUYỆN ĐẢO LÝ SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI

    LUẬN VĂN THẠC S Ĩ KINH TẾ

    Đà Nẵng – Nă m 2011

    This document is created by GIRDAC PDF Converter Pro trial version

    GIRDAC PDF Converter Pro full version doesn’t add this green footer

    Full version can be ordered from http://www.girdac.com/Products/Buy.htm

    BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

    ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

    PHÁT TRIỂN DU LỊCH

    HUYỆN ĐẢO LÝ SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI

    Chuyên ngành: Kinh tế phát triển

    Mã số: 60.31.05

    LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

    Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Trường Sơn

    Đà Nẵng – Năm 2011

    This document is created by GIRDAC PDF Converter Pro trial version

    GIRDAC PDF Converter Pro full version doesn’t add this green footer

    Full version can be ordered from http://www.girdac.com/Products/Buy.htm

    LỜI CAM ĐOAN

    Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.

    Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng

    được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

    Tác giả luận văn

    Lê Văn Huy

    This document is created by GIRDAC PDF Converter Pro trial version

    GIRDAC PDF Converter Pro full version doesn’t add this green footer

    Full version can be ordered from http://www.girdac.com/Products/Buy.htm

    DU LỊCH……………………………………………………………………………………… 6

    1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG DU LỊCH …. 6

    1.1.1. Khái niệm về du lịch ………………………………………………………… 6

    1.1.2. Phân loại hoạt động du lịch………………………………………………… 9

    1.1.3. Vai trò hoạt động du lịch đối với phát triển kinh tế xã hội ………. 10

    1.2. PHÁT TRIỂN DU LỊCH…………………………………………………………… 14

    1.2.1. Nội dung phát triển du lịch ………………………………………………. 14

    1.2.2. Tiêu chí phản ánh phát triển du lịch …………………………………… 16

    1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT

    TRIỂN DU LỊCH………………………………………………………………………….. 26

    1.3.1. Tài nguyên du lịch………………………………………………………….. 26

    1.3.2. Các nhân tố kinh tế – chính trị – xã hội………………………………… 29

    1.3.3. Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật ……………………………… 30

    1.3.4. Nguồn nhân lực……………………………………………………………… 31

    1.4. MỘT SỐ KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỦA CÁC ĐỊA

    PHƯƠNG …………………………………………………………………………………… 32

    1.4.1. Thành phố Hồ Chí Minh liên kết hợp tác phát triển du lịch …….. 32

    1.4.2. Hà Tây phát huy tiềm năng văn hoá lễ hội để phát triển du lịch………35

    This document is created by GIRDAC PDF Converter Pro trial version

    GIRDAC PDF Converter Pro full version doesn’t add this green footer

    Full version can be ordered from http://www.girdac.com/Products/Buy.htm

    1.4.3. Liên kết phát triển du lịch Huế – Đà Nẵng – Quảng Nam ………… 37

    CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG DU LỊCH HUYỆN ĐẢO LÝ SƠN ……… 40

    2.1. TỔNG QUAN VỀ HUYỆN ĐẢO LÝ SƠN…………………………………… 40

    2.1.1. Vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên ……….. 40

    2.1.2. Dân cư và nguồn lao động ……………………………………………….. 48

    2.1.3. Cơ sở hạ tầng và môi trường…………………………………………….. 51

    2.2. TÀI NGUYÊN DU LỊCH………………………………………………………….. 54

    2.2.1. Tiềm năng du lịch tự nhiên ………………………………………………. 54

    2.2.2. Tiềm năng du lịch nhân văn……………………………………………… 59

    2.3. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH HUYỆN ĐẢO LÝ SƠN…….. 74

    2.3.1. Các mùa du lịch và các loại hình du lịch đang được khai thác …. 74

    2.3.2. Thực trạng đầu tư khai thác các khu du lịch, điểm du lịch ………. 75

    2.3.3. Cơ sở vật chất kỹ thuật (Hệ thống cơ sở lưu trú, ăn uống, dịch vụ

    du lịch)……………………………………………………………………………………….. 76

    2.3.4. Tình hình thị trường du khách…………………………………………… 77

    2.3.5. Nguồn nhân lực……………………………………………………………… 77

    2.3.6. Quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh du lịch …………. 78

    CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN

    DU LỊCH HUYỆN ĐẢO LÝ SƠN …………………………………………………. 79

    3.1. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH QUẢNG NGÃI GIAI

    ĐOẠN 2011-2020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2025 ……………………………….. 79

    3.2. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH HUYỆN ĐẢO LÝ SƠN…….. 81

    3.2.1. Tổng hợp các yếu tố môi trường phát triển du lịch huyện đảo Lý

    Sơn …………………………………………………………………………………………… 81

    3.2.2. Quan điểm và mục tiêu phát triển du lịch huyện đảo Lý Sơn …… 86

    3.2.3. Định hướng quy hoạch phát triển du lịch huyện đảo Lý Sơn……. 88

    This document is created by GIRDAC PDF Converter Pro trial version

    GIRDAC PDF Converter Pro full version doesn’t add this green footer

    Full version can be ordered from http://www.girdac.com/Products/Buy.htm

    3.3. NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN DU LỊCH

    HUYỆN ĐẢO LÝ SƠN …………………………………………………………………. 91

    3.3.1. Xác định một số sản phẩm du lịch đặc trưng của huyện đảo Lý Sơn,

    từng bước chuyên môn hoá các lĩnh vực hoạt động kinh doanh du lịch …………91

    3.3.2. Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cho ngành du lịch ……………. 95

    3.3.3. Tăng cường thu hút nguồn vốn đầu tư cho phát triển du lịch …… 97

    3.3.4. Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến du lịch …………………………………100

    3.3.5. Chú trọng bảo tồn, tôn tạo và khai thác hiệu quả các tài nguyên du

    lịch nhân văn ……………………………………………………………………………….102

    3.3.6. Tăng cường phối hợp liên ngành trong phát triển du lịch………..104

    3.3.7. Đảm bảo tính bền vững về môi trường trong phát triển du lịch ……. 104

    3.3.8. Phát triển du lịch gắn với an ninh quốc phòng ……………………..107

    3.3.9. Mở rộng hợp tác liên kết khu vực và hợp tác quốc tế …………….109

    3.3.10. Tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước đối với kinh doanh du

    lịch trên địa bàn ……………………………………………………………………………111

    KẾT LUẬN………………………………………………………………………………..113

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………117

    QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI TÀI LUẬN VĂN

    This document is created by GIRDAC PDF Converter Pro trial version

    GIRDAC PDF Converter Pro full version doesn’t add this green footer

    Full version can be ordered from http://www.girdac.com/Products/Buy.htm

    DANH MỤC CÁC BẢNG

    Số hiệu

    Tên bảng

    bảng

    Trang

    2.1

    Hiện trạng sử dụng đất huyện đảo Lý Sơn năm 2009

    47

    2.2

    Một số chỉ tiêu về nguồn lao động huyện đảo Lý Sơn

    50

    2.3

    Tổng hợp cơ sở lưu trú trên địa bàn Lý Sơn năm 2009

    76

    2.4

    Tổng hợp số lượng du khách trên địa bàn Lý Sơn giai

    đoạn 2005 -2009

    3.1

    77

    Một số chỉ tiêu ngành dịch vụ huyện đảo Lý Sơn đến

    năm 2022

    87

    3.2

    Số lượng du khách

    88

    3.3

    Số lượng phòng lưu trú

    88

    3.4

    3.5

    98

    This document is created by GIRDAC PDF Converter Pro trial version

    GIRDAC PDF Converter Pro full version doesn’t add this green footer

    Full version can be ordered from http://www.girdac.com/Products/Buy.htm

    109

    MỞ ĐẦU

    1. Lý do chọn đề tài

    Trong xu thế phát triển kinh tế hiện nay, du lịch đang trở thành một

    ngành kinh tế mũi nhọn, mang lại lợi ích kinh tế cao không chỉ ở Quảng Ngãi

    nói riêng mà cho cả nước nói chung. Với lợi thế về sự đa dạng của các nguồn

    tài nguyên du lịch được phân bố rộng khắp trên địa bàn tỉnh, hoạt động du

    lịch trong những năm qua đã có sự tăng trưởng vượt bậc. Ngày càng có nhiều

    doanh nghiệp trong và ngoài nước đã và đang đầu tư, khai thác tại các khu du

    lịch, khu kinh tế Dung Quất và các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh với quy

    mô ngày càng lớn và đa dạng. Du lịch đã góp phần giải quyết công ăn việc

    làm, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống cho người dân; phát huy được

    một phần tiềm năng du lịch của tỉnh; đồng thời góp phần vào sự chuyển dịch

    cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa,…

    Để hoạt động du lịch tại Quảng Ngãi ngày càng khởi sắc, thu hút được

    du khách, kéo dài thời gian lưu trú, mang lại lợi nhuận lớn hơn, thì bên cạnh

    việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng, cần phải xây dựng một sản phẩm du lịch đặc

    trưng, một điểm nhấn cho du lịch. Là một tỉnh duyên hải miền Trung, Quảng

    Ngãi có lợi thế về tài nguyên du lịch biển, và huyện đảo Lý Sơn là nơi ẩn

    chứa trong mình tiềm năng để có thể quy hoạch phát triển thành một điểm du

    lịch lý tưởng.

    Nằm trong chương trình các hoạt động văn hóa lễ hội của cả nước,

    Quảng Ngãi đang xúc tiến đăng cai tổ chức Festival Biển đảo Việt Nam.

    Cùng với Mỹ Khê, Sa Huỳnh, Lý Sơn là một trong những nơi được chọn để tổ

    chức các hoạt động chính của Festival. Vì vậy, công tác lập quy hoạch, phát

    triển hoạt động du lịch tại đảo là cần thiết, để có thể đáp ứng kịp thời cho nhu

    cầu tham quan, nghỉ dưỡng của du khách trong thời gian đến.

    This document is created by GIRDAC PDF Converter Pro trial version

    GIRDAC PDF Converter Pro full version doesn’t add this green footer

    Full version can be ordered from http://www.girdac.com/Products/Buy.htm

    This document is created by GIRDAC PDF Converter Pro trial version

    GIRDAC PDF Converter Pro full version doesn’t add this green footer

    Full version can be ordered from http://www.girdac.com/Products/Buy.htm

    3

    Phạm vi nghiê n cứu

    – Về k hông gian: Phạm vi ngh iên cứu được giới hạn trong k hu vực

    huyện đảo Lý Sơn thuộc tỉnh Quảng Ngãi trong mối quan hệ với phát triển du

    lịch toàn tỉnh Quảng Ngãi.

    – Về thời gian: Thời gian nghiên cứu thực trạ ng phát triển d u lịc h của

    huyện đảo Lý Sơn trong khoảng thời gian 2005 – 2010, đề xuất phương hướng

    và giải pháp phát triển du lịch tạ i đây tro ng khoảng 2011 – 2022.

    4. Phương pháp nghiên cứu

    Đề tài sử dụng các phương pháp:

    – Phương pháp tổng hợp đối chiếu dữ liệu: Từ những thông tin ban đầu,

    từ nhiều nguồn khác nhau, tiến hành đối chiếu với nhau để rút ra được những

    quy luật hoạt động của ngành du lịch tại Lý Sơn, từ đó đưa ra được các chỉ

    tiêu, xu hướng phát triển trong tương lai.

    – Phương pháp khảo sát thực địa: Đây là một phương pháp nghiên cứu

    truyền thống có hiệu quả rất lớn trong việc thu thập trực tiếp số liệu thông tin

    ban đầu với độ tin cậy và chính xác cao trên địa bàn nghiên cứu.

    – Phương pháp bản đồ: Do lãnh thổ nghiên cứu có quy mô lớn, nên việc

    sử dụng bản đồ sẽ giúp có một tầm nhìn bao quát về Lý Sơn. Qua bản đồ, ta

    sẽ thấy được sự phân bố các nguồn tài nguyên du lịch, hiện trạng cơ sở hạ

    tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch. Trên cơ sở đó, giúp các nhà

    quản lý xác định được phương hướng phát triển và tổ chức không gian du lịch

    trong tương lai.

    – Phương pháp so sánh: Đây là một phương pháp nghiên cứu quan

    trọng với mục đích là so sánh phát hiện được những đặc điểm giống và khác

    nhau giữa các đối tượng nghiên cứu và các yếu tố hình thành nên có thể kết

    luận đúng đối tượng nghiên cứu.

    This document is created by GIRDAC PDF Converter Pro trial version

    GIRDAC PDF Converter Pro full version doesn’t add this green footer

    Full version can be ordered from http://www.girdac.com/Products/Buy.htm

    4

    – Phương pháp phân tích SWOT: Sử dụng phương pháp phân tích

    những ưu, khuyết điểm, những lợi thế bên trong và những cơ hội, thách thức

    bên ngoài đối với việc phát triển các tiềm năng du lịch tại Lý Sơn.

    – Phương pháp toán và tin học: Áp dụng các công cụ toán học để phân

    tích hiệu quả kinh doanh du lịch, chỉ tiêu các nguồn lực, đồng thời tính toán

    để đưa ra dự báo về lượng du khách sẽ đến Lý Sơn trong thời gian tới, các chỉ

    tiêu phát triển về cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch, nguồn

    nhân lực du lịch,…

    5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

    Đã có nhiều công trình, khảo cứu về văn hóa, lịch sử, các đề án phát

    triển kinh tế – xã hội Lý Sơn như: “Quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam

    tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”, Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Nhã, bảo

    vệ tại trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn (Đại học Quốc gia thành

    phố Hồ Chí Minh), năm 1992. Tác giả nghiên cứu về lịch sử hình thành đảo

    Hoàng Sa và T rường Sa, về việc ra đời đội Hoàng Sa tại Lý Sơn. Đây là một

    đề tài khoa học lịch sử, chỉ khai thác một khía cạnh nhỏ về Lý Sơn; “Lý Sơn Đảo du lịch lí tưởng”, của tác giả Lê Trọng do Nhà xuất bản Văn hóa Thông

    tin ấn hành tại Hà Nội năm 2007, là tập hợp các bài viết giới thiệu về lịch sử,

    văn hóa, các yếu tố kinh tế xã hội nói chung của Lý Sơn. Tuy nhiên, quyển

    sách chưa nêu ra các định hướng để phát triển du lịch; và “Non nước Việt

    Nam”, của Trung tâm công nghệ thông tin (Tổng cục Du lịch Việt Nam), do

    nxb Văn hóa Thông Tin ấn hành tại Hà Nội năm 2007, chỉ nêu vài dòng giới

    thiệu sơ lược về Lý Sơn là một điểm du lịch ở Quảng Ngãi.

    Thông qua việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: Phương

    pháp tổng hợp đối chiếu dữ liệu; phương pháp khảo sát thực địa; phương pháp

    bản đồ; phương pháp phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức

    (SWOT); phương pháp toán và tin học để tổng kết các tiềm năng và nguồn

    This document is created by GIRDAC PDF Converter Pro trial version

    GIRDAC PDF Converter Pro full version doesn’t add this green footer

    Full version can be ordered from http://www.girdac.com/Products/Buy.htm

    This document is created by GIRDAC PDF Converter Pro trial version

    GIRDAC PDF Converter Pro full version doesn’t add this green footer

    Full version can be ordered from http://www.girdac.com/Products/Buy.htm

    This document is created by GIRDAC PDF Converter Pro trial version

    GIRDAC PDF Converter Pro full version doesn’t add this green footer

    Full version can be ordered from http://www.girdac.com/Products/Buy.htm

    7

    du lịch (Ví dụ: hoạt động trung gian). Định nghĩa này được Đại hội lần thứ 5

    của Hiệp hội quốc tế những nhà nghiên cứu khoa học du lịch (IAEST International Association of Scientific Experts in Tourism) chấp nhận làm cơ

    sở cho môn khoa học du lịch nhưng cần phải tiếp tục hoàn thiện.

    Theo từ điển bách khoa quốc tế về du lịch (Le Dictionnaire

    international du tourisme, Viện Hàn lâm khoa học quốc tế về du lịch): Du lịch

    là tập hợp các hoạt động tích cực của con người nhằm thực hiện một dạng

    hành trình, là một công việc liên kết nhằm thoả mãn các nhu cầu của khách du

    lịch,… Du lịch là cuộc hành trình mà một bên là người khởi hành với mục

    đích chọn trước và một bên là những công cụ làm thoả mãn các nhu cầu của

    họ . Định nghĩa này xem xét hoạt động du lịch

    có góc độ khách du lịch, do vậy chưa phản ánh đầy đủ nội dung của hoạt

    động du lịch.

    This document is created by GIRDAC PDF Converter Pro trial version

    GIRDAC PDF Converter Pro full version doesn’t add this green footer

    Full version can be ordered from http://www.girdac.com/Products/Buy.htm

    This document is created by GIRDAC PDF Converter Pro trial version

    GIRDAC PDF Converter Pro full version doesn’t add this green footer

    Full version can be ordered from http://www.girdac.com/Products/Buy.htm

    9

    học giả lồng ghép cả hai nội dung trên, tức du lịch là tổng hòa các mối quan

    hệ kinh tế xã hội phát sinh từ hoạt động di chuyển.

    Như vậy, du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, gồm nhiều thành

    phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp. Đây cũng chính là

    đặc điểm của du lịch. Hoạt động du lịch vừa có đặc điểm kinh tế, lại vừa có

    đặc điểm của ngành văn hoá – xã hội.

    Ngày nay, hoạt động du lịch đã được nhìn nhận như là ngành kinh tế

    quan trọng, có tốc độ phát triển nhanh. T rên thực tế, hoạt động du lịch ở nhiều

    nước không những đem lại lợi ích kinh tế, mà còn cả lợi ích chính trị, văn

    hoá, xã hội,… và ngành du lịch đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong cơ

    cấu nền kinh tế quốc dân, nguồn thu nhập từ du lịch đã chiếm một tỷ trọng

    lớn trong tổng sản phẩm xã hội.

    1.1.2. Phân loại hoạt động du lịch

    Để có thể đưa ra các định hướng và chính sách phát triển đúng đắn về

    du lịch, các nhà quản lý vĩ mô về du lịch cũng như các nhà quản trị doanh

    nghiệp du lịch cần phân du lịch thành các loại hình khác nhau. Việc phân loại

    sẽ đảm bảo tính hệ thống khi quan điểm thống nhất về khái niệm loại hình du

    lịch. Có thể có nhiều tiêu thức khác nhau để phân loại hoạt động du lịch.

    Căn cứ vào mục đích và nội dung của chuyến đi du lịch được phân

    thành những thể loại cơ bản sau:

    – Du lịch văn hóa: Mục đích chính là sử dụng các chuyến du lịch nhằm

    nâng cao hiểu biết cá nhân về các lĩnh vực: lịch sử, kiến trúc, kinh tế, hội hoạ,

    chế độ xã hội, cuộc sống của người dân cùng các phong tục tập quán của đất

    nước du lịch.

    – Du lịch thể thao: Đây là loại hình du lịch xuất phát từ nhu cầu tham

    gia thi đấu hoặc cổ vũ cho các cuộc thi đấu thể thao.

    This document is created by GIRDAC PDF Converter Pro trial version

    GIRDAC PDF Converter Pro full version doesn’t add this green footer

    Full version can be ordered from http://www.girdac.com/Products/Buy.htm

    10

    – Du lịch tôn giáo: Nhằm thoả mãn nhu cầu tín ngưỡng đặc biệt của các

    tín đồ tôn giáo, vào những kỳ lễ tôn giáo các tín đồ sẽ thực hiện các cuộc hành

    hương về các thánh địa tôn giáo để thực hiện các nghi lễ tôn giáo đặc biệt.

    – Du lịch chữa bệnh: Đây là loại hình du lịch nhằm cải thiện tình hình

    sức khoẻ về thể chất và tinh thần cho du khách thông qua điều kiện đặc biệt

    của các điểm đến về môi trường tự nhiên, về các chuyên gia giỏ i, về cơ sở vật

    chất kỹ thuật hay về công nghệ y tế.

    – Du lịch sinh thái: Du lịch tham quan nghỉ dưỡng; du lịch làng quê,

    làng nghề trải nghiệm cuộc sống bản địa, du lịch mạo hiểm, …Là loại hình du

    lịch dựa vào thiên nhiên và văn hoá bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có

    đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực

    của cộng đồng địa phương.

    – Du lịch công vụ: Mục đích chính của chuyến đi là nhằm thực hiện

    nhiệm vụ công tác: tham dự hội nghị, hội thảo, các triển lãm,…

    – Du lịch thương gia: Mục tiêu chính của chuyến đi là nhằm mục đích

    kinh tế: tìm hiểu thị trường, nghiên cứu dự án đầu tư, ký kết hợp đồng,…

    1.1.3. Vai trò hoạt động du lịch đối với phát triển kinh tế xã hộ i

    1.1.3.1. Du lịch với kinh tế

    Du lịch được đánh giá rất khác nhau giữa các nước, nhưng hầu hết các

    quốc gia đều nhận thức được tầm quan trọng của du lịch trong phát triển kinh

    tế, và theo thời gian thì những nhận thức đó ngày càng được khẳng định và

    nhìn nhận đầy đủ hơn. Trước hết, du lịch tham gia tích cực vào quá trình tạo

    nên thu nhập quốc dân, làm tăng thêm tổng sản phẩm quốc nội.

    Đối với hoạt động du lịch nội địa, du lịch tham gia tích cực vào quá

    trình phân phối lại thu nhập, tác động tích cực tới việc cân đối cấu trúc thu

    nhập và chi tiêu của nhân dân giữa các vùng.

    This document is created by GIRDAC PDF Converter Pro trial version

    GIRDAC PDF Converter Pro full version doesn’t add this green footer

    Full version can be ordered from http://www.girdac.com/Products/Buy.htm

    11

    Đối với hoạt động du lịch quốc tế thì du lịch còn được coi là nguồn thu

    ngoại tệ quan trọng có tác dụng cải thiện cán cân thanh toán quốc tế. Du lịch

    quốc tế còn là kênh thu hút đầu tư nước ngoài, thông qua các chuyến du lịch

    các nhà đầu tư sẽ tìm kiếm cơ hội làm ăn, đồng thời bản thân du lịch cũng là

    lĩnh vực thu hút đầu tư đầy hấp dẫn. Du lịch quốc tế góp phần củng cố và phát

    triển các mối quan hệ kinh tế quốc tế, đặc biệt chính sự phát triển của du lịch

    đã là động lực chính trong việc mở rộng các tuyến giao thông quốc tế. Nhiều

    quốc gia đã chọn du lịch là một hướng mở cửa nền kinh tế: Thái Lan,

    Singapore,… Du lịch quốc tế cũng chính là phương tiện tuyên truyền quảng

    cáo có hiệu quả cho các nước chủ nhà.

    Du lịch là một ngành kinh tế đem lạ i tỷ suất lợi nhuận cao bởi vốn đầu

    tư vào du lịch tương đối ít so với các ngành công nghiệp nặng mà khả năng

    thu hồi vốn lại nhanh, kỹ thuật không phức tạp. Du lịch là một ngành kinh tế

    dịch vụ, do vậy phát triển du lịch là hướng đi chiến lược nhằm tăng tỷ trọng

    khối d ịch vụ, góp phần chuyển dịch cơ cấu ngành của nền kinh tế theo

    hướng hiện đại hóa cơ cấu nền kinh tế quốc dân. Phát triển du lịch còn góp

    phần phát triển cân đối cơ cấu vùng của nền kinh tế bởi du lịch đòi hỏi phải

    có sự thay đổi trên nhiều mặt ở những vùng có tài nguyên du lịch, hầu hết đó

    đều là các vùng sâu, vùng xa. Phát triển du lịch còn là nhân tố thúc đẩy sự

    phát triển các ngành kinh tế khác như giao thông, xây dựng,… và hoàn thiện

    cơ sở hạ tầng của xã hội. Tuy nhiên, việc phát triển du lịch quá tải sẽ tạo ra

    sự mất cân đối trong cơ cấu nền kinh tế và tạo ra sự phụ thuộc của nền kinh

    tế vào ngành dịch vụ du lịch, sự phát triển đó của nền kinh tế sẽ thiếu tính ổn

    định và bền vững.

    1.1.3.2. Du lịch với chính trị – xã hội

    Du lịch là cầu nối hòa bình giữa các dân tộc trên thế giới, thông qua du

    lịch quốc tế con người thể hiện nguyện vọng nóng bỏng của mình là được

    This document is created by GIRDAC PDF Converter Pro trial version

    GIRDAC PDF Converter Pro full version doesn’t add this green footer

    Full version can be ordered from http://www.girdac.com/Products/Buy.htm

    This document is created by GIRDAC PDF Converter Pro trial version

    GIRDAC PDF Converter Pro full version doesn’t add this green footer

    Full version can be ordered from http://www.girdac.com/Products/Buy.htm

    This document is created by GIRDAC PDF Converter Pro trial version

    GIRDAC PDF Converter Pro full version doesn’t add this green footer

    Full version can be ordered from http://www.girdac.com/Products/Buy.htm

    14

    thống cung cấp nước, nguồn năng lượng, những điều kiện vệ sinh không phù

    hợp, những hiểm họa bệnh tật,… Nguồn thu từ du lịch cũng là nguồn vốn

    quan trọng để cải thiện và bảo vệ môi trường. Xuất phát từ những cơ sở trên,

    nhằm mục đích kết hợp giữa phát triển du lịch và bảo vệ môi trường tự nhiên,

    theo sáng kiến của Tổ chức Du lịch thế giới (WTO), Liên hiệp quốc đã chọn

    năm 2002 là “Năm quốc tế du lịch sinh thái”.

    1.2. PHÁT TRIỂN DU LỊCH

    Phát triển du lịch là sự gia tăng quy mô hoạt động du lịch và nâng cao

    chất lượng, hiệu quả du lịch.

    1.2.1. Nội dung phát triển du lịch

    1.2.1.1. Gia tăng quy mô hoạt động du lịch (Mở rộng các cơ sở du

    lịch và tăng sản phẩm du lịch)

    – Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch được tạo ra là yếu tố quan

    trọng tác động đến mức độ thỏa mãn nhu cầu của du khách bởi năng lực và

    tính tiện ích của nó. Có ba yếu tố cấu thành để tạo nên sản phẩm và dịch vụ

    du lịch thỏa mãn nhu cầu của du khách. Đó là: tài nguyên du lịch, cơ sở vật

    chất – kỹ thuật du lịch, lao động trong du lịch. Như vậy, cơ sở vật chất kỹ

    thuật là yếu tố quan trọng, không thể thiếu. Con người bằng sức lao động của

    mình sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật để khai thác các giá trị của tài nguyên du

    lịch tạo ra dịch vụ, hàng hóa cung ứng cho du khách. Ngoài yếu tố tài nguyên

    thì tính đa dạng, phong phú, hiện đại, hấp dẫn của cơ sở vật chất – kỹ thuật

    cũng tạo nên tính đa dạng, phong phú và hấp dẫn của dịch vụ du lịch. Một

    quốc gia, một doanh nghiệp muốn phát triển du lịch tốt phải có hệ thống cơ sở

    vật chất – kỹ thuật tốt. Cho nên, có thể nói rằng trình độ phát triển của cơ sở

    vật chất – kỹ thuật du lịch là điều kiện, đồng thời cũng là sự thể hiện trình độ

    phát triển du lịch của một đất nước .

    1.2.1.2. Nâng cao chất lượng và hiệu quả du lịch

    – Theo khái niệm nâng cao chất lượng thì nội dung của nâng cao chất

    lượng dịch vụ du lịch bao gồm hai nội dung chính là duy trì và cải tiến chất

    lượng thường xuyên .

    + Để đảm bảo tính khoa học, hệ thống các chỉ tiêu này phải đảm bảo

    các yêu cầu sau đây:

    Phải thể hiện được hiệu quả kinh tế chung của bản thân ngành du lịch

    với các chỉ tiêu đặc trưng nhất.

    Phải đảm bảo sự so sánh được hiệu quả kinh tế giữa ngành du lịch với

    ngành kinh tế khác, thấy được sự đóng góp của ngành du lịch vào nền kinh tế

    quốc dân.

    This document is created by GIRDAC PDF Converter Pro trial version

    GIRDAC PDF Converter Pro full version doesn’t add this green footer

    Full version can be ordered from http://www.girdac.com/Products/Buy.htm

    16

    Phải thể hiện được sự khảo sát qua các yếu tố sản xuất, kinh doanh cơ

    bản trên nhiều bình diện để có thể đánh giá được một cách tổng hợp và cụ thể

    về hiệu quả kinh tế trong kinh doanh du lịch.

    + Về phạm vi phản ánh, hệ thống chỉ tiêu có thể phân thành các nhóm

    cơ bản sau:

    Nhóm chỉ tiêu hiệu quả kinh tế đánh giá sự đóng góp của ngành du lịch

    vào nền kinh tế quốc dân.

    Nhóm chỉ tiêu hiệu quả kinh tế so sánh ngành du lịch với các ngành

    khác.

    Nhóm chỉ tiêu hiệu quả kinh tế của các lĩnh vực kinh doanh trong

    ngành du lịch.

    1.2.2. Tiêu chí phản ánh phát triển du lịch

    Để đánh giá phát triển du lịch, sử dụng nhiều tiêu chí như: Nguồn nhân

    lực; cơ sở vật chất kỹ thuật; chất lượng và hiệu quả (đóng góp của du lịch vào

    tổng sản phẩm quốc nội hay sự tăng trưởng kinh tế – GDP, giải quyết việc

    làm, thu nhập, nộp ngân sách,…); quy mô (giá trị sản xuất, doanh thu du lịch,

    lượng khách du lịch, vốn đầu tư du lịch,…);…

    1.2.2.1. Nguồn nhân lực du lịch

    – Xét trên mức độ tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của ngành du lịch và

    của mỗi doanh nghiệp, lao động nhân lực trong lĩnh vực kinh doanh du lịch có

    thể phân thành 3 nhóm sau:

    Nhóm lao động chức năng quản lý Nhà nước về du lịch.

    Nhóm lao động chức năng sự nghiệp ngành du lịch.

    Nhóm lao động chức năng kinh doanh du lịch. Trong nhóm lao động

    chức năng này có thể phân thành 4 nhóm nhỏ (hay 4 bộ phận):

    Bộ phận lao động chức năng quản lý chung của doanh nghiệp du lịch.

    This document is created by GIRDAC PDF Converter Pro trial version

    GIRDAC PDF Converter Pro full version doesn’t add this green footer

    Full version can be ordered from http://www.girdac.com/Products/Buy.htm

    17

    Bộ phận lao động chức năng quản lý theo các nghiệp vụ kinh tế trong

    doanh nghiệp du lịch.

    Bộ phận lao động chức năng đảm bảo điều kiện kinh doanh của doanh

    nghiệp du lịch.

    Bộ phận lao động trực tiếp cung cấp dịch vụ cho khách trong doanh

    nghiệp du lịch .

    1.2.2.2. Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch

    – Theo nghĩa rộng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch được hiểu là toàn bộ

    các phương tiện vật chất kỹ thuật được huy động tham gia vào việc khai thác

    các tài nguyên du lịch nhằm tạo ra và thực hiện các dịch vụ và hàng hóa thỏa

    mãn nhu cầu của du khách trong các chuyến hành trình của họ.

    Theo nghĩa hẹp, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch được hiểu là toàn bộ các

    phương tiện vật chất kỹ thuật do các tổ chức du lịch tạo ra để khai thác các

    This document is created by GIRDAC PDF Converter Pro trial version

    GIRDAC PDF Converter Pro full version doesn’t add this green footer

    Full version can be ordered from http://www.girdac.com/Products/Buy.htm

    18

    tiềm năng du lịch, tạo ra các sản phẩm dịch vụ và hàng hóa cung cấp và làm

    thỏa mãn nhu cầu của du khách .

    1.2.2.3. Chất lượng dịch vụ du lịch

    – Chất lượng dịch vụ du lịch chính là mức phù hợp của dịch vụ của các

    nhà cung ứng du lịch thỏa mãn các yêu cầu của khách du lịch thuộc thị trường

    mục tiêu .

    Đây cũng chính là 5 chỉ tiêu để đánh giá chất lượng dịch vụ du lịch.

    Trong các chỉ tiêu trên, có bốn chỉ tiêu mang tính vô hình, chỉ có một chỉ tiêu

    là hữu hình nên các nhà cung ứng dịch vụ thường coi chỉ tiêu hữu hình chính

    là bản thông điệp gửi tới khách hàng.

    1.2.2.4. Hiệu quả kinh tế du lịch

    – Hiệu quả kinh tế du lịch thể hiện mức độ sử dụng các yếu tố sản xuất

    và tài nguyên du lịch nhằm tạo ra và tiêu thụ một khối lượng lớn nhất các dịch

    This document is created by GIRDAC PDF Converter Pro trial version

    GIRDAC PDF Converter Pro full version doesn’t add this green footer

    Full version can be ordered from http://www.girdac.com/Products/Buy.htm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khoảng Cách Giữa Các Điểm Du Lịch Tại Huyện Châu Thành
  • Công Ty Du Lịch Tại Huyện Cần Giờ
  • Khách Sạn Hữu Nghị Vinh Nghệ An
  • Bamboo Airways Góp Phần Thúc Đẩy Du Lịch Huế
  • Thời Gian Lý Tưởng Để Đi Du Lịch Huế
  • Phát Triển Dịch Vụ Du Lịch Biển Ở Huyện Đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi)

    --- Bài mới hơn ---

  • Công Ty Du Lịch Hoàn Mỹ
  • Đặc Điểm Hoạt Động Kinh Doanh Dịch Vụ Du Lịch
  • Dịch Vụ Du Lịch Lý Sơn Và Những Điều Cần Biết
  • Bảng Giá Dịch Vụ Du Lịch Tại Lý Sơn Năm 2022
  • Dịch Vụ Du Lịch Lý Sơn: Vừa Thiếu, Vừa Yếu
  • Thứ tư, 03 Tháng 10 2022 16:37

    (LLCT) – Đảo Lý Sơn là đơn vị hành chính cấp huyện được thành lập năm 1993, qua 25 năm xây dựng và phát triển, Lý Sơn đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, đạt được những kết quả quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội. Đặc biệt, với tiềm năng, lợi thế phát triển du lịch biển, Lý Sơn đang tập trung mọi nỗ lực để đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của huyện.

    1. Tiềm năng và những kết quả bước đầu trong phát triển dịch vụ du lịch biển trên đảo Lý Sơn

    Lý Sơn là huyện đảo thuộc tỉnh Quảng Ngãi, có dân số khoảng 24.000 người (2017) với diện tích 10,32 km 2.Huyện đảo Lý Sơn có lợi thế về phát triển du lịch vì có nhiều quang cảnh thiên nhiên đẹp, hoang sơ kỳ vĩ; nhiều di tích, tư liệu lịch sử và các lễ hội dân gian độc đáo mang bản sắc riêng, đặc biệt là truyền thống lịch sử đấu tranh, xây dựng bảo vệ và giữ gìn hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bằng nỗ lực, cách làm sáng tạo, Lý Sơn đã quảng bá rộng khắp hình ảnh huyện đảo, tạo tiềm lực cho ngành dịch vụ du lịch từng bước phát triển và ngày thêm khởi sắc. Từ năm 2014 đến nay, Lý Sơn đã thu hút lượng khách lớn trong và ngoài nước đến tham quan, du lịch. Do đó các ngành dịch vụ của Lý Sơn có điều kiện phát triển và khẳng định vị thế trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần của huyện theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế. Lý Sơn đang là địa chỉ, điểm đến du lịch hấp dẫn, đầy hứa hẹn mà trước đây du khách trong và ngoài nước ít biết đến.

    Thực tế nhiều du khách đến Quảng Ngãi đã chọn huyện đảo Lý Sơn là điểm đến đầu tiên vì ngoài những thắng cảnh, di tích văn hóa, lịch sử, đảo Lý Sơn còn có nhiều nông sản có giá trị kinh tế cao, đặc biệt là cây tỏi. Tỏi Lý Sơn đã trở thành thương hiệu với chất lượng tốt, hương vị đặc trưng và là vị thuốc chữa trị có hiệu quả một số bệnh. Cùng với cây tỏi, cây hành (củ hành tím) Lý Sơn cũng có thương hiệu bởi chất lượng và giá trị kinh tế cao. Hiện nay huyện đảo Lý Sơn đang tập trung thâm canh, ứng dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ mới trong sản xuất để tỏi, hành Lý Sơn luôn giữ vững thương hiệu, phục vụ dân sinh, du khách gần xa góp phần phát triển kinh tế đảo.

    Trong những năm gần đây, khách du lịch đến tham quan Lý Sơn gia tăng đã thúc đẩy những ngành dịch vụ khác tại huyện đảo phát triển. Năm 2014 có 36.620 lượt du khách đến đảo (trong đó có 381 du khách quốc tế), tăng 26,3% so với 2013. Theo đó sức mua, tiêu dùng trong huyện đã nâng mức dịch vụ bán lẻ hàng hóa năm 2014 lên 393,656 tỷ đồng, tăng 23,56% so với 2013 với 851 hộ kinh doanh, dịch vụ, tăng 40 hộ so với 2013, giải quyết được 1.198 lao động có thu nhập ổn định; các loại hình dịch vụ có bước phát triển mới, cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch được đầu tư từng bước đáp ứng nhu cầu phục vụ du khách.

    Năm 2022, nhờ hệ thống dịch vụ được tiếp tục cải thiện như ăn uống, nhà nghỉ, khách sạn, các đội tàu biển chuyên phục vụ du khách và việc đi lại, mua sắm, vui chơi giải trí… thuận lợi, văn minh nên lượng du khách đến đảo tăng cao, đạt 95.035 lượt khách (trong đó có 495 du khách quốc tế) gấp 2,6 lần so với năm 2014 và gấp 10,8 lần so với năm 2010, bình quân tăng 60,9%/năm, doanh thu dịch vụ du lịch biển tăng bình quân 85%/năm. Đến năm 2022, Lý Sơn đã đón 164.900 lượt du khách, trong đó có 933 lượt du khách quốc tế, tăng 69.900 lượt du khách so với 2022. Đặc biệt, từ khi UBND tỉnh tổ chức Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa với quy mô cấp tỉnh (2014) và Lý Sơn có điện từ mạng lưới điện quốc gia (8-2014), lượng du khách đến Lý Sơn tăng đột biến. Tính đến tháng 10-2017, Lý Sơn đón hơn 200.000 lượt du khách với 110 cơ sở dịch vụ lưu trú hoạt động, trong đó có 6 khách sạn, 47 nhà nghỉ, 5 nhà trọ, 56 hộ gia đình du lịch homestay.

    Bảng 1. Lượng du khách và doanh thu dịch vụ du lịch biển huyện đảo Lý Sơn

    Nguồn: Đề án phát triển kinh tế biển, đảo Quảng Ngãi đến năm 2022 của UBND tỉnh Quảng Ngãi, ban hành ngày 31-7-2017.

    Dịch vụ vận tải biển ngày càng phục tốt hơn việc đi lại của nhân dân và du khách, các phương tiện tàu gỗ chủ yếu chỉ phục vận chuyển hàng hóa. Đến nay huyện có 11 tàu cao tốc chuyên phục vụ vận chuyển du khách tuyến Sa Kỳ – Lý Sơn; có 16 canô phục vụ du khách tuyến An Bình, 1 tàu đáy kính phục vụ du khách ngắm san hô; 80 xe du lịch từ 4 đến 16 ghế ngồi; 90 nhà hàng, quán ăn đáp ứng tốt nhu cầu sinh hoạt, ăn nghỉ, đi lại của du khách; ngoài ra các dịch vụ kinh doanh internet, karaoke, dịch vụ vui chơi, giải trí khác cũng phát triển đảm bảo chất lượng.

    Các hoạt động văn hóa, văn nghệ – thể thao luôn được huyện quan tâm. Huyện ủy Lý Sơn đã phối hợp với Sở Văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh tổ chức thành công Ngày chạy olympic vì sức khỏe toàn dân năm 2022 với quy mô cấp tỉnh trên địa bàn huyện; phối hợp với Sở Thông tin và Truyền thông tổ chức hội thảo hợp tác phát triển công nghệ – thông tin – truyền thông tỉnh Quảng Ngãi lần thứ XX tại Lý Sơn; phối hợp với Hội Nhà báo tỉnh tổ chức cuộc thi Báo chí miền Trung tuyên truyền nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo; phối hợp với Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam tổ chức Lễ đặt viên đá xây dựng khu tưởng niệm Nghĩa sĩ Hoàng Sa

    Huyện đã xây dựng xong tuyến đường và hệ thống cấp thoát nước trung tâm huyện, bến neo đậu tàu thuyền, sửa chữa cầu cảng và triển khai dự án trồng rừng phòng hộ tạo cảnh quang môi trường trên đảo. Đặc biệt, được Trung ương đầu tư, huyện đã hoàn thành dự án cấp điện từ hệ thống điện quốc gia cho Lý Sơn bằng cáp ngầm. Từ đó, Lý Sơn có điều kiện phấn đấu đạt chuẩn đô thị đảo loại V trong thời gian tới. Điều này mở ra triển vọng mới cho dịch vụ du lịch biển, đảo Lý Sơn.

    3. Một số giải pháp phát triển du lịch biển

    Thứ nhất, tiếp tục quy hoạch, bổ sung quy hoạch

    Lý Sơn cần tiếp tục quy hoạch và bổ sung quy hoạch với các loại hình dịch vụ mới để phục vụ có hiệu quả cho ngành du lịch thị trường thời hội nhập. Do đó, trong quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng an ninh cần phải tính tới mối quan hệ tác động đến các hoạt động dịch vụ du lịch lâu dài, dịch vụ kết hợp với du lịch trở thành sức mạnh để khai thác và thu hút, giải phóng có hiệu quả mọi nguồn lực trong trách nhiệm phát triển nhanh và bền vững. Trong bổ sung quy hoạch, Lý Sơn cần chú trọng đến các loại hình vui chơi, giải trí cao cấp như: nhạc nước, công viên du lịch biển, nâng cấp quy hoạch kết cấu hạ tầng, quy hoạch trồng rừng du lịch trên đảo, quy hoạch hệ thống khách sạn, homestay cộng đồng, quy hoạch bến tàu, bãi tắm du lịch, một số khu nhà ở dân cư hướng theo làng du lịch văn minh,… tạo ra nhiều loại hình dịch vụ mới để du khách có điều kiện lưu lại trên đảo nhiều ngày.

    Thứ hai, tăng cường giáo dục cộng đồng gắn với bảo tồn bản sắc văn hóa đặc thù của biển, đảo

    Giáo dục du lịch và thu hút cộng đồng vào các hoạt động dịch vụ để phục vụ du lịch là mục tiêu và giải pháp thực khả thi cho du lịch sinh thái biển, đảo ở Lý Sơn. Du lịch biển thuộc loại du lịch tự nhiên, do đó hằng năm huyện cần tổ chức mở các lớp bồi dưỡng về kiến thức, kỹ năng hoạt động kinh doanh các dịch vụ du lịch, tăng cường giáo dục ý thức cộng đồng cho người dân về bảo vệ nguồn tài nguyên, bảo tồn các di sản quý giá; thái độ ứng xử với khách du lịch trong quá trình tham quan, giải trí. Vì đối tượng giáo dục là cộng đồng dân cư trên đảo, du khách, đội ngũ cán bộ, nhân viên và người lao động tham gia vào các hoạt động du lịch, do đó những người phụ trách công tác đào tạo, bồi dưỡng cần nắm được đặc điểm của từng bộ phận để xây dựng phương pháp giáo dục, có nội dung giáo dục phù hợp và đạt hiệu quả cao.

    Khuyến khích người dân trên đảo sản xuất nông phẩm, hải sản sạch, chất lượng để cung ứng cho dân cư, nhà hàng, khách sạn, từng bước thay thế các sản phẩm mà họ phải mua trong đất liền, trong khi tại đảo Lý Sơn có đủ khả năng sản xuất cung ứng những mặt hàng đó. Bên cạnh đó, Lý Sơn cũng cần có những sáng tạo trong việc tìm và nuôi trồng nhiều mặt hàng nông sản mới để không chỉ làm phong phú thêm các đặc sản của vùng mà còn tạo ra nhiều việc làm và thu nhập cho người lao động trên đảo, vì hiện tại dân cư trên đảo phần lớn còn nghèo khó, chất lượng cuộc sống thấp; mặt khác, đối với nhà hàng, khách sạn cũng yên tâm hơn khi mua nông phẩm, hải sản của dân đảo để chế biến những món ăn chất lượng phục vụ du khách.

    Thứ ba, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước gắn với bảo vệ môi trường, an ninh bền vững trong hoạt đông dịch vụ du lịch trên đảo Lý Sơn

    Trong quyền hạn của mình, huyện Lý Sơn cần xác định rõ đặc điểm, tính chất các loại hình dịch vụ du lịch để ban hành những văn bản quy phạm để quản lý, quy định cụ thể trách nhiệm, phân công, phân cấp quản lý mà không chồng chéo về công tác quản lý du lịch, nhất vấn đề an ninh trật tự, quản lý thị trường, bảo vệ môi trường biển đảo.

    Tỉnh cần ban hành các văn bản pháp lý quy định rõ nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn của các cấp, tổ chức chính trị – xã hội; các lực lượng vũ trang phối hợp làm nhiệm vụ bảo vệ biển, đảo để phát triển du lịch như: Bộ đội biên phòng, Cảnh sát biển, Hải quân, Dân quân tự vệ; các tổ đội, hợp tác xã đánh bắt, khai thác hải sản trên biển, đảo nhằm bảo vệ vững chắc môi trường, an toàn, an ninh vùng biển, đảo Lý Sơn thuộc Tỉnh quản lý.

    Tăng cường tuyên truyền luật biển cho nhân dân, du khách, các đối tượng kinh dịch vụ du lịch trên đảo nâng cao nhận thức trong quá trình thực hiện các hoạt động của mình nhằm đảm bảo an toàn, an ninh; đồng thời kịp thời ứng cứu, xử lý những tình huống xấu có thể xảy ra cho du khách hoặc người dân khi lao động đánh bắt hải sản trên biển.

    Tài liệu tham khảo.

    1. Nghị quyết số 103/NQ-CP của chính phủ ban hành ngày 6-10-2017 Về Chương trình hành động thực hiện NQ 08-NQ/TW ngày 16-01-2017 của Bộ chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.

    2. Nghị quyết số 04-NQ/TU của tỉnh ủy Quảng Ngãi ban hành ngày 19-10-2016 Về phát triển dịch vụ, du lịch giai đoạn 2022-2020.

    3. Đề án phát triển kinh tế biển, đảo đến năm 2022, ban hành ngày 31-7-2017 của UBND tỉnh Quảng Ngãi.

    4. Báo cáo số 05/BC-VHTT ngày 20-10-2017 của phòng Văn hóa thể thao huyện Lý Sơn Về tình hình phát triển du lịch từ 2007 – 2022 trên địa bàn huyện Lý Sơn.

    5. Báo cáo tình hình phát triển kinh tế – xã hội năm 2022 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội năm 2022 của UBND huyện Lý Sơn.

    TS Đỗ Thanh Phương

    Học viện Chính trị khu vực III

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dịch Vụ Du Lịch Đà Nẵng Du Khách Nên Quan Tâm
  • Đà Nẵng: Tiếp Tục Nâng Cao Chất Lượng Dịch Vụ Du Lịch
  • Dịch Vụ Du Lịch Đà Nẵng
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Cù Lao Chàm Tự Túc 2022 Hướng Dẫn Chi Tiết
  • Dịch Vụ Hướng Dẫn Du Lịch
  • Quảng Ngãi Biến Tiềm Năng Thành Lợi Thế Phát Triển Du Lịch

    --- Bài mới hơn ---

  • Còn Nhiều Tiềm Năng Bỏ Ngỏ
  • Tiềm Năng Du Lịch Sinh Thái Việt Nam
  • Sơn La Chú Trọng Khai Thác Có Hiệu Quả Tiềm Năng Du Lịch
  • Tiềm Năng Lớn Cho Du Lịch
  • Luận Văn: Tiềm Năng Phát Triển Du Lịch Tỉnh Tiền Giang, Hot, 9Đ
  • Đảo Lý Sơn là một trong những điểm đến hấp dẫn ở Quảng Ngãi (Ảnh: Đình Tăng)

    Trải dài trên hơn 130 km bờ biển, Quảng Ngãi có những bãi tắm sạch đẹp, nên thơ như: Mỹ Khê, Sa Huỳnh, Khe Hai với những bãi cát trắng mịn, làn nước trong xanh như hòa quyện trong mây trời thành một khoảng không xanh ngắt bất tận. Kết hợp với sự đa dạng và đan xen kỳ diệu của địa hình và khí hậu nhiệt đới gió mùa, Quảng Ngãi có một hệ sinh thái rất phong phú và nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng như Núi Cà Đam, thác Trắng. Thêm vào đó, sự đa dạng về tộc người cùng với sự giao thoa lâu đời của nền văn hóa Sa Huỳnh và văn hóa Chăm Pa đã tạo nên những nét đặc trưng độc đáo, một diện mạo rất riêng cho khí chất, tâm hồn con người và bản sắc văn hóa đất Quảng….

    Bên cạnh đó, Quảng Ngãi còn có di tích quốc gia mang những giá trị văn hóa, lịch sử và kiến trúc đặc biệt Trường Lũy được xây dựng vào khoảng thế kỷ 16, có chiều dài 127,4 km. Đây là được đánh giá là trường thành dài nhất của Đông Nam Á, có những điều kiện lý tưởng để trở thành một địa điểm du lịch sinh thái – lịch sử.

    Ngoài ra, Quảng Ngãi còn có nhiều điểm đến như Khu lưu niệm Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Mộ cụ Huỳnh Thúc Kháng; Bảo tàng Khởi nghĩa Ba Tơ, Bảo tàng Khởi nghĩa Trà Bồng, Nhà Chứng tích Sơn Mỹ, Khu quần thể di tích gắn liền với tên tuổi Anh hùng – Bác sĩ – Liệt sỹ Đặng Thuỳ Trâm. Đến với Quảng Ngãi du khách còn được tham gia các lễ hội mang đậm nét của nền văn hoá lúa nước, văn hoá biển; và thưởng thức những món đặc sản đặc trưng.

    Đặc biệt, khi nói về Quảng Ngãi không thể không nhắc tới Đảo Lý Sơn. Với thắng cảnh thiên nhiên độc đáo hòa quyện với những nét hoang sơ vẫn còn lưu giữ, Đảo Lý Sơn không chỉ là niềm tự hào của Quảng Ngãi nói riêng mà đã trở thành biểu tượng, niềm tự hào của người Việt nói chung.

    Những con số ấn tượng

    Với tiềm năng du lịch sẵn có, tạo điều kiện thuận lợi để Quảng Ngãi tập trung phát triển du lịch nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, khách sạn, nhà hàng cao cấp phục vụ du khách khắp trong và ngoài nước đến tham quan nghỉ dưỡng. Theo thông tin từ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ngãi, biến tiềm năng, thế mạnh thành cơ hội, du lịch Quảng Ngãi những năm gần đây luôn phát triển không ngừng với những con số ấn tượng, năm sau luôn cao hơn năm trước. Năm 2022, Quảng Ngãi đã đón 1,14 triệu lượt du khách đến tham quan. Doanh thu do ngành Du lịch mang lại ước đạt 1.100 tỷ đồng, tăng 14% so với năm trước. Trong số 1,14 triệu lượt khách đã đến với Quảng Ngãi trong năm 2022 có 99 nghìn lượt khách quốc tế, tăng 15% so với cùng kỳ năm 2022.

    Trong số những danh lam thắng cảnh, có những điểm đến luôn thu hút khách du lịch như: huyện đảo Lý Sơn, Gành Yến, Khu Chứng tích Sơn Mỹ, Khu Du lịch Sa Huỳnh… Trong đó, Lý Sơn vẫn là địa điểm du lịch thu hút được nhiều du khách nhất với 265 nghìn lượt du khách, doanh thu đạt trên 317 tỷ đồng.

    Phát huy những kết quả đã đạt được, năm 2022, tỉnh Quảng Ngãi phấn đấu sẽ đón 1.220.000 lượt khách với doanh thu đạt 1.200 tỷ đồng. Trong đó, sẽ chú trọng đến phát triển du lịch cộng đồng. Ngoài ra, công tác quảng bá du lịch Quảng Ngãi sẽ không chỉ dừng lại ở thị trường nội địa và vươn ra thị trường quốc tế để thu hút ngày càng nhiều lượt du khách nước ngoài đến với các danh lam thắng cảnh ở Quảng Ngãi./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Lợi Thế Giúp Quảng Ngãi Khai Thác Tiềm Năng Du Lịch
  • Tiềm Năng Của Du Lịch Mice Trong Những Năm Tới
  • Đánh Thức Tiềm Năng Du Lịch Lạng Sơn
  • Lạng Sơn Phát Huy Tiềm Năng Du Lịch Biên Giới
  • “chìa Khóa” Mở Cửa Du Lịch Nam Lâm Đồng
  • Quảng Ngãi, Tiềm Năng Phát Triển Du Lịch Với Các Danh Thắng Nổi Tiếng

    --- Bài mới hơn ---

  • Du Lịch Quảng Ngãi Đầy Tiềm Năng
  • Đánh Thức Tiềm Năng Du Lịch Quảng Ngãi
  • Du Lịch Miền Núi Quảng Ngãi: Cần Đánh Thức Tiềm Năng
  • Tiềm Năng Du Lịch Cộng Đồng Của Quảng Ninh Có Gì?
  • Du Lịch Quảng Trị Đang Hấp Dẫn Các Nhà Đầu Tư Lớn
  • Lợi thế đường bờ biển dài hơn 129km, Quảng Ngãi sở hữu cho mình những bãi tắm đẹp nên thơ: Mỹ Khê, Sa Huỳnh, mũi Ba Làng… “Biển xanh – cát trắng – nắng vàng”, có lẽ không còn ngôn từ nào mỹ miều hơn để dành cho vẻ đẹp biển nơi đây. Những bãi cát trắng mịn trải dài, ẩn hiện dưới làn nước trong xanh mênh mông không nhìn thấy điểm cuối, đem lại cho người ta cảm giác trời biển như quyện hòa làm một – bao la và bất tận. Ngoài khơi xa, điểm đến chắc chắn không ai có thể bỏ qua chính là du lịch huyện đảo Lý Sơn. Lý Sơn là mảnh đất ẩn chứa nhiều tiềm năng du lịch nhất tại Quảng Ngãi. Đây là vùng đất tiền tiêu ngoài khơi xa, là một mảnh đất vẫn còn lưu giữ những nét hoang sơ của rừng núi và biển cả mênh mông. Đến với Lý Sơn, du khách sẽ được cảm nhận một không gian làng quê dân dã, trải nghiệm cuộc sống của người dân làng chài hiếu khách…

    Tiềm năng du lịch Quảng Ngãi không chỉ nhờ vào biển cả, sông nước mà còn bắt nguồn từ những vùng núi rừng hùng vĩ, huyền ảo. Người ta tìm về Quảng Ngãi để chiêm ngưỡng vẻ đẹp hoang sơ, hùng vĩ của núi Cà Đam, hay đứng trên cao nhìn xuống con đường đèo Vi Ô Lắc uốn lượn như dáng rồng cuộn trong không gian xanh ngắt của núi rừng.

    Để hiểu hơn về văn hóa mảnh đất Quảng Ngãi, bạn có thể tìm đọc bài viết “Văn hóa Quảng Ngãi thuận lợi phát triển du lịch” của chúng tôi!

    Cùng với sự phát triển hiện đại, mảnh đất Quảng Ngãi đang nhận được nhiều sự đầu tư về hạ tầng và kỹ thuật với các khu nghỉ dưỡng, khách sạn, nhà hàng…để phục vụ khách du lịch về nơi đây. Đó cũng là một điều kiện thuận lợi giúp tiềm năng du lịch Quảng Ngãi ngày càng phát triển, mang lại nguồn thu nhập cho cư dân nơi đây và các nhà đầu tư thông thái tại vùng đất này.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đâu Là “chìa Khóa” Khơi Dậy Tiềm Năng Du Lịch Quảng Ngãi?
  • Vinpearl Nam Hội An Đánh Thức Tiềm Năng Du Lịch Tại Quảng Nam
  • Tiềm Năng Du Lịch Phú Yên
  • Presstrip Trải Nghiệm Tiềm Năng Du Lịch Huế
  • Khám Phá Vẻ Đẹp Tiềm Ẩn, Giàu Tiềm Năng Du Lịch Của Ninh Thuận
  • Du Lịch Quảng Ngãi: Đảm Bảo Hài Hòa Giữa Bảo Tồn Và Phát Triển

    --- Bài mới hơn ---

  • Suối Vàng Thác Tình Yêu
  • “điểm Mặt” Top 5 Khu Du Lịch Sinh Thái “hot” Ở Sóc Trăng
  • Khu Du Lịch Sinh Thái Long Trị
  • Nghiên Cứu Đề Xuất Tiêu Chí Khu Du Lịch Sinh Thái Ở Việt Nam
  • Du Lịch Sinh Thái Ở Vĩnh Phúc
  • (Báo Quảng Ngãi)- Thực hiện Nghị quyết 04 của Tỉnh ủy, du lịch, dịch vụ của tỉnh đã có những bước chuyển biến tích cực. Mặc dù vậy, lĩnh vực này phát triển chưa xứng tầm với tiềm năng, thế mạnh hiện có, còn bộc lộ những hạn chế, bất cập. Vì thế, để du lịch Quảng Ngãi phát triển bền vững, thì ngoài việc tập trung huy động mọi nguồn lực để đầu tư hạ tầng du lịch một cách đồng bộ, ngành văn hóa, du lịch cần bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa, di sản…

    Khu du lịch sinh thái suối khoáng nóng xã Nghĩa Thuận (Tư Nghĩa) đang được hoàn thiện.

    Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có nhiều dự án du lịch đã được cấp phép, nhưng tiến độ đầu tư quá chậm. Theo ngành chức năng thì ngoài các điểm du lịch Lý Sơn, Nghĩa Hành, Tư Nghĩa cần đầu tư hoàn thiện, thì các dự án trên địa bàn Mỹ Khê (TP.Quảng Ngãi), Sa Huỳnh (Đức Phổ) cần phải đẩy nhanh tiến độ. Cơ quan chức năng cần kiểm tra đôn đốc, để dự án sớm hoàn thành, đưa vào hoạt động.

    Phó Giám đốc Sở VH-TT&DL Huỳnh Thị Phương Hoa: “Nghị quyết 04 tạo hướng đi cho phát triển du lịch bền vững”

    Đối với một tỉnh còn kém về phát triển du lịch như Quảng Ngãi, thì đầu tư cơ sở hạ tầng là điều kiện quan trọng, mở đường cho du lịch phát triển. Từ nguồn vốn ngân sách, trong những năm qua, các ngành chức năng đã tích cực tham mưu cho UBND tỉnh tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ du lịch, nhất là tại các địa bàn trọng điểm. Huyện đảo Lý Sơn đã được đầu tư cảng Bến Đình và hàng loạt các công trình trọng điểm khác phục vụ du lịch. Hay như tại một số điểm du lịch ở xã Nghĩa Thuận, Nghĩa Hòa (Tư Nghĩa), Thọ An (Bình Sơn), Suối Chí (Nghĩa Hành)… tỉnh, huyện cũng đã tạo điều kiện cho nhà đầu tư để xây dựng cơ sở hạ tầng…

    Tuy nhiên, để bảo tồn các giá trị văn hóa, di sản và bảo vệ môi trường ở các điểm đến du lịch nhằm hướng đến phát triển du lịch bền vững cần đầu tư khai thác hài hòa, mang lại lợi ích cho Nhà nước, doanh nghiệp và người dân. Cần phải nhận thức rõ tầm quan trọng của việc bảo tồn, nhằm tránh phá vỡ không gian, tài nguyên du lịch.

    Phó Chủ tịch UBND huyện Lý Sơn Lê Văn Ninh: “Tránh phá vỡ cảnh quan thiên nhiên, giá trị địa chất và hệ sinh thái biển”

    Trong năm 2022, Lý Sơn sẽ tranh thủ các nguồn kinh phí để tập trung xây dựng hàng loạt công trình như: Cột cờ Tổ quốc, vườn hoa, chợ trung tâm, hệ thống điện chiếu sáng các tuyến đường và các khu dân cư trên địa bàn huyện; tiếp tục đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật cảng Bến Đình, mở rộng và tôn tạo đình làng An Hải… Việc đầu tư các công trình này nhằm hoàn thiện cơ sở hạ tầng, chỉnh trang đô thị, tạo không gian để huyện tổ chức các sự kiện lớn; đồng thời tạo khu vui chơi của người dân và du khách nhằm giới thiệu, quảng bá đến khách du lịch những vẻ đẹp về thiên nhiên, văn hóa và con người Lý Sơn.

    Bên cạnh đầu tư cơ sở hạ tầng, huyện chú trọng quy hoạch, phát triển mạng lưới homestay, nhằm hạn chế sự phát triển ồ ạt, góp phần phát triển bền vững du lịch cộng đồng theo hướng du lịch văn hóa – sinh thái, bảo tồn, phát huy các giá trị sinh thái, văn hóa địa phương. Đặc biệt là bảo tồn và giữ gìn sự hoang sơ của đảo Bé; khai thác và phát triển loại hình du lịch lặn ngắm san hô, sinh thái nông nghiệp, du lịch cộng đồng. Xây dựng các trục giao thông nội bộ trên đảo, cải tạo hợp lý các bãi tắm và các cơ sở hạ tầng dịch vụ… Theo đó, giảm thiểu tối đa sự can thiệp đến cảnh quan thiên nhiên, các giá trị địa chất và hệ sinh thái biển.

    Phó Chủ tịch UBND huyện Tư Nghĩa Bùi Văn Tiến: “Tiếp tục kêu gọi đầu tư để tạo nên chuỗi du lịch”

    Huyện đã tập trung nguồn kinh phí và tạo mọi điều kiện để kêu gọi đầu tư điểm đến du lịch; đồng thời tôn tạo, trùng tu, bảo tồn các giá trị văn hóa, lịch sử để phát triển du lịch tâm linh và du lịch thắng cảnh. Đến nay, trên địa bàn huyện đã được đầu tư hai khu du lịch có quy mô lớn là Khu du lịch sinh thái khoáng nóng Nghĩa Thuận và Khu du lịch sinh thái Bãi Dừa ở xã Nghĩa Hòa. Thời gian đến, huyện sẽ tiếp tục kêu gọi đầu tư, kết nối các điểm du lịch tạo nên chuỗi du lịch sinh thái, du lịch tâm linh và các loại hình du lịch khác.

    Trước hết, huyện ưu tiên đầu tư, cải tạo suối Mơ, Nhà lưu niệm nhà thơ Bích Khê, Nhà lưu niệm đồng chí Trần Kiên; tôn tạo chùa Ông; mở rộng, xây dựng liên kết một số điểm du lịch thuộc các xã Nghĩa Phương, Nghĩa Hiệp và Nghĩa Thương. Ngoài ra, huyện sẽ tôn tạo, bảo vệ một số thắng cảnh nổi tiếng như La Hà thạch trận, để tăng thêm giá trị du lịch trên địa bàn.

    Chủ đầu tư Khu du lịch Suối Chí Nguyễn Hữu Hoa: “Hoàn thiện cơ sở hạ tầng để phục vụ du khách”

    Năm 2022, tỉnh cho chủ trương đầu tư Khu du lịch sinh thái Suối Chí ở xã Hành Tín Đông (Nghĩa Hành). Đây là cơ hội để thực hiện ý tưởng khai thác tài nguyên du lịch sinh thái để phục vụ du khách. Đến nay, chúng tôi đã đầu tư hơn 30 tỷ đồng để xây dựng hoàn thiện giai đoạn 1. Bước đầu, khu du lịch đã thu hút được hàng nghìn du khách đến tham quan, trải nghiệm.

    Sắp tới, chúng tôi tiếp tục đầu tư giai đoạn 2 với các hạng mục: Nhà gỗ dưới tán rừng; xây dựng vườn cây ăn trái; chăn nuôi; thả cá; xây dựng khu biệt thự nghỉ dưỡng… Trong quá trình đầu tư, chúng tôi luôn tuân thủ đúng những quy định về đầu tư du lịch nhưng không phá vỡ không gian, cấu trúc hệ sinh thái rừng ở điểm đến du lịch, nhằm bảo tồn và phát huy giá trị nguyên vẹn tài nguyên thiên nhiên du lịch vốn có ở địa phương.

    Du khách Nguyễn Thị Yến, sinh sống tại tỉnh Lâm Đồng: “Nên giữ lại vẻ đẹp nguyên sơ ở các điểm du lịch”

    Tôi là người Quảng Ngãi, nhưng phải xa quê làm ăn. Mỗi lần về thăm quê tôi thường đi tham quan các điểm du lịch trong tỉnh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cùng Tìm Hiểu Khu Du Lịch Sinh Thái Mường Thanh Diễn Lâm Ở Nghệ An
  • Top 3+ Các Khu Du Lịch Sinh Thái Ở Huế Đẹp “hút Hồn” Du Khách
  • “bật Mí” Top 10 Khu Du Lịch Sinh Thái Độc Đáo Nhất Ở Cần Thơ
  • Giới Thiệu Nét Đẹp Các Khu Du Lịch Sinh Thái Ở Cà Mau
  • Khu Du Lịch Sinh Thái Kotam
  • Gợi Nghĩ Về Tiềm Năng Di Sản Gắn Với Phát Triển Du Lịch Ở Lý Sơn, Quảng Ngãi

    --- Bài mới hơn ---

  • Lý Sơn: Cơ Hội Để Trở Thành Khu Du Lịch Quốc Gia
  • Tình Hình Phát Triển Du Lịch Tại Hàn Quốc Và Những Chính Sách Phát Triển Du Lịch Trong Thời Gian Tới – Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch (Itdr)
  • Du Lịch Hàn Quốc 2022 Đạt Kỷ Lục Mới Sau Hai Năm Liền Suy Giảm
  • Để Hội An Phát Triển Bền Vững
  • Tiếp Tục Khai Thác Tiềm Năng Đưa Lai Châu Phát Triển
  • Huyện đảo Lý Sơn có tên gọi Cù Lao Ré, nằm chếch phía Đông Bắc tỉnh Quảng Ngãi, mất khoảng gần hai giờ tàu cao tốc từ cảng Sa Kỳ sẽ tới nơi, nếu là những ngày sóng êm, biển lặng. Huyện có diện tích 10km2, gồm hai đảo hợp thành: Đảo Lớn (Cù Lao Ré) và Đảo Bé (Cù Lao bờ bãi). Huyện có 3 xã: An Hải, An Vĩnh và An Bình, với tổng số dân khoảng 23.000 người, tập trung chủ yếu ở Đảo Lớn.

    Đến với Lý Sơn vào những lần trước, tôi tưởng đâu, tỏi là cây trồng lâu đời của huyện đảo này với 300 ha canh tác. Thế nhưng, đó không phải là cây trồng truyền thống. Hồi cố của những người già cho hay, tỏi được du nhập vào Lý Sơn khoảng nửa đầu thập kỷ 70 của thế kỷ trước. Người Lý Sơn mạnh về trồng lạc, vừng, đay… để phục vụ cho nhu cầu buôn bán đối với những thương thuyền, cũng của chính những người dân đảo, vượt biển đến những thị trường xa, trao đổi buôn bán. Lúa nước có diện tích khiêm nhường, chủ yếu phục vụ bữa ăn hàng ngày. Giờ đây, vết sót của nghề buôn còn đọng lại qua 28 ngôi nhà rường cổ mà rất nhiều người lầm tưởng đó là di sản định cư của dân biển đảo. Lưu ảnh của ngôi làng nông nghiệp còn đọng hằn qua cấu trúc nhà ở. Tất cả đều quay lưng ra biển, có cổng và vườn bao quanh, giống như bao làng quê nông nghiệp khác của Việt Nam. Kinh tế biển, với thế mạnh là đánh bắt hải sản xa bờ, dường như cũng đã bị teo tóp do nguồn lợi bị cạn kiệt, bởi lối săn tìm tận diệt của người nông dân làm ngư nghiệp bất đắc dĩ, khiến sự phát triển bền vững của cả hai đều không còn lợi thế ở địa phương này. Mặc dầu vậy, hiện tại, kinh tế biển vẫn giữ vai trò vô cùng quan trọng trong địa chính trị, địa quân sự, địa kinh tế của huyện đảo tiền tiêu Lý Sơn.

    Đến với Lý Sơn lần này, tôi lại thấy kinh tế du lịch khởi sắc hơn, qua những câu chuyện của lãnh đạo địa phương, qua quan sát từ những người dân đảo đang chuyển đổi cách làm ăn và qua lượng khách đến ngày một đông. Du lịch Lý Sơn đang chuyển mình, đầy tiềm năng và hứa hẹn, nhưng cũng không ít thách thức phải đương đầu. Nếu vượt qua, chắc chắn du lịch sẽ là ngành kinh tế mũi nhọn, mà những bài học từ Cô Tô, Cát Bà, Phú Quốc, Thổ Chu…, hẳn sẽ là kinh nghiệm đối với huyện đảo.

    1. Tiềm năng di sản văn hóa

    Huyện đảo Lý Sơn có 5 ngọn núi lửa đã tắt, gồm núi Thới Lới, núi Giếng Tiền, hòn Vung, hòn Sỏi, hòn Tai, được hình thành do sự phun trào nham thạch của núi lửa cách đây khoảng 25 – 30 triệu năm. Địa hình núi lửa chiếm tới 70% diện tích huyện đảo. Cũng do cấu tạo địa hình núi lửa, nên ở đây có nhiều thắng cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp: vách đá, hang động, cổng đá và bãi đá…chứa đựng nhiều huyền tích hấp dẫn. Tiêu biểu nhất là các di tích miệng núi lửa có dạng hình phễu, dốc  thoai thoải với những bậc đá tựa như hàng ghế ngồi trong sân vận động Olimpic của nền văn minh Hy – La cổ xưa. Bên cạnh đó là “cổng tò vò” – một kiến tạo tự nhiên từ núi lửa hay những ruộng bậc thang nhân tạo của những cánh đồng tỏi, được xếp bằng những viên đá phun trào, tạo nên phong cảnh quyến rũ của một Đồng Văn, Mù Căng Chải, Mã Pĩ Liềng thu nhỏ, giữa đảo xa.

    Còn rất nhiều, rất nhiều thắng cảnh kỳ vĩ của tự nhiên ở huyện đảo này đang được làm hồ sơ cho một công viên địa chất toàn cầu, sẽ được kết nối với nhau và với các di sản văn hóa trên đảo cùng với xã Bình Châu – duyên hải, nơi “chôn nhau cắt rốn” của lớp cư dân muộn Lý Sơn, cùng vô số những di sản tự nhiên và văn hóa đang còn ngủ yên, chưa được đánh thức.

    Cổng Tò Vò. Ảnh: Internet

    Bên cạnh di sản thiên nhiên, huyện đảo Lý Sơn còn đậm đặc di tích lịch sử văn hóa, đã tạo nên cho nơi đây một quần thể vừa độc đáo, vừa đa dạng. Với diện tích 10km2, huyện đảo Lý Sơn có 56 di tích. Như vậy, 1km2 có 5 di tích. Đó là một mật độ hiếm nơi nào có được trên đất liền, nói chi tới những hòn đảo xa bờ.

    Những nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa đã tạm chia di sản văn hóa Lý Sơn thành những loại hình sau đây:

    – Di tích khảo cổ học, ngoài báo dẫn về di tích Hậu kỳ đá cũ, cách đây 30 vạn năm, thì Lý Sơn còn hai di tích, được khai quật và nghiên cứu cho tới nay, thuộc văn hóa Sa Huỳnh nổi tiếng. Đó là Xóm Ốc và Suối Chình, có niên đại cách đây khoảng 3000 – 2500 năm, với nhiều di tồn văn hóa của cư dân biển đảo nằm trong tầng văn hóa mà các nhà khảo cổ học đã phát hiện. Đây có thể coi là lớp cư dân đầu tiên ra khai thác và sinh sống ở Lý Sơn.

    – Lớp cư dân tiếp theo là Chăm Pa, với khá nhiều dấu tích, có niên đại sớm, cách ngày nay khoảng 2000 năm và kéo dài tới tận thế kỷ 16 – 17. Dấu ấn để lại rõ nét nhất là các đền thờ Nữ thần Thiên Y Ana, đền thờ Thần bò Na Đin. Dưới nền chùa Hang – nay là chùa thờ Phật của người Việt, còn nhiều di vật Chăm Pa và rất nhiều trong số đó đã được sử dụng lại, làm ban thờ cho Phật điện. Đó là các bệ thờ của cư dân Chăm bằng đá cát, có hoa văn trang trí đặc trưng của nghệ thuật Chăm Pa thế kỷ 13, 14.

    – Nhiều lớp cư dân cư trú trong nhiều nghìn năm, theo đó, đã tạo nên nhiều giá trị văn hóa phi vật thể trên huyện đảo này. Tiêu biểu nhất là “Lễ Khao Lề thế lính” – gắn với hải đội Hoàng Sa có từ thời Vua Nguyễn, lễ hội đua thuyền Tứ linh truyền thống, lễ hội cầu ngư, lễ tế Thần Thiên Y Ana, lễ xuống nghề và lên nghề Cửa Vạn, lễ ra quân đánh bắt hải sản, lễ hội các đình làng An Hải, An Vĩnh với những sinh hoạt tín ngưỡng như lễ động thổ, cầu an, lễ tế tiền hiền, lễ tế xuân thu nhị kỳ.

    Lễ hội đua thuyền Tứ linh đầu xuân trên đảo Lý Sơn. Ảnh: Internet

    Ngoài những di tích văn hóa vật thể và phi vật thể truyền thống, ở Lý Sơn còn có di tích cách mạng, đó là nhà tù, nay là ngọn hải đăng mà trước đây người Pháp đã giam giữ những người dân đảo nổi dậy chống thực dân. Rồi còn khá nhiều tàn tích của những con tàu cổ bị đắm chìm, khi hòn đảo này từng là điểm dừng chân của những tàu buôn trên hải trình Đông – Tây mà các nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế gọi bằng cái tên “con đường tơ lụa trên biển”, “con đường gốm sứ”, qua hàng chục thế kỷ thông thương. Những tàn tích ấy đã, đang và sẽ được phát hiện ngày một nhiều hơn, là những điểm tham quan dưới đáy biển kỳ thú cho khách du lịch, cũng đã và đang được triển khai với sự hướng dẫn chuyên môn của ngành văn hóa, du lịch tỉnh Quảng Ngãi.

    Bảo tàng Trường Sa – Hoàng Sa là một công trình mới xây dựng, nhưng đã là một điểm đến của du khách, nếu muốn tìm hiểu về chủ quyền biển đảo Việt Nam.

    2. Tín hiệu khả quan – khó khăn và thách thức.

    Lý Sơn, hai năm trở lại đây, du khách thăm viếng tăng lên với tốc độ vô cùng nhanh chóng, do những tiềm năng di sản tự nhiên và lịch sử văn hóa bắt đầu được đánh thức và khai thác, đặc biệt là công viên địa chất toàn cầu với những tiên cảnh mê hồn, quyến rũ của tự nhiên được đăng tải trên thông tin đại chúng. Bên cạnh đó là điện lưới quốc gia đã phủ kín nơi đảo lớn, nhìn về đêm như một hạm đội, canh giữ và hỗ trợ cho Trường Sa – Hoàng Sa – nơi địa đầu thiêng liêng của tổ quốc. Lý Sơn có một vị trí chiến lược vô cùng quan trọng, theo đó, Thủ tướng đã ban hành quyết định phê duyệt chương trình “Biển Đông hải đảo”, gắn phát triển kinh tế với quốc phòng cho các đảo trong cả nước, trong đó có Lý Sơn. Cùng với đó là nghị quyết của tỉnh Đảng Bộ Quảng Ngãi, định hướng phát triển kinh tế mũi nhọn của tỉnh là du lịch. Đó là động lực để du lịch Lý Sơn phát triển, đổi thay từng ngày mà bất cứ ai đều nhận thấy. Tuy nhiên, cơ hội đến với Lý Sơn quá nhanh và bất ngờ, khiến cho thách thức và khó khăn đang đặt ra với ngành Du lịch nơi đây cũng không hề nhỏ.

    Theo tôi, để phát huy tiềm năng di sản với phát triển du lịch, Lý Sơn cần có quy hoạch phát triển bền vững một cách tổng thể. Những khu dân cư, những cánh đồng tỏi, khu dịch vụ du lịch và cả những khu mộ địa… cần được bố trí một cách thật hợp lý. Việc bảo tồn những ngôi nhà truyền thống, đảm bảo bản sắc cư trú và kiến trúc riêng biệt của Lý Sơn cũng là bài toán cần có lời giải. Bên cạnh đó, Lý Sơn cũng cần có các phương án phục hồi rừng tự nhiên, xử lý rác thải, hàng quán cạnh di tích cũng như bồi dưỡng chuyên môn và ngoại ngữ cho đội ngũ hướng dẫn viên du lịch để có thể truyền tải tới du khách trong nước và quốc tế về những giá trị lịch sử văn hóa đích thực và hấp dẫn. Muốn như thế cần phải có những giải pháp, mà dưới đây, xin mạo muội góp bàn, mong nhận được sự sẻ chia của các cấp, các ngành và bạn đọc.

    3. Gợi nghĩ về giải pháp

    – Nói về quy hoạch Lý Sơn, theo tôi phải lưu ý tới việc quy hoạch khu dân cư, việc quy tập các khu mộ địa; cân nhắc việc thay đổi cơ cấu cây trồng, theo đó phải tính tới tỷ lệ diện tích trồng tỏi. Tỏi được coi là một trong những sản phẩm của du lịch với lợi ích giá trị gia tăng nhưng nó cũng là loại cây ảnh hưởng nhiều đến môi trường. Lý Sơn cũng cần quan tâm tới hệ thống bể dự trữ nước mưa để bổ sung cho nguồn nước ngầm ngày một cạn kiệt. Hồ nước trên núi Thới Lới ít phát huy tác dụng và đã làm ảnh hưởng đến một miệng núi lửa rất quan trọng của công viên địa chất toàn cầu.

    Rừng trên đảo cũng cần được phục hồi, các khu bảo tồn biển cũng phải được hoàn lại do san hô đã bị khai thác nhiều. Đây là một quy hoạch có thể lồng ghép được trong quy hoạch hệ thống bảo tồn biển Việt Nam đến năm 2022, khi Lý Sơn là một trong mười sáu khu bảo tồn biển Việt Nam, theo đó, chắc chắn nhận được sự hỗ trợ của nhà nước cho công tác này.

    Một mong muốn nữa là hệ thống cầu cảng, sân bay, khách sạn, nhà nghỉ… cũng nên quy hoạch sao cho có ngôn ngữ đặc trưng, riêng biệt, tránh sự đơn điệu, làm mất đi cảnh quan tự nhiên trên đảo.

    Năm ngoái, tôi có dịp khảo sát di sản văn hóa tỉnh Quảng Ngãi, trong đó có huyện đảo Lý Sơn, cùng với những chuyên gia của Hội đồng Di sản văn hóa Quốc gia, mới thấy được tốc độ xây dựng ở địa phương này đang rất nóng. Một phần biển, nơi tiếp giáp với cảng Lý Sơn đã đóng cọc quây kè, lấp đất để mở rộng diện tích xây dựng. Một vài khách sạn cao tầng đang được thi công, một số đoạn đường bê tông đang được hoàn thiện v.v. Trong khi đó định hướng của Tỉnh, của Huyện muốn phát triển kinh tế mũi nhọn của vùng đất này là du lịch. Mà muốn như thế thì bài học kinh nghiệm của nhiều nơi cho thấy phải hết sức lưu ý tới cảnh quan, môi trường và những giá trị truyền thống của địa phương. Theo tôi, Lý Sơn nên định hướng phát triển hệ thống Homestay, thay vì những khách sạn hạng sang, cao tầng. Tuy nhiên, đó là công việc cần phải bài bản, chuyên nghiệp và đúng nghĩa.

    Rồi câu chuyện về chiếu sáng ban đêm, về hệ thống đê chắn sóng… cũng cần được tính toán kỹ lưỡng sao cho ra cái đặc trưng riêng có của một thị trấn thuộc một huyện đảo rất tiêu biểu, không chỉ của Quảng Ngãi, của miền Trung mà còn là của Việt Nam.

    Khách du lịch đến Lý Sơn. Ảnh: Internet

    – Để du lịch Lý Sơn phát triển, tiềm năng tự nhiên và lịch sử văn hóa ở đây cần được đánh thức với sự kết nối hài hòa, thông qua một cơ quan quản lý chuyên nghiệp. Tôi biết rằng một ban quản lý công viên địa chất toàn cầu cấp tỉnh đã được thành lập. Cơ quan ấy đang xúc tiến phối hợp với các nhà khoa học xây dựng hồ sơ, để sớm trình Unesco công nhận Núi Lửa là đặc trưng nổi bật toàn cầu của công viên này. Tuy nhiên, ngay từ bây giờ, cần phải có phương án kết nối giữa di sản tự nhiên với các di sản lịch sử – văn hóa, để tạo nên những geosite làm phong phú cho tuyến hành trình tham quan công viên. Và, cũng ngay từ bây giờ, một đội ngũ cán bộ chuyên sâu cũng cần được đào tạo để quản lý, bảo tồn và phát huy các di sản nêu trên một cách có hiệu quả, đáp ứng cho nhu cầu trước mắt cũng như lâu dài. Việc phát huy ý thức cộng đồng để bảo vệ và quảng bá di sản, như là một trong những yếu tố tiên quyết để công viên sớm được công nhận, cũng là trách nhiệm của Ban quản lý với sự giúp đỡ của chính quyền các cấp địa phương, trong đó Lý Sơn là nhân tố vô cùng quan trọng.

    Một mô hình công tư kết hợp cũng đang được tỉnh Quảng Ngãi triển khai dựa trên kinh nghiệm của Tràng An (Ninh Bình), Phong Nha – Kẻ Bàng (Quảng Bình), với sự sớm vào cuộc từ những ngày đầu của một công ty tư nhân, nhưng chắc chắn sẽ còn nhiều vấn đề cần được tháo gỡ, từ quan điểm đến cơ chế, chính sách.

    – Để Lý Sơn phát triển du lịch bền vững và có nề nếp ngay từ lúc này, Tỉnh và Huyện cần có những văn bản pháp quy quản lý chặt chẽ hơn. Chắc sẽ có nhiều loại văn bản, nhưng với di sản văn hóa, tôi cho rằng, trước mắt quy chế về hoạt động buôn bán quanh di tích rất cần được quan tâm. Việc xây dựng những công trình mới ngay trong khu vực I, II, III cũng cần cụ thể hóa qua các văn bản luật. Rất mừng là mới đây thôi, có một dự án xây dựng khu tưởng niệm của nghĩa sĩ Hoàng Sa tại lưng chừng núi Thới Lới, ngay trên nóc chùa Hang đã được dừng lại do không phù hợp với những điều kiện về tự nhiên, môi trường, cảnh quan và di sản. Đài tưởng niệm những nghĩa sĩ đã hy sinh cho Tổ quốc là việc làm cần được ngợi ca và khuyến khích, vì thế, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Quảng Ngãi đã quan tâm tháo gỡ và đã có cuộc họp lấy ý kiến của các nhà khoa học, với gợi ý nên đặt ở công viên Hoàng Sa, rộng khoảng 8 ha ở Lý Sơn, đã được ngành văn hóa địa phương quy hoạch. Lẽ đương nhiên, nếu được chấp thuận, thì nội dung, hình thức, quy mô khu tưởng niệm sẽ phải bàn kỹ, để làm sao hài hòa với cảnh quan và phù hợp với một quảng trường nhỏ – nơi sẽ diễn ra Lễ hội “Khao lễ thế lính Hoàng Sa” sẽ được tổ chức quy mô hơn hiện nay.

    Mượn những câu chuyện nhỏ để nói về giải pháp cho Lý Sơn phát triển du lịch bền vững, hẳn chưa đủ cho một vấn đề quá lớn, khi tầm nhìn của người viết còn hạn hẹp. Độc giả nên coi đây như là những gợi nghĩ của người nghiên cứu điền dã, với những nhận xét trực quan, nên sẽ không tránh được sự phiến diện, thiếu sót.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lý Sơn: Tiềm Năng Phát Triển Du Lịch Sinh Thái Gắn Với Cộng Đồng
  • Khai Thác “Kho Tàng Di Sản” Cố Đô Huế Để Phát Triển Du Lịch Bền Vững
  • Quảng Ninh: Sức Hút Từ Ngành Du Lịch Không Khói
  • Triển Khai Đồng Bộ Các Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Bền Vững
  • Vai Trò Của Pháp Luật Du Lịch Đối Với Sinh Viên Hiện Nay
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100