Du Lịch Tiền Giang: Tìm Giải Pháp Phát Triển

--- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Phát Triển Thương Hiệu Du Lịch Việt Nam
  • Tour Du Lịch Đà Nẵng 4 Ngày 3 Đêm Hà Nội
  • Noel Năm Này Nên Đi Du Lịch Ở Đâu Cho Kỳ Nghỉ Thật Hoàn Hảo?
  • Kĩ Năng Giao Tiếp Du Lịch
  • Kỹ Năng Giao Tiếp Trong Ngành Du Lịch
  • Đó là nội dung Hội thảo Giải pháp thúc đẩy phát triển du lịch Tiền Giang do Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch (VH-TT&DL) phối hợp với UBND huyện Gò Công Đông tổ chức vào ngày 24-6. Hội thảo có sự tham dự của ông Trần Thanh Đức, Phó Chủ tịch UBND tỉnh cùng đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành tỉnh; lãnh đạo UBND các huyện, thị, thành; Sở VH-TT&DL TP. Hồ Chí Minh; các chuyên gia đến từ các trường đại học, cao đẳng chuyên nghiên cứu, đào tạo về du lịch của TP. Hồ Chí Minh; các doanh nghiệp kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh và TP. Hồ Chí Minh.

    Thiếu đầu tư, chậm đổi mới

    Ngay trong phát biểu khai mạc, ông Nguyễn Ngọc Minh, Giám đốc Sở VH-TT&DL Tiền Giang nêu rõ mục đích của hội thảo là nhằm giới thiệu và cung cấp những thông tin về du lịch (DL) Tiền Giang. Hội thảo cũng là diễn đàn để các nhà quản lý, các chuyên gia và các doanh nghiệp trao đổi kinh nghiệm, đóng góp ý kiến để tìm ra những giải pháp nhằm xây dựng những chương trình DL phù hợp phục vụ khách DL trong và ngoài nước; đồng thời góp phần thúc đẩy phát triển DL Tiền Giang.

    Tiền Giang là tỉnh nằm dọc theo sông Tiền nên có nhiều lợi thế phát triển loại hình DL sông nước, miệt vườn.

    Nhiều ý kiến của các đại biểu cho rằng: DL Tiền Giang vốn hình thành và phát triển từ rất sớm, hơn 40 năm qua. Theo đó, Tiền Giang có những ưu thế và thuận lợi cho hoạt động DL, tạo sức hấp dẫn và thu hút du khách theo hướng DL sinh thái, DL tham quan miệt vườn, sông nước, DL cộng đồng và DL văn hóa – lịch sử. Tuy nhiên, DL Tiền Giang vẫn phát triển chưa tương xứng với tiềm năng.

    Riêng đại diện các doanh nghiệp kinh doanh DL đến từ TP. Hồ Chí Minh đều có chung nhận định: DL Tiền Giang thiếu đầu tư về cơ sở hạ tầng phục vụ DL và chậm đổi mới trong việc thiết kế, tạo ra nhiều sản phẩm DL mới. Họ đã dẫn chứng cụ thể từ khu DL Thới Sơn (TP. Mỹ Tho), một thương hiệu DL có tiếng của Tiền Giang, do thiếu đầu tư, quản lý và hoạt động DL ở khu DL này chủ yếu là tự phát nên hàng chục năm qua sản phẩm DL chẳng có gì mới, chủ yếu là chèo thuyền, ăn trái cây, nghe đờn ca tài tử…

    Còn trang thiết bị phục vụ DL thì khá nghèo nàn, cũ kỹ, nhất là về xuồng chèo và trang phục của những nghệ nhân biểu diễn đờn ca tài tử. Do đó, chưa thật sự hấp dẫn, mời gọi du khách. Theo đại diện các doanh nghiệp này, hơn bao giờ hết DL Tiền Giang cần có sự đầu tư và đổi mới.

    Nhiều ý kiến, tham luận của các đại biểu còn phân tích sâu các chỉ số so sánh về doanh thu và lượng khách đến qua các năm so với tiềm năng DL phong phú của địa phương. Qua đó, cho thấy hiệu quả của việc khai thác nguồn thu của ngành DL tỉnh nhà chưa cao. Lý do là sản phẩm DL Tiền Giang còn quá đơn điệu, chưa đáp ứng nhu cầu vui chơi của du khách; chưa tạo được điều kiện hấp dẫn giữ chân du khách nhằm khai thác nguồn thu.

    Ngoài ra, một lý do nữa cũng cần đề cập, đó là lượng khách đến Tiền Giang tuy nhiều, nhưng đa phần là “ăn theo” các tour do các công ty lữ hành từ TP. Hồ Chí Minh điều phối, Tiền Giang chỉ hưởng phần “ngọn” và khách gần như không biết mua sắm, chi xài gì khi đến Tiền Giang nên hiệu quả rất hạn chế và không bền vững. Đây là bài toán nan giải nhiều năm qua mà ngành DL Tiền Giang đang nỗ lực tìm kiếm lời giải đáp.

    Ông Nguyễn Tấn Phong, Phó Giám đốc Sở VH-TT&DL Tiền Giang cũng đã thẳng thắn nhìn nhận những mặt hạn chế trong hoạt động DL của Tiền Giang trong thời gian qua. Đó là, đầu tư phát triển DL của địa phương chưa đi vào trọng tâm, trọng điểm. Cơ sở hạ tầng phát triển DL chưa được đầu tư tương xứng, để phát triển kịp nhu cầu phát triển DL.

    Việc mời gọi đầu tư các dự án phát triển DL gặp nhiều khó khăn. Sản phẩm DL vẫn còn trùng lắp. Các doanh nghiệp khai thác kinh doanh DL cạnh tranh thiếu lành mạnh. Tình trạng “cò mồi” chèo kéo khách DL vẫn còn diễn ra làm ảnh hưởng đến hình ảnh và hiệu quả hoạt động DL Tiền Giang…

    Chèo xuồng và tát mương bắt cá là các sản phẩm DL của Tiền Giang đang thu hút du khách.

    Lý giải nguyên nhân của các vấn đề trên, theo Sở VH-TT&DL Tiền Giang, là do công tác quản lý Nhà nước về DL còn nhiều hạn chế, chưa đồng bộ, nên có nhiều hoạt động dịch vụ tự phát làm phá vỡ cảnh quan, môi trường DL, không phù hợp với quy hoạch phát triển DL của tỉnh. Trong khi các dự án trong quy hoạch phát triển DL của Tiền Giang không có quỹ đất công mà chủ yếu là đất của dân; vì thế gặp nhiều khó khăn trong thỏa thuận đền bù, giải tỏa.

    Việc huy động vốn, kêu gọi đầu tư trên lĩnh vực DL chưa tốt. Sự phối hợp giữa các ban, ngành và địa phương có lúc, có nơi chưa chặt chẽ, nên chưa tạo ra sức mạnh tổng hợp trong phát triển DL. Toàn tỉnh có 49 đơn vị kinh doanh lữ hành nhưng chủ yếu là liên kết với các nhà vườn, điểm DL để đưa khách đến tham quan nên chưa góp phần đầu tư thêm các sản phẩm DL tạo dấu ấn riêng…

    Các giải pháp thúc đẩy phát triển DL Tiền Giang

    Tại hội thảo đã có nhiều tham luận, ý kiến, đóng góp tâm huyết, thẳng thắn, khách quan của các địa phương, doanh nghiệp, chuyên gia và nhà đầu tư về thực trạng hoạt động DL, phát triển sản phẩm DL và về chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện đầu tư của tỉnh; đồng thời có những đề xuất về chủ trương, định hướng và giải pháp nhằm phát triển DL Tiền Giang trong thời gian tới.

    Trong đó, các ý kiến tập trung đề xuất cơ chế, chính sách để thúc đẩy mạnh mẽ hơn việc thu hút đầu tư; đề xuất mô hình, cơ chế hợp tác, liên kết, phát huy lợi thế của DL Tiền Giang; phát triển các sản phẩm đặc trưng, sản phẩm bổ trợ, sản phẩm chuyên biệt, không ngừng nâng cao chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ DL, góp phần cải thiện khả năng cạnh tranh, sức hấp dẫn thu hút khách DL trong nước và quốc tế.

    Theo Sở VH-TT&DL, dự kiến năm 2022, Tiền Giang sẽ đón 1,5 triệu khách du lịch, trong đó có 600 ngàn lượt khách quốc tế và đến năm 2022 dự kiến đón 2,2 triệu lượt khách, trong đó có 900 ngàn lượt khách quốc tế. Mặt khác, UBND tỉnh cũng đang xúc tiến mời gọi đầu tư vào lĩnh vực DL Tiền Giang; đồng thời ban hành chính sách ưu đãi về thuế, đất đai, hỗ trợ đào tạo nghề… để các doanh nghiệp tiếp cận cơ hội đầu tư 22 dự án DL, với tổng vốn đầu tư 8.360 tỷ đồng trong Quy hoạch phát triển DL đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030 đã được UBND tỉnh phê duyệt năm 2013.

    Khai thác lợi thế về tiềm năng DL để phát triển, tạo thế bền vững là vấn đề đang được lãnh đạo tỉnh quan tâm. Tuy nhiên, để đầu tư phát triển sản phẩm DL mang nét đặc trưng riêng, tạo được bước đột phá phát triển du lịch ở Tiền Giang, theo Sở VH-TT&DL Tiền Giang là rất cần những giải pháp mang tính đồng bộ và khả thi như:

    Có cơ chế và chính sách ưu đãi cho các doanh nghiệp tham gia đầu tư vào các dự án DL; tăng cường huy động nguồn vốn đầu tư của các thành phần kinh tế cũng như nguồn lực trong nhân dân, bảo đảm nguồn vốn cho đầu tư DL;

    Có chính sách hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng đến các khu DL; đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, đẩy mạnh hoạt động xúc tiến, quảng bá DL Tiền Giang;

    Tăng cường liên kết, hợp tác phát triển DL để xây dựng tuyến DL liên kết, phát triển sản phẩm đặc trưng dựa trên lợi thế về tài nguyên DL, văn hóa của mỗi địa phương, bảo tồn môi trường sinh thái và văn hóa, bảo đảm phát triển DL bền vững.

    Để đáp ứng nhu cầu phục vụ khách đến tham quan, sản phẩm DL không ngừng gia tăng, ông Nguyễn Ngọc Minh cho biết: “Tiền Giang đang thực hiện chiến lược định vị sản phẩm DL sinh thái, sông nước miệt vườn và gắn kết với cộng đồng, dựa trên những lợi thế cạnh tranh về vị trí địa lý và nguồn tài nguyên DL nổi trội để tập trung phát triển sản phẩm DL đặc trưng, có chất lượng, mang thương hiệu riêng và hạn chế sự trùng lắp với các địa phương trong vùng”.

    Có thể thấy bức tranh DL Tiền Giang hiện vẫn còn dang dở và để hoàn thiện nó, cần có thời gian gia công với nhiều “nét cọ” mang tính đột phá. Quy hoạch phát triển DL Tiền Giang đến năm 2022 đã được phê duyệt, với định hướng DL là ngành kinh tế tổng hợp, có tính chất đa ngành và xã hội hóa cao.

    Cùng với đó là chương trình mục tiêu phát triển DL đã được Tỉnh ủy, UBND tỉnh tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, đặc biệt là sự phối hợp chặt chẽ hơn nữa của các ban, ngành trong tỉnh, hy vọng tất cả sẽ hợp thành động lực đưa DL trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh.

    HỮU NGHỊ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Nhằm Phát Triển Du Lịch Bền Vững Tại Huyện Đảo Phú Quốc
  • Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Hải Phòng Thành Ngành Kinh Tế Mũi Nhọn
  • Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Đồng Tháp
  • Giải Pháp Truyền Thông Marketing Cho Khu Du Lịch Sinh Thái Măng Đen Tỉnh
  • 5 Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Bền Vững
  • Tiền Giang Hướng Tới Sự Phát Triển Du Lịch Bền Vững

    --- Bài mới hơn ---

  • Quy Hoạch Phát Triển Du Lịch Tỉnh Phú Thọ Giai Đoạn 2011
  • Tiềm Năng Phát Triển Du Lịch Văn Hóa Của Việt Nam
  • Thành Phố Vũng Tàu Nổ Lực Trong Việc Phát Triển Du Lịch Chất Lượng Cao
  • Phát Triển Du Lịch Vùng Tây Bắc
  • Phát Triển Du Lịch Y Tế: Không Dừng Lại Ở Tiềm Năng
  • Danh lam thắng cảnh Khu du lịch cù lao Thới Sơn

    Khu du lịch cù lao Thới Sơn nằm ở hạ lưu sông Tiền, có diện tích khoảng 1.200ha, cách thành phố Mỹ Tho 20 phút đi thuyền. Toàn cù lao được phủ bởi màu xanh của những vườn cây ăn trái xum xuê, trĩu quả. Tham quan cù lao Thới Sơn, du khách sẽ có nhiều trải nghiệm thú vị khi ngồi trên chiếc xuồng ba lá men theo kênh rạch quanh co, uốn lượn, hai bên phủ đầy cây bần, dừa nước và những vườn cây ăn trái nối tiếp nhau, hưởng thức trà mật ong, tìm hiểu cách làm kẹo dừa, tham quan khu trưng bày sản phẩm thủ công mỹ nghệ được làm từ cây dừa. Đặc biệt, ai đã một lần đến với Khu du lịch cù lao Thới Sơn sẽ không thể quên giọng hát mượt mà theo từng cung bậc của những nghệ nhân đờn ca tài tử.

    Làng cổ Đông Hòa Hiệp

    Làng cổ Đông Hòa Hiệp thuộc xã Đông Hòa Hiệp, huyện Cái Bè. Làng có 6 ấp, với hơn 3.000 hộ gia đình, sinh sống chủ yếu dựa vào những vườn cây ăn trái và các nghề thủ công truyền thống như: làng cốm, tráng bánh tráng, cán bánh phồng sữa… Các ngôi nhà cổ ở đây không nằm sát nhau giống như ở một số làng cổ khác mà nằm đan xen với những vườn cây ăn trái xum xuê, tạo nên vẻ đẹp thơ mộng cuốn hút du khách.

    Khám phá vùng Đồng Tháp Mười

    Khu bảo tồn sinh thái Đồng Tháp Mười bao gồm 100ha khu trung tâm và 1.800ha khu đệm, với hơn 70 loài thực vật và 83 loài động vật. Đến với vùng Đồng Tháp Mười, du khách sẽ được tham quan, khám phá những vùng rừng lau sậy ngập phèn, men theo các con rạch ngắm động vật hoang dã như: chim, cò, diệc, le le… Bên cạnh đó, du khách còn được tham quan vẻ đẹp hoang sơ của những cánh rừng tràm – địa danh đã đi vào lịch sử Việt Nam qua bao cuộc đấu tranh giữ nước của nhân dân chợ nổi Cái Bè.

    Chợ nổi Cái Bè

    Chợ nổi Cái Bè được hình thành từ thời nhà Nguyễn, là một trong những chợ đầu mối lớn nhất miền Tây Nam Bộ, thuộc thị trấn Cái Bè, huyện Cái Bè. Thuở ban đầu, nơi đây được biết đến như trạm trung chuyển hàng hóa giữa các tỉnh miền Tây và miền Đông. Chợ đẹp nhất lúc trời vừa hừng sáng khi các khoang thuyền đầy ắp hàng hóa được bày bán với đủ mặt hàng đáp ứng nhu cầu thiết yếu của cuộc sống hàng ngày. Điều đặc biệt ở chợ nổi Cái Bè là cách chào hàng ấn tượng của người bán hàng. Họ treo món hàng lên một cây sào (còn gọi là cây bẹo) để người mua dễ nhận biết. Chính những nét đặc trưng ấy đã làm cho chợ nổi Cái Bè thu hút rất đông khách du lịch.

    Khu du lịch biển Tân Thành

    Khu du lịch biển Tân Thành được xem như một điểm du lịch độc đáo, mang lại cho du khách nhiều trải nghiệm tại vùng đất tưởng chừng chỉ có sông ngòi và kênh rạch. Bờ biển Tân Thành dài khoảng 7km, với làn nước tươi mát, trong xanh. Đến với Khu du lịch biển Tân Thành, du khách sẽ được thưởng thức những món hải sản tươi ngon của vùng biển này, đặc biệt là món nghêu Gò Công.

    Trại rắn Đồng Tâm

    Trại rắn Đồng Tâm nằm cách trung tâm thành phố Mỹ Tho 8,5km, có diện tích 11ha. Đây là nơi nuôi rắn lấy nọc, kết hợp với trồng nhiều cây dược liệu và nghiên cứu điều trị rắn cắn cho nhân dân vùng đồng bằng sông Cửu Long. Đến với trại rắn Đồng Tâm, du khách có thể chiêm ngưỡng nhiều loại rắn khác nhau như: rắn ráo, rắn nước, hổ chúa, hổ mang, cạp nong, cạp nia… Đặc biệt, nơi đây có bảo tàng rắn duy nhất ở Việt Nam, trưng bày hơn 50 mẫu rắn các loại đã được xác lập kỷ lục Guiness.

    Di tích Lịch sử – Văn hóa

    Tiền Giang một là vùng đất văn hóa, giàu truyền thống yêu nước, truyền thống cách mạng với 22 di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia, trong đó có các di tích nổi tiếng thu hút đông đảo du khách đến tham quan, chiêm bái.

    Chùa Vĩnh Tràng

    Tọa lạc trong một khuôn viên đẹp, đầy vẻ uy nghiêm, trầm mặc và linh thiêng tại xã Mỹ Phong, thành phố Mỹ Tho, chùa Vĩnh Tràng được xem là ngôi chùa Việt lớn và đẹp nhất Nam Bộ. Chùa Vĩnh Tràng được xây dựng theo lối kiến trúc tổng hợp, giao thoa giữa nền kiến trúc Á – Âu như kiến trúc Pháp, La Mã, Thái, Miên và Chăm; tuy nhiên, kiểu kiến trúc điêu khắc cốt lõi vẫn mang đậm truyền thống của người Việt. Phía trước chùa Vĩnh Tràng có hai cổng tam quan được xây vào năm 1933 theo lối kiến trúc cổ lầu. Điểm đặc biệt của cổng tam quan này là ở nghệ thuật ghép những mảnh sành sứ để minh họa cho lịch sử nhà Phật với đủ hình dáng của long, lân, quy, phượng, ngư, tiều, canh, mục… vô cùng ấn tượng và đặc sắc. Trong chùa còn có bộ phù điêu bát Tiên cưỡi thú, bộ tượng Tam Tôn cổ bằng đồng to, đặc biệt là bộ Thập Bát La Hán được chạm khắc bằng gỗ có một không hai ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Là một công trình mỹ thuật độc đáo, chùa Vĩnh Tràng được công nhận là Di tích Lịch sử Văn hóa cấp quốc gia năm 1984. Vào những ngày mùng 1 và 15 âm lịch hàng tháng, đông đảo người dân hành hương đến chùa Vĩnh Tràng để gửi gắm những ước vọng bình an, trải lòng mình trong một không gian yên bình, an tịnh.

    Khu di tích Ấp Bắc

    Khu di tích Ấp Bắc thuộc xã Tân Phú, thị xã Cai Lậy, cách thành phố Mỹ Tho khoảng 21km về hướng Tây. Đến đây, du khách được tham quan 3 phân khu: khu 1 là khu vực tượng đài có 3 chiến sĩ gang thép, nhà mộ ba chiến sĩ gang thép và khu vực trưng bày máy bay, xe tăng…; khu 2 tái hiện thời kỳ chống Mỹ của nhân dân Tiền Giang với những ngôi nhà dân xưa, gần hội trường làm việc, nhà làm vũ khí tự tạo và hầm chiến đấu; khu 3 gồm nhà bảo tàng có diện tích 1.000m 2 trưng bày hình ảnh hiện vật của trận Ấp Bắc. Ngày 7/1/1993, Di tích Ấp Bắc đã được Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng Di tích cấp quốc gia.

    Thiền viện Trúc Lâm Chánh Giác

    Thiền viện Trúc Lâm Chánh Giác thuộc ấp 1, xã Thạnh Tân, huyện Tân Phước. Thiền viện có diện tích trên 30ha được xây dựng theo mô hình truyền thống của các thiền viện thuộc phái Trúc Lâm Yên Tử với 2 khu vực biệt lập là nội viện và ngoại viện. Với tổng diện tích hơn 47.000m 2, khu nội viện có diện tích gần 16.000m 2, bao gồm 4 tăng đường, 1 thiền đường và 10 thất chuyên tu. Thiền viện Trúc Lâm Chánh Giác được thiết kế gần giống với thiền viện Trúc Lâm ở Đà Lạt nhưng có quy mô lớn hơn. Bên cạnh đó, trên địa bàn tỉnh còn nhiều di tích nổi tiếng gắn với quá khứ hào hùng của dân tộc, thu hút đông đảo du khách đến tham quan như: đình thờ Anh hùng dân tộc Trương Định, lăng Hoàng Gia, đình Long Hưng, bia mộ anh hùng thủ khoa Huân, Khu tưởng niệm nhà văn Sơn Nam…

    Lễ hội Lễ hội làng cổ Đông Hòa Hiệp

    Lễ hội làng cổ Đông Hòa Hiệp được tổ chức định kỳ 2 năm một lần vào các năm lẻ, và bắt đầu từ năm 2022, mỗi năm đều tổ chức lễ hội với nội dung phong phú, đa dạng, thu hút đông đảo du khách. Đến với làng cổ Đông Hòa Hiệp, du khách sẽ có cơ hội được khám phá văn hóa đặc trưng địa phương, được hòa mình vào cuộc sống cộng đồng với những con người Nam Bộ chân chất, nhiệt tình, giàu lòng mến khách… Ngày 30/6/2017, UBND tỉnh đã phê duyệt Đề án Phát triển Lễ hội du lịch làng cổ Đông Hòa Hiệp trở thành sản phẩm du lịch đặc trưng của tỉnh Tiền Giang.

    Lễ hội Nghinh Ông Vàm Láng

    Hội Vàm Láng (hội Nghinh Ông) là Lễ cúng cá Ông, Lễ hội cầu ngư được tổ chức nhằm cầu cho biển lặng gió hòa, ngư dân may mắn làm ăn phát đạt, an khang. Từ sáng 9/ 3 âm lịch, dân vùng biển Gò Công và khách thập phương hoan hỉ kéo về Vàm Láng (thuộc huyện Gò Công Ðông) dự Lễ hội Nghinh Ông. Lễ hội diễn ra rất trang trọng với lễ rước và lễ tế truyền thống. Lễ rước kiệu của Nam Hải Tướng Quân được thực hiện theo nghi thức cổ truyền bởi đoàn thuyền rồng với đầy đủ các đồ tế lễ. Cùng đi với thuyền rồng còn có nhiều ghe thuyền khác cũng được trang hoàng lộng lẫy để cùng ra biển nghinh Ông.

    Lễ hội Nam Kỳ Khởi Nghĩa

    Khởi nghĩa Nam Kỳ là một cuộc đồng khởi lớn ở tỉnh Tiền Giang năm 1940. Nhằm ôn lại những ký ức hào hùng của nhân dân Tiền Giang nói riêng và cả nước nói chung trong hành trình đấu tranh đầy cam go, vì độc lập dân tộc, ngày 23/11 các năm chẵn, tại đình Long Hưng, huyện Châu Thành, nhân dân thường tổ chức Lễ hội Nam Kỳ Khởi nghĩa. Lễ hội được tổ chức quy mô lớn với các hoạt động cắm trại, mít tinh, biểu diễn văn nghệ, thi làm bánh… thu hút hàng chục ngàn người tham gia.

    Làng nghề truyền thống

    Du lịch Tiền Giang nổi tiếng với những điểm đến như vườn cây trái, thành phố Mỹ Tho năng động, chợ nổi Cái Bè nhộn nhịp… Bên cạnh đó, Tiền Giang còn có các làng nghề thủ công mỹ nghệ với rất nhiều sản phẩm lạ mắt, độc đáo là điểm đến thu hút đông đảo du khách thập phương. Một số làng nghề có tiếng ở Tiền Giang phải kể đến như làng làm tủ thờ Gò Công, làng dệt chiếu Long Định…

    Làng nghề làm bánh tráng, cốm ở Cái Bè

    Nghề làm bánh tráng và làm cốm ở Cái Bè là hai nghề truyền thống của người dân xã Đông Hòa Hiệp, huyện Cái Bè. Bánh tráng được làm từ gạo tẻ ngon. Sau các công đoạn ngâm gạo, xay bột, tráng bánh, phơi bánh thì chiếc bánh sẽ trở nên khô ráo. Bánh tráng ngon hơn khi dùng để cuốn với cá, thịt, bún, rau… dùng kèm với nước chấm. Bánh tráng cũng có thể nướng giòn ăn rất thơm ngon.

    Với nghề làm bánh cốm, người thợ phải trải qua nhiều công đoạn cầu kỳ không kém làm bánh tráng. Cốm cũng được làm từ gạo đã bung to sau khi nổ cốm. Để cốm kết dính, người thợ trộn cốm với hỗn hợp đường, mạch nha và nước cốt dừa, thêm một ít hương liệu vani hay sầu riêng cho cốm thơm và ép cốm thành khuôn. Với hương thơm của vani, giòn của cốm hòa lẫn vị ngọt của đường, mạch nha, cốm Cái Bè đã thật sự chinh phục được du khách khắp nơi khi đến làng nghề làm cốm huyện Cái Bè.

    Làng nghề đóng tủ thờ

    Làng nghề đóng tủ thờ đã tồn tại cách đây gần trăm năm tại ấp Ông Non, xã Tân Trung, thị xã Gò Công. Người đầu tiên khởi xướng là ông Nguyễn Ngọc Hải, sinh năm 1890. Qua thời gian, công nghệ đóng tủ ngày càng tiến bộ từ chiếc tủ có 3 trụ đứng, đến nay chiếc tủ có đến 19, 21 trụ với bề mặt cẩn trai, ốc xà cừ. Tủ thờ Gò Công từ lâu đã nổi tiếng với kiểu dáng trang nghiêm, các chi tiết của tủ được người thợ kết nối với nhau bằng mộng, ngàm và chốt gỗ chứ không dùng đến đinh hay ốc vít, đặc biệt nguyên liệu để đóng tủ thờ trải qua bao đời cũng chỉ là loại gỗ xà cừ rất dân dã, vậy mà qua bàn tay khéo léo của những người thợ Gò Công, những tấm gỗ xà cừ đã lên nước, kết hợp với những màu trai hay xà cừ tạo nên vẻ đẹp huyền bí, lung linh… Sản phẩm tủ thờ Gò Công đã được nhiều nơi trong nước và trên thế giới biết đến được đặt tại đền thờ vua Hùng tỉnh Phú Thọ và đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh tỉnh Nghệ An.

    Làng nghề bánh, bún hủ tiếu Mỹ Tho

    Làng nghề bánh, bún, hủ tiếu Mỹ Tho có trên 100 năm tuổi nằm ở xã Mỹ Phong, thành phố Mỹ Tho. Ngày xưa, bánh hủ tiếu Mỹ Tho chính hiệu phải được làm từ gạo thơm Gò Cát, trồng tại xã Mỹ Phong. Gạo Gò Cát còn là nguyên liệu làm bún, bánh tráng, bánh nghệ nổi tiếng trong vùng hơn nửa thế kỷ, trải qua nhiều thăng trầm, đến nay làng nghề vẫn tồn tại. Đến đây, du khách sẽ tận mắt chứng kiến các công đoạn sản xuất bánh, bún hủ tiếu như cán bánh, phơi bánh, cắt bánh…

    Làng nghề dệt chiếu Long Định

    Làng nghề dệt chiếu Long Định thuộc xã Long Định, huyện Châu Thành, nổi tiếng khắp vùng miền Tây Nam Bộ với nghề dệt chiếu hoa. Nhờ chất lượng tốt, mẫu mã đẹp nên ngoài thị trường trong nước, chiếu Long Định còn được xuất khẩu sang thị trường Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ… Ngoài cách làm chiếu thủ công truyền thống bằng tay, nhiều hộ dân đã đầu tư máy móc để làm chiếu theo hướng công nghiệp, đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường. Nghề dệt chiếu do cư dân vùng chiếu nổi tiếng ở Kim Sơn – Ninh Bình di cư vào Nam từ năm 1954. Vì vậy, kỹ thuật làm chiếu ở đây cũng có nhiều nét khác biệt so với kỹ thuật làm chiếu ở miền Nam, dày hơn, màu sắc, hoa văn tươi tắn và đẹp hơn.

    Ẩm thực

    Tiền Giang không chỉ có những cánh đồng thẳng cánh cò bay xanh mênh mông, miệt vườn trĩu nặng quả đầy thơ mộng mà còn nổi tiếng với nền ẩm thực phong phú. Nếu đã một lần đặt chân lên đất Tiền Giang, du khách đừng bỏ qua những sản vật là sự hòa quyện đậm đà giữa nguyên liệu từ vùng sông nước và sự tinh tế của bàn tay con người nơi đây như: vú sữa Lò Rèn, hủ tiếu Mỹ Tho, sơri Gò Công, xoài cát Hòa Lộc, Thanh Long, sầu riêng Ngũ Hiệp, bưởi, khóm Tân Phước, bánh giá chợ Giồng – Gò Công Tây, mắm tôm chà Gò Công, mắm còng cù lao Tân Thới – Tân Phú Đông…

    Có thể nói, đến với Tiền Giang là du khách đến với cảnh quan vùng đồng bằng sông Cửu Long, với đồng lúa, sông nước miệt vườn, đến với các di tích lịch sử – văn hóa đặc trưng của địa phương; được trải nghiệm, hòa mình vào cuộc sống cộng đồng, làm quen với những con người Nam Bộ chân chất, nhiệt tình, giàu lòng mến khách… Tất cả tạo nên một bức tranh nhiều sắc màu, hiền hòa và sinh động của miền đất Tiền Giang.

    T.T

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thừa Thiên Huế Bàn Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Theo Hướng Thông Minh Và Bền Vững
  • Đề Tài Phát Triển Du Lịch Thừa Thiên Huế Rất Hay 2022
  • Phát Triển Du Lịch Bền Vững Tại Thành Phố Đà Nẵng
  • Hướng Đi Nào Để Du Lịch Tây Ninh Phát Triển?
  • Phát Triển Du Lịch Tây Ninh Hướng Tới Tầm Quốc Gia
  • Giải Pháp Thúc Đẩy Phát Triển Du Lịch Tỉnh Tiền Giang

    --- Bài mới hơn ---

  • Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Quảng Bá Xúc Tiến Đáp Ứng Yêu Cầu Phát Triển Của Ngành Du Lịch Việt Nam Giai Đoạn Mới – Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch (Itdr)
  • Đẩy Mạnh Các Hoạt Động Xúc Tiến, Quảng Bá Điểm Đến Du Lịch Ninh Bình
  • Kích Cầu Du Lịch Qua Cuộc Thi ‘đà Nẵng Nhớ’
  • Tour Du Lịch Giảm Giá: Liên Tuyến Singapore – Malaysia
  • Kỹ Năng Giao Tiếp Trong Nghề Du Lịch
  • Với hệ thống giao thộng thuận lợi, các địa danh lịch sử nổi tiếng, Tiền Giang tạo sự hấp dẫn và thu hút du khách theo hướng du lịch sinh thái, du lịch tham quan miệt vườn – sông nước, du lịch cộng đồng và du lịch văn hóa lịch sử.

    Ngày 24.06.2015, Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch tỉnh Tiền Giang đã phối hợp cùng ủy ban nhân dân (UBND) huyện Gò Công Đông tổ chức hội thảo “Giải pháp thúc đẩy phát triển du lịch tỉnh Tiền Giang”.

    Mục đích của hội thảo nhằm khai thác phát triển du lịch ở các vùng có nhiều tiềm năng du lịch. Đồng thời, định hướng cho các nhà đầu tư, các tổ chức, cá nhân, hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh du lịch và tìm giải pháp hỗ trợ, thúc đẩy phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Tiền Giang.

     

    Ảnh: Lãnh đạo huyện Gò Công Đông chăm chú ghi nhận ý kiến của đại biểu tham dự.

     

    Tiền Giang là tỉnh nằm ở cửa ngõ vùng đồng bằng sông Cửu Long và trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, chỉ cách TP. HCM 70 km. Thiên nhiên và con người Tiền Giang mang đặc trưng của nền văn minh sông nước Nam Bộ. Với vị trí thuận lợi nằm bên biển Đông với 32 km đường bờ biển, có đường cao tốc TP. HCM – Trung Lương, có quốc lộ 1, quốc lộ 50, quốc lộ 60, chạy xuyên qua và nằm trải dài trên sông Tiền, có hệ thống giao thông đường bộ, đường thủy tỏa khắp trong toàn tỉnh đã tạo nên những ưu thế và thuận lợi cho hoạt động du lịch. Tạo sự hấp dẫn và thu hút du khách theo hướng du lịch sinh thái, du lịch tham quan miệt vườn – sông nước, du lịch cộng đồng và du lịch văn hóa lịch sử.

    Tiền Giang còn là vùng đất giàu truyền thống yêu nước, nơi gắn liền với tên tuổi các anh hùng dân tộc như Trương Định, Thủ Khoa Huân, Lê Thị Hồng Gấm… Có các khu lăng mộ, đền chùa, đình miếu có giá trị lịch sử văn hóa như lăng Trương Địng, lăng Hoàng Gia, đền thờ Thủ Khoa Huân, chùa Vĩnh tràng, đình Long Hưng…Và, một số khu du lịch đã được đầu tư như cù lao Thới Sơn, khu du lịch biển Tân Thành – Hàng Dương, khu du lịch chợ nổi Cái Bè…

    Tại hội thảo, đại diện lãnh đạo các đơn vị như UBND huyện Gò Công Đông, UBND thành phố Mỹ Tho, UBND huyện Cái Bè, trường cao đẳng nghề Du lịch Sài Gòn, Hiệp hội du lịch Tiền Giang… đã trình bày một số tham luận. Các bài tham luận xoay quanh vấn đề khai thác tiềm năng, giải pháp thúc đẩy phát triển du lịch Gò Công Đông, khu vực thành phố Mỹ Tho, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực…

     

    Ảnh: đại biểu trình bày tham luận tại hội thảo.

    Ngoài ra, Sở Du lịch TP. HCM, lãnh đạo các công ty du lịch tại TP. HCM và một đại biểu tham dự cũng góp ý, tỉnh Tiền Giang nên khai thác các giá trị văn hóa truyền thống lịch sử. Cụ thể, huyện Gò Công là nơi chiến đấu của anh hùng dân tộc Trương Định, có thể khai thác lợi thế này để thu hút khách du lịch. Chẳng hạn như thiết kế các tour tuyến thăm viếng lăng Trương Định, phục dựng căn cứ chiến đấu, khai thác địa danh đám lá tối trời…

    Ảnh: Du khách thích thú khi được ngồi ghe len lỏi giữa kênh rạch, mát rượi dừa nước.

     

    Cũng trong dịp này, tỉnh Tiền Giang đã cung cấp số hai tổng đài điện thoại: số 1088 hỗ trợ thông tin du lịch và số 3869988 hỗ trợ du khách trong trường hợp khẩn cấp.

                                                                                                                                   Bài và ảnh Yến Nhi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Giải Pháp Trọng Tâm Phát Triển Ngành Du Lịch
  • Khánh Hòa: Tìm Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Du Lịch
  • Giải Pháp Phục Hồi Hoạt Động Du Lịch
  • Giải Pháp Để Du Lịch Phát Triển Bền Vững
  • Cần Có Giải Pháp Đưa Du Lịch Phát Triển Bền Vững
  • Tiền Giang Đầu Tư Trên 400 Tỉ Đồng Phát Triển Du Lịch

    --- Bài mới hơn ---

  • Tiềm Năng Du Lịch Của Vũng Tàu Có Gì Thu Hút Giới Đầu Tư?
  • Vũng Tàu – Bước Tiến Nhảy Vọt Cho Ngành Du Lịch Việt Nam
  • Mảnh Đất Giàu Tiềm Năng Du Lịch
  • Yên Bình – Yên Bái: Khai Thác Lợi Thế Phát Triển Du Lịch Bền Vững
  • Voucher Là Gì? Tìm Hiểu Ngay Các Loại Voucher Phổ Biến Nhất Nhất Hiện Nay – Công Ty In Tiết Kiệm – Dịch Vụ In Ấn Giá Rẻ Hàng Đầu Tại Hà Nội
  • Theo Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch Tiền Giang, năm 2014, địa phương này sẽ đầu tư 430 tỷ đồng để phát triển du lịch, trong đó chú trọng phát huy tiềm năng du lịch sinh thái nhằm thu hút trên 633 nghìn lượt khách quốc tế và trên 752 nghìn lượt khách nội địa, với tổng doanh thu từ du lịch trên 376 tỷ đồng.

    Chạy dọc sông Tiền tới vùng biển Đông, với chiều dài 120km, tỉnh Tiền Giang đã hình thành ba vùng sinh thái tự nhiên khá thuận lợi để phát triển du lịch. Những năm qua, các cấp, ngành và địa phương của tỉnh này đã phát huy lợi thế tiềm năng hiếm có để thu hút khách du lịch trong và ngoài nước.

    Trong năm 2013, ngành Du lịch Tiền Giang đã phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức và những yếu tố bất lợi đã tác động mạnh đến hoạt động kinh doanh du lịch. Tuy nhiên, trong năm 2013, ngành Du lịch Tiền Giang vẫn đón 1,2 triệu lượt khách, tăng 9,31% so với năm 2012, trong đó, có 586.692 lượt khách quốc tế, tăng 8,16% so với năm 2012 và 691.203 lượt khách nội địa, tăng 10,31% so với năm 2012. Tổng doanh thu từ du lịch đạt 330 tỷ đồng, tăng 17,41% so với năm 2012.

    Ngay trong những tháng đầu của năm 2014, lượng khách du lịch trong nước và quốc tế cũng đã đến với Tiền Giang khá đông, chỉ tính riêng trong dịp Tết Nguyên đán Giáp Ngọ 2014, đã có 50 nghìn lượt khách du lịch đến Tiền Giang, tăng 14,4% so với Tết Nguyên đán năm trước, trong đó có 14 nghìn lượt khách quốc tế, tăng 60% so với cùng kỳ năm trước và doanh thu trong những ngày Tết tăng đến 53,5% so với cùng kỳ.

    Với lợi thế có vùng sinh thái nước ngọt gồm những kênh rạch đan xen nhau, cùng với vườn cây trái trên các cù lao và vùng dân cư nằm dọc sông Tiền của các huyện như: Cái Bè, Cai Lậy, Châu Thành và thành phố Mỹ Tho, nơi đây đã hình thành những khu du lịch sinh thái sông nước miệt vườn nổi tiếng hấp dẫn du khách như: Khu du lịch cù lao Thới Sơn, Khu du lịch Cái Bè, trong đó cù lao Thới Sơn hiện là trung tâm đón khách du lịch của tỉnh Tiền Giang, mỗi năm đón hơn 300 nghìn lượt khách, trong đó có tới 70% là khách quốc tế.

    Bên cạnh đó, Tiền Giang còn có các vùng sinh thái ngập mặn như Khu du lịch biển Tân Thành, phục vụ nhu cầu tham quan, nghỉ biển. Khu du lịch này trong tương lai, sẽ nối tuyến với bãi biển Vũng Tàu của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và các nơi khác bằng thuyền máy du lịch và thuyền cao tốc.

    Ngoài ra, Tiền Giang còn có vùng sinh thái ngập phèn ở huyện Tân Phước là đặc trưng của vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã hình thành nên khu du lịch sinh thái Đồng Tháp Mười với khu trung tâm 100ha và mở rộng vùng đệm xung quanh từ 100ha đến 150ha rừng tràm. Đây là hệ sinh thái ngập phèn độc đáo ở Việt Nam với những loài động vật, thực vật đặc hữu như tràm vó, sao, súng, bàng, lác, chim, cò, trăn, rùa, ong mật…, những loài trên sẽ phục vụ tốt cho công tác nghiên cứu của các nhà khoa học cũng như là nơi tham quan nghỉ dưỡng cho khách du lịch.

    Không chỉ có các vùng du lịch sinh thái đặc trưng, Tiền Giang còn phát triển theo hướng du lịch lịch sử – văn hóa và lễ hội dân gian. Theo Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch tỉnh Tiền Giang, địa phương này hiện có 21 di tích lịch sử – văn hóa cấp Quốc gia, trong đó có 10 di tích lịch sử – văn hóa đang thu hút mạnh khách du lịch đến tham quan, nghiên cứu như: Di tích Rạch Gầm – Xoài Mút, Khu di tích Chiến thắng Ấp Bắc, Lăng Trương Định, Nhà thờ Trương Định, Lăng Thủ Khoa Huân, Lăng Hoàng Gia, chùa Vĩnh Tràng, khảo cổ Óc Eo Gò Thành.v.v… Đây là những điểm thu hút du khách trong nước và quốc tế đến tham quan, nghiên cứu, học tập, đặc biệt là đối với khách du lịch là những người trẻ tuổi, đến tìm hiểu về truyền thống lịch sử anh hùng của đất nước, con người Việt Nam qua các thời kỳ.

    Để tăng sức hấp dẫn cho các tour du lịch sinh thái miệt vườn, tham quan phong cảnh sông nước Tiền Giang, tỉnh Tiền Giang đã thường xuyên mở thêm nhiều sản phẩm du lịch mới, có tính hấp dẫn cao, đáp ứng nhu cầu của du khách trong và ngoài tỉnh, du khách quốc tế như: du thuyền trên sông Tiền, tham quan vườn cây ăn quả đặc sản Tiền Giang, đò chèo trên sông, rạch, nghe đờn ca tài tử, tham quan làng nghề truyền thống, thăm Trại rắn Đồng Tâm – nơi có khu nuôi dưỡng rắn độc lớn nhất Đông Nam Á…

    Do làm tốt công tác xã hội hóa hoạt động du lịch, nhiều làng nghề truyền thống ở Tiền Giang đã được khôi phục, các phong tục cổ truyền độc đáo tại miệt vườn sông nước Tiền Giang cũng được phát huy. Điển hình như: Nghề làm cốm kẹo, làm hàng thủ công mỹ nghệ từ dừa và những nguyên liệu tại chỗ, nuôi ong mật, sinh hoạt đờn ca tài tử miệt vườn sông nước… tạo nên nét độc đáo trong bản sắc văn hóa ở những điểm du lịch nổi tiếng của Tiền Giang và đã thật sự thu hút du khách.

    Cơ sở vật chất hoạt động kinh doanh du lịch của Tiền Giang ngày càng phát triển khá mạnh với hàng chục đơn vị kinh doanh lữ hành, trong đó có các đơn vị kinh doanh lữ hành quốc tế, kinh doanh lữ hành nội địa và kinh doanh vận chuyển khách du lịch. Cùng với đó là hàng trăm hướng dẫn viên du lịch, trên 200 cơ sở lưu trú du lịch, 24 nhà hàng với đầy đủ các phương tiện vận chuyển khách du lịch bằng thuyền máy, đò chèo và ca-nô.

    Mục tiêu đến năm 2022 phát triển du lịch Tiền Giang cơ bản trở thành một ngành kinh tế quan trọng. Khả năng đóng góp của ngành kinh tế du lịch trong tổng GDP của tỉnh này đến năm 2022 là 4,54% và đến năm 2022 là 4,62%.

    Hiện nay, trung bình mỗi năm, tỉnh Tiền Giang đón trên 1 triệu lượt du khách và là tỉnh được đánh giá là có lượng khách quốc tế đến du lịch, tham quan chiếm tỷ trọng rất cao so với các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long./.

     

    CÔNG TY TNHH DU LỊCH THÁM HIỂM & SỰ KIỆN ĐỒNG BẰNG MEKONG

    Trụ sở: 58 Đường 3/2, P.Xuân Khánh, chúng tôi Kiều, Tp.Cần Thơ

    Tel: 0292-3.819.219 – Fax: 0292-3.819.219 – Hotline: 0919.44.45.45

    Email: [email protected] – Website: mekongdeltaexplorer.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Du Lịch Tây Ninh Giờ Đã Khác
  • Tây Ninh: Phát Triển Du Lịch Hướng Đến Trở Thành Ngành Kinh Tế Mũi Nhọn
  • Đánh Giá Sức Chịu Tải Môi Trường Của Khu Du Lịch Biển Sầm Sơn – Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch (Itdr)
  • “Phát Triển Du Lịch Quảng Trị, Cần Những Nhà Đầu Tư Chiến Lược”
  • Điểm Tựa Để Du Lịch Quảng Bình Cất Cánh – Công An Tỉnh Quảng Bình
  • Phát Triển Hoạt Động Du Lịch Ở Huyện Cái Bè, Tiền Giang

    --- Bài mới hơn ---

  • Du Lịch Châu Âu Dịp Giáng Sinh Có Gì Đặc Biệt?
  • Du Lịch Dịp Giáng Sinh Và Những Điều Cần Lưu Ý
  • Du Lịch Malaysia Dịp Giáng Sinh Và Săn Hàng Hiệu Giảm Giá Cuối Năm
  • Tour Du Lịch Singapore 4 Ngày 3 Đêm Từ Tp Hcm
  • Đến Singapore Vào Dịp Giáng Sinh Nên Ăn Gì?
  • 1. Tài nguyên phát triển du lịch huyện Cái Bè Môi trường sinh thái

    Huyện Cái Bè cách trung tâm thành phố Mỹ Tho 50km, cách chúng tôi 113km. Diện tích tự nhiên của huyện là 420,9 nghìn km 2. Huyện giáp với tỉnh Vĩnh Long, Đồng Tháp, huyện có điều kiện tự nhiên thuận lợi để liên kết phát triển du lịch liên vùng.

    Khí hậu Cái Bè thuận lợi để phát triển hoạt động du lịch sinh thái. Đây là địa phương được thiên nhiên ưu đãi với hệ thống thủy lợi tự nhiên tốt nhất trong tỉnh. Sông Cái Bè là nguồn tài nguyên nước quan trọng để phát triển việc trồng cây ăn trái cung cấp trong nước và xuất khẩu, nổi bật nhất là: bưởi Cổ Cò, xoài cát Hòa Lộc, sầu riêng Ngũ Hiệp, quýt Cái Bè… Đặc biệt, điểm tham quan chợ nổi Cái Bè đã phát triển du lịch cộng đồng gắn liền với các làng nghề truyền thống bánh tráng, cốm, kẹo, vườn cây ăn trái đặc sản, làng cổ Đông Hòa Hiệp.

    Di sản văn hóa

    Huyện Cái Bè có hệ thống các di tích kiến trúc nghệ thuật như: tượng đài chiến thắng Cổ Cò, đình Ông Lữ, đình Mỹ Lương, đình Hòa Lộc…; các di tích gắn liền với tôn giáo như: nhà thờ Cái, chùa Phù Châu có giá trị lịch sử và nghệ thuật đặc sắc; nhiều ngôi nhà cổ như: Ba Đức, nhà cổ ông Cai Huy, nhà cổ Anh Kiệt được xây dựng theo cấu trúc nhà truyền thống Nam Bộ gồm 5 gian, 3 chái hình chữ đinh cùng các hoa văn chạm khắc, trang trí công phu. Các nhà cổ nằm đan xen với những vườn cây trái xum xuê tạo nên vẻ đẹp dân dã, thơ mộng.

    Các lễ hội lớn của huyện như: lễ tắm cồn được tổ chức vào dịp tết Ðoan Ngọ tại cù lao Tân Phong, lễ cúng thủy thần tại miếu Cậu ở Vàm Mân… luôn thu hút du khách và trở thành hoạt động truyền thống của người dân địa phương.

    Làng nghề thủ công truyền thống của huyện Cái Bè có từ lâu đời, nổi tiếng nhất là nghề làm cốm, kẹo xã Đông Hòa Hiệp, nghề làm bánh tráng, bánh phồng. Trước đây sản phẩm chủ yếu tiêu thụ trong dịp lễ tết, hiện nay đã mở rộng thị trường tiêu thụ và khẳng định được thương hiệu.

    Ẩm thực của huyện Cái Bè nổi tiếng là với nhiều món như: chuối quết dừa, ốc gạo hấp, chả giò rế, cá ngát nấu cơm mẻ, cá rút xương dồn thịt cuốn bánh tráng, vịt nấu chao, lẩu mắm cá hú bông lục bình, cá lóc nướng trui… tạo nên văn hóa ẩm thực độc đáo của địa phương.

    Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật

    Hiện nay, huyện có 2 cơ sở nghỉ dưỡng đạt tiêu chuẩn 2 sao là Mekong Riverside và Mekong Lodge và 7 khách sạn tiêu chuẩn 1 sao. Huyện chú trọng nâng cấp 3 nhà cổ để phục vụ du lịch homestay cho du khách.

    Về cơ sở ăn uống, huyện có 18 nhà hàng và quán ăn lớn phục vụ khách du lịch và khách dừng chân trên đường từ miền tây về chúng tôi và ngược lại như: nhà hàng Xẻo Mây, Thái An… đã phục vụ tốt nhu cầu về ẩm thực của các đối tượng khách đến với huyện Cái Bè.

    Về phương tiện, các doanh nghiệp đầu tư 161 chiếc đò máy với 2.149 ghế cùng với hơn 40 đò chèo liên kết với Tân Phong (Cai Lậy) để khai thác du lịch. Doanh thu du lịch ở huyện Cái Bè chủ yếu dựa vào nguồn thu chính từ 3 loại hình dịch vụ khách sạn, ăn uống và vận chuyển, giúp cho đời sống người dân địa phương được cải thiện rõ rệt.

    2. Thực trạng hoạt động du lịch Cái Bè Các loại hình và sản phẩm du lịch ở huyện Cái Bè

    Trong thời gian qua, huyện Cái Bè đã phát triển các sản phẩm du lịch như: tham quan, nghỉ dưỡng sông nước, miệt vườn, tìm hiểu văn hóa truyền thống, du lịch liên kết với các điểm như cù lao Tân Phong, cù lao Ngũ Hiệp huyện Cai Lậy và cù lao Thới Sơn – thành phố Mỹ Tho. Ngoài ra còn chú trọng liên kết không gian du lịch trong và ngoài huyện như: chúng tôi – Cái Bè; tour liên kết Cái Bè với các cù lao của tỉnh Vĩnh Long, Bến Tre, Đồng Tháp; tour liên kết Cái Bè đi các tỉnh lân cận trong vùng đồng bằng sông Cửu Long; tour liên kết với khu du lịch sinh thái Đồng Tháp Mười (Tân Phước); tour liên kết Cái Bè đi Gò Tháp, Xẻo Quýt (Đồng Tháp).

    Tuy nhiên, việc phát triển nhanh phương tiện đò du lịch, các văn phòng đại diện của nhiều doanh nghiệp nhỏ, dẫn đến tình trạng cung lớn hơn cầu nên cạnh tranh không lành mạnh đã ảnh hưởng không ít đến môi trường du lịch của huyện. Tài nguyên và tiềm năng du lịch từng bước được khai thác nhưng tiến độ xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật ở các điểm lưu trú còn chậm, vệ sinh môi trường các điểm đến chưa đảm bảo. Sản phẩm du lịch trùng lặp, chưa mang tính đặc thù riêng. Các di tích lịch sử, văn hóa không được trùng tu bảo quản, các tuyến điểm chưa thật sự hấp dẫn, chưa phát huy năng lực và điều kiện tổ chức tour du lịch dài ngày trong huyện, hiệu quả kinh tế còn thấp.

    Chợ nổi Cái Bè đang giảm sút số lượng thương hồ và khó bảo tồn về lâu dài. Một trong những nguyên nhân là huyện không có chính sách hỗ trợ kinh phí duy trì hoạt động cho các chủ ghe kinh doanh, chưa xây dựng lễ hội đặc trưng cho chợ nổi Cái Bè, chưa có sự khác biệt về sản phẩm kinh doanh so với các chợ nổi khác ở đồng bằng sông Cửu Long, tình trạng ô nhiễm môi trường từ công việc buôn bán và sinh hoạt của hộ dân trên ghe…

    Nguồn nhân lực du lịch

    Trung tâm dịch vụ du lịch Cái Bè có 10 hướng dẫn viên quốc tế và nội địa, lao động trong lĩnh vực lưu trú và ăn uống khoảng 150 người. Nguồn nhân lực của huyện tương đối dồi dào nhưng chưa được đào tạo chuyên môn. Đội ngũ hướng dẫn viên thiếu kiến thức lịch sử, văn hóa, sinh thái của địa phương nên chưa có khả năng thu hút và tạo ấn tượng cho du khách. Trình độ ngoại ngữ còn hạn chế, gây ảnh hưởng đến quá trình thuyết minh và ứng xử giao tiếp văn hóa, không đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của khách du lịch. Một số hộ tham gia hoạt động kinh doanh chỉ nghĩ đến lợi ích trước mắt nên thiếu đầu tư chiều sâu, chưa thay đổi phong cách phục vụ.

    Quản lý nhà nước về phát triển du lịch

    Công tác quản lý nhà nước về du lịch thiếu đầu mối và không có kinh phí. Công tác tuyên truyền quảng bá du lịch chưa đi vào chuyên sâu. Công tác xúc tiến du lịch mới dừng lại ở việc tham gia hội chợ triển lãm, chưa phối hợp tốt với các tổ chức cung cấp thông tin cần thiết nhằm hướng dẫn các doanh nghiệp tìm kiếm, khai thác thị trường để phát triển kinh doanh lữ hành, nhất là lữ hành quốc tế trực tiếp. Kinh nghiệm quản lý kinh doanh và trình độ nghiệp vụ của cán bộ, lao động trong ngành vẫn còn nhiều hạn chế.

    Để phát triển hoạt động du lịch ở huyện Cái Bè theo hướng bền vững, huyện ủy, UBND huyện và các ngành cần tập trung mọi nguồn lực giải quyết các vấn đề:

    Giải pháp về tổ chức, quản lý: duy trì hoạt động xúc tiến tại các thị trường khách truyền thống thuộc các quốc gia Nhật, Mỹ, Úc, Hàn Quốc, Anh, Trung Quốc. Cần chú trọng từng phân đoạn thị trường, nghiên cứu nhu cầu và sở thích riêng biệt của từng nhóm khách để có chiến lược quảng bá hiệu quả. Duy trì thị trường khách truyền thống từ chúng tôi và tỉnh nội vùng và các tỉnh Đông Nam Bộ. Phát triển, mở rộng thị trường bằng cách liên kết với doanh nghiệp lữ hành ở xa như Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh… qua các hoạt động famtrip, hội chợ du lịch. Thường xuyên kiểm tra các cơ sở kinh doanh ăn uống, cơ sở lưu trú, các điểm vui chơi giải trí để đảm bảo an toàn cho du khách, đảm bảo chất lượng dịch vụ và tuân thủ đúng pháp luật. Tổ chức các hội nghị, hội thảo, triển lãm chuyên đề, liên hoan văn hóa ẩm thực du lịch để giới thiệu tiềm năng, lợi thế, chính sách khuyến khích đầu tư phát triển du lịch, kêu gọi các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào các dự án du lịch của huyện với các chính sách ưu đãi đầu tư phù hợp.

    Giải pháp về xây dựng sản phẩm du lịch đặc trưng: cần tập trung vào sản phẩm du lịch sinh thái kết hợp trải nghiệm sinh hoạt văn hóa truyền thống đặc trưng của cư dân vùng sông nước Nam Bộ. Xây dựng chương trình du lịch đặc sắc với những hoạt động thu hút du khách như: đi thuyền trên kênh rạch, nghe đờn ca tài tử, tham quan các cơ sở sản xuất thủ công mỹ nghệ, tát mương bắt cá, thưởng thức trái cây và đặc sản địa phương, nghỉ đêm trải nghiệm nhà cổ tại làng cổ Đông Hòa Hiệp. Tập trung xây dựng sản phẩm tham quan, tìm hiểu du lịch nông nghiệp, nhà vườn giúp du khách hiểu biết về hoạt động sinh kế của người dân vùng đồng bằng sông Cửu Long. Phát triển du lịch có trách nhiệm như khuyến khích du khách tham gia vào việc bảo vệ đa dạng sinh học và cân bằng hệ sinh thái tại chợ nổi Cái Bè.

    Giải pháp về nguồn nhân lực: cần có những chính sách khuyến khích, ưu đãi đối với các doanh nghiệp kinh doanh du lịch tại huyện có sử dụng người lao động là người địa phương. Doanh nghiệp cần hỗ trợ về chỗ ăn ở, các khoản trợ cấp ban đầu, hỗ trợ về lâu dài, có đãi ngộ phù hợp với người lao động để họ an tâm gắn bó với nơi làm việc. Tạo điều kiện cho cán bộ làm công tác quản lý ngành du lịch được đi học và nâng cao trình độ chuyên môn. Tập huấn định kỳ các kiến thức văn hóa, sinh thái, tuyên truyền giáo dục ý thức bảo vệ tài nguyên du lịch tự nhiên, kỹ năng phục vụ du khách cho nhân lực du lịch và cộng đồng địa phương. Tạo điều kiện cho các hộ kinh doanh tham gia vào hoạt động du lịch có trách nhiệm.

    Hợp tác liên kết phát triển du lịch trong vùng đồng bằng sông Cửu Long: tiếp tục thực hiện chương trình hợp tác với chúng tôi phối hợp tổ chức các buổi hội thảo, các tour khảo sát, liên kết giữa doanh nghiệp trong huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang và chúng tôi trong hoạt động du lịch. Liên kết với các huyện trong tỉnh, với các tỉnh lân cận như Bến Tre, Vĩnh Long để xây dựng cơ chế hợp tác phát triển du lịch liên kết vùng như: tạo sản phẩm du lịch mang nét đặc trưng của từng địa phương, nâng cao chất lượng sản phẩm, thống nhất chương trình tour và giá bán, tránh phát triển các sản phẩm trùng lặp, tình trạng cạnh tranh không lành mạnh làm giảm hiệu quả kinh doanh hoạt động du lịch.

    Sự phát triển du lịch của huyện Cái Bè những năm qua thực tế không tách rời sự phát triển du lịch chung của cả nước và tỉnh Tiền Giang. Để phát triển du lịch bền vững cần có sự chung tay phối hợp giữa các nhà đầu tư, chính quyền quản lý và cộng đồng dân cư địa phương. Các nguồn lợi về du lịch nếu được phân chia hợp lý và gắn liền với bảo vệ môi trường sinh thái, văn hóa, xã hội sẽ là động lực duy trì và phát triển du lịch cho huyện Cái Bè.

    Nguồn : Tạp chí VHNT số 405, tháng 3 – 2022

    Tác giả : CHU KHÁNH LINH

    Ý kiến bạn đọc

    --- Bài cũ hơn ---

  • Du Lịch Sinh Thái Miệt Vườn Cái Bè Tiền Giang
  • Du Lịch Đón Giáng Sinh Tại Anh Quốc Giá Rẻ
  • Tour Du Lịch Đón Giáng Sinh & Năm Mới 2022 Tại Huế
  • Tour Du Lịch Mỹ Đón Giáng Sinh Và Tết Dương Lịch 10 Ngày 9 Đêm
  • Di Chuyển Từ Kiên Giang Đi Phú Quốc
  • Du Lịch Sinh Thái Tiền Giang, Cần Phát Triển Theo Quy Hoạch

    --- Bài mới hơn ---

  • Điều Chỉnh Quy Hoạch Sử Dụng Đất Tỉnh Tiền Giang
  • Phê Duyệt Quy Hoạch Phát Triển Du Lịch Tỉnh Đến Năm 2022
  • Công Bố Quy Hoạch Chung Đô Thị Hà Giang Đến Năm 2035
  • Hà Giang Cần Phát Triển Du Lịch Theo Hướng Bền Vững
  • Quy Hoạch Phát Triển Du Lịch Khu Du Lịch Cao Nguyên Đá Đồng Văn (Hà Giang) Với Vai Trò Là Khu Du Lịch Quốc Gia
  • Với lợi thế về nguồn tài nguyên thiên nhiên và nhân văn đa dạng, phong phú, có sông Tiền, kinh Chợ Gạo kết nối TP. Hồ Chí Minh với các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) và sang cả tiểu vùng sông Mekong, cùng với hơn 70.000 ha vườn cây ăn trái đặc sản, nên tỉnh Tiền Giang đã định hướng và hỗ trợ cho người dân tham gia các hoạt động du lịch sinh thái sông nước, miệt vườn phục vụ khách tham quan, du lịch.

    Theo số liệu thống kê của Sở VH-TT&DL, năm 2022, Tiền Giang đón 1.690.000 lượt khách, trong đó có 662.000 lượt khách quốc tế, gần 70% lượng du khách đến các điểm du lịch gần gũi với môi trường thiên nhiên, trải nghiệm các giá trị văn hóa địa phương, góp phần giải quyết việc làm cho hàng ngàn lao động, nâng cao đời sống người dân địa phương.

    Tuy nhiên, bên cạnh những mặt đạt được, du lịch sinh thái ở Tiền Giang thời gian qua vẫn chưa đáp ứng kịp nhu cầu phát triển, sản phẩm du lịch còn đơn điệu, thiếu đa dạng. Nhiều hộ kinh doanh chỉ chạy theo phong trào, không theo quy hoạch nên thiếu tính chủ động trong việc đầu tư chỉnh trang vườn cây ăn trái, cảnh quan môi trường xung quanh và hầu như chỉ đáp ứng theo mùa mà chưa có sự chủ động áp dụng những tiến bộ của khoa học – kỹ thuật nhằm cho ra hoa, quả trái vụ để có thể phục vụ khách du lịch quanh năm.

    Đội ngũ quản lý, lao động ở các cơ sở du lịch còn thiếu hoặc yếu về chuyên môn, hầu hết các điểm du lịch nhà vườn hoạt động chỉ dựa vào kinh nghiệm bản thân là chính, chưa được đào tạo nhiều về năng lực quản lý, kinh doanh. Du khách đến các hộ nhà vườn phần lớn là khách quốc tế nhưng tỷ lệ người dân có trình độ ngoại ngữ để giao tiếp rất thấp. Việc liên kết giữa các hộ nhà vườn còn nhiều hạn chế, chưa quan tâm đến chất lượng, giá cả cũng không có sự thống nhất, sản phẩm chậm được cải tiến, sức cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh chưa cao…

    Theo Sở VH-TT&DL, trong thời gian tới, để phát triển du lịch sinh thái ở Tiền Giang thực sự hiệu quả và bền vững, cơ quan quản lý Nhà nước cần định hướng, đưa ra những giải pháp đồng bộ và mang tính khả thi cao như: Quy hoạch phát triển du lịch sinh thái ở những vùng có nhiều tiềm năng, lợi thế và tăng cường quản lý Nhà nước để đảm bảo việc thực hiện quy hoạch đã được phê duyệt, tránh tình trạng để người dân hoạt động tự phát. Có chính sách khuyến khích, ưu đãi đầu tư phát triển du lịch sinh thái, như hỗ trợ về vốn, về thuế, đào tạo nhân lực, quảng bá… để thu hút nguồn lực từ các doanh nghiệp, hộ dân, tạo ra sản phẩm mới mang nét đặc trưng địa phương, tăng sức hấp dẫn đối với du khách. Xây dựng và phổ biến các mô hình du lịch sinh thái tiêu biểu, phù hợp với lợi thế của các địa phương, như mô hình du lịch trồng trọt, làng nghề truyền thống, trải nghiệm cuộc sống sinh hoạt cùng với cộng đồng (homestay)… Xây dựng quy ước làng, xã trong khai thác du lịch, tránh tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, ảnh hưởng đến hình ảnh, sản phẩm du lịch Tiền Giang. Tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch (cầu, đường giao thông, bến tàu, bến xe, hệ thống điện, nước…), các biện pháp về an ninh trật tự, về bảo vệ cảnh quan, vệ sinh môi trường.

    Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực du lịch, tổ chức lớp đào tạo nghiệp vụ cho cán bộ quản lý, các doanh nghiệp du lịch, các hộ dân về kiến thức, kỹ năng du lịch, nâng cao nhận thức cho cộng đồng địa phương trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị tài nguyên du lịch. Đồng thời, tăng cường bồi dưỡng về ngoại ngữ, khoa học công nghệ, giúp doanh nghiệp, hộ dân có đủ năng lực hội nhập du lịch. Hỗ trợ tìm kiếm thị trường, giới thiệu sản phẩm, quảng bá các chương trình du lịch sinh thái qua các hội chợ, triển lãm du lịch và trên các phương tiện thông tin đại chúng.

    Tăng tính liên kết giữa các địa phương trong tỉnh và các tỉnh lân cận (Bến Tre, Vĩnh Long, Đồng Tháp…) để khai thác, phát triển sản phẩm du lịch, hạn chế việc phát triển những dịch vụ trùng lắp, tạo sự hấp dẫn cho chuyến tham quan, trải nghiệm của khách du lịch.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thông Tin, Bản Đồ Quy Hoạch Các Quận, Huyệnmới Nhất 2022
  • Quy Hoạch Chung Xây Dựng Tp. Hồ Chí Minh Đến Năm 2025
  • Đề Án Quy Hoạch Sân Bay Sapa
  • Quy Hoạch Sapa Trở Thành Trung Tâm Du Lịch Nghỉ Dưỡng Quốc Tế
  • Phê Duyệt Quy Hoạch Phát Triển Du Lịch Sapa
  • Luận Văn: Tiềm Năng Phát Triển Du Lịch Tỉnh Tiền Giang, Hot, 9Đ

    --- Bài mới hơn ---

  • Đánh Thức Tiềm Năng Du Lịch Tỉnh Hậu Giang
  • Quan Tâm Khai Thác Hiệu Quả Tiềm Năng Du Lịch
  • Kiên Giang: Nhận Đề Xuất Về Đánh Thức Tiềm Năng Du Lịch
  • Tiềm Năng Và Triển Vọng Phát Triển Du Lịch Tỉnh Phú Thọ
  • Quảng Trị Phát Huy Tiềm Năng, Thế Mạnh Về Tài Nguyên Du Lịch Tự Nhiên Và Nhân Văn
  • , DOWNLOAD ZALO 0932091562

    Published on

    Download luận văn thạc sĩ ngành địa lí học với đề tài: Tiềm năng, thực trạng và định hướng phát triển du lịch tỉnh Tiền Giang, cho các bạn làm luận văn tham khảo

    1. 1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Nguyễn Hoàng Mẫn TIỀM NĂNG, THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH TIỀN GIANG LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC Thành phố Hồ Chí Minh – 2012
    2. 2. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Nguyễn Hoàng Mẫn TIỀM NĂNG, THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH TIỀN GIANG Chuyên ngành: Địa lý học (Trừ Địa lý tự nhiên) Mã số: 60 31 95 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. TRỊNH DUY OÁNH Thành phố Hồ Chí Minh – 2012
    3. 5. 1.3.2.2. Đặc điểm……………………………………………………………………………………15 1.3.2.3. Phân loại …………………………………………………………………………………..15 1.3.3. Tài nguyên du lịch nhân văn………………………………………………………………22 1.3.3.1. Khái niệm ………………………………………………………………………………….22 1.3.3.2. Đặc điểm……………………………………………………………………………………23 1.3.3.3. Phân loại …………………………………………………………………………………..24 1.3.4. Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật ……………………………………………..28 1.3.4.1. Cơ sở hạ tầng …………………………………………………………………………….28 1.3.4.2. Cơ sở vật chất kỹ thuật………………………………………………………………..29 1.3.5. Các nhân tố kinh tế – xã hội và chính trị………………………………………………31 1.3.5.1. Dân cư và lao động …………………………………………………………………….31 1.3.5.2. Sự phát triển của nền sản xuất xã hội và các ngành kinh tế……………..32 1.3.5.3. Cách mạng khoa học – công nghệ và xu hướng hội nhập quốc tế……..33 1.3.5.4. Đô thị hóa………………………………………………………………………………….33 1.3.5.5. Điều kiện sống……………………………………………………………………………33 1.3.5.6. Nhu cầu nghỉ ngơi du lịch ……………………………………………………………34 1.3.5.7. Đường lối, chính sách …………………………………………………………………35 1.3.5.8. Thời gian rỗi………………………………………………………………………………36 1.3.5.9. Điều kiện an ninh chính trị và an toàn xã hội…………………………………36 Chương 2. TIỀM NĂNG, THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH……………..1 TỈNH TIỀN GIANG …………………………………………………………………………………..38 2.1. KHÁI QUÁT VỀ TỈNH TIỀN GIANG…………………………………………………….38 2.2. TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH TIỀN GIANG …………………….39 2.2.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên……………………………………………………………….39 2.2.1.1. Vị trí địa lý…………………………………………………………………………………39 2.2.1.2. Địa hình……………………………………………………………………………………40 2.2.1.3. Khí hậu …………………………………………………………………………………….41 2.2.1.4. Tài nguyên nước…………………………………………………………………………44 2.2.1.5. Sinh vật……………………………………………………………………………………..47
    4. 6. 2.2.2. Tài nguyên du lịch nhân văn……………………………………………………………..51 2.2.2.1. Các di tích lịch sử – văn hóa…………………………………………………………51 2.2.2.2. Lễ hội………………………………………………………………………………………..58 2.2.2.3. Các làng nghề thủ công truyền thống ……………………………………………59 2.2.2.4. Địa danh du lịch…………………………………………………………………………60 2.2.2.5. Ẩm thực……………………………………………………………………………………..62 2.3. THỰC TRẠNG DU LỊCH TỈNH TIỀN GIANG…………………………………..64 2.3.1. Khách du lịch…………………………………………………………………………………..64 2.3.2. Doanh thu từ du lịch ………………………………………………………………………..69 2.3.3. Cơ sở hạ tầng vật chất – kỹ thuật……………………………………………………….73 2.3.4. Vốn du lịch……………………………………………………………………………………..75 2.3.5. Các tuyến, điểm du lịch …………………………………………………………………….77 2.3.6. Hoạt động lưu trú……………………………………………………………………………..81 2.3.7. Nguồn nhân lực………………………………………………………………………………..84 2.3.8. Các dịch vụ bổ trợ…………………………………………………………………………….86 2.3.9. Các yếu tố khác………………………………………………………………………………..87 Chương 3. ĐỊNH HƯỚNG KHAI THÁC TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH TIỀN GIANG ĐẾN NĂM 2022……………………………………………….38 3.1. Quan điểm, mục tiêu phát triển du lịch Tiền Giang đến năm 2022………………88 3.1.1. Quan điểm phát triển du lịch …………………………………………………………….88 3.1.2. Mục tiêu phát triển du lịch Tiền Giang đến năm 2022…………………………..88 3.1.2.1. Mục tiêu tổng thể………………………………………………………………………..88 3.1.2.2. Mục tiêu cụ thể đến năm 2022 ……………………………………………………..89 3.2. Định hướng phát triển du lịch …………………………………………………………………95 3.2.1. Định hướng chung du lịch của Việt Nam…………………………………………….95 3.2.2. Định hướng du lịch của đồng bằng sông Cửu Long………………………………98 3.2.2.1. Thị trường du lịch……………………………………………………………………….98 3.2.2.2. Sản phẩm du lịch………………………………………………………………………..98 3.2.2.3. Tổ chức không gian du lịch vùng ………………………………………………….98
    5. 7. 3.2.2.4. Các tuyến du lịch vùng………………………………………………………………..99 3.2.2.5. Định hướng đầu tư:…………………………………………………………………….99 3.2.3. Định hướng du lịch của tỉnh Tiền Giang……………………………………………100 3.2.3.1. Định hướng phát triển du lịch theo ngành……………………………………100 3.2.3.2. Định hướng phát triển du lịch theo lãnh thổ…………………………………101 3.3. Các giải pháp đề xuất chủ yếu để thực hiện chiến lược phát triển du lịch Tiền Giang đến năm 2022 …………………………………………………………………………………..102 3.3.1. Giải pháp về vốn…………………………………………………………………………….102 3.3.1.1. Từ nguồn ngân sách tỉnh……………………………………………………………102 3.3.1.2. Thu hút đầu tư ………………………………………………………………………….102 3.3.2. Giải pháp liên doanh, liên kết các công ty du lịch………………………………103 3.3.3. Giải pháp đào tạo nguồn nhân lực và kiện toàn bộ máy tổ chức……………104 3.3.3.1. Đào tạo nguồn nhân lực…………………………………………………………….104 3.3.3.2. Kiện toàn bộ máy tổ chức…………………………………………………………..105 3.3.4. Giải pháp phát triển du lịch bền vững…………………………………………….106 3.3.4.1. Nhóm giải pháp về kinh tế………………………………………………………….106 3.3.4.2. Nhóm giải pháp về môi trường……………………………………………………107 3.3.4.3. Nhóm giải pháp về xã hội…………………………………………………………..110 3.3.5. Các giải pháp quảng bá – tiếp thị, thu hút khách du lịch quốc tế……….111 KẾT LUẬN………………………………………………………………………………………………113 TÀI LIỆU THAM KHẢO …………………………………………………………………………115 PHỤ LỤC…………………………………………………………………………………………………….1
    6. 8. DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT UNWTO : Đại hội đồng Tổ chức du lịch thế giới TP : Thành phố UBND : Ủy ban nhân dân GDP : Tổng sản phẩm quốc nội BO : Hợp đồng xây dựng – kinh doanh BOT : Hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao ICOR : Tỷ lệ vốn trên sản lượng tăng thêm
    7. 9. DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2.1. Nhiệt độ, số giờ nắng, độ ẩm trung bình các tháng trong năm ………….43 Bảng 2.2. Lượng mưa trung bình quân các tháng trong năm (Đơn vị: mm) ………44 Bảng 2.3. Số khách do các cơ sở lưu trú phục vụ ở Tiền Giang,………………………65 Bảng 2.4. Số khách do các cở sở lữ hành phục vụ du lịch ở Tiền Giang, ………….66 Bảng 2.5. Doanh thu của các cơ sở lưu trú ở Tiền Giang theo giá thực tế phân theo thành phần kinh tế, giai đoạn 2000 – 2010………………………………70 Bảng 2.6. Doanh thu của các cơ sở lữ hành ở Tiền Giang theo giá thực tế phân theo thành phần kinh tế, giai đoạn 2000 – 2010………………………………71 Bảng 2.7. Doanh thu của các hộ cá thể kinh doanh du lịch (nhà trọ, quán ăn uống), các doanh nghiệp trực tiếp phục vụ du lịch theo giá hiện hành ở Tiền Giang, giai đoạn 2000 – 2010 …………………………………….71 Bảng 2.8. Mức chi tiêu trong ngày của khách du lịch qua các năm ………………….72 Bảng 2.9. Cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có phục vụ du lịch ở Tiền Giang, giai đoạn 2000 – 2010 ……………………………………………………………………….73 Bảng 2.10. Kinh phí đầu tư xây dựng cơ bản phục vụ du lịch Tiền Giang, giai đoạn 2000 – 2010 ……………………………………………………………………….76 Bảng 2.11. Khách du lịch đến các khu, điểm du lịch Tiền Giang qua các năm ……80 Bảng 2.12. Số cơ sở lưu trú ở Tiền Giang, giai đoạn 2000 – 2010 …………………….81 Bảng 2.13. Số phòng nghỉ và số giường phục vụ cho du lịch ở Tiền Giang, giai đoạn 2000 – 2010. ………………………………………………………………………81 Bảng 2.14. Thời gian khách lưu trú đi du lịch ở Tiền Giang, giai đoạn 2000 – 2010 ………………………………………………………………………………………….82 Bảng 2.15. Tỷ lệ sử dụng phòng nghỉ của khách của các cơ sở lữ hành,…………….83 Bảng 2.16. Hiện trạng nguồn nhân lực phục vụ du lịch ở Tiền Giang qua các năm …………………………………………………………………………………………..84 Bảng 2.17. Kinh phí và số lượng lao động đào tạo phục vụ du lịch Tiền Giang, giai đoạn 2000 – 2010 …………………………………………………………………85 Bảng 3.1. Dự kiến tăng trưởng GDP ngành du lịch thời kỳ 2022 – 2022 (Theo giá so sánh 1994)………………………………………………………………………..89 Bảng 3.2. Dự kiến tăng trưởng GDP du lịch thời kỳ 2022-2020 ( Theo giá hiện hành) ………………………………………………………………………………….90 Bảng 3.3. Dự kiến nhu cầu vốn đầu tư du lịch thời kỳ 2011-2020……………………93 Bảng 3.4. Chỉ tiêu về doanh thu du lịch, giai đoạn 2013 – 2022………………………94
    8. 10. DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1. Thể hiện khách du lịch trong nước và quốc tế đến Tiền Giang……..64 Biểu đồ 2.2. Thể hiện doanh thu du lịch theo giá hiện hành ở Tiền Giang, giai đoạn 2005 – 2010……………………………………………………………..69 Biểu đồ 3.1. Dự kiến tăng trưởng khách du lịch – Phương án I, giai đoạn 2022 – 2022 …………………………………………………………………………..91 Biểu đồ 3.2. Dự kiến tăng trưởng khách du lịch – Phương án II, giai đoạn 2022 – 2022 …………………………………………………………………………..92
    9. 11. DANH MỤC CÁC BẢN ĐỒ Hình 1. Bản đồ hành chính tỉnh Tiền Giang Hình 2. Bản đồ du lịch tỉnh Tiền Giang
    10. 12. MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Trong định hướng phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia trên thế giới đều chú trọng đến quy hoạch và định hướng phát triển ngành du lịch. Bởi lẽ, đây được coi là ngành có sự đóng góp rất lớn đến sự phát triển chung của nền kinh tế. Những năm gần đây, ngành du lịch được chú trọng phát triển rộng khắp trên thế giới. Du lịch đã đem lại nhiều công ăn việc làm cho nhiều người dân cũng như đem lại thu nhập khá cao. Ngày nay, do đời sống được cải thiện, do nhu cầu thay đổi môi trường sống, muốn hướng đến nơi ở mới, nhìn thiên nhiên, cảnh vật, món ăn mới. Đồng thời thích khám phá, nghiên cứu, học tập, nghỉ dưỡng của một số bộ phận dân cư. Từ đó, đã tác động trực tiếp, kích thích ngành du lịch phát triển nhanh chóng. Ở Việt Nam, với thời hội nhập kinh tế quốc tế, hợp tác , giao lưu với bạn bè khắp nơi trên thế giới. Việt Nam muốn quảng bá hình ảnh nước nhà đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc, giàu lòng yêu nước, yêu chuộng hòa bình, hợp tác hữu nghị thì hoạt động du lịch là ngành đi tiên phong trong công tác đối ngoại. Mặt khác, đây cũng được coi là ngành góp phần phát triển kinh tế – xã hội của nước nhà rất lớn. Từ đó, thực hiện tốt xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nước ta theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trước tình hình phát triển du lịch mạnh mẽ của đất nước, ngành du lịch tỉnh Tiền Giang đang từng bước khai thác tiềm năng, xây dựng các sản phẩm du lịch có chất lượng với những lợi thế của mình. Phát triển du lịch cũng là đáp ứng nhu cầu của khách du lịch trong và ngoài nước. Trong quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh đến năm 2022, thì du lịch được coi là ngành trọng tâm phát triển của tỉnh. Tuy nhiên, hiện nay các loại tiềm năng du lịch Tiền Giang chưa khai thác hết chủ yếu là còn ở dạng tiềm năng. Cho nên việc xác định lợi thế tiềm năng để hướng đến các loại hình, sản phẩm, xây dựng các tuyến điểm du lịch là rất quan trọng. Nhằm hướng đến chiến lược phát triển du lịch lâu dài, vấn đề đánh giá thực trạng phát triển du lịch của tỉnh là rất cần thiết. Dựa vào tiềm năng, thực trạng hiện có thì mới hướng tới một định hướng phát triển lâu dài và bền vững. Chính vì các lý do đó mà
    11. 13. tôi chọn đề tài ” Tiềm năng, thực trạng và định hướng phát triển du lịch tỉnh Tiền Giang” làm đề tài luận văn tốt nghiệp. 2. Mục đích nghiên cứu Đề tài tập trung giải quyết những vấn đề cơ bản sau: – Tổng quan về một số cơ sở lý luận và thực tiễn du lịch trên thế giới và Việt Nam, vận dụng vào thực tế phát triển du lịch ở tỉnh Tiền Giang. – Phân tích tiềm năng, thực trạng, định hướng phát triển du lịch tỉnh Tiền Giang đến năm 2022. – Trên cơ sở lý luận về phát triển du lịch, các định hướng cũng như giải pháp phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia, của khu vực để định hướng cho phát triển du lịch tỉnh Tiền Giang 3. Nhiệm vụ nghiên cứu Nhiệm vụ quan trọng của đề tài là phải xác định đúng các mục tiêu định hướng phát triển du lịch của tỉnh Tiền Giang. Đồng thời cần phân tích, đánh giá các tiềm năng, thực trạng phát triển du lịch. Nắm bắt các chiến lược, định hướng phát triển du lịch của Việt Nam, của vùng đồng bằng sông Cửu Long, các giải pháp thực hiện cho phát triển du lịch. Qua đó, thực hiện các trọng tâm mà đề tài đề cập đến trong một thời gian nhất định. 4. Phạm vi, giới hạn của đề tài 4.1 Phạm vi Đề tài được thực hiện trong phạm vi phát triển du lịch của tỉnh Tiền Giang. Phân tích, đánh giá không gian ở mức độ tổ chức lãnh thổ du lịch trong phạm vi một tỉnh. 4.2. Giới hạn Đề tài được giới hạn ở mức độ phân tích, đánh tiềm năng, thực trạng và định hướng phát triển du lịch ở tỉnh Tiền Giang đến năm 2022, ngoài các nội dung khác không đề cập đến. Trong quá trình thực hiện đề tài có sử dụng các nội dung khác để làm rõ nội dung trọng tâm nghiên cứu.
    12. 14. 5. Lịch sử nghiên cứu đề tài 5.1. Thế giới Các nhà Địa lý học bắt đầu quan tâm đến lĩnh vực du lịch từ những năm 30 (Mc Murray 1930, Jones 1935, Selke 1936) và đặc biệt là sau chiến tranh thế giới thứ hai. Nhiều nhà khoa học người Mỹ, Anh, Canađa đã nghiên cứu về du lịch ở góc độ Địa lý như: Gilbert (1949), Wolfe (1951), Coppock (1977). Đã có nhiều công trình nghiên cứu cũng như các hội thảo, hội nghị về việc nghiên cứu du lịch như các nghiên cứu nổi bật: nghiên cứu về sức chứa và ổn định của các địa điểm du lịch (Kadaxkia, 1972; Sepfer, 1973), nghiên cứu về vùng thích hợp cho mục đích nghĩ dưỡng trên lãnh thổ Liên Xô trước đây do các nhà du lịch cảnh quan Đại học tổng hợp Maxcơva (E.B.Xmirnova, V.B.Nhefedova) hay công trình khai thác lãnh thổ du lịch của I.I.Pirojnic (Belorutxia), Jean Piere (France) về phân tích các điểm du lịch và vùng du lịch. Theo dự báo mới nhất trong báo cáo “Du lịch hướng tới 2030” công bố tại kỳ họp thứ 19 của Đại hội đồng Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) diễn ra từ 08- 14/10/2011 tại Hàn Quốc, lượng khách du lịch quốc tế sẽ tiếp tục tăng lên một cách vững chắc trong hai thập kỷ tới và đạt con số 1,8 tỷ vào năm 2030. “Trong 20 năm tới, du lịch sẽ tiếp tục phát triển với xu hướng vừa phải, có trách nhiệm và toàn diện”, Tổng thư ký UNWTO, Taleb Rifai đã phát biểu, “Sự tăng trưởng này tạo ra những cơ hội to lớn, du lịch có thể đóng vai trò dẫn đầu, dẫn dắt kinh tế tăng trưởng, tiến bộ xã hội và môi trường bền vững” 5.2. Việt Nam Du lịch bắt đầu được nghiên cứu và được nhà nước chủ trương phát triển từ những thập niên 90. Các công trình được coi là điểm khởi đầu cho ngành du lịch nước nhà như dự án VIE/89/003 về kế hoạch chỉ đạo phát triển du lịch Việt Nam do tổ chức Du lịch thế giới (OMT) thực hiện, quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 1995 – 2000 do Viện nghiên cứu phát triển du lịch tiến hành (1994). Gần đây Chính phủ phê duyệt ” Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030″ (2011). Đề án phát triển du lịch Đồng bằng sông
    13. 15. Cửu Long do Tổng cục du lịch thực hiện (2010) và các quyển sách đã được biên soạn: Tổ chức lãnh thổ du lịch, Cơ sở địa lý du lịch, Địa lý du lịch, Tổng quan du lịch, Quy hoạch du lịch, Tuyến điểm du lịch, Tài nguyên du lịch,…Trên phạm vi cả nước nhiều công trình nghiên cứu khoa học như: luận văn, luận án, các tạp chí khoa học đã thực hiện rất nhiều bài về du lịch Việt Nam cũng như các địa phương. Ở Tiền Giang, du lịch được chú trọng phát triển. Cụ thể là “Quy hoạch phát triển du lịch tỉnh Tiền Giang đến năm 2022”. Du lịch cũng là ngành được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt “quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Tiền Giang đến năm 2022”. Có nhiều đề tài nghiên cứu về du lịch của các sinh viên và học viên cao học ở các trường đại học như: Đại học Cần Thơ, Đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh,…Các đề tài này nghiên cứu ở các góc độ tiềm năng hay thực trạng những năm trước đó. Mặt khác, một số đề tài đánh giá du lịch ở góc độ kinh tế nhiều hơn không quan tâm nhiều đến định hướng và đưa ra các giải pháp khai thác ở từng thời gian nhất định để phù hợp với định hướng phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh. 6. Quan điểm 6.1. Quan điểm hệ thống Hệ thống lãnh thổ du lịch được cấu thành bởi nhiều phan hệ khác nhau về bản chất nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau. Quan điểm hệ thống giúp chúng ta nắm bắt và điều khiển được hoạt động của mỗi phân hệ nói riêng và toàn bộ hệ thống du lịch nói chung. Hệ thống lãnh thổ du lịch là một hệ thống phức tạp gồm nhiều thành phần có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Đây là một dạng đặc biệt của địa hệ mang tính chất hỗ hợp, có đầy đủ các thành phần: tự nhiên, kinh tế – xã hội và chịu sự chi phối của nhiều quy luật cơ bản. Vì vậy, quan điểm hệ thống luôn được quán triệt trong nghiên cứu luận văn. Du lịch tỉnh Tiền Giang là một bộ phận hợp thành trong hệ thống lãnh thổ du lịch Việt Nam và đồng thời cũng chính là một hệ thống lãnh thổ gồm nhiều thành phần tự nhiên và kinh tế – xã hội cần được phân tích, đánh giá trong quá trình nghiên cứu một cách cụ thể.
    14. 16. 6.2. Quan điểm lãnh thổ Khi nghiên cứu địa lý không thể tách rời các đối tượng hợp thành bộ phận lãnh thổ cụ thể đặc trưng cho vùng, miền. Lãnh thổ du lịch tổ chức như một hệ thống liên kết không gian của các đối tượng du lịch và trên cơ sở các nguồn tài nguyên, các dịch vụ cho du lịch. Quan điểm này được vận dụng vào luận văn thông qua việc phân tích các tiềm năng và tác động nhiều mặt đối với lãnh thổ du lịch Tiền Giang. Kết hợp có quy luật trên cơ sở phân tích, tổng hợp các thành phần của hệ thống lãnh thổ du lịch, phát hiện và xác định những đặc thù của chúng. 6.3. Quan điểm lịch sử – viễn cảnh Mọi sự vật, hiện tượng đều có sự vận động, biến đổi và phát triển. Nghiên cứu quá khứ để có cơ sở cho việc đánh giá đúng hiện tại, phân tích nguồn gốc phát sinh, phát triển tạo tiền đề cho việc dự báo tương lai, dự báo xu hướng phát triển tiếp theo. Qua đó, mà đưa ra các định hướng, mục tiêu, giải pháp phát triển du lịch theo đúng với tiềm năng hiện có và khai thác tốt trong du lịch. Quan điểm này được vận dụng trong qua trình phân tích các giai đoạn chủ yếu của quá trình hình thành, phát triển hệ thống du lịch, các phân hệ cũng như xu hướng phát triển của hệ thống lãnh thổ. Cần xem xét thực trạng phát triển du lịch, các nguồn lực phát triển du lịch để thấy được những quy luật phát triển trong quá khứ và hiện tại, đồng thời dự báo được các định hướng, mục tiêu, chiến lược phát triển du lịch trong tương lai. 7. Phương pháp nghiên cứu 7.1. Phương pháp khảo sát thực địa và thu thập tài liệu Đây là phương pháp truyền thống và đặc thù của việc nghiên cứu địa lý. Phương pháp này được xem là rất quan trọng trong nghiên cứu khoa học nhằm tích lũy kho tài liệu từ thực tế về phát triển du lịch. Trong quá trình viết đề tài, phương pháp này luôn được chú trọng hàng đầu để thực hiện các bước tiến hành để làm thỏa mãn giữa lý luận và thực tiễn. Trong nghiên cứu du lịch, các thông tin thu thập được qua điều tra thực tế giúp các nhà nghiên cứu tổng hợp được nhiều ý kiến và quan điểm của các khách du lịch, các nhà quản lý du lịch một cách khách quan. Đây cũng
    15. 19. Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH 1.1. CÁC KHÁI NIỆM VỀ DU LỊCH 1.1.1. Khái niệm về du lịch Thuật ngữ du lịch ngày nay được sử dụng phổ biến trên thế giới. Tuy nhiên, có nhiều ý kiến khác nhau về nguồn gốc của thuật ngữ này. Theo một số học giả, du lịch bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp “Tonos” nghĩa là đi một vòng. Thuật ngữ này latinh hóa thành “Turnur” và sau đó thành “Tour” (tiếng Pháp), nghĩa là đi vòng quanh, cuộc dạo chơi, còn “Touriste” là người đi dạo chơi. Theo Robert Langquar (năm 1980), từ “Tourism” (du lịch) lần đầu tiêu xuất hiện trong tiếng Anh khoảng năm 1800 và được quốc tế hóa nên nhiều nước đã sử dụng trực tiếp mà không dịch nghĩa. Một số học giả khác lại cho rằng du lịch không phải xuất phát từ tiếng Hi Lạp mà từ tiếng Pháp “le tour”, có nghĩa là một cuộc hành trình đến nơi nào đó và quay trở lại, sau đó từ gốc này ảnh hưởng ra phạm vi toàn thế giới…Như vậy, nhìn chung chưa có sự thống nhất về nguồn gốc thuật ngữ du lịch, song điều cơ bản của thuật ngữ này đều bắt nguồn từ gốc là cuộc hành trình đi một vòng, tự một nơi này đến một nơi khác và có quay trở lại. Trong tiếng Việt, thuật ngữ du lịch được giải nghĩa theo âm Hán – Việt: du có nghĩa là đi chơi, lịch có nghĩa là sự từng trải. Cũng tương tự như vậy, có nhiều quan niệm không giống nhau về khái niệm du lịch. Năm 1811, định nghĩa về du lịch lần đầu tiên xuất hiện tại nước Anh: “Du lịch là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lý thuyết và thực hành của các cuộc hành trình với mục đích giải trí”. Khái niệm này tương đối đơn giản và coi giải trí là động cơ chính của hoạt động du lịch. Năm 1930, Glusman người Thụy Sĩ định nghĩa: “Du lịch là sự chinh phục không gian của những người đến một địa điểm, mà ở đó họ không có chỗ cư trú thường xuyên”. Hai học giả Hunziker và Krapf, những người đặt nền móng cho lý thuyết về cung – cầu du lịch, đưa ra ý nghĩa: “Du lịch là tập hợp của các mối quan hệ và các
    16. 22. 1.2. VAI TRÒ CỦA DU LỊCH TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI 1.2.1. Đối với kinh tế Con người là lực lượng sản xuất chủ yếu của xã hội. Hoạt động sản xuất là cơ sở tồn tại của xã hội. Việc nghỉ ngơi, du lịch một cách tích cực và được tổ chức hợp lý sẽ đem lại những tốt đẹp. Một mặt, nó góp phần vào việc hồi phục sức khỏe cũng như khả năng lao động và mặt khác đảm bảo tái sản xuất mở rộng lực lượng lao động với hiệu quả kinh tế rõ. Thông qua hoạt động nghỉ ngơi, du lịch, tỉ lệ ốm đau trong khi làm việc giảm đi, tỉ lệ tử vong ở độ tuổi lao động hạ thấp và rút ngắn thời gian chữa bệnh, giảm số lần khám bệnh tại các bệnh viện. Ở các nước kinh tế phát triển, nguồn lao động gia tăng rất chậm. Vì thế, sức khỏe và khả năng lao động trở thành nhân tố quan trọng để đẩy mạnh sản xuất xã hội và nâng cao hiệu quả của nó. Ngoài ra, vai trò kinh tế của du lịch còn thể hiện ở chỗ du lịch – ngành “công nghiệp không khói”, ảnh hưởng đến tình hình và cơ cấu của nhiều ngành kinh tế (nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, ngoại thương) và là cơ sở quan trọng cho nền kinh tế phát triển. Việc phát triển du lịch kích thích sự phát triển kinh tế, mang lại nguồn thu ngoại tệ lớn của nhiều quốc gia. 1.2.2. Đối với xã hội Du lịch có vai trò quan trọng trong việc giữ gìn, hồi phục sức khỏe cho nhân dân. Trong chừng mực nào đó, du lịch có tác dụng hạn chế bệnh tật, kéo dài tuổi thọ và khả năng lao động của con người. Các công trình nghiên cứu về sinh học khẳng định rằng, nhờ chế độ nghỉ ngơi tích cực, bệnh tật của dân cư trung bình giảm 30%, bệnh đường hô hấp giảm 40%, bệnh thần kinh giảm giảm 30%, bệnh tiêu hóa giảm 20% (Crirosep, Dorin, 1981). Khi mọi người có điều kiện tiếp xúc với nhau, gần gũi nhau hơn, những đức tính tốt của con người được thể hiện rõ nét. Du lịch là điều kiện để con người xích lại gần nhau, thông qua du lịch mọi người hiểu nhau hơn, tăng thêm tính đoàn kết cộng đồng. Điều này dễ nhận thấy ở lứa tuổi thanh niên, ở những cơ quan có chế độ làm việc ít tập trung hay làm việc căng thẳng theo dây chuyền.
    17. 23. Du lịch góp phần quan trọng trong việc giữ gìn, bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc, nâng cao long yêu nước, yêu thiên nhiên. Sự phát triển du lịch tác động nhiều đến các mặt văn hóa, xã hội của nơi đến. Ngược lại, du khách cũng bị ảnh hưởng nhất định bởi sự tương phản, khác biệt về văn hóa, đời sống của các nước, các vùng họ đến thăm. Họ có cơ hội để tìm hiểu và học hỏi lối sống và phong tục tập quán của dân tộc khác. Một trong những đặc điểm của du lịch là khuyến khích khôi phục những nét văn hóa bị mai một, phục hưng và duy trì các loại hình nghệ thuật cổ truyền như âm nhạc truyền thống, các điệu múa nghi lễ,…; làm sống lại các phong tục, tập quán đẹp, bảo tồn các công trình văn hóa và tạo ra thị trường mới cho các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật. Thông qua hoạt động du lịch, đông đảo quần chúng nhân dân có điều kiện tiếp xúc với các thành tựu văn hóa phong phú và lâu đời của các dân tộc, từ đó tăng thêm long yêu nước tinh thần đoàn kết quốc tế, hình thành phẩm chất tốt đẹp như long yêu lao động, tình yêu quê hương đất nước,…Điều đó quyết định sự phát triển về nhân cách của mỗi cá nhân trong xã hội. Du lịch được xem như nhân tố củng cố hòa bình, đẩy mạnh các mối giao lưu quốc tế, mở rộng sự hiểu biết giữa các dân tộc. Du lịch quốc tế làm cho con người sống ở các khu vực khác nhau hiểu biết và xích lại gần nhau hơn. 1.2.3. Đối với môi trường, sinh thái Du lịch là nhân tố có tác dụng kích thích việc bảo vệ và khôi phục môi trường thiên nhiên bao quanh, bởi vì chính môi trường này có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và các hoạt động của con người. Việc tắm mình trong thiên nhiên, được cảm nhận trực tiếp sự hùng vĩ, trong lành và nên thơ của các cảnh quan có ý nghĩa quan trọng đối với du khách. Nó tạo cho họ có điều kiện hiểu biết sâu sắc về tự nhiên, thấy được giá trị của tự nhiên đối với đời sống con người, là bằng chứng thực tiễn phong phú góp phần tích cực vào việc giáo dục môi trường. Mặt khác, việc đẩy mạnh hoạt động du lịch, tăng mức tập trung khách vào những vùng nhất định đòi hỏi phải tối ưu hóa quá trình sử dụng tự nhiên với mục đích du lịch. Đến lượt mình, quá trình này kích thích sự tìm kiếm các hình thức bảo
    18. 24. vệ tự nhiên và đảm bảo điều kiện sử dụng chúng một cách hợp lý. Nhu cầu nghỉ ngơi, du lịch của đông đảo quần chúng đòi hỏi phải hình thành các kiểu cảnh quan được bảo vệ giống như các công viên quốc gia. Từ đó hang loạt công viên thiên nhiên quốc gia (vườn quốc gia) đã được thành lập vừa để bảo vệ cảnh quan thiên nhiên có giá trị, vừa tổ chức các hoạt động giải trí du lịch. Giữa xã hội và môi trường trong lĩnh vực du lịch có mối quan hệ chặt chẽ. Một mặt, xã hội đảm bảo sự phát triển tối ưu của du lịch, nhưng mặt khác phải bảo vệ môi trường tự nhiên khỏi tác động xâm hại của các dòng khách du lịch cũng như việc xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật phục vụ du lịch. Như vậy, giữa du lịch và bảo vệ môi trường có mối quan hệ qua lại với nhau. 1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN DU LỊCH 1.3.1. Khái niệm về tài nguyên du lịch Tài nguyên du lịch là một dạng trong toàn bộ tài nguyên được con người sử dụng. Đã có nhiều tác giả đưa ra định nghĩa về tài nguyên du lịch. Theo Huttch và cộng sự (2002): “Tài nguyên du lịch là các thành phần và thể cảnh quan tự nhiên và nhân sinh có thể dùng để tạo ra sản phẩm du lịch, thỏa mãn như cầu về chữa bệnh, thể thao, nghỉ ngơi hay tham quan, du lịch”. Nguyễn Minh Tuệ và nnk cũng cho rằng: “Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên và văn hóa lịch sử cúng các thành phần của chúng góp phần khôi phục, phát triển thể lực, trí lực của con người, khả năng và sức khỏe của họ. Những tài nguyên này được sử dụng cho nhu cầu trực tiếp và gián tiếp, cho việc sản xuất dịch vụ du lịch”. Theo các nhà khoa học du lịch Trung Quốc định nghĩa là: “Tất cả giới tự nhiên và xã hội loài người có sức hấp dẫn khách du lịch, có thể sử dụng cho ngành du lịch, có thể sản sinh ra hiệu quả kinh tế – xã hội và môi trường đều có thể gọi là tài nguyên du lịch”. Theo khoản 4 (Điều 4, chương 1) Luật du lịch Việt Nam năm 2005 quy định: “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, du lịch lịch sử văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có
    19. 26. Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005), quy định tại chương II, điều 13: “Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch” 1.3.2.2. Đặc điểm – Nếu được quy hoạch, bảo vệ, khai thác hợp lý theo hướng bền vững thì phần lớn các loại tài nguyên du lịch tự nhiên được xếp vào loại tài nguyên vô tận, tài nguyên có khả năng tái tạo hoặc có quá trình suy thoái chậm. Ví dụ: tài nguyên nước theo quy luật tuần hoàn nếu rừng được bảo vệ và khai thác hợp lý, tài nguyên nước không bị ô nhiễm bởi các chất thải từ đời sống, sản xuất, tài nguyên nước được xếp vào tài nguyên vô tận. – Hầu hết việc khai thác tài nguyên du lịch tự nhiên chịu ảnh hưởng nhiều vào điều kiện thời tiết, việc tổ chức các tour leo núi, tham quan các vùng núi hay đi nghỉ biển, tham quan sông nước phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện thời tiết. Đặc biệt không thể tổ chức các tour du lịch sông nước vào mùa lũ, không thể tắm biển vào mùa rét. Vào mùa khô trữ lượng nước của các thác nước, hồ nước, hệ thống sông cạn nước nên khó khăn cho việc hoạt động du lịch thể thao nước và tham quan sông nước. – Một số điểm phong cảnh và du lịch dựa vào tài nguyên tự nhiên thường nằm xa các khu dân cư. Đặc điểm này một mặt gây tốn kém, khó khăn cho việc tổ chức các hoạt động du lịch, mặt khác nó lại là nhân tố góp phần làm cho tài nguyên du lịch tự nhiên hấp dẫn, được bảo tồn tốt hơn do ít chịu ảnh hưởng tiêu cực bởi các hoạt động kinh tế – xã hội. Ví dụ như một số vườn Quốc gia Ba Bể, Tam Đảo, Hoàng Liên Sơn, Pù Mát, Vụ Quang, Phong Nha – Kẻ Bàng, Bạch Mã,…Các thác nước như: Thác Bạc (Tam Đảo), Thác Bảo Giốc (Cao bằng), thác Ponggua Premn (Đà Lạt),… 1.3.2.3. Phân loại * Địa hình:
    20. 28. chính: nhiệt độ và độ ẩm không khí. Ngoài ra, một số yếu tố khác như gió, lượng mưa, thành phần lý hóa, vi sinh của không khí, áp suất khí quyển, ánh nắng mặt trời và các hiện tượng thời tiết đặc biệt,…cũng thường xuyên tác động đến sức khỏe con người. Nhìn chung, những nơi có khí hậu điều hòa thường được khách du lịch ưa thích. Nhiều cuộc thăm dò cho thấy khách du lịch thường tránh những nơi quá lạnh, quá ẩm, hoặc quá nóng, quá khô. Những nơi có nhiều gió cũng không thích hợp cho sự phát triển của du lịch. Về sự phù hợp của khí hậu đối với sức khỏe của con người, từ lâu đã được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Viện sĩ Hàn lâm Khoa học Liên Xô E.E. Phêđôrôv (1921) đã đề xuất phương pháp khí hậu tổng hợp để phân tích các thành phần khí hậu. Cơ sở của phương pháp này là thống kê những kiểu thời tiết hằng ngày tại một điểm nào đó. Các kiểu thời tiết này đã được xác định bằng sự cảm nhận trực tiếp từ giác quan con người nên rất phù hợp với yêu cầu phân tích – đánh giá phục vụ mục đích du lịch. Điều kiện thời tiết cũng ảnh hưởng đến việc thực hiện các chuyến đi hoặc hoạt động du lịch. Du khách thường mong muốn những ngày nắng đẹp để đi lại, tham quan, mua sắm, quay phim, chụp ảnh kỷ niệm,…Ở mức độ nhất định, cần phải lưu ý tới những hiện tượng thời tiết đặc biệt làm cản trở tới kế hoạch du lịch, ví dụ như những tai biến của thên nhiên (bão, gió mùa, gió bụi, lũ lụt, cát bay,…). Tính mùa của du lịch chịu tác động chủ yếu của các nhân tố khí hậu. Tác động của khí hậu đối với sức khỏe con người và việc triển khai các hoạt động du lịch diễn ra theo chiều hướng và mức độ khác nhau ở những thời điểm khác nhau trong năm gây nên sự khác biệt về hoạt động du lịch theo mùa, mà trước hết là số lượng khách, thời gian lưu lại, kéo theo những thay đổi về công suất sử dụng giường, buồng, doanh thu,…tạo ra mùa vụ trong năm của hoạt động du lịch. Các vùng khác nhau có tính mùa du lịch không như nhau do ảnh hưởng của các thành phần khí hậu. – Mùa du lịch cả năm (liên tục) thích hợp với loại hình du lịch chữa bệnh suối khoáng, du lịch trên núi cả mùa đông và mùa hè. Tất nhiên, trong thực tế, hiếm
    21. 29. khi có sự phân bố đồng đều các dòng khách du lịch theo mùa vì nó chịu ảnh hưởng tổng hợp của nhiều nguyên nhân (tự nhiên, kinh tế – xã hội, kỹ thuật,…). – Mùa đông là mùa du lịch trên núi đối với một số vùng ôn đới. Sự kéo dài của mùa đông có ảnh hưởng tới khả năng phát triển du lịch thể thao mùa đông và các loại hình du lịch mùa đông khác. – Mùa hè là mùa du lịch quan trọng nhất vì có có thể phát triển nhiều loại hình du lịch như du lịch biển, du lịch núi,…Khả năng du lịch ngoài trời vào mùa hè khá phong phú và đa dạng. Mùa mưa đối với khu vực nhiệt đới ẩm Đông Nam Á là thời gian có các tháng liên tục đạt lượng mưa trên 100mm với tần suất đảm bảo ≥ 75% (L.R. Oldeman, M. Frere, nghiên cứu khí hậu nông nghiệp nhiệt đới ẩm Đông Nam Á, Tổ chức khí tượng Thế giới, 1986). Rõ ràng mùa này không thuận lợi cho hoạt động du lịch. Một số hiện tượng thời tiết có thể tác động đến sự ổn định và bền vững của các thành phần tự nhiên khác cũng như các công trình nhân tạo. Các kiểu thời tiết đặc biệt như mưa lơn, lũ lụt, bão, lốc hay gió tây khô nóng có thể phá hủy các thành phần thiên nhiên khác cũng như các cảnh quan du lịch hoặc các công trình nhân tạo, thậm chí trong một thời gian rất ngắn. Ngoài ra, một số yếu tố thời tiết còn ảnh hưởng thường xuyên và mạnh mẽ đến sự xuống cấp các công trình, nhất là công trình kiến trúc cổ. Quy luật chung là độ ẩm, nhiệt độ và biên độ nhiệt càng cao thì tốc độ phá hủy càng lớn. *Nguồn nước: Tài nguyên nước bao gồm nước trên lục địa và biển, đại dương. Nước trên lục địa có nước mặt (sông, hồ các loại) và nước dưới đất (nước ngầm). Có gí trị đối với du lịch là nước trên mặt (cơ sở để hình thành các loại hình du lịch sông nước, du lịch hồ và vùng biển (tiền đề cho các loại hình du lịch biển,…). Nước rất cần thiết cho đời sống và các nhu cầu khác của xã hội. Đáp ứng cho những nhu cầu này đòi hỏi phải có nguồn nước ngọt dồi dào. Các tổ hợp du lịch ở
    22. 30. vùng khô hạn và nửa khô hạn, cũng như ở các vùng thuộc các đới khí hậu cạn nhiệt và ôn đới thì nhu cầu cung cấp nước là rất lớn. Nguồn nước phục vụ nhu cầu sinh hoạt của du khách được đánh giá thông qua các tiêu chí: vị trí, số lượng và chất lượng nước của hai nguồn: nước mặt và nước ngầm. Vị trí của nguồn nước thể hiện ở khoảng cách từ nguồn nước đến địa bàn hoạt động du lịch, chủ yếu là các điểm lưu trú của du khách. Về chất lượng, nếu nguồn nước bị ô nhiễm thì thành phần của nó bị biến đổi và không phù hợp để sử dụng hằng ngày. Sự biến đổi này bao gồm cả tính chất lý, hóa và sinh học của nước làm cho nước trở thành độc hại, ảnh hưởng đến sức khỏe của con người. Như vậy, xét về chất lượng nước thì phải chú ý đến tính lý, hóa học và sinh học của nước. Chúng được thể hiện ở màu sắc, độ trong, mùi, nhiệt độ, tính chất phóng xạ, các chất hữu cơ và các chất vô cơ trong nước, vi khuẩn,…Các tiêu chuẩn về chất lượng nước nói chung hoặc theo mục đích sử dụng đã được các cơ quan chức năng của Nhà nước công bố. Ngoài phục vụ nhu cầu sinh hoạt, các dạng địa hình chứa nước, chủ yếu là nước mặt còn tạo những phong cảnh đẹp. Mặt nước là không gian để có thể xây dựng các công trình dịch vụ du lịch như nhà hàng, khách sạn nổi, bến thuyền,…Các khách sạn, nhà hàng nổi là các cơ sở thu hút rất đông du khách nhờ vị trí độc đáo, cảnh quan ngoạn mục và khả năng cơ động của chúng. Nhiều loại hình du lịch được triển khai dựa trên đặc điểm của nguồn nước. Chẳng hạn như nước khoáng phục vụ cho du lịch chữa bệnh, những dòng sông thơ mộng, có tốc độ dòng chảy nhỏ, phù hợp cho hoạt động du thuyền, còn thác nước có thể gắn với du lịch mạo hiểm. Du lịch biển có điều kiện thuận lợi nhờ khí hậu mát mẻ cho phép nghỉ ngơi dài ngày, nhờ những bãi cát ven bờ để có thể vừa tắm biển, lại vừa tắm nắng, tắm khí trời trong lành. Nói chung, giới hạn nhiệt độ ở lớp nước trên mặt tối thiểu có thể chấp nhận được là 180 C, đối với trẻ em là 200 C. Cùng với các tiêu chí cơ bản trên, cần chú ý đến tần suất và tính chất của sóng, độ sạch của nước. Biển với dòng chảy
    23. 31. ven bờ có tốc độ nhỏ, nước trong và sóng vừa phải thì phù hợp với tắm biển; sóng lớn phù hợp lướt sóng; nước trong và có nhiều động thực vật đẹp phù hợp với môn lặn biển,… Tài nguyên nước không chỉ có tác dụng trực tiếp đến hoạt động du lịch, như đã nêu trên. Ngoài ra, nó còn gián tiếp ảnh hưởng đến du lịch thông qua tác động đến các thành phần khác của môi trường sống, đặc biệt là khí hậu ở quanh các bồn chứa nước lớn,… *Sinh vật: Hiện nay, khi mức sống của con người ngày càng nâng cao thì nhu cầu nghỉ ngơi, tham quan du lịch và giải trí trở thành cấp thiết. Thị hiếu về du lịch cũng ngày càng đa dạng và phong phú. Ngoài một số hình thức truyền thống như tham quan phong cảnh, các di tích văn hóa – lịch sử của loài người, đã xuất hiện một số hình thức mới, với sức hấp dẫn rất lớn đối với khách du lịch. Đó là du lịch ở các khu bảo tồn thiên nhiên với đối tượng tham quan là các loại động – thực vật. Việc tham quan du lịch trong thế giới động – thực vật sống động, hài hòa trong thiên nhiên làm cho con người tăng thêm lòng yêu cuộc sống. Sở dĩ một số nước châu Phi, khu vực Đông Âu và vùng Đông Nam Á thu hút được đông đảo khách du lịch một phần là do họ biết tận dụng khai thác các tiềm năng thiên nhiên, trong đó có tài nguyên động – thực vật cùng với sự đa dạng của nó. Không phải mọi tài nguyên động thực vật nào cũng là đối tượng du lịch. Để phục vụ cho các mục đích du lịch khác nhau, người ta đã đưa ra các tiêu chí sau đây: -Tiêu chí phục vụ mục đích tham quan du lịch: + Thảm thực vật phong phú, độc đáo và điển hình. + Có loài đặc trưng cho khu vực, loài đặc hữu, loài quý hiếm đối với thế giới và trong nước. + Có một số động vật (thú, chim, bò sát, côn trùng, cá,…) phong phú hoặc điển hình cho vùng.
    24. 32. + Có các loại có thể khai thác dưới dạng đặc sản phục vụ nhu cầu khách du lịch. + Thực, động vật có màu sắc hấp dẫn, vui mắt, một số loài phổ biến dễ quan sát bằng mắt thường, ống nhòm hoặc nghe tiếng hót, tiếng kêu và có thể chụp ảnh được. + Đường sá (đường tròn) thuận tiện cho đi lại quan sát, vui chơi của khách. -Tiêu chí đối với du lịch săn bắn thể thao: Quy định loài được săn là loài phổ biến, không ảnh hưởng đến số lượng, quỹ gen; loài động vật hoạt động (ở dưới nước, mặt đất, trên cây) nhanh nhẹn, có địa hình tương đối dễ vận động, xa khu cư trú của dân cư. Ngoài ra, khu vực dành cho săn bắn thể thao phải tương đối rộng, đảm bảo tầm bay của đạn và bảo đảm an toàn tuyệt đối cho khách du lịch. Cấm dùng súng quân sự, mìn và chất nổ nguy hiểm. Thật ra, trong điều kiện hiện tại, nhiều nước đã khuyến cáo không nên phát triển loại hình du lịch này nhằm bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, ngăn chặn thói quen hủy diệt động vật. -Đối với mục đích du lịch nghiên cứu khoa học: + Nơi có hệ thực, động vật phong phú và đa dạng. + Nơi còn tồn tại loài quý hiếm. + Nơi có thể đi lại quan sát, chụp ảnh. + Có quy định thu mẫu của cơ quan quản lý,… Như vậy, tài nguyên động – thực vật có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của ngành du lịch. Thực vật, đặc biệt là các khối rừng tự nhiên và cả các khu rừng nhân tạo kiểu công viên ở các khu vực ngoại ô thành phố với sự phổ biến của các loại địa phương kết hợp với các loài khác đã thích nghi với khí hậu thực hiện chức năng nhiều mặt – làm sạch không khí, cản gió, tăng độ ẩm. Ngoài ra, nó còn có tác dụng giảm tiếng ồn một cách tự nhiên, tạo nên cảm giác ấm cúng. Cần phải bảo vệ và phát triển rưng phòng hộ, các quần thể thực vật ven sông, hồ ở các vùng đồng bằng và thung lũng bởi vì chúng rất có giá trị đối với loài hình du lịch cuối tuần. Đối với khách du lịch, những loài thực vật không có ở đất nước họ thường có sức
    25. 33. hấp dẫn mạnh. Chẳng thế mà khách du lịch châu Âu thường thích đến nơi có rừng rậm nhiệt đới, nhiều tầng với thảm thực vật đa dạng. Như vậy, cần phải phát hiện, tổ chức bảo vệ các khu bảo tồn tự nhiên để phục vụ phát triển du lịch bền vững. Cuối cùng, động thực vật đặc sản còn là nguyên liệu chế biến ra những món ăn độc đáo thỏa mãn nhu cầu ẩm thực của du khách. 1.3.3. Tài nguyên du lịch nhân văn 1.3.3.1. Khái niệm Tài nguyên du lịch nhân văn do con người tạo ra, hay nói cách khác, nó là đối tượng và hiện tượng được tạo ra một cách nhân tạo. Đây cũng là nguyên nhân khiến cho tài nguyên du nhân tạo có những đặc điểm khác biệt nhiều so với nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên. Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005), quy định tại điều 13, chương II: “Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch”. Tài nguyên du lịch nhân văn có tác động nhận thức nhiều hơn. Tác dụng giải trí không thật điển hình hoặc chỉ có ý nghĩa thứ yếu. Ngoại trừ loại hình du lịch nghiên cứu, việc tham quan các đối tượng nhân tạo thường diễn ra trong thời gian rất ngắn. Nó thường kéo dài một vài giờ, thậm chí ít hơn. Trong khuôn khổ một chuyến du lịch, người ta có thể tìm hiểu nhiều đối tượng nhân tạo. Vì thế, tài nguyên du lịch nhân văn thích hợp nhất đối với loại hình du lịch nhận thức theo lộ trình. Số người quan tâm tới tài nguyên du lịch nhân văn thường có trình độ văn hóa, thu nhập cũng như yêu cầu nhận thức cao hơn so với khách du lịch thuần túy. Tài nguyên du lịch nhân văn thường tập trung ở các điểm quần cư và các thành phố lớn. Đây lại là đầu mối giao thông quan trọng nên rõ ràng việc tiếp cận với nguồn tài nguyên này dễ dàng hơn nhiều. Khi đến tham quan nguồn tài nguyên
    26. 34. nhân văn có thể sử dụng cơ sở hạ tầng đã được xây dựng trong các điểm quần cư mà không cần phải xây dựng. 1.3.3.2. Đặc điểm – Tài nguyên du lịch nhân văn do con người tạo ra nên chịu tác động của thòi gian, thiên nhiên và do chính con người. Vì vậy dễ bị suy thoái, hủy hoại và không có khả năng bị phục hồi ngay cả khi không có sự tác động của con người. Vì vậy di tích lịch sử – văn hóa khi bị bỏ hoang cũng bị xuống cấp nhanh chóng; những giá trị văn hóa phi vật thể như những làn điệu dân ca , các vũ khúc, các lễ hội, các nghề truyền thống, phong tục, tập quán,…khi không được bảo tồn và phát huy có hiệu quả sẽ bị mai một hoặc biến mất. Do vậy, khi khai thác tài nguyên du lịch nhân văn cho mục đích phát triển du lịch cần quan tâm đầu tư cho bảo tồn, tô tạo thường xuyên, khoa học và có hiệu quả. – Tài nguyên du lịch nhân văn là do con người sáng tạo ra nên có tính phổ biến. Ở đâu có con người, ở đó có tài nguyên nhân văn. Vì vậy, các địa phương, các quốc gia đều có tài nguyên du lịch nhân văn, trong đó có nhiều loại có sức hấp dẫn với du khách, đã hoặc sẽ có thể sử dụng cho phát triển du lịch. – Tài nguyên du lịch nhân văn của mỗi vùng, mỗi quốc gia thường mang những giá trị đặc sắc riêng. Do điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế – xã hội là những yếu tố nuôi dưỡng tạo thành tài nguyên du lịch nhân văn ở mỗi khu vực, mỗi quốc gia có những giá trị đặc sắc riêng, góp phần tạo ra những sản phẩm du lịch độc đáo có sức cạnh tranh và hấp dẫn du khách riêng. Do vậy, trong quá trình khai thác, bảo tồn tài nguyên du lịch này cần coi trọng việc bảo vệ, phát huy giá trị độc đáo của tài nguyên. – Tài nguyên du lịch nhân văn thường được phân bố gần các khu dân cư, đực biệt tập trung nhiều ở những khu vực đông dân cư. Bởi nó được sinh ra trong qua trình phát triển của xã hội và là sản phẩm do con người sáng tạo ra. Khác với tài nguyên du lịch tự nhiên, việc khai thác phần lớn các loại tài nguyên du lịch nhân văn thường ít chịu ảnh hưởng của các hiện tượng thời tiết gây nên như mưa hay rét nên tính mùa vụ cũng ít hơn so với tài nguyên du lịch tự nhiên.
    27. 35. 1.3.3.3. Phân loại *Các di tích lịch sử, văn hóa: Di tích lịch sử – văn hóa là tài sản văn hóa vô giá của mỗi địa phương, mỗi dân tộc, mỗi đất nước và của cả nhân loại. Nó là bằng chứng trung thành, xác thực, cụ thể nhất về đặc điểm văn hóa của mỗi nước, mà ở đó chứa đựng tất cả những gì thuộc về truyền thống tốt đẹp, tinh hoa, trí tuệ, tài năng, giá trị văn hóa, nghệ thuật. Mỗi quốc gia trên thế giới đều có những quy định về di tích lịch sử – văn hóa. Theo quy định trong Hiến chương Vơnidơ (Italia) năm 1964, khái niệm về di tích lịch sử – văn hóa bao gồm những công trình xây dựng lẻ loi, những khu di tích ở đô thị hay ở nông thôn là bằng chứng của một nền văn minh riêng biệt, hoặc của một sự tiến hóa có ý nghĩa hay là một biến cố về lịch sử. Ở Việt Nam, theo Luật Di sản văn hóa (năm 2001) thì “Di sản văn hóa là những công trình xây dựng và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, đặc điểm có giá trị lịch sử – văn hóa và khoa học”. Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu trữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu trữ, lưu truyền khác, bao gồm: tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, trí thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, vể trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác. Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh,di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia. Danh lam thắng cảnh là cảnh thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử thẩm mĩ, khoa học. Như vậy, về tổng thể có thể hiểu: Di tích lịch sử – văn hóa là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng các giá trị nhiều mặt điển hình, do tập thể hoặc cá nhân con người sáng tạo ra trong lịch sử để lại.
    28. 36. Các di tích lịch sử – văn hoá nói chung được phân chia thành: + Di tích khảo cổ: là những địa điểm ẩn giấu một bộ phận giá trị văn hóa, thuộc về thời kì lịch sử xa xưa. + Di tích lịch sử: là các di tích gắn với đặc điểm và quá trình phát triển của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia. Loại hình này gồm di tích ghi dấu về dân tộc học, di tích ghi dấu sự kiện chính trị quan trọng, di tích ghi dấu chiến công chống xâm lược, di tích ghi dấu sự vinh quang trong lao động, di tích ghi dấu tội ác của các thế lực phản động. + Di tích văn hoá nghệ thuật: Là các di tích gắn với các công trình kiến trúc, có giá trị nên còn gọi là di tích kiến trúc nghệ thuật. Nó chứa đựng giá trị kiến trúc và giá trị văn hoá tinh thần. Ví dụ: Văn miếu Quốc Tử Giám (Hà Nội), nhà thờ Phát Diệm (Ninh Bình), toà thánh Tây Ninh. + Các loại danh lam thắng cảnh: Phong cảnh đẹp hòa quyện với các công trình mang tính chất văn hóa – lịch sử. Tại đây không chỉ có vẻ đẹp thiên nhiên mà còn có giá trị nhân văn sâu sắc. + Các bảo tàng: bảo tàng là nơi lưu giữ các tài sản văn hoá dân tộc, truyền thụ tri thức chấn hưng tinh hoa truyền thống. *Các lễ hội: Bất cứ một dân tộc nào, quốc gia nào trên thế giới đều cũng có lễ hội. Các lễ hội đã tạo nên môi trường mới, huyền diệu, giúp cho người tham dự có điều kiện tiếp xúc với những bí ẩn vừa mơ vừa thực. Giúp cho con người nhớ về cội nguồn lịch sử dân tộc, lễ hội khó có thể mất đi mà ngày càng phát triển cả về số lượng và quy mô. Thường lễ hội gắn với các di tích lịch sử – văn hóa của các dân tộc, địa phương, vùng hay quốc gia nào đó, được phản ánh nét đặc sắc riêng của mình. Lễ hội gồm hai phần: phần nghi lễ và phần hội – Phần nghi lễ là phần mở đầu cho các lễ hội, dù lớn hay nhỏ, dù dài hay ngắn với những nghi thức rất trang nghiêm. Nghi thức lễ nhằm bày tỏ lòng tôn kính
    29. 37. các bậc thánh hiền và thần linh, cầu mong được thiên thời địa lợi, nhân hòa và sự phồn vinh hạnh phúc, làm ăn phát đạt, con cháu được khỏe mạnh. – Phần hội diễn ra các hoạt động văn hóa đặc trưng của các dân tộc mang tính cộng đồng rất cao. Các hoạt động này tương đối đa dạng như: thi hát, đố, thi đấu các môn đối kháng,…được các dân tộc phô diễn rất nhiệt tình. Đây được coi là một hoạt động văn hóa nhằm nêu cao tinh thần đoàn kết dân tộc rất lớn. Từ đó, giúp cho người dân nêu cao tinh thần tự hào dân tộc, yêu nước, phấn đấu trong công việc hằng ngày. Thời gian của lễ hội diễn ra thường kém dài không lâu khoảng độ vài ngày dài lắm là một tuần. Quy mô của lễ hội lớn nhỏ khác nhau, có lễ hội sánh bằng cả quốc tế, có lễ hội chỉ nằm trong phạm vi của một thôn, xã. Các địa điểm tổ chức của lễ hội thường diễn ra ở các di tích lịch sử – văn hóa. Điều đó cho phép khai thác tốt hơn cả lễ hội lẫn di tích nhằm thu hút khách du lịch. Di tích và lễ hội là hai loại hình tài nguyên du lịch nhân văn luôn sóng đôi và đan xen lẫn nhau. Lễ hội gắn với di tích và không tách rời di tích. Có thể nói, di tích là tinh hoa truyền thống được kết tinh lại ở dạng cứng; còn lễ hội là cái hồn chuyển tải tinh hoa ấy đến đời thường *Các làng nghề truyền thống: Việt Nam là nước có nhiều nghề và làng nghề thủ công truyền thống nổi tiếng, phát triển lâu đời. Nghệ thuật sản xuất các sản phẩm, những giá trị văn hóa, lịch sử của các làng nghề thủ công truyền thống, có sức hấp dẫn lớn, góp phần tạo ra sự đa dạng, đặc sắc, khả năng cạnh tranh của các sản phẩm du lịch của nước ta. Các sản phẩm làng nghề truyền thống là sự kết tinh, giao thoa và phát triển các giá trị văn hóa, văn minh lâu đời của mỗi dân tộc. Các sản phẩm này được làm ra bởi bàn tay tài hoa, óc sáng tạo của những nghệ nhân khéo léo. Những sản phẩm này luôn mang dấu ấn về tâm hồn lẫn bản sắc dân tộc và mang đầy tính nghệ thuật. Từ đời này sang đời khác được duy trì, cải tiến các sản phẩm truyền thống nên đây được coi là một loại tài nguyên vô cùng quý giá để thu hút khách du lịch. Các sản phẩm làng nghề này kết hợp với các sản phẩm du lịch, các điểm, khu du lịch cho
    30. 38. khách tham quan mua quà lưu niệm mang một sắc thái của vùng miền riêng, tạo thích thú cho khách tham quan. *Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học: Mỗi một dân tộc có những điều kiện sinh sống, có văn hóa, phong tục tập quán, hoạt động sản xuất có tính đặc thù riêng trên một lãnh thổ nhất định. Những đặc thù của từng dân tộc lại có sức hấp dẫn đối với khách du lịch. Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học có giá trị với du lịch là các tập tục lạ về cư trú, về tổ chức xã hội, về thói quen ăn uống sinh hoạt, về kiến trúc, trang phục dân tộc,… Mỗi dân tộc, mỗi quốc gia đều thể hiện những sắc thái riêng biệt của mình để thu hút khách du lịch. Trung Quốc có nền phong kiến kéo dài thể hiện nhiều đời vua khác nhau, mỗi thời đều có nhiều nhân vật tiêu biểu để tìm hiểu; hay đất nước Ấn Độ có nền văn minh Ấn – Hằng mà mọi người muốn tìm tòi. Ở Việt Nam có 54 dân tộc anh em, sống trên các địa bàn địa phương khác nhau. Mỗi vùng miền có một nét đặc sắc riêng, thể hiện rõ nhất là kiến trúc nhà, ngôn ngữ và trang phục. Cho nên có thể nói dân tộc học là một giá trị rất lớn của loài người cũng là giá trị cho phát triển du lịch. *Các đối tượng văn hoá – thể thao và hoạt động nhận thức khác: Các đối tượng văn hóa cũng thu hút khách du lịch với mục đích tham quan, nghiên cứu. Đó là các thành phố nổi tiếng, các trường đại học, triển lãm nghệ thuật, liên hoan âm nhạc, điện ảnh, các cuộc thi đấu thể thao,…Các đối tượng này thường tập trung ở các thành phố lớn hay thủ đô của các nước nên phần nào tạo nên lợi thế về thu hút khách du lịch. Tất cả các khách du lịch có trình độ văn hóa từ trung bình trở lên đều có thể thưởng thức được giá trị văn hóa của đất nước mà họ đến thăm. Các thành tự văn hóa, kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia cũng thu hút khách du lịch mọi nơi trên thế giới. Thông qua các hoạt động xúc tiến đầu tư thương mại, triển lãm thành tựu kinh tế, thông qua các hội nghị, kí kết giao ước,…từ đó mà tạo mọi điều kiện cho các du khách vừa tham quan vừa tìm kiếm cơ hội hợp tác mới.
    31. 39. 1.3.4. Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật 1.3.4.1. Cơ sở hạ tầng Cơ sở hạ tầng là nhân tố quan trọng tạo nên sức hấp dẫn cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch tại điểm đến. Kết cấu hạ tầng bao gồm hệ thống các mạng lưới và phương tiện giao thông, hệ thống thông tin liên lạc, mạng lưới điện, hệ thống cấp thoát nước và xử lý rác thải… trong đó giao thông vận tải là nhân tố quan trọng hàng đầu. *Giao thông vận tải ảnh hưởng đến sự phát triển và phân vùng du lịch trên cả hai phương diện: số lượng, chất lượng của các loại hình và phương tiện giao thông vận tải. Do đặc thù của hoạt động du lịch là sự di chuyển của con người trên một khoảng cách nhất định vì vậy nó phụ thuộc nhiều vào giao thông. Chiều dài của mạng lưới giao thông vận tải chứng tỏ mức độ dễ hay khó trong việc tiếp cận điểm du lịch, số lượng phương tiện giao thông vận tải chứng tỏ khả năng vận chuyển hành khách. Số lượng loại hình vận chuyển gia tăng sẽ làm cho hoạt động du lịch trở nên tiện lợi và linh hoạt, có khả năng đáp ứng tốt mọi nhu cầu của du khách. Về mặt chất lượng vận chuyển cần xét đến 4 khía cạnh là tốc độ, an toàn, tiện nghi và giá cả. – Tốc độ vận chuyển: việc tăng tốc độ vận chuyển cho phép tiết kiệm thời gian đi lại và kéo dài thời gian ở lại nơi du lịch. – Đảm bảo an toàn vận chuyển: ngày nay, sự tiến bộ kỹ thuật đã làm tăng tính an toàn trong vận chuyển hành khách và điều này sẽ thu hút được nhiều người tham gia vào hoạt động du lịch. – Đảm bảo tiện nghi của các phương tiện vận chuyển nhằm làm vừa lòng hành khách. – Vận chuyển có giá rẻ: giá cước vận tải có xu hướng giảm, hợp lý thì nhiều tầng lớp nhân dân có thể tham gia vào hoạt động du lịch. Nhìn chung mỗi loại hình giao thông có những ưu điểm riêng nên có những ảnh hưởng nhất định phù hợp với địa điểm du lịch cũng như đối tượng du khách.
    32. 40. Đặc biệt sự phối hợp các loại phương tiện vận chuyển có ý nghĩa rất lớn trong sự phát triển du lịch ở cả mức độ quốc gia và quốc tế. * Thông tin liên lạc là một phần quan trọng trong cơ sở hạ tầng của hoạt động du lịch, là điều kiện cần thiết để đảm bảo giao lưu cho khách du lịch trong nước và quốc tế. Đối với hoạt động du lịch, thông tin liên lạc không những đảm nhận việc chuyển các tin tức một cách nhanh chóng, kịp thời góp phần thực hiện các mối giao lưu giữa các vùng, các quốc gia mà còn đóng vai trò quan trong việc quảng bá du lịch. Thông tin, hình ảnh của các điểm du lịch được quảng bá rộng khắp sẽ tạo một lực hút, kích thích nhu cầu của khách du lịch tiềm năng muốn khám phá vẻ đẹp và các giá trị của điểm du lịch đó. Nhân tố này ngày càng có vai trò to lớn đối với sự phát triển của ngành du lịch, đặc biệt là trong thời đại thông tin hiện nay. * Hệ thống điện, thiết bị xử lý cấp thoát nước, xử lý rác thải vừa góp phần tạo ra những điều kiện đáp ứng nhu cầu sinh hoạt cho du khách và các hoạt động du lịch vừa tạo ra môi trường trong sạch hấp dẫn du khách 1.3.4.2. Cơ sở vật chất kỹ thuật Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch bao gồm toàn bộ các phương tiện dịch vụ hàng hóa du lịch nhằm đáp ứng mọi nhu cầu của khách du lịch. Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch là yếu tố có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tạo ra và cung cấp các sản phẩm du lịch cũng như quyết định mức độ khai thác tiềm năng du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu của du khách như lưu trú, ăn uống, đi lại, vui chơi, giải trí, chữa bệnh, mua sắm. Chính vì vậy, việc xây dựng và hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch của mỗi vùng, mỗi quốc gia được xem như một trong những biểu hiện cho sự phát triển cũng như hiệu quả của việc khai thác tài nguyên du lịch phục vụ cho hoạt động du lịch tại vùng, quốc gia đó. Sự kết hợp hài hòa giữa tài nguyên du lịch và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch giúp cho sự hoạt động có hiệu quả của cơ sở phục vụ du lịch, kéo dài thời gian sử dụng chúng trong năm. Chính vị trí của tài nguyên du lịch là căn cứ để bố trí hợp lý cơ sở vật chất kỹ thuật trên các vùng lãnh thổ và là tiền đề căn bản để hình thành các trung
    33. 41. tâm du lịch. Ngược lại, cơ sở phục vụ du lịch cũng có tác động nhất định tới mật độ sử dụng tài nguyên du lịch, giữ gìn bảo vệ chúng và đến lượt mình, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch lại có thể tạo ra, thực hiện các sản phẩm du lịch. Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch bao gồm nhiều thành phần với những chức năng và ý nghĩa khác nhau, bao gồm: cơ sở phục vụ ăn uống, lưu trú; mạng lưới cửa hàng thương nghiệp; các cơ sở thể thao; cơ sở y tế, các công trình phục vụ hoạt động thông tin văn hóa và cơ sở phục vụ các dịch vụ bổ sung khác. Có 3 tiêu chí để đánh giá hiệu quả của cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch đó là: Đảm bảo những điều kiện tốt nhất cho nghỉ ngơi du lịch; Hiệu quả kinh tế tối ưu trong xây dựng và khai thác; Thuận tiện cho du khách. * Cơ sở phục vụ ăn uống lưu trú: là thành phần đặc trưng nhất trong toàn bộ hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch gồm những công trình đặc biệt nhằm đảm bảo nơi ăn nghỉ và giải trí cho khách du lịch. Đó là các cơ sở lưu trú du lịch xã hội, nhà hàng, khách sạn… * Mạng lưới cửa hàng thương nghiệp: đáp ứng về nhu cầu hàng hóa của khách du lịch thông qua việc bày bán các mặt hàng đặc trưng của du lịch, hàng thực phẩm và các hàng hóa khác. * Cơ sở thể thao: tạo điều kiện thuận lợi cho kỳ nghỉ của du khách, làm tăng hiệu quả sử dụng của các cơ sở lưu trú, phục vụ ăn uống và làm phong phú thêm các loại hình hoạt động du lịch. * Cơ sở y tế: các cơ sở y tế nhằm phục vụ du lịch chữa bệnh và cung cấp dịch vụ bổ sung tại các điểm du lịch. * Các công trình phục vụ hoạt động thông tin văn hóa phục vụ du lịch nhằm mục đích nâng cao, mở rộng kiến thức văn hóa xã hội cho du khách cũng như giúp họ cảm thấy thoải mái trong kỳ nghỉ của mình. Đó là các trung tâm văn hóa- thông tin, phòng chiếu phim, phòng triển lãm, câu lạc bộ, nhà hát… * Cơ sở phục vụ các dịch vụ bổ sung khác như trạm xăng dầu, thiết bị cấp cứu, hiệu ảnh, bưu điện… là điều kiện bổ sung giúp cho du khách sử dụng triệt để

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tiềm Năng Lớn Cho Du Lịch
  • Sơn La Chú Trọng Khai Thác Có Hiệu Quả Tiềm Năng Du Lịch
  • Tiềm Năng Du Lịch Sinh Thái Việt Nam
  • Còn Nhiều Tiềm Năng Bỏ Ngỏ
  • Quảng Ngãi Biến Tiềm Năng Thành Lợi Thế Phát Triển Du Lịch
  • Hà Giang: Phát Triển Du Lịch Bền Vững

    --- Bài mới hơn ---

  • Kinh Nghiệm Phát Triển Du Lịch Mice Của Hàn Quốc
  • Tại Sao Du Lịch Hàn Quốc Phát Triển?
  • Hàn Quốc Công Bố Chiến Lược Mới Thúc Đẩy Ngành Du Lịch
  • Giúp Huế Cụ Thể Hóa Mục Tiêu Phát Triển Du Lịch Thông Minh
  • Làng Nghề Thủ Công Tiềm Năng Phát Triển Du Lịch Huế
  • Hà Giang: Phát Triển Du Lịch Bền Vững

    Hơn 520.000 lượt du khách đến với Hà Giang trong năm 2013, doanh thu từ dịch vụ du lịch đạt 327 tỷ đồng (năm 2012) là những con số ấn tượng cho thấy du lịch Hà Giang đang ngày càng khởi sắc. Tuy nhiên, trong giai đoạn phát triển hiện nay, du lịch Hà Giang đang cần một cuộc “phẫu thuật” để trở nên chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu của du khách và mang tính bền vững hơn.

    Hà Giang: tham gia ngày hội văn hóa, thể thao và du lịch các dân tộc vùng Đông Bắc lần thứ IX – năm 2022

    Điểm nhấn Hà Giang

    mảnh đất nàyvới những danh thắng mới nghe tên đã đủ sức hấp dẫn, gọi mời như: Công viên địa chất Toàn cầu – Cao nguyên đá Đồng Văn kỳ vĩ; Cột cờ Lũng Cú – điểm cực Bắc thiêng liêng; Khu di tích Nhà Vương một thời vàng son; Phố cổ Đồng Văn với kiến trúc nghệ thuật độc đáo; Cổng trời, Núi đôi Quản Bạ nên thơ; “Đệ nhất hùng quan” Mã Pì Lèng; Ruộng bậc thang Hoàng Su Phì ngút ngàn tầm mắt; Bãi đá cổ Nấm Dẩn bí ẩn; thác Tiên, đèo Gió, những vườn chè cổ thụ mờ ảo trong màn sương, sức hút lạ kỳ của mùa hoa Tam giác mạch, không gian văn hóa đa sắc mầu của chợ phiên, Di tích Lịch sử cách mạng Căng Bắc Mê, Tiểu khu Trọng Con… Bên cạnh đó là những nét văn hóa đặc sắc, độc đáo của vùng đất đa dân tộc gắn với các làng văn hóa du lịch cộng đồng: Lễ hội nhảy lửa của người Pà Thẻn; Lễ cấp sắc của người Dao; Tết của người La Chí, Chợ tình Khau Vai, cày trên nương đá; Lễ hội chọi trâu, đấu ngựa, chọi dê… thu hút sự quan tâm của đông đảo du khách, hay một lần được thưởng thức món cháo “độc dược” ấu tẩu nhớ mãi không quên.

    Du khách với mùa hoa cải trên Cao nguyên đá.

    Phát huy lợi thế du lịch, phấn đấu đưa ngành “công nghiệp không khói” này trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn, tỉnh ta đã ban hành nhiều chương trình, kế hoạch về phát triển văn hóa gắn với du lịch, trên cơ sở tiềm năng, lợi thế của địa phương để tạo ra các sản phẩm du lịch đa dạng, đặc thù của vùng này

    . Những bước đi đúng hướng của ngành du lịch đang mang lại hiệu quả thiết thực, góp phần nâng cao đời sống cho người dân, đồng thời bảo tồn những nét văn hóa đặc sắc của đồng bào các dân tộc. Bạn trẻ Nguyễn Văn Thắng, đến từ Hà Nội, chia sẻ với chúng tôi trong chuyến du Xuân Giáp Ngọ vừa qua: “Hà Giang xuất hiện nhiều hơn trên các bản tin thời tiết du lịch của VTV, những hình ảnh về nơi nàycũng được quảng bá nhiều hơn trên các phương tiện truyền thông khiến nhiều bạn trẻ rất háo hức khám phá. Quả thật, đá chồng lên đá, mầm sống mọc lên từ đá, kỳ vĩ và bền bỉ. Tôi khâm phục những con người nơi đây, hàng ngày vẫn cần mẫn, vượt qua khó khăn, để gìn giữ vẹn nguyên mảnh đất phên dậu của Tổ quốc. Hà Giang, điểm đến hấp dẫn và chúng tôi sẽ quay trở lại…”.

    Khách du lịch đến từ miền Nam thích thú trước vẻ đẹp kỳ vĩ của “rừng đá” cao nguyên.

    Tiềm năng du lịch đã được chính những du khách đến với Hà Giang khẳng định, tuy nhiên, khái niệm về làm du lịch, phát triển du lịch một cách bền vững hình như vẫn chỉ là chuyện của ngành chuyên môn. Sự phối hợp giữa các cấp, các ngành, các địa phương còn chưa chặt chẽ, người dân thờ ơ, đứng ngoài cuộc trong khi chính cuộc sống của họ là chủ thể trong sản phẩm du lịch cộng đồng mà chúng ta đang hướng đến. Bởi thế mới có những câu chuyện bi hài vào những mùa du lịch cao điểm như mùa hoa Tam giác mạch, Chợ tình Khau Vai, mùa lúa ruộng bậc thang chín vàng… Khách du lịch ngủ vật vã tại Phố cổ Đồng Văn vì các cơ sở lưu trú đã kín chỗ, nhà hàng cũng không thể đáp ứng được nhu cầu thực khách; giá vé nhà xe tuyến Hà Nội – nơi đâytăng, dịch vụ cho thuê xe máy tự phát không được kiểm soát, những điểm dừng chân vọng cảnh thưa thớt, sản phẩm du lịch đơn điệu…

    Để khắc phục tình trạng này, đưa ngành hành trình tiến xa hơn trên con đường phát triển cần sự vào cuộc quyết liệt, phối hợp chặt chẽ của các cấp, các ngành, địa phương. Tăng cường xúc tiến quản má hình ảnh và mời gọi đầu tư; đề ra chính sách kích cầu phù hợp để khuyến khích sự phát triển du lịch. Bên cạnh đó, khi Cao nguyên đá Đồng Văn đang đứng trước thời điểm tái đánh giá của Mạng lưới Công viên Địa chất toàn cầu, thì ngoài việc đẩy mạnh hoàn thành quy hoạch tổng thể phát triển chuyến đi định hướng đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030, cần bắt tay ngay vào những công việc cụ thể: Hoàn thành trùng tu khu Phố cổ Đồng Văn, quy hoạch các điểm du lịch; chỉ đạo các cơ sở khai thác khoáng sản, thủy điện trên Cao nguyên đá trồng cây, tái tạo môi trường cảnh quan ở những khu vực đang khai thác; tiếp tục mời các nhà khoa học nghiên cứu, phát hiện thêm những di chỉ khảo cổ học đang tiềm ẩn; đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng du lịch đáp ứng nhu cầu của du khách; bảo tồn phát triển văn hóa, tạo ra nhiều sản phẩm du lịch đa dạng, độc đáo; bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ hoạt động trong ngành du lịch, mở các lớp tập huấn nấu ăn, lễ tân, học tiếng nước ngoài để nâng cao chất lượng các dịch vụ du lịch.

    Du lịch, một ngành kinh tế đang mang lại nguồn thu khổng lồ cho nhiều địa phương trong cả nước. vùng này muốn bắt kịp được với xu thế ấy dựa trên tiềm năng sẵn có của mình thì cần lắm cái “bắt tay” của nhà quản lý, các địa phương, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực du lịch và người dân.

    Nguồn: chúng tôi

    Xem Thêm chương trình Hấp Dẫn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phát Triển Du Lịch Đảo Lý Sơn Bằng Truyền Miệng Điện Tử
  • Phát Triển Du Lịch Đảo Lý Sơn
  • Cần Nâng Cao Chất Lượng Để Phát Triển Du Lịch Đảo Lý Sơn
  • Đảo Lý Sơn Tiềm Năng Phát Triển Du Lịch
  • Phát Triển Sản Phẩm Du Lịch Côn Đảo Theo Hướng Cao Cấp Và Bền Vững
  • Tiềm Năng Phát Triển Du Lịch Nam Giang

    --- Bài mới hơn ---

  • Tour Du Lịch Đà Nẵng Nam Giang Tây Giang Quảng Nam 1 Ngày
  • Tour Du Lịch Quảng Nam
  • Top 20 Địa Điểm Du Lịch Nam Kinh Đẹp Nổi Tiếng Nhất Định Tham Quan
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Nam Kinh Trung Quốc
  • Nam Kinh Một Trong Những Cố Đô Lớn Của Trung Quốc
  • (NGO) – Huyện Nam Giang là huyện miền núi của tỉnh Quảng Nam. Cách thành phố Đà Nẵng gần 70 km về phía Tây Nam, cách tỉnh lỵ Tam kỳ 120 km về phía Tây Bắc, cách cửa khẩu Đắc Ốc – Đắc Tà Ọc 70 km về phía Đông. Có chung đường biên giới hơn 70 km với nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. Toàn huyện có 12 xã, thị trấn với 63 thôn. Dân số toàn huyện có trên 23.000 người, trong đó, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm đa số.

    Theo quốc lộ 14B, cách Đà Nẵng 60km về phía Tây, du khách sẽ ngược về Nam Giang, nơi đây là địa bàn sinh sống của đồng bào các dân tộc, Cơ Tu, Ve, Tà riềng…. phong cảnh hữu tình trải suốt chiều dài 60 km, một bên là núi một bên là dòng sông Vu Gia huyền thoại.

    Ở hạ lưu trước khi phân 2 nhánh, 1 nhánh đổ vào sông Yên, một đổ vào sông Thu Bồn, sông vu gia đã làm ta gợi nhớ đến câu thơ nổi tiếng của nhà thơ Thanh Quế “trước nhà em sông Vu Gia, sau nhà em cũng lại là dòng sông, hay nước sông con đổ vào sông cái – anh trai Thu Bồn em gái Hà Nha – chiều nay hò hẹn đôi ta, mít non gởi xuống, cá chuồn gởi lên.

    Không khí u hoài của núi rừng có thể sẽ khiến du khách mang một chút băn khoăn nhưng chỉ là một thoáng thôi bởi những đồi thơm đẹp mê hồn đâu đó trên đường xe chạy, những vườn keo thẳng tắp, xanh rì sẽ đưa tâm trí du khách theo tầm mắt.chỉ cách đô thị lớn nhất miền trung hơn 1 giờ xe chay, Nam Giang là vùng đất của những chiến công hiển hách của lịch sử, những địa danh, Thạnh mỹ, Bến Giằng, làng Rô đã làm nên một tên tuổi huyện giằng nổi tiếng trong thi ca.

    Ngược dòng sông Cái lên trung tâm hành chính bến Giằng, nơi 2 con sông Bến Mỹ, Sông Thanh, một trong một đục gặp nhau mà nghe chan chứa tâm sự trong lòng, có truyền thuyết kể rằng, trên đường xuôi Nam, Huyền Trân công chúa đến vùng thượng đạo Quảng Nam. Khi đến một bến sông nước trong vắt, xót cho phận mình, Huyền Trân công chúa nhỏ giọt nước mắt. Kỳ lạ thay, giọt nước mắt ấy lắng xuống đáy sông, kết tinh thành một viên ngọc màu đỏ, mỗi đêm ngọc nổi một lần, chiếu sáng cả dòng sông. Để rồi bến sông, nơi công chúa nhỏ giọt nước mắt ấy được gọi là bến Giằng, nay thuộc huyện vùng cao Nam Giang, huyện giáp giới với tỉnh bạn Lào.

    Quả thật, đến Nam Giang, không chỉ nghe truyền thuyết về Bến Giằng, người ta còn có thể nghe nhiều câu chuyện lý thú và hấp dẫn. Đặc biệt, được tận mắt chiêm ngưỡng vẻ đẹp kỳ thú và hùng vĩ của vùng cao Nam Giang, với khung cảnh hoang sơ, những khu rừng nguyên sinh, trùng trùng điệp điệp những ngọn núi cao chót vót, những vực thẳm sâu hun hút, những vách đá cheo leo, hiểm trở, không kém phần ngoạn mục như bức tranh kỳ vĩ làm say hồn du khách.

    Xuất phát từ Bến Giằng, theo con đường ngoằn ngoèo, như con rắn trườn dần lên vách núi. Nhiều đoạn vô cùng ngoạn mục: một bên đường dựa vào vách núi, khoét theo vách núi, bên kia là vực sâu thăm thẳm. Núi cao, vực sâu, những khu rừng nhấp nhô khi thì bên trái, khi sang bên phải, với các thảm thực vật đa sắc màu, góp phần tạo nên phong cảnh đẹp lạ lùng và cũng thật hiếm có của mảnh đất Nam Giang. Khi đã thấm mệt với cuộc hành trình, du khách có thể nghỉ lại một Gươi bất kỳ nào đó để thưởng thức Rượu Tà vạt, đây là thứ nước được lấy từ buồng của cây tà vạt, một loại cây có hình thức giống như cây dừa nhưng to hơn, lá dài hơn, rồi hòa cùng ít vỏ cây chuồn, thành một thứ rượu mà khi uống không bao giờ đau đầu.

    Một năm được mùa; cái rẫy lên xanh tốt. Cây bắp trái to như đầu gối. Cây lúa hạt oằn cả thân. Thấm thoắt, hạt lúa ngả sang màu vàng chóe, trái bắp sắp khô vỏ thì có lũ khỉ lén lút vào tuốt lúa, bẻ bắp để ăn. Cụ già giữ rẫy tiếc của, tiếc công sức mình, giận lũ khỉ, kiên trì rình rập ngày đêm. Ở cạnh rẫy, có cây tà vạt. Trước khi vào bẻ bắp, tuốt lúa, lũ khỉ thường đu mình qua buồng tà vạt để vào rẫy. Tức mình, cụ già liền chặt phứt đi nhằm làm cho chúng không thể qua lối này nữa. Khi vừa chặt xong, có những giọt nước từ trong ấy chảy ra. Tò mò, cụ dùng tay hứng rồi nhấm thử. Chất nước ngòn ngọt, mát lạnh khiến cụ cảm thấy khỏe khoắn lạ lùng.

    Thế là, cụ tìm đốt lồ ô ra hứng cho kỳ hết. Những ngày sau đó, cụ lặn lội tận rừng sâu tìm các loại vỏ cây hòa vào thứ nước ấy. Cuối cùng, lúc thử vỏ cây chuồn, nước sủi bọt, lên men, có mùi vị không khác gì một loại rượu nhẹ. Và, nhờ sự khám phá tình cờ của cụ, rượu tà vạt dần dần được dân bản ưa chuộng và nhanh chóng trở thành thứ nước giải khát phổ biến giữa chốn núi rừng heo hút trong những ngày hè oi bức, nếu khách du lịch thích thổ cẩm thì chỉ cần quá bộ lên làng dệt zơ ra để thấy những người phụ nữ cơ tu đang dệt những chiếc túi, những bao gối, khăn thổ cẩm… trên đường đến làng du lịch Tà Bhing du khách sẽ được trải nghiệm cảm giác trên những chiếc cầu treo đung đưa, hòa mình vào tiếng rì rào của thác nước, rì rào của gió đưa là rừng đạt ngàn trường sơn hùng vĩ.

    Lên non tắm thác, về làng xem… tay”, đó hẳn là sự trải nghiệm thú vị của những ai đã từng rong ruổi trên đường Hồ Chí Minh huyền thoại, qua bến Giằng và ngược lên thác Grăng, huyện Nam Giang hay tiếp tục lang thang qua các địa danh như làng Rô, đèo Lò Xo cho đến Khâm Đức (Phước Sơn). Mỗi địa danh đi qua ngoài sự trải nghiệm thú vị khi được chiêm ngưỡng phong cảnh núi non hùng vĩ, nhiều tầng thác đẹp như huyền thoại du khách còn được say sưa ngắm nghía bàn tay thoăn thoắt của những phụ nữ Cơtu bên khung dệt, bên những sợi đan lát trong các làng nghề truyền thống.

    Và nếu chỉ muốn khám phá một địa chỉ du lịch có tên Nam Giang, bạn chỉ mất khoảng 30 phút từ Đại Lộc trên quốc lộ 14B là dừng chân ở làng Rô, nơi che chở nuôi nấng cố nhà thơ Tố Hữu cùng nhiều chí sĩ cách mạng trong những lần băng rừng vượt ngục. Rồi dừng chân ở bến Giằng để lắng nghe khúc giao thủy của dòng sông Bung từng một thời là địa điểm gắn với các chiến công oai hùng. Là mạch nguồn của Khu Bảo tồn Thiên nhiên Sông Thanh. Những điều thú vị bỗng chốc ùa đến với bạn khi được tận mắt chiêm nghiệm những điều đã từng biết, đọc qua ở đâu đó hoặc với cảnh núi non hùng vĩ của núi rừng Trường Sơn bắt đầu từ ngã ba sông Bung.

    Từ đây bạn có thể ngược trên quốc lộ 14D như dải lụa mềm vắt lưng chừng núi. Một ngã ba có biển hướng dẫn, rẽ qua rẫy lúa, nương bắp, lúc ngang dọc qua suối là con đường dẫn đến thác Grăng. Đây là đoạn đường để lại dấu ấn nhiều nhất nơi du khách trong hành trình chinh phục “tam thác Grăng” bởi phải qua nhiều đoạn dốc, đường hẹp, ghềnh đá hiểm trở. Nhưng, bạn sẽ không dễ bỏ cuộc khi trên đường vào Grăng đã được kiến tạo sẵn những bộ ván dã chiến bằng thân cây, nhiều chiếc võng rừng bằng rễ cây tự nhiên làm những trạm nghỉ chân tiếp sức cho du khách. Tất cả khó khăn sẽ tan biến khi bạn đang đứng trước thác Grăng tung bọt trắng xóa, bồng bềnh trong cõi âm u Trường Sơn. Đẹp nhất ở Grăng có lẽ là thác 3 với độ cao hơn 30 mét, tung bụi nước mịt mù, xõa trắng trên những vách đá bám rêu.

    Nam Giang không những đẹp mà giá trị hơn nữa chính là việc bảo tồn văn hóa truyền thống cồng chiêng, Du khách hẳn sẽ không khỏi ngỡ ngàng khi tận mắt nhìn thấy những em bé mới chỉ học lớp 5 lớp 6 mà đánh chiêng điêu luyện. Đôi tay mềm mại gõ từng nhịp tấu lên bản nhạc chiêng đón khách khiến ai cũng phải mê mẩn

    Trước kia, người dân ở đây chỉ biểu diễn cồng chiêng những khi có sự kiện đặc biệt nào đó nhưng hiện nay, ngoài những lễ hội đặc biệt của họ, biểu diễn cồng chiêng cho du khách xem là dịp để giao lưu, trao dồi, cố kết cộng đồng ngày thêm bền chặt, trao truyền cho thế hệ kế tiếp, chứ không hề thương mại hóa, làm qua loa chiếu lệ”. Những nghệ nhân của làng chào đón du khách qua bài đầu tiên với âm thanh thật trong trẻo, rộn rã như tiếng suối chảy, tiếng chim hót trong rừng thẳm.Thỉnh thoảng họ lại đồng loạt cất tiếng hú bi hùng, họ đang gọi mời Thần linh về tham dự lễ hội cùng với họ.

    Sau một lúc ngỡ ngàng lặng đi vì xúc động, nếu thích thú du khách có thể cùng hòa vào vòng xoay theo nhịp cồng, tiếng chiêng, những tiếng cồng chiêng trầm hùng, tiếng đinh tút réo rắt ngân nga đem lại cho người xem nhiều cảm xúc khó tả. Mỗi giai điệu như đưa người xem quay về với những câu chuyện tình yêu lứa đôi, các hoạt động sinh hoạt, sản xuất, săn bắn, chống kẻ thù, thú dữ; những lễ hội mừng lúa mới, mừng làng mới của đồng bào dân tộc sống trên dãy trường sơn hùng vĩ từ bao đời. cùng với sưu tầm truyện cổ, văn hóa ẩm thực cồng chiêng cũng là nét văn hóa truyền thống mà huyện đang gìn giữ và phát triển.

    Đến Nam Giang không những được ngắm cảnh thiên nhiên kỳ diệu, ngoạn mục của miền tây đất Quảng, được tận mắt nhìn thấy cột mốc biên giới của Tổ quốc với nhiều cảm xúc dạt dào…, mà còn được thưởng thức hương vị tuyệt vời của rượu tà vạt giữa khung cảnh núi rừng, trên độ cao gần nghìn mét của đại ngàn Trường Sơn.

    Nam Giang không chỉ hùng vĩ mà còn mang vẻ đẹp vừa hoang sơ, vừa lạ lùng, có sức cuốn hút lạ kỳ. Nếu được đầu tư đúng mức, quảng bá bài bản, có chiều sâu, Nam Giang sẽ là địa điểm du lịch sinh thái, du lịch mạo hiểm rất hấp dẫn với du khách gần xa…

    Theo Văn Thủy ( Nam Giang Quảng Nam)

    Du lịch, GO!

    --- Bài cũ hơn ---

  • 6 Địa Điểm Du Lịch Nổi Tiếng Ở Nam Định
  • Gợi Ý Lịch Trình Thăm Quan Nam Đảo Phú Quốc
  • Review Tour Tham Quan Đông Nam Đảo Phú Quốc Trong 1 Ngày
  • Tour Du Lịch Nam Đảo Phú Quốc Giá Rẻ Hàng Ngày Tại Cty Toptravels
  • Tour Tham Quan Nam Đảo Phú Quốc
  • Phát Triển Du Lịch Cộng Đồng Ở An Giang

    --- Bài mới hơn ---

  • Tp. Bạc Liêu: Phát Triển Du Lịch Thành Ngành Kinh Tế Mũi Nhọn
  • Hai Vấn Đề Then Chốt Để Phát Triển Du Lịch Bến Tre
  • Phát Triển Du Lịch Tỉnh Bến Tre Đến Năm 2022
  • Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Bến Tre Năm 2022 Và Những Năm Kế Tiếp
  • Bến Tre Hướng Đến Phát Triển Du Lịch Cộng Đồng, Du Lịch Có Trách Nhiệm
  • Ông Lê Trung Hiếu, Giám đốc Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư tỉnh An Giang cho biết, nhằm nâng cao nhận thức của người dân về du lịch cộng đồng, Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư tỉnh An Giang đã phối hợp với Trường Cao đẳng Nghề Du lịch Sài Gòn tổ chức lớp tập huấn “Nâng cao nhận thức du lịch cộng đồng”; đối tượng tham gia là những người dân làm kinh doanh dịch vụ du lịch, tại Khu vực trọng điểm của tỉnh như: TP. Châu Đốc, huyện Thoại Sơn và Tịnh Biên.

    Nhà bè Châu Đốc, An Giang vừa làm nhà ở, vừa nuôi cá

    Qua ba lần tổ chức, Trung tâm đã tập huấn cho gần 400 người dân. Tại các buổi tập huấn, người dân được tiếp cận những kỹ năng cơ bản của hoạt động du lịch cộng đồng như: Quy trình, cách thức phục vụ khách du lịch; quy trình đón tiếp; kỹ năng giao tiếp, xử lý các tình huống trong phục vụ khách du lịch; các vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm…

    Được dự lớp tập huấn này, ông Nguyễn Thanh Phương chuyên kinh doanh nhà nghỉ, ở phường Núi Sam, TP. Châu Đốc chia sẻ: “Là người dân địa phương, trực tiếp phục vụ khách du lịch, nhìn kỹ lại thấy hiện tại người dân trong cách giao tiếp, phục vụ còn rất nhiều hạn chế. Học qua lớp tập huấn này mình đã nhận thức được được nhiều cái mới; Kiến thức này sẽ giúp mình thời gian tới phục vụ tốt hơn, để khách đến với Châu Đốc, An Giang nhiều hơn; để du lịch của tỉnh phát triển có tầm vóc như các tỉnh khác”.

    Những năm gần đây, du lịch cộng đồng đang ngày càng phát triển và trở thành mô hình du lịch mang lại lợi ích kinh tế – xã hội bền vững nhất cho địa phương và cộng đồng dân cư bản địa. Du lịch cộng đồng không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn giúp bảo tồn và phát huy các giá trị tự nhiên cũng như các giá trị văn hóa độc đáo, mang lại hiệu quả thiết thực, góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • An Giang Tích Cực Triển Khai Chương Trình Hành Động Về Du Lịch
  • Paxos Standard Token Là Gì? Tổng Quan Về Đồng Tiền Điện Tử Pax
  • Những Từ Vựng Thông Dụng Ngành Du Lịch
  • Thuật Ngữ Chuyên Ngành Nhà Hàng, Khách Sạn, Du Lịch
  • Những Món Ngon Không Thể Bỏ Qua Khi Đi Du Lịch Đà Nẵng
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100