Phát Triển Du Lịch Văn Hóa Thành Ngành Công Nghiệp Văn Hóa Ở Việt Nam

--- Bài mới hơn ---

  • Hàn Quốc Phát Triển Ngành Du Lịch Công Nghiệp Ở Việt Nam
  • Ngành Công Nghiệp Casino Ở Việt Nam Còn Nhiều Thách Thức
  • Ngành Du Lịch Đã Chuẩn Bị Tốt Nhất Để Phục Vụ Nhân Dân
  • Công Bố Biểu Trưng Của Ngành Du Lịch Bến Tre
  • Khai Thác Tài Nguyên Bản Địa Làm Du Lịch
  • Du lịch văn hóa là một trong những hình thức căn bản của du lịch, là loại hình du lịch khai thác các giá trị văn hóa tạo thành sản phẩm du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu của du khách, mang lại lợi ích kinh tế – xã hội cho quốc gia, đồng thời góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị của di sản văn hóa Việt Nam trong thời hội nhập. Hơn thế, các giá trị của di sản văn hóa Việt Nam không chỉ tạo nên sự hấp dẫn, sự khác biệt trong sản phẩm du lịch, mà còn là nguồn lực, là sức mạnh mềm cho phát triển bền vững và quảng bá thương hiệu quốc gia. Việc phát triển du lịch văn hóa thành một ngành công nghiệp văn hóa là phù hợp với tiềm năng, thế mạnh, chiến lược và kiến tạo cho sự phát triển của các ngành công nghiệp văn hóa khác ở nước ta hiện nay. Bài viết nhằm diễn giải và bàn luận về phát triển du lịch văn hóa ở Việt Nam thành ngành công nghiệp văn hóa.

    1. Du lịch văn hóa

    Du lịch văn hóa là một trong hai hình thức quan trọng nhất của ngành du lịch, đó là du lịch tự nhiên và du lịch văn hóa. Từ lâu, du lịch văn hóa đã được nhiều tác giả và tổ chức quan tâm kiến giải. Du lịch văn hóa là hình thức du lịch phát triển dựa trên các giá trị văn hóa, đó là việc khai thác các giá trị của di sản văn hóa tạo các thành sản phẩm du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu của du khách, đồng thời mang lại lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội và góp phần bảo tồn văn hóa. Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) định nghĩa: “Du lịch văn hóa bao gồm hoạt động của những người với động cơ chủ yếu là nghiên cứu, khám phá về văn hóa như các chương trình nghiên cứu, tìm hiểu về nghệ thuật biểu diễn, về các lễ hội và các sự kiện văn hóa khác nhau, thăm các di tích và đền đài, du lịch nghiên cứu thiên nhiên, văn hóa hoặc nghệ thuật dân gian và hành hương”. Luật Du lịch giải thích: “Du lịch văn hóa là loại hình du lịch được phát triển trên cơ sở khai thác các giá trị văn hóa, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống, tôn vinh những giá trị văn hóa mới của nhân loại”. Theo Nguyễn Phạm Hùng: “Du lịch văn hóa là hoạt động đa dạng của du khách rời khỏi nơi cư trú của mình trong một không gian và thời gian nhất định, nhằm thưởng thức, trải nghiệm, khám phá những điều mới lạ và khác biệt về văn hóa. Du lịch văn hóa là toàn bộ các dịch vụ du lịch do con người tạo ra, các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên văn hóa nhằm tạo ra sản phẩm du lịch mới lạ và khác biệt phục vụ nhu cầu thưởng, trải nghiệm, khám phá của du khách trong một không gian và thời gian nhất định”. Trần Thúy Anh (chủ biên), Du lịch văn hóa những vấn đề lý luận và nghiệp vụ, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2014, tr. 7.

    . Lê Hồng Lý (chủ biên), Quản lý di sản văn hóa với phát triển du lịch, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2010, tr. 24.

    . Dương Văn Sáu, Văn hóa du lịch, Nxb Lao động, Hà Nội, 2022, tr. 41.

    . Đặng Hoài Thu và Phạm Bích Huyền, Các ngành công nghiệp văn hóa, Nxb Lao động, Hà Nội, 2012, tr. 9.

    . Hà Giang, Nhà hát múa rối Thăng Long, sáng tạo là mệnh lệnh sống còn, chúng tôi ngày 15/8/2020.

    . Đinh Thị Vân Chi, Nhu cầu trong của du khách trong quá trình du lịch, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2004.

    . Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030, Hà Nội, 2022.

    [14]. Phạm Hồng Thái (chủ biên), Sự phát triển của công nghiệp văn hóa ở Nhật Bản và Hàn Quốc, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2022.

    Bài viết và hình ảnh: TS. Nguyễn Văn Bốn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Check In Là Gì? Tất Cả Những Khái Niệm Cần Biết Về Check In
  • Những Điều Thú Vị Bạn Nên Biết Khi Đi Du Lịch Singapore
  • 10+ Những Sản Phẩm Đặc Sắc Khi Đi Du Lịch Singapore Bạn Nên Mua?
  • 14 Món Quà Khi Đi Du Lịch Singapore Nên Mua
  • Chọn Mua Máy Ảnh Du Lịch Nên Chọn Mua Hãng Nào Tốt Nhất?
  • Giải Pháp Phát Triển Mô Hình Du Lịch Văn Hóa Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Liên Kết Hợp Tác Phát Triển Du Lịch Vùng Tây Bắc Mở Rộng
  • Tạo Bước Đột Phá Phát Triển Du Lịch Vùng Tây Bắc
  • Tphcm Nhiều Tiềm Năng Phát Triển Sản Phẩm Du Lịch Y Tế
  • Tiềm Năng Phát Triển Sản Phẩm Du Lịch Y Tế Thành Phố Hồ Chí Minh
  • Tỉnh, Thành Nào Đang Phát Triển Ngành Du Lịch Y Tế Nhất Việt Nam?
  • 1. Du lịch văn hóa: Những chiều tác động và tính bền vững trong phát triển / Nguyễn Thị Phương Châm

    Tóm tắt: Nội dung bài viết trình bày về khái niệm du lịch văn hóa, những chiều hướng tác động của du lịch văn hóa đến các giá trị văn hóa. Từ đó, tác giả cho thấy tính bền vững trong quá trình phát triển du lịch văn hóa hiện nay.

    Nguồn trích: Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa Việt Nam, 2022, Số 3 (183), tr. 3-11

    2. Vai trò của du lịch văn hóa trong chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam / Nguyễn Anh Tuấn, Lê Hoàng Anh

    Tóm tắt: Bài viết đề cập đến đôi nét về du lịch văn hóa, thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở Việt Nam. Từ đó, tác giả đưa ra định hướng phát triển du lịch văn hóa trong thời gian tới: (1) tiếp tục đầu tư việc khai thác bảo tồn các giá trị tài nguyên du lịch văn hóa; (2) đảm bảo nguyên tắc phát triển bền vững; (3) tăng cường mối quan hệ giữa văn hóa và du lịch; (4) đầu tư cho việc bảo tồn và tôn tạo các giá trị văn hóa.

    Nguồn trích: Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, 8/2019, Số 422, tr. 5-8

    3. Phát huy giá trị của bảo tàng trong du lịch văn hóa / ThS. Phan Thị Thái Hà

    Tóm tắt: Bài viết đề cập đến vai trò của ngành Bảo tàng trong phát triển mô hình du lịch văn hóa. Qua đó, tác giả đưa ra các giải pháp về nguồn nhân lực; đổi mới nội dung trình bày, đa dạng hóa hình thức trưng bày hiện vật tại Bảo tàng; xác định thị trường khách tham quan du lịch; đầu tư xây dựng của hàng lưu niệm; xây dựng biểu tượng độc đáo, đặc trưng cho từng địa điểm; xây dựng kế hoạch tuyên truyền quảng bá để thu hút khách tham quan, …

    Nguồn trích: Tạp chí Du lịch, 2022, Số 9, tr. 32-33

    4. Những quan điểm tiếp cận mới trong công tác bảo tồn, khai thác, phát huy giá trị di sản văn hóa qua con đường du lịch ở Việt Nam hiện nay / Dương Văn Sáu

    Tóm tắt: Bài viết trình bày các quan điểm tiếp cận mới về bảo tồn, khai thác, phát huy giá trị di sản văn hóa. Từ đó, tác giả đưa ra các nhiệm vụ trong công tác bảo tồn, khai thác, phát huy các giá trị của di sản văn hóa qua con đường du lịch: biến di sản thành tài sản, biến văn hóa thành hàng hóa, biến tài nguyên thành tài chính, biến môi trường thành thị trường, biến nguồn lực thành động lực, biến giá trị thành giá cả.

    Nguồn trích: Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, 9/2019, Số 423, tr. 49-52

    5. Phát triển du lịch Việt Nam theo hướng bền vững / Tô Đức Hạnh

    Tóm tắt: Bài viết phân tích, đánh giá những thành tựu, những hạn chế và nguyên nhân của du lịch Việt Nam qua các khía cạnh; tốc độ phát triển du lịch; cơ sở hạ tầng cho phát triển du lịch; các điểm đến các sản phẩm du lịch và năng lực cạnh tranh của du lịch Việt Nam. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một só giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục phát triển du lịch Việt Nam theo hướng bền vững.

    Nguồn trích: Tạp chí Khoa học Xã hội Việt Nam, 2022, Số 7, tr. 74-82

    Địa chỉ truy cập: http://lhtv.vista.vn/ (Chọn STD – Tài liệu KH&CN Việt Nam) Bạn đọc vui lòng truy cập theo hệ thống mạng nội bộ của Trường Đại học An Giang để đọc và download toàn văn tài liệu.

    1. Du lịch văn hóa ở Việt Nam – một cách nhìn toàn cảnh / Trần Thúy Anh, Phan Quang Anh

    Tóm tắt: Du lịch văn hóa là hoạt động du lịch khám phá và trải nghiệm bản sắc văn hóa với tham gia của cộng động theo tôn chỉ bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa. Các nước đang phát triển được thế giới công nhận là điểm đến trong thời đại mới của loại hình du lịch này và Việt Nam, với tư cách là một nền kinh tế đang đà đi lên hội nhập quốc tế cũng không phải là ngoại lệ.

    Nguồn trích: Tạp chí Văn hóa học, 2014, Số 1, tr. 49-54

    2. Hướng tới quy hoạch du lịch văn hóa hiệu quả ở vùng ven biển / Geoffrey Wall

    Tóm tắt: Khu vực duyên hải là môi trường phức tạp về mặt hình thái, văn hóa và hành chính. Về mặt hình thái lãnh thổ, chúng bao gồm cả phần đất liền, biển và làn ranh giới khúc khuỷu ở giữa. Chúng có độ rộng thay đổi tùy theo khu vực và thẩm quyền, cũng như độ cao và chiều sâu. Hơn nữa, khu vực ven biển chịu ảnh hưởng rất lớn từ các quá trình diễn ra sâu trong đất liền mà cụ thể ở đây là những nguồn nước có khối lượng và chất lượng khác nhau từ những con sông tạo ra và những ảnh hưởng này được phân bố bởi các dòng chảy.

    Nguồn trích: Tạp chí Văn hóa học, 2014, Số 1, tr. 30-36

    3. Nghiên cứu giải pháp phát triển các sản phẩm du lịch gắn với đời sống văn hóa cộng đồng tỉnh An Giang thời kỳ hội nhập / Nguyễn Phú Thắng

    Tóm tắt: An Giang là nơi sinh sống của nhiều thành phần dân tộc, trong đó có người Kinh, Hoa, Chăm, Khơ – me. Các cộng đồng dân tộc với những nét văn hóa phong phú là yếu tố thuận lợi cho việc phát triển các sản phẩm du lịch dựa vào cộng đồng. Trong bối cảnh hoạt động du lịch của tỉnh còn đơn điệu về hình thức, việc phát triển các sản phẩm du lịch gắn liền với đời sống văn hóa cộng đồng là một hướng đi quan trọng nhằm thu hút khách du lịch, đồng thời bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa đặc sắc của các dân tộc. Trên cơ sở phân tích các lợi thế, thách thức trong phát triển sản phẩm du lịch gắn với cộng đồng tỉnh An Giang thời kì hội nhập, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp cơ bản để phát triển du lịch cộng đồng ở An Giang.

    Nguồn trích: Tạp chí Khoa học và Giáo dục (Đại học Sư phạm – Đại học Huế), 2022, Số 2, tr. 96-104

    4. Du lịch văn hóa trong xu thế toàn cầu hóa / Vũ Thị Lương, Nguyễn Thị Thảo

    Tóm tắt: Trên cơ sở phân tích mối quan hệ giữa du lịch và văn hóa, bài viết đánh giá những tác động của toàn cầu hóa tới văn hóa và phát triển du lịch văn hóa. Đồng thời, nhận định việc khai thác các giá trị văn hóa trong du lịch là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành du lịch Việt Nam trong xu hướng toàn cầu hóa.

    Nguồn trích: Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, 2022, Số 8, tr. 39-41

    5. Phát triển sản phẩm du lịch dựa trên đặc thù văn hóa truyền thống, địa lí của các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long thực trạng và giải pháp / Nguyễn Thị Hằng

    Tóm tắt: Trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay, hoạt động du lịch nói chung và du lịch văn hóa nói riêng, ngày càng chiếm vị trí quan trọng. Mỗi quốc gia, vùng, miền đều coi trọng sự phát triển du lịch văn hóa, nhằm góp phần quan trọng cho tăng trưởng kinh tế trong qua trình hội nhập. Đồng bằng Sông Cửu Long là một trong bảy vùng du lịch của cả nước có nguồn tài nguyên và văn hóa đa dạng, với các sản phẩm du lịch phong phú. Tuy nhiên, trong hoạt động du lịch, các sản phẩm du lịch còn đơn điệu, thiếu điểm nhấn. Vì vậy, cần tìm ra giải pháp để phát triển mạnh mẽ du lịch Đồng bằng Sông Cửu Long, trong đó, việc tạo ra các sản phẩm du lịch theo hướng du lịch văn hóa, du lịch sinh thái phù hợp với đặc thù Đồng bằng Sông Cửu Long là cấp thiết.

    Nguồn trích: Tạp chí Khoa học chính trị, 2022, Số 7, tr. 79-83

    Tổng hợp: Nguyễn Thị Cẩm Thiêu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luận Văn Đề Tài Lễ Hội Dân Gian Với Phát Triển Du Lịch Văn Hóa Ở Việt Nam
  • Năm 2022, Năm Bản Lề Phát Triển Mới Của Du Lịch Thừa Thiên Huế
  • Thừa Thiên Huế Hướng Đến Phát Triển Du Lịch Thông Minh Và Bền Vững
  • Bắt Đầu Từ Thế Mạnh Đang Có
  • Đẩy Mạnh Liên Kết Phát Triển Du Lịch Tây Bắc
  • Tiềm Năng Phát Triển Du Lịch Văn Hóa Của Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Thành Phố Vũng Tàu Nổ Lực Trong Việc Phát Triển Du Lịch Chất Lượng Cao
  • Phát Triển Du Lịch Vùng Tây Bắc
  • Phát Triển Du Lịch Y Tế: Không Dừng Lại Ở Tiềm Năng
  • Phát Triển Du Lịch Y Tế Việt Nam Như Thế Nào Ở Thời 4.0?
  • Ngành Du Lịch Yên Bái Đang Được Đánh Thức
  • Những năm gần đây, Việt Nam ngày càng coi trọng phát triển du lịch bền vững, dựa trên các tài nguyên du lịch phong phú. Đồng thời, nhiều biện pháp có hiệu quả được thực hiện để thúc đẩy phát triển ngành du lịch trở thành một ngành trụ cột của nền kinh tế quốc gia. Xây dựng thương hiệu du lịch văn hóa trở thành mục tiêu mang tính chiến lược dài hạn trong phát triển du lịch tại Việt Nam.

    Nói về tài nguyên thiên nhiên thì Việt Nam nằm trong bán đảo Đông Dương, thuộc khu vực Đông Nam Á. Đường biên giới đất liền giáp với Trung Quốc là 1.281km, với Lào 2.130km và với Campuchia 1.229km; đường bờ biển dài 3444km thông ra Vịnh Bắc Bộ, Biển Đông và Vịnh Thái Lan. Diện tích hơn 331,212km 2, với ¾ là đồi núi được chia thành bốn vùng: Đông Bắc, Tây Bắc, Bắc Trường Sơn và Nam Trường Sơn.

    Các dãy núi cao là nguyên nhân chính hình thành vùng cao nguyên khí hậu ôn đới. Những hang động, thác nước và khu nghỉ dưỡng đã thúc đẩy sự phát triển du lịch của nhiều địa phương. Có hai vùng đồng bằng chính là Sông Hồng và Sông Cửu Long với đất đai mầu mỡ, khí hậu ôn hòa, được mệnh danh là vựa lúa lớn nhất của Việt Nam. Địa hình của Việt Nam được chia thành ba phần: Bắc, Trung, Nam.

    Việt Nam có khí hậu nhiệt đới, miền Nam có hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô; miền Bắc có bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông; miền Trung có khí hậu gió mùa nhiệt đới điển hình. Việt Nam có 125 bãi biển rất đẹp, có lợi cho sự phát triển du lịch. Các bãi biển đẹp từ Bắc vào Nam có thể kể đến như: Trà Cổ, Hạ Long, Đà Nẵng, Nha Trang, Phú Quốc, … Và điều giá trị nhất để nhắc đến là trong năm 1994 và 2000, Vịnh Hạ Long hai lần được UNESCO vinh danh là Di sản thiên nhiên thế giới. Ngoài ra, Việt Nam còn có rất nhiều nguồn tài nguyên rừng, khoáng sản và thủy sản.

    Nguồn tài nguyên nhân văn, Việt Nam với hơn bốn ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước vẻ vang đã khai sinh ra nền văn hóa mang bản sắc dân tộc lâu đời và huy hoàng. Cho dù đó là thời chiến hay hòa bình, nhân dân Việt Nam vẫn luôn luôn duy trì một thái độ nghiêm túc, tinh thần làm việc chăm chỉ và ý chí mạnh mẽ. Mặc dù diện tích đất không lớn, nhưng từ Nam chí Bắc đều có sự phân bố 54 dân tộc với thói quen sinh hoạt khác nhau đã trở thành nguồn tài nguyên mang nhiều ưu thế cho để phát triển du lịch văn hóa. Tính đến tháng 8 năm 2014, Việt Nam có 40.000 di sản và danh lam thắng cảnh, trong đó có 3.000 địa danh liệt vào hàng di sản cấp quốc gia, 5000 di sản cấp tỉnh, chủ yếu ở 11 tỉnh vùng đồng bằng Sông Hồng, chiếm 70% tổng số di sản và danh lanh thắng cảnh trên toàn quốc.

    Quần thể di tích Cố đô Huế luôn là điểm đến không thể thiếu của du khách trong và ngoài nước mối khi đến Huế

    Các di sản quốc gia nổi tiếng bao gồm: quần thể di di sản Cố đô Huế, sườn phía bắc của hang động, dinh độc lập, hoàng thành Thăng Long, ATK Định Hóa Thái Nguyên, quần thể di tích chiến thắng Điện Biên Phủ, khu di tích khởi nghĩa Yên Thế, thánh địa Mỹ Sơn, tam cố bích động Tràng An, văn miếu Quốc Tử Giám, vương quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng, Vịnh Hạ Long, phố cổ Hội An, Đền Hùng, cố đô Hoa Lư, khu di tích Kim Liên, Côn Sơn Kiếp Bạc, nhà tù Côn Đảo, phủ Chủ tịch, khu di tích các mạng Tân Trào, nhà lưu niệm cố Chủ tịch Tôn Đức Thắng, thành Nhà Hồ … Trong các di sản trên thì có bảy di sản được UNESCO vinh danh là Di sản thế giới, bao gồm: Thành Nhà Hồ, hoàng thành Thăng Long, quần thể di di sản Cố đô Huế, Vịnh Hạ Long, Phố cổ Hội An, thánh địa Mỹ Sơn và Vườn quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng.

    Việt Nam có 117 bảo tàng, chủ yếu ở hai thành phố lớn tập trung chủ yếu tại hai thành phố lớn Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, bao gồm: Bảo tàng Lịch sử, bảo tàng Cách mạng, bảo tàng Hồ Chí Minh, bảo tàng Quân đội, bảo tàng Dân tộc học, bảo tàng Phụ nữ, … Hai bảo tàng quốc gia là Bảo tàng Cách mạng và Bảo tàng Lịch sử Việt Nam Việt Nam đã trưng bày và tái hiện đầy đủ và sâu sắc về lịch sử phát triển của Việt Nam.

    Về nghệ thuật dân gian có đại diện nhất là nghệ thuật múa rối nước. Những con rối dưới sự điều khiển của những nghệ sỹ đứng ẩn sau bức màn sân khấu nước hòa cùng âm nhạc truyền thống đặc trưng bản sắc dân tộc Việt Nam đã thực sự hấp dẫn du khách mỗi khi đến với Hà Nội. Ngoài ra còn có những làn điệu chèo, quan họ, những ca khúc cải lương, tiếng đàn bầu, … đã làm say đắm lòng bao du khách trong và ngoài nước.

    Về tài nguyên du lịch xã hội, Việt Nam một trong những quốc gia có nhiều lễ hội cấp quốc gia. Lễ hội truyền thống phát triển cùng lịch sử là sản phẩm tinh thần và đời sống văn hóa của người Việt. Từ xưa người Việt Nam đã có câu “Uống nước nhớ nguồn” và lễ hội là một biểu hiện truyền thống cao đẹp của nhân dân về câu nói này, ca ngợi hình tượng Thánh thần, trong đó có anh hùng lịch sử dân tộc và những anh hùng huyền thoại. Sự tưởng nhớ của người dân thông qua các lễ hội đã góp phần rất lớn tô đẹp thêm hình ảnh những người hùng dân tộc có công lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước.

    Bảo tàng dân tộc học hàng năm đón hàng triệu khách du lịch tới tham quan, tìm hiểu

    Thống kê năm 2014 cho thấy, Việt Nam có 7.966 lễ hội, trong đó có 7039 lễ hội quốc gia (chiếm 88,36%), 332 lễ hội lịch sử (chiếm 4,16%), 544 lễ hội tôn giáo (chiếm 6,28%) . Ngày lễ quan trọng nhất của Việt Nam là Tết Nguyên Đán. Ngoài ra còn có tết Đoan Ngọ, tết Trung Thu, Quốc khánh, tết Nguyên tiêu,… Các lễ hội thường diễn ra vào dịp mùa Xuân và mùa Thu. Lễ hội tâm linh lịch sử thu hút nhiều người dân nhất là Giỗ tổ Hùng Vương (Quốc lễ),

    Ngành du lịch Việt Nam qua gần 50 năm lịch sử phát triển và đã đạt được những thành quả rất lớn, trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng của phát triển kinh tế quốc gia. Trước năm 1991, hệ thống tổ chức du lịch Việt Nam vẫn thiếu một quy mô tổ chức thống nhất. Từ sau năm 1991, khi bắt đầu áp dụng hàng loạt các chính sách mở cửa du lịch, ngành du lịch đã ngày càng được coi trọng phát triển. Trong những năm sau đó, Việt Nam tập trung vào việc tạo ra thương hiệu du lịch, các khái niệm về thương hiệu dần dần hình thành để phát triển một số sản phẩm du lịch văn hóa, du lịch di sản, du lịch tâm linh, du lịch khám phá , … mở ra nhiều co hội cho phát triển du lịch văn hóa đã và đang thu hút hàng triệu du khách quốc tế mỗi năm đến với Việt Nam.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quy Hoạch Phát Triển Du Lịch Tỉnh Phú Thọ Giai Đoạn 2011
  • Tiền Giang Hướng Tới Sự Phát Triển Du Lịch Bền Vững
  • Thừa Thiên Huế Bàn Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Theo Hướng Thông Minh Và Bền Vững
  • Đề Tài Phát Triển Du Lịch Thừa Thiên Huế Rất Hay 2022
  • Phát Triển Du Lịch Bền Vững Tại Thành Phố Đà Nẵng
  • Lễ Hội Dân Gian Với Phát Triển Du Lịch Văn Hóa Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Suối Tiên Kích Cầu Du Lịch Nội Địa Mừng Tết Dương Lịch 2022
  • Kinh Nghiệm Leo Fansipan An Toàn, Thú Vị Nhất 2022
  • Top 10 Địa Điểm Leo Núi Hot Nhất Với Dân Phượt
  • Tổng Hợp 19 Cung Đường Trekking Đẹp Nhất Việt Nam
  • “Note” Ngay 10 Điểm Lý Tưởng Leo Núi Miền Bắc.
  • 1. Đặc điểm của lễ hội dân gian ở Việt Nam

    Các lễ hội dân gian ở Việt nam đều được tạo thành bởi một chuỗi các cảnh diễn liên tiếp, theo một kịch bản quy định. Những cảnh diễn, cũng như những quy định của kịch bản, lại xuất phát từ chính cuộc sống sinh hoạt và lao động của những người nông dân, nên chúng có nhiều điểm chung. Mỗi cảnh diễn được tạo thành bởi sự tập trung và tập hợp của nhiều loại hình văn hóa, để diễn tả một hoạt động, một sinh hoạt vật chất nào đó của người nông dân. Đương nhiên, sự diễn tả ấy là nhằm vào một mục đích nhất định: nói lên một nguyện vọng, một mong ước của cộng đồng vào thế giới siêu nhiên. Chính những quy tắc và quy định này đã làm cho các hoạt động lễ hội được cấu tạo theo cơ chế mô hình, nghĩa là chúng bao gồm những yếu tố có tính chất “bộ xương”, còn phần “thịt”, tức các chi tiết thì do các cá nhân, cộng đồng sáng tạo bồi đắp khi thực hiện. Điều này khiến các lễ hội dân gian nông nghiệp dù giống nhau về bộ khung, nhưng về chi tiết thể hiện thì khác nhau.

    Cũng phải nói thêm rằng, chính vì được sản sinh trong những môi trường tự nhiên và xã hội tương đồng, mà các loại hình văn hóa trong lễ hội luôn gắn bó hữu cơ với nhau đến mức: nếu tách một loại hình văn hóa nào đó ra khỏi cảnh diễn, hoặc một cảnh diễn ra khỏi lễ hội thì chúng không còn ý nghĩa như nó vốn có trong cảnh diễn và trong lễ hội nữa. Ở đây, lễ hội đã bộc lộ rõ nét một đặc điểm trong phương thức nhận thức và phản ánh của văn hóa dân gian là phương thức tổng thể nguyên hợp. Vậy mới nói, lễ hội dân gian là một loại hình văn hóa dân gian tiêu biểu.

    Khi nói lễ hội dân gian thực chất là các lễ hội nông nghiệp cũng là muốn nói chúng là sản phẩm văn hóa của những người nông dân. Họ là những người sáng tạo, nhưng đồng cũng là người tiêu dùng, hưởng thụ các lễ hội dân gian. Các hoạt động lễ hội nhằm đáp ứng nhu cầu không phải cho một cá nhân, mà cho cả cộng đồng. Nó là sáng tạo của cả cộng đồng người nông dân. Vì thế mọi tri thức, tư tưởng, tình cảm… cũng như những hành vi, quy ước, ước lệ… trong lễ hội dân gian đều được biểu tượng hóa bằng những hình ảnh, những dấu hiệu quen thuộc của cộng đồng. Mọi thành viên trong cộng đồng đều có thể cảm nhận được chúng. Cũng vì nhằm đáp ứng nhu cầu cho cả cộng đồng người nông dân mà lễ hội được lưu truyền chủ yếu qua trí nhớ chứ không phải qua chữ viết (đa số người nông dân xưa không biết chữ), nên quá trình sáng tạo ra lễ hội, cũng đồng thời là quá trình lễ hội đó được phân phối đến từng người và từng người tiếp nhận tiêu thụ.

    Tóm lại, do được cấu thành bởi sự tham gia của nhiều loại hình văn hóa dân gian mà lễ hội dân gian có mọi đặc điểm của văn hóa dân gian. Vì thế, muốn tìm hiểu được văn hóa dân gian Việt Nam, không thể không tìm hiểu các lễ hội dân gian. Và để phát triển loại hình du lịch văn hoá ở Việt Nam, không thể bỏ qua được nguồn tài nguyên văn hóa hết sức quan trọng đó là các lễ hội dân gian.

    2. Khái quát về du lịch văn hóa

    Có thể hiểu, du lịch văn hoá là một loại du lịch mà mục đích chính là nâng cao hiểu biết cho cá nhân các giá trị văn hóa nhân văn khi họ trải nghiệm ở những vùng đất mới, cộng đồng mới. Đó có thể là những di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuât, phong tục tập quán của cộng đồng dân cư nơi mà du khách đặt chân đến. Xu thế quốc tế hoá trong sinh hoạt văn hoá giữa cộng đồng và các dân tộc trên thế giới được mở rộng, dẫn tới việc giao lưu văn hoá, tìm kiếm những giá trị về nền văn hoá nhân loại, về những miền đất lạ đã trở thành một nhu cầu cho nhiều tầng lớp dân cư trong xã hội. Du lịch không còn hoàn toàn là nghỉ ngơi giải trí đơn thuần, mà còn là hình thức nghỉ ngơi tích cực có tác dụng bổ sung tri thức, làm phong phú đời sống tinh thần của con người. Đó chính là nội hàm của khái niệm du lịch văn hoá.

    Du lịch văn hoá vừa là phương tiện, vừa là mục đích của kinh doanh du lịch. Du lịch văn hoá nhằm chuyển hoá các giá trị văn hoá, các giá trị vật chất cũng như tinh thần cho hoạt động du lịch. Tuỳ theo các tiêu thức khác nhau mà người ta có thể phân chia du lịch văn hoá ra nhiều loại:

    – Du lịch tìm hiểu bản sắc văn hoá: khách đi tìm hiểu các nền văn hoá là chủ yếu mục đích chuyến đi mang tính chất khảo cứu, nghiên cứu. Đối tượng khách chủ yếu là các nhà nghiên cứu, học sinh, sinh viên – đó là các chương trình du lịch dã ngoại đến các làng dân tộc ít người thuộc các tỉnh Hoà Bình, Sơn La, Lai Châu,… để khách tìm hiểu phong tục tập quán, lối sống văn hoá của các dân tộc đó. Khách sẽ đi bộ khi tham quan các bản làng và thường nghỉ qua đêm tại các bản làng đó.

    – Du lịch tham quan văn hoá: Đây là loại hình du lịch phổ biến nhất. Du khách thường kết hợp giữa tham quan với nghiên cứu tìm hiểu văn hoá trong một chuyến đi. Đối tượng tham gia vào loại hình du lịch này rất phong phú, bên cạnh những khách vừa kết hợp đi để tham quan, vừa để nghiên cứu còn có những khách chỉ để chiêm ngưỡng để biết, để thoả mãn sự tò mò,… Do vậy, trong một chuyến du lịch, du khách thường đi đến nhiều điểm du lịch, trong đó vừa có những điểm du lịch văn hoá, vừa có những điểm du lịch núi, du lịch biển, du lịch dã ngoại, … Đối tượng khách là những người ưa mạo hiểm, thích tìm cảm giác mới và chủ yếu là những người trẻ tuổi.

    – Du lịch kết hợp giữa tham quan văn hoá với các mục đích khác: mục đích chính của khách là trong chuyến đi nhằm thực hiện công tác hoặc nghề nghiệp nào đó và có kết hợp với tham quan văn hoá. Đối tượng của loại hình này là những người đi tham dự hội nghị, hội thảo, kỷ niệm những ngày lễ lớn, các cuộc triển lãm. Loại khách này đòi hỏi trình độ phục vụ hiện đại, phong phú, có chất lượng cao, qui trình phục vụ đồng bộ, chính xác, họ có khả năng thanh toán cao nhưng nói chung thời gian dành cho du lịch của họ rất ít. Thể loại du lịch cụ thể của loại hình du lịch này là du lịch công vụ.

    Tuy nhiên, sự phân loại du lịch văn hoá thành các loại hình trên chỉ là tương đối. Vì trong một chương trình du lịch thường được kết hợp nhiều hoạt động khác nhau như: Kết hợp đi du lịch dã ngoại với du lịch theo chuyên đề văn hoá, hoặc du lịch săn bắn,… trong một chuyến hành trình nhằm tránh gây cho khách cảm giác nhàm chán.

    Du lịch văn hoá là loại hình du lịch chịu sự tác động của các yếu tố:

    – Yếu tố thời vụ du lịch: so với các loại hình du lịch khác, du lịch văn hoá mang tính đại chúng. Tuy có chịu ảnh hưởng tính thời vụ nhưng không phụ thuộc hoàn toàn. Những đặc điểm này thể hiện rất rõ ở loại hình du lịch lễ hội. Đồng thời mức độ chênh lệch cung cầu của du lịch văn hoá thường không lớn.

    – Các yếu tố nhân khẩu học:

    + Yếu tố giới tính: Có tác động đến động cơ đi du lịch và động cơ đi du lịch văn hoá là một trong những nguyên nhân chủ yếu của nam giới vì đối với họ ít chịu sự ràng buộc của gia đình, thường có trình độ học vấn cao, có địa vị xã hội,…

    + Yếu tố độ tuổi: Tham gia vào các chuyến du lịch văn hoá chủ yếu vẫn là những khách du lịch cao tuổi và thanh niên. Đối với khách cao tuổi họ thường có nhiều thời gian rỗi,… thường có kinh nghiệm trong việc đi du lịch, họ thích tìm hiểu về âm nhạc, nghệ thuật quần chúng, các món ăn đậm đà tính dân tộc,… và họ quan tâm nhiều đến chất lượng phục vụ. Ngược lại, đối với khách du lịch thanh niên đây là nhóm có số lượng đông đúc với các đặc trưng của thanh niên như: ưa khám phá, thích tìm tòi, muốn thử sức mình, thích đi xa, thích sự tự do, thích thay đổi điểm du lịch và thường đi thành nhóm lẻ,… Do đó, họ có xu hướng đòi hỏi tính mới mẻ, đa dạng trong dịch vụ du lịch, họ có khả năng thanh toán thấp, ít có kinh nghiệm trong đi du lịch, họ thường quan tâm đến giá cả nhưng ít quan tâm đến yêu cầu về chất lượng dịch vụ. Khách du lịch thanh nhiên thường tham gia vào các chuyến du lịch dã ngoại, săn bắn mạo hiểm, tham quan văn hoá,… Đối với những khách trung niên thường là những người có địa vị xã hội có khả năng thanh toán cao, có sự tự chủ lớn trong khi đi du lịch. Họ quan tâm nhiều đến chất lượng phục vụ,… họ thường kết hợp giữa đi công tác với đi du lịch.

    + Yếu tố trình độ học vấn: Những người có trình độ học vấn cao là loại khách được các nhà kinh doanh du lịch quan tâm nhiều vì những nhà học vấn cao thường thường là những người có địa vị xã hội cao, thu nhập cao, trình độ văn hoá cao nên có nhu cầu mở rộng sự hiểu biết tìm hiểu thế giới xung quanh cao hay có thể nói họ có động cơ văn hoá cao trong nhu cầu đi du lịch.

    3. Mối quan hệ giữa lễ hội dân gian và phát triển du lịch văn hóa ở Việt Nam

    – Tác động của lễ hội dan giân đến du lịch văn hóa

    Trong điều luật 79 của luật du lịch Việt Nam đã xác định rõ, Nhà nước tổ chức hoạt động hướng dẫn du lịch xúc tiến du lịch với các nội dung tuyên truyền giao tiếp rộng rãi về đất nước, con người Việt Nam, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử,… Do đó, lễ hội sẽ làm cho du lịch phát triển hơn, lễ hội làm cho du lịch trở nên hấp dẫn tạo cho số lượng khách đông hơn. Du khách đến lễ hội đông kéo theo những nhu cầu khác nhau, khi đó những mặt hàng ngành du lịch tăng lên.

    Thực tiễn phát triển ngành du lịch trên thế giới và ở Việt Nam cho thấy, du lịch Việt Nam muốn phát triển tất yếu phải khai thác sử dụng giá trị văn hoá truyền thống, cách tân và hiện đại hoá sao cho phù hợp hiệu quả, trong đó có kho tàng âm nhạc dân gian, lễ hội dân gian truyền thống. Đây là một thành tố đặc sắc văn hoá Việt Nam cho nên phát triển du lịch lễ hội chính là lễ hội sử dụng ưu thế của du lịch Việt Nam trong việc thu hút và phục vụ  khách du lịch. Mùa lễ hội cũng là mùa du lịch tạo nên hình thức du lịch lễ hội mang bản sắc văn hóa dân tộc được thể hiện qua các sắc thái văn hoá các địa phương, vùng miền phong phú đặc sắc.

    – Tác động của du lịch văn hóa đến lễ hội dân gian

    Lễ hội dân gian và du lịch văn hóa luôn luôn có sự tác động qua lại với nhau và cùng nhau phát triển làm hoàn thiện hơn ngành du lịch. Trước hết, hoạt động du lịch văn hóa có nhiều tác động tích cực đối với lễ hội. Du lịch văn hóa có những đặc trưng riêng làm cải biến hay làm hấp dẫn hơn lễ hội dân gian truyền thống. Du lịch mang đến nguồn lợi kinh tế và các loại hình sinh kế mới có khả năng tạo ra thu nhập cao cho các địa phương có lễ hội. Du lịch văn hóa nói riêng, du lịch nói chung tạo việc làm cho người dân địa phương thông qua dịch vụ như: Vận chuyển khách, bán hàng hoá, đồ lưu niệm,… Nhân dân vùng có lễ hội vừa quảng bá hình ảnh văn hoá về đời sống mọi mặt của địa phương mình, vừa có dịp giao lưu hoa văn hoá được du khách mang đến.

    Bên cạnh những tác động tích cực, du lịch văn hóa còn có những tác động tiêu cực đối với lễ hội dân gian. Với thời gian và không gian hữu hạn của các lễ hội truyền thống vốn chỉ phù hợp với điều kiện riêng của các địa phương, thực tế, khi khách du lịch tới đông sẽ làm thay đổi, đôi khi đảo lộn các hoạt động bình thường của địa phương nơi có lễ hội. Đồng thời, hoạt động du lịch với những đặc thù riêng của nó có khả năng làm biến dạng các lễ hội dân gian truyền thống. Vì lễ hội truyền thống có đặc tính mở thì vẫn còn những hạn chế nhất định về điều kiện kinh tế, văn hoá xã hội cổ truyền. Nay hoạt động du lịch mang tính liên chất, liên ngành, liên vùng, xã hội hoá cao,… sẽ làm mất đi sự cân bằng dẫn đến phá vỡ các khuôn mẫu truyền thống của địa phương trong quá trình diễn ra lễ hội. Hiện tượng thương mại hoá các hoạt động lễ hội như: Lừa đảo, bắt chẹt khách để thu lợi nhuận tạo hình ảnh xấu làm cho du khách có cảm giác hụt hẫng trước một không gian linh thiêng mà tính tôn nghiêm vẫn chưa được kiểm soát chặt chẽ, làm cho khách đi mà không muốn quay lại lần sau. Du khách đến với lễ hội kéo theo những nhu cầu mất cân đối trong quan hệ cung cầu dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường sinh thái nhân văn. Bản sắc văn hoá của vùng miền có nguy cơ bị “mờ” do kết quả của sự giao thoa văn hoá thiếu lành mạnh không thể tránh khỏi đem đến từ một bộ phận du khách.

    4. Tạm kết

    Tóm lại, phát triển du lịch văn hóa là xu hướng phát triển tất yếu và mang tính bền vững trong chiến lược phát triển du lịch của mỗi quốc gia. Phát triển du lịch văn hóa sẽ tạo nên điều kiện sinh kế thuận lợi cho người dân địa phương. Việt Nam có 54 dân tộc cùng sinh sống qua hàng nghìn năm lịch sử với những giá trị, bản sắc văn hóa riêng. Đó chính là tài sản quan trọng và rất tiềm năng để Việt Nam có thể thúc đẩy phát triển loại hình du lịch văn hóa. Tuy nhiên, để phát triển du lịch văn hóa thành công, ít để lại những hệ lụy mà do tác động tiêu cực từ hoạt động du lịch của du khách để lại, Nhà nước Việt Nam cần xây dựng hoàn chính những thể chế chính sách phù hợp. Trong đó, đặc biệt lưu tâm là hệ thống pháp luật và hành lang pháp lý khác.

     

    Nguồn: Kỷ yếu Hội thảo quốc tế: “Văn hóa với du lịch trong thế giới hội nhập” tổ chức tại Phú Yên ngày 18- 19/02/2017.

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Danh Sách Các Lễ Hội Ở Việt Nam Nổi Tiếng Nhất Trên Cả Ba Miền
  • Những Lễ Hội Đầu Năm Ở Miền Bắc Không Nên Bỏ Qua
  • 8 Lễ Hội Tiêu Biểu Ở Lạng Sơn
  • Top 7 Lễ Hội Ở Kiên Giang Thu Hút Đông Đảo Du Khách
  • Du Lịch Lễ Hội: Đền Bà Chúa Kho – Quan Họ Làng Diềm Bắc Ninh
  • Luận Văn Đề Tài Lễ Hội Dân Gian Với Phát Triển Du Lịch Văn Hóa Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Phát Triển Mô Hình Du Lịch Văn Hóa Ở Việt Nam
  • Liên Kết Hợp Tác Phát Triển Du Lịch Vùng Tây Bắc Mở Rộng
  • Tạo Bước Đột Phá Phát Triển Du Lịch Vùng Tây Bắc
  • Tphcm Nhiều Tiềm Năng Phát Triển Sản Phẩm Du Lịch Y Tế
  • Tiềm Năng Phát Triển Sản Phẩm Du Lịch Y Tế Thành Phố Hồ Chí Minh
  • Đất nước Việt Nam có tiềm năng du lịch rất phong phú và đa dạng, có sức hấp dẫn lớn chẳng những đối với khách du lịch trong nước mà còn với khách du lịch quốc tế và bà con Việt kiều ở xa Tổ quốc. Chúng ta có đủ điều kiện để đa dạng hóa các loại hình du lịch từ tham quan, nghỉ mát điều dưỡng, tắm biển, leo núi, thể thao đến nghiên cứu khoa học. và có khả năng tiếp nhận một số lượng lớn du khách. Về mặt tự nhiên, Việt Nam có nhiều cảnh đẹp, cảnh thiên nhiên có những nét hùng vĩ nên thơ của núi rừng như Sapa mờ ảo trong sương, như Đà Lạt – thành phố thông reo, hay vịnh Hạ Long – di sản thiên nhiên của thế giới Bên cạnh tiềm năng về mặt tự nhiên, Việt Nam còn có một kho tàng văn hóa – lịch sử phong phú. Đó là những di tích khảo cổ học minh chứng cho nền văn hóa Đông Sơn, Hòa Bình. nổi tiếng từ hồi tiền sử, những di tích lịch sử còn được bảo tồn nguyên hiện trạng hoặc sưu tầm được qua các triều đại lịch sử nước ta, rất có giá trị về mặt khoa học và giáo dục truyền thống, truyền bá kiến thức như Đền Hùng, Hoa Lư, chùa Tây Phương, Huế, Thánh Địa Mỹ Sơn, phố cổ Hội An. Những lễ hội truyền thống như hội Đền Hùng (Vĩnh Phú), hội Dóng (Hà Nội), hội chùa Dâu ( Bắc Ninh ), hội chùa Keo (Thái Bình), những nền văn nghệ dân gian với các nhạc cụ độc đáo (t’rưng, Krông put.) với các điệu múa đặc sắc của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Ngoài ra, chúng ta cũng có rất nhiều các mặt hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống như mây tre đan, sơn mài, gốm sứ, thêu đan, chạm khắc, các sản phẩm từ cói v.v. đạt trình độ thẩm mỹ cao, hoàn toàn có thể thỏa mãn nhu cầu các loại khách du lịch. Trong vài năm trở lại đây chúng ta thường hay nói tới một loại hình du lịch mới mà cũ đó là du lịch văn hoá. Trong hệ thống các nguồn tài nguyên phục vụ cho phát triển du lịch văn hoá có một nguồn tài nguyên hết sức quan trọng mà dường như từ lâu đã bị mai một, đó chính là các lễ hội dân gian ở Việt nam. Với mục tiêu làm rõ vai trò, ý nghĩa của lễ hội dân gian trong việc phát triển du lịch văn hoá ở Việt nam em đã chọn đề tài nghiên cứu : “Lễ hội dân gian với phát triển du lịch văn hoá ở Việt nam”. Với đề tài trên, trong bài viết này em xin được trình bày những nội dung sau: Phần I : Lễ hội dân gian, tính chất và đặc điểm của lễ hội dân gian ở Việt nam. Phần II : Lễ hội dân gian với phát triển du lịch văn hoá ở Việt nam. I-Những nét khái quát về du lịch văn hoá. II- Vai trò của lễ hội dân gian trong việc phát triển du lịch văn hoá. III-Một số lễ hội tiêu biểu ở miền bắc Việt nam. 1. Lễ hội Đền Hùng. 2. Lễ hội chọi trâu Đồ Sơn. 3. Lễ hội chùa Hương. Phần III : Những điều kiện để thu hút khách đến với các lễ hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Năm 2022, Năm Bản Lề Phát Triển Mới Của Du Lịch Thừa Thiên Huế
  • Thừa Thiên Huế Hướng Đến Phát Triển Du Lịch Thông Minh Và Bền Vững
  • Bắt Đầu Từ Thế Mạnh Đang Có
  • Đẩy Mạnh Liên Kết Phát Triển Du Lịch Tây Bắc
  • Phát Triển Du Lịch Tây Bắc
  • Di Sản Văn Hóa Phật Giáo Với Phát Triển Sản Phẩm Du Lịch Việt Nam (Hà Văn Siê

    --- Bài mới hơn ---

  • Thăm “nhà” Hoàng Phi Hồng Khi Du Lịch Phật Sơn Trung Quốc
  • Thành Phố Công Nghiệp Phật Sơn Trung Quốc Và Những Nét Đẹp Phía Sau
  • Tour Du Lịch Phú Quốc 1 Ngày
  • Những Địa Điểm Du Lịch Mới Mẻ Tại Phía Bắc Đảo Phú Quốc
  • 10 Địa Điểm Du Lịch Hấp Dẫn Phía Bắc Đảo Phú Quốc
  • Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch Việt Nam

    Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2473/QĐ-TTg, ngày 30 tháng 12 năm 2011 xác định quan điểm, mục tiêu và các giải pháp phát triển, trong đó du lịch văn hóa là một định hướng ưu tiên phát triển.

    Di sản văn hóa Phật giáo Việt Nam đã và đang trở thành những giá trị hấp dẫn,thu hút khách du lịch trong nước và cả khách quốc tế đến Việt Nam. Giá trị di sản văn hóa Phật giáo Việt Nam có sức hấp dẫn du lịch

    Có thể khẳng định, di sản văn hóa Phật giáo Việt Nam đã có những đóng góp xứng đáng vào kho tàng di sản văn hóa phong phú và độc đáo của dân tộc và ngày càng chiếm giữ vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần của đại bộ phận nhân dân các dân tộc trên các vùng, miền cả nước. Không những thế di sản văn hóa Phật giáo Việt Nam đã và đang trở thành nhưng giá trị hấp dẫn, thu hút khách du lịch trong nước và cả khách quốc tế đến Việt Nam.

    Một là, giáo lý Phật giáo từ khi du nhập vào Việt Nam đã được kết tinh, thăng hoa luôn gắn kết nhuần nhuyễn với tín ngưỡng, phong tục, tập quán văn hóa bản địa các dân tộc, vùng miền Việt Nam. Sự hòa đồng, tính khoan dung và tinh thần dân chủ, bình đẳng của Phật giáo đã trở thành chỗ dựa tinh thần cho tất cả mọi người bất kể thành phần nào, giàu hay nghèo. Sự hiện diện của Phật giáo luôn gắn liền với cuộc sống dân giã của quần chúng với hình ảnh những ngôi chùa thờ Phật gắn với làng xã Việt Nam. Sự quần chúng hóa ấy tạo lên sức mạnh vô biên của Phật giáo có ảnh hưởng rộng rãi tới xã hội và càng hấp dẫn du khách thập phương. Khách hành hương bất cứ từ đâu tới, đến với Phật giáo ở bất cứ đâu đều tìm thấy chỗ đứng của mình hòa đồng trong thế giới Phật giáo. Tinh thần hòa đồng quần chúng ấy là cơ sở quan trọng thu hút du khách trong các chương trình du lịch gắn với Phật giáo.

    Đồng thời Phật giáo giúp cho con người hiểu hơn về ý nghĩa và giá trị cuộc sống, tạo ra động lực cho cuộc sống. Giáo lý nhà Phật giúp cho con người biết tạo lập được nếp sống, lối sống chân, thiện, mỹ, đặc biệt là cách nhìn nhận và giải quyết đúng đắn những vấn đề cốt lõi trong đời sống của con người về “sinh, lão, bệnh, tử”, chỉ dẫn cho họ phương cách làm sao để có thêm ý nghĩa của hạnh phúc, an vui về mặt tinh thần bên cạnh các giá trị vật chất thông thường. Hơn thế nữa, giáo lý Phật giáo còn hướng con người trong quan hệ xã hội với con người và quan hệ với thiên nhiên một cách hài hòa và an lành, không làm tổn hại tới thiên nhiên, chúng sinh xung quanh. Ở khía cạnh này Phật giáo mang đến những giá trị tích cực cho cuộc sống về nhận thức, tư duy, sức khỏe và sự an lành, cực lạc trong tâm hồn của con người gắn với thiên nhiên và vì thế nó có sức hấp dẫn mạnh mẽ thu hút khách du lịch.

    Ba là, Không gian văn hóa truyền thống của ngôi chùa kết tinh giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của Phật giáo. Hiện nay, cả nước có 465 ngôi chùa được xếp hạng di tích lịch sử-văn hóa quốc gia trong tổng số 3.058 di tích cấp quốc gia của Việt Nam. Hầu hết các ngôi chùa được lựa chọn xây dựng vị trí vô cùng “đắc địa”, trong một khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ đầy biểu cảm, tạo nên những danh lam thắng cảnh độc đáo, môi trường thanh tịnh đậm chất thiên nhiên. Ở những nơi đó, ta có được một phức hợp kiến trúc nghệ thuật gắn bó hữu cơ và tác động tương hỗ với cảnh quan thiên nhiên thơ mộng, gợi cảm, gắn bó con người với thiên nhiên mà nhà Chùa là trung gian cầu nối, như: các khu thắng cảnh Yên Tử (Quảng Ninh), Hương Sơn (Hà Tây), Ngũ Hành Sơn (Đà Nẵng), núi Bà Đen (Tây Ninh), núi Sam (An Giang)… Đây chính là những nơi có giá trị hấp dẫn du lịch cả về văn hóa và cảnh quan và được quy hoạch trở thành những khu du lịch quốc gia, điểm du lịch quốc gia trong Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030.

    Mỹ thuật Phật giáo có thể thấy rõ nhất trong phong cách nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc trong các ngôi chùa, xứng đáng được tôn vinh là những bảo tàng nghệ thuật mà du khách có thể chiêm ngưỡng. Trong mỗi ngôi chùa ngoài vẻ đẹp, tinh tế của các họa tiết kiến trúc, điêu khắc còn thấy được nghệ thuật cấu trúc bày trí theo thuyết lý của Phật giáo trong mối tương quan con người trong vũ trụ “thiên-địa-nhân” mang tính hệ thống và tổng hợp, gắn bó hữu cơ giữa kiến trúc, điêu khắc, hội họa và cảnh trí thiên nhiên. Sự sắp xếp theo một trật tự nhằm chuyển tải lịch sử tư tưởng Phật giáo sao cho mọi tín đồ có thể vừa chiêm bái, vừa được tiếp nhận nhiều tri thức về đạo Phật. Không gian tạo hình trong chùa Phật chứa đựng hàm lượng thông tin phong phú, mang tính khái quát, hình tượng cô đọng, tinh tế. Nhờ kết hợp giữa lý trí và tình cảm, giữa trí tuệ và cảm xúc, nhờ những hình tượng nghệ thuật vừa khái quát mang tính biểu trưng mà không gian văn hóa trong chùa Phật thường xuyên có tác dụng giáo dục, hun đúc nhận thức và tình cảm của chúng sinh, qua đó mang lại cho con người cảm giác hạnh phúc đầy nhân tính, thánh thiện. Đây là yếu tố hấp dẫn mang lại giá trị thụ hưởng, giá trị trải nghiệm cho du khách mỗi khi chiêm bái và tiếp nhận thần thái của không gian nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, kết cấu bày trí, âm điệu và hương sắc trong không gian văn hóa các ngôi chùa Phật giáo.

    Sản phẩm du lịch gắn với di sản văn hóa Phật giáo

    Những yếu tố hấp dẫn đặc trưng nêu trên của hệ thống di sản văn hóa Phật giáo Việt Nam có thể nói là nguồn tài nguyên vô giá để có thể thiết kế lên những sản phẩm du lịch thông qua đó mà con người (du khách) được tham gia, tham quan, tìm hiểu, chiêm bái, chiêm ngưỡng, thưởng thức, cùng trải nghiệm hòa đồng trong không gian văn hóa, cảnh quan các ngôi Chùa, lễ hội và nghệ thuật gắn với giáo lý, đạo đức Phật giáo.

    Chiến lược và Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2022 và tầm nhìn đến năm 2030 đã xác định quan điểm, tầm nhìn và những giải pháp phát triển sản phẩm du lịch văn hóa. Trong đó, việc phát huy giá trị di sản văn hóa Phật giáo gắn với các di tích lịch sử văn hóa nhằm nâng cao giá trị và đa dạng hóa sản phẩm du lịch sẽ tập trung vào 3 nội dung chủ yếu sau:

    Quy hoạch phát triển các khu điểm du lịch trên sơ sở khai thác các giá trị nổi bật về di sản văn hóa Phật giáo và cảnh quan như: Yên Tử, Hương Sơn, Tràng An (Bái Đính), Đền Trần-Phủ Dầy, Chùa Keo, Côn Sơn-Kiếp Bạc, Tam Chúc-Ba Sao, Sơn Trà-Chùa Linh Ứng, Chùa Vĩnh Nghiêm, Núi Bà Đen, Chùa Bà núi Sam, Chùa Dơi… Quy hoạch vùng du lịch, quy hoạch phát triển du lịch trên địa ban tỉnh và quy hoạch phát triển du lịch tại các khu, điểm du lịch này phải đồng thời gắn với bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Phật giáo trong không gian văn hóa, cảnh quan chung của khu và kết nối với các khu, điểm du lịch khác trong vùng.

    Thiết kế các chương trình du lịch chuyên đề văn hóa tâm linh gắn với phát huy giá trị di sản văn hóa Phật giáo; đồng thời lồng ghép các hoạt động tham quan, tìm hiểu, trải nghiệm cho du khách đến với không gian văn hóa, nghệ thuật các ngôi chùa, đình, miếu, mạo, lăng, tẩm, lễ hội Phật giáo trong tuyến du lịch.

    Tổ chức các hoạt động dịch vụ tạo thuận lợi, tiện nghi cho du khách tại các khu, điểm du lịch trong không gian văn hóa Phật giáo để trở thành các sản phẩm đặc trưng phục vụ khách du lịch có mục đích văn hóa tâm linh gắn với Phật giáo. Chuỗi cung ứng các dịch vụ từ việc thông tin, đi lại, nghỉ ngơi cho tới dịch vụ hướng dẫn và phục vụ tham quan, tham gia, tìm hiểu, chiêm bái, chiêm ngưỡng những giá trị văn hóa, tâm linh gắn với các di sản văn hóa Phật giáo.

    Sản phẩm du lịch cụ thể bao hàm tổ hợp nhóm các dịch vụ chủ yếu sau đây:

    Dịch vụ chính đóng vai trò là động cơ thu hút khách đó là chuỗi hoạt động dịch vụ phục vụ khách văn hóa tâm linh, gồm: tổ chức hướng dẫn tham quan danh thắng, chiêm ngưỡng cảnh quan trong không gian văn hóa khu vực chùa và phụ cận; các dịch vụ phục vụ cúng bái, tế lễ; phục vụ bán, cho thuê hoặc mượn hoặc vật dụng, phương tiện tế lễ; các dịch vụ phục vụ lễ hội và hướng dẫn khách tham gia lễ hội; phục vụ thưởng thức nghệ thuật âm nhạc, múa, diễn tích truyện, diễn chèo, hát văn; các dịch vụ hướng dẫn, cung cấp thông tin, tra cứu, hội thảo phục vụ nghiên cứu, tìm hiểu văn hóa, nghệ thuật Phật giáo và các dịch vụ phục vụ hoạt động thiền, yoga, tụng kinh niệm phật và phục vụ các bữa ăn chay…Tất cả những dịch vụ phục vụ phật tử và du khách tạo thuận lợi và thoải mái nhất để mục đích đến với cửa phật của họ được toại nguyện. Hơn thế nữa, những dịch vụ đó có ý nghĩa vô cùng quan trọng giúp cho hoạt động cúng tế, cầu nguyện được diễn ra thuận tiện, may mắn, mát mẻ và làm cho bất cứ ai đến với cửa Phật, vãng cảnh chùa sẽ có được tinh thần thoải mái, mãn nguyện.

    Dịch vụ phục vụ các nhu cầu cơ bản cần thiết phải có để đảm bảo cho khách thực hiện tốt các hoạt động chính và các nhu cầu bổ sung giúp cho chuyến đi của khách đạt được nhiều mục tiêu như: đón tiếp, nghỉ ngơi, lưu trú, ăn uống, thông tin liên lạc, mua sắm… Tất cả những nhu cầu này được đáp ứng tại chỗ thông qua các nhà cung cấp dịch vụ am hiểu mục đích của khách.

    Dịch vụ lữ hành thiết kế đưa ra chương trình du lịch, thông tin, quảng bá, gom khách, đặt giữ chỗ, kết nối các dịch vụ cung ứng theo tuyến hành trình. Ở đây, đặc biệt quan trọng cần nghiên cứu và phân biệt nhu cầu, mục đích du lịch văn hóa tâm linh gắn với Phật giáo. Các chương trình du lịch được xây dựng gắn chặt với điểm đến là không gian văn hóa Phật giáo (ngôi Chùa) đáp ứng đúng nhu cầu đặc trưng của loại khách này.

    Dịch vụ vận chuyển đưa, đón khách theo tuyến hành trình trong đó điểm đến là các ngôi chùa đã xác định; dịch vụ bến đỗ và đi lại tại các điểm tham quan trong khu, các dịch vụ hỗ trợ di chuyển bằng phương tiện nội bộ, phương tiện chuyên dùng như xe điện, cáp treo, máng trượt, thuyền, đò, xuồng…;

    Để trở thành sản phẩm du lịch có thương hiệu

    Tất cả chuỗi những dịch vụ nêu trên do rất nhiều nhà cung cấp tham gia thực hiện. Để trở thành 1 sản phẩm du lịch trọn vẹn và thống nhất theo đúng nghĩa thì đòi hỏi tất cả những nhà cung cấp dịch vụ ấy đều phải nhìn về một hướng để hành động nhằm đáp ứng đúng nhu cầu của khách du lịch văn hóa tâm linh gắn với văn hóa Phật giáo.

    Ứng với mỗi chương trình du lịch, mỗi điểm đến, gắn với từng địa danh, từng ngôi chùa hay từng khung cảnh gắn với di tích, lễ hội Phật giáo hay hoạt động chuyên đề… mà ở đó nhu cầu của du khách được mãn nguyện là yếu tố quyết định đến ấn tượng, hình ảnh về chương trình, điểm đến hay hoạt động du lịch đặc trưng đó và từng bước trở thành nổi tiếng, được công chúng xa gần công nhận, yêu thích, mến mộ. Những dấu ấn tích cực đó từng bước hình thành thông điệp về chương trình du lịch, điểm đến gắn với địa danh, ngôi chùa hay hoạt động lễ hội Phật giáo… Thông điệp ấy thôi thúc dòng khách du lịch văn hóa tâm linh đến cửa Phật với số lượng, tỷ lệ, tần xuất lặp lại tùy thuộc mức độ chiều sâu, sự thăng hoa và trở lên linh thiêng của mỗi chương trình du lịch, mỗi điểm đến gắn với ngôi chùa, địa danh hay lễ hội Phật giáo.

    Những ấn tượng tốt về sản phẩm du lịch văn hóa, tâm linh đến với Phật giáo chỉ có được khi và chỉ khi hạn chế, triệt tiêu những hiện tượng tiêu cực phát sinh từ việc xuất hiện đông khách vào thời điểm chính hội hoặc quá vắng khách lúc trái vụ dẫn tới những độ trễ lệch nhất định trong đáp ứng nhu cầu đi liền với các hiện tượng đeo bám, chèo kéo, cướp giật, sả thải bừa bãi mất vệ sinh môi trường… Những yếu tố đó có tác động tiêu cực ngược trở lại làm phương hại đến quá trình hình thành và định vị thương hiệu điểm đến, thương hiệu sản phẩm du lịch.

    Do tính chất thương mại hóa đối với hoạt động của nhà chùa chỉ giới hạn ở phạm vi nhất định vì vậy nhà chùa không đặt vấn đề phát triển thương hiệu trở thành yếu tố trọng tâm mà mục tiêu chính yếu là thỏa nguyện mục đích đến với cửa Phật của phật tử, cộng đồng địa phương và du khách. Vì vậy, phát triển sản phẩm du lịch văn hóa tâm linh gắn với văn hóa Phật giáo trở thành thương hiệu sẽ có ý nghĩa ở tầm cấp tỉnh, cấp vùng và cấp quốc gia.

    Một vài gợi ý về sản phẩm du lịch gắn với Phật giáo Xứ Đông

    Xứ Đông là trung tâm của văn hóa Phật giáo ở nước ta với hệ thống di sản văn hóa Phật giáo vô cùng dày đặc, phong phú và hấp dẫn có thể kể tên những địa danh gắn với những ngôi chùa như: Yên Tử (Quảng Ninh), Côn Sơn-Kiếp Bạc (Hải Dương), Hàm Long Phúc Lâm, Hải Ninh,Nguyệt Quang,Phổ Chiếu,Tường Long (Hải Phòng)…

    Thứ hai, hình thành các tuyến du lịch, xây dựng các chương trình du lịch đến Yên Tử, đến Công Sơn-Kiếp Bạc, Đền Cửa Ông và kết nối với các đền chùa ở Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương. Đồng thời kết nối với các điểm đến khác như Hạ Long, Bái Tử Long, Cát Bà, Đồ Sơn, Trà Cổ vào những thời kỳ thấp điểm, mùa hè.

    Thứ ba, nghiên cứu, trùng tu, phục dựng, bảo quản gìn giữ những giá trị di sản văn hóa Phật Giáo; biên tập và diễn giải những giá trị lịch sử Phật giáo gắn với những danh nhân và văn hóa bản địa làng xã, những hoạt động văn hóa, nghệ thuật, chò trơi, tích truyện dân gian… Tất cả những yếu tố đó xây dựng thành tài liệu nghiên cứu, hướng dẫn tìm hiểu, quảng bá cho điểm đến với những giá trị văn hóa Phật giáo đặc sắc.

    Thứ năm, Hướng cho cộng đồng dân cư địa phương hưởng ứng làm theo, sống tốt đời đẹp đạo hướng thiện thông qua chính các hoạt động cung cấp dịch vụ: kinh doanh có đạo đức (không chộp giật, chèo kéo, đeo bám, lừa đảo), giữ gìn vệ sinh, bảo vệ môi trường, yêu quý và tận tâm với khách hành hương; tự hào, tôn vinh về nếp sống văn hóa đầy chất nhân văn do Phật giáo mang lại cho địa phương.

    Kết luận

    Văn hóa Phật giáo Xứ Đông nói riêng và Việt Nam nói chung để lại trong kho tàng di sản văn hóa của dân tộc với những giá trị vô cùng đặc sắc và hấp dẫn du lịch. Hàng năm, du khách thập phương hành hương đến với cửa Phật ngày càng nhiều; nhiều hoạt động đón tiếp và phục vụ du khách ngày càng tốt hơn, chu đáo hơn. Với sự đóng góp tích cực của các tăng ny, phật tử mà hoạt động du lịch ngày càng hoàn thiện cả về khía cạnh người cung cấp dịch vụ và cả đối với du khách tiếp nhận được những giá trị tinh hoa từ văn hóa Phật giáo mang lại. Sản phẩm du lịch độc đáo về văn hóa tâm linh gắn với Phật giáo do vậy đang hình thành rõ nét và sẽ góp phần tích cực vào việc hình thành và định vị thương hiệu du lịch Việt Nam./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Top Những Kinh Nghiệm Du Lịch Ý Tự Túc Không Nên Bỏ Qua
  • Chọn Khách Sạn Khi Đi Du Lịch Ý
  • Du Lịch Châu Âu Pháp Thụy Sĩ Ý 10 Ngày 9 Đêm
  • Những Địa Điểm Bạn Không Nên Bỏ Qua Khi Đi Du Lịch Pháp Ý Thụy Sĩ
  • Tour Du Lịch Châu Âu Pháp Ý Thụy Sĩ Tết 2022
  • Văn Hóa Ẩm Thực Trong Phát Triển Du Lịch Quảng Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Khai Thác Văn Hóa Ẩm Thực Trong Du Lịch
  • Văn Hóa Du Lịch Là Gì
  • Du Lịch Nhật Bản Chỉ Với 540$ Cho Vé Khứ Hồi Từ Hà Nội
  • Giá Vé Vào Khu Du Lịch Tràng An 2022 Đầy Đủ Và Chi Tiết Nhất
  • Vé Máy Bay Đi Đà Nẵng Giá Rẻ Vietjet, Vietnam Airlines Và Bamboo
  • Quảng Nam là một trong những điểm du lịch hấp dẫn, đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế không chỉ ở miền Trung mà còn của cả nước. Bên cạnh những loại hình du lịch truyền thống như văn hóa – lịch sử, sinh thái, nghỉ dưỡng biển, tham quan nghiên cứu, lễ hội,… những năm gần đây, nhiều loại hình du lịch như tham dự, hội nghị và mạo hiểm, văn hóa ẩm thực được xem là những sản phẩm du lịch mới của Quảng Nam.

    Đối với người Việt, ẩm thực không chỉ đơn thuần là nhu cầu thiết yếu để duy trì sự sống, mà trên hết là hình thức biểu hiện của văn hóa, một bộ phận cấu thành của bản sắc dân tộc Việt Nam. Trong quá trình thưởng thức ẩm thực, người Việt không chỉ cầu no, đủ, mạnh khỏe, mà còn cầu ngon. Họ xem ẩm thực là khoa học, nghệ thuật mà người chế biến đã thổi hồn và gửi gắm vào đó những sắc thái văn hóa địa phương. Như vậy, văn hóa ẩm thực có thể được hiểu là cách ăn, kiểu ăn, món ăn đặc trưng của từng dân tộc, địa phương, qua đó ta biết được trình độ văn hóa, lối sống, tính cách của con người trong xã hội.

    Văn hóa ẩm thực Việt Nam phong phú và đa dạng, bên cạnh lối cầu kỳ, cao sang, lại có lối bình dân, dung dị… Tuy vậy, người Việt cũng có tiêu chuẩn khá khắt khe về món ăn. Món ăn ngon phải đảm bảo tiêu chuẩn 4 ngon: ngon mắt, ngon mũi, ngon miệng, ngon lòng. Những tiêu chuẩn cơ bản trên là một trong những yếu tố tạo nên nghệ thuật ẩm thực trong phát triển du lịch. Khi đến một địa danh du lịch nào đấy, yếu tố còn đọng lại trong cảm nhận chính là hương vị của món ăn, thức uống. Nắm bắt được xu thế này, loại hình du lịch văn hóa ẩm thực ra đời.

    Du lịch văn hóa ẩm thực phát triển và có xu hướng tăng mạnh trong thời gian sắp tới là vì: nhu cầu ăn uống của con người ngày một cao; thông qua ẩm thực góp phần g iới thiệu văn hóa, thiên nhiên, con người Việt Nam; tạo thêm sản phẩm du lịch mới và đặc thù; hiện đại hóa các món ăn dân dã, phát triển nhiều phong cách ẩm thực; lưu giữ được nhiều món ăn truyền thống có nguy cơ thất truyền và tạo ra những món ăn nổi tiếng có mặt trong nền ẩm thực của Việt Nam và thế giới; đem lại lợi ích kinh tế nhanh và hiệu quả; tạo ra việc làm cho nhiều người; khi ẩm thực trở nên nổi tiếng, các sản phẩm khác sẽ phát triển theo, …

    Du lịch hiện nay được xem là con gà đẻ trứng vàng, ngành công nghiệp không khói, đem lại hiệu quả kinh tế cao. Sự tồn tại và phát triển của ngành kinh tế mũi nhọn này đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức mới: là sự mới mẻ, đa dạng và chất lượng về sản phẩm du lịch, đánh giá của du khách về chất lượng du lịch, hay sự hài lòng khi hưởng thụ một giá trị văn hóa bản địa,… Điều đó tạo cho các nhà kinh doanh du lịch và du khách những áp lực trong sự lựa chọn. Ẩm thực là dạng tài nguyên du lịch đặc biệt, thành tố quan trọng tạo nên bản sắc và phong vị quê hương, trở thành những giá trị vĩnh hằng trong tâm tưởng của con người. Đó có thể là tô Phở 24h (Hà Nội) thơm nóng, tô bún bò Huế cầu kì, hay thậm chí chỉ là một bát nước chè xanh thắm đượm nghĩa tình…

    Quảng Nam – địa danh nằm ở vị thế trung tâm của cả nước với thế ưỡn ngực ra biển Đông, cho nên văn hóa và phong vị ẩm thực của vùng đất này có những nét khác biệt so với hương hoa đất Bắc và hào phóng miền Nam, mà mang đậm phong vị miền Trung với trường phái ẩm thực cổ điển no và đậm. Ẩm thực Quảng Nam nổi tiếng gần xa với: mì Quảng, cơm gà Tam Kỳ, gà tre Đèo Le, bê thui Cầu Mống, bánh tráng cuộn thịt heo, cao lầu Hội An, rượu Hồng Đào, trái bòong boong Tiên Phước, cá niên sông Tranh, rượu tà vạt Cơ tu,…

    Đến với Quảng Nam ta không thể không đến Hội An, Tam Kỳ, những nơi tập trung nhiều đặc sản của vùng. Chợ Hội An, phố Cẩm Nam luôn tấp nập khách đến thưởng thức hằng ngày. Tuy không phải là thành phố du lịch như Hội An, nhưng chắc hẳn, nếu một ai đã từng đặt chân đến Tam Kỳ sẽ không bỏ qua phố ẩm thực đêm Huỳnh Thúc Kháng, phường ẩm thực Trường Xuân với các món ăn mang hương vị đất Quảng như mì Quảng, bánh xèo, bánh đập,… Hay trên con đường xuôi ngược Bắc Nam, những cái tên như mì Cây Trâm, mì Tư Châu, mì gà 92, mì gà Bà Tự, bánh tráng cuộn thịt heo Bụi Tre, bún Phấn, … là địa chỉ mà du khách không thể bỏ qua.

    Các hoạt động về ẩm thực như: đêm hội ẩm thực, hội chợ ẩm thực, tuần lễ văn hóa ẩm thực, festival ẩm thực, … đã có sức hấp dẫn, đánh thức trí tò mò tham dự và thưởng thức của du khách và đem lại nguồn lợi về kinh tế đáng kể cho các đơn vị tham gia. Các chương trình du lịch khám phá và tận hưởng nét ẩm thực thôn quê và cooking class (chương trình dạy nấu ăn cho du khách) luôn được các đơn vị kinh doanh du lịch lồng ghép với các sự kiện chính trị, văn hóa, thể thao và du lịch lớn như: Quảng Nam một điểm đến hai di sản, giao lưu văn hóa Việt – Nhật tại Hội An, hội nghị APEC, … Đây chính là một lợi thế mà không nhiều tỉnh thành trên nước ta có được. Từ thế mạnh này, Quảng Nam có thể trở thành một điểm nhấn trong du lịch, một tiểu vùng văn hóa ẩm thực xứ Quảng trong con mắt du khách khi biết kết hợp với những tài nguyên vốn có để phát triển du lịch.

    Quảng Nam là tỉnh hội tụ đầy đủ các yếu tố, điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn với những địa danh nổi tiếng. Nhằm khơi dậy và phát triển tài nguyên du lịch văn hóa ẩm thực Quảng Nam, xin đưa ra 5 giải pháp:

    Cần lấy văn hóa, trong đó có văn hóa ẩm thực, làm nền tảng cơ sở để phát triển du lịch bền vững. Bởi lẽ, “văn hóa là hồn của du lịch”. Hơn nữa, chính văn hóa sẽ là điều kiện, nền tảng và động lực để du lịch phát triển bền vững. Phát triển sản phẩm du lịch trên cơ sở các giá trị văn hóa truyền thống luôn được quan tâm hơn bao giờ hết. Vì vậy, quá trình đào tạo nguồn nhân lực du lịch trong tương lai cần quán triệt nhận thức này. Du lịch phải lấy văn hóa làm cơ sở để phát triển, do đó, công tác xây dựng khung chương trình đào tạo phải đặc biệt chú trọng các học phần chuyên sâu về văn hóa, các học phần về du lịch chỉ cần cung cấp kiến thức mang tính tổng quát (hay tổng quan), để từ đấy, sinh viên khi ra trường trên cơ sở các kiến thức đã được học mà lựa chọn việc làm. Vấn đề này, thiết nghĩ, rất cần thiết, bởi lẽ, khi ra trường, được giao ở mọi vị trí và công việc khác nhau, sinh viên sẽ cảm thấy tự tin làm lĩnh vực văn hóa và không lạ lẫm khi làm lĩnh vực du lịch;… Tóm lại, cần thay đổi nhận thức về hoạt động du lịch, từ đó có những sự thay đổi trong nội dung và phương pháp đào tạo cho du lịch.

    Cần xã hội hóa trong phát triển loại hình du lịch văn hóa ẩm thực. Nguồn nhân lực du lịch không đơn thuần là những người làm trực tiếp mà bao gồm cả những người gián tiếp tham gia vào hoạt động này. Đặc biệt, nên phát triển du lịch cộng đồng (homestay) tại các huyện với những hình thức hay sản phẩm du lịch khác nhau. Hội An đã rất thành công trong việc phát triển sản phẩm du lịch mới từ việc khai thác tiềm năng văn hóa ẩm thực vốn có. Một ngày làm người dân phố cổ là loại hình du lịch cộng đồng kết hợp với du lịch tham dự đang thu hút sự quan tâm của du khách hiện nay (khách du lịch sẽ được trở thành một người dân phố cổ thực thụ, cùng ăn, ngủ, làm với người dân; chẳng hạn, khi người dân vào bếp để chuẩn bị bữa ăn thì khách cũng được bày vẽ cách nấu, chuẩn bị, và cách thức ăn;…). Hình thức kinh doanh này sẽ đem lại lợi ích cho đơn vị du lịch, người dân, và cả nhà nước: đơn vị du lịch tăng doanh thu, đa dạng sản phẩm du lịch; người dân có việc làm, tạo cơ hội tăng thu nhập; nhà nước đỡ mất công sức và tiền bạc để khôi phục và bảo tồn;…

    cần liên kết giữa du lịch văn hóa ẩm thực với các loại hình du lịch khác để tạo ra các sản phẩm du lịch đặc thù Quảng Nam. Du lịch văn hóa ẩm thực không thể tự thân phát triển nếu như không có sự liên kết đồng bộ và mang tính chiều sâu trong mối tương quan với các loại hình du lịch khác. Do đó, cần xác định đây là một trong những yếu tố quan trọng phát triển du lịch Quảng Nam, và phải nhanh chóng tạo ra các sản phẩm du lịch mới, độc đáo mang đậm bản sắc riêng của vùng đất này. Phải tiến hành điều tra đánh giá về hiện trạng của sản phẩm du lịch Quảng Nam hiện có về: chất lượng, số lượng, khả năng đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của du khách,… những tiềm năng chưa được khai thác… để từ đó có kế hoạch xây dựng những sản phẩm mang tính đặc thù, chất lượng cao, đáp ứng được yêu cầu những thị trường khách chính của Quảng Nam. Từng bước, m ở thêm các tour, tuyến du lịch mới cho du khách khám phá. Tiếp tục duy trì, làm mới và đưa các sản phẩm có thương hiệu vào khai thác như: di sản văn hóa thế giới (đô thị cổ Hội An, khu đền tháp Mỹ Sơn), các di tích văn hóa lịch sử (kinh thành Trà Kiệu, Phật viện Đồng Dương, tháp Chiên Đàn, tượng đài chiến thắng Núi Thành, địa đạo Kỳ Anh, giếng Hà Nhì, khu căn cứ Nước Oa,…); hoặc khai thác lợi thế của nền văn hóa Chăm trên đất Quảng Nam để hình thành tour du lịch “hành trình khám phá bí ẩn tháp Chăm Quảng Nam”; các làng nghề truyền thống (rau Trà Quế, mộc Kim Bồng, gốm Thanh Hà , làm hương truyền thống Quán Hương, dệt thổ cẩm Cơ Tu, đúc đồng Phước Kiều, trái cây Đại Bình… ) ; lễ hội dân gian định kỳ (lễ hội bà Thu Bồn, lễ hội cầu ngư, lễ hội rước cộ bà Chợ Được, lễ hội đâm trâu Cơ Tu, lễ hội Long Chu, lễ hội Tết Nguyên Tiêu, … ); các sự kiện quan trọng (hội nghị APEC, diễn đàn ASEM, ASEAN, các cuộc thi sắc đẹp,…); và các hình thức văn hóa văn nghệ dân gian (hô hát Bài Chòi, hát Tuồng, hát Bả Trạo,…),… với các loại hình du lịch tương ứng như tham quan nghiên cứu, tham dự, cộng đồng, lễ hội, hội nghị,… Từ đó, lồng ghép và liên kết các sản phẩm du lịch đơn lẻ này lại với nhau sẽ tạo nên điểm khác biệt, thu hút du khách.

    Cần có các hình thức maketing, quảng bá rộng rãi về văn hóa ẩm thực Quảng Nam . Hiện nay, thông tin về loại hình du lịch văn hóa ẩm thực Việt Nam nói chung và Quảng Nam nói riêng chưa phát triển mạnh. Vì vậy, việc biên soạn những ấn phẩm có chất lượng và thông tin chính thức về du lịch văn hóa ẩm thực Quảng Nam là công việc cần thiết hết để giới thiệu tới du khách về tính cách và phong vị ẩm thực Quảng Nam. Những thông tin cần thiết cho khách như các điểm tham quan và thưởng thức văn hóa ẩm thực, các nhà hàng, các món ăn, giá cả các món ăn,… Kết quả khảo sát sẽ làm cơ sở cho việc xây dựng một kế hoạch mang tính khả thi cao để có những điều chỉnh phù hợp nhằm khai thác có hiệu quả, tao ra sản phẩm du lịch có khả năng cạnh tranh với các địa phương khác, của nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Đặc biệt, trong hệ thống nhà hàng, cần khuyến khích mở rộng nhiều loại hình dịch vụ bổ sung để hấp dẫn du khách. Quảng bá, marketing văn hóa ẩm thực không chỉ trên các ấn phẩm hay tờ rơi thông thường, còn đ a dạng hóa các kênh marketing thông qua các phương tiện đại chúng như panô du lịch, CD, báo, tạp chí, internet, truyền hình trong nước và quốc tế… Đồng thời, cần tổ chức các sự kiện giới thiệu hình ảnh du lịch văn hóa ẩm thực của Quảng Nam: tham gia hội chợ, triển lãm, hội nghị, hội thảo về văn hóa ẩm thực,…

    Du lịch ẩm thực đang trở thành mốt chuộng, đóng vai trò quan trọng cho phát triển kinh tế Quảng Nam, trơ thành cầu nối trong mối liên hệ chặt chẽ giữa các loại hình du lịch khác để phát huy hết tiềm năng sẵn có, đưa Quảng Nam sớm trở thành vùng du lịch trọng điểm của miền Trung cũng như của cả nước.

    Nguồn : Tạp chí VHNT số 327, tháng 9-2011

    Tác giả : Dương Văn Út

    Ý kiến bạn đọc

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khám Phá Văn Hóa Ẩm Thực Trong Tour Du Lịch Hồng Kông
  • 4 Vấn Đề Trọng Tâm Của Du Lịch Việt Nam
  • Vấn Đề Môi Trường Du Lịch Ở Việt Nam
  • Những Vấn Đề Về Du Lịch Tâm Linh Ở Việt Nam
  • Sản Xuất Vali Du Lịch Tại Hải Phòng
  • Khai Thác Giá Trị Văn Hóa Việt Cổ Phát Triển Du Lịch

    --- Bài mới hơn ---

  • Công Ty Tnhh Mtv Du Lịch Và Tiếp Thị Giao Thông Vận Tải Việt Nam (Vietravel)
  • 5 Điều Khiến Bạn Kinh Ngạc Khi Du Lịch Singapore
  • Vietravel: Du Lịch Gắn Liền Với Trách Nhiệm Cộng Đồng
  • Quảng Bá Tiềm Năng Du Lịch Và Ẩm Thực Việt Tại Berlin
  • Đà Nẵng Có Bao Nhiêu Tỉnh, Gồm Những Tỉnh Nào, Ở Đâu Có Khu Du Lịch Và Ẩm Thực Phong Phú
  • Phát biểu khai mạc Hội thảo, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Ths. Nguyễn Mạnh Cường nêu rõ: “Các giá trị văn hóa cổ và văn hóa đương đại, đặc biệt các giá trị văn hóa Việt cổ là tài nguyên vô cùng quý giá để xây dựng nên những sản phẩm du lịch độc đáo mang bản sắc riêng, có khả năng cạnh tranh cao với sản phẩm du lịch của các nước trên thế giới… Cùng với thời gian, nhiều giá trị văn hóa đang bị mai một. Đây là một thách thức lớn đối với ngành Văn hóa trong công cuộc bảo tồn và ngành Du lịch trong phát huy giá trị, khai thác các giá trị văn hóa dân tộc…”.

    Làng Việt cổ Đường Lâm

    Đường Lâm là nơi duy nhất còn lưu giữ một quần thể vẹn nguyên của một làng quê cổ Việt Nam với cây đa, giếng nước, cổng làng, mái đình rêu phong, và đặc biệt là còn những ngôi nhà cổ hàng trăm năm tuổi… là đất “hai vua” (Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng, Ngô Quyền). Đường Lâm là ngôi làng đầu tiên của Việt Nam được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia.

    có tuổi thọ trên 200 năm. Riêng làng Mông Phụ đã có trên 45 ngôi nhà gỗ cổ kính như vậy trên tổng số 200 ngôi nhà cổ ở Đường Lâm (Theo số liệu của BQL di tích làng cổ Đường Lâm, Đường Lâmcó gần 1000 ngôi nhà dân gian truyền thống trong đó có gần 300 ngôi nhà cổ có tuổi thọ trên 100 năm). Tiêu biểu nhất là đình làng Mông Phụ xây dựng cách đây trên 320 năm; hay nhà cổ của ông Nguyễn Văn Hang xây dựng từ năm 1770… Những ngôi nhà cổ được làm công phu có chạm khắc chi tiết hoa văn tinh xảo. Bên cạnh những giá trị lịch sử, hiếm một làng quê nào trên đất nước ta có tới 8 di tích được xếp hạng (có 7 di tích xếp hạng cấp quốc gia và 01 di tích xếp hạng cấp tỉnh). Đình Mông Phụ đặc trưng cho ngôi đình Việt truyền thống (với những dấu tích kiến trúc, điêu khắc, văn tự của thời Hậu Lê, thế kỷ 18 và có thể sớm hơn); chùa Mía được Bộ Văn hóa – Thông tin (cũ) xếp vào loại đặc biệt quan trọng và nổi tiếng với một hệ thống tượng phật đặc sắc (hiện tại trong chùa còn lưu giữ được 287 pho tượng lớn nhỏ, gồm 6 tượng đồng, 107 tượng gỗ và 174 pho tượng đất). Ngoài ra, Đường Lâm có những ngôi đình cổ có giá trị cao về kiến trúc nghệ thuật (được xây cất bằng chất liệu đá o­ng, rất đặc trưng của xứ Đoài) Không những thế, Đường Lâm còn bảo lưu được một khối lượng di sản văn hóa phi vật thể rất phong phú, như: lễ hội, phong tục tôn vinh các anh hùng dân tộc; lưu giữ hơn hai nghìn trang văn bản Hán Nôm (ghi chép về thần phả của làng, gia phả của các dòng họ, cùng bia ký…, sắc phong, hoành phi, câu đối, văn tự trên các bản khắc gỗ…); các sinh hoạt văn hóa của các dòng họ, phường hội, phe giáp; những hình thức sinh hoạt văn hóa nghệ thuật dân gian, như: các nghi lễ hội cá (gỏi cá), tế gà (gà Mía), trò chơi bắt vịt, đánh đu, hát nhà trò (hát ca trù – Đoài Giáp), rước đèn, cờ người…; văn hóa ẩm thực ở đây cũng rất đa dạng, với những đặc sản, như gà Mía, chè Đông Viên, chè Cam Lâm, mía, mật, tương, kẹo bột Đông Sàng… Tất cả đã cấu thành “diện mạo” của làng cổ Đường Lâm, xứng đáng được mệnh danh là “một làng cổ Việt Nam điển hình, độc đáo về nhiều phương diện, rất cần được trân trọng gìn giữ, bảo tồn dài lâu, bền vững cho hôm nay và cho mai sau”.

    Làm thế nào để thu hút khách đến với Đường Lâm?

    Đại diện các hãng lữ hành đều có chung một quan điểm, về mặt giá trị văn hóa, không thể phủ nhận giá trị to lớn về phát triển các sản phẩm du lịch trên cơ sở khai thác các giá trị văn hóa Việt cổ tại Đường Lâm. Tuy nhiên, nhiều đại biểu tỏ ra lo lắng việc quy hoạch, xây dựng, tổ chức quản lý và khai thác giá trị văn hóa cho phát triển du lịch ở làng cổ Đường Lâm.

    Giám đốc Chi nhánh Hà Nội của Công ty Liên doanh du lịch APEX Việt Nam Nguyễn Tuấn Việt cho biết: nhiều du khách thắc mắc, gọi là làng cổ mà lại thấy có nhiều nhà xây theo lối mới, bê tông, mái bằng, các bể nước Inox lô nhô, dọc con đường chính vào làng; xe máy chạy nhanh, thỉnh thoảng lại có chiếc ô tô chạy trong làng…

    Việc công nhận di tích làng cổ Đường Lâm bước đầu giúp cho du lịch Đường Lâm có thương hiệu. Tuy nhiên, cần lựa chọn những giá trị văn hóa đặc sắc để phát triển sản phẩm du lịch. Theo chúng tôi Nguyễn Quốc Hùng – Cục Di sản Văn hóa, việc tôn tạo một số ngôi nhà cổ và đình làng Mông Phụ với sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế đã đem lại thành công bước đầu; tiếp theo cần phải có quy hoạch tổng thể cho toàn bộ di tích, hạn chế tối đa việc xây dựng bê tông, mái bằng, sơn quét lòe loẹt… làm mất mỹ quan, phá hoại không gian làng cổ. Vật liệu đá ong là loại gạch truyền thống của làng, cần được khuyến khích sử dụng. Các vật liệu mới như bình inox, nhôm kính cần được vận động thay thế bằng những vật liệu phù hợp với không gian làng cổ.

    Việc tổ chức giao thông trong làng có thể nghiên cứu các mô hình vận chuyển khách thô sơ bằng xe trâu, xe ngựa kéo, cho thuê xe đạp… vừa hấp dẫn, vừa để phục vụ khách nước ngoài.

    Nhiều ý kiến cho rằng, cần phục hồi và tái tạo nghề truyền thống vốn có của làng để phục vụ du khách như nghề làm đậu tương, đan lát, trồng lúa, trồng rau… du khách đến đây không chỉ xem kiến trúc làng Việt cổ, mà được tham gia trực tiếp vào các hoạt động sản xuất, sinh hoạt hàng ngày của người dân; tổ chức các tour tìm hiểu mô hình khai thác gạch đá ong tại Đường Lâm và vùng phụ cận.

    Khuyến khích người dân đầu tư, cải tạo nhà cửa thành các cơ sở lưu trú du lịch để khai thác loại hình du lịch ngủ tại nhà dân “Home stay”, để khách có thể sống chung với người dân, kéo dài thời gian lưu trú của du khách. Hiện nay ở trong làng đã có một số nhà dân phục vụ cơm trưa cho khách du lịch, rất nhiều khách thích thú bữa cơm quê trong không gian nhà cổ với cơm cà muối, cá kho, đậu phụ, rau muống luộc… và tráng miệng bằng bát nước trà xanh và chè kho.

    Theo Giám đốc Công ty Hỗ trợ Du lịch Đỗ Đình Cương, cần tập trung đầu tư cho đội ngũ thuyết minh viên tại điểm, vì phần lớn các di tích văn hóa (đặc biệt là văn hóa Việt cổ) đều nằm trong không gian phát triển du lịch cộng đồng, mà mục tiêu phát triển loại hình du lịch này nhằm xóa đói giảm nghèo, với mục đính thu hút càng nhiều người dân địa phương tham gia càng tốt. Do vậy, tập trung đào tạo đội ngũ thuyết minh viên tại điểm chính là phát triển du lịch cộng đồng một cách hiệu quả.

    Du khách đến với Đường Lâm rất muốn tìm hiểu văn hóa Việt cổ (cả văn hóa vật thể và phi vật thể), đó là khẳng định của Viện trưởng Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam chúng tôi Nguyễn Chí Bền. Tuy nhiên, không phải du khách nào cũng có nhiều thời gian, do đó, cần có những cuốn sách hướng dẫn, tập gấp và đĩa VCD cung cấp thông tin đầy đủ từ tổng thể cho đến chi tiết về làng cổ Đường Lâm để giới thiệu với du khách.

    Ths. Bùi Thanh Thủy – Phó Trưởng khoa Văn hóa Du lịch, Đại học Văn hóa Hà Nội đề xuất: cần xem xét vấn đề phát triển dịch vụ biểu diễn nghệ thuật truyền thống (múa rối nước, chèo, tuồng…) tại các điểm di tích ở làng cổ Đường Lâm; đưa du khách tiếp cận với những làn điệu dân ca ở sân khấu ngoài trời, trong một khung cảnh khoáng đạt của làng quê thuần Việt sẽ để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng du khách.

    Những ý kiến của các nhà quản lý và kinh doanh du lịch tại hội thảo mang tính đột phá nhằm khắc họa mô hình xây dựng sản phẩm du lịch mẫu trong khuôn khổ Chương trình hành động Quốc gia về Du lịch tại làng cổ Đường Lâm – sản phẩm được xây dựng trên cơ sở khai thác các giá trị văn hóa Việt cổ Đường Lâm, hy vọng mô hình sản phẩm sẽ được nhân rộng trong cả nước…/.

    ĐỨC NGUYỄN

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đặc Trưng Của Tết Truyền Thống
  • Sứ Mệnh Lan Tỏa Văn Hóa Việt Qua Tái Hiện Mỹ Tục Và Nghệ Thuật Ẩm Thực
  • Khát Vọng Thu Hút Khách Du Lịch Qua Phong Tục Lễ Tết Và Văn Hóa Ẩm Thực Việt
  • Tour Học Sinh Du Lịch Đồng Mô 2 Ngày 1 Đêm Giá Rẻ
  • Tour Du Lịch Làng Văn Hóa 54 Dân Tộc Việt Nam
  • Ảnh Hưởng Của Văn Hóa Nước Ngoài Trên Văn Hóa Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Nên Đi Phú Quốc Bằng Phương Tiện Gì
  • Tầm Nhìn Trong Chiến Lược Phát Triển Du Lịch Quảng Ninh
  • Du Lịch Phú Quốc Bằng Phương Tiện Gì?
  • Mẹo Chuẩn Bị Hành Lý Khi Đi Du Lịch Thái Lan
  • Mẹo Vặt Khi Đi Du Lịch Thái Lan Để Không Bị Bỡ Ngỡ
  • Việt Nam là một nước được coi như là điểm hội tụ của các nền văn hóa Đông – Tây và dĩ nhiên cũng là nước chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của hai nền văn hóa Phương Đông.

    Khi nói đến văn hóa Phương Đông cũng như nói đến sự ảnh hưởng của nó lên văn hóa Việt Nam thì người ta nghĩ ngay đến nền văn hóa vĩ đại Trung Hoa. Nền văn hóa Trung Hoa vừa mang tính cách đa dạng cả về văn hóa tinh thần lẫn văn hóa vật chất vừa có bề dày lịch sử vào hàng nhất nhì thế giới. Văn hóa Trung Hoa đã ảnh hưởng một cách sâu đậm đến hầu như toàn bộ khu vực Đông Nam Á. Đặc biệt đối với văn hóa Việt Nam thì văn hóa Trung Hoa đã để lại nhiều dấu ấn và chứng tích đậm nét ăn sâu vào cả văn hóa tinh thần lẫn văn hóa vật chất. Nó đã gắn liền với các sinh hoạt trong đời sống của người dân Việt Nam từ xưa tới nay.

    Hoàn cảnh và thời gian thâm nhập vào Việt Nam

    Song song với mục tiêu chính trị – quân sự và thương mại, văn hóa Trung Hoa đã du nhập vào Việt Nam theo bước chân của các đạo quân xâm lược qua các thời kỳ xâm chiếm Việt Nam. Theo lịch sử Việt Nam, Trung Hoa xâm lược và cai trị Việt Nam trên một ngàn năm qua ba thời kỳ chính:

    – Thời kỳ thứ nhất, thời nhà Triệu, từ năm 207 – 39 TCN

    – Thời kỳ thứ hai, thời Đông Ngô, từ năm 43 – 543

    – Thời kỳ thứ ba, thời nhà Đường, từ năm 603 – 939

    Ba cuộc xâm lược kéo dài này, là thời gian văn hóa Trung Hoa luôn hiện diện trên đất nước Việt Nam, còn người Việt thì luôn phải tiếp cận và phải sống với nền văn hóa khổng lồ này để rồi nó đi sâu vào trong máu thịt của hàng trăm thế hệ người Việt Nam và chiếm lĩnh hầu hết vị trí của văn hóa thuần túy Việt Nam. Ngoài ba cuộc xâm lược kéo dài này, còn có một số cuộc xâm chiếm khác nữa đã làm cho văn hóa Việt Nam trở nên điêu tàn nhường chỗ cho văn hóa Phương Tây.

    Trong mấy thế kỷ tiếp xúc và giao lưu với văn hóa Phương Tây, văn hóa Việt Nam đã chịu ảnh hưởng khá sâu đậm vào nhiều lĩnh vực, cả trên văn hóa tinh thần lẫn văn hóa vật chất. Thế nhưng tùy lúc tùy nơi, người Việt có thể chấp nhận hay chống đối, nhưng bao giờ cũng là một sự thâu hóa linh hoạt, tiếp nhận những gì có ích và biến đổi cho phù hợp với tính cách, điều kiện và nhu cầu của người dân.

    Thời gian và hoàn cảnh thâm nhập

    Thời gian thâm nhập của văn hóa Phương Tây có thể manh nha từ thế kỷ XVI – XVII khi các giáo sĩ Phương Tây đến truyền đạo Kitô giáo. Ngoài ra, song song với tôn giáo, văn hóa Phương Tây còn đi vào Việt Nam bằng con đường chính trị, kinh tế, thương mại,… Chúng ta có thể chia thời gian và hoàn cảnh thâm nhập của văn hóa Phương Tây thành 4 thời kỳ chính:

    – Khởi đầu là thời kỳ thâm nhập của Kitô giáo

    – Thời kỳ thực dân xâm lược và giao lưu với văn hóa Pháp (1858 – 1945)

    – Thời kỳ giao lưu với văn hóa XHCN Max-Lênin (1945 trở đi)

    – Thời kỳ hiện tại, giao lưu với văn minh văn hóa nhân loại.

    PHẬT GIÁO

    Quá trình xâm nhập, phát triển và những bước thăng trầm của Phật giáo ở Việt Nam

    Đầu công nguyên (thế kỷ II) các nhà sư Ấn Độ đã đến Việt Nam theo đường biển và thiết lập ở Luy Lâu, trị sở quận Giao Chỉ, một trung tâm Phật giáo lớn.

    Đến thế kỷ IV – Việt Nam lại có thêm luồng Phật giáo Đại Thừa Bắc Tông từ Trung Hoa tràn vào Việt Nam và chẳng mấy chốc nó đã lấn át và thay thế luồng Nam Tông có từ trước đó. Vì thâm nhập vào Việt Nam trong bầu khí hòa bình nên Phật giáo đã phổ biến rộng khắp ngay từ thời Bắc Thuộc và tiếp tục phát triển sau này.

    Đến thời Lý – Trần Phật giáo Việt Nam phát triển tới mức cực thịnh. Nhiều chùa chiền được xây khắp cả nước. Dân chúng tô tượng, đúc chuông, sùng bái Phật Thích Ca.

    Sang đời nhà Lê, nhà nước tuyên bố lấy Nho giáo làm quốc giáo; Phật giáo bị phái Nho công kích, triều đình không săn sóc nên Phật giáo đi vào con đường suy thoái.

    Đến thời Pháp thuộc Phật giáo càng bị chèn ép và suy kém rất nhiều. Tuy nhiên cho đến nay số tín đồ Phật giáo vẫn chiếm một con số rất lớn tại Việt Nam và có nhiều ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống của người dân Việt Nam.

    Ảnh hưởng của Phật giáo đến văn hóa Việt Nam

    Phật giáo với tư cách là những giáo lý cao sâu, trừu tượng, thuần túy mang tính bác học hầu như lại ít ảnh hưởng tới đại đa số quần chúng. Cái ảnh hưởng lên lớp bình dân lại là những tư tưởng cơ bản nhưng đơn giản, dễ hiểu, nếp sống đạo đức, tác phong của các nhà sư.

    Từ khi du nhập, theo suốt chiều dài lịch sử, Phật giáo luôn có mặt, gắn bó mật thiết với dân tộc và hầu như đã thấm sâu vào máu thịt của con người Việt Nam. Bởi vậy dù trực tiếp hay gián tiếp, hầu hết người Việt đều chịu ảnh hưởng của Phật giáo.

    a/. Con người Việt Nam và thuyết nhân quả của Phật giáo

    Phật giáo cho rằng mối quan hệ cơ bản phổ biến của mọi sự vật hiện tượng là quan hệ nhân quả. Quan niệm này có ảnh hưởng rất lớn đến quan niệm về thế giới quan và nhân sinh quan của đại đa số người Việt. Người ta luôn nói với nhau: “gieo nhân nào thì gặt quả ấy”, “gieo gió gặt bão”, xem cái gì cũng là kết quả của một cái trước. Mỗi khi gặp sự việc gì xảy đến cho bản thân, người Việt dễ cho là phải có một nguyên nhân nào đó. Luật nhân quả có tác dụng trực tiếp là khuyên người ta làm thiện, tránh ác vì nhân nào thì quả ấy, thiện giả thiện báo, ác giả ác báo. Từ đây cũng dẫn đến quan niệm làm phúc để lại cho con cháu; cha ăn mặn, con khát nước. Trong nhiều trường hợp động lực thúc đẩy người Việt sống lương thiện chính là để tích đức lại cho con cháu.

    b/. Người Việt và quan niệm về cái Tâm của Phật giáo

    Phật giáo cho rằng cái tâm con người rất quan trọng, nó chi phối tất cả con người ta, “nhất thiết duy tâm tạo”, mọi thứ đều do tâm tạo ra. Quan niệm này đã ảnh hưởng sâu xa đến cách cư xử của người Việt Nam. Ngay trong quan hệ giữa người với người ở nước ta từ xưa đến nay dân ta đều coi trọng cái tâm. Trong mọi việc, vấn đề quan trọng là tấm lòng, là thành tâm, thực bụng. Đây là truyền thống quý báu của người Việt Nam với sự góp phần rất lớn của Phật giáo. Nguyễn Du đã thấm nhuần tinh thần này của Phật giáo và đã thốt lên trong tác phẩm của mình: “Thiện căn ở tại lòng ta. Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”.

    c/. Lòng từ bi của Phật giáo và tâm hồn khoan dung của con người Việt Nam

    Lòng từ bi của Phật giáo đã thấm nhập vào tâm hồn người Việt vốn mang trong mình hòa tính và nữ tính – nét đặc trưng của văn hóa nông nghiệp – để tạo nên bản tính hiếu hòa, khoan dung nơi tâm hồn người Việt. Điều này được chứng nghiệm qua các cuộc chiến tranh ở nước ta. Các cuộc chiến tranh xảy ra ở nước ta đều xuất phát từ ý đồ xâm lược của kẻ ngoại xâm, người Việt chỉ chiến đấu để bảo vệ chủ quyền của đất nước mình mà thôi. Trong các cuộc chiến khi mà kẻ địch không còn khả năng chống cự, người Việt không nỡ lòng nào giết họ. Trong nhiều trường hợp các tướng không những không giết quân giặc mà còn cấp thuyền, ngựa, lương thực cho họ được về nước. Tư tưởng này còn thể hiện rõ trong thái độ của Nguyễn Trãi: “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn. Lấy chí nhân để thay cường bạo”.

    Quan niệm “nhu thắng cương”, “nhược thắng cường” đã được các thế hệ cha ông ta truyền lại cho nhau thể hiện rõ lòng khoan dung của người Việt, nhờ sự góp phần không nhỏ của Phật giáo.

    d/. Phật giáo và các lễ hội ở Việt Nam

    Lễ hội đóng một vai trò quan trọng trong sinh hoạt văn hóa của người Việt. Trong số những lễ hội lớn có một phần đóng góp không nhỏ của Phật giáo. Đến ngày hội dân chúng không những tại địa phương mà có khi còn từ các tỉnh khác tới tham dự lễ hội rất đông. Nhiều lễ hội có nguồn gốc từ Phật giáo đã trở nên như máu thịt, như một phần không thể thiếu trong sinh hoạt văn hóa của người Việt Nam. Một trong số những lễ hội đó có thể kể đến như Hội Chùa Hương ở tỉnh Hà Tây. Hội mở từ đầu tháng Giêng cho đến hết tháng Hai, ngày hội chính là ngày rằm tháng Hai. Hội Chùa Thầy mở vào ngày mồng bảy tháng ba âm lịch hằng năm tại tỉnh Hà Tây. Hội Đền Linh Sơn Thánh Mẫu tại núi Bà Đen, Tây Ninh. Hằng năm vào dịp xuân, từ mồng 10 tháng Giêng dân chúng các nơi tới hành hương lễ bái rất đông, nhất là ngày 15 tháng Giêng. Hội Miếu Bằng Lăng được tổ chức hằng năm vào ngày 15 và 16 tháng Ba âm lịch tại tỉnh An Giang,…

    NHO GIÁO Nho giáo và sự phát triển tại Việt Nam

    Ngay từ đầu công nguyên Nho giáo đã được truyền bá vào Việt Nam. Tuy nhiên, vì đây là thứ văn hóa của kẻ xâm lược áp đặt nên, ngoài một số người Việt đỗ đạt được bổ nhiệm làm quan trong bộ máy cai trị Trung Hoa, trong suốt thời kỳ Bắc thuộc (207 – 906 TCN), Nho giáo tuy đã được đưa vào Việt Nam nhưng chưa có chỗ đứng trong xã hội Việt Nam.

    Đến thời tự chủ, Nho giáo bắt đầu phát triển tại Việt Nam. Với sự kiện Lý Thái Tổ (Lý Nhân Tông) cho lập văn miếu thời Khổng Tử năm 1070, có thể coi đây là lúc Nho giáo được tiếp nhận chính thức.

    Nho giáo được xem là thịnh hành nhất trong thời nhà Lê khi mà Nho giáo được coi như là Quốc giáo. Nho giáo còn hưng thịnh cho đến thời Pháp thuộc từ năm 1858 thì bị Pháp lấn át và bãi bỏ các kỳ thi về Nho học. Và cứ như thế, Nho giáo dần mất chỗ đứng không những trong xã hội mà còn phai nhạt dần trong lòng người Việt.

    Ảnh hưởng của Nho giáo tại Việt Nam

    Nho giáo đã có một sự ảnh hưởng khá sâu rộng lớn đến nhiều mặt của cuộc sống của người Việt trong một thời gian dài. Nhiều khi Nho giáo lại uyển chuyển để thích nghi với nền văn hóa của Việt Nam để rồi bị Việt Nam hóa. Vì thế có nhiều điểm ta không biết được đâu là văn hóa thuần Việt Nam và đâu là ảnh hưởng của Nho giáo. Tuy thế Nho giáo đã để lại nhiều ảnh hưởng rõ nét trên hai bình diện chính là gia đình và xã hội.

    Có thể khẳng định rằng văn hóa truyền thống của người Việt mang tính mẫu hệ giống như một số dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay như Chăm, Êđê, … Chính Nho giáo đã mang vào Việt Nam quan niệm phụ hệ.

    Nho giáo coi gia đình là đơn vị để xây nên sự vững mạnh cho đất nước nên gia đình cần phải có trật tự trên dưới rõ ràng. Với địa vị độc tôn của người cha trong gia đình, có quyền quyết định mọi việc trong nhà giống như một ông vua có quyền tuyệt đối trên các quan và thần dân.

    Trong gia đình con cái phải tuyệt đối vâng lời cha mẹ, ngay cả trong việc hôn nhân con cái cũng phải theo sự hướng dẫn của cha mẹ: cha mẹ đặt đâu con ngồi đó. Ngoài ra con cái phải sống với cha mẹ cho tròn chữ hiếu và hiếu là một việc bắt buộc đối với bổn phận làm con: “Một lòng thờ mẹ kính cha. Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”.

    Thế nào là sống tròn chữ hiếu? Con cái được xem là có hiếu khi biết săn sóc, phụng dưỡng cha mẹ thật chu đáo khi còn sống khỏe mạnh cũng như lúc đau yếu, khi về già. Lúc cha mẹ qua đời còn phải chu toàn chữ hiếu bằng cách lo tang tế đàng hoàng, lại còn phải nhang khói đầy đủ để thờ phượng cha mẹ nữa.

    Người phụ nữ bị xem là bị lệ thuộc vào người đàn ông trong suốt cuộc đời của mình. Với quan niệm tam tòng: tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử, nghĩa là ở gia đình phải theo cha, lấy chồng phải theo chồng và chồng chết thì phải theo con. Quan niệm nam tôn nữ ti hay trọng nam khinh nữ, mặc dù đã bị khúc xạ do bản chất mẫu hệ của văn hóa Việt Nam, nhưng đã một thời ảnh hưởng rất mạnh và nay vẫn còn hằn sâu trong tâm thức của người Việt, nhất là ở các vùng quê: nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô.

    Nho giáo nhấn mạnh đến vấn đề đạp nghĩa trong cuộc sống thường ngày giữa người với người, đề cao chữ nhân trong cách ứng xử của con người vì nhân và nghĩa là hai đức tính được đề cao hàng đầu trong Ngũ thường (Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín). Người Việt đã chịu ảnh hưởng sâu xa của quan niệm này, vì thế cho đến ngày nay người Việt vẫn luôn coi trọng đạo nghĩa. Sống với nhau phải có đạo nhân, nghĩa, không làm những việc trái với luân lý, nghĩa là trái với những điều được vạch ra trong Ngũ thường. Hơn nữa, trong các mối quan hệ thì phải biết tôn trọng lẫn nhau, lại phải biết kính trên, nhường dưới.

    Một nét ảnh hưởng nữa có thể kể đến là các loại nghi thức tế tự. Bao nhiêu nghi thức tiết lễ của Nho giáo đã dần được áp dụng trong việc phụng thờ của các tôn giáo khác, đáng kể hơn hết là trong đạo Thờ Phụng Tổ Tiên, đạo thờ Thần,…

    III. ĐẠO GIÁO (LÃO GIÁO) Bối cảnh hình thành Lão giáo và sự truyền bá vào Việt Nam

    Vào thời Lão Tử, người đời chuộng lễ nghĩa, chú ý rất nhiều đến những điều vụn vặt, làm bận tâm trí con người và vì những điều câu nệ tỉ mỉ đã làm mất đi cái khoáng đạt của tâm hồn. Trước tệ đoan đó, Lão Tử có ý muốn sửa đổi lại để con người sống theo lẽ tự nhiên. Vì thế với tôn chỉ vô vi, Lãi Tử đã lập nên Lão giáo.

    Lão giáo thâm nhập vào Việt Nam vào khoảng cuối thế kỷ II qua các đạo sĩ chạy lánh nạn đến Việt Nam. Ngay khi đến Việt Nam, Lão giáo đã tìm thấy những tín ngưỡng tương đồng đã có sẵn từ lâu vì người Việt từ xa xưa đã rất sùng bái ma thuật, phù phép; họ tin rằng các lá bùa, những câu thần chú có thể chữa bệnh, đuổi tà ma, tăng sức mạnh,… Đến thời Đinh Tiên Hoàng, văn hóa Lão giáo khá phát triển, nhưng không thịnh bằng đạo Phật và đạo Nho. Lão giáo ở Việt Nam chia làm hai phái chính: Lão giáo phù thủy và Lão giáo thần tiên.

    Ảnh hưởng của Lão giáo tại Việt Nam

    Vì Lão giáo được chia làm hai nhánh chính nên ảnh hưởng của nó tại Việt Nam cũng chia làm hai hướng rõ rệt, mối hướng ảnh hưởng lên từng tầng lớp khác nhau trong xã hội.

    Lão giáo phù thủy tác động khá sâu sắc đến tầng lớp bình dân khi họ tiếp cận văn hóa Lão giáo ở khía cạnh thần tiên, huyền bí; họ tin vào phép bói toán, tu luyện, phù thủy,… Do vậy, lối tiếp cận này đã dần mê tín dị đoan như xem bói, cúng, quảy, làm phép để trừ khử ma quỷ, lập đền miếu để thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế, Hải Thượng Lãn Ông,… và qua hệ thống đồng cốt để cầu xin giàu sang phú quý và chữa bệnh. Đền Ngọc Sơn (Hà Nội), điện Hòn Chén (Huế), điện Bà Chúa Xứ (An Giang) và các đền miếu khác là những nơi tín đồ Lão giáo thường tụ họp vào ngày rằm, mồng một hoặc các ngày lễ lớn khác để cầu xin, lên đồng, chữa bệnh,…

    Lão giáo thần tiên lại ảnh hưởng lên tầng lớp trí thức, đặc biệt là một số nhà Nho Việt Nam. Sinh không gặp thời, gặp chuyện bất bình ở chốn quan trường hay chỉ đơn giản là thích cuộc sống nhàn hạ, phóng khoáng, chán chường danh lợi, “nhìn xem phú quí tựa chiêm bao”, nên khi về già thường lui về sống ẩn dật, vui thú với thiên nhiên, bên chén rượu, bàn cờ, ngâm thơ; sống điều độ với tinh thần thanh thản trong khung cảnh thiên nhiên. Tiêu biểu có các nhà Nho như Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phan Huy Ích, Nguyễn Công Trứ,…

    KITÔ GIÁO

    Có tài liệu cho rằng chân phước Ordorico Di Pordenone đã đến Chiêm Thành (Việt Nam ngày nay) vào tiền bán thế kỷ XIV. Tuy nhiên không có bằng chứng chắc chắn là Kitô giáo đã được truyền vào Việt Nam thời đó.

    Từ sau năm 1550 một số tu sĩ Đaminh đã vào Việt Nam truyền giáo, đến năm 1586 lại có thêm các tu sĩ dòng Phanxicô vào Việt Nam, nhưng việc truyền giáo kém hiệu quả vì vấn đề bất đồng ngôn ngữ.

    Sang đầu thế kỷ XVII có thêm các tu sĩ Dòng Tên vào truyền giáo tại Việt Nam. Nhiều giáo sĩ Dòng Tên thông thạo tiếng Việt Nam, lại hoạt động khôn khéo nên mặc dù gặp khó khăn phức tạp, có khi đổ máu nhưng thu hút được khá nhiều người theo đạo và cứ thế việc truyền giáo phát triển với số Kitô hữu tăng lên đều đặn.

    Đến thế kỷ XVIII việc cấm đạo trở nên gay gắt, với các sắc chỉ cấm đạo của các chúa Minh Vương, Võ Vương, đặc biệt trong ba đời vua của triều Nguyễn là Minh Mệnh, Thiệu Trị và Tự Đức có tất cả 14 sắc chỉ cấm đạo Công Giáo. Nhiều nhà thờ bị đốt phá, giáo dân bị tù đày, giáo sĩ bị giết,…

    Sau khi chiếm được Việt Nam, nhất là sau khi thiết lập được chế độ thống trị, Pháp đã dành cho các giáo sĩ của Hội Thừa Sai Paris nhiều điều kiện thuận lợi cho việc truyền giáo. Vì thế hàng ngàn cơ sở tôn giáo được triển khai xây dựng, số tín hữu ngày càng tăng nhanh.

    Mãi đến năm 1933, sau hơn 400 năm truyền đạo, Giáo hội Việt Nam mới được quyền tự quản với vị giám mục đầu tiên là Nguyễn Bá Tòng. Năm 1960 hàng giáo phẩm Việt Nam được chính thức thành lập và từng bước xây dựng và phát triển cho đến ngày nay.

    ***

    PHẦN II: SỰ ẢNH HƯỞNG VỀ NGÔN NGỮ

    Tiếng Việt ngày nay chịu ảnh hưởng khá lớn từ hai dòng chính là Trung Hoa và Tây Âu

    TRUNG HOA

    Ngay từ đầu công nguyên, từ khi có sự đô hộ phương Bắc, tiếng Hán đã được sử dụng ở Giao Châu với tư cách một sinh ngữ. Người Hán muốn đồng hóa tiếng nói của dân tộc Việt, nhưng tiếng Việt vốn đã có cơ sở vững vàng từ trước vẫn tiếp tục tồn tại. Tuy nhiên, trải qua hàng ngàn năm, một số lẻ tẻ từ Hán thường dùng đã được người Việt vay mượn để lấp chỗ thiếu hụt trong tiếng Việt như: buồng, buồn, muộn, mây, muỗi, đục, đuốc,… Cuối thời đô hộ, người Hán mở nhiều trường học, văn ngôn Hán được truyền bá rộng rãi cùng với kinh, sử, tử, tập. Sang thời tự chủ, tiếng Hán và chữ Hán vẫn được các triều đại phong kiến Việt Nam tiếp tục sử dụng trong cơ quan hành chính, trường học, khoa cử cũng như trong sáng tác văn chương. Nhưng lúc này tiếng Hán đã mất tính cách là một sinh ngữ; tiếng Hán không được đọc theo âm Hán của người Hán. Người Việt đã tạo ra âm Hán Việt là cách đọc chữ Hán của riêng người Việt trên địa bàn Việt Nam. Âm Hán Việt đã tạo điều kiện để chuyển tải hàng loạt từ Hán du nhập vào tiếng Việt. Những từ này có thể giữ nguyên nghĩa, cũng có thể chuyển đổi nghĩa theo hướng Việt hóa.

    Vào những thế kỷ cuối cùng, các nước châu Á bắt đầu chịu ảnh hưởng của tư tưởng tư sản châu Âu qua cửa ngõ Nhật Bản. Người Nhật đã dùng chữ Hán trong văn tự của họ để phiên dịch các khái niệm của châu Âu, sau đó người Hán lại đọc các từ đó theo âm Hán và người Việt Nam lại đọc các từ này theo âm Hán Việt, ví dụ như các từ: dân chủ, cộng hòa, giác ngộ, giai cấp, kinh tế, chính trị, xã hội, cách mạng, quần chúng, quyền lợi, tư sản,…

    Từ đầu thế kỉ XX và đặc biệt sau Cách mạng tháng Tám 1945, những từ này đã ồ ạt đi vào tiếng Việt cùng với những từ Hán Việt để tạo thành những từ riêng của mình như đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn, đại bác, phi công, náo động, thiếu tá, trung tá,…

    Sau khi âm Hán Việt đã hình thành, trong tiếng Việt vẫn có những biến đổi ngữ âm. Những biến đổi này có thể tác động vào một bộ phận tự Hán Việt, nhất là những từ sinh hoạt, làm cho những từ này phát sinh ra âm mới như: gan, gương, dừng, vốn, vạch,… Những từ này cũng có những nét ngữ nghĩa và phong cách riêng khác với từ Hán Việt và thường được gọi là từ Hán Việt Việt Hóa.

    TÂY ÂU

    Hậu bán thế kỷ XVII các nhà truyền giáo người Tây Ban Nha, Ý, Pháp sang truyền giáo tại Việt Nam thì khó khăn họ gặp phải đầu tiên là vấn đề ngôn ngữ. Vì thế, với sự góp công to lớn của giáo sĩ Alexandre de Rhodes và một số giáo sĩ khác, họ đã dùng mẫu tự Latinh, có bổ sung thêm các dấu phụ để ghi âm tiếng Việt; và thứ chữ đó được gọi là chữ Quốc ngữ. Hơn nữa họ còn soạn nhiều cuốn từ điển như Việt – Bồ, Bồ – Việt, Việt – Bồ – La, nhờ đó người Việt có thể học chữ quốc ngữ dễ dàng hơn nhiều so với chữ Nôm trước đó. Vì dễ học, dễ nhớ nên chữ Quốc ngữ ngày càng được nhiều người học và nó đã góp phần rất lớn trong việc phổ cập giáo dục và nâng cao dân trí của người Việt Nam lúc bấy giờ. Kết quả là nhiều tác phẩm bằng chữ Quốc ngữ đã ra đời và đến năm 1856 khoa báo chí bằng tiếng Việt được hình thành. Tờ báo đầu tiên do Ernest Potteaux làm chánh tổng tài được phát hành, số đầu tiên ra ngày 15-01-1865. Tờ báo này được gọi là Gia Định báo.

    ***

    PHẦN III: SỰ ẢNH HƯỞNG VỀ GIÁO DỤC

    ẢNH HƯỞNG CỦA TRUNG HOA

    Giáo dục gia đình

    Theo truyền thống cổ truyền, dân tộc ta sống theo chế độ gia tộc mẫu hệ, tức là người con sinh ra chỉ biết có người mẹ mà ít quan tâm đến người cha, và người cha không có quyền gì đối với vợ con cả. Tuy nhiên chế độ này ngày nay hầu như đã mất hẳn, và thay vào đó là chế độ phụ hệ. Theo các nhà sử học Việt Nam, chế độ phụ hệ là do giáo lý Khổng – Mạnh truyền sang. Chế độ phụ hệ là tập tục cha truyền con nối. Người con sinh ra là phải lấy theo họ cha, và xem họ hàng bên cha là họ nội, họ hàng bên mẹ là họ ngoại.

    Từ chế độ phụ hệ đưa đến chế độ phụ quyền, nghĩa là nam tôn nữ ty, trọng nam khinh nữ. Người đàn ông nắm quyền làm chủ gia đình, còn phụ nữ chỉ phụ thuộc. Chế độ này ảnh hưởng nhiều nhất trong tầng lớp quan lại thượng lưu thời xưa. Còn trong thời đại hôm nay, chế độ này ảnh hưởng rất ít vì một phần do tiếp xúc với lối sống tự do bình đẳng của phương Tây, cộng thêm sự trở lại chế độ Mẫu hệ truyền thống, nên các gia đình hầu như đã tiếp nhận và dung hòa giữa các chế độ với nhau và đưa ra một chế độ bình đẳng bình quyền như hôm nay. Họ quan niệm “Thuận vợ thuận chồng tát bể đông cũng cạn”.

    Việc giáo dục gia đình trong Nho giáo có một vị trí rất quan trọng. Mạnh tử nói: “Thiên hạ gốc ở nước, nước gốc ở nhà, nhà gốc ở thân mình” và “nhà mình không thể dạy mà dạy được người ta điều không có. Trị quốc, Bình thiên hạ làm được hay không phụ thuộc vào việc tề gia”,… Như vậy, việc tề gia trở thành vấn đề quốc sách chứ không còn là việc của cá nhân hay của một gia đình, một dòng họ nữa.

    Giáo dục hiếu đễ

    “Con có hiếu với cha mẹ, em kính nể anh chị được coi là đức tính quí báu nhất, là tình cảm tất yếu, tự nhiên của con người”. Chữ hiếu đi liền với chữ trung. Chữ tình phải nhẹ hơn chữ hiếu. Mặc dù đạo hiếu quá khắt khe, có phần độc đoán, song có những điểm đáng trân trọng, giữ gìn. Và chính những điểm đó vẫn còn đọng lại trong nền giáo dục gia đình Việt Nam hôm nay.

    “Con cái phải có trách nhiệm nuôi dưỡng, kính trọng ông bà, cha mẹ, luôn luôn làm những điều thiện để cha mẹ được vui lòng”. Khổng Tử coi việc con cái nuôi nấng cha mẹ mà không kính thì không khác gì nuôi súc vật.

    “Thờ phụng tổ tiên là biểu hiện lòng hiếu thảo của con cháu, các thế hệ sau đối với người đã khuất, sự thờ phụng đó là để tỏ lòng tưởng nhớ, biết ơn đối với cha ông, gìn giữ và phát huy những di sản, thanh danh tốt đẹp của tiên tổ”.

    Ngoài ra con cái trong gia đình phải “tiên học lễ, hậu học văn”. Trước hết phải biết kính trọng, lễ phép sau đó mới học chữ nghĩa. Hơn nữa quan điểm Tam Cương Ngũ Thường trong Nho giáo phần nào vẫn còn ảnh hưởng trong giáo dục gia đình Việt Nam hôm nay.

    Giáo dục đối với người phụ nữ

    Ngày xưa xã hội phong kiến đòi buộc người phụ nữ vào chuẩn mực “tam tòng tứ đức”. Tam tòng có nghĩa là: người phụ nữ suốt đời chỉ là người phụ thuộc: tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử (ở nhà theo cha, lấy chồng theo chồng, chồng chết ở với con). Nền giáo dục này hầu như không có một chút gì ảnh hưởng trong nền giáo dục của xã hội hôm nay. Song bên cạnh đó, tứ đức lại là mặt giáo dục tích cực vẫn còn đọng lại và đòi buộc người con gái cần phải có: Công là nết làm ăn cần cù, thức khuya dậy sớm, tài đảm đang nội trợ của người con gái khi còn ở nhà, của người phụ nữ với địa vị làm vợ, làm dâu, làm mẹ. Dung là sự chăm chút mộ cách kín đáo nhan sắc của mình sao cho dễ coi, duyên dáng. Ngôn là giữ lời ăn tiếng nói dịu dàng, nhỏ nhẹ khiêm tốn, không khoe khoang, cười đùa ầm ĩ. Hạnh là phẩm chất đạo đức, sự chung thủy với chồng được coi là tiêu chuẩn cao nhất về đạo đức của người con gái.

    ẢNH HƯỞNG CỦA TÂY ÂU

    Khi trình bày về sự ảnh hưởng văn hóa Tây phương trên lãnh vực giáo dục học đường Việt Nam, chúng ta thấy sự ảnh hưởng sâu đậm đó là hệ thống giáo dục của Pháp. Hầu như hệ thống giáo dục Việt Nam hiện đại đều chịu ảnh hưởng của Pháp.

    Sau khi Pháp thực sự đô hộ trên đất Việt (từ 1858 – 1945), đã áp đặt một hệ thống giáo dục của Pháp lên nền giáo dục Việt Nam. Và mãi tới hôm nay, tuy hệ thống giáo dục nước ta phần nào có sự thay đổi về nhiều mặt: hình thức tổ chức, bằng cấp, chương trình học, thi cử,… nhưng sâu xa vẫn bị ảnh hưởng hệ thống giáo dục của Pháp thời ấy.

    Về các cấp học và danh xưng

    – Bậc Ấu học gồm 2 lớp: lớp Đồng Ấu và lớp Dự Bị tương đương với 2 lớp: lớp Mầm Non và lớp Vỡ Lòng ngày nay.

    – Bậc Tiểu Học: tương đương với trường cấp I ngày nay, trong Nam có thời gọi đệ tam cấp, ngày nay cũng có nơi lấy lại danh xưng Trường Tiểu Học.

    – Bậc Trung Học: tương đương với trường cấp I và cấp II hay là trường Phổ Thông Cơ Sở và trường Phổ Thông Trung Học hiện nay.

    – Bậc Đại Học: ngày nay cũng lấy lại y như vậy

    Ảnh hưởng trên hình thức thi cử và bằng cấp

    – Kỳ thi lấy bằng Sơ Học Yếu Lược

    – Kỳ thi lấy bằng Tiểu Học

    – Kỳ thi lấy bằng cao đẳng Tiểu Học có thời đổi là bằng Thành Chung

    – Kỳ thi vào Đại Học

    Tuy nhiên các kỳ thi này hiện nay vẫn được sử dụng nhưng có một số bổ sung và thay đổi cho phù hợp với thời đại. Chẳng hạn chia cấp: cấp I, cấp II, cấp III tương đương với Tiểu học và Trung học thời Pháp.

    – Học hết cấp I cũng có kỳ thi lấy bằng Tiểu học để bước vào học chương trình Phổ thông Cơ sở

    – Hết cấp II, có kỳ thi tốt nghiệp Phổ thông Cơ sở, nếu đậu mới được dự thi chuyển cấp, tức là vào học chương trình Phổ thông Trung học

    – Hết chương trình Phổ thông Trung học, có kỳ thi lấy bằng tốt nghiệp Phổ thông Trung học hay gọi là bằng Tú Tài. Đậu kỳ thi này mới được dự thi Đại học

    – Hết chương trình Đại học, có kỳ thi lấy bằng cử nhân

    – Sau Đại học, có kỳ thi lấy bằng Thạc sĩ và Tiến sĩ

    ***

    PHẦN IV: SỰ ẢNH HƯỞNG TRÊN VĂN CHƯƠNG

    ẢNH HƯỞNG CỦA TRUNG HOA

    Hơn 10 thế kỷ dưới chế độ phong kiến, văn hóa Trung Hoa trong đó có chữ Hán, phần nhiều phổ biến ở tầng lớp trên của xã hội như vua chúa, quan lại, nho sĩ, và quí tộc. Do đó văn hóa tam giáo từ Trung Hoa du nhập vào văn hóa Việt Nam qua từng thành phần trên một cách sâu đậm hơn tầng lớp bình dân. Hiện tượng này không những chỉ thể hiện trong đời sống gia đình, xã hội và bộ máy nhà nước, mà còn phản ánh trong đời sống văn học, nhất là những tác phẩm Hán văn; văn hóa tam giáo biểu hiện khi sâu đậm khi bàng bạc qua dòng văn học chữ Hán, nhưng ít có những tác phẩm trường thiên, phần nhiều là những bài thơ, bài kịch, bài kệ,… thông qua thi pháp Trung Hoa với các thể thơ cổ phong, đường luật. Tầng lớp tri thức Việt Nam hội nhập văn hóa Tam giáo vào các tác phẩm của mình.

    1/. Ảnh hưởng của Nho giáo trong văn thơ: Có Đoạn trường tân thanh, Lục Vân Tiên, thơ của Nguyễn Công Trứ,…

    2/. Ảnh hưởng Phật giáo trong văn thơ: Có Cung oán ngâm khúc, Quan Âm Thị Kính,…

    3/. Ảnh hưởng của Lão giáo trong văn thơ: Có Thơ Nhàn, Bích câu kì ngộ.

    Và sau đây là một số bài thơ đơn cử nói lên ảnh hưởng của quan điểm cũng như tư tưởng của tam giáo vào trong nền văn học Việt Nam.

    – Phật giáo

    Có bài thơ “Thi đệ tử” của nhà sư Vạn Hạnh, phản ánh triết lý hư vô của đạo Phật rất khái quát. Theo học thuyết của đạo Phật, con người có rồi không, không rồi có, cũng như cây cỏ lúc xanh tươi, khi tàn úa, rồi sự đời thịnh rồi lại suy, chẳng có gì vĩnh hằng trong thế gian.

    Thân như điện ảnh hữu hoàn vô,

    Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô,

    Nhiệm vận thính uy vô bố úy,

    Thịnh suy như lộ khảo đầu khô”.

    Dịch:

    Thân như bóng chớp có rồi không,

    Cây cối xuân tươi thu não nùng,

    Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãi,

    Kìa kìa ngọn cỏ giọt sương đông”.

    – Nho giáo:

    Trong bài “Quân Đạo”, Lê Thánh Tông đã bộc lộ đạo vừa theo tinh thần văn hóa dân tộc vừa phảng phất quan niệm tu thân của văn hóa Nho giáo:

    Chế trị bảo bang tư kế thuật

    Thanh tâm quả dục tuyệt du điền”.

    Dịch:

    “Chánh dựng nước bền mau nối dõi

    Tâm thanh dục ít dứt chơi săn”.

    Hay trong bài “Thần Tiết” thì tác giả bộc lộ quan điểm “tu, tề, trị, bình” của Nho giáo khá rõ:

    “Nội ninh ngoại phủ hồi thiên lực

    Hậu lạc tiên ưu tế thế tâm”.

    Dịch:

    “Lo trước vui sau lòng tế thế

    Ngoài yên trong trị sức hồi thiên”.

    ẢNH HƯỞNG CỦA TÂY ÂU

    Văn hóa Việt Nam vốn nằm trong bối cảnh văn hóa Phương Đông, nhưng đến những năm hậu bán thế kỷ XIV trở đi, qua sự giao lưu với phương Tây, chữ Quốc Ngữ phát triển và hình thành dòng văn học Quốc Ngữ. Mặt khác trong quá trình xâm lăng và định trị trên đất Việt bắt đầu từ 1858 – 1945, người Pháp trực tiếp truyền văn hóa, tư tưởng Âu Tây vào Việt Nam, trong đó nền văn học Quốc Ngữ đóng vai trò chủ yếu.

    Hơn một trăm năm chữ Quốc ngữ ra đời đã để lại và ảnh hưởng trên nền văn học nước ta chủ yếu là hai hình thức: văn vần, văn xuôi và thơ mới, nhưng văn xuôi chiếm ưu thế. Ngoài các thể thơ văn truyền thống như: ca dao, hò, vè,… chữ Quốc Ngữ rất thuận lợi trong quá trình tiếp biến văn hóa nước ngoài, từ đó thơ mang nhiều hình thức và thi pháp mới, mà ta thường gọi phong trào thơ mới.

    Tuy nhiên văn học Việt Nam không chỉ ảnh hưởng trên mặt hình thức mà còn ảnh hưởng trên cả đời sống quan điểm và tư tưởng của người dân Việt Nam nữa.

    1/. Ảnh hưởng tư tưởng lãng mạn: Tác phẩm “Tố Tâm” của Hoàng Ngọc Phách; “Hồn Bướm Mơ Tiên” của Khải Hưng; “Thơ Say” của Vũ Hoàng Chương;…

    2/. Ảnh hưởng tư tưởng tự do dân chủ: Tác phẩm “Quân Tự Chủ Nghĩa” và “Dân Tự Chủ Nghĩa” của Phan Châu Trinh, “Cao Vọng Thanh Niên” của Nguyễn An Ninh; “Đoạn Tuyệt” của Nhất Linh,…

    3/. Ảnh hưởng của tôn giáo: Thơ Hàn Mặc Tử,…

    “Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ,

    Thủa tung hoành hóng hạch những ngày xưa.

    Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già,

    Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi.

    (Nhớ Rừng – Thế Lữ)

    Ta muốn say cánh mướn với tình yêu

    Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều”.

    Hay:

    “Trong vườn đêm ấy nhiều trăng qua,

    Ánh sáng tuôn đầy các lối đi,

    Tôi với người yêu qua nhè nhẹ…

    Im lìm không dám nói năng chi”.

    (Trăng – Xuân Diệu)

    Trong thời đại ngày hôm nay hầu như các thể thức của nền văn học nước ta đều chịu ảnh hưởng của Tây, tuy nhiên các tác giả vẫn giữ được các cốt lõi, cái thâm sâu nhất của truyền thống Á Đông.

    ***

    PHẦN V: SỰ ẢNH HƯỞNG VỀ THỂ THAO VÀ GIẢI TRÍ

    ẢNH HƯỞNG CỦA TRUNG HOA

    Thời xưa, nước ta chỉ có mấy lối cờ bình dân như cờ chiếu tướng, cờ ngũ hành, cờ chân chó,… Và sau này có thêm cờ tướng là một trò chơi giải trí thanh cao tao nhã, dễ chơi được nhiều người yêu thích, nhất là các cụ ông khi về già thường tụ tập nhau lại để cùng vui chơi. Mỗi ván cờ là một cuộc đấu trí vừa gay go và vừa thú vị mà người chơi phải suy nghĩ chăm chú vào đó rất nhiều. Chuyện kể rằng: Bấy giờ dưới đời vua Trần Dụ Tôn (1341 – 1369), nước ta đang ở trong thời kỳ bị nước Tàu “dòm ngó”, muốn xâm lăng. Vua Tàu sai sứ giả sang nước ta để thách đố đánh cờ với vua Dụ Tôn. Vua Dụ Tôn không dám từ chối, nhưng thật tình rất lo ngại. Nhà vua sai đi tìm người tài giỏi để đấu cờ với sứ Tàu. Khi ấy ở làng Mộ Trạch, huyện Đường An có ông Vũ Huyền là một hảo thủ tượng kỳ. Ông Vũ Huyền vào yết kiến nhà vua, cam đoan giúp nhà vua thắng sứ Tàu, nhưng cuộc cờ phải bắt đầu vào đúng giờ ngọ, và xin nhà vua cho Vũ Huyền được đứng hầu cận trong lúc đánh cờ.

    Cờ chơi ở ngoài trời, kẻ hầu cận phải che lọng cho vua và sứ giả Trung Hoa. Lọng Vũ Huyền che cho nhà vua đã dùi lủng một lỗ để ánh sáng mặt trời lọt qua. Vua cứ theo tia nắng ở lỗ lọng chiếu xuống mà đi cờ, nên đã thắng sứ giả Trung Hoa. Nhờ sự thắng cờ này, Trung Hoa cho nhà vua là người tài giỏi và không dám gây cuộc binh đao. Qua mẩu chuyện nhỏ này chúng ta có thể nói rằng cờ tướng đã có ở nước ta cũng khá lâu rồi.

    Cờ tướng là một trò giải trí phát xuất từ nước Trung Hoa, nhưng đây là một trò tiêu khiển lành mạnh mà ai cũng có thể chơi được, chỉ cần biết đường đi của từng con cờ. Ngày nay trò giải trí này cũng được đưa vào chương trình thi đấu quốc tế.

    ẢNH HƯỞNG CỦA TÂY PHƯƠNG Cờ – bài

    Nói đến cờ bạc là nói đến mất nhà, mất cửa, mất ruộng, mất trâu, và mất cả quần lẫn áo:

    Cờ bạc nó đã quấy anh

    Áo quần bán hết một manh chẳng còn

    Buổi gió sương chui vào đống rạ

    Hở mông ra cho quạ nó moi

    Anh còn cờ bạc nữa thôi”.

    Mặc dù cờ – bài nguyên bản chất không xấu nhưng qua mấy câu ca dao trên, ta đủ thấy thế nào là tác hại của cờ – bài khi nó mất đi tính văn hóa. Chơi cờ – bài, có khi là để giải buồn, có khi để ăn tiền, nhưng thực ra, ai biết đâu mà giới hạn giải buồn tiêu khiển với những cuộc “đỏ đen” bóc lột. Cờ bạc cũng có lối chơi cần suy xét, cũng có lối chơi trông cậy ở cả đỏ đen may rủi.

    Không rõ cơ – bài đã du nhập vào Việt Nam khi nào nhưng có thể thấy một số loại cờ bài phổ biến ở Việt Nam hiện nay như: Tú-lơ-khơ, cờ vua, Đô-mi-nô,… còn việc chơi và thưởng thức loại hình giải trí này tuỳ thuộc vào tầng lớp và trình độ.

    Bóng đá

    Theo một số tài liệu xưa, bóng đá du nhập vào Việt Nam năm 1896, tức là năm đánh dấu Olympic hiện đại lần đầu tiên tổ chức tại Athen, Hy Lạp. Lúc đó một nhóm người mang quốc tịch Châu Âu mỗi tuần tụ họp nhau lại tại Jardin de la ville (Tao Đàn, Thành phố Hồ Chí Minh) để giải trí. Họ cùng đùa giỡn tranh nhau một đấu giày trên cỏ.

    Từ năm 1896 – 1905 các đội bóng có người Việt Nam tham gia được thành lập do giới thống trị của Pháp lập nên, mỗi đội chỉ có một vài người Việt Nam. Năm 1906, một nhóm người Việt Nam bàn nhau lập riêng cho mình một đội bóng và lấy tên đội là Gia Định Sport.

    Sau Đại Chiến Thế Giới Thứ II tốc độ phát triển bóng đá thế giới rất nhanh, mạnh và đều khắp thế giới. Bóng đá không còn là lãnh vực dành riêng cho Trung Mỹ và Châu Âu nữa mà phát triển mạnh sang Châu Á – Phi, Bắc Nam mới trở thành hội viên chính thức của FIFA, do Tiệp Khắc và Bungarie giới thiệu theo điều lệ của FIFA. Từ đó trở đi đội bóng của Nước ta phát triển và có cơ hội giao đấu với một số các nước bạn.

    Đến 1966, đội tuyển nước ta đã làm cho khán giả trên sân Merdeka, thủ đô Kualalumpur, Malaysia ngây ngất bởi tài nghệ của mình và đã đem về cho đất nước chiếc cúp Merdeka. Ngày nay bóng đá trở thành một môn thể thao của toàn thế giới được mọi người yêu thích và bất cứ tầng lớp nào cũng có thể chơi được.

    Ngoài những môn thể thao giải trí nói trên còn có một số môn quen thuộc khác như bóng chuyền, bóng bàn, cầu lông, quần vợt,…

    ***

    PHẦN VI: SỰ ẢNH HƯỞNG VỀ ẨM THỰC

    ẢNH HƯỞNG CỦA TRUNG HOA

    Các món ăn

    Từ xưa, người nước ta vẫn sinh hoạt bằng nghề cày cấy và nghề chài lưới, cho nên đồ ăn chủ yếu của ta là gạo và cá. Gạo là hoa màu chính của đồng ruộng Việt Nam cũng như cá là sản phẩm chính của sông ngòi và biển cả đất nước. Ngoài hai thứ đồ ăn chủ yếu trên, ta còn ăn nhiều thứ rau đậu trồng ở vườn hay mọc tự nhiên ở đồng (rau cải, rau dền, ray đay, rau mồng tơi, rau muống, rau ngổ, đậu, cà, khoai, sắn,…), thịt các thứ gia súc gà, vịt, lợn,… và thỉnh thoảng có thêm một ít thịt trâu bò và một gia cầm, dã thú đánh hoặc săn được như: cò, chim mỏ thác, le le, cun cút, đa đa, hươu, nai, chồn, cáo thỏ, lợn rừng. Trước kia người vùng quê dùng các thứ thức ăn này trong các dịp lễ hội, Tết, ngày giỗ. Nhưng nay thời thế đã đổi khác cũng là do ảnh hưởng của Tàu nên các món ăn của ta cũng thay đổi, buổi sáng có thêm một số món ăn như bánh bao, xíu mại, phở, miến canh, cháo gà, còn trong những dịp lễ lạc hay đãi khách với người dân vùng quê thì nấu các món ăn bình dân, người khá giả hơn thì nấu các món ăn đặc biệt và ngon hơn. Những nhà sang trọng thì dùng sơn hào hải vị nấu toàn các món ăn của Tàu như: Da tê, gân hươu, yến sào, bào ngư, hải sâm, bong bóng, vây cá,…

    Trà – Nghệ thuật uống trà

    Người Việt Nam thường uống nước hay uống trà sau bữa ăn cốt để súc miệng, hoặc uống để giải khát khi trời nóng. Nhưng không nghĩ rằng uống trà là cả một nghệ thuật. Là nghệ thuật vì uống trà có một sự cầu kỳ khác, uống trà Tàu không giống như uống trà sen. Muốn thưởng thức hương vị của trà, không phải uống bất kỳ lúc nào cũng thấy ngon và càng không phải uống với bất cứ ai cũng thưởng thức được hương vị thơm ngon của trà. Ta cứ tưởng tượng buổi sáng trời lạnh với một ấm trà và buổi tối trời lạnh với một ấm trà sen thì sẽ thấy hương vị uống trà khác nhau.

    – Cách thức uống trà và hai loại trà tiêu biểu: trà Tàu và trà Sen

    Cũng như bất cứ dân tộc nào trên thế giới, đồ uống trước tiên là nước, rồi nước đó được đem pha chế thành các đồ uống khác. Nước, ta thường dùng là nước làm sạch. Người Việt Nam thường uống nước đã đun sôi hay với lá chè xanh, trà, lá vối, gạo rang,… làm nước uống hằng ngày.

    Nói đến đồ uống, không thể bỏ qua được trà Tàu. Đây cũng là búp những cây trà được người Tàu hái rồi phơi ủ chế cho thành một thứ trà ngon, khi pha ra thì có một mùi vị tuyệt vời.

    Qua nếp sống của ta, trong công việc giao tiếp chén nước trà dự phần rất nhiều. Về việc uống trà đã được người Trung Hoa nghiên cứu rất kỹ lưỡng từ xưa, và tạo ra những đồ ấm chén, lò siêu dành riêng để pha trà. Những đồ ấm chén này có từ thời nhà Tống đến nhà Minh và sang nhà Thanh. Chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa, ta có lối uống trà của người Tàu rất hợp với mình, nhất là ở miền Bắc về mùa lạnh.

    Người sành uống trà biết phân biệt hương vị các thứ trà lại hiểu khí chất mỗi loại, loại nào phải pha chế thế nào uống mới đậm nước nồng hương, loại nào cần uống thật đặc, loại nào uống đặc vừa cho hợp. Ấm pha thế nào thì tốt, chén uống thế nào thì ngon, cho đến lò than và siêu nước cũng phải nấu thế nào cho mau. Đấy là những điều khó khăn của nghệ thuật pha trà. Người không nghiện và sành uống trà thì không sao hiểu được. Cần phải có nghiên cứu và biết tinh tường.

    Ở nước ta uống trà Tàu sành là một biểu tượng phong lưu. Nhiều người nghiện trà Tàu, hễ sáng không có một chén trà đậm thì không làm được gì cả. Có người nhịn ăn thì được nhưng không thể nào nhịn được trà.

    Trong các loài trà ướp hoa, chỉ có trà ướp hoa sen là chuộng hơn cả. Uống trà Tàu cầu kỳ ở chỗ pha trà, trái lại uống trà sen thì cầu kỳ lại chính là ở chỗ ướp trà với hoa sen. Trà sen ướp thì công phu cầu kỳ như vậy, nhưng đến lúc uống thì rất giản dị, không phức tạp như uống trà Tàu. Trà sen pha vào ấm nào cũng được và có thể uống bất kỳ chỗ nào, thời gian nào cũng đều có thể thưởng thức được ấm trà sen.

    ẢNH HƯỞNG CỦA TÂY PHƯƠNG Thức ăn – Uống

    Xưa nay bất cứ ở đâu dinh dưỡng vẫn là nguồn lương thực cần thiết để duy trì sự sống. Người ta không ai nhịn ăn, nhịn uống mà sống mãi được. Ta có câu “Dân dĩ thực vi tiên”, người dân lấy ăn làm đầu, và Tây Phương cũng nói ăn để mà sống. Người xưa thường nói: “ăn lấy no, uống lấy khỏi khát”. Ăn uống là điều cần thiết của con người.

    Dân Việt Nam ăn mỗi ngày ba bữa: bữa sáng hay còn gọi là bữa ăn điểm tâm, bữa trưa và bữa chiều. Người ở vùng quê, họ cho cả ba đều là bữa ăn chính; còn người dân sống ở thành thị, người thương gia, buôn bán chỉ ăn hai bữa chính, họ coi bữa sáng chỉ là bữa ăn phụ, bữa ăn lót dạ mà thôi. Vì không phải làm việc đồng áng, việc nặng nhọc vất vả do ảnh hưởng lối sống Tây Phương, người ta ăn bánh mì, sữa là những món ăn có thời Pháp thuộc cũng được người Việt dùng để ăn điểm tâm.

    Trong cách ăn, mâm cơm của người Việt Nam dọn ra bao giờ cũng có đồng thời nhiều món: cơm, canh, rau, dưa,… Với người nông dân ở vùng quê, bữa sáng người ta cũng ăn nhiều như hai bữa kia. Và người ta theo đúng câu tục ngữ “Ăn lấy chắc mặc lấy bền”, người ta phải ăn no, ăn những thức ăn no lâu để có thể chịu đựng được với công việc làm. Những người nhà nông thường họ rất ít ăn cháo, ăn xôi hay bánh trái gì mà người ta ăn cơm hoặc một thứ ngũ cốc hay hoa màu khác để thay cơm: ngô khoai, củ mì, củ sắn,…

    Bữa trưa: trong bữa này, gia đình quây quần bên mâm cơm, tạo nên cảnh gia đình đoàn tụ cùng với cơm nóng, canh nóng làm cho bữa ăn của cả nhà vui vẻ và ngon miệng. Bữa ăn thường là thịt, cá, dưa, xáo, rán hoặc nấu canh tuỳ theo từng gia đình. Một số gia đình dùng theo lối Tây, dùng cơm Tây, ăn bánh mì thay cơm, món này ta thường gặp trong các nhóm đi chơi, đi du lịch, tham quan,…

    Cũng giống bữa trưa, buổi chiều là bữa ăn chính của người Việt Nam. Từ thức ăn đến đồ ăn đều giống như bữa trưa, nghĩa là cơm, cá, thịt, rau,… Trong bữa ăn, người thành thị sống kiểu Tây Phương họ thường dọn, cá, thịt,…

    Người Việt Nam không những chịu ảnh hưởng về các món ăn của Tây mà ngay cả đồ uống cũng bị Tây hoá. Về đồ uống ngoài các loại mà người dân Việt Nam thường dùng thì ngày nay trong những bữa tiệc như tiệc cưới hỏi, sinh nhật, tiếp đãi khách,… thì có bia, nước ngọt,… nếu tiệc sang trọng hơn thì có các loại rượu Tây như Champapne, whisky, cognae,…

    Cách thức tổ chức tiệc

    Người dân Việt Nam thường tổ chức tiệc mừng, tiệc đãi khách tại nhà để tiện cho việc bếp núc, nhưng với những gia đình khá giả thì họ lại thích tổ chức tiệc tại nhà hàng vừa lịch sử vừa đỡ phải bận rộn với việc nấu nướng. Ngày nay ở các nơi thành thị các món ăn đã chịu ảnh hưởng ít nhiều của Tây Phương, họ ăn các món Tây và sắp xếp tổ chức bữa tiệc theo kiểu Tây. Vì thế mà các món ăn được dọn lên cho khách mời theo thực đơn từng món một để tiện việc ăn uống. Bên cạnh đó, một số nơi còn tổ chức tiệc đứng, thường họ dọn các món ăn và đồ uống ra cùng lúc để khách tự chọn và tự phục vụ các món ăn đồ uống theo sở thích.

    ***

    PHẦN VII: SỰ ẢNH HƯỞNG VỀ NGHỆ THUẬT

    Về lãnh vực nghệ thuật, chúng ta thấy, mặc dầu văn hóa và người Trung Hoa ngự trên đất nước Việt Nam hơn một ngàn năm qua nhiều thời kỳ nhưng hầu như không thấy để lại dấu ấn nào rõ nét từ âm nhạc – sân khấu – hội hoạ cho tới thời trang, điện ảnh,v.v… trong khi đó văn hóa phương Tây mới du nhập vào Việt Nam mấy thế kỷ gần đây nhưng thực sự đã ảnh hưởng đến văn hóa Việt Nam trên lãnh vực này khá rõ. Nó đã để lại những dấu ấn nghệ thuật ăn sâu vào trong đời sống của người Việt Nam mà nhiều khi ta không biết.

    Nghệ thuật hội hoạ điêu khắc

    Trong nghệ thuật hội hoạ – điêu khắc, văn hóa Việt Nam đã thực sự chịu ảnh hưởng và tiếp nhận từ nền hội hoạ – điêu khắc phương Tây rất nhiều như mang tính cách bút pháp tả thực và đã có những thể loại tranh sơn dầu, tranh bột màu có giá trị (Vd. Tranh sơn dầu và tranh bột màu xuất hiện ở phương Tây từ thế kỷ XV).

    Nghệ thuật sân khấu

    Với bút pháp tả thực của nghệ thuật phương Tây lại thêm tính phân biệt rõ ràng các thể loại bi, hài kịch cũng đã xuất hiện trên sân khấu Việt Nam với thể loại kịch nói và tác động đến sự ra đời của nghệ thuật cải lương.

    Vào những năm 20 cuối thể kỷ XX, Nam Bộ chịu ảnh hưởng của văn hóa phương Tây sớm nhất nên đã hình thành nghệ thuật cải lương, một sản phẩm của việc cải cách sân khấu hát bội truyền thống. Trong sân khấu cải lương, ảnh hưởng của bút pháp tả thực phương Tây, hát được giảm bớt thay vào đó là nói được tăng lên; các điệu bộ ước lệ, biểu trưng được giảm bớt và thay vào đó là các động tác giống như thật ngoài đời; phong cảnh đạo được chú trọng hơn.

    Như vậy cải lương và kịch nói cũng là kết quả của sự ảnh hưởng và giao lưu văn hóa với phương Tây mà có đôi lúc người ta cứ tưởng như là văn hóa thuần tuý của mình.

    Nghệ thuật âm nhạc

    Song song với các nghệ thuật khác, đối với âm nhạc kể cả nhạc cụ của phương tây đã thực sự có chỗ đứng trong sinh hoạt đời sống văn hóa – xã hội Việt Nam. Nhất là những năm gần đây, âm nhạc và nhạc cụ phương Tây được công chúng Việt Nam đón nhận rất nồng nhiệt. Nó đã trở thành như một lĩnh vực sinh hoạt văn hóa trong đời sống cộng đồng. Đặc biệt, đối với giới trẻ thì âm nhạc phương Tây có thể nói được là một phần không thể thiếu đối với họ. Từ các thể loại như nhạc Jazz – Disco – Pop – Rock,… đều trở nên quen thuộc và phổ biến với giới trẻ Việt Nam. Các tác phẩm cổ điển của Môzart, Bethoven, Chopin,… cũng được người Việt Nam tiếp nhận cách trân trọng từ người thưởng thức cũng như người biểu diễn.

    Ở các nhạc viện, các phân khoa nhạc hiện đại và nhạc cổ điển phương Tây đã được đưa vào chương trình giảng dạy từ lâu.

    Âm nhạc ảnh hưởng của phương Tây hay còn gọi là tân nhạc phát sinh trong nền âm nhạc Việt Nam các thể loại mang tính phụng tự của Kitô giáo, nhạc ca khúc, nhạc sôlô, nhạc hoà tấu, nhạc kịch.

    Tất cả những loại nói trên là kết quả của sự ảnh hưởng từ phương Tây.

    Nghệ thuật điện ảnh

    Cùng với sự du nhập của các lãnh vực nghệ thuật khác, điện ảnh cũng sớm có mặt ở Việt Nam. Lãnh vực nghệ thuật này là hoàn toàn của phương Tây, Việt Nam không có. Nó được manh nha vào năm 1879 do một người Anh tên là Eadweard Muybridge và đến năm 1895 thì anh em nhà August và Luois Lurminer, người Pháp phát minh thành hệ thống chiếu và được đưa ra trình diện ở Paris. Nghệ thuật điện ảnh ra đời từ đấy, không biết nó vào Việt Nam từ khi nào nhưng rạp chiếu bóng đầu tiên ra đời ở Việt Nam là rạp Pathe – Hà Nội vào năm 1920. Đối với Sài Gòn xưa, buổi chiếu phim đầu tiên cũng là đầu tiên ở Việt Nam được tổ chức vào khoảng cuối tháng 9-1898 trước dinh Tổng đốc chợ Lớn (nay là đường Lê Quang Liêm). Đến ngày nay thì điện ảnh không còn xa lạ đối với người dân Việt Nam nữa. Điện ảnh được xem như món ăn tinh thần của mọi thành phần trong xã hội.

    Nghệ thuật nhiếp ảnh

    Nhiếp ảnh là hình nghệ thuật mà người Việt Nam được tiếp cận do sự du nhập từ văn hóa phương Tây. Nhiếp ảnh ra đời do Etiên Marrey, người Pháp, phát minh máy chụp ảnh vào lúc đầu chỉ là chụp ảnh thông thường nhưng dần dần phát triển thành ngành nghệ thuật nhiếp ảnh lan rộng khắp thế giới. Cũng giống như điện ảnh, nhiếp ảnh du nhập vào Việt Nam không rõ lúc nào nhưng hiện nay ở các thành phố, thành thị và các gia đình khá giả việc chụp ảnh trong các dịp lễ hội đã trở thành như một nhu cầu, nhất là đối với giới trẻ.

    Hiện Việt Nam đã có rất nhiều câu lạc bộ nhiếp ảnh và hội nhiếp ảnh chuyên nghiệp, bán chuyên nghiệp. Việt Nam đã có những nhiếp ảnh gia nổi tiếng.

    Thời trang

    Thuần tuý văn hóa Việt Nam, trang phục xưa cho tới thời Pháp thuộc, thường là áo tứ thân, yếm, guốc gỗ dành cho phụ nữ; khố, quần áo sớ, áo ngắn,… giày dành cho nam giới. Chất liệu của các trang phục nói trên thường là tơ tằm truyền thống và các chất liệu khác như đay, gai,… miễn làm sao càng bền càng tốt. Người Việt Nam xưa có một quan niệm về trang phục thật thiết thực “ăn lấy chắc, mặc lấy bền”. Nói vậy nhưng do khoa học và công nghệ phát triển cùng với sự hiện diện của văn hóa và con người phương Tây mà Việt Nam đã có nhiều sự đổi thay trong trang phục cách nhanh chóng.

    Từ khi phương Tây vào Việt Nam thì cùng lúc trang phục kiểu phương Tây và thời trang của họ cũng bắt đầu hiện diện ở Việt Nam và từ từ được người Việt Nam tiếp nhận càng ngày càng mạnh mẽ từ quần Tây áo Veston, quần Jean, Jupe, giày dép,v.v… Đây thực sự là một sự tiếp nhận trọn vẹn chứ không phải là ảnh hưởng. Còn sự ảnh hưởng văn hóa phương Tây và kết quả đầu tiên của nó là vào những năm 30 của thế kỷ XX này chiếc áo dài cổ truyền Việt Nam đã được cải tiến thành áo dài tân thời ngày nay. Đây là bước mở cho quá trình phát triển thời trang ở Việt Nam. Đến nay thời trang đã trơ thành ngành học ở các trường mỹ thuật. Trên phương tiện thông tin đại chúng (truyền hình) có chương trình Thời Trang & Cuộc Sống. Ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh thường có biểu diễn thời trang.

    ***

    PHẦN VIII: SỰ ẢNH HƯỞNG VỀ CÁC NGÀY LỄ HỘI

    Do chịu ảnh hưởng và kế thừa nhiều nền văn hóa trong đó văn hóa Trung Hoa và phương Tây là chủ yếu, đã tạo cho Việt Nam một nền văn hóa với nhiều lễ tết khác nhau mang nhiều nội dung khác nhau. Ở đây chúng ta chỉ tìm hiểu những ngày lễ tết khá nổi bật và phổ biến trong năm có nguồn gốc từ hai nền văn hóa lớn này.

    Sự ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa để lại cho văn hóa Việt Nam một số lễ hội đặc biệt như sau.

    Tết Nguyên Đán

    Ăn theo lịch âm, vào ngày mồng 1 tháng Giêng gọi là Tết; tết là do người Việt Nam đọc trại từ chứ Tiết. Theo lịch sử Trung Hoa thì lịch Âm có từ đời nhà Hà và lấy tên 12 chi đặt cho 12 tháng; tháng đầu là tháng Dần tức tháng Giêng được chọn làm tháng đầu năm và người ta ăn Tết vào ngày đầu của tháng Dần. Về sau nhà Ân thay đổi lấy tháng Sửu làm đầu năm, đến thời nhà Chu lại lấy tháng Tý nhưng đến thời nhà Tần lại lấy tháng Hợi và đến thời nhà Hán Vũ Đế lại đổi lại tháng Dần và được cố định từ đó đến nay.

    Như vậy Tết Nguyên Đán mà Việt Nam có bây giờ có nguồn gốc sâu xa từ Trung Hoa. Nó là kết quả sự ngự trị của văn hóa Trung Hoa trên đất nước Việt Nam suốt cả ngàn năm.

    Lễ Thượng Nguyên (rằm tháng Giêng)

    Theo Phật giáo, nguồn gốc của lễ Thượng Nguyên như sau: tất cả những ngày mồng Một và ngày Rằm mỗi tháng đều được coi là ngày của Phật. Trong những ngày mồng Một và ngày Rằm Phật tử tăng ny có bổn phận làm lễ cúng Phật, đi lễ chùa tụng kinh. Đúng ra người ta phải lấy ngày mồng Một tháng Giêng làm lễ Thượng Nguyên mới phải vì đây là ngày đầu năm nhưng ngày này trời về đêm lại quá tối nên mới trọn ngày Rằm tháng Giêng vì đây là Rằm đầu tiên. Phật tử đi lễ chùa tụng kinh niệm Phật như là kể lại các sự tích của Phật và chư vị Bồ Tát. Người Phật giáo tin rằng trong ngày rằm Đức Phật sẽ giáng lâm trước các chùa để chứng độ lòng thành của Tăng Ny Phật Tử. Tuy nhiên người Việt Nam thuần tuý thờ ông bà, tổ tiên vì yêu mến sự thiện cũng như ảnh hưởng và đã lấy ngày này để cúng tỏ lòng biết ơn ông bà tổ tiên đồng thời cũng để tỏ lòng biết ơn Đức Phật, Thổ Công,…

    Như vậy nguồn gốc của lễ Thượng Nguyên là từ đạo Phật tức là Trung Hoa đưa sang và người Việt Nam đã tiếp nhận rồi làm thay đổi từ từ cho đến ngày nay đã thành phổ biến đối với tất cả những ai theo đạo ông bà ở Việt Nam.

    Tết Đoan Ngọ (5-5 Âm lịch)

    Cũng như những ngày lễ khác, người Việt Nam đã bắt chước người Trung Hoa ăn Tết Đoan Ngọ từ thời rất xa xưa.

    Về sự tích tết Đoan Ngọ, thực ra ban đầu đây chỉ là ngày người dân làm lễ để đánh dấu một thời tiết mới, mừng sự trong sáng quang đãng của khí trời nhưng về sau để cho ngày này thêm phần ý nghĩa tín ngưỡng – tôn giáo, người ta kỷ niệm luôn ngày Khuất Nguyên tự vẫn. Về sau ngươi ta kỷ niệm luôn sự tích Lưu – Nguyễn, hai người đi hái lá thuốc lạc vào cõi thiên thai.

    Khuất Nguyên làm chức tả đồ nước Sở dưới triều Hoài Vương thời Thất Quốc bên Trung Hoa (307 – 246 TCN). Ông là người có tài, liêm chính hay ngăn cản nhà vua. Sau khi vua Hoài Vương qua đời Tương Vương lên ngôi và thường bị Khuất Nguyên can ngăn khi làm việc chẳng hay nên Tương Vương bắt Khuất Nguyên đi đày. Khuất Nguyên làm bài thơ Hoài Sơn rồi buộc đá vào mình nhảy xuống sông Mịt Loan tự tử khi đi qua đó, hôm đó nhằm ngày 5 tháng 5 âm lịch. Nghe tin đó vua rất ân hận thương tiếc cho Khuất Nguyên và làm cỗ đưa ra bờ sông cúng Khuất Nguyên. Cũng xong vua bỏ lễ xuống sông nhưng tôm cá ăn hết sau đó Khuất Nguyên hiện về nói nếu sau này còn cúng thì khi bỏ lễ xuống sông nhớ gọi lại lấy dây buộc chặt khỏi cá tôm ăn hết. Từ đấy về sau cứ ngày mồng 5 tháng 5 là dân chúng khắp nơi làm cỗ đưa ra các bờ sông để cúng Khuất Nguyên và đến ngày nay cũng thế. Theo sự tích này, ở Việt Nam ngày nay kỷ niệm hay làm giỗ Khuất Nguyên không phải là chủ yếu trong tết Đoan Ngọ. Dân Việt Nam sáng tạo ra nhiều tập tục phù hợp với những sự tích và rất thực tế như giết sâu bọ, hái thuốc vào giờ ngọ, tắm sông vào giờ ngọ… Đến ngày này học sinh đi tết thầy cô giáo, bệnh nhân đi tết thầy lang, con rể đi tết ông bà,… và có giỗ cúng gia tiên.

    Tết Đoan Ngọ đã đi vào cuộc sống của người Việt Nam từ xa xưa và nay có vẻ như càng ngày càng lớn mạnh hơn. Tuy nhiên cách thức ăn tết này lại rất khác nhau, nó hầu như tuỳ thuộc vào tín ngưỡng, tôn giáo, địa phương.

    Tết Trung Thu

    Tết Trung Thu còn được gọi là tết trông trăng và có khi lại gọi là tết trẻ con vì người ta thường sắm nhiều đồ chơi cho trẻ trong những ngày này.

    Tết Trung Thu có từ thời Đường Minh Hoàng; tích truyền rằng vào đêm rằm tháng Tám nằm mơ thấy đạo sỹ đưa lên cung trăng chơi nhà vua đăm mình trong cảnh đẹp thần tiên lộng lẫy. Tan giấc mộng, vua nuối tiếc cảnh trăng thu ở cung trăng bèn đặt ra tết Trung Thu để về sau vào ngày đó ngắm trăng, ngâm vịnh. Bắt đầu từ triều đình rồi phổ biến trong toàn dân và sau đó nó theo chân của những đạo quân sang xâm chiếm Việt Nam và trở thành một ngày Tết như của người Việt Nam vậy.

    Ngày nay, Tết Trung Thu càng ngày càng in đậm vào đời sống dân Việt Nam không phân biệt tôn giáo tín ngưỡng nào. Nó đã được biến đổi theo tính cách của người Việt Nam và rất gần gũi với mọi người dân.

    Trước hết là tết Dương lịch, ngày Tết này thuộc là tết cổ truyền của phương Tây. Nhưng do tính cách hội nhập toàn cầu và sự ảnh hưởng mạnh mẽ của lịch tây mà Việt Nam cũng đã ăn Tết này theo phương Tây. Tuy nhiên người Việt Nam ăn tết này không lớn lắm, chỉ có ở học đường, công sở nhà nước và tầng lớp công nhân viên mới ăn tết này thôi vì họ được hưởng quyền lợi (nghỉ làm nhưng lại được hưởng lương trong ngày này).

    Sau tết Dương lịch là lễ Noel, song hành với sự du nhập của Kitô giáo lễ Noel đã được tổ chức ở Việt Nam từ những năm đầu khi các nhà truyền giáo có mặt. Nhưng trước đây lễ Noel mang duy nhất một tính chất tôn giáo dành riêng cho các Kitô hữu. Gần đây, khi Việt Nam giao lưu văn hóa, mở rộng quan hệ với phương Tây và tiếp nhận nền văn minh từ phương Tây vào thì lễ Noel, ngoài ý nghĩa tôn giáo, đã trở thành lễ hội cho cộng đồng nhất là đối với giới trẻ và dân thành thị.

    Ngoài hai lễ tết này ra còn có những ngày khác nữa mà những năm gần đây rất được nhiều người quan tâm như ngày 14 tháng 2; 8 tháng 3; 1 tháng 4; 1 tháng 5 ;…

    Tóm lại, hai nền văn hóa Đông – Tây, đã để lại những dấu ấn rõ nét trên lãnh vực lễ hội trong văn hóa Việt Nam và những dấu ấn này có lẽ chẳng bao giờ mất đi nhưng sẽ được phát triển mang tính chất Việt Nam hơn. Điều này còn phụ thuộc vào cách tiếp nhận của cộng đoàn.

    THAY LỜI KẾT

    Hoàng Thiên, OP.

    (catechesis)

    (Nguồn: lamhong.org)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Du Lịch Sydney Nên Đi Đâu? Những Địa Điểm Phải Đến Tại Xứ Sở Chuột Túi
  • Kinh Nghiệm Khi Đi Du Lịch Hà Nội Bạn Cần Biết
  • Văn Hóa Du Lịch
  • ​những Điều Cần Biết Khi Đi Du Lịch Hà Nội Theo Tháng
  • Bãi Tắm Du Lịch Tại Cát Bà
  • Việt Nam Văn Hóa Và Du Lịch

    --- Bài mới hơn ---

  • Phim Sakura Và Chuyến Du Lịch Hongkong (Movie) Phần 1 Full
  • Kỹ Năng Sale Tour Trong Du Lịch
  • Chia Sẻ Kỹ Năng Sale Tour Du Lịch Cho Bạn
  • Kỹ Năng Và Quy Trình Sale Tour Du Lịch Giúp Tăng Đơn Hàng
  • Sản Phẩm Du Lịch Là Gì? Thành Phần Cơ Bản Của Sản Phẩm Du Lịch
  • Việt Nam là cửa ngõ thông ra vùng Đông Nam Á. Việt Nam là một quốc gia có hàng ngàn năm văn hiến với bao danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, văn hoá rộng khắp đất nước. Cha ông ta đã để lại trên nước non này biết bao thành quách, đền đài, chùa chiền, miếu mạo…, lớp nọ nối tiếp lớp kia. Cả đất nước là một bảo tàng lịch sử, văn hoá của 54 dân tộc cùng chung lưng đấu cật xây dựng nên đất nước này.

    Việt Nam, đất nước giầu tiềm năng du lịch. Ngày nay trong xu thế hội nhập toàn cầu hoá kinh tế, chúng ta đang từng bước hội nhập với khu vực và thế giới trên nhiều lĩnh vực, trong đó du lịch với tư cách là một ngành công nghiệp xanh đóng vai trò hết sức quan trọng. Nó vừa là một ngành kinh tế mũi nhọn, vừa đảm đương chức nang thông tin, tuyên truyền, trong mối quan hệ giao lưu văn hoá.

    Để góp phần quảng bá nền văn hoá và tiềm năng du lich Việt Nam, Nhà xuất bản Thông tấn cho ra mắt bạn đọc cuốn sách Việt Nam Văn hoá du lịch của soạn giả Trần Mạnh Thường. Với non một nghìn trang sách, từ nhiều nguồn tư liệu phong phú, soạn giả gới thiệu với bạn đọc một bức tranh toàn cảnh về nền văn hoá đa dạng và lâu đời của dân tộc Việt Nam từ địa lý, danh am thắng cảnh, di tích lịch sử văn hoá đến lễ hội, phong tục, tập quán…của 64 tỉnh thành trên cả nước. Hy vọng cuốn sách sẽ là một cẩm nang quý cho bạn đọc trong và ngoài nước muốn tìm hiểu về văn hoá và du lịch Việt Nam.

    Báo chí giới thiệu

    Việt Nam văn hóa & du lịch

    Quyển sách thực hiện rất công phu với gần 1.000 trang tư liệu và 96 trang hình ảnh giới thiệu toàn cảnh về Việt Nam Đất nước – Lịch sử – Con người. Có thể tìm thấy ở đây những hiểu biết bao quát về địa lý – lịch sử, trong đó ghi nhận những cột mốc đáng nhớ trong cả lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt, từ những truyền thuyết đến thời đương đại.

    Cũng có thể thấy rõ chân dung của 54 dân tộc đang sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam từ thời dựng nước đến nay, với ngôn ngữ, chữ viết, văn học, mỹ thuật, kiến trúc, nghề thủ công, âm nhạc truyền thống gồm cả âm nhạc dân gian và âm nhạc có tính chuyên nghiệp cao. Các mặt sinh hoạt văn hóa – tinh thần cũng được giới thiệu kỹ qua những lễ nghi tôn giáo, những phong tục tập quán lâu đời, cách ăn và cách mặc, cộng với những lễ hội để hợp lại thành diện mạo riêng của người Việt trong xã hội rộng lớn của loài người.

    Phần hai của tập sách dành giới thiệu chi tiết từng địa phương của 64 tỉnh thành trên cả nước. Đó là những danh lam thắng cảnh, những lễ hội hằng năm với những đặc trưng từng vùng miền bộc lộ sự phong phú trong đời sống của cộng đồng người Việt đa dạng nhưng hòa hợp và bổ sung cho nhau trong tiến trình giao thoa văn hóa và khẳng định bản sắc của từng dân tộc, từng địa phương, cũng như của cả dân tộc Việt Nam.

    Sách có ích không chỉ cho khách du lịch bên ngoài muốn tìm hiểu về Việt Nam mà còn có ích cho cả người Việt Nam khi muốn thưởng thức những tinh hoa của chính dân tộc mình.

    Sách do Trần Mạnh Thường biên soạn, Nguyễn Minh Tiến hiệu đính, NXB Thông Tấn và Công ty Văn hóa Hương Trang ấn hành, 2005.

    T.Đ (Thanh Nien 06/10/2005)

    Việt Nam Văn Hóa Và Du Lịch

    Quyển sách thực hiện rất công phu với gần 1.000 trang tư liệu và 96 trang hình ảnh giới thiệu toàn cảnh về Việt Nam Đất nước – Lịch sử – Con người. Có thể tìm thấy ở đây những hiểu biết bao quát về địa lý – lịch sử, trong đó ghi nhận những cột mốc đáng nhớ trong cả lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt, từ những truyền thuyết đến thời đương đại.

    Cũng có thể thấy rõ chân dung của 54 dân tộc đang sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam từ thời dựng nước đến nay, với ngôn ngữ, chữ viết, văn học, mỹ thuật, kiến trúc, nghề thủ công, âm nhạc truyền thống gồm cả âm nhạc dân gian và âm nhạc có tính chuyên nghiệp cao. Các mặt sinh hoạt văn hóa – tinh thần cũng được giới thiệu kỹ qua những lễ nghi tôn giáo, những phong tục tập quán lâu đời, cách ăn và cách mặc, cộng với những lễ hội để hợp lại thành diện mạo riêng của người Việt trong xã hội rộng lớn của loài người.

    Phần hai của tập sách dành giới thiệu chi tiết từng địa phương của 64 tỉnh thành trên cả nước. Đó là những danh lam thắng cảnh, những lễ hội hằng năm với những đặc trưng từng vùng miền bộc lộ sự phong phú trong đời sống của cộng đồng người Việt đa dạng nhưng hòa hợp và bổ sung cho nhau trong tiến trình giao thoa văn hóa và khẳng định bản sắc của từng dân tộc, từng địa phương, cũng như của cả dân tộc Việt Nam.

    Sách có ích không chỉ cho khách du lịch bên ngoài muốn tìm hiểu về Việt Nam mà còn có ích cho cả người Việt Nam khi muốn thưởng thức những tinh hoa của chính dân tộc mình.

    Sách do Trần Mạnh Thường biên soạn, Nguyễn Minh Tiến hiệu đính, NXB Thông Tấn và Công ty Văn hóa Hương Trang ấn hành, 2005.

    Theo Báo Thanh Niên 06/10/2005 T.Đ

    Không Phải Lỗi Của Con…

    Hạt Giống Tâm Hồn – Hạnh Phúc Không Khó Tìm (Tập 2)

    (Thứ Bảy, 17/03/2007)

    Xác định những điều thật sự quan trọng “Hạnh phúc là ý thức vươn tới những thành quả nói lên giá trị mà bản thân mỗi người muốn theo đuổi.”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cẩm Nang Hướng Dẫn Du Lịch Việt Nam Sách Online Uy Tín Giá Rẻ Hà Nội
  • Sách Hướng Dẫn Du Lịch Nhật Bản Đầu Tiên Dành Riêng Cho Người Việt Nam
  • Cuốn Sách Hướng Dẫn Du Lịch Nhật Bản Dành Cho Người Việt
  • Lào Đi Du Lịch Hướng Dẫn Miễn Phí Tải Về
  • Hàn Quốc Đi Du Lịch Hướng Dẫn Miễn Phí Tải Về
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100