Phê Duyệt Quy Hoạch Phát Triển Du Lịch Sapa

--- Bài mới hơn ---

  • Quy Hoạch Sapa Trở Thành Trung Tâm Du Lịch Nghỉ Dưỡng Quốc Tế
  • Đề Án Quy Hoạch Sân Bay Sapa
  • Quy Hoạch Chung Xây Dựng Tp. Hồ Chí Minh Đến Năm 2025
  • Thông Tin, Bản Đồ Quy Hoạch Các Quận, Huyệnmới Nhất 2022
  • Du Lịch Sinh Thái Tiền Giang, Cần Phát Triển Theo Quy Hoạch
  • Thủ tướng Chính phủ vừa có Quyết định phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển Khu du lịch quốc gia Sa Pa, tỉnh Lào Cai đến năm 2030 với mục tiêu phát triển các sản phẩm du lịch đặc sắc, chất lượng cao, thu hút khoảng 5,2 triệu lượt khách du lịch vào năm 2030.

    Sa pa đặt mục tiêu thu hút 5,2 triệu khách du lịch

    Theo đó, Khu du lịch quốc gia Sa Pa thuộc địa bàn toàn huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai. Diện tích vùng lõi tập trung phát triển Khu du lịch quốc gia là 1.500 ha.

    Định hướng phát triển thành 1 Đô thị du lịch Sa Pa và 4 phân khu du lịch gồm: Bản Khoang – Tả Giàng Phình (thuộc xã Bản Khoang và Tả Giàng Phình); Tả Phìn (thuộc xã Tả Phìn); Tả Van – Séo Mý Tỷ (thuộc xã Tả Van) và Thanh Kim (thuộc xã Thanh Kim), có sự kết nối với huyện Bát Xát.

    Theo định hướng phát triển sản phẩm du lịch, sản phẩm du lịch chính của Sa Pa hướng tới là: sản phẩm du lịch đặc thù, du lịch tham quan, du lịch sinh thái kết hợp với nghỉ dưỡng. Trong đó, Sa Pa đẩy mạnh phát triển các sản phẩm du lịch đặc thù để tận hưởng khí hậu, cảnh sắc thiên nhiên và bản sắc văn hóa của người dân bản địa theo các chương trình du lịch “Sa Pa – xứ sở của các chương trình du lịch đi bộ dã ngoại hấp dẫn” và “Sa Pa – Vùng đất của sự trải nghiệm và tìm hiểu văn hóa truyền thống”; sản phẩm du lịch “Chinh phục đỉnh cao” gắn với đỉnh Fansipan, nóc nhà Đông Dương (huyện Sapa), đỉnh Ky Quan San và đỉnh Nhìu Cù San, thiên đường săn mây của giới trẻ (huyện Bát Xát); du lịch nghỉ dưỡng ngắm tuyết rơi vào mùa đông.

    Sản phẩm du lịch bổ trợ gồm: du lịch tâm linh gắn với hệ thống đền, chùa trong tổ hợp vui chơi giải trí cáp treo Fansipan; các điểm di tích tâm linh trong khu vực; từng bước kết nối với các điểm di tích ở khu vực lân cận; du lịch gắn với các sự kiện, lễ hội văn hóa truyền thống; du lịch thương mại gắn với tham quan, mua sắm tại các trung tâm thương mại, chợ truyền thống; du lịch gắn với các hoạt động thương mại vùng biên hỗ trợ tiêu thụ hàng hóa nông sản đặc trưng của tỉnh Lào Cai; du lịch nghiên cứu, tìm hiểu sinh thái gắn với giáo dục môi trường; du lịch thể thao mạo hiểm…

    Mục tiêu của Quy hoạch nhằm phấn đấu đến năm 2022, Khu du lịch Sa Pa đáp ứng các tiêu chí và được công nhận là Khu du lịch quốc gia. Trước năm 2030, Khu du lịch quốc gia Sa Pa trở thành trung tâm du lịch nghỉ dưỡng, văn hóa tầm cỡ quốc gia, quốc tế với hệ thống cơ sở vật chất đồng bộ, hiện đại; sản phẩm du lịch đa dạng, đặc sắc, chất lượng cao, có thương hiệu, và khả năng cạnh tranh với các nước trong khu vực và quốc tế. Khu du lịch Sa Pa phấn đấu năm 2022 đón khoảng 2,0 triệu lượt khách; đến năm 2030 đón khoảng 5,2 triệu lượt khách.

    Nguồn: baocongthuong.com.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Băm Nát Quy Hoạch Sapa: Ai Là Người Chịu Trách Nhiệm?
  • Phê Duyệt Quy Hoạch Phân Khu Đô Thị Du Lịch Phong Nha Quảng Bình
  • Quy Hoạch Chi Tiết Hai Bờ Sông Hương Ở Huế: Góp Phần Phát Triển Bền Vững Đô Thị Huế
  • Quy Hoạch Phát Triển Du Lịch Ninh Bình
  • Phát Triển Du Lịch Biển Bền Vững Tại Thị Xã Cửa Lò Nghệ An
  • Đề Án Quy Hoạch Sân Bay Sapa

    --- Bài mới hơn ---

  • Quy Hoạch Chung Xây Dựng Tp. Hồ Chí Minh Đến Năm 2025
  • Thông Tin, Bản Đồ Quy Hoạch Các Quận, Huyệnmới Nhất 2022
  • Du Lịch Sinh Thái Tiền Giang, Cần Phát Triển Theo Quy Hoạch
  • Điều Chỉnh Quy Hoạch Sử Dụng Đất Tỉnh Tiền Giang
  • Phê Duyệt Quy Hoạch Phát Triển Du Lịch Tỉnh Đến Năm 2022
  • Theo quy hoạch phê duyệt, Cảng hàng không nội địa Sapa có công suất 3 triệu khách mỗi năm, đón được các máy bay tương đương Airbus A320, Boeing 737.

    Bộ Giao thông Vận tải vừa phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch Cảng hàng không Sapa giai đoạn đến năm 2030. Theo đó, sân bay này sẽ được đặt tại xã Cam Cọn, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.

    Cảng hàng không Sapa được quy hoạch có công suất phục vụ 3 triệu khách mỗi năm, với 9 chỗ đỗ máy bay. Đây là cảng hàng không nội địa, sân bay cấp 4C theo tiêu chuẩn của Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế ICAO và sân bay quân sự cấp II. Như vậy, sân bay này có thể đón các loại máy bay Airbus A320, Boeing 737 và tương đương.

    Để kết nối sân bay này với cao tốc Hà Nội – Lào Cai, Bộ Giao thông Vận tải quy hoạch đường trục nối 6 làn xe từ cao tốc vào cảng hàng không. Tổng nhu cầu sử dụng đất của sân bay đến năm 2030 và có dự trữ sau thời điểm này là 371 ha.

    Tương lai mới đang mở ra cho ngành du lịch Sa Pa (Lào Cai), khi nơi này sắp có một sân bay mới giúp việc kết nối giữa Sa Pa với cả nước dễ dàng hơn bao giờ hết. Với tiền đề quan trọng này, ngành du lịch, dịch vụ tại Sa Pa sẽ có thêm cơ hội phát triển bứt phá.

    Gỡ nút thắt giao thông, Có thể nói những vùng đất hoang sơ nhưng giàu tiềm năng du lịch tại Việt Nam đã thực sự lột xác thời gian gần đây khi các hãng hàng không tăng cường khai thác đường bay thẳng. Thành phố biển Quy Nhơn hay vùng đất “hoa vàng cỏ xanh” Tuy Hòa – Phú Yên trước đây còn khá xa lạ với du khách miền Bắc thì nay đã trở thành những điểm đến hấp dẫn. Nhờ đường bay thẳng, du khách từ các thành phố lớn có thể đến những điểm du lịch này để trải nghiệm mà không tốn quá nhiều thời gian di chuyển.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quy Hoạch Sapa Trở Thành Trung Tâm Du Lịch Nghỉ Dưỡng Quốc Tế
  • Phê Duyệt Quy Hoạch Phát Triển Du Lịch Sapa
  • Băm Nát Quy Hoạch Sapa: Ai Là Người Chịu Trách Nhiệm?
  • Phê Duyệt Quy Hoạch Phân Khu Đô Thị Du Lịch Phong Nha Quảng Bình
  • Quy Hoạch Chi Tiết Hai Bờ Sông Hương Ở Huế: Góp Phần Phát Triển Bền Vững Đô Thị Huế
  • Băm Nát Quy Hoạch Sapa: Ai Là Người Chịu Trách Nhiệm?

    --- Bài mới hơn ---

  • Phê Duyệt Quy Hoạch Phát Triển Du Lịch Sapa
  • Quy Hoạch Sapa Trở Thành Trung Tâm Du Lịch Nghỉ Dưỡng Quốc Tế
  • Đề Án Quy Hoạch Sân Bay Sapa
  • Quy Hoạch Chung Xây Dựng Tp. Hồ Chí Minh Đến Năm 2025
  • Thông Tin, Bản Đồ Quy Hoạch Các Quận, Huyệnmới Nhất 2022
  • Nhạt nhòa bản sắc

    Anh V.L. tự nhận mình là một trong số hàng trăm người rất quan tâm đến mỗi bước phát triển của Sapa. Sau nhiều năm sinh sống tại CH Séc, hồi đầu tháng 5/2019, anh mới có dịp quay lại với thị trấn (nay đã là thị xã) bé nhỏ này.

    Lai tạp, nhếch nhác – đó là ấn tượng đầu tiên mà anh cảm nhận được. Theo anh L. nếu nhìn cận cảnh, đô thị Sapa giờ không biết gọi là bản sắc gì. “Đâu rồi những bóng áo chàm, những váy xòe hoa, những thổ cẩm rực rỡ. Đi đâu cũng thấy những công trình to lớn đang xây dựng, đào khoét nham nhở. Những nhà hàng, quán karaoke, massage mọc lên xô bồ, khiến Sapa giống hệt những đô thị khác ở Việt Nam”- anh L chia sẻ.

    Nhìn cảnh tượng hiện nay, anh L. không khỏi tiếc nuối về một ngày chưa xa, khi đó Sapa còn những biệt thự theo lối kiến trúc Pháp nằm ẩn hiện trong mây giăng sương phủ, những con đường nhỏ quanh co uốn lượn sườn núi, phiên chợ vùng cao dặt dìu tiếng khèn của chàng trai Mông da diết gọi bạn tình…, những đôi trai gái từ các bản làng xa xôi hẹn hò nhau xuống chợ, gùi thổ cẩm vẫn trĩu nặng trên lưng. Những sáng mùa đông mưa giăng mờ, họ nép mình bên nhau trú mưa bên hiên nhà thờ cổ, ánh mắt nồng nàn men say mặc kệ du khách nhìn họ tò mò và thú vị.

    Một Sapa lặng lẽ mà an yên, hồn nhiên mà đơn giản tạo nên sức hút văn hóa dân tộc rất đặc biệt, đó chính là bản sắc của vùng đất này, nhưng giờ chỉ còn là hoài niệm trong ký ức của những du khách nặng lòng với Sapa như anh L.

    Hậu sinh “phủ định” người tiền nhiệm

    Năm 2003, Chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai Bùi Quang Vinh đã mời một nhóm chuyên gia đến từ đại học Bordeaux, CH Pháp xây dựng dự án quy hoạch Sapa. Nhóm chuyên gia đã đi khảo sát, điều tra, chụp ảnh, đo, vẽ, hỏi chuyện, thăm dò quan điểm và phản ứng hàng trăm người dân Sapa.

    Hàng ngàn phiếu điều tra đã được lập, mỗi phiếu cho một ngôi nhà, một công trình kiến trúc, một khuôn viên nhỏ… Tất cả đều ngắn gọn nhưng chi tiết, cụ thể và chính xác. Sau này có người nhận xét rằng, nhóm chuyên gia đã “bốc bệnh” cho từng ngôi nhà, “kê toa” đến từng chi tiết ở thị trấn Sapa, và rồi cho ra sản phẩm là Bộ Quy chế quản lý đô thị Sapa, mà ngay sau đó đã được UBND tỉnh Lào Cai thông qua và công bố rộng rãi tới nhân dân.

    Tại bản quy chế này, những nguyên tắc thiết kế đô thị cơ bản được khuyến cáo áp dụng ở Sapa là mọi công trình được quy hoạch và xây dựng trên các sườn đồi quanh suối theo dạng các ban công giật cấp kiểu bậc thang, đảm bảo tầm nhìn cảnh quan hướng về núi và thung lũng. Các công trình xây dựng mới phải hoà nhập với đặc trưng cảnh quan tự nhiên của Sapa vốn được tạo bởi địa hình núi, các đường phân thuỷ, thung lũng và thảm thực vật.

    Do đó, có nhiều quy định chi tiết để quản lý xây dựng đã được đề xuất trong Quy chế, chẳng hạn định vị các công trình phải đảm bảo khoảng lùi tối thiểu 15m so với bờ suối và mặt nước tự nhiên, tôn trọng địa hình tự nhiên, không san gạt, làm thay đổi lớn về địa hình để xây dựng. Khi xây dựng tường chắn bắt buộc phải bằng vật liệu địa phương, đồng thời phải bảo vệ các loại cây xanh đặc trưng… Về độ cao: Tất cả các công trình đều bị khống chế tối đa là 9,5m – nghĩa là không được xây quá 3 tầng trong vùng lõi của Sa pa. Về chất liệu, các loại kính màu hay phản quang, các vật liệu giả đá, giả ngói; các mái lợp bằng tôn và các bể nước treo trên những nóc nhà ống không được khuyến khích sử dụng.

    Nhưng “ngày vui ngắn chẳng tày gang”, những hình ảnh nên thơ, ấn tượng đó nay chỉ còn là quá vãng. Giờ đây, khi ông Bùi Quang Vinh đã nghỉ hưu, không hiểu khi trở lại Sapa cảm nghĩ của ông như thế nào, bởi chắc rằng, Bộ Quy chế quản lý đô thị Sapa là một sản phẩm mà ông đã đổ ra bao tâm huyết. Và có lẽ, việc ông được vời về Trung ương giữ trọng trách Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư cũng ít nhiều là vì Trung ương đã nhìn thấy ở ông một sự quyết liệt, một tầm nhìn chính khách qua việc thiết kế lên Bộ Quy chế quản lý đô thị Sapa được giới chuyên môn đánh giá rất cao.

    Những nhát chém vào quy hoạch Sapa

    Năm 2014, đường cao tốc Hà Nội – Lào Cai hoàn thành, từ Hà Nội lên Sapa chỉ còn 4 tiếng đồng hồ chạy xe hơi. Sapa – xứ sở xa xôi heo hút với cả đêm vạ vật trên tàu, cả ngày ô tô đánh vật với các con dốc, ổ trâu ổ voi lầy lội trở nên gần hơn bao giờ hết. Và từ đây, Sapa trở mình một cách nhanh chóng nhưng đáng tiếc, lại theo hướng tiêu cực.

    Chỉ trong vài năm, thị trấn Sapa đã trở lên đông đúc, hỗn loạn, rác rưởi, nham nhở, tắc đường và nhung nhúc người xe. Sapa đô thị hóa nhanh còn hơn nhiều những đô thị nhỏ khác ở Việt Nam và dường như điều đó khiến những người làm công tác quản lý ở vùng đất này hụt hơi, không theo kịp.

    Điển hình cho “sự cố” này là công tác quản lý quy hoạch, xây dựng có rất nhiều bất cập, vi phạm. Chỉ trong thời gian rất ngắn, hàng nghìn công trình xây dựng mọc lên và rất, rất ít trong số đó có giấy phép và thực hiện đúng giấy phép. Vi phạm nhiều và nghiêm trọng đến nỗi, những người làm công tác quản lý ở Sapa dường như không còn mấy cảm xúc đối với những hành vi này.

    Điều đó thể hiện qua việc ông Nguyễn Thanh Xứng, Trưởng phòng quản lý đô thị trao cho PV những bảng kê danh sách có tới hàng trăm trường hợp vi phạm một cách rất hồn nhiên, không hề giấu giếm. Còn ông Lê Tân Phong thì cũng thừa nhận về quy mô vi phạm rất khủng nhưng do chủ yếu là do tồn tại từ trước (từ khi còn là huyện, trước khi lên thị xã – PV) nên cũng khó trong công tác xử lý. Ông Phong cho rằng, hiện nay quy trình xử lý vi phạm rất khó khăn, để cưỡng chế được 1 công trình phải mất ít nhất 39 ngày nên rất khó để xử lý.

    Đáng nói là tình trạng vi phạm trật tự xây dựng ở Sapa đã diễn ra từ lâu và nay tiếp tục diễn biến phức tạp ngay khi Sapa được nâng cấp lên thị xã. Với những tài liệu mà cơ quan chức năng của thị xã Sapa cung cấp cho PV (chắc chắn đây chỉ là một phần của thực tế đang diễn ra) cũng dễ dàng hình dung được quy mô, mức độ vi phạm.

    Chỉ riêng với những vi phạm mới phát sinh trong năm 2022, trong danh sách đã thể hiện, taị phường Cầu Mây 12 trường hợp, phường Sapa 15 trường hợp, phường Ô Quý Hồ 5 trường hợp, phường Hàm Rồng 26 trường hợp, phường Phan Si Păng 10 trường hợp… Trong số này, nhiều trường hợp vi phạm là xây dựng home stay, với chất liệu không mấy thân thiện như bê tông, tôn, kính…

    Đặc biệt nhức nhối là có nhiều những công trình xây dựng khách sạn lớn, cao tầng vi phạm. Theo chúng tôi được biết, hiện nay việc quản lý xây dựng ở Sapa vẫn được áp dụng theo Quy chế đô thị Sapa năm 2012 của UBND tỉnh Lào Cai, bản quy chế này vẫn được kế thừa từ bản quy chế từ thời Chủ tịch Bùi Quang Vinh. Theo đó, chiều cao xây dựng công trình tối đa chỉ là 9,5m, không quá 3 tầng. Vậy nhưng, trong các năm 2022 đến nay vẫn tồn tại những công trình xây đến 10 – 11 tầng chưa kể tầng tum.

    Có thể kể đến những công trình được cấp phép khủng như khách sạn Sunrise Sapa của Công ty TNHH Đầu tư xây dựng Đức Tuấn, khi được cấp phép xây 3 tầng thì đã vi phạm, bị xử lý. Sau đó, chủ đầu tư đổi tên thành khách sạn Pistachio Hotel Sapa và xây hẳn lên 11 tầng, 1 tum, tổng diện tích sàn xây dựng 11.000 m2. Hay khách sạn Việt Pháp Sapa của Công ty Cổ phần Việt Pháp được Sở Xây dựng cấp phép 3 tầng, chiều cao chênh so với đường Mường Hoa 12,5m, tổng diện tích xây dựng 19.996 m2 sàn. Công ty Cổ phần Lạc Hồng cũng được Sở Giao thông Vận tải – Xây dựng cấp phép xây dựng một khách sạn 4 sao, tổng diện tích sàn 11.606m2, cao 10 tầng, chiều cao công trình lên tới 37,5m…

    Tương tự, ông Lê Tân Phong, nguyên là Phó Chủ tịch UBND huyện Sapa phụ trách khối kinh tế, đô thị; sau khi để mảng công tác được giao phụ trách bung bét thì được đôn lên vị trí Chủ tịch UBND thị xã, và hiện nay đang hồn nhiên cho rằng “một số quy định gây cản trở quá trình xử lý”. Chẳng lẽ ông không biết được rằng, nếu quyết liệt trong việc xử lý từ lúc phát sinh vi phạm thì nay đâu mất nhiều thời gian cho việc xử lý vi phạm?

    Ai chịu trách nhiệm khi đô thị Sapa bị xé nát? Ngoài hai quan chức nêu trên, dư luận của thị xã Sapa cũng đang nêu đích danh một số cá nhân khác, trong đó có ông phó chủ tịch Lê Mạnh Hảo phụ trách đô thị nay lại đổi vai sang phụ trách lĩnh vực khác có phải chịu trách nhiệm? Ông Trần Trọng Thông, vừa về nhận chức phó chủ tịch phụ trách trực tiếp về công tác quản lý đô thị nhưng cũng đã để xảy ra hàng loạt sai phạm.

    Congluan.vn sẽ tiếp tục thông tin.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phê Duyệt Quy Hoạch Phân Khu Đô Thị Du Lịch Phong Nha Quảng Bình
  • Quy Hoạch Chi Tiết Hai Bờ Sông Hương Ở Huế: Góp Phần Phát Triển Bền Vững Đô Thị Huế
  • Quy Hoạch Phát Triển Du Lịch Ninh Bình
  • Phát Triển Du Lịch Biển Bền Vững Tại Thị Xã Cửa Lò Nghệ An
  • Thông Qua Quy Hoạch Chi Tiết Một Số Phân Khu Thuộc Khu Trung Tâm Du Lịch Mộc Châu
  • Quy Hoạch Sapa Trở Thành Trung Tâm Du Lịch Nghỉ Dưỡng Quốc Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Án Quy Hoạch Sân Bay Sapa
  • Quy Hoạch Chung Xây Dựng Tp. Hồ Chí Minh Đến Năm 2025
  • Thông Tin, Bản Đồ Quy Hoạch Các Quận, Huyệnmới Nhất 2022
  • Du Lịch Sinh Thái Tiền Giang, Cần Phát Triển Theo Quy Hoạch
  • Điều Chỉnh Quy Hoạch Sử Dụng Đất Tỉnh Tiền Giang
  • Thủ tướng Chính phủ vừa có quyết định phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển Khu du lịch quốc gia Sa Pa, tỉnh Lào Cai đến năm 2030 với mục tiêu phát triển các sản phẩm du lịch đặc sắc, chất lượng cao, thu hút khoảng 5,2 triệu lượt khách du lịch…

    Theo Quy hoạch, Khu du lịch quốc gia Sa Pa thuộc địa bàn toàn huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai. Diện tích vùng lõi tập trung phát triển Khu du lịch quốc gia là 1.500 ha.

    Định hướng phát triển thành 1 Đô thị du lịch Sa Pa và 4 phân khu du lịch gồm: Bản Khoang – Tả Giàng Phình (thuộc xã Bản Khoang và Tả Giàng Phình); Tả Phìn (thuộc xã Tả Phìn); Tả Van – Séo Mý Tỷ (thuộc xã Tả Van) và Thanh Kim (thuộc xã Thanh Kim), có sự kết nối với huyện Bát Xát.

    Theo định hướng phát triển sản phẩm du lịch, sản phẩm du lịch chính của Sa Pa hướng tới là: sản phẩm du lịch đặc thù, du lịch tham quan, du lịch sinh thái kết hợp với nghỉ dưỡng. Trong đó, Sa Pa đẩy mạnh phát triển các sản phẩm du lịch đặc thù để tận hưởng khí hậu, cảnh sắc thiên nhiên và bản sắc văn hóa của người dân bản địa theo các chương trình du lịch “Sa Pa – xứ sở của các chương trình du lịch đi bộ dã ngoại hấp dẫn” và “Sa Pa – Vùng đất của sự trải nghiệm và tìm hiểu văn hóa truyền thống”.

    Bên cạnh đó, các sản phẩm du lịch “Chinh phục đỉnh cao” gắn với đỉnh Fansipan, nóc nhà Đông Dương (huyện Sapa), đỉnh Ky Quan San và đỉnh Nhìu Cù San, thiên đường săn mây của giới trẻ (huyện Bát Xát); du lịch nghỉ dưỡng ngắm tuyết rơi vào mùa đông.

    Sản phẩm du lịch bổ trợ gồm: du lịch tâm linh gắn với hệ thống đền, chùa trong tổ hợp vui chơi giải trí cáp treo Fansipan; các điểm di tích tâm linh trong khu vực; từng bước kết nối với các điểm di tích ở khu vực lân cận; du lịch gắn với các sự kiện, lễ hội văn hóa truyền thống; du lịch thương mại gắn với tham quan, mua sắm tại các trung tâm thương mại, chợ truyền thống; du lịch gắn với các hoạt động thương mại vùng biên hỗ trợ tiêu thụ hàng hóa nông sản đặc trưng của tỉnh Lào Cai; du lịch nghiên cứu, tìm hiểu sinh thái gắn với giáo dục môi trường; du lịch thể thao mạo hiểm…

    Về tổ chức không gian phát triển du lịch, Sa Pa phát triển du lịch sinh thái, khám phá gắn với giáo dục môi trường tại Vườn quốc gia Hoàng Liên (huyện Sa Pa), khu bảo tồn tự nhiên Bát Xát (huyện Bát Xát); các điểm du lịch cộng đồng tại các bản làng dân tộc: Cát Cát, Lao Chải, bản Dền, Nậm Cang và bản Sài (huyện Sa Pa); Lũng Pô II, bản Xèo, Sàng Ma Sáo và Dền Sáng (huyện Bát Xát); các điểm tham quan: Thung lũng Mường Hoa; bãi đá cổ, thác Bạc, thác Tình yêu và động Tả Phìn (huyện Sa Pa); cầu Thiên Sinh, cột cờ Lũng Pô và động Mường Vi (huyện Bát Xát).

    Mục tiêu của Quy hoạch nhằm phấn đấu đến năm 2022, Khu du lịch Sa Pa đáp ứng các tiêu chí và được công nhận là Khu du lịch quốc gia. Trước năm 2030, Khu du lịch quốc gia Sa Pa trở thành trung tâm du lịch nghỉ dưỡng, văn hóa tầm cỡ quốc gia, quốc tế với hệ thống cơ sở vật chất đồng bộ, hiện đại; sản phẩm du lịch đa dạng, đặc sắc, chất lượng cao, có thương hiệu, và khả năng cạnh tranh với các nước trong khu vực và quốc tế. Khu du lịch Sa Pa phấn đấu năm 2022 đón khoảng 2,0 triệu lượt khách; đến năm 2030 đón khoảng 5,2 triệu lượt khách.

    Được biết, hiện nay hạ tầng Sapa đang ngày càng “thay da đổi thịt”. Năm 2014, đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai đi vào hoạt động với chiều dài 245km, đã rút ngắn một nửa thời gian di chuyển từ Hà Nội đi Lào Cai xuống còn 4 tiếng. Chính tuyến đường cao tốc này đã tạo nên sự hấp dẫn cho ngành bất động sản du lịch.

    Đầu tư vào du lịch Sapa tiếp tục tăng tốc mạnh mẽ kể từ năm 2022 khi Bộ GTVT chính thức “gật đầu” với dự án tuyến đường Lào Cai – Sapa mở rộng lên 4 làn xe với tổng vốn đầu tư hơn 2.500 tỷ đồng. Dự án này đã được khởi công vào tháng 2/2016 và dự kiến sẽ hoàn thành vào đầu năm 2022.

    Mới đây Bộ Giao thông – Vận tải cũng quyết định đầu tư sân bay Lào Cai sớm hơn kế hoạch. Theo dự kiến, dự án sân bay Lào Cai với vốn đầu tư gần 5.800 tỉ đồng (cho cả 2 giai đoạn) có thể được khởi công vào cuối năm 2022 và hoàn thành vào cuối năm 2022 hoặc đầu năm 2022. Sân bay Lào Cai sẽ có công suất 560.000 hành khách/năm và 10 năm sau công suất sẽ tăng gần gấp 3.

    Chưa dừng lại ở đó, dự án hạ tầng làm thay đổi hoàn toàn BĐS du lịch Sapa chính là cáp treo Fansipan. Tuyến cáp treo được đưa vào hoạt động từ tháng 2/2016 không chỉ rút ngắn thời gian di chuyển lên “nóc nhà Đông Dương” từ 2 ngày xuống còn 15 phút mà còn giúp nơi đây trở thành điểm đến không thể bỏ qua đối với du khách trong và ngoài nước.

    Theo Cafebiz

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phê Duyệt Quy Hoạch Phát Triển Du Lịch Sapa
  • Băm Nát Quy Hoạch Sapa: Ai Là Người Chịu Trách Nhiệm?
  • Phê Duyệt Quy Hoạch Phân Khu Đô Thị Du Lịch Phong Nha Quảng Bình
  • Quy Hoạch Chi Tiết Hai Bờ Sông Hương Ở Huế: Góp Phần Phát Triển Bền Vững Đô Thị Huế
  • Quy Hoạch Phát Triển Du Lịch Ninh Bình
  • Quy Hoạch Du Lịch Tỉnh Vĩnh Phúc

    --- Bài mới hơn ---

  • Kinh Nghiệm Tự Đi Du Lịch Tại Quảng Châu Bằng Đường Bộ
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Cần Thơ Tự Túc: Chơi Gì, Ăn Đặc Sản Miền Tây Ở Đâu?
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Ao Vua Dã Ngoại, Cuối Tuần
  • Kinh Nghiệm Đi Núi Bạch Mã Huế An Toàn Và Hữu Ích Cho Người Mới Đi
  • Du Lịch Côn Đảo
  • LỜI MỞ ĐẦU Vĩnh Phúc là một tỉnh trung du miền núi có đồng bằng thuộc Bắc Bộ. Nằm liền kề thủ đô Hà Nội, Vĩnh Phúc có vị trí địa lý thuận lợi cho giao thương và phát triển kinh tế. Trong những năm qua, Vĩnh Phúc có những bước phát triển mạnh mẽ về kinh tế – xã hội, vươn lên trở thành một trong những điểm sáng của cả nước, đặc biệt trong lĩnh vực công nghiệp và thu hút đầu tư. Vĩnh Phúc cũng có những thuận lợi to lớn cho phát triển du lịch, là tỉnh có những địa danh du lịch nổi tiếng trong cả nước như Tam Đảo, Đại Lải, Tây Thiên… Tỉnh cũng có những đầu tư mạnh mẽ cho phát triển du lịch, tuy nhiên mức độ tăng trưởng của ngành còn chưa đáp ứng được kỳ vọng của Chính quyền và người dân. Nhằm khắc phục tình trạng bất cập cần phải có một chiến lượng quy hoạch tổng thể và chi tổng thể cho Vĩnh Phúc. Trên cơ sở nghiên cứu chính là giáo trình “Quy hoạch du lịch” của giảng viên Bùi Thị Hải Yến và nhiều tài liệu tham khảo khác, em cơ bản hình thành bản quy hoạch tổng thể du lịch Vĩnh Phúc. Em hi vọng nó sẽ có những giá trị nhất định trong giải quyêt các vấn đề chưa khắc phục được của du lịch Vĩnh Phúc. Cuối cùng em xin chân thành cám ơn các cơ quan, tổ chức và cá nhân đã giúp em hoàn thành bài tập trên. Trong đó có giảng viên Bùi Thị Hải Yến đã giúp em có những nền tảng quan trong trong vấn đề quy hoạch du lịch, xây dựng điểm du lịch, UBND tỉnh Vĩnh Phúc, Sở Văn hóa thể thao và du lịch Vĩnh Phúc TỔNG QUAN VỀ VĨNH PHÚC Vĩnh Phúc là một tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng, Việt Nam. Vĩnh Phúc là một trong các tỉnh thành tạo nên vùng thủ đô Hà Nội. Theo kết quả điều tra dân số 01/04/2009 dân số tỉnh Vĩnh Phúc là 1.000.838 người. Trong quy hoạch xây dựng, tỉnh này thuộc vùng Hà Nội Vĩnh phúc có phía bắc giáp tỉnh Thái Nguyên và tỉnh Tuyên Quang, phía tây giáp tỉnh Phú Thọ, phía đông và phía nam thủ đô Hà Nội. Vĩnh Phúc là một tỉnh ở vùng đỉnh của châu thổ sông Hồng, khoảng giữa của miền Bắc nước Việt Nam, khu vực chuyển tiếp giữa miền núi và đồng bằng vì vậy có ba vùng sinh thái: đồng bằng ở phía Nam tỉnh, trung du ở phía Bắc tỉnh, vùng núi ở huyện Tam Đảo. Phía bắc giáp hai tỉnh Thái Nguyên và Tuyên Quang, đường ranh giới là dãy núi Tam Đảo. Phía tây giáp tỉnh Phú Thọ, ranh giới tự nhiên là sông Lô. Phía nam giáp Hà Nội, ranh giới tự nhiên là sông Hồng. Phía đông giáp hai huyện Sóc Sơn và Đông Anh – Hà Nội. Vĩnh Phúc tiếp giáp với sân bay quốc tế Nội Bài, là điểm đầu của quốc lộ 18 đi cảng Cái Lân (tỉnh Quảng Ninh), đồng thời có đường sắt Hà Nội – Lào Cai, đường quốc lộ 2 chạy dọc tỉnh. Chảy qua Vĩnh Phúc có 4 dòng chính: sông Hồng, sông Lô, sông Phó Đáy và sông Cà Lồ. Hệ thống sông Hồng là tuyến đường thuỷ quan trọng, thuận lợi cho tàu bè. Vĩnh Phúc có 1 thành phố, 1 thị xã và 7 huyện. Do đặc điểm vị trí địa lý Vĩnh Phúc có ba vùng sinh thái rõ rệt: đồng bằng, trung du và miền núi; liền kề với thủ đô Hà Nội, gần sân bay quốc tế Nội Bài; có hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường sông thuận lợi trên trục phát triển kinh tế của Việt Nam Từ 1 tháng 8 năm 2008, huyện Mê Linh đã được tách ra và sáp nhập vào thành phố Hà Nội. Bổ sung: Từ 1 tháng 4 huyện Lập Thạch tách làm 2 là: huyện Sông Lô và huyện Lập Thạch. Như vậy hiện Vĩnh Phúc có 1 thành phố, 1 thị xã và 7 hành chính cấp huyện. QUY HOACH TỔNG THỂ DU LỊCH VĨNH PHÚC: Cơ sở lý luận: Quy hoạch du lịch là tâph hợp lý luận và thực tiễn nahwmf phân bố hợp lý nhất lãnh thổ những cơ sở kinh doanh du lịch có tính toán tổng hợp các nhân tố: điều kiện tự nhiên, tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng, điều kiện kinh tế-xã hội, môi trường, kiến trúc xây dựng …Quy hoạch du lịch còn cụ thể hóa trên lãnh thổ những dự đoán, định hướng, chương trình và kế hoạch phát triển du lịch. Đồng thời quy hoạch du lịchbao gồm cả quá trình ra quyết định thực hiện quy hoạch, bổ sung các điều kiện phát triển nhằm đạt được các mục tiêu phát triểndu lịch bền vững. Nhiều nhà khoa học du lịch trong nước và quốc tế cho rằng, quy hoạch tổng thể thường có quy mô lớn, hiếm khi nhỏ hơn quy mô cấp huyện và thười gian thực hiện quy hoạch du lịch thường dài hơn (từ 5 đến 15 năm). Nhiệm vụ của quy hoạch tổng thể phát triển du lịch bao gồm : nghiên cứu xác định vị trí, ảnh hưởng của các ngành du lịch trong nền kinh tế quốc dân ở khu vực hay quốc gia, đưa ra mục tiêu phát triển ngành du lịch, hoạch định quy mô phát triển, yếu tố kết cấu và bố cục không gian của ngành du lịch, chỉ đạo và điều tiết ngành du lịch phát triển lành mạnh. Về mặt không gian thì chức năng du lịch trong khu quy hoạch là không liên tục. Đánh giá thực trạng du lịch Vĩnh Phúc Vĩnh Phúc có lợi thế lớn về vị trí địa lý so với nhiều tỉnh khác ở Bắc Bộ cũng như cả nước, đó là khoảng cách gần với thủ đô Hà Nội, đặc biệt là khoảng cách tới sân bay Nội Bài. Ngoài ra Vĩnh Phúc còn nằm trên tuyến Quốc lộ 2 và đường sắt quốc gia, quốc tế. Chính vì vậy, Vĩnh Phúc có điều kiện thuận lợi hơn nhiều địa phương trong vùng du lịch Bắc Bộ trong việc phát triển du lịch. 2.1. Thực trạng lượng khách du lịch Lượng khác du lịch Vĩnh Phúc (bao gồm cả khách quốc tế và nội địa) đến Vĩnh Phúc nhìn chung trong những năm qua luôn có sự tăng trưởng, với tốc độ trung bình từ 15-20%/năm (ngoại trừ năm 1995 và 2000 tốc độ tăng trưởng đạt trên 40%/năm). Tuy nhiên sự tăng trưởng về dòng khách tới Vĩnh Phúc có một số đặc thù sau: 2.1.1. Khách nội địa:- Năm 1995 Vĩnh Phúc đón 260 nghìn lượt khách, năm 2000 đạt 500 nghìn lượt và năm 2008 đạt 1,5 triệu lượt khách, chiếm tỷ trọng rất cao trong tổng số khách đến Vĩnh Phúc.- Tăng trưởng mạnh nhưng không đều, một số năm có mức tăng trưởng âm (1997, 1999) hoặc mức tăng thấp (1996, 2003, 2006).- Thời gian lưu trú của khách thấp, chỉ khoảng 1 ngày- Gần 1/2 lượng khách nội địa đến Vĩnh Phúc với mục đích nghỉ dưỡng, du lịch, tham quan thuần túy.- Thị trường du lịch nội địa chủ yếu của Vĩnh Phúc là Hà Nội (46%) và các tỉnh Bắc bộ khác (20%), các địa phương càng xa càng chiếm tỷ trọng nhỏ. – So với các địa phương thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, Vĩnh Phúc chiếm 10% tổng lượng khách nội địa, bằng 1/5 so với Hà Nội, 1/2 so với Hải Phòng và hơi nhỉnh hơn Quảng Ninh.- Nhìn chung, khách du lịch nội địa đánh giá cao tiềm năng tài nguyên của Vĩnh Phúc, tuy nhiên chất lượng dịch vụ du lịch và môi trường du lịch còn nhiều bất cập. 2.1.2. Khách quốc tế:- Lượng khách quốc tế đến Vĩnh Phúc năm 1998 là 2.500, năm 2003 là 12.400 và năm 2008 là 24.350.- Lượng khách quốc tế chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng lượng khách du lịch, thường dưới 2% (ngoại trừ năm 2006 và 2007)- Lượng khách quốc tế có sự tăng trưởng, nhưng tăng trưởng không ổn định, có những năm tăng trưởng âm (1997 và 2008)- Thời gian lưu trú trung bình thấp (khoảng 2 ngày, cá biệt năm 2008 chỉ còn 1,1 ngày)- Tiềm năng tài nguyên du lịch Vĩnh Phúc không phù hợp với thị trường khách quốc tế chủ yếu của nước ta hiện nay: đó là du lịch biển, tham quan di tích, du lịch cộng đồng, tìm hiểu văn hóa, du lịch nông thôn…- Khác du lịch quốc tế đến Vĩnh Phúc chiếm tỷ trọng rất nhỏ so với toàn vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc (khoảng 0,7%) chỉ nhiều hơn 2 tỉnh khác cũng cận kề Hà Nội là Bắc Ninh và Hưng Yên.- Mục đích của khách du lịch quốc tế đến Vĩnh Phúc chủ yếu là nghỉ dưỡng, du lịch thuần túy (45%), thương mại (14%), thăm thân (10%)- Khác du lịch đến từ Đông Nam Á chiếm tỷ trọng lớn (58%), sau đó là thị trường Bắc Mỹ (17%) còn lại là các thị trường khác (25%)2.2. Thu nhập du lịchCùng với sự phát triển thị trường khách du lịch, doanh thu của ngành du lịch Vĩnh Phúc cũng luôn có được sự tăng trưởng trong thời gian qua. Từ năm 1997, doanh thu du lịch chỉ là 50 tỷ, chỉ số này có mức tăng trưởng trung bình trên 50%/năm trong giai đoạn 1997-2000 và đạt 175 tỷ vào năm 2000. Trong gian đoạn 2001-2008 tốc độ tăng trưởng trung bình năm là gần 19% và đạt 620 tỷ đồng vào năm Samthienha.com lịch quốc tế tuy chiếm tỷ lệ nhỏ về lượng khách, nhưng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu ngành (tỷ trọng 3% vào năm 1997, 21% vào năm 2000 và lên tới gần 42% vào năm 2008). Điều này khẳng định tầm quan trọng của thị trường khách quốc tế, là kết quả trực tiếp từ chỉ số mức chi tiêu cao của khác quốc tế (trên 1 triệu đồng ngày) so với mức trung bình của khách nội địa (khoảng 300 nghìn đồng ngày). Về cơ cấu chi tiêu của khách quốc tế cũng có lợi tổng thể hơn so với cơ cấu chi tiêu của khách nội địa vì khách quốc tế chỉ dành khoảng 30% chi phí cho lưu trú, trong khi khách nội địa dành tới 60% cho lưu trú. Như vậy hiệu quả từ du lịch quốc tế là cao hơn rõ ràng so với khách du lịch nội địa. Thu nhập du lịch của Vĩnh Phúc chỉ chiếm 4,7% của thu nhập du lịch toàn vùng, chỉ hơn 2 tỉnh Bắc Ninh và Hưng Yên. Giá trị gia tăng ngành du lịch Vĩnh Phúc cũng luôn đạt mức tăng trưởng trong thời kỳ qua (trung bình khoảng 10%/năm, tuy nhiên còn thấp hơn mức tăng trưởng GDP chung của toàn tỉnh (khoảng 17%/năm) do mức tăng trưởng mạnh vượt bậc của khối Công nghiệp – Xây dựng (khoảng 25%/năm). Vì vậy du lịch còn chiếm tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu kinh tế tỉnh (dưới 3%). Đó là thực tế đang suy nghĩ so với tiềm năng và lợi thế to lớn đối với sự nghiệp phát triển du lịch của tỉnh.2.3. Cơ sở vật chất: Cơ sở vật chất đóng vai trò quan trọng trong chất lượng sản phẩm du lịch. Hiện Vĩnh Phúc có 128 khách sạn, nhà nghỉ với tổng số 2.238 phòng, 3361 giường, tuy nhiên chỉ có 15 khách sạn được xếp hạng sao với 531 phòng và 831 giường (10 khách sạn 2 sao, 5 khách sạn 1 sao và 31 khách sạn chưa xếp sao). Nhìn chung các cơ sở lưu trú tại Vĩnh Phúc còn có quy mô nhỏ, gần 2/3 số cơ sở lưu trú có quy mô dưới 20 phòng. Hiệu quả kinh doanh của các cơ sở lưu trú tại Vĩnh Phúc cũng không cao, do ảnh hưởng mạnh của tính mùa vụ, nên công suất sử dụng phòng trung bình chỉ đạt khoảng 35%/năm, đây là mức rất thấp so với các cơ sở có mức hoạt động trung bình của cả nước. Cũng do chất lượng dịch vụ thấp, hiện trạng cơ sở vật chất không cao, nên giá phòng lưu trú ở Vĩnh Phúc cũng thấp, bình quân chưa tới 180 nghìn/đêm. Phù hợp với đặc thù khai thác du lịch hiện nay của Vĩnh Phúc, các cơ sở lưu trú chủ yếu tập trung tại TP Vĩnh Yên (40% số cơ sở, 35% số phòng), Tam Đảo (34% số cơ sở, 38% số phòng) và Phúc Yên – Đại Lải (18% số cơ sở, 21% số phòng). Ngoại trừ thị trấn Hương Canh thuộc huyện Bình Xuyên, các huyện khác chỉ có 1-2 cơ sở lưu trú và thường chỉ là các nhà nghỉ. Hệ thống nhà hàng ở Vĩnh Phúc cũng chưa đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách du lịch, đặc biệt là chất lượng dịch vụ, đây cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng kiềm chế sự phát triển của du lịch Vĩnh Phúc. Ngoài ra, các cơ sở vật chất thể thao, vui chơi giải trí của Vĩnh Phúc cũng được phát triển tương đối, tuy nhiên, có lẽ chất lượng và loại hình các cơ sở này chưa thật sự phát huy hiệu quả trong khai thác phục vụ du lịch.2.4. Lao động du lịch: Đây có thể coi là một trong những khâu bất cập nhất của du lịch Vĩnh Phúc. Số liệu thống kê của Sở VH, TT&DL Vĩnh Phúc cho thấy đội ngũ lao động du lịch Vĩnh Phúc yếu về chất lượng và thiếu về số lượng. Ngoài ra, do sự phụ thuộc quá lớn vào tính mùa vụ của du lịch Vĩnh Phúc, một lượng vô cùng lớn lao động mùa vụ không được thống kê, và chắc chắn rằng số lao động này cũng hoàn toàn không hề được đào tạo, dù chỉ là những kỹ năng cơ bản. Đội ngũ lao động du lịch được thống kê chính thức của Vĩnh Phúc năm 2007 là 730 lao động trực tiếp và 80 lao động gián tiếp, đạt mức tăng trưởng trung bình gần 17%/năm trong giai đoạn 2000-2007. Tuy nhiên theo những tính toán theo thông lệ chung thì con số này hoàn toàn không đáp ứng được lượng lớn số phòng cơ sở lưu trú của tỉnh (2.238 phòng), chưa kể tới các cơ sở dịch vụ khác ngoài lưu trú. Cũng chính vì tỷ trọng lớn lao động thời vụ, bán chuyên, nên chất lượng dịch vụ ngày càng trở thành vấn đề nổi cộm đối với Vĩnh Phúc.2.5. Tình hình đầu tư du lịch: Nhìn chung mức độ đầu tư cho phát triển hạ tầng phục vụ du lịch của Vĩnh Phúc còn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của ngành. Trong giai đoạn 2001-2004 mởi chỉ có gần 50 tỷ đồng đầu tư cho hạ tầng du lịch (vốn TW cấp chiếm 44%, 56% từ nguồn ngân sách tỉnh) tập trung chủ yếu cho Tam Đảo (44%), Đại Lải (37%), Vĩnh Yên (7%). Chính vì vậy khả năng khai thác, đầu tư phát triển du lịch còn nhiều khó khăn. Các chương trình, dự án lớn, có tính đột phá chưa có điều kiện triển khai. Khác với tình hình đầu tư hạ tầng, việc đầu tư trực tiếp cho phát triển các khu du lịch, nghỉ dưỡng ở Vĩnh Phúc sôi động hơn. Đến năm 2004 đã có 31 dự án được cấp phép với tổng vốn đầu tư đăng ký lên tới trên 6.000 tỷ đồng. Tuy nhiên trên thực tế, tiến độ triển khai các dự án còn rất chậm. Đặc biệt là tại khu vực Tam Đảo I có nhiều dự án hoàn toàn không chuyển động. Đây là những khó khăn lớn đối với việc nâng cao chất lượng và đa dạng hóa sản phẩm du lịch, cải thiện khả năng cạnh tranh, tăng hiệu quả kinh doanh của du lịch Vĩnh Phúc. Ngoài ra, hai dự án lớn, mang tính đột phá của Vĩnh Phúc (dự án Tam Đảo 2 và dự án Trường đua) do một số lý do nên chưa được triển khai.2.6. Một số bất cập trong công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực du lịch Bên cạnh những thành tựu đã đạt được trong thời gian qua, công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực du lịch còn có một số bất cập, cụ thể là:- Tỉnh chưa xây dựng được chương trình phát triển du lịch cụ thể, từ đó có kế hoạch bố trí ngân sách cho các dự án trong lĩnh vực du lịch.- Công tác quản lý quy hoạch, quản lý xây dựng, đầu tư theo quy hoạch còn nhiều khó khăn, bất cập (ví dụ: Tam Đảo).- Công tác thống kê chưa thực sự được coi trọng và đầu tư, do đó không có cơ sở đánh giá chính xác thực trạng hiệu quả hoạt động du lịch, từ đó có thể đưa ra các chính sách, giải pháp khả thi và hiệu quả. – Chất lượng môi trường của các khu du lịch trọng điểm chưa được đảm bảo nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách du lịch.- Tỉnh chưa có chương trình quảng bá, xúc tiến chung cho ngành du lịch nhằm định vị hình ảnh Vĩnh Phúc trên thị trường du lịch cả nước cũng như quốc tế.3. Tiềm năng và nguồn lực phát triển du lịch Vĩnh Phúc:3.1. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch tự nhiên:Vĩnh Phúc nằm liền kề thủ đô Hà Nội là một lợi thế về vị trí địa l‎í quan trọng vì Hà Nội là thị trường gửi khách nội địa lớn nhất miền Bắc. Ngoài ra khoảng cách từ Vĩnh Phúc tới sân bay Nội Bài – một trong những cảng hàng không quốc tế lớn nhất Việt Nam cũng chỉ là 25km, vì vậy khả năng tiếp cận trực tiếp của khách quốc tế tới Vĩnh Phúc là rất thuận lợi.Ngoài ra Vĩnh Phúc còn nằm trên tuyến quốc lộ 2 và đường sắt Hà Nội – Lào Cai – Vân Nam là những tuyến giao thông quan trọng. Trong tương lai đường cao tốc xuyên Á cũng chạy qua địa bàn tỉnh. Đây là những thuận lợi vô cùng to lớn về giao thông đối ngoại góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển du lịch của tỉnh.Địa hình Vĩnh Phúc phong phú, có cả núi, đồi và đồng bằng. Vì vậy cảnh quan của tỉnh cũng đa dạng hấp dẫn, có giá trị cao để phục vụ khai thác du lịch. Vĩnh Phúc có những đỉnh núi tương đối cao (đỉnh cao nhất gần 1.600m) nên hệ sinh thái tự nhiên cũng đa dạng và còn tương đối được bảo tồn. Đây là những tài nguyên du lịch tự nhiên quí báu, đặc biệt khi xét tới khoảng cách rất gần so với Hà Nội. Bên cạnh núi đồi, Vĩnh Phúc còn có hệ thống sông ngòi, đầm hồ tương đối phát triển so với các tỉnh khác thuộc Bắc Bộ. Những yếu tố bổ sung này là tiền đề quan trọng cho việc đa dạng hóa sản phẩm du lịch của tỉnh, bổ trợ cho sản phẩm du lịch cả vùng. Có thể thấy những tài nguyên du lịch tự nhiên nổi trội của Vĩnh Phúc chính là Tam Đảo và Đại Lải.3.2. Tài nguyên du lịch nhân văn:Bên cạnh những yếu tố tự nhiên, đóng vai trò không kém quan trọng là tài nguyên du lịch nhân văn. Với đặc thù là một tỉnh thuộc đồng bằng Bắc Bộ, gắn liền với công cuộc dựng nước, giữ nước trong hàng ngàn năm lịch sử, nền văn hóa lâu đời, phong phú và đa dạng của nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc là nguồn tài nguyên du lịch vô cùng quí báu của cả nước.Toàn tỉnh hiện có 967 di tích lịch sử, văn hóa, trong đó 228 di tích được xếp hạng cấp Quốc gia, trong đó nổi bật là cụm di tích Tây Thiên (nhiều nhà khoa học đã khẳng định đây là nơi phát tích của Phật Giáo tại Việt Nam), tháp Bình Sơn, đền thờ Trần Nguyên Hãn, đình Thổ Tang, cụm đình Hương Canh… Không chỉ có nền văn hóa vật thể phong phú, Vĩnh Phúc còn có nền văn hóa phi vật thể cũng đa dạng, hấp dẫn có giá trị du lịch cao, đó là hệ thống các lễ hội (con số thống kê cho thấy Vĩnh Phúc có tới 400 lễ hội hàng năm), các trò chơi dân gian, văn hóa nghệ thuật, thi ca, ẩm thực…Ngoài ra Vĩnh Phúc còn có nhiều làng nghề và sản phẩm thủ công truyền thống có giá trị khai thác du lịch cao.3.3. So sánh lợi thế cạnh tranh về tài nguyên du lịch với các tỉnh lân cận:3.3.1. So sánh về tính đa dạng của tài nguyên:Đối với việc thu hút khách từ Hà Nội trong vai trò thị trường gửi khách và thị trường trung chuyển khách quan trọng nhất của miền Bắc, việc đánh giá lợi thế cạnh tranh của tài nguyên du lịch Vĩnh Phúc được thực hiện với các tỉnh lân cận khác như Bắc Ninh, Hưng Yên, Hà Nam và Hòa Bình là những địa phương có khoảng cách địa lí tới Hà Nội tương tự Vĩnh Phúc. Phân tích đánh giá so sánh cho thấy:- Vĩnh Phúc có tài nguyên du lịch tự nhiên phong phú hơn với đóng góp của Tam Đảo và hệ thống đầm, hồ, sông ngòi.- Hệ thống tài nguyên nhân văn của Vĩnh Phúc có giá trị tương đương với các địa phương kể trên. Tuy nhiên nếu mở rộng so sánh với Hải Dương và Ninh Bình thì Vĩnh Phúc cần nghiên cứu, đầu tư và quảng bá mạnh mẽ để Tây Thiên có được sức hút đối với khách du lịch, khách hành hương như Côn Sơn – Kiếp Bạc, Yên Tử, Bái Đính của Hải Dương, Quảng Ninh và Ninh Bình hoặc Chùa Hương của Hà Nội.3.3.2. So sánh về tính đặc trưng của tài nguyên:- Khu vực nghỉ mát và Vườn Quốc gia Tam Đảo: Tam Đảo có sản phẩm tương đồng với các điểm du lịch như Sa Pa, Đà Lạt, Bà Nà. Tuy nhiên với giá trị đa dạng sinh học cao của VQG Tam Đảo và vị trí địa lí gần so với Hà Nội, Tam Đảo có nhiều lợi thế so với các điểm cạnh tranh mặc dù có một số mặt chưa bằng các điểm khác (như văn hóa dân tộc thiểu số ở Sa Pa, kiến trúc cổ Đà Lạt).- Khu di tích, thắng cảnh Tây Thiên cũng là một nét đặc trưng của tài nguyên du lịch Vĩnh Phúc, phần nào có thể so sánh được với Yên Tử, Chùa Hương, tuy nhiên để có thể “cạnh tranh” được với các điểm du lịch này thì Tây Thiên cần được nghiên cứu, đầu tư, quảng bá cũng như quảng bá kết hợp đưa các kết quả nghiên cứu khoa học tới công chúng.- Hồ Đại Lải có thể được coi là điểm du lịch cuối tuần kết hợp vui chơi giải trí lí tưởng của Hà Nội, hoàn toàn có khả năng cạnh tranh vượt trội so với các điểm lân cận khác như Ba Vì, Kim Bôi…- Các lệ hội truyền thống, đặc sản ẩm thực của Vĩnh Phúc cũng hoàn toàn cạnh tranh được với các tỉnh lân cận, đặc biết với đặc thù của một tỉnh nằm trên vùng chuyển tiếp miền núi trung du xuống đồng bằng châu thổ nên Vĩnh Phúc có cả những nét đặc thù văn hóa các dân tộc.3.3.3. So sánh về điểm du lịch hạt nhân:Ngoài các so sánh về tính đa dạng của tài nguyên, sự đặc trưng của tài nguyên, so sánh cạnh tranh về điểm du lịch hạt nhân là một phương pháp đánh giá quan trọng vì điểm du lịch hạt nhân chính là yếu tố chủ đạo của hình ảnh du lịch của một địa phương. Các địa phương được so sánh với Vĩnh Phúc là Bắc Ninh, Hưng Yên, Hà Nam và Hòa Bình với các điểm du lịch hạt nhân tương ứng là Đình làng Đình Bảng, Phố Hiến, Ngũ Động Sơn và Mai Châu trong tương quan với Tam Đảo của Vĩnh Phúc. Các tiêu chí được sử dụng trong so sánh là:- Về tài nguyên tự nhiên: Tam Đảo vượt trội so với các điểm khác- Tài nguyên nhân văn: Tam Đảo vượt trội so với phần lớn các điểm, ngoại trừ Mai Châu có yếu tố văn hóa dân tộc đặc sắc của người Thái và Mường- Giao thông tiếp cận: các điểm có đánh giá tương đồng xét về tiêu chí này- Hoạt động du lịch chính: Tam Đảo có thể cung cấp các hoạt động du lịch phong phú hơn cho khách so với các điểm khác- Hoạt động du lịch bổ trợ: Tam Đảo cũng có điều kiện cung cấp các hoạt động bổ trợ đa dạng hơn cho khách du lịch- Vị trí trong phát triển du lịch cả nước: Tam Đảo được xác định có vị trí quan trọng hơn so với các điểm du lịch hạt nhân của các địa phương kể trên.3.4. Điều kiện hạ tầng kỹ thuật:Nhìn chung, so vớ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quy Hoạch Tổng Thể Phát Triển Du Lịch Tỉnh Vĩnh Phúc Đến Năm 2022, Tầm Nhìn 2030
  • Danh Sách Các Trường Ở Tp.hcm Đào Tạo Ngành Khách Sạn
  • Tour Du Lịch Hà Nội Nha Trang 3 Ngày 2 Đêm Bằng Máy Bay
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Ngũ Hành Sơn Đà Nẵng
  • Tour Du Lịch Lào Thái Đường Bộ Trọn Gói Đón Tiễn Tại Đà Nẵng
  • Nội Dung Quy Hoạch Vùng

    --- Bài mới hơn ---

  • Bộ Xây Dựng Thẩm Định Đồ Án Quy Hoạch Chung Xây Dựng Khu Du Lịch Quốc Gia Hồ Hòa Bình
  • Diadiemanuong.com: Cách Liên Hệ, Bảng Giá Quảng Cáo Địa Điểm Ăn Uống
  • Trượt Visa Hàn Quốc Bao Lâu Thì Có Thể Xin Lại Được
  • Những Cuốn Sách Du Lịch Hàn Quốc Bằng Tiếng Việt
  • Vòng Quanh Thế Giới
  • QUY HOẠCH VÙNG

    THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

    THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

    Số: 633/QĐ-TTg

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

    Hà Nội, ngày 11 tháng 5 năm 2010

     

    QUYẾT ĐỊNH

    Phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng

    đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đến năm 2030

    _________

     

    THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

    Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12

    năm 2001;

    Căn cứ Luật Xây dựng ngày 26 tháng 11 năm 2003;

    Căn cứ Nghị định số 08/2005/NĐ-CP ngày 24 tháng

    01 năm 2005 của Chính phủ về Quy hoạch xây dựng;

    Xét đề nghị của Bộ Xây dựng tại Tờ trình số

    11/TTr-BXD ngày 24 tháng 3 năm 2010,

    QUYẾT ĐỊNH:

    Điều 1. Phê duyệt điều chỉnh

    Quy hoạch chung xây dựng đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đến năm 2030 với những

    nội dung chính sau:

    1. Phạm vi lập điều chỉnh Quy hoạch:

    Phạm vi lập điều chỉnh Quy hoạch gồm: toàn bộ huyện Đảo Phú Quốc với các

    đô thị: thị trấn Dương Đông, thị trấn An Thới và 8 xã: Cửa Cạn, Gành Dầu, Bãi

    Thơm, Hàm Ninh, Cửa Dương, Dương Tơ, Thổ Châu và xã Hòn Thơm (gồm toàn bộ cụm

    đảo phía Nam An Thới). Tổng diện tích đất tự nhiên: 58.923 ha.

    2. Mục tiêu phát triển:

    Xây dựng đảo Phú Quốc phát triển bền vững; hài hòa giữa phát triển kinh

    tế với bảo tồn di tích lịch sử, văn hóa và bảo vệ môi trường; bảo đảm an ninh,

    quốc phòng vùng và quốc gia. Từng bước xây dựng trở thành một thành phố biển

    đảo, trung tâm du lịch và dịch vụ cao cấp; trung tâm khoa học công nghệ của quốc

    gia và khu vực Đông Nam Á.

    3. Tính chất:

    – Là khu kinh tế – hành chính đặc biệt; trung tâm du lịch sinh thái,

    nghỉ dưỡng, giải trí cao cấp quốc gia và quốc tế; trung tâm tài chính tầm cỡ khu

    vực.

    – Là đầu mối quan trọng về giao thông vận tải nội vùng và hàng không

    quốc tế.

    – Là trung tâm nghiên cứu khoa học công nghệ chuyên ngành.

    – Trung tâm bảo tồn sự đa dạng sinh học rừng và biển của quốc gia và khu

    vực.

    – Có vị trí đặc biệt về an ninh và quốc phòng.

    4. Dự báo khách du lịch:

    – Dự báo đến năm 2022 khoảng 2 – 3 triệu khách/năm, trong đó khách quốc

    tế chiếm khoảng 35 – 40%.

    – Dự báo đến năm 2030 khoảng 5 – 7 triệu khách/năm, trong đó khách quốc

    tế chiếm khoảng 45 – 50%.

    5. Quy mô dân số:

    – Dự báo đến năm 2022 quy mô dân số khoảng 340.000 – 380.000 người.

    Trong đó dân số đô thị khoảng 200.000 – 230.000 người, dân số nông thôn khoảng

    80.000 – 90.000 người, dân số quy đổi từ khách du lịch khoảng 50.000 – 65.000

    người.

    – Dự báo đến năm 2030 quy mô dân số khoảng 500.000 – 550.000 người.

    Trong đó dân số đô thị khoảng 320.000 – 370.000 người, dân số nông thôn khoảng

    90.000 – 100.000 người, dân số quy đổi từ khách du lịch khoảng 80.000 – 85.000

    người.

    6. Quy mô đất đai:

    a) Quy mô sử dụng đất đai toàn đảo đến năm 2030:

    – Đất

    xây dựng đô thị

    khoảng 3.852 ha

    – Đất

    du lịch

    khoảng 3.861 ha

    Trong

    đó:

     

    + Đất

    du lịch sinh thái

    (trong

    đó sân gôn khoảng 576 ha)

    khoảng 3.051 ha

    + Đất

    du lịch hỗn hợp

    (trong

    đó sân gôn khoảng 244 ha)

    khoảng 810 ha

    – Đất

    khu phức hợp du lịch, dịch vụ và dân cư

    khoảng 1.235 ha

    – Đất

    chuyên dùng

    khoảng 1.489 ha

    Trong

    đó:

     

    + Đất

    tiểu thủ công nghiệp

    khoảng 211 ha

    + Đất

    phi thuế quan

    khoảng 101 ha

    + Đất

    trường đua và huấn luyện thể thao

    khoảng 170 ha

    + Đất

    giao thông chính toàn đảo

    khoảng 666 ha

    + Đất

    văn hóa, lịch sử

     (trong

    đó rừng phòng hộ 140 ha)

    khoảng 342 ha

    – Đất

    cây xanh, mặt nước và không gian mở

    khoảng 3.399 ha

    – Đất

    đầu mối hạ tầng kỹ thuật

    khoảng 1.135 ha

    Trong

    đó:

     

    + Đất

    sân bay, cảng biển

    khoảng 920 ha

    + Đất

    khu xử lý nước thải, rác thải

    khoảng 100 ha

    + Nhà

    máy điện, nhà máy nước

    khoảng 65 ha

    + Nghĩa

    trang

    khoảng 50 ha

    – Đất

    lâm nghiệp

    khoảng 37.802 ha

    Trong

    đó:

     

    + Đất

    rừng đặc dụng

    khoảng 29.596 ha

    + Đất

    rừng phòng hộ đảo Phú Quốc

    khoảng 7.038 ha

    + Đất

    rừng phòng hộ trên đảo Thổ Chu

    khoảng 1.168 ha

    – Đất

    nông nghiệp

    khoảng 5.813 ha

    Trong

    đó:

     

    + Đất

    sản xuất nông nghiệp

    khoảng 4.177 ha

    + Đất ở

    nông thôn, làng nghề

    khoảng 1.636 ha

    – Đất

    an ninh quốc phòng, đất dự trữ phát triển

    khoảng 337 ha

    Tổng:

    58.923 ha

    b) Quy mô đất xây dựng đô thị:

    – Dự báo đến năm 2022: đất xây dựng đô thị khoảng 2.400 ha; đất du lịch

    khoảng 1.800 ha; đất xây dựng dân cư nông thôn khoảng 857 ha; đất rừng đặc dụng,

    rừng phòng hộ khoảng 37.802 ha.

    – Dự báo đến năm 2030: đất xây dựng đô thị khoảng 3.852 ha; đất du lịch

    khoảng 5.096 ha; đất xây dựng dân cư nông thôn, làng nghề khoảng 1.636 ha; đất

    rừng đặc dụng, rừng phòng hộ khoảng 37.802 ha.

    7. Định hướng phát triển không gian:

    a) Mô hình phát triển và cấu trúc không gian:

    – Mô hình phát triển thành phố du lịch sinh thái biển đảo Phú Quốc theo

    cấu trúc chuỗi tập trung, đa trung tâm.

    – Cấu trúc không gian theo trục chính Bắc – Nam An Thới – Cầu Trắng,

    trục giao thông vòng quanh đảo Bãi Vòng – Bãi Thơm – Rạch Tràm – Rạch Vẹm – Gành

    Dầu – Cửa Cạn – Dương Đông – Bãi Trường – Bãi Khem kết nối cảng biển quốc tế An

    Thới, Bãi Đất Đỏ, sân bay quốc tế Dương Tơ.

    – Cấu trúc các vùng đô thị – du lịch bao gồm: khu đô thị Cửa Cạn, khu đô

    thị Dương Đông, khu đô thị An Thới; các vùng du lịch sinh thái: Bắc đảo, du lịch

    sinh thái Nam đảo, du lịch hỗn hợp Bãi Trường – Bãi Vòng; các làng nghề truyền

    thống.

    – Cấu trúc vùng cảnh quan, vùng nông nghiệp, không gian mở: không gian

    rừng cảnh quan vườn quốc gia, rừng phòng hộ, các công viên chuyên đề và không

    gian mở.

    b) Cơ cấu chức năng và hướng phát triển không gian:

    – Cơ cấu chức năng:

    Cơ cấu thành phố đảo Phú Quốc bao gồm: Vùng phát triển đô thị và du lịch

    chiếm khoảng 15,19%. Vùng lâm nghiệp chiếm khoảng 64,16%. Vùng cảnh quan và

    không gian mở chiếm khoảng 5,77%. Vùng nông nghiệp chiếm khoảng 9,13%. Vùng đặc

    biệt chiếm khoảng 5,75%.

    – Hướng phát triển không gian:

    + Khu đô thị Dương Đông là trung tâm của thành phố du lịch đảo Phú Quốc.

    + Hướng Bắc: bảo tồn rừng cảnh quan, phát triển du lịch sinh thái, làng

    nghề phục vụ du lịch, nông nghiệp công nghệ cao.

    + Hướng Nam: phát triển du lịch hỗn hợp, du lịch sinh thái, đô thị cảng

    biển, sân bay quốc tế, bảo tồn rừng phòng hộ, công viên chuyên đề, khu tưởng

    niệm nhà tù Phú Quốc.

    + Hướng Tây phát triển các khu du lịch sinh thái, các làng nghề truyền

    thống.

    + Hướng Đông phát triển nông nghiệp bảo tồn cảnh quan tự nhiên.

    c) Phân vùng chức năng:

    – Vùng phát triển đô thị: diện tích 3.852 ha, bao gồm: khu đô thị Cửa

    Cạn, chức năng là trung tâm nghiên cứu khoa học chuyên ngành, giáo dục – đào

    tạo; khu đô thị trung tâm Dương Đông, chức năng là trung tâm hành chính – dịch

    vụ công cộng, trung tâm thương mại – tài chính quốc tế, trung tâm văn hóa – dịch

    vụ du lịch; khu đô thị An Thới, chức năng cảng biển, thương mại, dịch vụ.

    – Vùng phát triển du lịch: diện tích 3.861 ha, gồm:

    + Vùng phát triển du lịch sinh thái, có diện tích 3.051 ha, bố trí dọc

    theo bờ biển phía Tây; Gành Dầu, Bãi Dài, Cửa Cạn. Phía Bắc; Bãi Thơm, Rạch

    Tràm, Rạch Vẹm. Phía Nam; Bãi Sao, Bãi Khem, Quần Đảo Nam An Thới.

    + Vùng phát triển du lịch hỗn hợp, có diện tích 810 ha, bố trí tại khu

    vực Bãi Vòng, Vịnh Đầm.

    – Vùng phát triển phức hợp du lịch, dịch vụ và dân cư có diện tích 1.235

    ha, bố trí tại khu vực Bãi Trường.

    – Vùng phát triển nông nghiệp: diện tích 5.813 ha, gồm:

    + Các làng nghề: Bãi Thơm, Rạch Vẹm, Rạch Tràm, Gành Dầu Cửa Cạn, Hàm

    Ninh.

    + Khu vực ở nông thôn: Cửa Cạn, Cửa Dương, Hàm Ninh, Bãi Thơm.

    + Khu vực sản xuất nông nghiệp công nghệ cao: Cửa Dương, Cửa Cạn, Gành

    Dầu, Hàm Ninh, Bãi Thơm, Dương Tơ.

    – Vùng lâm nghiệp có diện tích 37.802 ha

    Rừng quốc gia diện tích 29.596 ha, tập trung ở phía Bắc đảo; rừng phòng

    hộ, diện tích 8.206 ha tập trung ở phía Tây và Nam đảo, trên các dãy núi dọc

    theo hướng Bắc – Nam và đảo Thổ Chu.

    – Vùng cây xanh cảnh quan, công viên, mặt nước và không gian mở: diện

    tích 3.399 ha, gồm:

    + Cây xanh cảnh quan có diện tích 2.829 ha, gồm: khu vực dọc các bờ

    biển; các hồ cảnh quan và thủy lợi; cây xanh dọc theo các sông, rạch, xung quanh

    các hồ nước cảnh quan và thủy lợi, như hồ Suối Lớn, Rạch Tràm, Rạch Cá, Rạch

    Vẹm, hồ Cửa Cạn, Rạch Cửa Lấp, Rạch Vịnh Đầm và một số sông, rạch nhỏ.

    + Công viên chuyên đề có diện tích 570 ha, gồm: công viên nghiên cứu

    công nghệ sinh học Cửa Cạn; công viên, giải trí Hồ Suối Lớn; công viên văn hóa

    lịch sử An Thới.

    – Vùng đặc biệt có diện tích 2.624 ha, trong đó đất chuyên dùng khoảng

    1.489 ha và đầu mối kỹ thuật khoảng 1.135 ha, gồm: Sân bay quốc tế; cảng quốc

    tế: Bãi Đất Đỏ, An Thới. Cảng tổng hợp Vịnh Đầm, Bãi Thơm, Dương Đông. Khu phi

    thuế quan tại sân bay quốc tế và cảng An Thới. Trung tâm huấn luyện thể thao,

    trường đua tại Đường Bào; khu tưởng niệm anh hùng liệt sĩ nhà tù Phú Quốc. Khu

    tiểu thủ công nghiệp tại: Dương Tơ, Hàm Ninh, Vịnh Đầm; và các công trình hạ

    tầng kỹ thuật đầu mối của đảo.

    d) Quy hoạch sử dụng đất các phân khu chức năng

    – Hệ thống các khu đô thị:

    + Khu đô thị trung tâm Dương Đông: là trung tâm hành chính, dịch vụ công

    cộng, thương mại, tài chính quốc tế, dịch vụ du lịch và khu dân cư tập trung của

    đảo. Quy mô đến năm 2030 dân số khoảng 240.000 người. Đất xây dựng đô thị 2.502

    ha. Mật độ dân cư khoảng 90 – 100 người/ha. Mật độ xây dựng trung bình 30 – 35%,

    hệ số sử dụng đất tối đa 12 lần.

    + Khu đô thị cảng An Thới: là khu đô thị cảng quốc tế, đầu mối kỹ thuật

    – trung tâm tiếp vận, phi thuế quan, thương mại, du lịch và dịch vụ du lịch,

    công nghiệp nhẹ; trung tâm văn hóa, gìn giữ giá trị lịch sử, nhân văn của đảo.

    Quy mô đến năm 2030 dân số khoảng 71.000 người. Đất xây dựng đô thị 1.020 ha.

    Mật độ dân cư khoảng 70 – 80 người/ha. Mật độ xây dựng trung bình 30 – 35%, hệ

    số sử dụng đất tối đa 4,2 lần.

    + Khu đô thị Cửa Cạn: là khu đô thị hoạt động nghiên cứu, bảo tồn rừng,

    biển, nông nghiệp và du lịch đảo. Quy mô đến năm 2030 dân số 26.500 người. Đất

    xây dựng đô thị 329 ha. Mật độ dân cư 70 – 80 người/ha. Mật độ xây dựng trung

    bình 30%, hệ số sử dụng đất tối đa 2,8 lần.

    – Hệ thống các khu du lịch:

    + Các khu du lịch sinh thái:

    . Bãi Thơm: vị trí tại phía Bắc đảo; là khu resort nghỉ dưỡng sinh thái

    cao cấp, giải trí thể thao biển, sân golf, công viên chuyên đề biển, tham quan

    làng nghề. Quy mô 375 ha (trong đó sân gôn có diện tích 100 ha); 

    . Gành Dầu: vị trí tại phía Bắc đảo: là khu du lịch sinh thái hỗn hợp

    kết hợp khu dân cư làng chài truyền thống. Quy mô 25 ha;

    . Rạch Tràm: vị trí phía Bắc đảo; là khu nghỉ dưỡng 4 – 5 sao, kết hợp

    tham quan rừng tràm, rừng ngập mặn. Quy mô 102 ha;

    . Rạch Vẹm: vị trí phía Tây Bắc đảo; là khu nghỉ dưỡng sinh thái cao

    cấp, kết hợp tham quan rừng sinh cảnh đặc trưng, tham quan làng nghề. Quy mô 202

    ha;

    . Bãi Dài: vị trí ở bờ Biển phía Tây đảo; là khu nghỉ dưỡng cao cấp,

    giải trí sân gôn gắn với các khu resort, thể thao biển, tham quan làng nghề. Quy

    mô 567 ha (trong đó sân gôn có diện tích 154 ha);

    . Vũng Bầu: vị trí bờ biển phía Tây; là khu nghỉ dưỡng 4 – 5 sao, kết

    hợp điểm ngắm cảnh và giải trí thể thao biển. Quy mô 394 ha;

    . Cửa Cạn: vị trí nằm ở bờ Tây đảo; là khu nghỉ dưỡng sinh thái cao cấp,

    ngắm cảnh, giải trí thể thao sông, biển, giải trí sân gôn, tham quan làng nghề.

    Quy mô 250 ha (trong đó sân gôn có diện tích 102 ha);

    . Bãi Ông Lang: vị trí phía Nam Bãi Cửa Cạn; là khu du lịch nghỉ dưỡng

    cao cấp. Quy mô 200 ha;

    . Bãi Khem: vị trí nằm về phía Đông Nam của đảo; là một khu nghỉ dưỡng

    sinh thái cao cấp, thể thao biển. Quy mô 99 ha;

    . Bãi Sao: vị trí thuộc bờ biển phía Đông Nam đảo; là một khu nghỉ dưỡng

    sinh thái cao cấp, khu thể thao biển, sân gôn. Quy mô 397 ha (trong đó đất sân

    gôn có diện tích 220 ha);

    . Mũi Ông Đội: vị trí ở phía Đông Nam đảo; là khu nghỉ dưỡng sinh thái

    cao cấp, ngắm cảnh, thể thao biển. Quy mô 40 ha;

    . Bãi Đá Chồng: vị trí tại phía Đông Bắc đảo; là khu dịch vụ du lịch,

    khu nghỉ dưỡng sinh thái, trung tâm dịch vụ casino. Quy mô 135 ha;

    . Suối Đá Bàn: vị trí trung tâm đảo, dưới chân núi Hàm Ninh; là khu du

    lịch sinh thái. Quy mô 115 ha;

    . Quần đảo Nam An Thới: vị trí ở phía cực Nam của đảo, thuộc xã An Thới.

    Là khu vực có các điểm du lịch sinh thái dưới tán rừng kết hợp tham quan bảo tồn

    môi trường biển; giải trí lặn biển, thể thao biển, ngắm cảnh tham quan làng

    nghề. Hòn Thơm sẽ chỉnh trang các khu dân cư, kết hợp phát triển các khu du

    lịch, dịch vụ, làng nghề, bến du thuyền… Quy mô: 150 ha;

    . Đảo Thổ Chu: vị trí cực Nam của đảo, thuộc xã Thổ Châu phát triển du

    lịch sinh thái rừng, biển, gắn với an ninh quốc phòng.

    + Các khu du lịch hỗn hợp:

    . Khu du lịch Bãi Vòng: vị trí nằm tại phía Đông đảo. Là khu dịch vụ du

    lịch hỗn hợp đa năng và sân gôn, khu nghỉ dưỡng đạt tiêu chuẩn 3 – 4 sao. Quy mô

    745 ha (trong đó đất sân gôn có diện tích 244 ha);

    . Khu du lịch Vịnh Đầm: Vị trí khu vực phía Đông Nam đảo, là khu dịch vụ

    du lịch tổng hợp, giải trí du lịch biển. Quy mô 65 ha.

    + Khu phức hợp Bãi Trường: Vị trí phía Tây Nam của đảo, là vùng du lịch

    tổng hợp; trung tâm thương mại, dịch vụ du lịch, vui chơi giải trí, dịch vụ công

    cộng trên đảo và khu dân cư phục vụ du lịch. Quy mô 1.235 ha.

    + Các điểm du lịch đặc trưng

    . Các điểm du lịch chính gồm: điểm tham quan khu tưởng niệm nhà tù Phú

    Quốc; điểm du lịch Suối Tranh; điểm du lịch Suối Tiên; điểm du lịch Suối Đá Bàn;

    điểm du lịch Núi Chúa; điểm du lịch Núi Ra Đa; điểm du lịch núi Điện Tiên; điểm

    du lịch núi Ông Phụng; điểm du lịch Trâu Nằm; điểm du lịch Gành Dầu; điểm du

    lịch hồ Cửa Cạn; điểm du lịch suối Cửa Cạn; điểm du lịch sông Cửa Cạn; điểm du

    lịch sông Rạch Tràm; điểm du lịch sông Rạch Đầm; điểm du lịch sông Dương Đông;

    Suối Lớn; điểm du lịch khu đô thị Dương Đông; điểm du lịch khu đô thị An Thới;

    các điểm du lịch làng nghề.

    – Vùng nông nghiệp có diện tích 5.381 ha, bao gồm:

    + Các khu ở nông thôn, tại khu vực các xã Cửa Cạn, Cửa Dương, Hàm Ninh,

    Bãi Thơm. Diện tích khoảng 1.636 ha với 2 hình thái ở khác nhau.

    . Các khu vực nông thôn ven biển có quy mô nhỏ gắn với các hoạt động du

    lịch sinh thái, dịch vụ du lịch, duy trì làng nghề truyền thống, văn hóa bản

    địa. Có diện tích khoảng 540 ha;

    . Các khu vực nông thôn ở khu trung tâm đảo có quy mô lớn hơn và gắn với

    vùng sản xuất nông nghiệp công nghệ cao: vườn tiêu, cây cảnh, hoa tươi, trái cây

    phục vụ du lịch. Đây cũng là vùng dự trữ phát triển của các đô thị, có diện tích

    khoảng 1.096 ha.

    + Khu sản xuất nông nghiệp công nghệ cao: Cửa Dương, Cửa Cạn, Gành Dầu,

    Hàm Ninh, Bãi Thơm, Dương Tơ, diện tích 4.177 ha.

    Các khu ở làng nghề phục vụ du lịch: khu sản xuất Làng nghề nước mắm

    truyền thống được di dời đến vị trí mới ở Dương Đông, Vịnh Đầm, An Thới để đảm

    bảo gìn giữ môi trường và thuận lợi cho việc tham quan, du lịch; các làng chài

    được duy trì tại các điểm dân cư tập trung gắn với các hoạt động du lịch sinh

    thái, du lịch bản địa: vị trí Bãi Thơm, Rạch Vẹm, Rạch Tràm, Gành Dầu Cửa Cạn,

    Hàm Ninh.

    – Hệ thống rừng, cây xanh, công viên, mặt nước và không gian mở:

    + Rừng quy mô 37.802 ha bao gồm: Rừng đặc dụng nằm ở Bắc đảo diện tích

    29.596 ha; rừng phòng bộ đảo Phú Quốc diện tích 7.038 ha; đảo Thổ Chu diện tích

    1.168 ha.

    Khu vực rừng quốc gia, rừng phòng hộ được khai thác với các hoạt động du

    lịch như: câu cá; giáo dục cộng đồng; nghiên cứu khoa học; dã ngoại; đi bộ, dạo

    trong rừng; ngắm cảnh; các môn thể thao mạo hiểm: dù lượn, leo núi; tham quan

    rừng; nghỉ ngơi sinh thái trong rừng.

    + Hệ thống cây xanh cảnh quan, mặt nước và không gian mở có diện tích

    2.829 ha, gồm hệ thống sông sạch: Rạch Tràm, Rạch Vẹm, sông Cửa Cạn, Dương Đông,

    Cửa Lấp, Suối Cá và hệ thống hồ; cây xanh dọc bờ biển tại Gành Dầu, mũi Móng

    Tay, rạch Cửa Cạn, ấp Ông Lang Bãi Trường, núi Ra Đa, mũi Ông Bổn và dọc bờ biển

    phía Đông của đảo.

    Không gian mở còn bao gồm các khu quảng trường giao thông cầu Suối

    Trắng, quảng trường trung tâm ở khu đô thị Dương Đông, quảng trường sân bay quốc

    tế, quảng trường biển ở trung tâm Bãi Trường, quảng trường khu tưởng niệm, quảng

    trường khu đô thị An Thới.

    + Các công viên chuyên đề, có diện tích 570 ha, gồm: công viên nghiên

    cứu khoa học hồ Cửa Cạn, công viên giải trí thể dục thể thao hồ Suối Lớn, công

    viên văn hóa – lịch sử – đền tưởng niệm nhà tù Phú Quốc.

    – Khu tiểu thủ công nghiệp, khu phi thuế quan, các công trình đầu mối hạ

    tầng kỹ thuật:

    + Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp có diện tích 211 ha, được bố trí

    tại Vịnh Đầm, Dương Đông, An Thới để chuyển các làng nghề vào khu tiểu thủ công

    nghiệp, bảo đảm môi trường và phục vụ du lịch.

    + Khu phi thuế quan có diện tích 101 ha, bố trí tại sân bay Phú Quốc và

    cảng An Thới.

    + Các công trình đầu mối hạ tầng kỹ thuật có diện tích 1.567 ha, bao

    gồm: sân bay quốc tế Dương Tơ; cảng biển quốc tế Bãi Đất Đỏ, An Thới; cảng tổng

    hợp Vịnh Đầm, Bãi Thơm, Dương Đông; khu xử lý rác, nước thải; nhà máy nhiệt

    điện; nhà máy nước; nghĩa trang.

    + Giao thông chính đô thị (khoảng 666 ha): bao gồm trục chính Bắc Nam,

    đường vòng quanh đảo, bến xe, xe điện (tramway).

    – Hệ thống các trung tâm chuyên ngành:

    + Trung tâm hành chính – dịch vụ công cộng có diện tích 330 ha: khu hành

    chính – dịch vụ công cộng của đảo đặt tại khu đô thị trung tâm Dương Đông. Khu

    dịch vụ công cộng bố trí tại trung tâm các khu đô thị Dương Đông, An Thới, Cửa

    Cạn. Trung tâm dịch vụ công cộng các điểm dân cư bố trí tại các làng nghề Bãi

    Thơm, Rạch Vẹm, Gành Dầu, Cửa Cạn, Hàm Ninh, Hòn Thơm.

    + Trung tâm y tế: Bố trí các trung tâm y tế – điều dưỡng tại khu đô thị

    Cửa Cạn, Dương Đông, Bãi Trường đảm bảo bán kính phục vụ.

    + Trung tâm giáo dục đào tạo và nghiên cứu khoa học: chuyên nghiên cứu

    khoa học công nghệ sinh học như: bảo tồn gien, đa dạng sinh học, sinh học biển,

    rừng, nông nghiệp công nghệ cao, bố trí tại khu đô thị Cửa Cạn.

    + Trung tâm tài chính, thương mại, dịch vụ văn phòng quốc tế có diện

    tích 653 ha: bố trí khu đô thị Dương Đông, trung tâm khu Bãi Trường.

    + Trung tâm văn hóa, thể dục thể thao có diện tích 200 ha: bố trí cạnh

    hồ Dương Đông, liền kề khu vực hành chính. Trung tâm huấn luyện thể dục thể thao

    quốc tế – trường đua ngựa tại vị trí khu Đường Bào.

    – Khu vực bảo tồn văn hóa, lịch sử: khu tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ

    nhà tù Phú Quốc; các di tích văn hóa lịch sử đã xếp hạng: đền thờ Nguyễn Trung

    Trực, Dinh Cậu, Đình thần Dương Đông, chùa Sư Muôn và nhiều điểm di tích khác…

    8. Hướng dẫn thiết kế đô thị:

    a) Khung thiết kế đô thị tổng thể

    – Các trục phát triển: kiểm soát tầng cao, mật độ xây dựng, khoảng lùi

    và hình thức kiến trúc công trình đối với trục phát triển chính đô thị theo

    hướng Bắc Nam từ Cầu Trắng đến An Thới; trục dọc bờ biển và 2 trục chính đô thị

    hướng ra biển tại Bãi Trường.

    – Các vùng kiểm soát: kiểm soát mật độ xây dựng, hệ số sử dụng đất, tỷ

    lệ diện tích cây xanh, không gian mở, công trình dịch vụ công cộng; tỷ lệ giao

    thông tại khu đô thị Cửa Cạn, khu đô thị Dương Đông, khu phức hợp Bãi Trường,

    khu đô thị An Thới.

    – Hệ thống các công trình điểm nhấn:

    Trên các trục kiểm soát và tại các vùng kiểm soát bố trí các công trình

    điểm nhấn, gồm các công trình dịch vụ công cộng, công trình hành chính, khách

    sạn cao cấp, công trình thương mại tại khu Bãi Thơm, khu đô thị Cửa Cạn, khu đô

    thị Dương Đông, khu phức hợp Bãi Trường, khu đô thị An Thới. Ngoài ra còn có các

    điểm nhấn tại các đỉnh núi Chúa, núi Vũng Bầu, núi Ông Quới, Mũi Gành Dầu, Mũi

    Móng Tay, núi Ông Phụng, núi Ông Diêu, núi Điện Tiên, núi Ra Đa.

    – Hệ thống rừng, công viên cảnh quan, mặt nước và không gian mở:

    Bảo tồn khu vực rừng đặc dụng và rừng phòng hộ; cảnh quan không gian mở

    tại các khu du lịch đặc trưng; cảnh quan dọc bờ biển: bãi tắm, điểm ngắm cảnh.

    Kiểm soát cảnh quan các công viên chuyên đề: khoa học, giải trí, công

    viên khu tưởng niệm. Đối với các không gian mở khác: duy trì sự đa dạng sinh

    học, sông rạch, hồ nước. Kiểm soát thiết kế đô thị các khu vực quảng trường

    trung tâm tại các đô thị.

    b) Tổ chức không gian kiến trúc và cảnh quan

    – Khu đô thị Dương Đông: trục thương mại – văn phòng hướng ra biển là

    trục chính đô thị; điểm đầu là trung tâm hành chính – chính trị và quảng trường

    Asean, kết thúc là cảng Marina. Trục chính Bắc Nam ven biển để tạo vùng kiến

    trúc cảnh quan trung tâm đô thị với các công trình cao tầng; kết hợp hệ thống

    không gian mở là sông và hồ Dương Đông và cảnh quan tự nhiên là núi Điện Tiên,

    núi Khu tượng.

    – Khu đô thị Cửa Cạn: là một cửa ngõ tự nhiên giữa khu vực trung tâm

    phát triển ở vùng Bắc đảo, là giao điểm của các trục giao thông chính, hình

    thành các khu dân cư theo cụm, gần gũi thiên nhiên. Tại đây, bố trí những công

    trình điểm nhấn mang tính biểu tượng của khu đô thị như trung tâm nghiên cứu

    khoa học, khách sạn, văn phòng cao tầng. Công viên khoa học chuyên đề kết hợp hồ

    Cửa Cạn tạo cảnh quan độc đáo.

    – Khu đô thị An Thới: hình thành các điểm ngắm hoàng hôn; đô thị phát

    triển nén, hỗn hợp, hài hòa giữa khu phát triển mới và cũ. Các điểm nhấn là các

    công trình cao tầng, công trình biểu tượng đèn hải đăng.

    – Khu du lịch phức hợp Bãi Trường: là một không gian kiến trúc cảnh quan

    đặc trưng về du lịch của thành phố đảo. Các công trình điểm nhấn được bố trí dọc

    theo trục quanh đảo ven biển và các trục hướng ra biển với các công trình cao

    tầng.

    – Các làng nghề phục vụ du lịch: giữ khu làng xóm là nhằm lưu giữ hiện

    trạng tự nhiên về các giá trị bản sắc của đảo. Cơ sở hạ tầng được nâng cấp giữ

    quy mô làng nhỏ với cấu trúc nén gọn. Phát triển mới xen cài ở những nơi thích

    hợp trong phạm vi diện tích làng hiện hữu.

    Kiểm soát và duy trì nhà ở thấp tầng, hệ số sử dụng đất < 1 lần; tầng

    cao tối đa 3 tầng. Mật độ dân số ở các khu làng xóm hiện hữu và các khu phát

    triển xen cài khoảng 67 người/ha.

    – Các khu nông thôn đô thị hóa: khu nông thôn phát triển mới cần phải

    giữ lại những nét đặc trưng về cảnh quan và tự nhiên độc đáo, bởi các mảng không

    gian mở rộng lớn, điểm xuyết bởi các cụm nhà vườn. Mật độ thấp giữa các mảng

    không gian mở rộng thoáng; hệ số sử dụng đất < 1 lần; tầng cao tối đa 3 tầng.

    Mật độ dân số ở khu vực phát triển nông thôn khoảng 20 người/ha.

    – Các khu nghỉ dưỡng hỗn hợp: tùy theo vị trí cụ thể của khu, bố trí một

    hoặc nhiều khách sạn, các hình thức dịch vụ lưu trú khác như villa, căn hộ chung

    cư hoặc căn hộ cho thuê; một khu dịch vụ resort với các gian hàng bán lẻ, nhà

    hàng ăn uống; các công trình phục vụ vui chơi giải trí đa dạng như trung tâm thể

    thao dưới nước hoặc sân gôn. Các khu resort phức hợp phát triển mật độ thấp với

    không gian mở, cảnh quan và thiên nhiên làm chủ đạo. Các công trình xây dựng

    được khống chế thấp tầng. Các khách sạn không được vượt quá 8 tầng.

    – Các khu du lịch sinh thái với đầy đủ các hạng mục phục vụ lưu trú, nhà

    hàng, các công trình vui chơi giải trí cùng các công trình tiện ích khác. Diện

    tích đất và tầng cao xây dựng, bố cục công trình tùy thuộc theo vị trí và cảnh

    quan khu vực.

    – Các khu khách sạn sinh thái: tại các khu đất nhỏ, hẻo lánh, trên

    nguyên tắc gắn kết các khách sạn này vào phần không gian tự nhiên xung quanh

    nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực gây ra cho môi trường xung quanh.

    – Các khu trung tâm phân phối, điều vận: vị trí công trình điểm nhấn

    được bố trí khu vực xung quanh sân bay mới và khu vực nằm trong khu đô thị An

    Thới.

    9. Định hướng quy hoạch phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật

    a) Giao thông:

    – Giao thông đối ngoại:

    + Đường hàng không: cảng hàng không quốc tế mới xây dựng tại Dương Tơ có

    diện tích khoảng 898 ha, đạt tiêu chuẩn cấp 4E (theo tiêu chuẩn ICAO) phát triển

    kết cấu hạ tầng cho sân bay đủ khả năng tiếp nhận các loại máy bay B 767, B 747

    và tương đương hoạt động. Quy mô hành khách của sân bay tới năm 2022 khoảng 2,65

    triệu hành khách, trong đó khoảng 1 triệu khách quốc tế, tương lai có thể mở

    rộng quy mô đón 7 triệu khách/năm. Sau khi đưa sân bay mới vào sử dụng, sân bay

    hiện hữu Dương Đông sẽ sử dụng để xây dựng khu đô thị trung tâm của đảo.

    + Đường thủy:

    . Xây dựng cảng tổng hợp quốc tế An Thới với quy mô hàng hóa thông qua

    cảng 500 – 700 nghìn tấn/năm, hành khách thông qua cảng 360 nghìn lượt

    khách/năm;

    . Xây dựng cảng du lịch quốc tế nước sâu tại vịnh Đất Đỏ có thể tiếp

    nhận các tàu du lịch quốc tế lớn. Tương lai phát triển thành cảng nước sâu quốc

    tế cho vùng phía Tây Nam;

    . Xây dựng kè chắn sóng neo đậu tàu đánh cá và cảng Dương Đông. Tiếp

    nhận tàu thuyền đánh cá tránh sóng, tiếp nhận khách du lịch, bến du thuyền và

    hàng hóa;

    . Xây dựng mới cảng Vịnh Đầm công suất 1 – 1,5 triệu tấn/năm, trở thành

    cảng tổng hợp sử dụng quanh năm và nơi tránh sóng lớn cho các tàu thuyền trên bờ

    phía Đông đảo;

    . Các trung tâm đánh bắt hải sản lớn như Hàm Ninh, Cửa Cạn, Bãi Thơm,

    Gành Dầu, Rạch Tràm xây dựng bến cảng cá và du thuyền;

    . Xây dựng các cảng du lịch Bãi Vòng, Hòn Thơm, Bãi Trường, mũi Móng

    Tay, Rạch Vẹm, Đá Chồng.

    – Giao thông đối nội:

    + Đường trục chính: xây dựng tuyến đường trục chính cao tốc Bắc – Nam

    của đảo: An Thới – Dương Đông – Suối Cái với chiều dài khoảng 38 km, mặt đường

    đôi mỗi bên rộng 9 m, dọc theo đường bố trí 2 làn xe điện (tramway), hai bên có

    vỉa hè và dải cây xanh. Tổng lộ giới rộng 60 m.

    + Đường Suối Cái – Bãi Thơm: mặt đường đôi rộng 4 làn xe, hai bên có dải

    cây xanh (hoặc vỉa hè khi qua khu dân cư), lộ giới rộng 32 m.

    + Đường Suối Cái – Gành Dầu: chiều rộng mặt đường 7 – 9 m, dải cây xanh

    (hoặc vỉa hè khi qua khu dân cư) mỗi bên 6m, lộ giới rộng 21 m.

    + Đường Dương Đông – Cửa Cạn có chiều rộng mặt đường 7 – 9m, hai bên có

    dải cây xanh (hoặc vỉa hè khi qua khu dân cư), lộ giới rộng 42 m.

    + Đường Dương Đông – Dương Tơ – An Thới mặt đường đôi mỗi bên rộng 7,5m,

    bố trí tuyến tramway ở giữa, lộ giới rộng 50 m (trong đó đoạn Dương Đông – Cửa

    Lấp và Dương Đông – Cửa Cạn có lộ giới 42 m). Đường vòng quanh đảo từ Bãi Vòng –

    Hàm Ninh – Cửa Dương – Bãi Thơm – Rạch Tràm – Rạch Vẹm – Gành Dầu – Cửa Cạn –

    Dương Đông nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất để đảm bảo an ninh quốc phòng và tổ

    chức các tua du lịch.

    + Xây dựng tuyến đường trung tâm khu đô thị Dương Đông có mặt đường đôi

    mỗi bên rộng 10,5m, lộ giới rộng 40 m, đường trục chính đô thị.

    + Đường chính khu vực:

    Đối với các khu đô thị hiện hữu (Dương Đông, An Thới) mạng lưới đường

    trong các đô thị được xây dựng cải tạo nâng cấp đảm bảo lưu thông trong tương

    lai. Các khu đô thị mới khi xây dựng phải đảm bảo mặt cắt ngang đúng tiêu chuẩn

    theo cấp và loại đường đô thị.

    Các đường dân sinh trong các làng nghề, các khu du lịch sinh thái trong

    rừng xây dựng theo tiêu chuẩn đường giao thông nông thôn. Triệt để giữ gìn cảnh

    quan thiên nhiên chủ yếu phục vụ đi bộ và xe 2 bánh.

    Cải tạo các bến bãi hiện có và xây dựng các bến bãi mới để hình thành

    mạng lưới giao thông tĩnh.

    + Giao thông công cộng:

    Xây dựng hệ thống giao thông công cộng hiện đại, thân thiện với môi

    trường và đảm bảo đáp ứng nhu cầu đi lại của nhân dân và du khách trên đảo. Các

    tuyến giao thông công cộng chính gồm:

    Tuyến xe điện mặt đất (tramway) An Thới – Dương Đông – Suối Cái; Sân bay

    – Bãi Trường – An Thới.

    Các tuyến xe buýt, taxi dọc theo các trục giao thông chính, khu vực và

    đường quanh đảo phục vụ dân cư và khách du lịch.

    Các tuyến taxi biển vòng quanh đảo nối các khu đô thị và các khu du lịch

    dọc theo bờ biển.

    Các tuyến đi bộ dã ngoại trong rừng quốc gia, rừng phòng hộ. Tuyến cáp

    treo hồ Cửa Cạn – Núi Chúa – Đá Chồng.

    Tuyến giao thông thủy sông Dương Đông, sông Cửa Cạn, Rạch Vịnh Đầm, Rạch

    Tràm.

    Bãi đỗ xe được bố trí tại 3 đô thị và các khu du lịch, các điểm dừng

    chân ngắm cảnh dọc bờ biển.

    b) Chuẩn bị đất xây dựng:

    – Quy hoạch chiều cao đất xây dựng:

    được tính toán phù hợp với cao độ khống chế chung và phù hợp với địa hình hiện

    trạng đảm bảo nền không bị ngập, giảm khối lượng đào đắp, tránh hiện tượng sạt

    lở.

    Đối với các đô thị, các khu vực xây dựng hiện hữu chỉ tiến hành san đắp

    cục bộ chống ngập khi cải tạo chỉnh trang đô thị, cố gắng giữ nguyên nền đất

    hiện hữu, hoàn thiện mặt phủ, có các biện pháp bảo vệ nền đất như kè bờ sông

    suối, gia cố mái taluy.

    Đối với khu xây dựng mới, san đắp phù hợp với cao độ khống chế và tận

    theo địa hình, tránh đào đắp lớn, hạn chế phá vỡ mặt phủ tự nhiên. Khu vực có

    địa hình tự nhiên thấp < 3,0 m cần được san đắp tới cao độ khống chế để chống

    ngập lụt.

    Tại những khu vực thấp trũng tận dụng đào hồ làm hồ chứa nước và tạo

    cảnh quan.

    – Thoát nước mưa:

    + Đối với khu đô thị hiện hữu: cải tạo, nâng cấp hệ thống thoát nước

    hiện hữu, từng bước tách nước thải ra đưa về trạm xử lý trước khi xả ra môi

    trường.

    + Đối với khu vực mới phát triển: xây dựng hệ thống thoát nước mưa tách

    riêng với nước thải. Các tuyến thoát nước mưa xây dựng bằng hệ thống cống bê

    tông hoặc mương có nắp đan, thoát nước tự chảy theo địa hình ra sông suối.

    + Cải tạo, nạo vét sông suối và hệ thống hồ điều hòa để tăng cường khả

    năng tiêu thoát nước và tạo cảnh quan môi trường.

    + Tạo hồ nước chứa để thu gom nước mưa sử dụng cho nguồn cấp nước và tạo

    cảnh quan môi trường.

    c) Cấp nước:

    – Chỉ tiêu cấp nước: nước sinh hoạt đô thị: 120 lít/người/ngày năm 2022

    và 150 lít/người/ngày năm 2030; khách du lịch: 300 lít/người/ngày; công nghiệp:

    25 m3/ha/ngày.

    – Nhu cầu dùng nước: năm 2022: 70.000 m3/ngày; năm 2030:

    120.000 m3/ngày.

    – Nguồn nước: sử dụng 5 hồ chứa: hồ Dương Đông, hồ Suối lớn, hồ Cửa Cạn,

    hồ Rạch Tràm, hồ Rạch Cá, ngoài ra sử dụng thêm nước mưa, nước tái sử dụng.

    – Mạng lưới đường ống: xây dựng các tuyến ống chính có đường kính D500 –

    D200 nối các nhà máy nước để phục vụ toàn đảo, xây dựng các tuyến ống nước tái

    sử dụng từ nhà máy xử lý tới các đô thị và khu du lịch.

    – Các công trình đầu mối: toàn đảo xây dựng 5 nhà máy nước tại 5 hồ

    chứa:

    + Hồ chứa nước Dương Đông có dung tích W1 = 10 triệu m3. Tại

    đây, xây dựng nhà máy nước số 1 có công suất (Q) năm 2022 = 16.500 m3/ngày,

    Q năm 2030 = 20.000 m3/ngày.

    + Hồ chứa nước Suối Lớn có dung tích W = 4 triệu m3, xây dựng

    nhà máy nước số 2 có Q = 15.000 m3/ngày.

    + Hồ chứa nước Rạch Cá có dung tích W = 2 triệu m3, sẽ xây

    dựng nhà máy nước số 3 có Q = 8.000 m3/ngày.

    + Hồ chứa nước Cửa Cạn có W = 15 triệu m3, sẽ xây dựng nhà

    máy nước số 4 có Q năm 2022 là 20.000 m3/ngày, Q năm 2030 là 50.000 m3/ngày.

    Đây là nhà máy nước chính của toàn đảo.

    + Hồ chứa nước Rạch Tràm có dung tích W = 3 triệu m3, sẽ xây

    dựng nhà máy nước số 5 có Q = 10.000 m3/ngày.

    d) Thoát nước thải, quản lý chất thải rắn và nghĩa trang:

    – Thoát nước thải:

    + Tiêu chuẩn thải nước lấy bằng 80% tiêu chuẩn nước cấp.

    + Tổng lưu lượng nước thải: năm 2022 = 41.000 m3/ngày, năm

    2030 = 72.000 m3/ngày, trong đó nước thải công nghiệp là 3.500 –

    4.800 m3/ngày.

    + Mạng lưới cống thoát nước thải: đối với các khu đô thị, khu du lịch;

    xây dựng cống nước thải riêng, đưa về trạm xử lý tập trung. Các thôn xóm, làng:

    dùng cống chung.

    + Xử lý nước thải: nước thải từ các khu xử lý nước thải tập trung phải

    đạt tiêu chuẩn theo quy định, một phần được xử lý tiếp đạt tiêu chuẩn tái sử

    dụng để cấp cho nhu cầu khác trong các đô thị và khu du lịch.

    + Các khu du lịch, dân cư nhỏ nằm xa tuyến cống chính, xa các khu xử lý

    tập trung phải xây dựng công trình xử lý nước thải ngay tại dự án, đạt tiêu

    chuẩn QCVN 14 – 2008.

    + Nước thải công nghiệp: xử lý ngay tại khu của mình, đạt tiêu chuẩn

    theo quy định.

    + Các công trình đầu mối:

    Xây dựng 5 trạm xử lý nước thải tại 5 khu vực:

    . Khu đô thị Dương Đông: Q = 30.000 m3/ngày

    . Khu du lịch Bãi Dài: Q = 4.000 m3/ngày.

    . Khu vực Hàm Ninh, Bãi Vòng: Q = 3.000 m3/ngày.

    . Khu đô thị An Thới, Bãi Trường: Q = 25.000 m3/ngày

    . Khu du lịch Mũi Đất Đỏ: Q = 4.000 m3/ngày.

    – Quản lý chất thải rắn (CTR):

    + Tổ chức hệ thống thu gom hợp lý và xây dựng khu xử lý CTR áp dụng công

    nghệ cao, hạn chế chôn lấp.

    + Chỉ tiêu rác thải: 1,2 kg/người, khách du lịch: 2 kg/người, công

    nghiệp: 0,2 tấn/ha/ngày. Lượng rác thải: 400 – 600 tấn/ngày.

    + Các công trình đầu mối: xây dựng 2 khu vực xử lý rác: tại xã Cửa Dương

    và xã Hàm Ninh. Tại đây xây dựng 2 khu liên hợp xử lý rác, mỗi khu vực có quy mô

    25 ha.

    – Nghĩa trang: bố trí tại khu vực Hàm Ninh, quy mô 50 ha; xây dựng theo

    mô hình công viên nghĩa trang (hỏa táng, chôn vĩnh viễn, trong đó ưu tiên cho

    hình thức hỏa táng).

    đ) Cấp điện:

    – Chỉ tiêu cấp điện: cấp điện sinh hoạt đô thị 750 kWh/người/năm đến năm

    2020 và 1.500 kWh/người/năm đến năm 2030; cấp cho sinh hoạt nông thôn lấy bằng

    50% chỉ tiêu cấp điện cho sinh hoạt đô thị; cấp cho công trình công cộng và dịch

    vụ được lấy bằng 50% của điện sinh hoạt dân dụng; cấp cho công nghiệp khoảng 200

    kW/ha.

    – Nhu cầu sử dụng điện: nhu cầu điện năng tiêu thụ 850 triệu kWh/năm,

    điện năng nhận lưới 895 triệu kWh/năm, phụ tải cực đại 285 MW, điện năng tiêu

    thụ bình quân 750 – 1.500 kWh/người/năm.

    – Nguồn điện: nguồn cấp điện chính: tuyến cáp ngầm 110kV hoặc 220 kV

    dưới biển từ Hà Tiên.

    Nguồn điện tại chỗ: trạm diesel Dương Đông – Phú Quốc 30 MW. Xây dựng

    nhà máy điện tại Gành Dầu, công suất 100 đến 200 MW, sử dụng nhiên liệu không

    gây ô nhiễm môi trường và không ảnh hưởng đến cảnh quan du lịch, bảo tồn sinh

    thái của đảo.

    Lưới điện:

    – Xây dựng 4 trạm biến áp 110/22 kV với tổng công suất 320 MVA và tuyến

    110 kV kết nối các trạm.

    – Cải tạo, nâng cấp các tuyến trung áp 22 kV hiện hữu. Xây dựng mới các

    tuyến 22 kV vào các khu mới quy hoạch. Bên trong các khu đô thị, dịch vụ, các

    tuyến 22 kV cần xây dựng ngay đường cáp ngầm. Lâu dài sẽ chuyển tất cả các tuyến

    trung áp trên đảo thành cáp ngầm.

    – Các trạm hạ áp 22/0,4 kV là loại trạm trong nhà, trạm compact. Ở khu

    vực nông thôn, đồi núi ít dân cư, các trạm hạ áp là loại trạm treo, trạm giàn

    đặt ngoài trời.

    e) Giải pháp bảo vệ môi trường:

    – Khai thác sử dụng hợp lý, hiệu quả đất đai và nguồn lực tự nhiên: thực

    hiện đúng mục đích, quy mô và tuân thủ chặt chẽ tiêu chí, chỉ tiêu kinh tế kỹ

    thuật đã quy định trong các quy hoạch được phê duyệt.

    – Phân vùng nguy cơ chịu tác động và vùng chức năng bảo vệ môi trường;

    xây dựng hệ thống tiêu chí kiểm soát môi trường phù hợp với chức năng từng vùng

    (vùng bảo vệ nghiêm ngặt bao gồm rừng quốc gia, rừng phòng hộ, khu bảo tồn cỏ

    biển và san hô; vùng phát triển kinh tế xã hội kết hợp bảo vệ môi trường bao gồm

    các khu đô thị, khu phát triển du lịch. Vùng cách ly sản xuất bao gồm các làng

    nghề, khu tiểu thủ công nghiệp. Vùng kiểm soát ô nhiễm bao gồm các công trình

    đầu mối hạ tầng kỹ thuật có nguy cơ gây tác động tiêu cực đến môi trường cần

    kiểm soát).

    – Bảo vệ hệ sinh thái rừng nguyên sinh: khôi phục và bảo vệ hệ sinh thái

    rừng tự nhiên, thảm xanh hiện hữu, đặc biệt là khu vực rừng nguyên sinh tập

    trung phía Bắc đảo; ổn định vùng trồng cây nông nghiệp; khoanh vùng bảo vệ rừng

    quốc gia theo đúng quy định của Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Luật Đa dạng

    sinh học.

    – Khai thác và sử dụng nguồn nước: sử dụng đúng mục đích nguồn nước mặt

    chuỗi hồ Cửa Cạn, tuân thủ chặt chẽ theo quy hoạch cân bằng nguồn nước khai thác

    phải tuân thủ quy trình kỹ thuật; đánh giá trữ lượng để quy hoạch khai thác sử

    dụng hợp lý, đúng quy trình kỹ thuật nước ngầm.

    – Kiểm soát hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp: quy hoạch hệ

    thống các trung tâm, trạm bảo vệ thực vật đảm bảo khả năng kiểm soát trong hoạt

    động sử dụng phân bón và hóa chất bảo vệ thực vật.

    – Kiểm soát vệ sinh môi trường tại các khu đô thị và du lịch về nguồn

    nước, không khí, tiếng ồn.

    – Xây dựng hệ thống quan trắc, phân tích, đánh giá khách quan hiệu quả

    môi trường khu vực.

    – Ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) trong công tác quản lý môi

    trường.

    10. Quy hoạch đợt đầu – giai đoạn đến năm 2022.

    a) Mục tiêu: hoàn thành khung hạ tầng kỹ thuật cơ bản; hình thành một số

    khu đô thị mới và khu du lịch. Tập trung phát triển cảng hàng không quốc tế,

    cảng biển quốc tế; mạng lưới điện; trục đường chính và hạ tầng du lịch.

    b) Định hướng phát triển không gian:

    – Phát triển 2 trung tâm đô thị, du lịch lớn tại Dương Đông và Bãi

    Trường;

    – Phát triển khu du lịch sinh thái, chất lượng cao tại khu vực nhạy cảm

    môi trường, hạn chế san lấp địa hình từ Tỉnh lộ 47 trở lên, các xã Cửa Cạn, Cửa

    Dương, Gành Dầu, Bãi Thơm, phần phía Bắc xã Hàm Ninh và các đảo phía Nam An

    Thới.

    – Phát triển các khu vực ít nhạy cảm về môi trường tại các khu vực phía

    Nam đảo: Dương Đông, An Thới, Dương Tơ và phần phía Nam xã Hàm Ninh. Các khu du

    lịch có quy mô lớn như khu vực Bà Kèo – Cửa Lấp, Bãi Trường, Bãi Đất Đỏ, Bãi

    Khem, Bãi Sao, Bãi Vòng.

    – Phát triển du lịch sinh thái với loại hình nghỉ dưỡng dưới tán rừng,

    lặn biển, tham quan nghiên cứu các rạn san hô, câu cá, mực ở khu vực Hòn Thơm,

    đảo Nam An Thới.

    – Cải tạo nâng cấp, điều chỉnh và mở rộng thị trấn Dương Đông; từng bước

    hình thành khu đô thị Cửa Cạn bên cạnh hồ Suối Cái.

    – Phát triển các sân gôn tại Bãi Thơm, Cửa Cạn, Gành Dầu, Bãi Sao – An

    Thới và Bãi Vòng.

    – Hình thành các trung tâm huấn luyện thể dục thể thao, trường đua tại

    khu vực An Thới và Dương Tơ.

    – Phát triển các khu thể thao dưới nước tại Hàm Ninh, khu vực biển phía

    Đông và Bãi Trường; tham quan đáy biển tại quần đảo xã Hòn Thơm.

    c) Định hướng phát triển hạ tầng kỹ thuật đợt đầu:

    – Giao thông:

    + Cảng hàng không quốc tế Dương Tơ, cảng tổng hợp An Thới, cảng tổng hợp

    Vịnh Đầm, cảng tổng hợp Dương Đông, Bãi Thơm.

    + Trục đường chính Bắc Nam (An Thới – Dương Đông – Suối Cái).

    + Đường vòng quanh đảo. Đường ngang Suối Cái – Gành Dầu, Dương Đông –

    Hàm Ninh.

    + Một số tuyến đường nội bộ tại các đô thị. Tổng chiều dài đường chính

    xây dựng giai đoạn đầu khoảng 550 km.

    – Cấp nước: xây dựng hồ chứa nước Dương Đông có W1 = 5 triệu m3,

    công suất Q 16.500 m3/ngày; hồ chứa nước Suối Lớn có dung tích W = 4

    triệu m3, công suất Q 15.000 m3/ngày; hồ chứa nước Rạch Cá

    có dung tích W = 2 triệu m3, công suất Q 8.000 m3/ngày; hồ

    chứa nước Cửa Cạn có W = 15 triệu m3, sẽ xây dựng nhà máy nước số 4

    có Q1 20.000 m3/ngày; hồ chứa nước Rạch Tràm có dung tích W = 3 triệu

    m3, có công suất Q = 10.000 m3/ngày.

    Tổng công suất các nhà máy nước trong giai đoạn đầu: 68.000 m3/ngày,

    đáp ứng 65% nhu cầu dùng nước của các đô thị và khu du lịch.

    – Cấp điện: tổng công suất điện yêu cầu: 156 MW; tổng điện năng yêu cầu

    đợt đầu (năm 2022): 456 triệu kWh/năm.

    Xây dựng tuyến cáp Hà Tiên – Phú Quốc đi ngầm dưới biển. Tuyến này sẽ

    cấp điện cho trạm 110/22 kV Phú Quốc 1, dự kiến đặt tại khu vực Suối Đá, gần thị

    trấn Dương Đông, công suất đợt đầu 40 MVA, sẽ nâng lên 2 x 40 MVA.

    Từ nguồn điện tại chỗ nhà máy điện Phú Quốc hiện hữu là 10 MW, nâng công

    suất lên 30 MW.

    Nghiên cứu ứng dụng công nghệ mới để phát triển các nguồn năng lượng

    sạch đáp ứng một phần nhu cầu năng lượng Đảo.

    Khu vực đảo Hòn Thơm có trạm phát điện diesel riêng. Các nguồn điện hỗ

    trợ, bổ sung trong phạm vi nhỏ là các trạm điện diesel theo công trình, điện mặt

    trời và thủy điện nhỏ.

    Xây dựng 2 trạm biến thế 110/22 kV trên đảo.

    Trạm biến thế 110/22 kV Phú Quốc 1 và xây dựng thêm trạm Phú Quốc 3 ở

    phía Nam đảo, có công suất đợt đầu là 40 MVA, dài hạn cần nâng lên 2 x 40 MVA,

    sẽ nâng lên 2 x 63 MVA.

    Xây dựng tuyến 110 kV liên kết các trạm biến thế 110 kV. Tuyến 110 kV đi

    nổi, riêng những đoạn tuyến cắt ngang loa tĩnh không của sân bay thì chuyển

    thành cáp ngầm. Các tuyến trung thế được xây dựng ở cấp 22 kV, và nối tuyến liên

    kết giữa các trạm 110/22 kV. Mạch chính 22 kV từ trạm biến áp 110 kV đến các khu

    đô thị, dịch vụ, khu du lịch,… Các tuyến hạ thế được đi chung trên tuyến trụ

    trung thế (đường dây hỗn hợp), hoặc đi nổi riêng trên trụ bê tông ly tâm hạ thế.

    Trong khu vực đô thị, các tuyến hạ thế được đi ngầm.

    – Thoát nước:

    + Lưu lượng nước thải trong giai đoạn đầu: 46.500 m3/ngày,

    trong đó nước thải công nghiệp: 4.000 m3/ngày. Xây dựng tuyến cống

    thu gom nước thải riêng, đường kính D400 – D800, xây dựng 5 trạm xử lý nước thải

    riêng cho toàn đảo, đạt tiêu chuẩn QCVN 14 – 2008. Một phần nước thải sau xử lý

    cần làm sạch triệt để đạt tiêu chuẩn để tái sử dụng, cung cấp cho nhu cầu tưới

    cây, tưới sân gôn, cho toilet, rửa sàn, vệ sinh… cho các khu đô thị và các khu

    du lịch. Nước thải công nghiệp: xử lý ngay tại dự án, đạt tiêu chuẩn theo quy

    định trước khi xả ra ngoài.

    + Các khu xử lý nước thải ưu tiên đầu tư đợt đầu: thị trấn Dương Đông có

    công suất Q = 30.000 m3/ngày; tại khu du lịch Bãi Dài, Q = 2.000 m3/ngày;

    tại khu đô thị Hàm Ninh, Bãi Vòng, Q = 2.000 m3/ngày; tại đô thị An

    Thới, Bãi Trường, Q = 20.000 m3/ngày; tại khu du lịch mũi Đất Đỏ, Q =

    2.000 m3/ngày.

    – Các vấn đề vệ sinh khác:

    + Rác: tổng lượng rác toàn đảo tới năm 2022 là 400 tấn/ngày. Lượng rác

    trong đô thị được thu gom tập trung tới 2 khu vực xử lý rác: phía Bắc tại xã Cửa

    Dương hoặc Bãi Thơm và xã Hàm Ninh. Tại đây xây dựng 2 khu liên hợp xử lý rác,

    mỗi khu vực có quy mô 25 ha.

    + Nghĩa địa: dự kiến bố trí 1 vị trí nghĩa địa chung toàn đảo. Có quy mô

    50 ha tại khu vực Hàm Ninh.

    11. Các chương trình và dự án ưu tiên đầu tư:

    a) Phát triển cảng hàng không và cảng biển quốc tế:

    – Cảng hàng không: đến năm 2022, cảng hàng không Phú Quốc sẽ có một

    đường cất hạ cánh đảm bảo tiếp nhận được máy bay B767, B747 – 400 và một sân đỗ

    máy bay đáp ứng 14 vị trí. Nhà ga hành khách công suất 2,5 – 3 triệu lượt

    khách/năm. Nhà ga hàng hóa công suất 14.300 tấn hàng hóa (8.600 tấn hàng hóa

    quốc tế và 5.700 tấn hàng hóa nội địa).

    – Cảng biển: cảng quốc tế tổng hợp An Thới. Cảng nội địa: Dương Đông,

    Vịnh Đầm, Bãi Thơm.

    b) Các trục giao thông chính:

    Xây dựng tuyến trục chính Bắc – Nam: khoảng 49 km, bao gồm: đường quanh

    đảo, các đường ngang và trục thương mại khu đô thị Dương Đông.

    c) Cấp nước: nâng cấp đầu tư xây dựng các hồ nước: hồ Dương Đông 5,5

    triệu m3 hoạt động cung cấp nước cho khu đô thị Dương Đông và các

    vùng lân cận. Hồ Rạch Cá: 1 triệu m3, diện tích 60 ha. Hồ Suối Lớn: 4

    triệu m3, khả năng cấp nước 15.000 m3/ngày đêm.

    d) Cấp điện: đầu tư xây dựng nhà máy nhiệt điện Gành Dầu 100 MW và thực

    hiện dự án kéo cáp ngầm từ đất liền ra đảo.

    đ) Thoát nước và vệ sinh môi trường:

    – Xây dựng nhà máy xử lý nước thải cho khu vực đô thị trung tâm Dương

    Đông, Q = 15.000 m3/ngày;

    – Xây dựng nhà máy xử lý nước thải cho khu vực đô thị và du lịch An

    Thới, Bãi Trường Q = 15.000 m3/ngày.

    – Xây dựng khu liên hợp xử lý chất thải rắn diện tích 25 ha, tại khu vực

    xã Hàm Ninh, xây dựng nghĩa trang quy mô 50 ha tại khu vực Hàm Ninh.

    e) Các công trình hạ tầng xã hội:

    – Đầu tư bệnh viện chất lượng cao 500 giường tại khu đô thị trung tâm

    Dương Đông; hình thành trung tâm giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học tại khu

    đô thị Cửa Cạn quy mô khoảng 100 ha.

    – Xây dựng các khu tái định cư, tại các khu đô thị Dương Đông, An Thới,

    Cửa Cạn.

    – Hình thành trung tâm thương mại, tài chính Dương Đông, An Thới; diện

    tích khoảng 116 ha.

    g) Xây dựng các khu tiểu thủ công nghiệp, làng nghề:

    – Xây dựng khu sản xuất trang trại, vùng sản xuất nông nghiệp công nghệ

    cao: hoa, cây cảnh, vườn tiêu diện tích: 700 ha. Các loại rau sạch, hoa khác;

    diện tích khoảng 1.070 ha.

    – Xây dựng và phát triển khu tiểu thủ công nghiệp Dương Tơ, cảng Vịnh

    Đầm; diện tích khoảng 175 ha.

    Điều 2. Giao Ủy ban nhân dân

    tỉnh Kiên Giang triển khai thực hiện các công việc sau:

    1. Ban hành Quy định quản lý theo điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng

    đảo Phú Quốc được duyệt; lập và ban hành Quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc

    toàn đảo.

    2. Công bố công khai đồ án điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng đảo Phú

    Quốc được duyệt.

    3. Triển khai lập quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết để cụ thể hóa

    đồ án điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng đảo Phú Quốc làm cơ sở triển khai các

    dự án đầu tư xây dựng và quản lý đô thị.

    4. Lập kế hoạch đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật và quản

    lý quỹ đất phát triển theo điều chỉnh quy hoạch xây dựng được duyệt.

    5. Đối với các khu đô thị phải quản lý chặt chẽ nhằm bảo đảm chủ đầu tư

    phải xây dựng đồng bộ hạ tầng xã hội với hạ tầng kỹ thuật, phải kết nối được với

    mạng lưới hạ tầng chung của đảo.

    6. Xây dựng các phương án phòng chống thiên tai (biến đổi khí hậu toàn

    cầu,…), dịch bệnh, bảo vệ môi trường trên đảo.

    7. Xây dựng các cơ chế chính sách, nguồn lực tài chính, con người, thực

    hiện các dự án hạ tầng khung sớm để đưa Phú Quốc trở thành trung tâm kinh tế lớn

    của quốc gia và khu vực.

    Điều 3. Quyết định này có hiệu

    lực thi hành kể từ ngày ký ban hành.

    Bộ trưởng Bộ Xây dựng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang và Thủ

     

     

    Nơi nhận:

    – Thủ tướng, các Phó Thủ

    tướng Chính phủ;

    – Các Bộ: Xây dựng, Kế hoạch và Đầu tư,

    Quốc phòng, Tài chính, Thông tin

    và Truyền thông,

    Giao thông vận tải, Văn hóa, Thể thao và Du lịch,

     Công

    Thương, Tài nguyên và Môi trường,

     Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,

    Nội vụ;

    – Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Kiên Giang;

    – VPCP: BTCN, các PCN, Cổng TTĐT,

    các Vụ: KTTH, NC, ĐP;

    – Lưu: Văn thư, KTN (5b).

    KT. THỦ TƯỚNG

    PHÓ THỦ TƯỚNG  

     

    (Đã ký)

    Hoàng Trung Hải

    Thuộc tính văn bản:

    Số văn bản

    633

    Ký hiệu

    QĐ-TTG

    Ngày ban hành

    11/05/2010

    Người ký

    Hoàng Trung Hải

    Trích yếu

    Phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đến năm 2030

    Cơ quan ban hành

    Thủ tướng Chính phủ

    Phân loại

    Quyết định

     

    Tệp đính kèm

    Samthienha.com

    (159232 Byte)

     

    Các văn bản khác

     

     

    Về việc điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch phát triển các khu kinh tế ven biển của Việt Nam đến năm 2022

     

     

    Về việc phê duyệt điều chỉnh cục bộ quy hoạch chung xây dựng thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025

     

     

    Phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội thành phố Đà Nẵng đến năm 2022, tầm nhìn 2030

     

     

    Về việc phê duyệt Quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế Thái Bình, tỉnh Thái Bình đến năm 2040, tầm nhìn đến năm 2050

     

     

    Về điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2022 và kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối (2016 – 2022) tỉnh Cà Mau

     

     

    Về điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2022 và kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối (2016 – 2022) tỉnh Hải Dương

     

     

    Về điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2022 và kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối (2016 – 2022) tỉnh Quảng Nam

     

     

    Về việc phê duyệt điều chỉnh cục bộ đồ án quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế Định An, tỉnh Trà Vinh đến năm 2030

     

     

    Phê duyệt Điều chỉnh tổng thể quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế Nhơn Hội, tỉnh Bình Định đến năm 2040

     

     

    Về việc phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch sử dụng đất quốc phòng đến năm 2022 và kế hoạch sử dụng đất quốc phòng kỳ cuối (2016 – 2022)

    QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI

    Quy hoạch ngành

    Quy hoạch vùng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dự Án Hội An Town
  • Bình Định: Phê Duyệt Quy Hoạch Khu Du Lịch Hòn Đất
  • Thông Báo Công Dân Việt Nam Lưu Ý Một Số Nội Dung Liên Quan Quy Định Nhập Cảnh Vào Singapore
  • Quảng Bá Du Lịch Đà Nẵng Trên Kênh Truyền Hình Bbc
  • Quần Thể Đô Thị Du Lịch Eden, Du Lịch, Nghỉ Dưỡng
  • Thông Tin Quy Hoạch Bình Châu

    --- Bài mới hơn ---

  • Quy Hoạch Xã Bình Châu, Xuyên Mộc Đến 2022, Tầm Nhìn 2050
  • Tiềm Năng Du Lịch Bình Đại
  • Du Lịch Bình Đại Bến Tre Cần Xem Này Ngay
  • Khám Phá Vẻ Đẹp Bình Dị Tại Vùng Đất Bình Đại Bến Tre
  • Đi Biển Bình Đại Bến Tre ‘trốn Nóng’ Hè Này
  • Bình Châu (Bà Rịa – Vũng Tàu) là nơi giao thoa giữa các tỉnh, thành phát triển mạnh về du lịch gồm: Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Thuận, Lâm Đồng. Khu vực này đang tập trung đông đảo các cảng cá, cảng hàng hóa rất năng động và quỹ đất được nhà đầu tư rất quan tâm.

    QUY HOẠCH GIAO THÔNG HẠ TẦNG BÌNH CHÂU

    Quy hoạch giao thông hạ tầng Bình Châu – Xuyên Mộc hiện nay đã và đang được đầu tư phát triển mạnh. Bao gồm:

    + Hoàn chỉnh đồng bộ tuyến Quốc lộ 55 (đi qua địa phận Bình Châu) liên tỉnh: Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Thuận, Lâm Đồng với tổng chiều dài hơn 200 km.

    Trong quá trình chờ công trình thực hiện, Ban Quản lý các công trình giao thông (thuộc Sở Giao thông Vận tải tỉnh Bình Thuận) sẽ giao các đơn vị thi công triển khai nâng cấp, mở rộng ngay giai đoạn 1 Quốc lộ 55 từ Tân Thiện đi Thắng Hải dài gần 30 km.

    + Trục đường ven biển từ Vũng Tàu đi Phan Thiết.

    + Mở tuyến Quốc lộ mới (tuyến liên tỉnh): Chiều dài tuyến là khoảng 73km, trong đó đoạn trên địa phận tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu dài khoảng 36 km, vị trí tuyến: Nằm theo hướng Tây-Đông đi qua huyện: Long Thành (tỉnh Đồng Nai), thị xã Phú Mỹ, huyện Châu Đức (tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu), cực Nam huyện Long Khánh (tỉnh Đồng Nai), huyện Xuyên Mộc (tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu) và huyện Hàm Tân (tỉnh Bình Thuận); Cấp hạng kỹ thuật: Đường cấp III đồng bằng, 2 làn xe ô tô.

    + Sân bay Lộc An hơn 4000 tỷ đồng do Công ty TNHH Hồ Tràm làm chủ đầu tư.Địa điểm xây dựng sân bay ở xã Lộc An và Láng Dài (huyện Đất Đỏ) với diện tích hơn 244.00 ha.

    Đây là sân bay chuyên dụng phục vụ các chuyến bay thuê chuyên chở khách đến Khu du lịch phức hợp Hồ Tràm,cóquy mô cảng hàng không cấp 4C với một đường băng dài 2.400 m, rộng 45 m, hệ thống đường lăn, sân đỗ máy bay hoàn chỉnh; nhà ga hành khách, đài kiểm soát và các công trình phụ trợ, hạ tầng kỹ thuật.

    + Tuyến cao tốc Vũng Tàu – chúng tôi cũng sẽ được sớm triển khai trong năm 2022.

    QUY HOẠCH KINH TẾ BÌNH CHÂU

    Hiện nay Bình Châu, Bà Rịa Vũng Tàu đang thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước. Với lợi thế có rừng nguyên sinh, các bãi biển cát trắng trải dài hàng chục km là những lợi thế trong việc phát triển du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng.

    Nhờ vào lợi thế thiên nhiên ưu đãi và những chính sách phù hợp, Bình Châu đang thu hút du khách và các nhà đầu tư vào bốn loại hình: Du lịch nghỉ dưỡng thư giãn cuối tuần; Du lịch điều dưỡng chữa bệnh; Du lịch thể thao tắm biển; Du lịch kết hợp với nghiên cứu khoa học.

    Hiện tại, địa phương đã xây dựng hoàn thành và đưa vào hoạt động một số điểm du lịch mẫu gồm: Khu du lịch suối khoáng nóng; Khu cắm trại; Vườn sưu tập gỗ và khu cứu hộ động vật; Khu nhà nghỉ và các tuyến đường mòn xuyên rừng…

    Với những cơ sở hạ tầng này, Bình Châu không chỉ nâng cao khả năng thu hút các nhà đầu tư mà còn tạo thêm sức hấp dẫn du khách từ vùng kinh tế trọng điểm phía Nam tìm đến, nhất là các thành phố đông dân cư và công nghiệp phát triển như TP. Hồ Chí Minh, Biên Hòa và Bình Dương.

    QUY HOẠCH BÌNH CHÂU – XUYÊN MỘC ĐẾN NĂM 2030, HƯỚNG NHÌN 2050

    Đến năm 2022: Phấn đấu toàn tỉnh có 12 đô thị, trong các số đó 01 đô thị loại I (Tp. Vũng Tàu), 01 đô thị loại II (Tp. Bà Rịa), 02 đô thị loại III (Phú Mỹ và Côn Đảo), 03 đô thị loại IV (Long Điền + Long Hải, Ngãi Giao, Phước Bửu) và 05 đô thị loại V (Đất Đỏ, Phước Hải, Kim Long, Bình Châu, Lộc An). Tỷ lệ đô thị hóa toàn tỉnh chuẩn bị khoảng 60%.

    Đến năm 2030: Phấn đấu toàn tỉnh có 14 đô thị, trong các số đó 02 đô thị loại I gồm thành phố Vũng Tàu, thành phố Bà Rịa; 03 đô thị loại III gồm Long Điền – Long Hải, Phú Mỹ, Côn Đảo; 02 đô thị loại IV gồm Ngãi Giao và Phước Bửu. 07 đô thị loại V gồm các thị trấn hiện hữu Đất Đỏ, Phước Hải; các thị trấn thành lập mới gồm Kim Long, Bình Châu, Lộc An, Hòa Bình và Hồ Tràm. Tỷ lệ đô thị hóa chuẩn bị khoảng 70%.

    Đến năm 2050 : Phấn đầu có thành phố Vũng Tàu trực thuộc Trung Ương, Bà Rịa là đô thị loại I, 03 đô thị loại II gồm Long Điền – Long Hải, Phú Mỹ, Côn Đảo. 02 đô thị loại III gồm Ngãi Giao và Phước Bửu. 07 đô thị loại IV gồm các thị trấn hiện hữu Đất Đỏ, Phước Hải; các thị trấn thành lập mới gồm Kim Long, Bình Châu, Lộc An, Hòa Bình và Hồ Tràm. Tỷ lệ đô thị hóa chuẩn bị khoảng 80%.

    QUY HOẠCH DU LỊCH HUYỆN XUYÊN MỘC

    Trong hơn 70 dự án đầu tư vào lĩnh vực du lịch – nghỉ dưỡng trên địa bàn huyện Xuyên Mộc với tổng vốn đăng ký gần 7.000 tỷ đồng và 4,75 tỷ USD, có đến gần một nửa rơi vào Bình Châu. Bao gồm:

    + Dự án Khu biệt thự nghỉ dưỡng suối nước nóng Bình Châu có diện tích gần 13ha, nằm cạnh Khu bảo tồn môi trường xung quanh Bình Châu – Phước Bửu, chỉ cách bờ biển Hồ Cốc.

    + Khu biệt thự suối nước nóng Bình Châu có 160 căn biệt thự cao cấp được cấp chủ quyền lâu dài cho khách hàng, cùng nhiều dịch vụ vui chơi, giải trí và công trình phúc lợi xã hội…

    + Khu du lịch nghỉ dưỡng và giải trí phức hợp Hồ Tràm rộng 164 ha với tổng số vốn đăng ký là 4,23 tỷ USD, có kinh doanh casino.

    + Khu biệt thự suối nước lạnh (suối Bang) nằm giáp giới giữa hai tỉnh Bình Thuận và Bà Rịa – Vũng Tàu, là điểm du lịch sinh thái hấp dẫn du khách.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khu Du Lịch Suối Nước Nóng Bình Châu Xuyên Mộc Vũng Tàu
  • Suối Nước Nóng Bình Châu
  • Bình Ba Vĩnh Hy Bộ Đôi Cho Mùa Hè Hoàn Hảo
  • Tour Bình Ba Ninh Chữ Vĩnh Hy
  • Kinh Nghiệm Đi Bình Ba Tự Túc 2022
  • Nội Dung Quy Hoạch Ngành

    --- Bài mới hơn ---

  • Thuê Xe Huế Giá Rẻ
  • Các Loại Visa Trung Quốc
  • Chương Trình 3 Ngày 2 Đêm Thám Hiểm Hang Động Quảng Bình • Oxalis Adventure
  • Công Ty Du Lịch Nghệ An
  • Tour Quy Nhơn 1 Ngày
  • QUY HOẠCH NGÀNH

    THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

    Số: 201/QĐ-TTg

    CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

    Hà Nội, ngày 22 tháng 01 năm 2013

     

    QUYẾT ĐỊNH

    Phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam

    đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030”

     

    THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

     

    Căn cứ Luật tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

    Căn cứ Luật du lịch ngày 14 tháng 6 năm 2005;

    Căn cứ Quyết định số 2473/QĐ-TTg ngày 30 tháng 12 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030;

    Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch,

     

    QUYẾT ĐỊNH:

    Điều 1. Các nội dung chủ yếu

    1. Quan điểm phát triển

    a) Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; du lịch chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu GDP, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội.

    b) Phát triển du lịch theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, có trọng tâm, trọng điểm; chú trọng phát triển theo chiều sâu đảm bảo chất lượng và hiệu quả, khẳng định thương hiệu và khả năng cạnh tranh.

    c) Phát triển đồng thời cả du lịch nội địa và du lịch quốc tế; chú trọng du lịch quốc tế đến; tăng cường quản lý du lịch ra nước ngoài.

    d) Phát triển du lịch bền vững gắn chặt với việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc; giữ gìn cảnh quan, bảo vệ môi trường; bảo đảm an ninh, quốc phòng, trật tự an toàn xã hội; đảm bảo hài hòa tương tác giữa khai thác phát triển du lịch với bảo vệ giá trị tài nguyên tự nhiên và nhân văn.

    đ) Đẩy mạnh xã hội hóa, huy động mọi nguồn lực cả trong và ngoài nước cho đầu tư phát triển du lịch; phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế quốc gia về yếu tố tự nhiên và văn hóa dân tộc, thế mạnh đặc trưng các vùng, miền trong cả nước; tăng cường liên kết phát triển du lịch.

    2. Mục tiêu phát triển

    a) Mục tiêu tổng quát

    Đến năm 2022, du lịch cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có tính chuyên nghiệp với hệ thống cơ sở vật chất-kỹ thuật đồng bộ, hiện đại; sản phẩm du lịch có chất lượng cao, đa dạng, có thương hiệu, mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc, cạnh tranh được với các nước trong khu vực và thế giới.

    Đến năm 2030, Việt Nam trở thành quốc gia có ngành du lịch phát triển.

    b) Mục tiêu cụ thể

    – Về các chỉ tiêu phát triển ngành

    + Khách du lịch

    . Năm 2022 thu hút 7,5 triệu lượt khách du lịch quốc tế, phục vụ 37 triệu lượt khách nội địa; tăng trưởng khách quốc tế 8,4%/năm và nội địa 5,7%/năm.

    . Năm 2022 thu hút 10,5 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ 47,5 triệu lượt khách nội địa; tăng trưởng khách quốc tế là 7%/năm, nội địa là 5,1%/năm.

    . Năm 2025 thu hút 14 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ 58 triệu lượt khách nội địa; tăng trưởng tương ứng 6% và 4,3%/năm.

    . Năm 2030 thu hút 18 triệu lượt khách quốc tế và 71 triệu lượt khách nội địa; tăng trưởng tương ứng 5,2% và 4,1%/năm.

    + Tổng thu từ khách du lịch: Năm 2022 đạt 207 nghìn tỷ đồng, tương đương 10,3 tỷ USD; năm 2022 đạt 372 nghìn tỷ đồng, tương đương 18,5 tỷ USD; năm 2025 đạt 523 nghìn tỷ đồng, tương đương 26 tỷ USD; năm 2030 đạt 708 nghìn tỷ đồng, tương đương 35,2 tỷ USD.

    + Đóng góp của du lịch trong GDP: Năm 2022, du lịch chiếm 6% tổng GDP cả nước; năm 2022, chiếm 7%; năm 2025, chiếm 7,2% và năm 2030, chiếm 7,5%.

    + Số lượng cơ sở lưu trú: Năm 2022 có 390.000 buồng; năm 2022 có 580.000 buồng; năm 2025 có 754.000 buồng; năm 2030 có 900.000 buồng.

    + Chỉ tiêu việc làm: Năm 2022 tạo việc làm cho 2,1 triệu lao động (trong đó 620 nghìn lao động trực tiếp); năm 2022 là 2,9 triệu (trong đó 870 nghìn lao động trực tiếp); năm 2025 là 3,5 triệu (trong đó 1,05 triệu lao động trực tiếp); năm 2030 là 4,7 triệu (trong đó 1,4 triệu lao động trực tiếp).

    + Nhu cầu đầu tư: Nhu cầu vốn đầu tư cho giai đoạn 2011 – 2022 là  18,5 tỷ USD; giai đoạn 2022 – 2022 là 24 tỷ USD; giai đoạn 2022 – 2025 là 25,2 tỷ USD và 2022 – 2030 là 26,5 tỷ USD.

    – Về văn hóa: Góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa Việt Nam; phát triển thể chất, nâng cao dân trí và đời sống văn hoá tinh thần cho nhân dân, tăng cường đoàn kết, hữu nghị, tinh thần tự tôn dân tộc.

    – Về an sinh – xã hội: Tạo thêm nhiều việc làm cho xã hội, góp phần giảm nghèo, đảm bảo an sinh và giải quyết các vấn đề xã hội.

    – Về môi trường: Phát triển du lịch “xanh”, gắn hoạt động du lịch với gìn giữ và phát huy các giá trị tài nguyên và bảo vệ môi trường. Đảm bảo môi trường du lịch là yếu tố hấp dẫn, quyết định chất lượng, giá trị thụ hưởng du lịch và thương hiệu du lịch.

    – Về an ninh quốc phòng: Góp phần khẳng định và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia, giữ vững an ninh, trật tự và an toàn xã hội.

    3. Các định hướng phát triển chủ yếu

    a) Phát triển thị trường khách du lịch: Đẩy mạnh phát triển đồng thời cả du lịch nội địa và du lịch quốc tế; chú trọng phân đoạn thị trường khách có mục đích du lịch thuần túy, nghỉ dưỡng, lưu trú dài ngày và chi tiêu cao.

    – Khách du lịch nội địa

    + Phát triển mạnh thị trường du lịch nội địa, chú trọng khách với mục đích nghỉ dưỡng, giải trí, nghỉ cuối tuần, lễ hội tâm linh, mua sắm.

    + Khuyến khích phát triển, mở rộng thị trường du lịch chuyên biệt và du lịch kết hợp công vụ.

    – Khách du lịch quốc tế

    + Thu hút, phát triển mạnh thị trường gần như Đông Bắc Á (Nhật Bản, Trung Quốc, Hồng Kông, Hàn Quốc, Đài Loan); ASEAN (Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Singapore, Lào, Campuchia).

    + Tăng cường khai thác thị trường truyền thống cao cấp từ Tây Âu,   Bắc Âu, Bắc Mỹ, châu Đại Dương và Đông Âu (Nga, Ukraina)…

    + Mở rộng thị trường mới: Trung Đông, Ấn Độ.

    b) Phát triển sản phẩm du lịch

    – Ưu tiên phát triển các dòng sản phẩm chính:

    + Phát triển mạnh hệ thống sản phẩm du lịch biển có khả năng cạnh tranh trong khu vực về nghỉ dưỡng biển, tham quan thắng cảnh biển, hệ sinh thái biển. Khai thác hệ thống đảo ven bờ phục vụ phát triển du lịch.

    + Ưu tiên phát triển các sản phẩm du lịch văn hóa gắn với di sản, lễ hội, tham quan và tìm hiểu lối sống. Phát triển mạnh du lịch ẩm thực. Phát huy các giá trị văn hóa vùng miền làm nền tảng cho các sản phẩm du lịch đặc trưng.

    + Đẩy mạnh phát triển các sản phẩm du lịch sinh thái, chú trọng khám phá hang động, du lịch núi, du lịch sinh thái nông nghiệp, nông thôn.

    – Phát triển sản phẩm du lịch đặc trưng theo các vùng được tổ chức theo các không gian phát triển du lịch với tính chất đặc trưng nổi trội để tạo dựng thương hiệu từng vùng có sản phẩm điểm đến tổng hợp.

    – Đa dạng hóa sản phẩm phục vụ các đối tượng khách với những nhu cầu đa dạng như: Du lịch MICE (Hội họp, khuyến thưởng, hội nghị, triển lãm); du lịch đô thị; du lịch giáo dục; du lịch thể thao; du lịch dưỡng bệnh; du lịch du thuyền; du lịch làm đẹp…

    – Tăng cường liên kết giữa các địa phương, doanh nghiệp; theo khu vực, các hành lang kinh tế; cùng các ngành vận chuyển, các liên kết vùng, liên vùng và quốc tế để tạo thành sản phẩm du lịch hấp dẫn.

    c) Tổ chức không gian du lịch

    – Phát triển du lịch theo 7 vùng

    + Vùng Trung du, miền núi Bắc Bộ gồm 14 tỉnh, thành phố: Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Yên Bái, Phú Thọ, Lào Cai, Tuyên Quang, Hà Giang, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn và Bắc Giang.

    Hướng khai thác sản phẩm đặc trưng:

    . Du lịch về nguồn, tham quan tìm hiểu bản sắc văn hóa dân tộc; hệ sinh thái núi cao, hang động, trung du.

    . Nghỉ dưỡng núi; nghỉ cuối tuần.

    . Thể thao, khám phá.

    . Du lịch biên giới gắn với thương mại cửa khẩu.

    Các địa bàn trọng điểm phát triển du lịch:

    . Sơn La – Điện Biên gắn với Mộc Châu, hồ Sơn La, cửa khẩu quốc tế Tây Trang, di tích lịch sử Điện Biên Phủ và Mường Phăng.

    . Lào Cai gắn với cửa khẩu quốc tế Lào Cai, khu nghỉ mát Sa Pa, Phan Xi Phăng và vườn quốc gia Hoàng Liên.

    . Phú Thọ gắn với lễ hội Đền Hùng và hệ thống di tích thời đại Hùng Vương, du lịch hồ Thác Bà.

    . Thái Nguyên – Lạng Sơn gắn với hồ Núi Cốc, di tích ATK Định Hóa, Tân Trào, khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng, khu nghỉ mát Mẫu Sơn.

    . Hà Giang gắn với công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn, cảnh quan Mèo Vạc, Mã Pí Lèng, Na Hang…

    Ngoài ra, định hướng phát triển một số khu, điểm du lịch quan trọng khác: Xín Mần, Sìn Hồ, hồ Nà Hang, hồ Cấm Sơn; hồ Sơn La…

    + Vùng đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc gồm 11 tỉnh/thành phố: Hà Nội, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định, Hải Phòng và Quảng Ninh.  

    Hướng khai thác sản phẩm đặc trưng:

    . Du lịch văn hóa gắn với văn minh lúa nước sông Hồng.

    . Du lịch biển đảo.

    . Du lịch MICE (Hội họp, khuyến thưởng, hội nghị, triển lãm)

    . Du lịch sinh thái nông nghiệp nông thôn.

    . Du lịch lễ hội, tâm linh.

    . Du lịch cuối tuần, vui chơi giải trí cao cấp.

    Các địa bàn trọng điểm phát triển du lịch:

    . Thủ đô Hà Nội gắn với hệ thống di tích lịch sử văn hóa nội thành và các cảnh quan tự nhiên vùng phụ cận.

    . Quảng Ninh – Hải Phòng gắn với cảnh quan biển đảo Đông Bắc đặc biệt là Hạ Long – Cát Bà, Vân Đồn, Đồ Sơn.

    . Ninh Bình gắn với Tam Cốc – Bích Động, Hoa Lư, Tràng An, Vân Long, Cúc Phương, Tam Chúc – Ba Sao và quần thể di tích, cảnh quan vùng phụ cận.

    Ngoài ra cần chú trọng phát triển các điểm: Vườn quốc gia Xuân Thủy, Đồng Châu, Bạch Long Vĩ…

    + Vùng Bắc Trung Bộ gồm 6 tỉnh, thành phố: Thanh Hóa, Nghệ An,  Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế.

    Hướng khai thác sản phẩm đặc trưng:

    . Tham quan di sản, di tích lịch sử văn hóa.

    . Du lịch biển, đảo.

    . Tham quan, nghiên cứu hệ sinh thái.

    . Du lịch biên giới gắn với các cửa khẩu.

    Các địa bàn trọng điểm phát triển du lịch:

    . Thanh hóa và phụ cận gắn với điểm du lịch quốc gia Thành Nhà Hồ, Lam Kinh, Bến En và đô thị du lịch Sầm Sơn.

    . Nam Nghệ An – Bắc Hà Tĩnh gắn với Cửa Lò, Kim Liên, Đồng Lộc, cửa khẩu Cầu Treo, núi Hồng – sông Lam, Xuân Thành…

    . Quảng Bình – Quảng Trị gắn với Phong Nha – Kẻ Bàng, biển Cửa Tùng – Cửa Việt, đảo Cồn Cỏ, cửa khẩu Lao Bảo và hệ thống di tích chiến tranh chống Mỹ.

    . Thừa Thiên Huế gắn với hệ thống di sản văn hóa cố đô Huế và cảnh quan thiên nhiên Lăng Cô – Cảnh Dương, Bạch Mã, Tam Giang…

    Ngoài ra, chú trọng phát triển các điểm hang cá Cẩm Lương, vườn quốc gia Bến En, vườn quốc gia Pù Mát, Chùa Hương, Cồn Cỏ…

    + Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ gồm 8 tỉnh, thành phố: Thành phố  Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa,    Ninh Thuận, Bình Thuận.

    Hướng khai thác sản phẩm đặc trưng:

    . Du lịch biển, đảo.

    . Du lịch tham quan di tích (hệ thống di sản) kết hợp du lịch nghiên cứu bản sắc văn hóa (văn hóa Chăm, các dân tộc thiểu số ở Đông Trường Sơn).

    . Du lịch MICE (Hội họp, khuyến thưởng, hội nghị, triển lãm).

    Các địa bàn trọng đểm phát triển du lịch:

    . Đà Nẵng – Quảng Nam gắn với Sơn Trà, Hải Vân, Hội An, Mỹ Sơn…

    . Bình Định – Phú Yên – Khánh Hòa gắn với các bãi biển Phương Mai, Đầm Ô Loan, vịnh Nha Trang, Cam Ranh…

    . Bình Thuận gắn với biển Mũi Né, đảo Phú Quý…

    + Vùng Tây Nguyên gồm 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng.

    Hướng khai thác sản phẩm đặc trưng:

    . Du lịch văn hóa Tây Nguyên; tham quan tìm hiểu bản sắc văn hóa các dân tộc Tây Nguyên.

    . Nghỉ dưỡng núi; tham quan nghiên cứu hệ sinh thái cao nguyên gắn với các sản vật hoa, cà phê, voi.

    . Du lịch biên giới gắn với cửa khẩu và tam giác phát triển.

    Các địa bàn trọng điểm phát triển du lịch:

    . Thành phố Đà Lạt gắn với hồ Tuyền Lâm, Đan Kia – Suối Vàng.

    . Đắk Lắk gắn với vườn quốc gia Yokđôn và không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.

    . Gia Lai – Kon Tum gắn với cửa khẩu quốc tế Bờ Y, Măng Đen, Yaly.

    Ngoài ra chú trọng phát triển du lịch tại các điểm như cụm di tích đèo An Khê, thành phố Buôn Mê Thuột và phụ cận…

    + Vùng Đông Nam Bộ gồm 6 tỉnh, thành phố: Thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh.

    Hướng khai thác sản phẩm đặc trưng:

    . Du lịch MICE (Hội họp, khuyến thưởng, hội nghị, triển lãm).

    . Du lịch văn hóa, lễ hội, giải trí.

    . Du lịch nghỉ dưỡng biển, du lịch giải trí cuối tuần, du lịch thể thao, du lịch mua sắm.

    . Du lịch biên giới gắn với cửa khẩu.

    Các địa bàn trọng điểm phát triển du lịch:

    . Thành phố Hồ Chí Minh gắn với khu rừng sác Cần Giờ và hệ thống di tích lịch sử văn hóa nội thành.

    . Tây Ninh gắn với cửa khẩu quốc tế Mộc Bài, núi bà Đen, hồ Dầu Tiếng.

    . Thành phố Vũng Tàu gắn với Long Hải, Phước Hải, Côn Đảo.

    Ngoài ra chú trọng phát triển các điểm như: Thác Mơ – Bà Rá; Bình Châu, Phước Bửu, Núi Dinh.

     + Vùng Đồng bằng sông Cửu Long gồm 13 tỉnh, thành phố: Thành phố Cần Thơ, Long An, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Tiền Giang, Hậu Giang.

    Hướng khai thác sản phẩm đặc trưng:

    . Du lịch sinh thái (miệt vườn, đất ngập nước).

    . Du lịch biển, đảo.

    . Du lịch văn hóa, lễ hội.

    Các địa bàn trọng điểm du lịch:

    . Tiền Giang – Bến Tre gắn với du lịch miệt vườn Thới Sơn.

    . Cần Thơ – Kiên Giang gắn với biển đảo Phú Quốc, Hà Tiên.

    . Đồng Tháp – An Giang gắn với Tứ giác Long Xuyên, vườn quốc gia Tràm Chim.

    . Cà Mau gắn với U Minh – Năm Căn – mũi Cà Mau.

    Định hướng phát triển hệ thống khu, điểm, đô thị du lịch gồm 4 khu du lịch quốc gia; 7 điểm du lịch quốc gia.

    Ngoài ra, chú trọng phát triển các điểm như: Ba Động, Vĩnh Long.

    – Phát triển hệ thống tuyến du lịch

    + Tuyến theo đường hàng không: Từ các sân bay thuộc trung tâm quốc gia và các sân bay quan trọng khác.

    + Tuyến theo đường bộ: Theo hệ thống các quốc lộ lớn nối các vùng du lịch và đường Hồ Chí Minh.

    + Tuyến theo đường biển: Liên kết các đảo ven bờ và các tuyến Đà Nẵng – Hoàng Sa; Nha Trang – Trường Sa và đường Hồ Chí Minh trên biển.

    + Tuyến theo đường sông: Theo hệ thống sông Hồng và sông Mê Kông.

    + Tuyến theo đường sắt: Tuyến đường sắt Bắc – Nam; Hà Nội – Hải Phòng; Hà Nội – Lào Cai và Hà Nội – Lạng Sơn.

    Chú trọng phát triển tuyến đường biển và tuyến đường bộ dọc biên giới.

    + Các tuyến du lịch chuyên đề: Về nguồn tìm hiểu văn hóa các dân tộc Việt Nam; khám phá biển, đảo; di sản; sinh thái núi, rừng; MICE; làng nghề; cộng đồng và nông nghiệp, nông thôn; du thuyền, tàu biển; sông, hồ; lễ hội, tâm linh.

    + Tuyến du lịch liên kết các quốc gia: Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Trung Quốc…

    d) Đầu tư phát triển du lịch 

    – Tổng nhu cầu đầu tư và cơ cấu nguồn vốn đầu tư: 1.931 nghìn tỷ đồng (tương đương 94,2 tỷ USD, theo giá hiện hành). Trong đó:

    + Vốn từ ngân sách nhà nước chiếm 8 – 10% bao gồm cả vốn ODA.

    + Nguồn vốn từ khu vực tư nhân chiếm 90 – 92% bao gồm cả vốn FDI.

    – Các lĩnh vực ưu tiên đầu tư:

    + Phát triển đồng bộ, hiện đại hệ thống hạ tầng du lịch.

    + Phát triển sản phẩm du lịch cạnh tranh và thương hiệu du lịch quốc gia.

    + Phát triển nguồn nhân lực du lịch.

    + Phát triển tài nguyên, bảo vệ môi trường du lịch.

    + Phát triển các khu, điểm du lịch.

    – Các khu vực tập trung đầu tư: Tập trung đầu tư vào các khu du lịch quốc gia, điểm du lịch quốc gia và đô thị du lịch, trong đó ưu tiên vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.

    – Phân kỳ đầu tư:

    + Giai đoạn 2011 – 2022: 372 nghìn tỷ đồng (tương đương 18,5 tỷ USD).

    + Giai đoạn 2022 – 2022: 482 nghìn tỷ đồng (tương đương 24 tỷ USD).

    + Giai đoạn 2022 – 2025: 506 nghìn tỷ đồng (tương đương 25,2 tỷ USD).

    + Giai đoạn 2026 – 2030: 533 nghìn tỷ đồng (tương đương 26,5 tỷ USD).

    – Các chương trình và dự án đầu tư: 

    đ) Tổ chức hoạt động kinh doanh du lịch

    – Lữ hành: Tăng cường hoạt động tổ chức kinh doanh các dịch vụ lữ hành du lịch thu hút, đón tiếp và phục vụ khách du lịch quốc tế vào Việt Nam du lịch, đồng thời phục vụ tốt cho cư dân Việt Nam đi du lịch ở trong nước và nước ngoài; đẩy mạnh hoạt động lữ hành kết nối các điểm hấp dẫn du lịch và hệ thống dịch vụ trên địa bàn điểm đến.

    – Lưu trú: Mở rộng và nâng cao chất lượng cơ sở lưu trú du lịch trong đó chú trọng loại hình lưu trú nghỉ dưỡng chất lượng cao với đa dạng dịch vụ bổ sung, nâng cao chất lượng dịch vụ đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của du khách.

    – Ăn, uống: Mở rộng và phát triển các loại hình dịch vụ ẩm thực, món ăn truyền thống. Hình thành chuỗi nhà hàng ẩm thực có thương hiệu vươn ra thị trường quốc tế, nâng cao vị thế văn hóa ẩm thực Việt Nam.

    – Khu du lịch, điểm du lịch: Chú trọng phát triển kinh doanh các khu, điểm du lịch quốc gia, mở rộng kinh doanh các khu, điểm du lịch đặc thù   địa phương.

    – Vui chơi, giải trí: Tăng cường và mở rộng phát triển các dịch vụ vui chơi giải trí cao cấp, đặc biệt ở các khu du lịch quốc gia và các đô thị lớn.

    4. Các nhóm giải pháp thực hiện quy hoạch

    a) Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách

    – Về đầu tư phát triển du lịch: Có chính sách ưu tiên đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng; chính sách khuyến khích đầu tư vào phát triển các khu vui chơi giải trí hiện đại; thực hiện chính sách xã hội hóa đầu tư phát triển du lịch.

    – Về thuế: Cho vay với lãi suất ưu đãi đối với các dự án ưu tiên được xác định; cho phép kinh doanh du lịch quốc tế hưởng chế độ ưu đãi của ngành hàng xuất khẩu, có chính sách thuế phù hợp, đặc biệt về thuế đất đối với các khu du lịch, thuế nhập khẩu đối với trang thiết bị, phương tiện vận chuyển cao cấp phục vụ du lịch; rà soát, điều chỉnh phương pháp tính thuế, phí, lệ phí; áp dụng thống nhất chính sách một giá.

    – Về thị trường: Hỗ trợ từ ngân sách cho hoạt động nghiên cứu thị trường; tăng cường hỗ trợ ngân sách và xã hội hoá hoạt động xúc tiến quảng bá; thông qua chính sách và cơ chế phù hợp với giá cả và các điều kiện kèm theo để khai thác tốt thị trường lớn khách du lịch nội địa tại các trung tâm đô thị và ở các vùng nông thôn.

    – Về xuất nhập cảnh, hải quan: Tiếp tục cải tiến các thủ tục xuất nhập cảnh để tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho khách du lịch.

    – Về chính sách xã hội hóa du lịch: Khuyến khích phát triển du lịch cộng đồng, du lịch có trách nhiệm đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, hải đảo; khuyến khích việc đóng góp từ thu nhập du lịch cho hoạt động bảo tồn, phục hồi các giá trị về sinh thái, văn hoá và phát triển du lịch xanh, thích ứng với biến đổi khí hậu.

    – Cơ chế phối kết hợp liên vùng, liên ngành: Khuyến khích liên kết trong vùng, liên vùng trong thực hiện quy hoạch, phát triển sản phẩm, xúc tiến quảng bá, xúc tiến đầu tư, xây dựng thương hiệu du lịch; đẩy mạnh các tổ chức phát triển du lịch vùng; xây dựng và phát huy các cơ chế phối hợp liên ngành, liên vùng, các cơ chế về hỗ trợ giá giữa các ngành liên quan.

    b) Nhóm giải pháp về huy động vốn đầu tư

    – Tăng cường đầu tư và hiệu quả đầu tư từ ngân sách nhà nước cho phát triển du lịch, cụ thể:

    + Xác định cơ cấu vốn đầu tư hợp lý cho từng khu vực để đảm bảo đủ   8 – 10% trong cơ cấu nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước.

    + Tập trung vốn phát triển cơ sở hạ tầng các khu du lịch, lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia gắn với phát triển du lịch.

    – Huy động tối đa các nguồn vốn đảm bảo nhu cầu đầu tư phát triển du lịch:

    + Huy động tối đa các nguồn vốn, phát huy triệt để nguồn lực tài chính trong nhân dân, tiềm lực tài chính của các tổ chức trong và ngoài nước để đảm bảo đủ nguồn vốn với cơ cấu 90 – 92% vốn đầu tư từ khu vực tư nhân.

    c) Nhóm giải pháp về nguồn nhân lực

    – Xây dựng và triển khai thực hiện quy hoạch phát triển nhân lực ngành du lịch cả nước và ở các địa phương.

    Phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo, bồi dưỡng về du lịch đáp ứng nhu càng ngày càng tăng về lực lượng lao động ngành.

    – Thực hiện liên kết giữa các cơ sở đào tạo và các doanh nghiệp du lịch để đào tạo theo nhu cầu của các doanh nghiệp.

    Xây dựng tiêu chuẩn và thực hiện chuẩn hóa nhân lực du lịch.

    Xây dựng, công bố và thực hiện chuẩn trường để nâng cao năng lực đào tạo, bồi dưỡng du lịch từng bước hội nhập tiêu chuẩn nghề trong khu vực.

    d) Nhóm giải pháp về xúc tiến, quảng bá

    Tăng cường năng lực, bộ máy và cơ chế cho hoạt động xúc tiến quảng bá: Cơ cấu lại tổ chức bộ máy, tập trung chức năng xúc tiến cho Tổng cục Du lịch, bổ sung nhiệm vụ quản lý rủi ro; thành lập các trung tâm xúc tiến quảng bá du lịch tại các địa phương trọng điểm du lịch, các thị trường quốc tế trọng điểm; tăng cường vốn ngân sách cho xúc tiến quảng bá du lịch, xây dựng hình ảnh và thương hiệu du lịch quốc gia.

    – Đẩy mạnh chuyên nghiệp hóa hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch: Tập trung xúc tiến quảng bá theo chiến dịch trọng điểm, phù hợp định hướng phát triển sản phẩm, thương hiệu du lịch; xây dựng cơ chế hợp tác trong và ngoài ngành, đẩy mạnh xã hội hóa xúc tiến quảng bá du lịch; tận dụng tối đa sức mạnh truyền thông, huy động sự hợp tác của các cơ quan đại diện ngoại giao tại các nước, truyền thông qua các mạng xã hội.

    đ) Nhóm giải pháp về tổ chức quản lý quy hoạch

    Hoàn thiện văn bản, quy phạm pháp luật về quy hoạch.

    Kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước về du lịch ở các cấp với việc thành lập các Ban quản lý các khu, điểm du lịch.

    Thực hiện điều tra, đánh giá, phân loại và quản lý tài nguyên du lịch.

    Tổ chức xây dựng quy hoạch, kế hoạch.

    Nâng cao trình độ quản lý du lịch theo quy hoạch cho các cấp, các ngành.

    e) Nhóm giải pháp về ứng dụng khoa học, công nghệ

    Tích cực ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến trong việc quản lý và vận hành các hoạt động du lịch, bao gồm:

    – Hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu và thống kê du lịch.

    – Nâng cao năng lực nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ.

    g) Nhóm giải pháp về hợp tác quốc tế

    – Triển khai hiệu quả các hoạt động hợp tác: Chủ động, tích cực triển khai thực hiện và thực hiện có hiệu quả các hiệp định hợp tác song phương và đa phương đã ký kết.

    – Đa phương hoá, đa dạng hoá loại hình hợp tác: Mở rộng hợp tác với các quốc gia khác, các vùng lãnh thổ; đa dạng hoá các kênh hợp tác; tăng cường, mở rộng và chính thức hóa các hoạt động hợp tác với các tổ chức  quốc tế.

    h) Nhóm giải pháp về bảo vệ tài nguyên và môi trường du lịch

    Giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức về vai trò, ý nghĩa của du lịch, của tài nguyên và môi trường đối với hoạt động du lịch.

    Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật để kiểm soát các vấn đề về môi trường, để quản lý và phát triển tài nguyên.

    Áp dụng biện pháp khuyến khích đối với hoạt động du lịch thân thiện môi trường, bảo vệ và phát huy giá trị tài nguyên, môi trường; đồng thời xử phạt thích đáng đối với những hoạt động làm tổn hại tài nguyên và môi trường du lịch.

    Nhà nước hỗ trợ tài chính cho công tác bảo vệ tài nguyên và môi trường.

    i) Nhóm giải pháp ứng phó với tác động của biến đổi khí hậu

    Nâng cao nhận thức xã hội về tác động của biến đổi khí hậu.

    Tăng cường khả năng thích ứng và năng lực giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu.

    Điều 2. Tổ chức thực hiện quy hoạch

    1. Ban Chỉ đạo nhà nước về du lịch

    2. Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch

    a) Chủ trì tổ chức triển khai thực hiện Quy hoạch; tổ chức công bố Quy hoạch trên phạm vi cả nước, phổ biến triển khai và phân công cụ thể cho Tổng cục Du lịch và các đơn vị chức năng thuộc Bộ.

    b) Chủ trì xây dựng và thực hiện quy hoạch tổng thể phát triển du lịch các vùng du lịch, các khu du lịch quốc gia và các điểm du lịch quốc gia; tổ chức sơ kết, tổng kết và điều chỉnh (nếu cần thiết) việc thực hiện Quy hoạch.

    c) Chỉ đạo Tổng cục Du lịch:

    Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch hành động phát triển du lịch cho các giai đoạn 5 năm; điều phối triển khai quy hoạch lồng ghép với các kế hoạch và chương trình, dự án phát triển du lịch trên phạm vi toàn quốc.

    Hướng dẫn các địa phương xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh, quy hoạch các khu, điểm du lịch địa phương.

    Chủ trì xây dựng và thực hiện các quy hoạch vùng du lịch, quy hoạch khu du lịch quốc gia, điểm du lịch quốc gia.

    Tiến hành sơ kết hàng năm, đề xuất các chính sách phù hợp và thực hiện điều chỉnh quy hoạch cho phù hợp thực tế.

    d) Chỉ đạo các đơn vị chức năng chuyên ngành văn hóa, thể thao tham mưu xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách, quy hoạch, chương trình, đề án, dự án phối hợp hỗ trợ, phù hợp với yêu cầu của Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam.

    3. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ

    Tham mưu trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phát triển của ngành phù hợp với Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch cả nước; lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hành động của ngành với việc thực hiện Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch; phối hợp có hiệu quả với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong việc giải quyết những vấn đề liên ngành.

    4. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

    Phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức xây dựng và thực hiện quy hoạch tổng thể và cụ thể phát triển du lịch trên địa bàn; thực hiện quản lý phát triển du lịch theo quy hoạch.

    Tuyên truyền giáo dục nhân dân nâng cao nhận thức về du lịch; chỉ đạo các cấp chính quyền bảo vệ tài nguyên và môi trường du lịch.

    5. Doanh nghiệp, hiệp hội du lịch và các tổ chức xã hội khác

    Căn cứ Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch cả nước, các doanh nghiệp chủ động xây dựng và thực hiện quy hoạch chi tiết các khu, điểm du lịch, dự án đầu tư phát triển du lịch.

    Hiệp hội du lịch và các tổ chức xã hội khác theo phạm vi chức năng hoạt động nắm bắt mục tiêu, quan điểm và định hướng trong Quy hoạch để cụ thể hóa thành chương trình hành động của mình.

    Cộng đồng dân cư tích cực tham gia vào các hoạt động du lịch, cung ứng dịch vụ du lịch cộng đồng và các hoạt động bảo tồn, khai thác bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường du lịch theo các quy hoạch phát triển du lịch.

    Điều 3. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành.

    Điều 4. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.

     

     

    Nơi nhận:

    – Ban Bí thư Trung ương Đảng;

    – Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ; 

    – Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc CP;

    – VP BCĐ TW về phòng, chống tham nhũng;

    – HĐND, UBND các tỉnh, TP trực thuộc TW;

    – Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng;

    – Văn phòng Tổng Bí thư;

    – Văn phòng Chủ tịch nước;

    – Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội; 

    – Văn phòng Quốc hội;

    – Tòa án nhân dân tối cao;

    – Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

    – Kiểm toán Nhà nước;

    – Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia;

    – Ngân hàng Chính sách xã hội;

    – Ngân hàng Phát triển Việt Nam;

    – UBTW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;

    – Cơ quan Trung ương của các đoàn thể;

    – VPCP: BTCN, các PCN, Trợ lý TTCP, Cổng TTĐT, 

     các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc, Công báo;

    – Lưu: Văn thư, KGVX (3b).KN.240

    KT. THỦ TƯỚNG

    PHÓ THỦ TƯỚNG

    (Đã ký)

    Nguyễn Thiện Nhân

    Thuộc tính văn bản:

    Số văn bản

    201

    Ký hiệu

    QĐ – TTg

    Ngày ban hành

    22/01/2013

    Người ký

    Nguyễn Thiện Nhân

    Trích yếu

    Phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030″

    Cơ quan ban hành

    Thủ tướng Chính phủ

    Phân loại

    Quyết định

     

    Tệp đính kèm

    Samthienha.com

    (181248 Byte)

    201PL.doc

    (237056 Byte)

     

    Các văn bản khác

     

     

    Phê duyệt Nhiệm vụ lập Quy hoạch mạng lưới trạm khí tượng thủy văn quốc gia thời kỳ 2022 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050

     

     

    Phê duyệt nhiệm vụ lập quy hoạch mạng lưới tổ chức khoa học và công nghệ công lập thời kỳ 2022 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050

     

     

    Phê duyệt nhiệm vụ lập Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học và sư phạm thời kỳ 2022 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050

     

     

    Phê duyệt nhiệm vụ lập Quy hoạch phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử thời kỳ 2022 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050

     

     

    Phê duyệt nhiệm vụ lập Quy hoạch hạ tầng phòng cháy và chữa cháy thời kỳ 2022 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050

     

     

    Phê duyệt nhiệm vụ lập Quy hoạch điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản thời kỳ 2022 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050

     

     

    Về việc thành lập Hội đồng thẩm định Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng hàng không, sân bay toàn quốc thời kỳ 2022-2030, tầm nhìn đến năm 2050

     

     

    Về việc thành lập Hội đồng thẩm định Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam thời kỳ 2022-2030, tầm nhìn đến năm 2050

     

     

    Về việc thành lập Hội đồng thẩm định Quy hoạch kết cấu hạ tầng đường thủy nội địa thời kỳ 2022-2030, tầm nhìn đến năm 2050

     

     

    Về việc thành lập Hội đồng thẩm định Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng hàng không, sân bay toàn quốc thời kỳ 2022-2030, tầm nhìn đến năm 2050

    QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TỄ XÃ HỘI

    Quy hoạch ngành

    Quy hoạch vùng

    --- Bài cũ hơn ---

  • 47 Điểm Tham Quan, Vui Chơi Nổi Tiếng Ở Nhật Bản
  • Top 10+ Địa Điểm Du Lịch Nha Trang Vạn Người Mê
  • 9 Đảo Du Lịch Đẹp Nhất Ở Nha Trang Nên Ghé Thử 1 Lần
  • Báo Đà Nẵng Điện Tử
  • Bếp Gas Du Lịch
  • Quy Hoạch Du Lịch Tỉnh Ninh Bình

    --- Bài mới hơn ---

  • Bản Đồ Quy Hoạch Phú Quốc Chi Tiết, Đầu Tư Kinh Doanh Gì Sinh Lời?
  • Bản Đồ Quảng Bình Khổ Lớn Về Hành Chính, Quy Hoạch Và Du Lịch
  • Quy Hoạch Tổng Thể Du Lịch Quảng Ninh: Tạo Đà Phát Triển Du Lịch Bền Vững
  • Sapa Lên Thị Xã, Mở Rộng Quy Hoạch: Thời Cơ Vàng Cho Nhà Đầu Tư
  • Phát Triển Du Lịch Ở Thành Phố Mang Tên Bác
  • VỊ TRÍ, MỤC TIÊU VÀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỦA TỈNH NINH BÌNH Vị trí địa Tỉnh Ninh Bình nằm ở cực Nam đồng bằng Bắc bộ, có toạ độ địa lý 19050′ đến 20027′ vĩ độ Bắc, 105032′ đến 106027′ kinh độ Đông, cách thủ đô Hà Nội 93km về phía Nam. Dãy núi Tam Điệp chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, làm ranh giới tự nhiên giữa hai tỉnh Ninh Bình và Thanh Hoá. Phía Đông và Đông Bắc có sông Đáy bao quanh, là ranh giới tự nhiên với hai tỉnh Hà Nam và Nam Định, phía Bắc là tỉnh Hoà Bình, phía Nam là biển Đông. Ninh Bình có diện tích tự nhiên 1.389,1km², với chiều dài bờ biển 18km, dân số 936.262 người. Toàn tỉnh có 62.000ha đất sản xuất nông nghiệp, trong đó đất canh tác 47.000ha; đất lâm nghiệp có rừng 29.000ha và trên 6.000ha diện tích đất đồi, núi đá. Ninh Bình có vị trí chiến lược quan trọng, là nơi tiếp nối giao lưu kinh tế và văn hoá giữa lưu vực sông Hồng với lưu vực sông Mã, giữa vùng đồng bằng Bắc bộ với vùng núi rừng Tây Bắc của Tổ quốc. Trên địa bàn tỉnh có Quốc lộ 1A, Quốc lộ 10; 12A; 12B và đường sắt Bắc – Nam chạy qua cùng hệ thống sông ngòi dày đặc như: sông Đáy, sông Hoàng Long, sông Càn, sông Vạc, sông Vân,…tạo thành mạng lưới giao thông thuỷ, bộ rất thuận tiện cho giao lưu, phát triển kinh tế trong và ngoài tỉnh. Tài nguyên du lịch của Ninh Bình (tự nhiên, nhân văn) tương đối phong phú, đa dạng bao gồm cả núi, hồ, rừng, các di tích lịch sử văn hoá nổi tiếng,… Đây là một lợi thế quan trọng, tạo tiền đề phát triển nhiều loại hình du lịch, góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển ngành du lịch Ninh Bình trong những năm tới. Tài nguyên du lịch Ninh Bình được phân bố tương đối tập trung ở một số khu vực chính như: Hoa Lư, Gia Viễn, Nho Quan, Phát Diệm, với khu du lịch nổi tiếng Tam Cốc – Bích Động, rừng Cúc Phương, nhà thờ đá Phát Diệm,… và mới đây nhất là khu du lịch sinh thái Tràng An. Những khu vực này có sự kết hợp giữa tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn. Đây là đặc điểm thuận lợi cho việc hình thành những khu du lịch trọng điểm, có sức hấp dẫn thu hút du khách trong và ngoài nước. Mục tiêu và chiến lược phát triển du lịch Trong những năm qua du lịch Ninh Bình đã và đang phát triển đúng hướng. Cơ cấu kinh tế đang dịch chuyển từ nông nghiệp sang dịch vụ, du lịch theo định hướng phát triển du lịch bền vững. Thu nhập từ các hoạt động du lịch mang lại đã phần nào nâng cao đời sống nhân dân, góp phần xoá đói giảm nghèo tại một số địa phương. Để có kết quả như trên Tỉnh uỷ, UBND tỉnh, Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch đã tiến hành từng bước cụ thể, theo lộ trình đã được hoạch định và đã đạt được một số thành tựu đáng kể, cụ thể: Năm 2009 Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch đã tham mưu cho Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh ban hành Nghị quyết số 15-NQ/TU ngày 13/7/2009 về phát triển du lịch đến năm 2022, định hướng đến năm 2030. UBND tỉnh ban hành kế hoạch số 07/KH-UBND ngày 17/7/2009 về thực hiện Nghị quyết số 15-NQ/TU. Từ đó để triển khai thực hiện chủ trương, định hướng phát triển du lịch, ngành Văn hoá, Thể thao và Du lịch đã xây dựng kế hoạch chi tiết thực hiện Nghị quyết số 15 của Tỉnh uỷ theo từng năm và qua từng thời kỳ phù hợp với tình hình phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh. Thực hiện Luật Du lịch, Ninh Bình là tỉnh đầu tiên trong cả nước đã mạnh dạn tiến hành nghiên cứu áp dụng xây dựng mô hình ban quản lý khu du lịch để quản lý khu du lịch. Công tác đầu tư cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kinh doanh du lịch được quan tâm, chú trọng. Hiện nay, có 5 dự án đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch bằng nguồn vốn ngân sách, với tổng số vốn đầu tư là 2.842,3 tỷ đồng. Các công trình đã bước đầu hoàn thiện và đưa vào khai thác sử dụng có hiệu quả như dự án: xây dựng cơ sở hạ tầng khu du lịch sinh thái Tràng An, khu du lịch sinh thái Vân Long, khu du lịch Tam Cốc – Bích Động… Nhờ có cơ sở hạ tầng du lịch tốt nên đã thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước đến đầu tư phát triển du lịch trong tỉnh. Nối liền các tuyến điểm du lịch trong tỉnh cũng như trong vùng tạo nên tính đa dạng và liên vùng cao. Cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn tỉnh ngày một hoàn thiện. Nếu năm 2000 toàn tỉnh chỉ có 25 cơ sở kinh doanh lưu trú du lịch với 240 phòng ngủ thì đến nay (tính đến 31/5/2010) toàn tỉnh đã có 126 cơ sở lưu trú du lịch với 2.377 phòng ngủ. Ngành đã tiến hành phân loại hạng cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn toàn tỉnh, trong đó có 19 khách sạn 2 sao, 3 khách sạn 1 sao, 104 nhà nghỉ đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch. Riêng các dự án của các tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh tính đến nay đã có 47 dự án, với tổng số vốn là 9267,714 tỷ đồng. Tiêu biểu như dự án khu sân gôn 54 lỗ hồ Yên Thắng, các dự án khu du lịch sinh thái Vân Long, khu khách sạn trung tâm thành phố Ninh Bình Để phát triển du lịch hơn nữa, trong thời gian tới ngành du lịch Ninh Bình đã định hướng phát triển các loại hình du lịch mang tính đặc thù, tập trung phát triển các loại hình du lịch như du lịch sinh thái, du lịch văn hoá, lịch sử gắn với tâm linh. Trong đó chú ý các giải pháp: Tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng du lịch tốt đến các khu điểm du lịch trên toàn tỉnh, chú ý xây dựng các công trình phục vụ cho các hoạt động kinh doanh du lịch với lối kiến trúc gắn liền với văn hoá vùng miền đặc trưng. Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng kiến thức nghiệp vụ du lịch cho cán bộ công nhân viên trong ngành, người dân tham gia làm du lịch để đáp ứng nhu cầu ngày một cao của khách du lịch. Phát triển làng nghề, cung cấp sản phẩm phục vụ dịch vụ bán hàng lưu niệm cho khách du lịch. Khai thác hợp lý những sản vật địa phương để thông qua đó giới thiệu về văn hoá, truyền thống lâu đời của Ninh Bình một miền quê ngàn năm văn hiến. Tập trung công tác quảng bá xúc tiến du lịch thông qua báo đài, truyền hình trung ương, địa phương; sách, tập gấp đến với du khách trong và ngoài nước để khai thác khách du lịch tiềm năng đến du lịch tại Ninh Bình. Từ các hoạt động này du lịch Ninh Bình đã và sẽ được đánh giá đúng mức đối với sự phát triển chung trong nền kinh tế của tỉnh cũng như của cả nước. Sẽ đánh dấu trên bàn đồ Việt Nam và bản đồ thế giới là điểm đến hấp dẫn, an toàn và thân thiện đối với du khách trong và ngoài nước. KIỂM KÊ, ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH. Tài nguyên du lịch: Cố đô Hoa Lư: Hoa Lư là cố đô của nước Đại Việt từ thế kỷ X, nằm trên địa phận của xã Trường Yên Thượng và Trường Yên Hạ, thuộc thị trấn Hoa Lư – Ninh Bình cách Hà Nội theo quốc lộ 1A đi khoảng 90 km đến thị trấn Hoa Lư rẽ phải 4km là tới. Cố đó nằm ở phía Nam của đồng bằng Bắc Bộ, rộng khoảng 300 ha được bao quanh bởi hàng loạt núi đá vòng cung, cảnh quan hùng vĩ. Khoảng trống giữa các sườn núi được xây kín bằng đất ken gạch, chân thành có gạch bó, đắp cao từ 8-10 mét. Kinh đô Hoa Lư bao gồm Thành Ngoại, Thành Nội và Thành Nam. Thành Ngoại rộng khoảng 140 ha thuộc địa phận thôn Yên Thành xã Trường Yên. Ðây là cung điện chính mà khu vực đền Ðinh, đền Lê là Trung tâm và cũng chính là nơi vua Ðinh Tiên Hoàng cắm cờ nước. Trước cung điện có núi Mã Yên tương truyền vua Ðinh lấy núi làm án. Thành Nội thuộc thôn Chi Phong, xã Trường Yên có tên là Thư Nhi xã, nơi nuôi trẻ em và những người giúp việc trong cung đình. Thành Nam (thành ở phía Nam, từ hang luồn trở vào trong, nằm đối diện và nối liền với khu Thành Ngoại). ở đây xung quanh có núi cao bao bọc, án ngữ phía Nam kinh thành, bảo vệ mặt sau, từ đây bằng đường thuỷ có thể nhanh chóng rút ra ngoài. Phía Ðông kinh thành có núi Cột cờ, nơi có lá quốc kỳ Ðại Cồ Việt, có ghềnh tháp-nơi vua Ðinh duyệt thuỷ quân, hang Tiền nơi lưu giữ tài sản quốc gia, động Thiên Tôn- tiền đồn của Hoa Lư và là hang nhốt hổ, báo để xử kẻ có tội. Ðến đời Lê Hoàn đã cho xây thêm nhiều cung điện lộng lẫy: điện Bách Thảo Thiên Tuế, điện Phong Lưu ở phía Ðông, điện Vinh Hoa ở phía Tây, điện Bồng Lai bên tả, điện Cực Lạc bên hữu, lầu Hoả Vân và điện Trường Xuân, điện Long Lộc được lợp ngói làm bằng bạc Năm 1010 vua Lý Thái Tổ dời kinh đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về Thăng Long( Hà Nội). Hoa Lư trở thành cố đô.”Hoa Lư là nơi núi non trùng điệp. Núi trong sông, sông trong núi. Căn cứ thủy bộ rất thuận tiện. Sau lưng là rừng, trước mặt là đồng bằng, xa nữa là biển cả… Nơi đây non sông tráng lệ, phong thủy hài hòa, xứng đáng chọn để dựng đô được.” Đền vua Đinh, vua Lê: Đền vua Đinh Tương truyền đền được xây dựng vào đầu thời Lý. Lúc đầu đền quay về phía Bắc trông ra núi Thời, núi Chẽ nằm trong khu vực kinh đô xưa. Đền đã được tu sữa nhiều lần. Đầu thế kỷ XVII, Phong quận công Bùi Thời Trung đã xây dựn lại ngôi đền như cũ nhưng quay về phía Đông. Đến năm 1676 nhân dân lại hưng công trùng tu. Năm 1898 cụ Bá kiến Dương Đức Vĩnh đã cho trùng với quy mô lớn. Đền vua Đinh mang kiến trúc mỹ thuật thười Lê và thời Nguyễn theo kiến trúc “nội Công, ngoại Quốc”, đường đi lát chữ “Vương”, phỏng theo cung điện xưa Ngườiọ môn quan: mặt trong có 4 chữ “Tiền triều phượng khuyết”, phía ngoài “Bắc môn tỏa thuộc” Nghi môn quan, long sàng và có hai con nghê tạc bằng đá xanh, bên trái có nhà vọng là nơi các cụ bàn việc tế l, bên phải có nhà Khải Thánh thờ cha mẹ vua Đinh, giữa vườn hoa có chữ “Quốc”. Qua nghi môn nội là sân tế, đặt long sàng bằng đá có kích thước dài 1,8m rộng 1,4m, cao 0,95m. Long sàng được chạm khác rồng, mây tinh xảo, mang phong cách nghệ thuật điêu khắc thười Lê. Đền có 3 tòa nhà là bái đường, thiêu hương, thượng điện làm theo kiểu chồng rường hạ kẻ. Tất cả các đầu dư, kẻ bẩy, cốn đều được chạm khắc tinh xảo. Bái đườn có bức đại tự “Chính thống thủy” Ở chính cung có câu đối ca ngườiợi sự thống nhất đất nước của vua Đinh Tiên Hoàng: “Ngã Nam Đế Thống Đệ nhất ký Trường Yên Miếu mạo vạn thiên niên” Đền vua Lê Về lịch sử kiến trúc gần giống đền vua Đinh. Tuy nhiên không được trùng tu vào cuối thể kỷ XIX như đên vua Đinh nên về hình thức và trang trí có nhiều hạn chế. Đền bao gồm bộ phận kiến trúc và điêu khác như sập đá, nghi môn ngoại, tiếp đến là Từ Vũ – nơi thờ Khổng Tử, hòn non bộ dáng “phượng vũ”, ao sen. Nghi môn nội, hai bên có “nhà vọng” đẻ các cụ bàn việc tế lễ. Giữa có hòn non bộ dáng “phượng vũ” và “phượng ấp”. Giáp nhà vọng là nhà vọng là nha bia Qua cột đồng trụ là sân rồng, giữa sân có sập “Long sàng” bằng đá tượng trưng nơi vua ngự triều, xung quanh có hàng cột để cắm bát bửu, cờ, khí trong các ngày hội, tượng trưng thứ bậc các quan. Đền có ba tòa là bái đường, thiêu hương và chính cung. Đền vua Lê tuy không được trùng tu bằng đền vua Đinh nhưng còn giữ được nhiều mảng điêu khắc thời hậu Lê. Quy hoạch du lịch: Lượng khách đến Ninh Bình năm 2009 là 2.390.905 lượt khách, trong đó khách quốc tế: 601.785 lượt khách, khách nội địa: 1.789.120 lượt khách. Tính riêng 6 tháng đầu năm 2010, toàn ngành đón 2.304.357 lượt khách, đạt 145,55% so với cùng kỳ năm 2009. Trong đó khách quốc tế: 45.987 lượt, khách nội địa: 138.155 lượt, đạt 155,59 % so với cùng kỳ năm 2009. Cơ sở lưu trú du lịch đến nay toàn tỉnh đã có 126 cơ sở lưu trú du lịch với 2.377 phòng ngủ. Chiến lược và quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2010 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đã xác định Hoa Lư – đền vua Đinh, vua Lê, một bộ phận quan trọng của Di sản Cố đô Hoa Lư – đền vua Đinh, vua Lê, là điểm đến quan trọng trong hệ thống các khu du lịch quốc gia. Điều này là minh chứng khẳng định về những giá trị đặc biệt ở tầm quốc gia của quần thể Cố đô Hoa Lư – Tràng An từ góc độ du lịch. Phát triển du lịch Cố đô Hoa Lư – đền vua Đinh, vua Lê có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với du lịch Ninh Bình mà còn đối với hoạt động phát triển du lịch của Trung tâm du lịch Hà Nội và phụ cận – một trong bảy khu vực trọng điểm du lịch của cả nước, đã được xác định trong quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam. Đặc biệt du lịch Hoa Lư – đền vua Đinh, vua Lê có mối liên hệ mật thiết với du lịch Thủ đô thông qua hoạt động phát triển du lịch “trục” lịch sử Cố đô Hoa Lư – Thăng Long – Hà Nội. Điều này còn có ý nghĩa hơn khi phát triển văn hoá – lịch sử được xác định là định hướng ưu tiên trong chiến lược phát triển du lịch Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh du lịch Việt Nam hội nhập tích cực với du lịch khu vực và quốc tế. Với các giá trị tài nguyên du lịch đã được khẳng định của mình, Cố đô Hoa lư – đền vua Đinh, vua Lê, nhìn nhận trong mối quan hệ phát triển với khu tâm linh – thắng cảnh chùa Bái Đính và khu bảo tồn đất ngập nước Vân long, có thể phát triển được những sản phẩm du lịch đặc thù, hấp dẫn tầm cơ quốc gia và khu vực. Những sản phẩm du lịch này có thể bao gồm: Tham quan công viên văn hoá lịch sử nơi du khách được tìm hiểu về những giá trị lịch sử và cảm nhận những giá trị văn hoá của một thời kỳ “vàng son” trong lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam. Tham quan công viên địa chất để tìm hiểu lịch sử phát triển khu vực, thưởng ngoạn những giá trị cảnh quan của “Hạ Long trên cạn”, khám phá những bí hiểm và vẻ đẹp của hệ thống hang động Tham quan cảnh quan, tìm hiểu các giá trị của các hệ sinh thái đất ngập nước, hệ sinh thái rừng nhiệt đới trên núi đá vôi với những cơ hội quan sát các loài sinh vật quý hiếm, đặc biệt là loài Voọc quần đùi trắng, trong tự nhiên; tham gia các hoạt động lễ hội, tâm linh tại khu chùa Bái Đính, chùa Địch Lộng, chùa Bích Động, điện Thái Vi, đền vua Đinh – Lê, v.v. Tham quan và trải nghiệm cuộc sống đời thường của người dân ở vùng làng quê điển hình vùng đồng bằng sông Hồng và tham quan các làng nghề truyền thống…v.v… Việc phát triển những sản phẩm du lịch đặc sắc này sẽ góp phần thực hiện mục tiêu đa dạng hoá và nâng cao tính hấp dẫn, cạnh tranh của du lịch Việt Nam, tương xứng với vai trò của du lịch Hoa Lư – đền vua Đinh, vua Lê đã được xác định trong chiến lược và quy hoạch tổng thể phát triển du lịchViệt Nam. Quan trọng hơn, những sản phẩm du lịch này sẽ đáp ứng được nhu cầu của du khách quanh năm, góp phần hạn chế “tính mùa” – một trong những hạn chế điển hình trong hoạt động du lịch ở khu vực phía Bắc; hấp dẫn nhiều hơn khách du lịch đến với Việt Nam nói chung và Ninh Bình nói riêng, qua đó góp phần tăng trưởng kinh tế, tạo thêm nhiều việc làm, nâng cao thu nhập cho cộng đồng, đồng thời phát huy có hiệu quả những giá trị văn hoá, lịch sử mà các thế hệ ông cha đã gây dựng nên và truyền lại cho thế hệ con cháu ngày nay. Để phát triển du lịch Hoa Lư – đền vua Đinh, vua Lê tương xứng với vị trí của mình trong chiến lược phát triển du lịch Việt Nam với những tiềm năng du lịch đặc biệt ở khu vực này, cần lưu ý một số vấn đề sau: Trên cơ sở Đề án “Quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy quần thể di tích lịch sử Cố đô Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình”, cần tiến hành quy hoạch điểm đến du lịch Hoa Lư – đền vua Đinh, vua Lê một cách khoa học, trên quan điểm bền vững trong mối quan hệ phát triển du lịch chung với khu vực tâm linh cảnh quan chùa Bái Đính và khu bảo tồn đất ngập nước Vân Long, vùng đồng bằng sông Hồng, đặc biệt là trung tâm du lịch Hà Nội và phụ cận. Ngoài những nội dung nghiên cứu quy hoạch lãnh thổ, cần hết sức lưu ý đến những nội dung quy hoạch có tính chuyên ngành, đặc biệt là định hướng phát triển các sản phẩm du lịch văn hoá, du lịch sinh thái đặc thù, có chất lượng cao. Trong quá trình xác định hệ thống sản phẩm du lịch của Hoa Lư – đền vua Đinh, vua Lê cần lưu ý tránh trùng lặp với những sản phẩm du lịch ở những vùng phụ cận trên địa bàn tỉnh Ninh Bình nói riêng và ở vùng đồng bằng sông Hồng nói chung vì điều này sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến khả năng thu hút khách và qua đó ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư, phát triển du lịch bền vững ở khu vực này. Trong quá trình thực hiện quy hoạch, cần hết sức lưu ý về mối quan hệ đối với hoạt động phát triển của các ngành kinh tế cũng như sự phát triển đô thị. Cần phát hiện những tác động hiện tại và tiềm năng của các hoạt động trên, đặc biệt là hoạt động khai thác, sản xuất vật liệu xây dựng và phát triển đô thị đối với hoạt động du lịch để từ đó có những giải pháp, kiến nghị phù hợp nhằm hạn chế những tác động này, đảm bảo cho phát triển du lịch bền vững ở Hoa Lư – đền vua Đinh, vua Lê. Là một khu du lịch phát triển trên cơ sở khai thác các giá trị văn hoá – lịch sử, cảnh quan – sinh thái, việc đảm bảo môi trường cho phát triển bền vững cần được đặt ra ngay từ đầu bởi những giá trị du lịch này rất nhạy cảm, dễ biến đổi dưới tác động của hoạt động du lịch và của hoạt động kinh tế – xã hội. Để đảm bảo phát triển du lịch bền vững ở Hoa Lư – đền vua Đinh, vua Lê, một yếu tố quan trọng cần được đưa vào nội dung quy hoạch là xây dựng đề xuất chính sách và các giải pháp cụ thể để phát triển du lịch phải gắn với bảo tồn các giá trị văn hoá – lịch sử, cảnh quan – sinh thái; tạo điều kiện cho cộng đồng được tham gia tích cực vào hoạt động du lịch. Ngay từ bây giờ, vấn đề đào tạo để có đội ngũ lao động du lịch đủ năng lực đáp ứng được yêu cầu phát triển du lịch Hoa Lư – đền vua Đinh, vua Lê – điểm đến du lịch văn hoá lịch sử và cảnh quan sinh thái tầm cỡ quốc gia và khu vực, cần được đặt ra. Doanh thu và lượng khách du lịch đến Ninh Bình Năm 2009 Các Chỉ tiêu 2008 2009 So sánh% Lượt khách: 1.900.888 2.390.905 125,78 – Quốc tế: 584.400 601.785 102,97 – Nội địa: 1.316.488 1.789.120 135,90 Tổng doanh thu (Triệu đồng) 162.100 250.134 154,31 Nộp ngân sách (Triệu đồng) 16.150 25.350 156,97

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khảo Sát Quy Hoạch Khu Du Lịch Quốc Gia Mộc Châu Và Cao Tốc Hòa Bình
  • Thông Tin, Bản Đồ Quy Hoạch Tỉnh Khánh Hòa 2022
  • Điều Chỉnh Quy Hoạch Tổng Thể Phát Triển Du Lịch Tỉnh Khánh Hòa Đến Năm 2010 Và Định Hướng Đến 2022
  • Quy Hoạch Du Lịch Hội An: Nỗ Lực Thu Hút Nđt Địa Phương
  • Quy Hoạch Chung Tp.hội An: Cân Bằng Giữa Bảo Tồn Và Phát Triển
  • Quy Hoạch Phát Triển Du Lịch Ninh Bình

    --- Bài mới hơn ---

  • Quy Hoạch Chi Tiết Hai Bờ Sông Hương Ở Huế: Góp Phần Phát Triển Bền Vững Đô Thị Huế
  • Phê Duyệt Quy Hoạch Phân Khu Đô Thị Du Lịch Phong Nha Quảng Bình
  • Băm Nát Quy Hoạch Sapa: Ai Là Người Chịu Trách Nhiệm?
  • Phê Duyệt Quy Hoạch Phát Triển Du Lịch Sapa
  • Quy Hoạch Sapa Trở Thành Trung Tâm Du Lịch Nghỉ Dưỡng Quốc Tế
  • Với địa thế thuận lợi cùng với nền lịch sử lâu đời, nơi đây còn từng là kinh đô đầu tiên của nước ta nên là nơi hội tụ nhiều yếu tố chính trị, văn hóa, kinh tế của nước ta thời xưa.

    Du lịch của Ninh Bình có nhiều tiềm năng để phát triển mạnh mẽ

    Ninh Bình còn chứa đựng nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được thế giới công nhận đó lại là một thế mạnh nữa khiến Ninh Bình trở thành nơi có nguồn tài nguyên du lịch lớn. Việc quy hoạch và phát triển du lịch Ninh Bình không những giúp nền du lịch của nước ta được đẩy mạnh trên thế giới mà còn giúp cải thiện nền kinh tế chính trị của tỉnh thành phố và của toàn thể đất nước.

    Nền du lịch của Ninh Bình đã phát triển từ cách đây rất lâu, lượng khách đến với Ninh Bình ngày một đông hơn, với ngân sách thu lại ngày một nhiều. Theo thống kê của một số cơ sở, Ninh Bình, Hà Nội và Hạ Long đang là những điểm du lịch có lượng khách đến nhiều nhất khu vực đồng bằng Sông Hồng và duyên hải.

    Theo một số thông tin quy hoạch tầm đến năm 2030 Ninh Bình sẽ trở thành thành phố du lịch với một số vùng tại Ninh Bình sẽ trở thành thị trấn như Vân Long. Bên cạnh đó, ngành du lịch được tính đề cập đến như một ngành mũi nhọn của Ninh Bình, mà trong những năm gần đây các công trình tu sửa và những cảnh quan đã được chú trọng gìn giữ và bảo tồn hơn.

    Cụ thể về định hướng các sản phẩm quy hoạch chủ yếu tập trung vào nhóm các danh lam thắng cảnh, những nơi du lịch văn hóa tâm linh, khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, khu vui chơi giải trí và thể dục thể thao, khu du lịch sinh thái biển và phát triển một số các dịch vụ khác.

    Trọng tâm của dự án quy hoạch phát triển du lịch Ninh Bình là vào trung tâm tỉnh Ninh Bình, bên cạnh đó hỗ trợ phát triển một số vùng có tiềm năng khác ở đây. Một lý do khiến Ninh Bình trở thành nơi tiềm năng về du lịch là những thắng cảnh và di tích lịch sử lâu đời được thế giới công nhận.

    • Khu di tích lịch sử Cố đô Hoa Lư được công nhận là một trong những nơi chứa những di tích lịch sử quan trọng của đất nước như: đền thờ những vị vua, công chúa bên cạnh đó là những động và ngôi chùa cổ kính có lịch sử lâu đời.
    • Khu văn hóa tâm linh núi: Nơi đây chứa nhiều ngôi chùa có tuổi đời dài theo lịch sử như chùa Bái Đính, được công nhận là một trong những ngôi chùa lớn trên thế giới,

    • Kiến trúc nhà thờ lớn: hệ thống 9 nhà thờ được kết hợp với nhau cùng đó là những kiến trúc hòa quyện giữa cổ xưa và hiện đại tạo nên sự độc đáo đầy mới mẻ.
    • Nơi đây có hệ thống du lịch sinh thái cảnh quan đa dạng, phong phú, với nhiều động thực vật và thảm thực vật quý hiếm
    • Hệ thống nước tự nhiên, cùng những con sông, dòng nước, hồ nước và thung lũng đẹp mê lòng người.
    • Hệ thống núi trùng điệp kèm với cảnh quan hang động đan xen những công trình cổ xưa và hiện đại khiến nơi đây trở thành nơi được nhiều người mê đắm, tò mò.
    • Những lễ hội truyền thống có từ lâu đời như lễ hội chùa Bái Đính, lễ hội Tràng An… ở nơi đây có tổng cộng 443 lễ hội hàng năm.
    • Nhiều làng nghề truyền thống như làng nghề cói, làng thêu, làng hoa, làng nghề đá mỹ nghệ và rất nhiều làng nghề khác.

    Bên cạnh những di tích lịch sử và hệ sinh thái đa dạng, Ninh Bình còn được biết đến với những cử chỉ thân thiện thái độ mến khách của người dân nơi đây, những đặc sản nổi trội và những món quà đặc trưng:

    • Nơi nghỉ dưỡng, khách sạn giá cả hợp lý với từng nhu cầu sử dụng của từng người, hệ thống quản lý và không gian đẹp.
    • Người dân cởi mở, mến khách, giản dị và cần cù chịu khó.
    • Nơi đây được biết đến với nhiều món ăn đặc sản như thịt dê, cá rô, cơm cháy, rượu kim sơn và rất nhiều các loại đặc sản ngon khác..

    Hệ thống giao thông nối với Ninh Bình cũng khá thuận lợi. Du khách có thể chọn lựa cho mình phương tiện đi lại hợp lý nhất, để tới Ninh Bình bạn cũng có thể đi xe khách, tàu hỏa hay xe máy nếu bạn gần…

    Việc phát triển khu du lịch Ninh Bình theo các ban lãnh đạo nhằm khai thác hiệu quả những lợi thế về tiềm năng du lịch, phát triển theo hướng chuyên nghiệp, tạo ra những sản phẩm du lịch độc đáo có tính đặc thù, chất lượng cao, bên cạnh đó phải gắn với công tác bảo tồn, phát huy các giá trị tự nhiên, các giá trị văn hóa lịch sử. Phải đảm bảo về vấn đề môi trường; an ninh, quốc phòng và phát triển bền vững.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phát Triển Du Lịch Biển Bền Vững Tại Thị Xã Cửa Lò Nghệ An
  • Thông Qua Quy Hoạch Chi Tiết Một Số Phân Khu Thuộc Khu Trung Tâm Du Lịch Mộc Châu
  • Cần Ưu Tiên Xây Dựng Chiến Lược Và Quy Hoạch Du Lịch Việt Nam
  • Tra Cứu Bản Đồ Quy Hoạch Đất Khánh Hòa 2022
  • Hội An: Cấp Thiết Quy Hoạch Lại Mạng Lưới Lưu Trú
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100