Khai Thác Tài Nguyên Du Lịch Vùng Tây Bắc

--- Bài mới hơn ---

  • Tài Nguyên Du Lịch Là Gì? Các Cách Phân Loại Tài Nguyên Du Lịch
  • Tổng Quan Về Đà Nẵng
  • Tìm Hiểu Du Lịch Tỉnh An Giang
  • Địa Du Lịch An Giang
  • Vĩnh Phúc Phát Triển Du Lịch Đặc Trưng Bền Vững
  • Cánh đồng lúa Cao Phạ (Mù Cang Chải, Yên Bái) là điểm thu hút nhiều khách du lịch đến tham quan. Ảnh: THANH CHƯƠNG

    Chiếm một phần ba diện tích cả nước với số dân gần 11 triệu người, Tây Bắc là nơi sinh sống của hơn 30 dân tộc anh em với không gian văn hóa rộng lớn, phong phú. Nơi đây được thiên nhiên ban tặng nhiều cảnh quan hùng vĩ và hệ sinh thái đa dạng như cao nguyên đá Đồng Văn, ruộng bậc thang Mù Căng Chải, Hoàng Su Phì, đỉnh Phan-xi-păng, đèo Mã Pí Lèng…; và nhiều di tích lịch sử nổi tiếng như Đền Hùng, Đền Thượng, Khu di tích Pác Bó, Tân Trào, ATK Định Hóa… Bên cạnh đó, một nền văn hóa phong phú đậm đà bản sắc các dân tộc được thể hiện qua những phong tục tập quán: lễ hội Lồng Tồng, Chợ Tình Khau Vai, Xên Bản, Xên Mường…; qua các điệu dân ca, dân vũ như múa sạp, múa xòe, hát then…; qua kiến trúc nhà ở, trang phục, nhạc cụ… Tây Bắc còn là nơi sở hữu hai di sản văn hóa phi vật thể của thế giới là hát Xoan và Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương. Có thể nói, mảnh đất trù phú này vẫn đang tiềm ẩn nhiều bất ngờ, thú vị. Những năm qua, nhờ sự quan tâm, tạo điều kiện của các cấp, ngành và địa phương, du lịch Tây Bắc đã có sự tăng trưởng đáng mừng về lượng khách quốc tế và nội địa với mức tăng trung bình hơn 10%/năm. Năm 2013, số lượt khách quốc tế đến Tây Bắc đạt 1,2 triệu lượt (chiếm 16% trong 7,57 triệu lượt khách quốc tế đến Việt Nam, tăng gần ba lần so với năm 2005); lượng khách nội địa đạt hơn 6,5 triệu lượt trong tổng số 35 triệu lượt khách du lịch nội địa cả nước. Năm 2014, Tây Bắc đón 8,7 triệu lượt khách, trong đó khách quốc tế là 1,5 triệu lượt. Năm 2022 số khách du lịch đạt 8,9 triệu lượt, khách quốc tế đạt 1,6 triệu lượt.

    Những năm qua, dù sản phẩm du lịch các địa phương đã hoàn thiện hơn nhưng giao thông trong vùng còn chưa đồng bộ. Mạng lưới giao thông đường bộ hiện nay đã trải nhựa, thông suốt nhưng chất lượng không đều. Các địa phương cũng không quan tâm đến đường thủy trên sông Gâm, sông Năng, sông Đà dài hàng trăm km. Đây là rào cản lớn đối với sự phát triển của du lịch địa phương, đồng thời làm ảnh hưởng đến sự hợp tác chung của cả khu vực, điều này cần sớm khắc phục. Bà Trần Thị Việt Hương – Giám đốc Ban tiếp thị Vietravel cho biết, khách đi tua Tây Bắc thông qua Vietravel có sự tăng trưởng mạnh trong những năm qua. Mùa thấp điểm mỗi tuần có hai, ba đoàn; mùa cao điểm dễ xảy ra hiện tượng cháy phòng. Do đó, doanh nghiệp mong muốn có mức giá ổn định hơn. Địa phương cũng cần tăng cường đầu tư về phòng khách sạn ở mức hai, ba sao là phù hợp nhất. Về truyền thông, Tây Bắc nên có những phim chuyên đề về thiên nhiên, ẩm thực, con người để doanh nghiệp mang đi chiếu tại các hội chợ quốc tế; phối hợp các đại sứ quán nhằm giới thiệu văn hóa vùng Tây Bắc tới các thị trường ngoài nước.

    Vấn đề đồng bộ hạ tầng, liên kết phát triển là những nội dung sẽ sớm được thực hiện với sự vào cuộc quyết liệt của chính quyền và doanh nghiệp; nhưng làm thế nào để phát triển du lịch mà vẫn giữ được văn hóa bản địa, môi trường tự nhiên trong cuộc sống của người dân mới là thách thức. Đây cũng là băn khoăn của Tổng Cục trưởng Du lịch Nguyễn Văn Tuấn, bởi theo ông, văn hóa bản địa vùng là cơ sở để địa phương xây dựng những sản phẩm du lịch đặc trưng, từ đó xây dựng tuyến liên kết, tạo động lực phát triển du lịch vùng. Tây Bắc cần chú trọng phát triển loại hình du lịch homestay để không phá vỡ không gian của người dân, thành lập bộ phận chuyên nghiên cứu về du lịch Tây Bắc và bộ sản phẩm; từ đó thu hút các nhà đầu tư chiến lược. Đặc biệt, đầu tư cho hạ tầng Tây Bắc được phát triển, đồng bộ là điều đáng quan tâm.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Điểm Du Lịch Hấp Dẫn Tại Sơn La
  • Ba Lĩnh Vực Hứa Hẹn “hái Ra Tiền” Của Du Lịch Nghệ An
  • Luận Văn Thu Hút Khách Du Lịch Quốc Tế: Nghiên Cứu Cho Trường Hợp Việt Nam
  • Dịch Vụ Sửa Máy Ảnh, Sửa Máy Quay Uy Tín, Giá Rẻ Nhất Tại Hà Nội
  • Bảng Giá Vệ Sinh Lens, Máy Ảnh, Máy Quay.
  • Tài Nguyên Du Lịch Là Gì? Đặc Điểm, Phân Loại Tài Nguyên Du Lịch

    --- Bài mới hơn ---

  • Địa Du Lịch An Giang – Tiềm Năng Cần Được Khai Thác
  • Một Số Vấn Đề Liên Quan Đến Phát Triển Sản Phẩm Du Lịch Tỉnh An Giang – Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch (Itdr)
  • Việt Nam : Du Lịch Ninh Bình Và Lợi Thế Quần Thể “Hạ Long Trên Cạn”
  • Sở Ngoại Vụ Tỉnh Vĩnh Phúc
  • Tổng Quan Về Du Lịch Hà Nội
  • 5

    /

    5

    (

    6

    bình chọn

    )

    1. Khái niệm tài nguyên du lịch là gì?

    Tài nguyên du lịch là khách thể của du lịch và là cơ sở phát triển của ngành du lịch. Theo định nghĩa trong Luật Du Lịch, chương II Tài nguyên du lịch, điều 13: “Tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn đang được khai thác và chưa được khai thác.”

    Theo đó, tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thuỷ văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch.

    Các dạng tài nguyên du lịch nhân văn như truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, di tích lịch sử, văn nghệ dân gian, khảo cổ học, kiến trúc học,… được sử dụng để phục vụ mục đích du lịch.

    2. Phân loại tài nguyên du lịch

    Người ta chia ra 3 loại tài nguyên du lịch, đó là: Tài nguyên du lịch thiên nhiên, tài nguyên du lịch nhân văn và tài nguyên du lịch xã hội.

    Tài nguyên du lịch thiên nhiên: Đó là các điều kiện và địa hình tự nhiên ban tặng cho con người như khí hậu, địa hình, phong cảnh,… v.v

    Tài nguyên du lịch nhân văn: Đó là các vật thể và tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể, những di sản do con người tạo ra qua nhiều thế hệ, cụ thể: 

    • Tài nguyên du lịch nhân văn vật thể: di tích lịch sử, các công trình kiến trúc, văn hóa, nghệ thuật,… 

    • Tài nguyên nhân văn phi vật thể: các truyền thống lịch sử, văn hoá dân tộc, các phong tục tập quán, các loại hình nghệ thuật truyền thống,… v.v.

    Tài nguyên du lịch xã hội: Đó là các sự kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội do con người đương đại tổ chức tạo ra sức hấp dẫn để thu hút khách du lịch. Ví dụ như: các sự kiện thể thao thế giới, các cuộc thi hoa hậu thế giới và khu vực, các hội nghị chính trị – kinh tế (Hội nghị thượng đỉnh ASEAN, Hội nghị APEC),…. v.v.

    Về phía các nhà khoa học, tài nguyên du lịch cũng chia ra làm hai loại, đó là tài nguyên du lịch hiện thực và tài nguyên du lịch tiềm năng còn chưa khai phá.

    Tìm hiểu ngay Khách du lịch là gì, các nghiên cứu thống kê về khách du lịch để có cái nhìn khách quan về mối liên hệ giữ tài nguyên du lịch và khách du lịch.

    3. Đặc điểm của tài nguyên du lịch

    Tải nguyên du lịch bao gồm các nguồn tài nguyên và diện tích phân bổ các nguồn tài nguyên, chúng là cơ sở cần thiết để xác định những tiềm năng của lãnh thổ và khả năng khai thác du lịch, nghỉ ngơi.

    Thời gian khai thác xác định tính mùa vụ của du lịch và nhịp điệu của dòng khách. Đặc điểm của lãnh thổ là điều khó thay đổi, đó chính là yếu tố tạo nên lực hút cơ sở hạ tầng và dòng khách du lịch đến khám phá tài nguyên đó.

    Để đầu tư cho các loại tài nguyên du lịch, chúng ta chỉ cần một khoản vốn nhỏ, chi phí sản xuất thấp lại xây dựng nhanh mang lại hiệu quả kinh tế cao. Hơn nữa, tài nguyên du lịch còn có khả năng tái sử dụng nhiều lần nếu thực hiện các biện pháp bảo vệ và tuân theo các quy định về sử dụng tài nguyên.

    Tài nguyên du lịch có vai trò vô cùng quan trọng đối với việc khai thác và thu hút du lịch. Tài nguyên du lịch càng phong phú, càng đặc sắc bao nhiêu thì sức hấp dẫn và hiệu quả hoạt động du lịch càng cao.

    4. Các quy định của nhà nước về tài nguyên du lịch 

    Các quy định của nhà nước về tài nguyên du lịch được ghi rõ trong Luật Du lịch 2005, đặc biệt qua điều 13 đến điều 16:

    Điều 13. Các loại tài nguyên du lịch

    1. Tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn đang được khai thác và chưa được khai thác.

    Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thuỷ văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch.

    Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hoá, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch.

    1. Tài nguyên du lịch có thể thuộc sở hữu nhà nước hoặc sở hữu của tổ chức, cá nhân.

    Điều 14. Điều tra tài nguyên du lịch

    Điều 15. Nguyên tắc bảo vệ, tôn tạo và phát triển tài nguyên du lịch

    1. Tài nguyên du lịch phải được bảo vệ, tôn tạo và khai thác hợp lý để phát huy hiệu quả sử dụng và bảo đảm phát triển du lịch bền vững.

    2. Nhà nước thống nhất quản lý tài nguyên du lịch trong phạm vi cả nước, có chính sách và biện pháp để bảo vệ, tôn tạo và khai thác hợp lý tài nguyên du lịch.

    Điều 16. Trách nhiệm quản lý, bảo vệ, tôn tạo và phát triển tài nguyên du lịch

    1. Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở trung ương, các bộ, cơ quan ngang bộ, Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm quản lý tài nguyên du lịch, phối hợp trong việc bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý và phát triển tài nguyên du lịch.

    2. Cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân sở hữu, quản lý tài nguyên du lịch có trách nhiệm bảo vệ, đầu tư, tôn tạo tài nguyên du lịch, tạo điều kiện cho khách đến tham quan, thụ hưởng giá trị của tài nguyên du lịch theo quy định của pháp luật.

    3. Khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, cộng đồng dân cư có trách nhiệm bảo vệ tài nguyên du lịch.

    4. Tổ chức, cá nhân sở hữu, quản lý tài nguyên du lịch có trách nhiệm phối hợp với cơ quan nhà nước về du lịch có thẩm quyền trong việc sử dụng và khai thác tài nguyên du lịch cho các mục tiêu kinh tế khác, bảo đảm không làm giảm độ hấp dẫn của tài nguyên du lịch.

    Nếu có bất kỳ thắc mắc gì khi tìm hiểu về tài nguyên du lịch, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại: 0915 686 999 hoặc qua email: [email protected] Xin cảm ơn và hẹn gặp lại các bạn trong bài viết sau!

    Nguồn: Luận Văn Việt

    0/5

    (0 Reviews)

    Hiện tại tôi đang đảm nhiệm vị trí Content Leader tại Luận Văn Việt. Tất cả các nội dung đăng tải trên website của Luận Văn Việt đều được tôi kiểm duyệt và lên kế hoạch nội dung. Tôi rất yêu thích việc viết lách ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Và đến nay thì tôi đã có hơn 5 năm kinh nghiệm viết bài.

    Hy vọng có thể mang đến cho bạn đọc thật nhiều thông tin bổ ích về tất cả các chuyên ngành, giúp bạn hoàn thành bài luận văn của mình một cách tốt nhất!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Để Trở Thành Điểm Du Lịch
  • Dịch Thuật Tài Liệu Chuyên Ngành Du Lịch: Uy Tín, Chuyên Nghiệp
  • Lỗi Thường Gặp Ở Máy Ảnh Số Du Lịch
  • Dịch Vụ Vệ Sinh Sửa Chữa Máy Ảnh Uy Tín Giá Rẻ Nhất
  • Vai Trò Và Lợi Ích Của Sự Kiện Du Lịch
  • Tài Nguyên Du Lịch Là Gì? Các Cách Phân Loại Tài Nguyên Du Lịch

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Quan Về Đà Nẵng
  • Tìm Hiểu Du Lịch Tỉnh An Giang
  • Địa Du Lịch An Giang
  • Vĩnh Phúc Phát Triển Du Lịch Đặc Trưng Bền Vững
  • Liên Hiệp Các Hội Khkt Tỉnh Thừa Thiên Huế
  • Theo Pirojnik, 1985: “Tài nguyên du lịch là tổng thệ tự nhiên, văn hoá và lịch sử cùng các thành phần của chúng trong việc khôi phục và phát trển thể lực và trí lực của con người, khả năng lao động và sức khoẻ của họ, những tài nguyên này được sử dụng cho nhu cầu trực tiếp và gián tiếp cho việc sản xuất dịch vụ du lịch với nhu cầu thời điểm hiện tại hay tương lai và trong điều kiện kinh tế – kỹ thuật cho phép.”

    Theo Luật du lịch năm 2005 của Quốc hội Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Tài nguyên du lịch là cơ sở để phát triển ngành du lịch. Đó là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử – văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch.

    Theo Pirojnik, 1985: “Tài nguyên du lịch là tổng thệ tự nhiên, văn hoá và lịch sử cùng các thành phần của chúng trong việc khôi phục và phát trển thể lực và trí lực của con người, khả năng lao động và sức khoẻ của họ, những tài nguyên này được sử dụng cho nhu cầu trực tiếp và gián tiếp cho việc sản xuất dịch vụ du lịch với nhu cầu thời điểm hiện tại hay tương lai và trong điều kiện kinh tế – kỹ thuật cho phép.”

    Du lịch là một ngành có sự định hướng tài nguyên rõ rệt. Tài nguyên du lịch là một trong những yếu tố cơ bản, điều kiện tiên quyết để hình thành và phát triển du lịch của một địa phương. Số lượng tài nguyên vốn có, chất lượng của chúng và mức độ kết hợp các loại tài nguyên trên cùng địa bàn có ý nghĩa đặc biệt đối với sự phát triển du lịch. Vì vậy, sức hấp dẫn của một địa phương phụ thuộc rất nhiều vào nguồn tài nguyên du lịch của địa phương đó.

    2. Các cách phân loại tài nguyên du lịch

    2.1 Phân loại tài nguyên du lịch theo WTO:

    WTO phân loại tài nguyên du lịch thành 3 nhóm như sau:

    • Cung cấp tiềm năng (VH kinh điển, TN kinh điển, vận động vui chơi)
    • Cung cấp hiện tại (giao thông, thiết bị, hình tượng tổng thể)
    • Tài nguyên kĩ thuật (khả năng hoạt động, cách thức và tiềm lực khu vực)

    2.2 Phân loại theo tác giả Bùi Thị Hải Yến

    Theo Tác giả Bùi Thị Hải Yến thì tài nguyên du lịch của nước ta được phân thành 3 nhóm chính là:

      Tài nguyên du lịch nhân văn:
    • TNDL nhân văn vật thể (DSVH thế giới, di tích khảo cổ,di tích lịch sử, di tích kiến trúc, danh lam thắng cảnh, công trình đương đại, vật kỉ niệm và cổ vật).
    • TNDL nhân văn phi vật thể (DSVH phi vật thể, lễ hội, nghề và làng nghề, ẩm thực, các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học, sự kiện thể thao văn hóa).
      Tài nguyên kinh tế – kĩ thuật và bổ trợ: (đường lối chính sách phát triển du lịch, tổ chức quản lý, quy hoạch du lịch, nguồn lao động, cơ sở vật chất kĩ thuật, xúc tiến quảng bá, kết cầu hạ tầng).
    • Thiên nhiên (cảnh quan địa văn, cảnh quan thủy văn, khí hậu và sinh vật, cảnh quan tự nhiên khác)
    • Nhân văn (di tích lịch sử, điểm nhân văn hiện đại, điểm hấo dẫn nhân văn trừu tượng, hấp dẫn nhân văn khác).
    • Dịch vụ (dịch vụ du lịch, các dịch vụ khác)

    2.3 Phân loại theo Ngô Tất Hổ

    Cũng giống với tác giả Bùi Thị Hải Yên, Tác giả Ngô Tất Hổ phân tích tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm:

      Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm địa hình, khí hậu, nguồn nước, thực vật và động vật.

    Dựa vào các cách phân loại trên, tài nguyên du lịch được chia làm 2 nhóm chính là:

    2.4 Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm:

    • Các di tích lịch sử-văn hoá, kiến trúc; các lễ hội;
    • Các đối tượng gắn liền với yếu tố dân tộc học;
    • Các làng nghề thủ công truyền thống;
    • Các đối tượng văn hoá, thể thao và hoạt động nhận thức khác.
    • Khối lượng các nguồn tài nguyên và diện tích phân bổ các nguồn tài nguyên là cơ sở cần thiết để xác định khả năng khai thác và tiềm năng của hệ thống lãnh thổ, nghỉ ngơi, du lịch.
    • Thời gian khai thác xác định tính mùa vụ của du lịch và nhịp điệu của dòng khách. Tính bất biến về mặt lãnh thổ của đa số các loại tài nguyên tạo nên lực hút cơ sở hạ tầng và dòng du lịch tới nơi tập trung các loại tài nguyên đó.
    • Vốn đầu tư tương đối thấp, chi phí sản xuất không cao, xây dựng tương đối nhanh và mang lại hiệu quả kinh tế xã hội cũng như khả năng sử dụng độc lập từng loại tài nguyên.
    • Tài nguyên du lịch có khả năng sử dụng nhiều lần nếu tuân theo các quy định về sử dụng một cách hợp lý, thực hiện các biện pháp bảo vệ cần thiết.

    2.5 Tài nguyên du lịch nhân văn là gì?

    Tài nguyên du lịch nhân văn là:

    Như vậy, tài nguyên du lịch được xem như tiền đề để phát triển du lịch. Tài nguyên du lịch càng phong phú, càng đặc sắc bao nhiêu thì sức hấp dẫn và hiệu quả hoạt động du lịch càng cao.

    + Khái niệm du lịch và sản phẩm du lịch hiện nay

    + Khái niệm, đặc điểm và các loại sản phẩm du lịch biển đảo

    Nguồn: trithuccongdong.net

    Top từ khóa tìm kiếm: khái niệm tài nguyên du lịch, các loại tài nguy ên du lịch, điểm tài nguyên du lịch là gì

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khai Thác Tài Nguyên Du Lịch Vùng Tây Bắc
  • Những Điểm Du Lịch Hấp Dẫn Tại Sơn La
  • Ba Lĩnh Vực Hứa Hẹn “hái Ra Tiền” Của Du Lịch Nghệ An
  • Luận Văn Thu Hút Khách Du Lịch Quốc Tế: Nghiên Cứu Cho Trường Hợp Việt Nam
  • Dịch Vụ Sửa Máy Ảnh, Sửa Máy Quay Uy Tín, Giá Rẻ Nhất Tại Hà Nội
  • Du Lịch Tây Nguyên Có Gì Hay? Sản Phẩm Du Lịch Đặc Trưng Của Vùng Tây Nguyên

    --- Bài mới hơn ---

  • Tour Du Lịch Tây Nguyên
  • Đắk Lắk Chú Trọng Phát Triển Mô Hình Du Lịch Cộng Đồng
  • Nên Đi Du Lịch Tây Nguyên Mùa Nào Đẹp
  • Du Lịch Tây Nguyên Mùa Nào Đẹp Nhất
  • Du Lịch Tây Nguyên Nên Đi Đâu?
  • 1. Giới thiệu khái quát về du lịch Tây Nguyên

    • Vùng đất Tây Nguyên gồm 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng.
    • Tổng diện tích 54.641,0km²
    • Ở nơi này không chỉ là một cao nguyên duy nhất mà là một hệ thống cao nguyên kề sát liền nhau với độ cao từ 500- 1500m.
    • Khí hậu Tây Nguyên có hai mùa rõ rệt là mùa khô và mùa mưa. Mùa khô nóng hạn, thiếu nước trầm trọng, mùa mưa nóng ẩm.
    • Tài nguyên nước: Tây Nguyên có 4 hệ thống sông chính: Thượng sông Xê Xan, thượng sông Sêrêpôk, thượng sông Ba và sông Đồng Nai.
    • Tài nguyên đất: Đất ở Tây Nguyên được xem là tái nguyên cơ bản của vùng, thuận lợi cho phát triển nông lâm nghiệp. Đất ở đây chủ yếu là đất đỏ Bazan.
    • Tài nguyên rừng: Rừng ở đây rất giàu về trữ lượng và đa dạng về chủng loài.
    • Tài nguyên khoáng sản: khoáng sản tương đối ít, có quặng bôxít chiếm trữ lượng lớn. Bên cạnh đó còn có vàng, than, bùn,… chiếm số lượng nhỏ.

    2. Các giá trị tài nguyên du lịch ở Tây Nguyên.

    2.1 Tài nguyên tự nhiên Tây Nguyên:

    • Tây Nguyên có rất nhiều cảnh quan thiên nhiên, núi, thác nước, sông, hồ.
    • Hệ thực vật và thảm thực vật nhiều tầng phong phú. Có các cây dược liệu quý để làm thuốc. Nơi đây còn có trang trại cà phê, chè, cao su, hồ tiêu rộng lớn.
    • Hệ động vật hoang dã rất phong phú. Có tới 32 loài động vật quí hiếm như voi, bò tót, trâu rừng, hổ, gấu, công, gà lôi…
    • Tây Nguyên còn có nhiều nguồn suối nước nóng, có suối nước nóng đến 55oC như suối Ram Phia, suối Kon Nit… tập trung ở Kon Đào, Ngọc Tụ (huyện Đắk Tô, Kon Tum), Đắk Ring, Ngọc Tem (huyện Kon Plông, Kon Tum); Đạ Long (huyện Đam Rông, Lâm Đồng)… Đây là những suối có chứa rất nhiều khoáng chất có tác dụng chữa bệnh hiệu quả.

    2.2 Tài nguyên du lịch văn hóa vùng Tây Nguyên:

    • Tây Nguyên còn lưu giữ được nhiều di tích lịch sử văn hóa và cách mạng, trong đó có nhiều di tích được xếp hạng quốc gia. Đây là những tài nguyên du lịch có giá trị để khai thác phục vụ phát triển du lịch.
    • Là nơi sinh sống của 47 dân tộc anh em, trong đó có một số dân tộc bản địa như các tộc người Bân, Xơ đăng, Giẻ Triêng, Brâu, Rơ măm, M’nông, Mạ, Cơho thuộc nhóm Môn – Khmer và các tộc người Giarai, Ê đê, Churu, Raglai thuộc nhóm Nam đảo. Mỗi dân tộc mang đậm giá trị văn hóa đặc sắc và đậm đà bản sắc dân tộc.
    • Đây chính là tiềm năng để phát triển loại hình du lịch văn hóa cộng đồng, du lịch tìm hiểu bản sắc văn hóa tộc người Tây Nguyên,…

    2.3 Du lịch Tây Nguyên có các lễ hội đặc sắc

    • Lễ hội đâm trâu: Là lễ hội đặc trưng của các dân tộc Tây Nguyên, được tổ chức vào khoảng tháng 2 – tháng 3 âm lịch hằng năm. Để thể hiện lòng tôn kính của người dân với Giàng ( trời) , cảm ơn Giàng đã phù hộ cho họ một mùa nương rẫy ấm no, bội thu và cầu mong mọi điều tốt đẹp sẽ đến trong năm mới.
    • Lễ hội mừng năm mới: Được tổ chức hằng năm vào tháng 12 sau khi thu hoạch lúa nương là dịp đồng bào ăn mừng vụ mùa. Đây là lễ hội mang đậm nét văn hóa cộng đồng của các dân tộc Tây Nguyên.
    • Lễ hội Cồng chiêng Tây Nguyên: Cồng chiêng Tây Nguyên gắn bó với cuộc sống người dân Tây Nguyên từ bao đời nay, là nét đặc trưng của truyền thống văn hóa các dân tộc Tây Nguyên.
    • Không gian Văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên đã được UNESCO công nhận là kiệt tác truyền khẩu và là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.
    • Lễ hội Đua Voi: Được diễn ra vào mùa xuân, là nơi sinh hoạt văn hóa đặc trưng của Tây Nguyên, thường được tổ chức tại Buôn Đôn và bên dòng sông Sêrêpôk, nhằm nêu cao tinh thần dũng cảm cũng như khả năng thuần phục và nuôi dưỡng loài voi.
    • Lễ Cơm Mới: Lễ hội được tổ chức tại nhà riêng hoặc nhà Rông sau vụ thu hoạch của đồng bào Ba Na ở Gia Lai và Kon Tum và được tổ chức để tạ ơn thần lúa.
    • Lễ Bỏ Mả: Các dân tộc Tây Nguyên tổ chức Lễ Bỏ Mả cho người chết sau từ 1 – 3 năm. Lễ diễn ra từ tháng 1 đến tháng 3 hàng năm, sau khi đã thu hoạch vụ mùa xong.

    Lễ hội Cồng Chiêng Tây Nguyên

    3. Du lịch Tây Nguyên có gì hay?

    3.1 Du lịch Tây Nguyên vào thời gian nào ?

    • Khoảng thời gian đẹp và thích hợp nhất để du khách đến du lịch ở vùng đất Tây Nguyên là vào từ tháng 11 đến tháng 3 dương lịch.
    • Vào thời điểm gần tháng 12, nơi đây có một loại hoa dại nở vàng rực hai bên cung đường đi khiến say đắm bao du khách. Đó chính là hoa dã quỳ tràn đầy sức sống vươn mình trong nắng càng làm tô điểm thêm sắc vàng rực rỡ. Bên cạnh đó, đây cũng là khoảng thời gian người dân Tây Nguyên thu hoạch cà phê.

    3.2 Các điểm tham quan du lịch nổi tiếng ở Tây Nguyên

    Khu du lịch Buôn Đôn Buôn Mê Thuộc Tây Nguyên

    • Nằm cách trung tâm thành phố Buôn Mê Thuộc khoảng 40km, thuộc xã Krông Na, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk. Nơi đây có những câu chuyện về người tù trưởng với nghệ thuật săn voi điêu luyện, ông đã săn được hàng trăm con voi và được phong tặng danh hiệu Khujunop. Cùng với đó là được thấy những dụng cụ săn voi trong nhà sàn cổ của vị vua săn voi.
        Giá vé khu du lịch Buôn Đôn: 40.000 đồng/người lớn (miễn phí trẻ em cao dưới 1m3)
    • Đặc trưng về du lịch của vùng Tây Nguyên đó chính là voi. Đến đây, du khách không chỉ được nhìn thấy những chú voi to khỏe mà bên cạnh đó còn được chạm vào và leo lên cưỡi voi. Ngồi trên lưng những con voi được trải nghiệm cảm giác lắc lư khi đi vòng quanh tham quan Buôn Đôn. Qua đó, du khách có thể hòa mình và cảm nhận được hết nhịp sống của người dân nơi đây.
        Giá vé cưỡi voi ở Buôn Đôn: 70.000 đồng/người.
    • Tại đây còn có chiếc cầu treo vắt ngang qua sông Sêrêpôk, đi trên chiếc cầu treo sẽ cảm nhận cảm giác rung lắc mới lạ, nghe tiếng chảy của thác nước 7 nhánh và chiêm ngưỡng vẻ đẹp của thiên nhiên.
    • Nếu có dịp đến vào ngày lễ sẽ được hòa nhập cùng với người dân để trải nghiệm và thưởng thức vũ điệu cồng chiêng.
    • Đến đây, du khách sẽ được thưởng thức các món ăn dân dã mang đậm tính địa phương như: cơm lam, canh chua cá lăng, gà nướng chấm muối ớt xanh.

    khu du lịch Buôn Đôn

    Khu du lịch thác D’ray- Sap

    • Thuộc địa phận xã Đăk Sôr, huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông. Thác lại ở cách xa trung tâm thành phố và không nằm trên cung đường du lịch nên lượng khách đến tham quan ít. Nhưng thác lại mang cho mình một vẻ đẹp hoang sơ và hùng vĩ mà thiên nhiên mang đến cho Đắk Lắk
    • Con đường đi đến thác nước sẽ rất thuận tiện hơn khi trời xanh và nắng đẹp. Vì nếu trời mưa thì đường đi sẽ rất là trơn trượt. Để đến được thác nước thì đầu tiên phải bước xuống các bậc thang tuy không dài nhưng mà dốc. Bước trên những tảng đá với các hình thù khác nhau, bên cạnh đó còn nghe được thác nước đổ ầm ầm, tiếng suối chảy róc rách hòa cùng tiếng chim hót véo von. Tất cả đã tạo nên một âm thanh như tiếng gọi của thiên nhiên để cuốn hút du khách.
    • Du khách có thể ăn uống tại nhà hàng của khu du lịch và thưởng thức với các món ăn địa phương.

    Du lịch Hồ Lắk và làng Buôn Jun

    • Thuộc thị trấn Liên Sơn, huyện Lắk. Điều đặc biệt đó là hồ nước ngọt duy nhất ở vùng Tây Nguyên. Bao phủ xung quanh hồ là những cánh rừng với các hệ động thực vật đa dạng và phong phú.
    • Với làng Buôn Jun thì đây là nơi sinh sống của dân tộc M’ Nông, nơi đây du khách có thể khám phá những nét giá trị văn hóa truyền thống cúa dân tộc M’ Nông còn được lưu giữ lại.
    • Du khách có thể thả mình trôi theo dòng nước khi được ngồi trên chiếc thuyền để tham quan ngắm cảnh hồ Lắk. Thú vị nhất là cưỡi voi vượt hồ, ngồi trên lưng voi ngắm nhìn và tận hưởng.
    • Nếu du khách đi vào sáng sớm sẽ bắt gặp hình ảnh người dân họ đang chài lưới để đánh bắt cá. Hay những chiếc thuyền hối hả ngược xui vào thời điểm màn đêm gần buông xuống.

    Bảo tàng Đắk Lắk

    • Nằm ở trung tâm thành phố Buôn Mê Thuột tỉnh Đắk Lắk, đây là nơi luu giữ giá trị di sản văn hóa các dân tộc ở Tây Nguyên. Đây là công trình có kiến trúc độc đáo mang phong cách hiện đại kết hợp với truyền thống của các tộc người Tây Nguyên.
    • Nơi đây đã trưng bày các hiện vật thể hiện được bao quát giá trị đời sống văn hóa và vật chất tinh thần của người Tây Nguyên qua các dân tộc như: Ê Đê, M’ Nông và Giarai. Có các hiện vật lưu giữ qua các lễ nghi của họ như lễ mừng nông nghiệp, lễ bỏ mã,…

    Cầu treo Kon Klor

    Cầu treo Kon Klor – Tây Nguyên

    Nhà thờ Chánh Tòa Kom Tum

      Được gọi là nhà thờ gỗ vì công trình kiến trúc này được xây dựng hoàn toàn bằng loại gỗ cà chít rất đặc trưng và phủ một màu nâu ấm áp. Nét độc đáo ở đây là được thiết kế theo kiến trúc người Roman cổ điển hòa hợp với kiến trúc nhà sàn truyền thống của người đồng bào Bana. Điều này đã thể hiện sự giao thoa của văn hóa Tây Nguyên và văn hóa Châu Âu. Cho nên đã thu hút rất nhiều du khách đến tham quan và lưu giữ khoảnh khắc tại nhà thờ gỗ này.

    Hồ Tà Đùng, điểm du lịch Tây Nguyên mới nổi

    • Hồ có vị trí nằm tại 2 xã Đắk P’lao và xã Đắk Som, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông. Điều đặc biệt là trong lòng hồ có rất nhiều hòn đảo lớn nhỏ được chia ra nhấp nhô trên mặt hồ nên ví như một ” Vịnh Hạ Long thu nhỏ” trên núi. Vẻ đẹp bình yên thơ mộng đã làm say đắm biết bao du khách đến để tận hưởng và cắm trại.
    • Đừng mãi chìm đắm với vẻ đẹp thiên nhiên núi rừng mà quên thưởng thức các món ăn đậm chất núi rừng như: gà nướng cơm lam và uống nhăm nhi một chút rượu cần Tây Nguyên.

    Khu du lịch Langbiang Đà Lạt

    • Đến với khu du lịch Langbiang thì du khách không thể bỏ lỡ cảm giác được leo lên và khám phá đỉnh núi tuyệt đẹp này với bao điều thú vị.
    • Núi Lang Biang nằm về hướng Bắc, cách thành phố Đà Lạt khoảng 12km, thuộc địa phận thị trấn Lạc Dương, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng.
    • Khi đến với đỉnh núi, du khách sẽ tận hưởng cảm giác se se lạnh theo độ cao của núi và hòa quyện cùng với không khí mây trời để ngắm nhìn toàn cảnh của thành phố Đà Lạt. Với cảnh đẹp của thiên nhiên thì chắc hẳn du khách sẽ tạo ra cho mình những bức ảnh lưu lại khoảnh khắc ở đấy.
    • Không chỉ thế, khu du lịch Langbiang còn cho du khách nhiều trải nghiệm mới lạ qua các dịch vụ về trò chơi dành cho khách có nhu cầu như:
    • Về dù lượn: đây là trò chơi khá mạo hiềm dành cho những người không sợ độ cao và thích được cảm giác bay bổng trên không trung để tận hưởng hết núi rừng Đà Lạt. Điểm bắt đầu là ở đỉnh Ra-đa và kết thúc tại hồ Đan kia.
        Giá vé dù lượn: 600.000 VNĐ/ 1 lần bay.
    • Về leo núi: du khách nào đủ sức khỏe và thích trải nghiệm mới lạ thì lựa chọn hình thức chinh phục này thay vì đi bằng xe jeep lên đỉnh núi.
    • Về xe jeep: nếu du khách không đủ sức khỏe để leo núi thì xe jeep là lựa chọn thích hợp nhất để lên đến với đỉnh núi. Ngồi trên xe jeep, sẽ cảm nhận được độ dốc và quanh co của con đường núi, được tận mắt ngắm nhìn cảnh thiên nhiên núi rừng.
        Giá vé xe jeep: 480.000 VNĐ/ 1 lượt có thể đi từ 5 đến 6 người.
    • Về cưỡi ngựa: du khách sẽ được leo lên lưng những chú ngựa và thử cảm giác được làm cao bồi khi cưỡi chúng.
    • Thật tuyệt vời khi ngồi ngắm nhìn khung cảnh và thưởng thức 1 ly nước cà phê hay 1 ly nước trái cây,… tại quầy nước. Bên cạnh đó là ăn những cây xiên nướng que thơm lừng làm từ thịt của thú rừng mang đậm chất Tây Nguyên.

    Thác Datanla

    • Thác nằm cách thành phố Đà Lạt 10km. Với vẻ đẹp hoang sơ và hùng vĩ với 7 tầng, thác đã trở thành điểm du lịch không thể bỏ qua khi đến với Đà Lạt. Để xuống được chân thác thì có thể chọn đi bộ theo các bậc tam cấp quanh co hoặc du khách sẽ được trải nghiệm hệ thống máng trượt chỉ cỡ hai người trên một lần trượt. Du khách có thể điều chỉnh tốc độ nhanh chậm tùy theo ý mình và tận hưởng cảm giác trượt xuyên núi thú vị khi hai bên chỉ là cây với cây. Đến được chân thác thì du khách sẽ vỡ òa trước vẻ đep nhìn thác nước từ trên cao đổ xuống ào ạt, những âm thanh ầm ầm của thác, nghe được tiếng xào xạt của cây, tiếng chim hót véo von. Mọi thứ hòa cùng để nghe được thứ âm thanh độc đáo từ thiên nhiên và ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của thác.
      • Giá vé vào cổng: 30.000 VNĐ/ người
      • Giá vé máng trượt: 60.000 VNĐ/ người
    • Leo núi đu dây vượt thác: Đây là trò chơi cực kì nguy hiểm nên chỉ dành cho những khách có sức khỏe tốt, không sợ độ cao và có kinh nghiệm tốt khi đu dây và leo núi.
    • Chèo thuyền Kayak: Đầu tiên du khách sẽ được học những kĩ năng cơ bản để chèo thuyền. Sau đó thì thả mình vào chiếc thuyền theo dòng nước để tận hưởng cảm giác thú vị bồng bềnh trên mặt hồ.
        Giá phí chèo thuyền: 800.000 VNĐ/ người

    Thác Datanla – Đà Lạt

    4. Các món ăn đặc sản ở Tây Nguyên

      Qua những vẻ đẹp thơ mộng và hùng vĩ của núi rừng khi đến thì du khách không thể bỏ lỡ qua các món ăn đặc sản tại nơi đây. Mỗi món ăn đều mang đậm chất những hương vị đậm đà của Tây Nguyên.

    Gà nướng Cơm Lam

    • Sau khi bỏ lớp nứa và cắt ra từng khúc nhỏ, du khách sẽ cảm nhận được mùi thơm lừng của ống nứa, vị ngọt dẻo của gạo ăn cùng với chén muối vừng thơm ngon. Bên cạnh đó còn ăn kèm với gà nướng. Tất cả hòa quyện và tạo ra món ăn đặc sản Gà nướng Cơm Lam làm ngất ngây của vùng Tây Nguyên này
    • Khác với các món gà nướng mà du khách thưởng thức trong thành phố, gà nướng ở đây là gà thả vườn và được nuôi khá là kĩ lưỡng. Thế nên gà rất là chắc thịt và thơm ngon. Đặc trưng của món ăn này là người ta tẩm rất nhiều xả và phủ một lớp mật ong thơm phức lên gà . Du khách có thể ăn cùng chén muối ớt hoặc cơm lam.
    • Một số quán Gà nướng cơm lam :
      • Quán Gà Nướng PleiTiêng

          Địa chỉ: Hàn Thuyên, P. Tân Sơn, Tp. Pleiku, Gia Lai
      • Quán Cơm Lam – Gà Nướng – Rượu Cần IA GUI

          Địa chỉ: 27 Phạm Ngọc Thạch, Tp. Pleiku, Gia Lai

    Gà nướng, cơm lam

    Phở khô Gia Lai

    • Đây là món phở trộn và ăn thành hai tô chứ không phải 1 tô như các món phở ở vùng khác. Người ta đem trộn tất cả các nguyên liệu như hành phi, thịt băm và tỏi ớt lại cùng phở vào một tô. Tô còn lại là nước lèo vs thịt bò và bò viên ăn kèm với tương đen tạo ra món phở rất đặc trưng khi du khách đến với Gia Lai.
    • Một số quán ăn Phở khô ở Gia Lai :
      • Quán phở khô Ngọc Sơn

          Địa chỉ: 15 Nguyễn Thái Học, Tp. Pleiku, Gia Lai.
      • Quán phở Hồng

          Địa chỉ: 22 – 24 Nguyễn Văn Trỗi, P. Hội Thương, Tp. Pleiku, Gia Lai.

    Lẩu cá Lăng

      Thiên nhiên ưu đãi đã mang đến cho dòng sông Sêrêpôk một loại cá Lăng có thịt rất là chắc chắn, không chỉ chắc về thịt cá mà trọng lượng cũng nặng hơn cá Lăng vùng khác. Điều này đã tạo nên khác biệt của loài cá Lăng nơi đây và trở thành đặc sản của vùng Tây Nguyên. Cá Lăng có thể nấu với nhiều món khác nhau, nhưng đa số du khách đều chọn món Lẩu cá Lăng với hương vị ngon ngọt từ cá và còn có thể giúp giải nhiệt sau những chuyến tham quan.

    Bún đỏ Đắk Lắk

      Đây là món ăn vỉa hè nhưng rất là thu hút du khách. Nghe bún đỏ thì chắc chắn cọng bún ở đây sẽ màu đỏ đặc trưng. Sở dĩ có màu đỏ là do nguyên liệu từ hạt điều và gạch cua hòa quyện lại với cọng bún nên tạo ra màu đỏ. Du khách sẽ được thưởng thức cùng với thịt heo, trứng cút và tóp mỡ hòa cùng thành món bún đỏ thơm ngon hấp dẫn.

    Gỏi lá

      Đây là món gỏi với nguyên liệu chính là các loại lá rừng trộn cùng với các loại lá rau cải, tía tô, bạc hà, đinh lăng, kinh giới, lá sung, lá mơ, hành lá, rau má, diếp cá, rau húng,…Điều đặc biệt là tôm, thịt chỉ là những nguyên liệu phụ ăn kèm, cùng với chén nước chấm làm từ gạo nếp lên men thêm cả mẻ, hành phi và sa tế đã làm thành một loại nước chấm có màu vàng khác biệt béo ngậy và thơm ngon.

    Gỏi lá – Tây Nguyên

    Cà phê Chồn

    • Vùng đất Tây Nguyên nổi tiếng về cà phê. Thế nên du khách có dịp hãy đến và thưởng thức cà phê chồn. Loại cà phê này mang hương vị vô cùng độc đáo. Chính vì thế đã trở thành đặc sản cà phê chồn khi nhắc đến Tây Nguyên. Không chỉ thưởng thức tại đấy mà du khách còn có thể mua những túi cà phê chồn về dùng hoặc làm quà biếu cho người thân và bạn bè.
    • Du khách có thể thưởng thức và chọn mua cà phê chồn tại các cửa hàng bán cà phê ở Đắk Lắk.

    Rượu cần

      Nếu có dịp, du khách hãy nếm thử rượu cần. Nồng độ của rượu không cao, rất thơm và có màu vàng nhạt. Vào những dịp lễ hội, người dân sẽ đem rượu ra mời thể hiện sự mến khách. Điều độc đáo nhất là cách thưởng thức, dùng các ống cần dài để hút rượu từ những cái chum rượu. Bên cạnh đó còn có sự hò reo múa hát thể hiện nét văn hóa truyền thống của dân tộc Tây Nguyên. Tất cả hòa hợp làm cho rượu cần thêm say đắm du khách.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Du Lịch Tây Nguyên Có Gì Hay?
  • Du Lịch Tây Nguyên: Hồ Chí Minh
  • Du Lịch Tây Nguyên 3 Ngày 2 Đêm
  • Tour Du Lịch Tây Nguyên 3 Ngày 2 Đêm Khởi Hành Từ Hà Nội
  • Thưởng Ngoạn Khung Cảnh Như Mộng Tại Tây Hồ Hàng Châu
  • Tài Nguyên Du Lịch (Tourism Resources) Là Gì? Phân Loại Tài Nguyên Du Lịch

    --- Bài mới hơn ---

  • Dựa Vào Hình 31.5 (Sgk Trang 141) Và Atlat Địa Lí Việt Nam, Với Tư Cách Là Một Người Hướng Dẫn Viên Du Lịch, Hãy Giới Thiệu Tuyến Du Lịch Xuyên Việt (Tài Nguyên Du Lịch, Các Trung Tâm Du Lịch Trên Tuyến Này).
  • Git Trong Du Lịch Là Gì? Và Những Điều Cần Biết
  • Git Trong Du Lịch Là Gì? Những Điều Cần Biết Về Git
  • Mua Gối Hơi Du Lịch, Gối Chữ U, Gối Kê Cổ Giá Rẻ Tại Hà Nội
  • Gợi Ý Lịch Trình Du Lịch Đà Lạt 4 Ngày 3 Đêm Tự Túc
  • Khái niệm

    Tài nguyên du lịch trong tiếng Anh được gọi là Tourism resources.

    Tài nguyên du lịch là khách thể của du lịch và là cơ sở phát triển của ngành du lịch.

    Các nhà nghiên cứu về du lịch đưa ra khái niệm sau: Mọi nhân tố có thể kích thích động cơ du lịch của khách du lịch được ngành du lịch tận dụng để sinh ra lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội đều được gọi là tài nguyên du lịch.

    Nói một cách khác, đã là nhân tố thiên nhiên, nhân văn và xã hội có thể thu hút được khách du lịch thì gọi chung là tài nguyên du lịch. Đây là một khái niệm rất rộng và rất bao quát, rất thiết thực.

    Phân loại tài nguyên du lịch

    Người ta cũng chia ra 3 loại tài nguyên du lịch, đó là:

    – Tài nguyên du lịch thiên nhiên bao gồm khí hậu, địa hình, phong cảnh..v.v, có thể nói chung là tất cả những gì thiên nhiên ban tặng con người.

    – Tài nguyên du lịch nhân văn gồm có tài nguyên du lịch nhân văn vật thể và tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể. Đó là những di sản do con người tạo ra qua nhiều thế hệ và để lại cho các thế hệ mai sau.

    + Tài nguyên du lịch nhân văn vật thể bao gồm các di tích lịch sử, các công trình kiến trúc, văn hoá, nghệ thuật..v.v.

    + Tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể bao gồm các truyền thống lịch sử, văn hoá dân tộc, các phong tục tập quán, các loại hình nghệ thuật truyền thống..v.v.

    – Tài nguyên du lịch xã hội bao gồm các sự kiện chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội do con người đương đại tổ chức cũng tạo ra sức hấp dẫn để thu hút khách du lịch.

    Ví dụ như: các sự kiện thể thao thế giới, các cuộc thi hoa hậu thế giới và khu vực, các hội nghị chính trị – kinh tế như: Hội nghị APEC, Hội nghị thượng đỉnh ASEAN….v.v.

    Các nhà khoa học cũng chia ra làm:

    + Tài nguyên du lịch hiện thực (tức là có khả nămg khai thác)

    + Tài nguyên du lịch tiềm năng còn chưa khai phá

    Chỉ có tài nguyên du lịch hiện thực mới có giá trị du lịch và mới có thể phát triển ngành du lịch.

    Khu du lịch và điểm du lịch

    Trên cơ sở của việc phân loại các tài nguyên du lịch, các nhà kinh doanh du lịch đã xây dựng các khu du lịch, các điểm du lịch.

    – Khu du lịch: Khu du lịch là đơn vị cơ bản của công tác qui hoạch và quản lí du lịch, là không gian có môi trường đẹp, cảnh vật tương đối tập trung, là tổng thể về địa lí lấy chức năng du lịch làm chính.

    Để trở thành khu du lịch phải thoả mãn được hai điều kiện

    + Thứ nhất, tài nguyên du lịch trong khu du lịch có qui mô nhất định và tương đối tập trung.

    + Thứ hai, có cơ sở đáp ứng nhu cầu du lịch như: ăn, ở, đi lại tham quan, vui chơi giải trí, mua sắm của khách du lịch…

    – Điểm du lịch bao gồm: Cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn và các loại động thực vật; là kết quả sáng tạo do con người xây dựng nên, đó là bảo tàng, di tích cổ đại, di tích lịch sử, văn hóa nghệ thuật, du lịch nước, du lịch săn bắn, du lịch leo núi (mạo hiểm) và những nơi nghỉ mát.

    Chính phủ sẽ xác định các điểm du lịch và sự hấp dẫn về mặt du lịch tại các điểm đó.

    Xây dựng một điểm du lịch và sự hấp dẫn du lịch còn phải chú ý những điểm sau

    + Có khả năng thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa tại địa phương

    + Đảm bảo gìn giữ được các giá trị văn hóa, tín ngưỡng và phong tục tập quán đang tồn tại tại địa phương

    + Giữ gìn được môi trường sinh thái

    + Đảm bảo sự phát triển du lịch lâu dài

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giới Thiệu Thuyết Minh Về Mũi Né
  • Giới Thiệu Về Ngành Du Lịch
  • “thật Không Thể Tin Nổi” Du Lịch Bạc Liêu Điểm Đến “thật Là Tuyệt Vời”
  • Khu Du Lịch Văn Thánhcó Gì Vui?
  • Giới Thiệu Đôi Nét Về Khu Du Lịch Tràng An Ninh Bình
  • Tài Nguyên Du Lịch Quảng Bình

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Quan Du Lịch Quảng Ninh
  • Tổng Quan Khái Quát Về Du Lịch Của Tỉnh Quảng Ninh
  • Tổng Quan Du Lịch Vùng Tây Bắc Và Các Tour Giá Rẻ
  • Tổng Quan Du Lịch Thái Lan
  • Giới Thiệu Tổng Quan Về Thừa Thiên
  • Quảng Bình, dãi đất hẹp nhất trong các tỉnh duyên hải miền Trung, toạ độ địa lý ở vào 18005’12” (điểm cực Bắc); 17005’02” (điểm cực Nam); 106059’37”(điểm cực Đông); 105036’55” (điểm cực Tây). Diện tích đất liền của Quảng Bình là 8.052 km2 với vùng lãnh hải gần 20.000 km2, gồm 5 hòn đảo lớn nhỏ: Hòn La, Hòn Gió, Hòn Cọ, Hòn Nồm và Hòn Chùa.

    Phía Bắc tỉnh Quảng Bình giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía Nam giáp tỉnh Quảng Trị, phía Đông giáp biển Đông với đường bờ biển dài 116,04 km 2 và phía Tây giáp Nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào, có đường chung biên giới dài 201,87 km 2. Từ Bắc vào Nam có 5 hệ thống sông chảy ra biển với 5 cửa: sông Roòn, sông Gianh, sông Lý Hoà, sông Dinh và sông Nhật Lệ. Do địa hình ở đây cao về phía Bắc và phía Tây, thoải dần về phía Nam và phía Đông, cho nên, phần lớn các sông chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam hoặc Tây Đông. Tuy nhiên, có nơi do các cồn cát cao, tạo thành một trở lực, cho nên có sông lại chảy theo hướng Bắc.

    Phía Tây Quảng Bình là dãy Trường Sơn, ” bức tường thành khổng lồ kéo dài suốt từ phía Nam sông Cả đến tận các ngọn núi phía Bắc thung lũng sông Bung “.

    Những biến động địa chất và các vận động kiến tạo đã làm cho địa bàn khu vực Bắc Trường Sơn ” nâng lên dạng vòm, nhưng cũng chỉ làm cho dãy núi hơi chao đảo một ít phía Tây thành một nếp lồi có sườn không đối xứng, vì vậy, sườn phía Tây Trường Sơn Bắc chạy dài thoai thoải xuống Mê Công, còn sườn phía Đông thì ngắn và dốc, thành ra các sông suối chảy trên sườn này xuống biển Đông càng có điều kiện để chia cắt địa hình mạnh hơn nữa “.

    Trong tổng thể địa hình, cảnh quan của tỉnh Quảng Bình, khu vực Phong Nha – Kẻ Bàng là một di sản tự nhiên kỳ diệu mà thiên nhiên đã ban tặng cho địa bàn này.

    Phong Nha – Kẻ Bàng là một vùng núi đá vôi có diện tích chừng 10.000 km 2, độ cao trung bình khoảng 600 – 700 m tạo thành một dãy dài khoảng 50 km dọc biên giới Việt – Lào với các kiểu địa hình núi đá vôi, kiểu địa hình phi Karst, kiểu địa hình chuyển tiếp.

    Hầu hết các dòng chảy trong khu vực đá vôi Kẻ Bàng đều dồn vào các sông ngầm, len lỏi trong lòng Karst. Chỉ ở những ven rìa mới thấy xuất hiện những cánh đồng Karst có dòng chảy trên mặt với một số thung lũng nhỏ bị vây bọc bởi những vách núi đá dựng đứng.

    Hệ thống núi đá ở đây nối liền nhau trùng điệp, có nhiều ngọn núi đá với hình chóp nối dài liên tục, giữa chúng có khi gián đoạn bởi những thung lũng Karst. Núi đá trùng điệp, các thung lũng, các dòng chảy đứt quãng đột ngột xuất hiện, rồi lại biến mất và lại xuất hiện ra ở một nơi khác tạo nên những mạch nước ngầm (đồng bào quen gọi là rục nước), đã hình thành nên những sinh cảnh kỳ vĩ, trong đó có nhiều hang động nổi tiếng. Giá tri địa chất và sinh cảnh nơi đây đã vượt ra khỏi phạm vi quốc gia, thu hút sự quan tâm và ngưỡng mộ của cộng đồng quốc tế. Vì thế, tháng 7 năm 2003, Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng đã được Tổ chức UNESCO công nhận là Di sản Thiên nhiên thế giới.

    Nằm ở vị trí trung lộ của cả nước, địa bàn Quảng Bình vừa bị chia cắt mạnh về tự nhiên, vừa là khu vực tranh chấp quyết liệt giữa các thế lực thống trị trong lịch sử, lại là địa bàn tiếp nhận và chuyển tiếp các giá trị văn hoá của cả hai miền Bắc – Nam.

    Trong quá trình đấu tranh cách mạng và trong hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, lãnh thổ Quảng Bình là địa bàn diễn ra cuộc đọ sức hết sức quyết liệt và là nơi ghi dấu những chiến công hào hùng. Những người con anh hùng của Quảng Bình đã đi vào lịch sử dân tộc như anh hùng Lâm Uý, Nguyễn Viết Xuân, Mẹ Suốt,… và hàng trăm tấm gương kiên cường, dũng cảm trong chiến đấu và sản xuất được Nhà nước phong tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang và anh hùng lao động. Những địa danh nổi tiếng như sông Gianh, Nhật Lệ, đường Trường Sơn, quê hương của Đại tướng Võ Nguyên Giáp… chứa đựng trong đó rất nhiều sự tích kỳ diệu và thiêng liêng.

    Tất thảy những giá trị phong phú, đa dạng quý hiếm và độc đáo về tự nhiên, văn hoá đã hợp thành tài sản vô cùng quý giá, phục vụ phát triển kinh tế – xã hội địa phương, trong đó đặc biệt là tài nguyên du lịch.

    Tài nguyên du lịch Quảng Bình được hợp thành từ 5 thành tố:

    Tài nguyên sinh cảnh, bao gồm các hệ thống danh lam thắng cảnh như hệ Karst Phong Nha – Kẻ Bàng, thắng cảnh Hoành Sơn, vịnh Hòn La, biển Đá Nhảy, Nhật Lệ, hồ Bàu Tró, đèo Mụ Giạ, núi Thần Đinh, suối khoáng nóng Bang…

    Tài nguyên văn hoá vật thể chứa đựng trong hệ thống các di sản kiến trúc như các phế tích thành quách, đền tháp tồn tại từ thời kỳ ngự trị của văn hoá Chăm, đến các đền chùa, miếu, mạo… trong di sản kiến trúc cộng đồng người Việt.

    Tài nguyên văn hoá phi vật thể xếp lớp giá trị văn hoá các thời đại thể hiện trong rất nhiều loại hình sinh hoạt cộng đồng như các loại lễ hội, hát xướng, trò chơi dân gian, dân nhạc và các sinh hoạt cộng đồng khác.

    Tài nguyên văn hoá tộc người với sự bảo tồn các giá trị nguyên sơ của các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Việt – Mường và Môn – Khơme.

    Hệ thống hạ tầng cơ sở cho du lịch cũng là một nguồn tài nguyên đang được xây dựng theo các chuẩn tiên tiến và hiện đại, trong đó có khu nghỉ dưỡng “Sun Spa Resort”, khách sạn “Sài Gòn – Quảng Bình Tourist” đạt tiêu chuẩn 5 sao, cùng với hàng loạt các khách sạn, nhà nghỉ cao cấp, các cơ sở dịch vụ phục vụ cộng đồng như bưu điện, ngân hàng, bệnh viện, bến cảng hàng không, đường sắt, đường bộ, đường thuỷ và các cơ sở hoạt động dịch vụ vui chơi, giải trí, ẩm thực và nghỉ dưỡng khác.

    Do có nhiều lợi thế về tiềm năng và đã chú trọng dịch vụ phục vụ du khách, nên hoạt động du lịch Quảng Bình có bước tiến rất nhanh. Năm 1990 chỉ có 2.820 lượt khách du lịch nội địa, các năm tiếp theo lượng khách du lịch có tăng, nhưng chậm, chủ yếu là khách nội địa. Năm 1991 có 2.970 lượt khách, so với năm 1990 tăng 5,3%, năm 1992 có 4.072 lượt khách, so với năm 1991 tăng 37,1%. Từ năm 1993 đến 1995 và tiếp đến năm 2000 lượng khách tham quan du lịch tăng với tốc độ nhanh, đạt tới trên 250.000 khách, trong đó 1,2% là khách quốc tế.

    Trong những năm gần đây, tổng số du khách đến với Quảng Bình hàng năm lên tới 260.000 đến 280.000 lượt, đặc biệt du khách nước ngoài lên tới trên 14.000 lượt người/năm, trong đó trên 5% là khách quốc tế, tăng 80% so với đầu thập kỷ.

    Trong tổng thể nguồn tiềm năng du lịch rất phong phú và độc đáo của địa phương, ngành du lịch Quảng Bình đã chủ động đưa vào khai thác loại hình tham quan tại 2 khu du lịch chủ yếu là Vườn Quốc gia – Di sản Thiên nhiên thế giới Phong Nha – Kẻ Bàng và suối nước khoáng nóng Bang. Ngoài ra, theo xu thế tự phát, du khách đã đến với nhiều khu danh thắng và các điểm di tích lịch sử – văn hoá, các công trình kiến trúc cổ, các thành luỹ, đền đài, các khu tưởng niệm và lưu niệm các danh nhân, các địa chỉ văn hoá khác để tham quan, nghỉ dưỡng, nghiên cứu khoa học và tham gia du lịch cộng đồng. Trong thời điểm hiện tại, Quảng Bình có đủ khả năng để khai thác các loại hình du lịch sau đây:

    Tham quan và thưởng ngoạn tại các khu danh thắng Phong Nha – Kẻ Bàng, Đèo Ngang – Hòn La, Lý Hoà – Đá Nhảy, Nhật Lệ – Bảo Ninh, Bang – Thanh Sơn, Quán Hàu – Thần Đinh, Bàu Sen – Dốc Sỏi…

    Tham quan và nghiên cứu tại các di tích thuộc hệ thống đường Hồ Chí Minh huyền thoại, các di tích lịch sử phân bố trên hầu hết các địa phương thuộc địa bàn Quảng Bình.

    Tham quan và nghiên cứu hệ thống thành luỹ cổ, đặc biệt là hệ thống thành luỹ Đào Duy Từ, thành Vauban Đồng Hới, hệ thống thành luỹ Chiêm Thành như luỹ cổ Hoàn Vương, Lâm Ấp phế luỹ, thành Khu Túc (Kẻ Hạ), thành Ninh Viễn (Nhà Ngo)…

    Du lịch sinh thái tại các khu vực Karst Kẻ Bàng, Khe Net – Giăng Màn, Đảo Yến…

    Tắm nóng và chữa bệnh tại suối Bang.

    Nghỉ dưỡng và tắm biển tại biển Nhật Lệ, biển Đá Nhảy.

    Nghỉ dưỡng, tắm biển và tham gia các trò chơi, lễ hội tại Sun Spa Resort, biển Nhật Lệ, Đá Nhảy.

    Du lịch mạo hiểm tại một số điểm trong khu vực Karst Kẻ Bàng, Hang Sơn Đoòng, Hang Tối…

    Du lịch tâm linh như: Viếng mộ Đại tướng Võ Nguyễn Giáp, Đền Công Chúa Liễu Hạnh, Hang Tám Cô, Chùa Hoằng Phúc…

    – Tham quan và nghiên cứu văn hoá tộc người tại các bản của tộc người Rục (Thượng Hoá) và A Rem (Tân Trạch).

    – Du lịch cộng đồng tại một số làng văn hoá nổi tiếng như “Bát Danh hương” Lệ Sơn, La Hà, Cảnh Dương, Thổ Ngoạ, Văn La, Võ Xá, Cổ Hiền, Kim Nại và một số địa chỉ khác.

    Các hoạt động dã ngoại phục vụ các cơ quan, tổ chức kinh tế – xã hội, các đoàn thể quần chúng, các trường học tham quan, học tập thực địa và vui chơi giải trí tại các thắng cảnh, khu vực đa dạng sinh học, các di tích lịch sử văn hoá địa phương.

    Có thể nói, Quảng Bình có nhiều lợi thế để phát triển du lịch bền vững, thu hút khách trong nước và ngoài nước vào tham gia các chương trình du lịch địa phương và có lợi thế tổ chức cho khách nội địa đi du lịch ở nước ngoài. Vì vậy, ngành du lịch Quảng Bình có triển vọng phát triển mạnh trong tương lai.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Quan Du Lịch Phú Quốc
  • Giới Thiệu Chung Về Nhật Bản: Tổng Quan Đất Nước, Văn Hóa & Con Người
  • Giới Thiệu Tổng Quan Về Nhật Bản
  • Du Lịch Nha Trang 2022: Kinh Nghiệm Toàn Tập Từ A Đến Z
  • Tổng Quan Về Du Lịch Nha Trang Và Các Tour Giá Rẻ
  • Tài Nguyên Du Lịch Nhân Văn

    --- Bài mới hơn ---

  • Tour Du Lịch Đà Nẵng Với Giá Rẻ Chỉ Từ 2.050.000 Vnđ
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Cuba Cực Bổ Ích Và “siêu” Tiết Kiệm
  • Cách Làm Thủ Tục Xin Visa Du Lịch Nhật Bản Tự Túc
  • Du Lịch Khoang Xanh Suối Tiên 2 Ngày 1 Đêm Thoả Sức Tận Hưởng Thiên Nhiên Trong Lành
  • Xin Visa Du Lịch Bi
  • Posted on by tailieudulich

    2.3. Tài nguyên du lịch nhân văn (TNDLNV)

    2.3.1. Quan niệm.

    TNDLNV nói một cách ngắn gọn, là các đối tượng, hiện tượng do con người tạo ra trong suốt quá trình tồn tại và có giá trị phục vụ cho nhu cầu du lịch.

    TNDLNV có các đặc điểm sau:

    – Có tác dụng nhận thức nhiều hơn. Tác dụng giải trí không điển hình hoặc chỉ có ý nghĩa thứ yếu.

    – Việc tìm hiểu các đối tượng nhân tạo thường diễn ra trong thời gian ngắn.

    – Số người quan tâm tới TNDLNV thường có văn hoá cao hơn, thu nhập và yêu cầu cao hơn.

    – TNDLNV thường tập trung ở các điểm quần cư và thành phố lớn.

    – Ưu thế của TNDLNV là đại bộ phận không có tính mùa vụ (trừ các lễ hội), không bị phụ thuộc nhiều vào các điều kiện khí hậu và các điều kiện tự nhiên khác.

    – Sở thích của những người tìm đến TNDLNV rất phức tạp và rất khác nhau…

    2.3.2. Các loại TNDLNV.

    a. Các di sản văn hoá thế giới và di tích lịch sử – văn hoá.

    * Di sản văn hoá thế giới .

    – Các tiêu chuẩn của văn hoá thế giới (6 tiêu chuẩn).

    + Là các tác phẩm nghệ thuật độc nhất vô nhị, tác phẩm hàng đầu của tài năng con người.

    + Có ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển của nghệ thuật kiến trúc, nghệ thuật cấu tạo không gian trong một thời kỳ nhất định, trong một khung cảnh văn hoá nhất định.

    + Chứng cớ xác thực cho một nền văn minh đã bị biến mất.

    + Cung cấp một ví dụ hùng hồn về một thể loại xây dựng hoặc kiến trúc phản ánh một giai đoạn lịch sử có ý nghĩa.

    + Cung cấp một ví dụ hùng hồn về một dạng nhà truyền thống nói lên được một nền văn hoá có nguy cơ bị huỷ hoại trước những biến động không thể cưỡng lại được.

    + Có mối quan hệ trực tiếp với sự kiện, tín ngưỡng đáp ứng được những tiêu chuẩn xác thực về ý tưởng sáng tạo, về vật liệu, về cách tạo lập cũng như về vị trí.

    – Nhìn chung, các di sản văn hoá thế giới là kết tinh cao nhất của những sáng tạo văn hoá một dân tộc. Bất cứ một quốc gia nào nếu có những di tích được công nhận là di sản văn hoá thế giới thì không những là một tôn vinh lớn cho dân tộc ấy, mà còn là nguồn tài nguyên quý giá, có sức hút khách du lịch, đặc biệt là khách quốc tế.

    Hết năm 2006, trên toàn thế giới Hội đồng di sản thế giới đã công nhận được 840 di sản. Nước ta có 7 di sản thế giới, trong đó có 5 di sản văn hoá gồm cố đô Huế (công nhận năm 1993), tháp Chàm Mỹ Sơn (1999), đô thị cổ Hội An (1999) nhã nhạc cung đình Huế (2003), cồng chiêng Tây Nguyên (2005) và 2 di sản tự nhiên gồm vịnh Hạ Long (1994) và Phong Nha – Kẻ Bàng (2003).

    Trong số các di sản thế giới phải kể tới 7 kỳ quan do bàn tay khối óc con người tạo ra tập trung ở những nôi của nền văn minh nhân loại. Đây là 7 kỳ quan kỳ diệu được khắc mốc ghi tên từ thế kỷ VI sau công nguyên, như những chứng tích điển hình. Cụ thể là:

    Kim tự tháp Ai Cập.

    Vườn treo Babilon (Irắc).

    Tượng khổng lồ Hêliốt trên đảo Rốt (Hy lạp).

    Lăng mộ vua Môdôn ở Halicacnasơ (Thổ Nhĩ Kỳ).

    Đền thờ nữ thần Actêmis ở Ephedo (Thổ Nhĩ Kỳ).

    Tượng thần Rớt trong ngôi đền tại Olympia (Hy Lạp).

    Ngọn hải đăng ở Alêcxanđria (Ai Cập).

    Trong 7 kỳ quan trên, chỉ còn kim tự tháp Ai Cập là vẫn tồn tại

    * Các di tích lịch sử tích lịch sử – văn hoá

    Di tích lịch sử tích lịch sử – văn hoá là tài sản quý giá của mỗi địa phương, mỗi dân tộc, đất nước và cả nhân loại. Nó là bằng chứng trung thành, xác thực, cụ thể về đặc điểm văn hoá mỗi nước. Ở đó chứa đựng tất cả những gì thuộc về truyền thống tốt đẹp, những tinh hoa, trí tuệ, tài năng, giá trị văn hoá nghệ thuật của mỗi quốc gia. Di tích lịch sử – văn hoá có khả năng rất lớn góp phần vào việc phát triển trí tuệ, tài năng của con người; góp phần vào việc phát triển khoa học nhân văn, khoa học lịch sử. Đó chính là bộ mặt quá khứ của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia.

    Trên thế giới những kim tự tháp ở Ai Cập, chùa tháp dát vàng, bạc ở Ấn Độ, Mianma, Angcovát ở Campuchia… và trong nước với thành Cổ Loa, đền Hùng, cố đô Huế, thánh địa Mỹ Sơn… vẫn mãi là biểu tượng chói ngời cho kho tàng văn hoá dân tộc và của nhân loại.

    Được gọi chung là di tích lịch sử – văn hoá vì chúng được tạo ra bởi con người (tập thể hoặc cá nhân) trong quá trình hoạt động, sáng tạo. Thứ văn hoá ở đây bao gồm cả văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần.

    Hiện nay, một số nước trên thế giới đã có những quy định về di tích lịch sử văn hoá.

    – Theo hiến chương Vơnidơ – Italia (1996) thì di tích lịch sử văn hoá bao gồm những công trình xây dựng lẻ loi, những khu di tích ở đô thị hoặc nông thôn, là những bằng chứng của một nền văn minh riêng biệt, của một sự tiến hoá có ý nghĩa hay là một biến cố về lịch sử.

    – Ở Ai Cập (1983) cho rằng các di tích lịch sử – văn hoá là cổ vật bất động sản và động sản. Cụ thể “Được coi là cổ vật mọi động sản hoặc bất động sản được làm ra từ các nền văn minh khác nhau, hoặc một sáng tạo nghệ thuật, khoa học, văn hoá, hoặc tôn giáo của thời đại tiền sử, hoặc các thời kỳ kế tiếp nhau của lịch sử và ngược trở lên một trăm năm, khi tài sản đó có một giá trị quan trọng về khảo cổ học hay lịch sử, là chứng cứ của một nền văn minh khác nhau đã tồn tại trên đất Ai Cập, đã có với đất nước Ai Cập những qua hệ lịch sử, cũng được coi là cổ vật, kể cả các di hài người và động vật cùng niên đại với thời kỳ ấy”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tài Nguyên Du Lịch Nhân Văn Việt Nam
  • Du Lịch Sông Cầu Phú Yên Có Gì Đẹp?
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Sông Cầu, Phú Yên (Cập Nhật 08/2020)
  • Du Lịch Thái Lan Nên Đi Tour Hay Đi Tự Túc?
  • Nên Đi Du Lịch Thái Lan Theo Tour Hay Tự Túc?
  • Tài Nguyên Văn Hóa Là Đặc Sắc Của Du Lịch Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Điều Cần Lưu Ý Khi Đi Du Lịch Hà Giang Mà Bạn Cần Phải Biết
  • Top 20 Khách Sạn Nên Ở Khi Đi Du Lịch Tại Singapore Từ Cao Cấp Đến Bình Dân
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Tam Đảo 1 Ngày
  • Du Lịch Tổng Hợp: Những Địa Điểm Du Lịch Lý Tưởng Gần Seoul
  • Tour Du Lịch Hải Phòng Nha Trang 3 Ngày 2 Đêm Khởi Hành Hằng Ngày
  • Văn hóa là khái niệm rất rộng, bao trùm mọi hành vi, ứng xử của con người trong cuộc sống; trong đó có du lịch. Tài nguyên du lịch gồm tài nguyên tự nhiên và tài nguyên văn hóa.

    Tài nguyên du lịch tự nhiên cũng phục vụ nhu cầu văn hóa của con người. Ở nghĩa hẹp hơn, người ta nói nhiều đến văn hóa du lịch. Không có thuật ngữ du lịch văn hóa như một loại hình, bên cạnh du lịch sinh thái, thể thao, nghỉ dưỡng…

    Theo Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên thế giới (World Wide Fund For Nature – WWF), Việt Nam xếp 30/140 quốc gia về tài nguyên văn hóa.

    Tổ chức giải thưởng du lịch thế giới (World Travel Awards – WTA) đề cử Việt Nam là điểm đến văn hóa hàng đầu của du lịch toàn cầu. Đa phần du khách, cả trong nước và quốc tế, đều mong muốn được trải nghiệm những khác biệt về văn hóa Việt Nam và chưa được thỏa mãn.

    Du khách có phần ấm ức, thất vọng. Người trong cuộc thì vò đầu, bứt tai than “Lực bất tòng tâm” hoặc “Quân ta hại quân mình”; kiểu một người xây, mấy kẻ phá. Người xưa từng dạy “Tiên trách kỷ, hậu trách nhân”. Phải nhấn mạnh vế đầu, vế sau không đáng kể. Vấn đề là có dám nhìn thẳng vào những sự thật hay không.

    Những sự thật trần trụi

    Du lịch vốn là một phần tất yếu (chứ không phải tất cả) của văn hóa. Tổng cục Du lịch trực thuộc Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch. Thể thao cũng là văn hóa. Chữ văn hóa ở đây được hiểu theo nghĩa là nghệ thuật. Tiếng Việt phong phú đến rối ren do cách dùng tùy tiện. Trong lý lịch cá nhân, có phần “Trình độ văn hóa” thay vì “Trình độ học vấn”. Tương tự, các cụm từ “Học văn hóa”, “Bổ túc văn hóa”; phải được thay bằng “học chữ”, “học nghề” (đủ thứ).

    Trong kinh doanh, ngoài chất lượng thì yếu tố quyết định thành công là sự khác biệt tích cực. Phải viết như vậy để phân biệt với sự khác biệt dị hợm, tiêu cực. Ngon và đẹp thì tùy cảm nhận của từng người, từng vùng nhưng lạ thì dễ dàng thống nhất. “Nửa ký của lạ bằng mấy tạ của quen” là vậy. Việt Nam có rất nhiều cái lạ. Đáng tiếc là cái lạ bản sắc, tích cực thì ít được giữ gìn và phát triển. Cái lạ tiêu cực thì cứ sinh sản vô tính.

    Ai cũng biết, các cửa khẩu là ấn tượng đầu tiên của du khách về bộ mặt quốc gia cần được chăm chút. Đáng buồn vì Việt Nam vẫn có nhiều nơi đang đón khách bằng thủ tục hành chính rườm rà. Cả thái độ lẫn tinh thần phục vụ của nhân viên đều có vấn đề, chưa kể trình độ ngoại ngữ; khác hẳn với sự thân thiện của người dân và truyền thống hiếu khách của dân tộc. Cứ tưởng là mấy chuyện nhỏ nhưng tác hại lớn, tạo nên những khó chịu, bực dọc và thành kiến tiếp theo, nhất là những ai lần đầu đến Việt Nam.

    Vào “nhà” thì rối ren đủ thứ. Trái với các nước phát triển, xe cộ ở Việt Nam là hung thần của người đi bộ. Giao thông hỗn loạn, không kiểm soát được, dù cảnh sát giao thông mai phục khắp chốn. Ở Samthienha.com còn có lực lượng áo xanh đông đảo phất cờ làm kiểng. An ninh của du khách thường xuyên bị đe dọa. Từ vấn nạn chặt chém của taxi, nhà hàng đến giựt dọc trên đường phố. Du khách bị khủng bố tinh thần vì thiếu nhà vệ sinh hoặc có mà dơ bẩn, vì phập phồng cướp giật, vì vệ sinh môi trường lẫn vệ sinh thực phẩm. Chất lượng các dịch vụ chưa thể so sánh với các đối thủ cạnh tranh trong khu vực.

    Vì những ý muốn chủ quan của các nhà quản lý, không ít di sản văn hóa bị xóa sổ. Chùa Bái Đính cổ gần như biến mất. Thay vào đó là chùa mới, to vật vã nhưng dường như…vô hồn. Đường xe lửa răng cưa Phan Rang – Đà Lạt bị tháo dỡ, các đầu máy được bán sắt vụn cho Thụy Sĩ. Họ mua về làm du lịch, vẫn lịch sự giữ nguyên dòng chữ “Toa xe Đà Lạt”. Ngay cả cầu Bến Hải cũng bị tháo dỡ. Báo chí và dư luận lên tiếng, cầu được phục chế.

    Đáng tiếc nhất là việc di dời chợ nổi Ngã Bảy Phụng Hiệp (Hậu Giang), đã xóa sổ thương hiệu lừng danh hơn trăm năm của cả khu vực Đông Nam Á. Gần nhất là việc tháo dỡ cầu Gành (Đồng Nai) hơn trăm tuổi. Rồi thì hàng ngàn biệt thự cổ biến mất khó hiểu ở khắp đất nước, nhiều nhất là ở Hà Nội và TP.HCM…

    Những dị biệt tiêu cực này lấn áp các khác biệt tích cực. Đó là ẩm thực phong phú, món ngon đường phố đa dạng. Là internet phổ cập miễn phí và dễ dàng. Là dịch vụ “Door to door” của vận chuyển liên tỉnh. Là cảnh quan và di sản đẹp, lạ. Là những phong tục tập quán đặc thù. Là lịch sử sôi động và bi tráng. Đất nước rất ổn định về chính trị nhưng lại… chưa dám mở cửa cho du khách vui chơi và tiêu tiền thoải mái. Mọi thứ cứ khác thiên hạ. Thứ gì các nước chặt thì ta lỏng và ngược lại.

    Việt Nam tự hào với lịch sử mấy ngàn năm văn hiến nhưng cách chào lai căng đủ kiểu. Cũng không có quốc phục riêng và những giai điệu dân gian đặc trưng được thừa nhận. Không có kiến trúc đặc thù…Ẩm thực Việt Nam rất phong phú nhưng văn hóa ẩm thực thì hổ lốn. Chẳng nơi nào có kiểu vừa ăn vừa xem ca múa nhạc tạp kỹ phổ biến như Việt Nam. Nhiều nơi, vừa du thuyền trên sông, vừa ăn uồng và thưởng thức nghệ thuật tổng hợp. Tác phong làm việc lề mề nhưng ăn rất nhanh, vừa ăn ngồm ngoàm vừa nói chuyện ồn ào. Văn hóa gắp đồ ăn cho khách lậm vào trong kinh doanh lẫn cuộc sống, cứ thích làm theo ý mình, nhất là lãnh đạo. Thói quen dùng đũa, muỗng chung; vừa mất vệ sinh vừa kỳ cục.

    Nhà vệ sinh, nơi thể hiện tính cách cá nhân rõ nét nhất, nơi thỏa mãn nhu cầu quan trọng nhất của con người luôn bị xem nhẹ. Ngược lại là thói khoa trương, bệnh thành tích, sính bằng cấp và coi thường thực tiễn. Hiệu ứng ghiền bê tông, thích xây mới lòe loẹt vô hồn đang phá vỡ cảnh quan nhiều danh thắng và cả vườn quốc gia.

    Các di tích bị xâm hại nghiêm trọng. Bảo tồn và trùng tu mà như phá hoại. Các công trình kiến trúc cổ xuống cấp, ngày càng bị xâm lấn và xóa sổ dần. Thời bao cấp ấu trĩ đành chịu, mất mát vô kể. Thời đổi mới mở cửa, vẫn tồn tại nghịch lý bảo tồn và phát triển. Việc xâm hại và xóa sổ di tích không trắng trợn mà tinh vi, núp dưới nhiều chiêu bài và danh nghĩa. Bản sắc văn hóa Việt đang ngày càng mai một!

    Đôi điều góp ý

    Nếu áo dài, cả nam lẫn nữ, được công nhận là quốc phục chính thức bằng văn bản pháp luật của Quốc hội thì đã không có chuyện nhà tạo mẫu ở Trung Quốc ăn cắp mẫu mã, vơ vào của mình. Áo dài, từng là quốc phục, bị phê phán và tẩy chay thời bao cấp. Có lãnh đạo từng cho rằng đó là tàn dư phong kiến, rườm rà, “một áo dài may được hai áo ngắn”. Việt Nam cũng từng có cách chào đặc thù nhưng bị xóa sổ vì ấu trĩ.

    Việc đầu tiên là phải xác định lại quốc phục và cách chào Việt Nam như tổ tiên mình từng công nhận. Việc quan trọng nhất là thay đổi nhận thức về văn hóa dân tộc, gạn đục khơi trong, lấy truyền thống làm nền tảng cho hiện đại. Đoạn tuyệt với tư duy “Lãnh đạo đồng nghĩa với khoa học” và “Quản không được thì cấm”. Loại bỏ văn hóa gắp đồ ăn cho khách; dùng đũa, muỗng chung; vừa ăn vừa nghe xem đủ thứ…

    Chống quan điểm cực đoan trong bảo tồn và phát triển. Cặp phạm trù này không hề có mâu thuẫn đối kháng. Thực tế cho thấy chỉ có mâu thuẫn giữa các chủ đầu tư và cộng đồng. Muốn bảo tồn phải biết trùng tu và phát triển. Ngược lại muốn phát triển bền vững phải biết bảo tồn. Tuyên chiến với vấn nạn bê tông hóa mọi nơi mọi lúc.

    Truyền thống thân thiện, hiếu khách của người Việt phải được thể hiện rõ nhất tại các cửa ngõ của đất nước cho đến các cơ quan công quyền, các cơ sở dịch vụ. Như nhân viên cửa khẩu Đài Loan, Myanmar…luôn tươi cười, tận tình hỗ trợ du khách và không ngừng nói lời cảm ơn.

    Campuchia mở cửa Hoàng Cung cho khách tham quan với giá vé 10 USD mỗi người trong ngày. Buổi nào quốc vương tiếp khách thì đóng cửa. Nhà khách vua Sihanouk ở Siem Riep được biến thành khách sạn cổ sang trọng Grand Angkor Hotel với tấm thảm đỏ in dấu chân nhiều nguyên thủ quốc gia. Nhà khách mới của Quốc vương Sihamoni nhỏ và đơn giản hơn nhiều. Việt Nam có thể làm tương tự với Phủ Chủ tịch, trụ sở Ủy ban nhân dân thành phố và nhiều tỉnh thành khác.

    Hoàng cung Brunei được chuyển thành phức hợp The Empire Hotel Country Club tương đương 6 sao. Phòng ở của vua Bokiah trước đây có giá bán tới hơn 20.000 USD/đêm. Xu thế các nước là ưu tiên cho phát triển du lịch và tận dụng mọi thứ để du lịch phát triển vì đây là ngành công nghiệp xuất khẩu tại chỗ rất hiệu quả.

    Các tỉnh thành Việt Nam hoàn toàn có thể chuyển các trụ sở hoành tráng để làm du lịch. Baan Tong Luang (Chieng Mai, Thái Lan), Mari – Mari (Kinabalu, Malaysia) là làng văn hóa các dân tộc đúng nghĩa; là những mô hình có thể vận dụng tại Việt Nam thay cho những công viên văn hóa các dân tộc, hoành tráng mà tốn kém (tốn tiền, kém hiệu quả). Hai cường quốc du lịch dẫn đầu thế giới là Pháp và Tây Ban Nha đều hấp dẫn và thu hút khách bằng những trải nghiệm văn hóa khác biệt, đa dạng.

    Có thể thay đường hoa Nguyễn Huệ bằng sông hoa Sài Gòn/TPHCM. Mở rộng các chợ đêm và phố đi bộ như ở Đài Loan, Thái Lan; tạo thành những công viên văn hóa sống động vào buổi tối. Tổ chức cho du khách trải nghiệm ẩm thực, học cách chế biến các món ngon Việt Nam và các sự kiện gia đình như “Thôi nôi”, “Đám hỏi”, “Đám cưới”, “Đám giỗ”, các hoạt động Tết…

    Xây dựng homestay chuẩn quốc gia theo mô hình các homestay A Chu (Sơn La), Minh Thơ (Hòa Bình), Xuân Diện (Lào Cai)…Phát triển các lễ hội tích cực như Đua bò (An Giang); Trái cây Nam bộ, Ẩm thực đường phố, Món ngon các nước, Áo dài (Sài Gòn); Bánh dân gian (Cần Thơ), Ook om bok – Đua ghe ngo (Sóc Trăng), Minh thề (Hải Phòng), Tịch điền (Hà Nam), Trâu rơm bò rạ (Vĩnh Phúc)…

    Chấm dứt các lễ hội dã man như Đâm trâu (thật ra là tế trâu hay khóc trâu – Tây Nguyên và Quảng Nam), Chém lợn (Bắc Ninh), Chọi trâu (Hải Phòng)… Chấn chỉnh những lễ hội biến tướng thành dịp buôn bán, hối lộ thần thánh như “cướp ấn, cướp lộc” và các lễ hội chùa, các festival thực chất chỉ có tính hình thức…Để tận dụng và phát tiển tài nguyên văn hóa một cách hiệu quả, cần có qui hoạch khoa học, dài hơi và đồng bộ.

    Làm du lịch là làm kinh tế chứ không phải làm phong trào, chạy theo số lượng và hình thức để báo cáo. Dĩ nhiên không làm kinh tế bằng mọi giá mà phải cân nhắc chọn lọc để phát triển bền vững. Nhiều quốc gia như Hàn Quốc, Singapore, Nhật Bản…sau nhiều thập niên kinh tế tăng trưởng nóng đã chấp nhận chậm lại. Họ hạn chế phát triển sản xuất nội địa, ưu tiên xuất khẩu công nghiệp, đẩy mạnh các dịch vụ du lịch để xuất khẩu tại chỗ và lấy văn hóa đặc thù làm nền tảng.

    Sự “dốt nát chân thật” (Trần Việt Phương) là lời cảnh báo về cách làm tùy tiện của nhiều địa phương, đã vô tình cản trở du lịch. Nguy hại hơn, đó là những hành động hủy diệt văn hóa dân tộc. Một dân tộc sẽ tiêu vong khi đánh mất bản sắc văn hóa. Chúng ta phải tự hào rằng: bản sắc Việt vẫn vững vàng với trang phục, chữ viết, ngôn ngữ và nhiều phong tục khác biệt và đặc sắc sau hàng ngàn năm bị đô hộ, qua nhiều cuộc chiến khốc liệt để giữ nước.

    Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc không chỉ để phát triển du lịch. Đó còn là cách tốt nhất để bảo vệ độc lập và chủ quyền lãnh thổ mà tổ tiên người Việt đã làm rất tốt mấy ngàn năm nay.

    (*) Bài viết thể hiện quan điểm của tác giả Nguyễn Vũ Mộc Thiêng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khu Du Lịch Gáo Giồng Cao Lãnh: Địa Chỉ
  • Du Lich Đài Loan 5 Ngày Từ Đà Nẵng
  • Top 50 Địa Điểm Du Lịch Gần Hà Nội Mới Và Đẹp Nhất Tháng 9/2020 * Du Lịch Số
  • Du Lịch Phú Yên Đẹp Qua Từng Thắng Cảnh
  • Khám Phá Khu Du Lịch Sinh Thái Quốc Tế Cà Mau
  • Di Sản Văn Hóa Là Nguồn Tài Nguyên Độc Đáo Của Du Lịch

    --- Bài mới hơn ---

  • Khai Thác Và Bảo Vệ Tài Nguyên Du Lịch Ở Việt Nam
  • Tài Nguyên Du Lịch Và Khí Hậu Phát Triển Du Lịch Vùng Nam Bộ, Hay
  • Các Lí Do Vì Sao Tôi Yêu Thích Du Lịch Thái Lan
  • Vì Sao Du Lịch Việt Nam Mãi Chậm Phát Triển?
  • Vì Sao Du Lịch Việt Nam Chưa Bứt Phá?
  • Di sản văn hóa là sự kết tinh các giá trị vật chất và tinh thần của các thế hệ và trở thành tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Di sản văn hóa là biểu tượng của sự trường tồn, đồng thời là cầu nối giữa quá khứ, hiện tại và tương lai của dân tộc. Di sản văn hóa không chỉ góp phần tạo nên nền văn hóa Việt Nam phong phú và đa dạng mà còn đem lại những giá trị cho sự phát triển kinh tế – xã hội.

    Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Hà Văn Siêu cho biết: “Di sản văn hóa là tài nguyên du lịch có sức hấp dẫn mạnh mẽ, là động lực thu hút ngày càng nhiều khách tham quan trong nước và khách du lịch quốc tế đến Việt Nam. Hiện nay, ngành du lịch xem đây là nền tảng trụ cột quan trọng để phát triển kinh tế du lịch bên cạnh các yêu tố về hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật chuyên ngành và nguồn nhân lực. Di sản văn hóa cũng là công cụ hỗ trợ tích cực trong việc định vị hình ảnh, xây dựng thương hiệu du lịch Việt Nam”.

    Đồng quan điểm với Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch, chúng tôi Phạm Thị Thu Hương – Hiệu trưởng trường Đại học Văn hóa Hà Nội cũng nhận định: “Ngày nay, di sản văn hóa trở thành một trong những nguồn lực quan trọng để phát triển du lịch không chỉ bởi nó là nguồn tài nguyên có sức hấp dẫn bởi các giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, để từ đó tạo nên những sản phẩm văn hóa – du lịch hoàn chỉnh và đặc sắc, mà còn là công cụ hỗ trợ tích cực trong việc định vị hình ảnh, xây dựng và quảng bá hình ảnh quốc gia. Trên thế giới, du lịch văn hóa từ lâu đã là một trong những dòng sản phẩm du lịch cơ bản, và vì thế, với các quốc gia, vùng lãnh thổ có hệ thống di sản đậm đặc như Việt Nam thì du lịch văn hóa trở thành một trong những thế mạnh nổi trội”.

    Có thể thấy, những năm gần đây du lịch di sản đã phát triển mạnh mẽ, lượng khách tham quan trong nước và quốc tế không ngừng gia tăng, đặc biệt di sản sau khi đã được Nhà nước lập hồ sơ công nhận và được UNESCO vinh danh. Sức hấp dẫn của di sản đã tạo động lực cho phát triển du lịch mang lại nhiều lợi ích về thu nhập, việc làm và phát triển kinh tế – xã hội địa phương. Cụ thể như Quần thể di tích cố đô Huế, năm 2022 đón 3 triệu lượt khách du lịch, trong đó 1,8 triệu khách du lịch quốc tế, thu hút được 320 tỷ đồng từ bán vé tham quan di sản; Phố cổ Hội An đón 1,98 triệu lượt khách, thu về 2022 tỷ đồng từ bán vé tham quan…

    Trên thế giới, du lịch văn hóa đã từ lâu và sẽ là trường phái hay dòng sản phẩm du lịch cơ bản. Đặc biệt đối với các quốc gia, vùng lãnh thổ có chiều sâu văn hóa đo bằng hệ thống di sản đậm đặc như nước ta thì du lịch di sản trở thành một trong những thế mạnh nổi trội.

    Du lịch tạo nguồn lực để thúc đẩy việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản

    Ở nước ta, chủ trương phát triển du lịch trên cơ sở bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc đã được thể hiện trong Nghị quyết 08/NQ-TW của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Du lịch văn hóa vì vậy là một dòng sản phẩm chủ đạo của du lịch Việt Nam từ tham quan di tích lịch sử văn hóa, hệ thống bảo tàng, các công trình văn hóa, hoạt động nghệ thuật cho tới tìm hiểu, tương tác, trải nghiệm văn hóa, lễ hội, lối sống địa phương…

    Vì thế, không thể phủ nhận vai trò của du lịch đối với di sản. Du lịch tạo nguồn lực tài chính, sự đam mê, trí tuệ thúc đẩy việc bảo tồn và phát huy các giá trị di sản. Chính nhu cầu tham quan, tìm hiểu, trải nghiệm của du khách đã thôi thúc chính quyền và nhân dân biết quý trọng, tự hào, quan tâm chăm lo giữa gìn bảo tồn, phục dựng và làm sáng tỏ, phát huy những giá trị vốn quý của di sản văn hóa.

    Du lịch di sản vừa tạo ra thu nhập, việc làm vừa tạo động cơ, vừa tạo ra nguồn lực để bảo tồn và phát huy giá trị di sản; đồng thời hỗ trợ tích cực nâng cao chất lượng cuộc sống, tăng cường sự hiểu biết, tôn trọng đa dạng và giao thoa các nền văn hóa, làm cơ sở hình thành quy tắc ứng xử phù hợp giữa người dân và khách du lịch với di sản. Những lợi ích của du lịch di sản là không nhỏ và được chia sẻ đến doanh nghiệp, người dân và một phần doanh thu từ du lịch di sản được quay trở lại tái đầu tư vào việc bảo tồn, tôn tạo, tôn vinh, phục dựng và quản lý di sản. Với ý nghĩa đó, du lịch di sản đóng góp to lớn cho bảo tồn và phát huy bền vững di sản văn hóa.

    PGS. TS Bùi Thanh Thủy – Trưởng Khoa Gia đình và công tác xã hội, trường Đại học Văn hóa Hà Nội khẳng định: “Du lịch phát triển tạo tiềm lực để tôn tạo, trùng tu các di tích, phục dựng các lễ thức, lễ hội, các loại hình nghệ thuật dân gian… đồng thời tạo nguồn thu nhập tại chỗ cho phép các địa phương tích lũy và phát triển kinh tế xã hội, trong đó có văn hóa. Ngoài ra bản thân du lịch còn có chức năng giáo dục thông qua các hoạt động ngành nghề, nó nhắc nhở mọi người về gốc gác văn hóa và giúp du khách xác định, hình thành nên bản sắc của mình, thúc đẩy mối quan tâm của công dân đến lịch sử, văn hóa, di sản.

    Tuy nhiên, trong bối cảnh du lịch phát triển mạnh mẽ như hiện nay, nhất là khi thực tiễn cho thấy: du lịch đại trà đã và đang có những tác động tiêu cực tới di sản văn hóa, thì vấn đề cần đặt ra là cần có phương thức, giải pháp phù hợp để cân bằng, giải quyết mối quan hệ bảo tồn – phát triển. Để làm được điều đó, ngành Du lịch Việt Nam cần xác định: Không thể chỉ khai thác, phát huy giá trị của nguồn tài nguyên văn hóa đặc sắc vốn có, mà để phát triển một cách bền vững, việc bảo tồn nó cũng là một nhiệm vụ thường xuyên của Ngành.

    Lan Anh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Liên Hiệp Các Hội Khkt Tỉnh Thừa Thiên Huế
  • Vĩnh Phúc Phát Triển Du Lịch Đặc Trưng Bền Vững
  • Địa Du Lịch An Giang
  • Tìm Hiểu Du Lịch Tỉnh An Giang
  • Tổng Quan Về Đà Nẵng
  • Tài Nguyên Du Lịch Tự Nhiên Hue

    --- Bài mới hơn ---

  • Du Lịch Nha Trang Đà Lạt 4 Ngày 3 Đêm Giá Rẻ Từ Hà Nội Giá Rẻ
  • Bật Mí Kinh Nghiệm Du Lịch Mộc Châu Bằng Xe Khách 2022
  • Bài 1: Hướng Dẫn Đi Mộc Châu Bằng Xe Khách
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Gia Lai Tự Túc 2022
  • Gợi Ý Tour Du Lịch Ninh Bình Tự Túc Trong 1 Ngày
  • TÀI NGUYÊN DU LỊCH TỰ NHIÊN

    1.

    Địa hình

    Địa hình thừa thiên huế khá phức tạp gồm nhiều dạng: vùng đồi núi, đồng bằng,

    biển. Cấu trúc của địa hình theo chiều ngang từ Đông sang Tây gồm:biển đầm

    phá, đồng bằng nhỏ hẹp, vùng đồi thấp và núi. Đại hình thừa thiên huế có cấu

    tạo dạng bậc khá rõ rệt.

    -vùng đồi núi :

    Hệ thống búi của Thừa Thiên huế chiếm khoảng 75% diện tích của tỉnh, từ biên

    giới Việt Lào và kéo dài đến thành phố Đà Nẵng, là bộ phận phía nam của dải

    Trường Sơn Bắc. Dãy núi phía tây chạy theo hướng tây bắc-đông nam càng về

    phía nam càng cao dần và bẻ quặt theo hướng tây-đông(dãy Bạch Mã). Độ cao

    trung bình từ 500m- 600m, độ cao này tăng dần về phía tây, phía nam và đông

    nam.

    Vùng đồng bằng duyên hải:

    Đồng bằng Thừa Thiên Huế điển hình cho kiểu đồng bằng mài mòn, tích tụ, có

    cồn cát, đầm phá. Diện tích vùng đồng bằng chiếm khoảng 1.400km2.

    Vùng đầm phá:

    Là một hệ cảnh quan độc đáo của thừa Thiên Huế, vùng đầm phá có diện

    tích 22.040 ha, dài 68 km, bắt đầu từ cửa sông Ô Lâu phía bắc chạy song

    song với bờ biển đến cửa Tư Hiền, chiều rộng từ 1 đến 6 km. Độ sâu tăng

    dần từ Tây sang Đông. Hiện nay sự lắng tụ phù sa, làm độ sâu của đầm phá

    đang có chiều hướng cạn dần.

     Ảnh hưởng của địa hình đến phát triển du lịch:

    Do ảnh hưởng của địa hình, đại bộ phạn dân cư của tỉnh Thừa Thiên Huế

    phân bố không đều. Miền núi là địa bàn cư trú của đồng bào thiểu số. Sự

    phân bố dân cư này làm cho du lịch tập trung phát triển hơn ở một số

    vùng trọng điểm nhất định và hướng tới hình thức du lịch văn hóa, tìm

    hiểu các nền văn hóa của các dân tộc Việt Nam.

    Sự phân hóa của địa hình đã tạo nên nhiều vùng tự nhiên khá thuận lợi

    cho phát triển các loại hình du lịch sinh thái, nghĩ dưỡng…

    Tuy nhiên địa hình vùng trung du nhỏ hẹp làm độ dốc giảm, gây ra hiện

    tượng xói mòn mạnh, nhất là trong mùa mưa lũ. Điều này cực kỳ nguy

    hiểm đối với phát triển du lịch và việc xây dựng các cơ sở vật chât mang

    tính lâu dài, thu hút đầu tư quy mô lớn nhằm phục vụ du lịch.

    Khí hậu

    Đặc điểm chung của khí hậu Thừa Thiên Huế là nhiệt độ cao, độ ẩm lớn ,

    mưa theo mùa. Do vị trí địa lý và sự kéo dài của lãnh thổ theo vĩ tuyến, kết

    hợp với hướng địa hình và hoàn lưu khí quyển đã tác động sâu sắc đến việc

    hình thành một kiểu khí hậu đặc trưng và tạo nên những hệ quả phức tạp

    trong chế độ mưa, chế độ nhiệt và các yếu tố khí hậu khác.

    Nhiệt độ trung bình hàng năm của Thừa Thiên huế khoảng 250C. Tổng lượng

    bức xạ nhiệt trung bình năm tăng dần từ Bắc vào Nam của tỉnh và dao động

    trong khoảng từ 110 đến 140 kcal/cm2 , ứng với hai lần mặt trời qua thiên

    đỉnh tổng lượng bức xạ có hai cực đại: lần thứ nhất vào tháng V và lần thứ

    hai vào tháng VII, lượng bức xạ thấp nhất vào tháng 12. Cán cân bức xạ

    nhiệt trung bình từ 75 đến 85 kcal/cm2 , ngay cả tháng lạnh nhất vẫn mang

    trị số dương. Do tác động của vị trí, địa hình và hình dạng lãnh thổ, nhiệt độ

    có sự thay đổi theo không gian và thời gian:

    + phân bố theo không gian : theo chiều Đông – Tây nhiệt độ vùng núi (Nam

    Đông và A Lưới) trung bình năm thường chênh lệch với vùng đồng bằng từ

    00C đến 30C. Riêng trong mùa lạnh, sự phân hóa nhiệt sâu sắc hơn.

    + phân bố theo thời gian : do sự tác động của gió mùa nên đã hình thanhfhai

    mùa với sự khác biệt về chế độ nhiệt rõ rệt.

    Mùa lạnh : là khoảng thời gian nhiệt độ trung bình trong ngày ổn định dưới

    200 C. Thời gian lạnh của Thừa Thiên Huế tùy theo vùng có thể kéo dài từ

    30 đến 60 ngày.

    Mùa nóng : là thời kỳ nhiệt độ trung bình ổn định trên 250C. Mùa nóng bắt

    đầu từ tháng IV đến hết tháng IX. Những tháng đầu mùa nhiệt độ tăng khá

    đều trên các vùng, nhiệt độ cực đại vào tháng VII và giảm dần cho đến tháng

    I năm sau. Từ tháng Vcho đến tháng IX, hiệu ứng phơn Tây Nam đã làm

    nhiệt độ tăng cao, độ ẩm giảm thấp gây ra những đợt nóng kéo dài ảnh

    hưởng nghiêm trọng đến sinh hoạt và các hoạt động sản xuất nông nghiệp.

    Biên độ nhiệt : Thừa Thiên Huế có nhiệt độ trung bình hằng năm gần 100C.

    Đây là một điểm rất đặc biệt vì tính cách khắc nghiệt của khí hậu gần giống

    với những vùng lãnh thổ có vĩ độ cao hay của những lãnh thổ nằm sâu trong

    luc địa.

    4.

    Do sự tác động phối hợp giữa địa hình và hướng dịch chuyển của các khối

    khí theo mùa , Thừa Thiên Huế có thời kỳ khô và ẩm bị lệch pha so với cả

    nước.

    + Từ tháng IX đến tháng III độ ẩm không khí cao trên 90% trùng với mùa

    mưa và thời gian hoạt động của khối không khí lạnh biến tính từ biển đông

    tràn vào lãnh thổ

    +Hàng năm Thừa Thiên Huế nhận được một lượng mưa lớn, trung bình trên

    3000mm, song phân bố không đều. Mưa phần lớn tập trung vào tháng X và

    XI, trong khoản thời gian này bão thường xuất hiện gây nên những cơn lũ

    lớn. Năm 1953 (4937mm); năm 1975(3278mm) lụt vượt mức báo động 3

    với đỉnh lũ là 6m (kim long).

     Ảnh hưởng của khí hậu đến du lịch:

    Khí hậu của tỉnh Thừa Thiên Huế có sự thuận lợi nhất định cho việc phát

    triển du lịch. Tuy nhiên , khí hậu có nhiều biến động khá phức tạp, hiện

    tượng lệch pha so với khí hậu cả nước đòi hỏi Thừa Thiên Huế phải có kế

    hoạch tổ chức các hoạt động du lịch phù hợp. Thời gian mưa kéo dài

    khiến du lịch theo thời vụ ở Huế là rất rõ nét. Bên cạnh đó, theo thống kê

    mỗi năm có ít nhất một cơn bão đổ bộ trực tiếp vào lãnh thổ gây thiệt hại

    và khó khăn rất lớn cho việc phát triển cơ sở hạ tầng du lịch.

    Thủy văn:

    Thừa Thiên – Huế có hệ thống sông ngòi khá dày đặc nhưng các sông đều

    nhỏ, độ dốc lớn. Phần lớn bắt nguồn từ phía đônn của trường sơn, chảy theo

    hướng Tây – Đông, cửa sông hẹp. Tổng chiều dài các song chính chảy trên

    lãnh thổ của tỉnh là khoảng 300km trên đó hệ thống sông Hương chiếm đến

    60%. Nhìn chung, sông ngòi ở huế ngắn và dốc, ít có sông lớn. Các sông có

    sự chênh lệch rất lớn về dòng chảy trong năm. Tổng lượng nước trong ba

    tháng mùa lũ lớn gấp 2 lần tổng lượng nước trong 9 tháng mùa cạn. Diện

    tích các lưu vực sông không lớn, lớn nhất là sông Hương với diện tích lưu

    vực khoảng 1626 km2

     Đánh giá:

    Với mạng lưới sông ngòi và đầm phá, Thừa Thiên Huế có thể nối liền các

    huyện và thành phố rất thuận lợi cho giao thông đường thủy, phục vụ du

    lịch. Các cảng biển Thuận An, Chân Mây thuận lợi cho việc đón các du

    khách quốc tế. Sông hương với những nét văn hóa đậm chất Huế đã và

    đang thu hút một lượng khách không nhỏ mỗi năm.

    Sinh vật:

    Thừa Thiên Huế có vị trí chuyển tiếp của 2 miền khí hậu Bắc và Nam đã

    hình thành thảm thực vật rừng nhiệt đới đa dạng, hội tụ nhiều loại cây: cây

    bản địa như lim, gõ, kiền,chò…(cây họ đậu phương Bắc) cây di cư như dẻ,

    re, thông, bàng và các cây họ dầu phương Nam…Diện tích rừng chiếm

    khoảng 57% đất tự nhiên, độ che phủ 55%(2008).

    Động vật thiên nhiên của Thừa Thiên Huế khá phong phú, có giá trị kinh tế

    cao.

    + Động vât rừng: ngoài những động vật phổ biến trong rừng như: khỉ , hươu,

    nai, công, gà rừng…nhiều động vật quý hiếm đã được phát hiện ở Nam

    Đông, Phú Lộc, A Lưới như: voi, hổ, trĩ, sao, gà lôi, chồn bay, gấu chó…

    +Thủy sản: với gần 126 km đường bờ biển, 22.000 ha đầm phá và một hệ

    sông ngòi phong phú, Thừa Thiên Huế có lượng thủy sản đa dạng với nhiều

    loại quý hiếm có giá trị kinh tế cao: sò huyết, mực, tôm, rau câu…

     Đánh giá:

    Hệ thống sinh vật phong phú góp phần tạo nên cảnh quan môi trường

    sinh thái và cảnh quan du lịch của vùng, vườn quốc gia Bạch Mã có khí

    hậu mát mẻ cùng sự đa dạng sinh vật đã trở thành một trung tâm du lịch

    sinh thái rất hấp dẫn.

    TÀI NGUYÊN DU LỊCH NHÂN VĂN

    Tài nguyên du lịch nhân văn của Thừa Thiên Huế có nhiều loại

    hình phong phú và đa dạng rất khác nhau. Hệ thống kiến trúc thành

    quách, cung điện, chùa, di sản văn hóa (được công nhận là di sản văn

    hóa thế giới). Tài nguyên phi vật thể: lễ hội, ẩm thực, làng nghề, nhã

    nhạc cung đình Huế (di sản văn hóa phi vật thể)..các tài nguyên đó đã tạo

    cho Thừa Thiên Huế có tiềm năng to lớn để trở thành trung tâm du lịch

    của cả nước.

    Nét đặc sắc là sự kết hợp hài hòa giữa văn hóa dân gian và văn hóa cung

    đình. Thừa Thiên-Huế là một trong những trung tâm du lịch văn hóa của

    của Việt Nam, là nơi duy nhất còn giữ lại được một kho tàng sử liệu vật

    chất đồ sộ, một di sản văn hóa vô cùng phong phú với hàng trăm công

    trình kiến trúc nghệ thuật đặc sắc và nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng.

    Huế là “một kiệt tác về thơ – kiến trúc đô thị”. Vì lẽ đó mà cuối năm

    1993, UNESCO đã chính thức công nhận Huế là một di sản văn hóa thế

    giới.

    1.Các di tích lịch sử văn hóa:

    Đặc điểm

    Chùa Thiên Mụ

    Chùa nằm cách trung tâm thành

    phố huế khoảng 5km, trên đồi Hà

    Khê, tả ngạn song Hương, xã

    Hương Long. Trước các điện,

    quanh chùa là các vườn hoa cây

    cảnh xanh tươi, rực rỡ. phía sau

    cùng là vườn thông tĩnh mịch,

    phong cảnh nên thơ. Chùa bị hư

    hỏng nặng năm 1943. Từ năm

    1945, Hòa thượng Thích Đôn Hậu

    đã tổ chức công cuộc đại trùng tu

    kéo dài hơn 30 năm.

    Quần thể di tích Cố Đô Huế nằm

    dọc bên bờ sông Hương thuộc

    thành phố Huế và một vùng phụ

    cận thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế là

    trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế

    của tỉnh, là cố đô của Việt Nam thời

    phong kiến dưới triều nhà Nguyễn,

    từ năm 1802 đén 1945. Bên bờ Bắc

    của con song Hương, hệ thống kiến

    trúc biểu thị cho quyền uy của chế

    độ trung ương tập quyền Nguyễn là

    ba tòa thành: Kinh thành Huế,

    Hoàng thành Huế, Tử cấm thành

    Huế, lồng vào nhau được bố trí

    đăng đối trên một trục dọc xuyên

    suốt từ mặt Nam ra mặt Bắc. hệ

    thống thành quách ở đây là một

    mẫu mực của sự kết hợp hài hòa

    nhuần nhuyễn giữa tinh hoa kiến

    Quần thể di tích Cố Đô Huế

    (di sản văn hóa thế giới)

    trúc Đông và Tây, được đặt trong

    một khung cảnh thiên nhiên kỳ thú

    với nhiều yếu tố biểu tượng sẵn có

    tự nhiên đến mức người ta mặc

    nhiên xem đó là những bộ phận của

    kinh thành Huế – đó là núi Ngự

    Bình, dòng Hương giang, cồn Giã

    Viên, cồn Bộc Thanh… Hoàng

    thành giới hạn bởi một vòng tường

    thành gần vuông với mỗi chiều xấp

    xỉ 600m với 4 cổng ra vào mà độc

    đáo nhất thường được lấy làm biểu

    tượng của cố đô: Ngọ Môn, chính

    là khu vực hành chính tối cao của

    triều đình Nguyễn. Bên trong

    Hoàng thành, hơi dịch về phía sau,

    là Tử cấm thành, hơi dịch về phía

    sau, là Tử cấm thành – nơi ăn ở

    sinh hoạt của Hoàng Gia.

    chúa Nguyễn . Các lễ hội truyền thống được duy trì, phát triển cũng từ

    những nguồn văn hóa ấy.

    Lễ hội các loại là một nhu cầu sinh hoạt văn hóa của con người Thừa

    Thiên Huế đã trở thành truyền thống. Nhìn tổng quát về lễ hội và sự tham

    gia lễ hội của cư dân vùng này, ta sẽ thấy lễ hội ở Thừa Thiên Huế tuy

    không phong phú như Miền Bắc, nhưng cũng khá đa dạng, có hai loại lễ

    hội: lễ hội cung đình và lễ hội dân gian. Lễ hội cung đình phản ánh sinh

    hoạt lễ nghi của triều Nguyễn . Phần lớn chỉ chú trọng về “lễ” hơn “hội”.

    Lễ hội dân gian gồm nhiều loại rất phong phú, có thể kể đến một số lễ hội

    tiêu biểu như sau: lễ hội Huệ Nam (điện Hòn Chén) hay còn gọi là lễ

    rước sắc nữ thần Thiên Y A Na theo tín ngưỡng của người Chamwpa

    xưa… Trong những dịp tế lễ, nhiều sinh hoạt văn hóa bổ ích nư đua

    thuyền, kéo co, đấu vật… còn được tổ chức và thu hút rất đông người

    xem.

    Hội đua ghe truyền thống: Hội đua ghe truyền thống tỉnh Thừa Thiên Huế là

    một lễ hội mới được tổ chức sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam năm

    1975. Hội được tổ chức trong một ngày nhằm ngày lễ Quốc kanhs 29(dương lịch). Địa điểm đua là bờ Nam song Hương trước trường Quốc học.

    Hội nhằm tạo điều kiện thuận tiện cho thanh niên nam nữ có cơ hội thi tài

    trên song nước, qua đó rèn luyện tăng cường bảo vệ sức khỏe và tạo không

    khí vui vui tươi lành mạnh cho nhân dân .

    Hội vật làng sình: Vật võ cũng là một hình thức để tưởng nhớ ngài khai canh

    làng đã truyền dạy dân làng nghề vật. Nên đến ngày giỗ Ngài, dân làng tổ

    chức vật võ.

    …….

    Festival Huế: tổ chức lần đầu tiên vào năm 2000, đén nay Festival Huế tổ

    chức được 7 lần (2000,2002,2004,2006,2008,2010,2012…). Đây là sự kiện

    văn hóa lớn có quy mô quốc gia tầm cỡ quốc tế, có ý nghĩa quan trọng trong

    đời sống của người dân Huế. Là điều kiện quan trọng để xây dựng Huế

    thành phố Festival cuả Việt Nam.

     Đánh giá:

    Thừa Thiên Huế có khá nhiều lễ hội lớn với các loại hình khác nhau: lễ

    hội vui chơi giải trí, lệ hội cầu ngưu, lễ hội đua thuyền… Những lễ hội

    này nhằm tôn vinh bản sắc văn hóa vùng miền, và chúng góp phần thu

    hút đông đảo các khách du lịch từ các địa phương khác trong cả nước

    cũng như khách du lịch nước ngoài.

    3. Văn hóa , ẩm thực:

    Văn hóa vật thể: quần thể di tích Huế được UNESCO công nhận là di sản

    văn hóa thế giới. Ngoài ra, Huế còn quê hương của nhiều công trình kiến

    trúc tôn giáo độc đáo.

    Văn hóa phi vật thể: Nhã nhạc cung đình Huế cũng được UNESCO công

    nhận là di sản văn hóa phi vật thể của thế giới. Ngoài ra, Huế còn bảo tồn

    được rất nhiều phong tục tập quán thông qua các lễ hội dân gian được tổ

    chức hàng năm như: lễ hộ điện Hòn Chén, hội võ làng Sình…

    Ẩm thực đặc sắc: Huế còn lưu giữ trên 1000 món ăn nấu theo lối Huế, có

    cả những món ăn ngự thiện của các vua triều Nguyễn. Bản thực đơn ngự

    thiện có trên vài chục món thuộc loại cao lương mỹ vị, được chuẩn bị và

    tổ chức rất công phu, tỷ mỷ, cầu kỳ. Các món ăn dân dã rất phổ biến

    trong quần chúng với bản thực đơn phong phú hàng trăm món được chế

    biến khéo léo hương vị quyến rũ màu sắc hấp dẫn , coi trọng phần chất

    hơn lượng; nghệ thuật bày biện các món ăn đẹp mắt, nghệ thuật thưởng

    thức tinh tế.

    Làng nghề truyền thống:

    Làng nghề nón bài thơ Tây Hồ.

    Làng nghề phường đúc đồng.

    Làng nghề làm hoa giấy Thanh Tiên.

    Tranh làng sình.

    …….

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tour Du Lịch Đảo Lý Sơn 3 Ngày Từ Hà Nội Giá Rẻ
  • Những Địa Điểm Hấp Dẫn Khi Đi Du Lịch Hàn Quốc
  • 7 Bài Hát Nên Nghe Khi Đi Du Lịch
  • Tour Du Lịch Hà Giang 3 Ngày 2 Đêm Của Sinhcafe
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Đà Nẵng 3 Ngày 2 Đêm
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100