Tài Nguyên Du Lịch Nhân Văn Việt Nam

--- Bài mới hơn ---

  • Tài Nguyên Du Lịch Nhân Văn
  • Tour Du Lịch Đà Nẵng Với Giá Rẻ Chỉ Từ 2.050.000 Vnđ
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Cuba Cực Bổ Ích Và “siêu” Tiết Kiệm
  • Cách Làm Thủ Tục Xin Visa Du Lịch Nhật Bản Tự Túc
  • Du Lịch Khoang Xanh Suối Tiên 2 Ngày 1 Đêm Thoả Sức Tận Hưởng Thiên Nhiên Trong Lành
  • PHẦN MỞ ĐẦU

    1.

    Lí do chọn đề tài

    Du lịch là ngành công nghiệp không khói có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình

    phát triển kinh tế bởi mang lại lợi ích kinh tế cao. Đặc biệt với các quốc gia đang

    trong quá trình hội nhập và phát triển như Việt Nam thì việc đẩy mạnh phát triển du

    lịch là một vấn đề quan trọng. Để phát triển du lịch đòi hỏi phải có sự hợp thành của

    nhiều yếu tố. Trong đó tài nguyên du lịch là yếu tố cơ bản để tạo thành các sản phẩm

    du lịch. Chính sự phong phú đa dạng và đặc sắc của tài nguyên du lịch tạo nên sự

    phong phú, đa dạng, hấp dẫn của sản phẩm du lịch.

    Trải dài trên lãnh thổ hình chữ S, Việt Nam có rất nhều các tài nguyên du lịch,

    từ những tài nguyên du lịch tự nhiên đến tài nguyên du lịch nhân văn với vô vàng

    danh lam thắng cảnh nổi tiếng. Những điểm đến là khu du lịch sinh thái, vườn quốc

    gia, vịnh biển, hệ thống các đảo và quần đảo làm cho tài nguyên thiên nhiên thêm

    phong phú. Bên cạnh đó là tài nguyên du lịch nhân văn với nhiều di tích mang đậm

    giá trị lịch sử và không ít công trình là “Di sản văn hóa của nhân loại”. Với tài

    nguyên vô cùng đa dạng đó việc khai thác các thế mạnh, tính toán đến tác động môi

    trường khác nhau trong quá trình khai thác là vấn đề hết sức khó khăn, đặc biệt là tài

    nguyên du lịch nhân văn.

    Xuất phát từ mâu thuẫn đó, tôi nghiên cứu vấn đề: “Thế mạnh tài nguyên du

    lịch nhân văn và tác động đến phát triển kinh tế xã hội”. Đề tài tạo điều kiện đánh

    giá giá trị tài nguyên du lịch nhân văn, xác định mối quan hệ giữa tài nguyên du lịch

    nhân văn và việc khai thác các tài nguyên đó để phục vụ phát triển du lịch.

    2.

    Mục tiêu của đề tài

    Đánh giá thế mạnh tài nguyên du lịch nhân văn Việt Nam nhằm xây dựng định

    hướng khai thác phù hợp và đề xuất các giải pháp khai thác có hiệu quả.

    3.

    Nhiệm vụ của đề tài

    Tổng hợp một số vấn đề lí luận về du lịch nói chung và tài nguyên du lịch

    nhân văn nói riêng.

    Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn trên lãnh thổ Việt Nam

    Nghiên cứu đánh giá thực trạng khai thác tài nguyên du lịch nhân văn Việt

    Nam nhằm xây dựng định hướng khai thác phù hợp.

    4.

    Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

    Đối tượng nghiên cứu: Tài nguyên du lịch nhân văn tác động trên các mặt

    Kinh tế – xã hội – môi trường.

    Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu tài nguyên du lịch nhân văn trên lãnh

    thổ Việt Nam.

    5.

    Các phương pháp nghiên cứu

    Phương pháp phân tích số liệu thống kê: thu thập các tài liệu thông kê liên

    quan từ các cơ trung ương đến địa phương tỉnh, huyện, xã,…

    Kế thừa những kết quả nghiên cứu có trước, hệ thống hóa cơ sở lí luận, thực

    tiễn và vận dụng vào đề tài một cách hợp lý.

    6.

    Nội dung bài tiểu luận

    Ngoài phần mở đầu, kết luận, và tài liệu tham khảo, đề tài gồm các nội dung

    chính sau:

    Chương 1. Một số vấn đề lí luận cơ bản về du lịch và tài nguyên du lịch nhân

    văn.

    Chương 2. Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch nhân văn ở Việt Nam.

    Chương 3. Tác động của tài nguyên du lịch nhân văn đến Kinh tế – Xã hội –

    Môi trường của Việt Nam.

    Chương 4. Giải pháp khai thác tài nguyên du lịch nhân văn của Việt Nam.

    PHẦN NỘI DUNG

    CHƯƠNG 1

    MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VÀ THỰC TIỄN VỀ DU LỊCH

    VÀ TÀI NGUYÊN DU LỊCH NHÂN VĂN

    1.1.

    Một số vấn đề lí luận

    1.1.1. Khái niệm du lịch

    Dưới những góc độ nghiên cứu khác nhau, hoàn cảnh không gian, thời gian

    khác nhau, mỗi tổ chức cá nhân có những cách hiểu về du lịch khác nhau.

    Với mục đích quốc tế hóa, tại hội nghị Liên Hợp Quốc về du lịch họp tại

    ROMA (Italia) năm 1963, các chuyên gia đã đưa ra khái niệm như sau: “Du lịch là

    tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ cuộc

    hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi cư trú thường xuyên

    của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình. Nơi họ đến du lịch không phải nơi

    làm việc của họ.”

    Tổ chức Du lịch thế giới (World Tourism Organization) lại định nghĩa: “Du

    lịch là tổng thể các hiện tượng và các mối quan hệ xuất phát từ sự giao lưu với du

    khách, các nhà kinh doanh, chính quyền địa phương và cộng đồng dân cư trong quá

    trình thu hút và đón tiếp khách du lịch.”

    1.1.2. Khái niệm tài nguyên du lịch

    Tài nguyên hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các nguồn nguyên liệu, năng

    lượng và thông tin trên Trái Đất và trong không gian vũ trụ mà con người có thể sử

    dụng phục vụ cho cuộc sống và sự phát triển của mình.

    Tài nguyên du lịch theo Pirojnik: “Tài nguyên du lịch là những tổng thể tự

    nhiên văn hóa – lịch sử và những thành phần của chúng, tạo điều kiện cho việc phục

    hồi và phát triển thể lực tinh thần của con người, khả năng lao động và sức khỏe của

    họ, trong cấu trúc nhu cầu du lịch hiện tại và tương lai, trong khả năng kinh tế kĩ

    thuật cho phép, chúng được dùng để trực tiếp và gián tiếp sản xuất những dịch vụ du

    lịch và nghỉ ngơi.”

    Tài nguyên du lịch là một dạng đặc sắc của tài nguyên nói chung. Khái niệm

    này luôn gắn liền với khái niệm du lịch.

    – Tài nguyên du lịch có khả năng sử dụng nhiều lần nếu tuân theo các qui

    định về sử dụng một cách hợp lý, thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo vệ.

    1.2.

    Phân loại tài nguyên du lịch:

    Tài nguyên du lịch có thể chia làm 2 nhóm sau:

    Tài nguyên tự nhiên:

    Tài nguyên nhân văn:

     Tài nguyên nhân văn vật thể

    Di sản văn hoá thế giới

    Các Di tích lịch sử văn hoá, thắng cảnh đẹp cấp quốc gia và địa phương

     Tài nguyên nhân văn phi vật thể

    Di sản văn hoá truyền miệng và phi vật thể của nhân loại

    Các lễ hội

    Nghề và làng nghề thủ công truyền thống

    Văn hoá nghệ thuật

    Văn hoá ẩm thực

    Thơ ca và văn học

    Văn hoá ứng xử và những phong tục, tập quán tốt đẹp

    Tài nguyên du lịch gắn với văn hoá các tộc người

    Các hoạt động mang tính sự kiện

    1.2.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên

    Theo khoản 1 (Điều 13, Chương II) Luật du lịch Việt Nam năm 2005 quy

    định: “Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí

    hậu, thuỷ văn, hệ sinh thái, cảnh quan tự nhiên đang được khai thác hoặc có thể

    được sử dụng phục vụ mục đích du lịch”.

    Các loại tài nguyên du lịch tự nhiên không tồn tại độc lập mà luôn luôn tồn

    tại, phát triển trong cùng một không gian lãnh thổ nhất định, nó có mối quan hệ qua

    lại, tương hỗ chặt chẽ theo những quy luật của tự nhiên cũng như các điều kiện văn

    hoá, kinh tế – xã hội và thường được phân bố gần các tài nguyên du lịch nhân văn.

    Thực tế, khi tìm hiểu và nghiên cứu về tài nguyên du lịch tự nhiên, các nhà nghiên

    cứu thường nghiên cứu theo từng thành phần tự nhiên, các thể tổng hợp tự nhiên có

    điều kiện thuận lợi cho sự phát triển du lịch, các di sản thiên nhiên thế giới và các

    điểm tham quan tự nhiên.

    1.2.2. Tài nguyên du lịch nhân văn

    a. Khái niệm

    Tài nguyên du lịch nhân văn bao gồm truyền thống văn hoá, các yếu tố văn

    hoá, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình

    lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể khác có

    thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch.

    Tài nguyên du lịch nhân văn là các đối tượng và hiện tượng xã hội cùng các

    giá trị văn hoá, lịch sử của chúng có sức hấp dẫn du khách và được khai thác để kinh

    doanh du lịch. Trong số các tài nguyên du lịc nhân văn thì các di sản văn hoá có vị

    trí đặc biệt.

    Trong Luật di sản văn hoá của Việt nam thì di sản văn hoá được chia làm 2

    loại, đó là di sản văn hoá vật thể và di sản văn hoá phi vật thể.

     Di sản văn hoá vật thể

    “Di sản văn hoá vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa

    học,bao gồm các di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật

    quốc gia”.

    “Di tích lịch sử văn hoá là công trình xây dựng và các di vật, cổ vật,bảo vật

    quốc gia thuộc công trình địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học”

    “Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp

    giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mĩ, khoa

    học”.

    “Di vật là hiện vật được lưu truyền lại có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học”.

    “Cổ vật là hiện tượng được lưu truyền lại có giá trị tiêu biểu vè lịch sử, văn

    hoá, khoa học từ một trăm năm tuổi trở lên”.

    “Bảo vật quốc gia là hiện vật được lưu truyền lại có giá trị đặc biệt quý hiếm

    của đất nước về lịch sử, văn hoá, khoa học”.

     Di sản văn hoá phi vật thể

    “Di sản văn hoá phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử – văn hoá,

    khoa học, được lưu truyền bằng trí nhớ, chữ viết, được truyền miệng, truyền nghề,

    trình diễn và các hình thức lưu truyền khác bao gồm: tiếng nói, chữ viết, tác phẩm

    văn học nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống,

    lễ hội, bí quyết nghề nghiệp thủ công truyền thống, tri thức về y dược cổ truyền, văn

    hoá ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian”.

    b. Đặc điểm

    Do những nét đặc trưng và tính chất của mình, tài nguyên du lịch nhân văn có

    những đặc điểm khác với tài nguyên du lịch tự nhiên:

    Tài nguyên du lịch nhân văn có tác dụng nhận thức nhiều hơn tác dụng giải trí

    Việc tìm hiểu các đối tượng nhân văn diễn ra trong thời gian ngắn, nó có thể

    kéo dài một vài giờ, cũng có thể một vài phút. Do vậy trong một chuyến du lịch

    người ta có thể hiểu từ nhiều giá trị nhân văn.

    Số người quan tâm đến tài nguyên du lịch nhân văn thường có văn hoá hơn,

    thu nhập và yêu cầu cao hơn.

    Tài nguyên du lịch nhân văn thường tập trung ở những điểm quần cư và

    những thành phố lớn.

    Ưu thế to lớn của tài nguyên du lịch nhân văn là đại bộ phận không có tính

    mùa, không bị phụ thuộc vào các điều kiện khí tượng và điều kiện tự nhiên khác.

    Sở thích của những người tìm đến tài nguyên du lịch nhân văn rất phức tạp và

    rất khác nhau. Điều này sẽ gây khó khăn cho việc đánh giá tài nguyên du lịch nhân

    văn. Cơ sở để đánh giá nguồn tài nguyên này chủ yếu dựa vào cơ sở định tính, xúc

    cảm và trực cảm. Đồng thời nó cũng chịu ảnh hưởng mạnh của các nhân tố như: Độ

    tuổi, trình độ văn hoá,, hứng thú, trình độ nghề nghiệp, thành phần dân tộc,…

    1.2.2.1.

    Tài nguyên du lịch nhân văn vật thể

    a. Di sản văn hoá thế giới

    Ủy ban Di sản Thế giới đã xác định và liệt kê danh sách các di sản là các cảnh

    quan văn hóa có giá trị lớn đối với nhân loại. Để được đưa vào danh sách di sản thế

    giới, các khu vực đề cử phải có giá trị nổi bật toàn

    cầu và đáp ứng được ít nhất 1 trong 10 tiêu chí.

    Trong bản hướng dẫn năm 2002, trong bộ tiêu chí

    lựa chọn có 6 tiêu chí về văn hóa và 4 tiêu chí về

    tự nhiên. Năm 2005, Ủy ban Di sản Thế giới đưa

    ra bộ tiêu chí mới gồm 10 tiêu chí lựa chọn như

    sau:

    Hình 1.1: Biểu tượng Di sản Thế giới

    Nguồn: vi.wikipedia.org

    Tiêu chuẩn văn hóa

    (I) – là một tuyệt tác về tài năng sáng tạo của con người.

    (II) – Thể hiện một sự giao lưu quan trọng giữa các giá trị của nhân loại, trong

    một khoảng thời gian hoặc trong phạm vi một vùng văn hoá của thế giới, về các

    bước phát triển trong kiến trúc hoặc công nghệ, nghệ thuật tạo hình, quy hoạch đô

    thị hoặc thiết kế cảnh quan.

    (III) – Là một bằng chứng độc đáo hoặc duy nhất hoặc ít ra cũng là một bằng

    chứng đặc biệt về một truyền thống văn hoá hay một nền văn minh đang tồn tại hoặc

    đã biến mất.

    (IV) – Là một ví dụ nổi bật về một kiểu kiến trúc xây dựng hoặc một quần thể

    kiến trúc cảnh quan minh hoạ cho một hay nhiều giai đoạn có ý nghĩa trong lịch sử

    nhân loại.

    (V) – Là một ví dụ tiêu biểu về sự định cư của con người hoặc một sự chiếm

    đóng lãnh thổ mang tính truyền thống và tiêu biểu cho một hoặc nhiều nền văn hóa,

    nhất là khi nó trở nên dễ bị tổn thương dưới tác động của những biến động không thể

    đảo ngược được.

    (VI) – Gắn bó trực tiếp hoặc cụ thể với những sự kiện hoặc truyền thống sinh

    hoạt với các ý tưởng, hoặc các tín ngưỡng, các tác phẩm văn học nghệ thuật có ý

    nghĩa nổi bật toàn cầu. (tiêu chuẩn này chỉ duy nhất được sử dụng trong những

    trường hợp đặc biệt và áp dụng đồng thời với các tiêu chuẩn khác).

    Tiêu chuẩn tự nhiên

    (VII) – Chứa đựng các hiện tượng, địa điểm tự nhiên hết sức nổi bật hoặc các

    khu vực có vẻ đẹp tự nhiên độc đáo và tầm quan trọng về thẩm mỹ.

    (VIII) – Là những ví dụ nổi bật đại diện cho những giai đoạn lớn trong lịch

    sử của Trái Đất, trong đó có lịch sử về sự sống, các quá trình địa chất quan trọng

    Những di tích lịch sử là những địa điểm, những công trình kỷ niệm, những vật

    kỷ niệm, những cổ vật ghi dấu bằng những sự kiện lịch sử, những cuộc chiến đấu,

    những danh nhân, anh hùng dân tộc của một thời kỳ nào đó trong quá trình lịch sử

    của mỗi địa phương, mỗi quốc gia.

     Loại hình di tích văn hoá nghệ thuật:

    Là các di tích gắn với các công trình kiến trúc có giá trị nên còn gọi là di tích

    kiến trúc nghệ thuật. Những di tích này không chỉ chứa đựng những giá trị kiến trúc

    mà còn chứa đựng cả những giá trị văn hoá xã hội, văn hoá tinh thần.

    Sự phân biệt các dạng tài nguyên du lich nói chung chỉ mang tính tương đối.

    Vì trong tài nguyên du lịch nhân văn vật thể lại chứa đựng cả tài nguyên nhân văn

    phi vật thể và ngược lại. Trong các di tích kiến trúc nghệ thuật lại thường mang

    trong mình cả những giá trị lịch sử, vì vậy nhiều nhà nghiên cứu thường gọi chung là

    Di tích Lịch sử Văn hoá nghệ thuật.

     Các danh lam thắng cảnh:

    Theo Luật Di sản Văn hoá của Việt Nam năm 2003: “Danh lam thắng cảnh là

    cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với

    công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ và khoa học”.

    Các danh lam thắng cảnh không chỉ có vẻ đẹp thiên nhiên bao la, hùng vĩ,

    thoáng đãng mà còn có giá trị nhân văn do bàn tay khối óc của con người tạo dựng

    nên.

    Các danh lam thắng cảnh thường chứa đựng trong đó giá trị của nhiều loại di

    tích lịch sử – văn hoá. Bởi thế nên nó có giá trị đặc biệt quan trọng đối với sự phát

    triển du lịch ngày nay.

     Các công trình đương đại:

    Là các công trình kiến trúc được xây dựng trong thời kỳ hiện đại, có giá trị

    kiến trúc, mỹ thuật, khoa học, kỹ thuật xây dựng, kinh tế, văn hoá thể thao hấp dẫn

    du khách có thể là đối tượng thăm quan nghiên cứu, vui chơi giả trí, chụp ảnh kỷ

    niệm,… đối với khách du lịch.

    Tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể

    a. Di sản Văn hoá truyền miệng và phi vật thể của nhân loại

    Năm 1989 tại phiên họp Đại hội đồng UNESCO đã đưa ra hai chính sách:

    Công nhận một danh hiệu cho một sản phẩm văn hoá phi vật thể, danh hiệu đó

    gọi là “kiệt tác Di sản Văn hoá truyền miệng và phi vật thể của nhân loại”.

    Di sản Văn hoá phi vật thể và truyền miệng luôn luôn được giữ gìn trình diễn,

    bổ sung truyền lại cho lớp trẻ thông qua trí nhớ và tài năng của nghệ nhân.

    b. Các lễ hội

    Ở bất cứ thời đại nào, bất cứ dân tộc nào, bất cứ mùa nào cũng đều có lễ hội,

    bởi lễ hội là một loại hình sinh hoạt văn hoá tập thể của nhân dân sau thời gian lao

    động mệt nhọc, hoặc đây là dịp để con người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại:

    ngưỡng mộ tổ tiên, ôn lại truyền thống, hoặc giải quyết những nỗi lo âu, những khao

    khát, ước mơ mà cuộc sống thực tại chưa giải quyết được.

    Cấu trúc lễ hội thường bao gồm 2 phần:

     Phần lễ:

    Các lễ hội dù lớn hay nhỏ cũng đều có phần nghi lễ với những nghi thức

    nghiêm túc, trọng thể để mở đầu ngày hội theo không gian và thời gian.

    Tùy vào tính chất của lễ hội mà phần lễ có ý nghĩa riêng. Thông thường phần

    lễ mở đầu ngày hội bao giờ cũng mang tính tưởng niệm lịch sử, hướng về một sự

    kiện lịch sử trọng đại, một vị anh hùng dân tộc lỗi lạc có ảnh hưởng lớn đến sự phát

    triển của xã hội. Bên cạnh đó cũng có những lễ hội mà phần lễ thực hiện những

    nghi lễ tôn kính, dâng hiến lễ vật cho các vị thiên thần, thánh nhân, cầu mong

    những điều tốt đẹp trong cuộc sống. Nghi lễ trong lễ hội mang ý nghĩa đặc biệt

    thiêng liêng, nó chứa đựng những giá trị văn hoá truyền thống, giá trị thẩm mỹ và tư

    duy triết học của cộng đồng.

     Phần hội:

    Trong phần hội thường diễn ra những hoạt động biểu tượng điển hình của tâm

    lý cộng đồng, văn hoá dân tộc, chứa đựng những quan niệm của dân tộc đó với thực

    tế lịch sử, xã hội và thiên nhiên.

    Trong hội thường tổ chức những trò vui chơi giải trí, biểu diễn văn hoá nghệ

    thuật. Yếu tố cấu thành và nuôi dưỡng lễ hội là kinh tế – xã hội và tự nhiên nên nội

    dung của phần hội không chỉ giữ nguyên những giá trị văn hoá truyền thống mà nó

    luôn có xu hướng bổ sung thêm những thành tố văn hoá mới. Chính đặc điểm này đã

    tạo cho lễ hội thêm sống động, vui nhộn và phong phú. Tuy nhiên nếu yếu tố này

    không được chọn lọc và giám sát chặt chẽ cũng như tuyên truyền, giáo dục, đầu tư

    bảo vệ và phát triển những giá trị văn hoá truyền thống thì sẽ làm cho những giá trị đó

    bị lai tạp, mai một và suy thoái.

    Tuỳ vào quy mô và giá trị văn hoá truyền thống còn được bảo tồn, ý nghĩa của

    lễ hội đối với quốc gia hay địa phương mà các lễ hội được xếp hạng làm lễ hội quốc

    tế hay lễ hội địa phương. Các lễ hội có sức hấp dẫn cao đối với du khách là đối

    tượng để triển khai nhiều loại hình du lịch văn hoá, đặc biệt là loại hình du lịch lễ

    hội.

     Thời gian tổ chức lễ hội:

    Các lễ hội thường được tổ chức nhiều vào sau mùa vụ sản xuất, mùa mà thời

    tiết, phong cảnh đẹp là mùa xuân và mùa thu. Các giá trị văn hoá lịch sử của lề hội là

    nguồn tài nguyên du lịch quý giá để tổ chức triển khai các loại hình tham quan,

    nghiên cứu chuyên đề lễ hội hoặc kết hợp với các loại hình du lịch tham quan,

    nghiên cứu và mua sắm.

    c. Nghề và làng nghề thủ công truyền thống

     Nghề thủ công truyền thống:

    Là những nghề có những bí quyết về công nghệ sản xuất ra các sản phẩm

    mang những giá trị thẩm mỹ, tư tưởng triết học, tâm tư tình cảm và những ước vọng

    của con người.

    Nghề thủ công truyền thống là nghề sản xuất ra nghệ thuật do những nghệ

    nhân dân gian sáng tạo, gìn giữ và phát triển từ đời này qua đời khác cho những

    người cùng huyết thông hoặc cùng làng bản. Các sản phẩm thủ công cổ truyền này

    không chỉ mang những giá trị sử dụng trong cuộc sống hàng ngày mà nó còn chứa

    đựng bên trong những giá trị về mỹ thuật, giá trị triết học, tâm linh thể hiện tài

    nghệ, tâm tư, ước vọng của người làm ra chúng. Chính những tính hữu ích và giá trị

    văn hoá của chúng mà theo dòng chảy của lịch sử, đến nay nhiều nước trên thế giới

    nói chung và Việt Nam nói riêng đã hình thành và bảo tồn được những giá trị tốt đẹp

    của tài nguyên này.

     Làng nghề:

    “Là những làng có các nghề sản xuất hàng hoá bằng các công cụ thô sơ và sức

    lao động của con người đã được hình thành một thời gian dài trong lịch sử, nghệ

    thuật sản xuất hàng hoá được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác ở trong làng. Sản

    phẩm hàng hoá được sản xuất không chỉ đáp ứng nhu cầu ở trong làng mà còn bán ở

    thị trường trong nước và quốc tế”.

    d.

    Các đối tượng văn hoá – thể thao và hoạt động nhận thức khác

    Những đối tượng văn hoá như các trung tâm khoa học, các trường đại học, các

    thư viện lớn, bảo tàng… đều có sức hấp dẫn rất lớn du khách tới tham quan và nghiên

    cứu. Những hoạt động mang tính sự kiện: các giải thể thao lớn, các cuộc triển lãm

    thành tựu kinh tế quốc dân, các hội chợ, liên hoan phim ảnh quốc tế, ca nhạc quốc

    tế… cũng là đối tượng hấp dẫn khách du lịch. Thông thường những đối tượng văn

    hoá tập trung ở các thủ đô và các thành phố lớn. Vì vậy những thành phố lớn đương

    nhiên trở thành những trung tâm du lịch văn hoá của các quốc gia, vùng và khu vực

    và là hạt nhân của các trung tâm du lịch.Vai trò tài nguyên du lịch nhân văn với phát

    triển du lịch.

    1.3.

    Vai trò tài nguyên du lịch nhân văn với phát triển du lịch

    Du lịch là ngành kinh tế mà trong sự phát triển hoạt động của ngành vai trò

    của tài nguyên rất quan trọng. TNDL nhân văn là một trong hai yếu tố, cùng với tài

    nguyên du lịch tự nhiên tạo thành các sản phẩm du lịch.

    Ta có thể tạo lập công thức như sau:

    T = A + B +C

    S=T+D

    Trong đó

    T: Tài nguyên du lịch

    A: Tài nguyên du lịch nhân văn

    B: Tài nguyên du lịch tự nhiên

    C: Tài nguyên kinh tế kĩ thuật và bổ trợ

    S: Sản phẩm du lịch

    D: Các dịch vụ và hàng hóa du lịch

    Đối với mỗi vùng miền lãnh thổ, có sự tập trung đa dạng, phong phú tài

    nguyên du lịch nhân văn thì hướng phát triển du lịch của vùng miền đó cũng theo

    quy luật lấy tài nguyên nhân văn hiện có làm cơ sở để tạo ra sản phẩm du lịch đặc

    trưng. Tài nguyên du lịch nhân văn có mối quan hệ qua lại mật thiết với các yếu tố

    khác, nó thể hiện lịch sử văn hóa vùng miền, thông qua đó tác động tới lối sống của

    dân cư địa phương, tới nghề và truyền thống văn hóa xã hội khác. Do vậy, tài nguyên

    du lịch nhân văn là yếu tố quan trọng trong việc tạo nên sản phẩm du lịch.

    Tài nguyên du lịch nhân văn là cơ sở quan trọng để phát triển các loại hình du

    lịch văn hoá. Các hình thức du lịch được đưa ra trên cơ sở của nguồn tài nguyên. Tài

    nguyên du lịch nhân văn cần phải được khai thác sao cho xứng đáng với tiềm năng

    mà không làm mất đi các giá trị truyền thống sẵn có.

    Tài nguyên du lịch nhân văn là một phần của tài nguyên du lịch, một bộ phận

    quan trọng của tổ chức lãnh thổ du lịch. Các phân hệ của hệ thống lãnh thổ du lịch

    gồm: Khách du lịch, tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du

    lịch, đội ngũ cán bộ nhân viên và bộ máy tổ chức điều hành, quản lí du lịch. Các

    phân hệ này đều có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và với môi trường kinh tế xã hội

    cũng như các phân hệ khác.

    Như vậy, có thể nói rằng tài nguyên du lịch nhân văn là nhân tố quan trọng

    trong sự phát triển du lịch. Tài nguyên du lịch nhân văn góp phần định hướng phát

    triển du lịch của địa phương, là nguồn tài nguyên có khả năng bền vững cao nếu biết

    quan tâm, bảo tồn tôn tạo một cách hợp lí. Vì vậy, trước những đặc điểm của tài

    nguyên du lịch nhân văn sẵn có mỗi địa phương hãy đưa ra các chính sách phù hợp

    để vừa phát triển du lịch, lại vừa bảo tồn được tài nguyên.

    CHƯƠNG II

    THỰC TRẠNG DU LỊCH NHÂN VĂN Ở VIỆT NAM

    2.1.

    Tài nguyên du lịch nhân văn Việt Nam

    2.1.1. Các di tích văn hóa – lịch sử

    Gía trị văn hóa – lịch sử là yếu tố cốt lõi tạo nên sự hấp dẫn và độc đáo của sản

    phẩm du lịch, có sức lôi cuốn du khách đến tìm hiểu một nền văn hóa khác lạ. Việt

    Nam là đất nước của những di tích văn hóa – lịch sử lâu đời, có giá trị cao đối với du

    lịch. Ở nước ta, 1 di tích khi đủ các điều kiện sẽ được công nhận theo thứ tự: di tích

    cấp tỉnh, di tích cấp quốc gia và di tích quốc gia đặc biệt. Tính đến năm 2014, Việt

    Nam có hơn 40.000 di tích, thắng cả nh trong đó có hơn 3.000 di tích được xếp hạng

    di tích quốc gia và hơn 7.000 di tích được xếp hạng cấp tỉnh. Mật độ và số lượng di

    tích nhiều nhất ở 11 tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng với tỷ lệ chiếm khoảng 70% di

    tích của Việt Nam. Trong số di tích quốc gia có 62 di tích quốc gia đặc biệt và trong

    số đó có 8 di sản thế giới.

    2.1.1.1.

    Thống kê di tích Việt Nam

    Các tỉnh có số lượng di tích lớn hơn 1500 gồm: Hà Nội: 5175 di tích; Bắc

    Giang: 2237 di tích,Bắc Ninh 1859 di tích,Ninh Bình: 1879 di tích, Đồng Nai: 1800

    di tích; Hà Nam: 1784 di tích; Nam Định: 1655 di tích; Thanh Hóa: 1535 di tích.

    Các tỉnh có mật độ di tích lớn nhất gồm: Hà Nam 2,07 di tích/km2; Hà Nội:

    1,56 di tích/km2; Bắc Ninh: 1,96 di tích/km2; Ninh Bình: 1,36 di tích/km2 và Hưng

    Yên: 1,31 di tích/km2.

    Bảng 2.1: Thống kê di tích Việt Nam

    Nguồn: vi.wikipedia.org

    STT

    Tên tỉnh

    Tổng di tích

    1287

    1

    An Giang

    2

    Bà Rịa Vũng Tàu

    31

    14

    150

    2014

    3

    Bạc Liêu

    10

    35

    130

    2014

    4

    Bắc Giang

    99

    539

    2237

    2014

    5

    Bắc Kạn

    12

    33

    160

    2014

    Bắc Ninh

    297

    726

    1859

    2014

    7

    Bến Tre

    15

    22

    8

    Bình Dương

    12

    38

    500

    2015

    9

    Bình Định

    33

    50

    231

    2008

    10

    Bình Phước

    9

    3

    12

    2009

    11

    Bình Thuận

    24

    20

    300

    2012

    12

    Cà Mau

    9

    17

    13

    Cao Bằng

    26

    36

    226

    2008

    14

    Cần Thơ

    4

    16

    20

    2009

    15

    Đà Nẵng

    16

    37

    200

    2011

    16

    Đăk Lăk

    12

    4

    58

    2012

    17

    Đăk Nông

    9

    1

    2014

    18

    Điện Biên

    7

    10

    2014

    19

    Đồng Nai

    27

    19

    1800

    2013

    20

    Đồng Tháp

    13

    50

    91

    2015

    21

    Gia Lai

    13

    3

    30

    2009

    22

    Hà Giang

    15

    2

    36

    2010

    23

    Hà Nam

    69

    54

    1784

    2010

    24

    Hà Nội

    1196

    1156

    5175

    2015

    25

    Hà Tĩnh

    75

    393

    500

    2015

    26

    Hải Dương

    146

    89

    1098

    2009

    27

    Hải Phòng

    110

    208

    236

    2009

    28

    Hậu Giang

    9

    6

    188

    2015

    29

    Hòa Bình

    41

    27

    295

    2015

    30

    Hưng Yên

    159

    88

    1210

    2010

    31

    Khánh Hòa

    13

    98

    1091

    2009

    32

    Kiên Giang

    22

    13

    200

    2009

    33

    Kon Tum

    5

    8

    2014

    34

    Lai Châu

    4

    14

    2014

    35

    Lạng Sơn

    23

    95

    581

    2013

    36

    Lào Cai

    15

    11

    50

    2015

    37

    Lâm Đồng

    20

    10

    38

    Long An

    16

    65

    2015

    2015

    2009

    Nam Định

    74

    125

    1655

    2010

    40

    Nghệ An

    50

    70

    1000

    2010

    41

    Ninh Bình

    103

    235

    1879

    2015

    42

    Ninh Thuận

    14

    27

    233

    2014

    43

    Phú Thọ

    73

    218

    1372

    2014

    44

    Phú Yên

    18

    21

    45

    Quảng Bình

    45

    34

    150

    2010

    46

    Quảng Nam

    60

    300

    500

    2015

    47

    Quảng Ngãi

    28

    76

    199

    2014

    48

    Quảng Ninh

    60

    44

    626

    2010

    49

    Quảng Trị

    29

    160

    489

    2010

    50

    Sóc Trăng

    8

    22

    300

    2010

    51

    Sơn La

    11

    34

    64

    2010

    52

    Tây Ninh

    22

    54

    365

    2010

    53

    Thái Bình

    91

    349

    1400

    2007

    54

    Thái Nguyên

    36

    70

    780

    2010

    55

    Thanh Hóa

    136

    441

    1535

    2009

    56

    Thừa Thiên Huế

    32

    88

    902

    2010

    57

    Tiền Giang

    20

    86

    106

    2010

    58

    TP. Hồ Chí Minh

    54

    91

    400

    2010

    59

    Trà Vinh

    12

    16

    533

    2015

    60

    Tuyên Quang

    88

    55

    498

    2010

    61

    Vĩnh Long

    10

    36

    450

    2014

    62

    Vĩnh Phúc

    68

    222

    1264

    2010

    63

    Yên Bái

    10

    34

    500

    2013

    2.1.1.2.

    2014

    Phân loại di tích

    Căn cứ Điều 4 Luật di sản văn hoá, Điều 14 Nghị định số 92/2002/NĐCP ngày

    11/11/2002 của Chính phủ Việt Nam quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật

    Di sản văn hoá, các di tích được phân loại như sau:

     Di tích lịch sử văn hoá

    Di tích lịch sử văn hoá là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật,

    bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học.

    Di tích lịch sử văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau đây:

    Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình

    dựng nước và giữ nước. Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như đền Hùng, Cổ Loa,

    Hình 2.1: Du lịch – Atlat Địa lý Việt nam

    Nguồn: onthidialy.files.wordpss.com

    Cố đô Hoa Lư, Bãi cọc Bạch Đằng, Cột cờ… Công trình xây dựng, địa điểm

    gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân của đất nước. Các di

    tích tiêu biểu thuộc loại này như Khu di tích lịch sử Kim Liên, Đền Kiếp Bạc, Quần

    thể di tích danh thắng Yên Tử, Lam Kinh, đền Đồng Nhân…

    Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ

    cách mạng, kháng chiến. Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như Khu di tích chiến

    thắng Điện Biên Phủ, Địa đạo Củ Chi, Khu di tích lịch sử cách mạng Pắc Bó, Phòng

    tuyến Tam Điệp, Hành cung Vũ Lâm, Khu rừng Trần Hưng Đạo… Năm 2010, di tích

    lịch sử chiếm 51.2% số di tích được xếp hạng. Các di tích này không những có giá trị

    lịch sử và văn hóa mà còn mang lại những giá trị lớn trên phương diện kinh tế, nhất là

    kinh tế du lịch.

     Di tích kiến trúc nghệ thuật

    Di tích kiến trúc nghệ thuật là công trình kiến trúc nghệ thuật, tổng thể kiến

    trúc đô thị và đô thị có giá trị tiêu biểu trong các giai đoạn phát triển nghệ thuật kiến

    trúc của dân tộc. Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có

    giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử. Các di

    tích tiêu biểu loại này như Chùa Bút Tháp, phố cổ Hội An, nhà thờ Phát Diệm, chùa

    Keo, đình Tây Đằng,Chùa Phật Tích. Năm 2010, di tích kiến trúc nghệ thuật chiếm

    44.2% tổng số di tích được xếp hạng.

     Di tích khảo cổ

    Di tích khảo cổ là những địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai

    đoạn phát triển của các văn hoá khảo cổ. Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như

    Hoàng thành Thăng Long, hang Con Moong, di chỉ Đông Sơn, động Người Xưa,

    thánh địa Mỹ Sơn. Năm 2010, di tích khảo cổ chiếm 1.3% các di tích được xếp hạng.

     Di tích thắng cảnh

    Di tích thắng cảnh (danh lam thắng cảnh) là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa

    điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch

    sử, thẩm mỹ, khoa học. Danh lam thắng cảnh phải có một trong các tiêu chí sau đây:

    Cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên

    với công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu. Các di tích quốc gia đặc biệt tiêu

    biểu thuộc loại này như 4 danh lam thắng cảnh khu danh thắng Tây Thiên, Tràng An

    Tam Cốc Bích Động, vịnh Hạ Long, động Phong Nha.

    Khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng

    sinh học, hệ sinh thái đặc thù hoặc khu vực thiên nhiên chứa đựng những dấu tích vật

    chất về các giai đoạn phát triển của Trái Đất. Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như

    vịnh Hạ Long, Cao nguyên Đồng Văn, các vườn quốc gia và khu dự trữ sinh quyển

    thế giới ở Việt Nam. Danh lam thắng cảnh chiếm khoảng 3.3% số di tích được xếp

    hạng.

     Di tích lịch sử cách mạng

    Di tích cách mạng kháng chiến là một bộ phận cấu thành hệ thống các di tích

    lịch sử văn hoá, tuy nhiên, nó có những điểm khác với các di tích tôn giáo tín ngưỡng

    như đình, đền, chùa, miếu… ở chỗ: đó là những địa điểm cụ thể, công trình kiến trúc

    có sẵn (nhà ở, đường phố…), là những công trình được con người tạo nên phù hợp

    với mục đích sử dụng (địa đạo, hầm bí mật…) gắn liền với những sự kiện cụ thể,

    nhân vật lịch sử cụ thể mà trở thành di tích. Loại hình di tích này rất đa dạng, phong

    phú, có mặt ở khắp mọi nơi, khó nhận biết, đồng thời cũng rất dễ bị lãng quên, dễ

    biến dạng theo mục đích sử dụng, theo thời tiết và theo thời gian. Bởi vậy các di tích

    này vừa khó bảo tồn vừa khó phát huy tác dụng nếu không được quan tâm đặc biệt.

    Một số di tích lịch sử cách mạng như: Chiến khu Tân Trào, Chiến khu Quỳnh Lưu,

    Khu di tích chiến thắng Điện Biên Phủ,…

    2.1.1.3.

    Phân cấp di tích

    Di tích quốc gia đặc biệt là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia. Thủ

    tướng Chính phủ quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt; quyết định việc đề

    nghị Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hợp quốc xem xét đưa di tích

    tiêu biểu của Việt Nam vào Danh mục di sản thế giới. Di tích quốc gia đặc biệt ở Việt

    Nam được xếp hạng các đợt đầu gồm: Cố đô Hoa Lư, Di tích Pác Bó, Dinh Độc Lập,

    Hoàng thành Thăng Long, Khu căn cứ Trung ương Cục miền Nam, Khu di tích ATK

    Thái Nguyên, Khu di tích chiến thắng Điện Biên Phủ, Khu di tích Côn Sơn Kiếp Bạc,

    Khu di tích khởi nghĩa Yên Thế, Khu di tích Kim Liên, Khu di tích Phủ Chủ tịch, Khu

    di tích Tân Trào, Khu lưu niệm chủ tịch Tôn Đức Thắng, Nhà tù Côn Đảo, Quần thể

    di tích Cố đô Huế, Thành nhà Hồ, Thánh địa Mỹ Sơn, Thắng cảnh Tràng An Tam

    Cốc Bích Động, Văn Miếu Quốc Tử Giám, Vườn quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng,

    Vịnh Hạ Long, Đô thị cổ Hội An và Đền Hùng.

    Trong trường hợp di tích đã được xếp hạng mà sau đó có đủ căn cứ xác định là

    không đủ tiêu chuẩn hoặc bị huỷ hoại không có khả năng phục hồi thì người có thẩm

    quyền quyết định xếp hạng di tích nào có quyền ra quyết định huỷ bỏ xếp hạng đối

    với di tích đó.

    2.1.1.4.

    Di sản thế giới văn hóa thế giới

    Việt Nam với bề dày lịch sử hang nghìn năm dựng nước và giữ nước, đã hun

    đúc nên biết bao nét đẹp văn hóa truyền thống, trong đó có giá trị văn hóa được cả thế

    giới tôn vinh. NQ TW5 (khóa VII) của Đảng ta khẳng định: “Di sản văn hóa là tài

    sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc và cơ sở để sáng

    tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa. Cần phải hết sức coi trọng bảo tồn, kế

    thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc (bác học và nhân

    gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể”. Tại

    thời điểm cập nhật, trên cả nước có 17 di sản văn hóa được UNESCO công nhận.

    Trong đó 8 di sản văn hóa vật thể, 9 di sản là kiệt tác phi vật thể và truyền khẩu của

    nhân loại. Các di sản có sức hấp dẫn đặc biệt với du khách và là niềm tự hào, là tài

    sản vô giá của quốc gia và nhân loại.

    Bảng 2.2: Di sản văn hóa vật thể được UNESCO công nhận

    Nguồn: vi.wikipedia.org

    STT

    Di sản

    1

    Quần thể di tích Cố đô Huế

    Hạng mục

    Di sản văn hóa:

    (III), (IV)

    Địa phương Năm

    Huế

    1993

    Di sản

    2

    Vịnh Hạ Long

    Di sản thiên nhiên:

    (VII), (VIII)

    Quảng Ninh 1994

    3

    Phố cổ Hội An

    Di sản văn hóa:

    (II), (V)

    Quảng Nam 1999

    4

    Thánh địa Mỹ Sơn

    Di sản văn hóa:

    (II), (III)

    Quảng Nam 1999

    5

    Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ

    Bàng

    Di sản thiên nhiên:

    (VIII)

    Quảng Bình 2003

    6

    Trung tâm Hoàng thành

    Thăng Long

    Di sản văn hóa:

    (II), (III), (VI)

    7

    Thành nhà Hồ

    Di sản văn hóa:

    (II), (IV)

    Thanh Hóa 2011

    Di sản hỗn hợp:

    (V), (VII), (VIII)

    Ninh Bình

    8

    Quần thể danh thắng

    Tràng An

    Hạng mục

    Địa phương Năm

    Hà Nội

    2010

    2014

    Bảng 2.3: Di sản văn hóa phi vật thể tại Việt Nam

    Nguồn: Samthienha.com phương Năm

    STT

    Di sản

    Hạng mục

    1

    Nhã nhạc cung đình Huế

    Kiệt tác phi vật thể và truyền

    khẩu của nhân loại

    Huế

    2003

    2

    Không gian văn hóa Cồng Chiêng

    Tây Nguyên

    Kiệt tác phi vật thể và truyền

    khẩu của nhân loại

    Tây Nguyên

    2005

    3

    Dân ca Quan họ

    Di sản phi vật thể đại diện cho

    nhân loại

    Bắc Ninh

    2008

    4

    Ca trù

    Di sản phi vật thể đại diện cho

    nhân loại cần bảo vệ gấp

    Bắc Bộ

    2009

    5

    Hội Gióng tại đền Phù Đổng và

    đền Sóc, Hà Nội

    Di sản phi vật thể

    Hà Nội

    2009

    6

    Hát xoan

    Di sản phi vật thể

    Phú Thọ

    2010

    7

    Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương

    Di sản phi vật thể đại diện cho

    nhân loại

    Phú Thọ

    2011

    8

    Đờn ca tài tử Nam Bộ

    Kiệt tác phi vật thể và truyền

    Nam Bộ

    2012

    Kiệt tác phi vật thể và truyền Nghệ An –

    khẩu của nhân loại

    Hà Tĩnh

    Di sản vật thể của Việt Nam được UNESCO công nhận

    Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh

    2.2. Quần thể di tích Cố đô Huế

    vietnamtourism.gov.vn

    2.4. Thánh địa Mỹ Sơn

    vietnamtourism.gov.vn

    2013

    2.3. Vịnh Hạ Long

    vietnamtourism.gov.vn

    2.5. Phố cổ Hội An

    vietnamtourism.gov.vn

    2.7. Hoàng Thành Thăng Long

    2.6. Phong Nha-Kẻ Bàng

    thiennhien.net

    2.8. Thành Nhà Hồ

    www.dulichvn.org.vn

    vietnamtourism.gov.vn

    2.9. Quần thể danh thắng Tràng An

    vietnamtourism.gov.vn

    2.1.2. Lễ hội

    Là sự kiện văn hóa được tổ chức mang tính cộng đồng. “Lễ” là hệ thống những

    hành vi, động tác nhằm biểu hiện sự tôn kính của con người với thần linh, phản ánh

    những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có

    khả năng thực hiện. “Hội” là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng,

    xuất phát từ nhu cầu cuộc sống.

    2.1.2.1. Thống kê lễ hội

    Theo thống kê 2009, hiện cả nước Việt Nam có 7.966 lễ hội; trong đó có 7.039

    lễ hội dân gian (chiếm 88,36%), 332 lễ hội lịch sử (chiếm 4,16%), 544 lễ hội tôn giáo

    (chiếm 6,28%), 10 lễ hội du nhập từ nước ngoài (chiếm 0,12%), còn lại là lễ hội khác

    (chiếm 0,5%). Các địa phương có nhiều lễ hội là Hà Nội, Bắc Ninh, Hà Nam, Hải

    Dương và Phú Thọ.

    Việt Nam là một quốc gia đã có hàng nghìn năm lịch sử. Cũng như nhiều quốc

    gia khác trên thế giới, Việt Nam có một nền văn hóa mang bản sắc riêng. Chính

    những nét đó làm nên cốt cách, hình hài và bản sắc của dân tộc Việt Nam.

    Trong kho tàng văn hóa của dân tộc Việt Nam, sinh hoạt lễ hội là vùng văn hóa

    rất đặc trưng. Lễ hội là sinh hoạt văn hóa dân gian hầu như có mặt ở khắp mọi

    miền đất nước. Nhiều lễ hội ra đời cách đây hàng nghìn năm đến nay vẫn được duy

    trì. Lễ hội ở Việt Nam bao giờ cũng hướng tới một đối tượng thiêng liêng cần suy tôn

    là nhân thần hay nhiên thần. Đó chính là hình ảnh hội tụ những phẩm chất cao đẹp

    nhất của con người. Giúp con người nhớ về nguồn cội, hướng thiện và nhằm tạo dựng

    một cuộc sống tốt lành, yên vui.

    Lễ hội truyền thống ở Việt Nam thường diễn ra vào mùa Xuân và số ít vào mùa

    Thu là hai mùa đẹp nhất trong năm, đồng thời cũng là lúc nhà nông có thời gian nhàn

    rỗi. Trong số các lễ hội Việt Nam thì phải kể đến những lễ hội chi phối hầu hết các gia

    đình trên mọi miền tổ quốc, đó là Tết Nguyên Đán, Lễ Vu Lan và tết Trung Thu. Gần

    đây một số lễ hội được nhà nước và nhân dân quan tâm như: Lễ hội đền Hùng,Lễ hội

    Tịch điền Đọi Sơn,Giáng Sinh, Hội Phật Tích.

    Một số lễ hội lớn ảnh hưởng cả một vùng rộng lớn, tiêu biểu như: hội

    Gióng (xứ Kinh Bắc), lễ hội đền Hùng (Xứ Đoài), lễ hội chùa Bái Đính, Hội Lim

    (Kinh Bắc) phủ Dày,(xứ Sơn Nam), lễ hội Yên Tử, lễ hội bà chúa Xứ (An Giang), Lễ

    hội pháo hoa Quốc tế Đà Nẵng (thành phố Đà Nẵng)…

    2.1.2.2. Phân cấp lễ hội

    Khác với các di tích Việt Nam đã được kiểm kê và phân cấp theo quy định, các

    lễ hội ở Việt Nam chưa được quy định phân cấp bài bản. Có những lễ hội bị biến

    tướng, trần tục hoá, mở hội tràn lan… nhiều ý kiến đề xuất việc kiểm kê các lễ hội

    trên toàn quốc để tiến tới phân cấp lễ hội theo các cấp: lễ hội cấp quốc gia, lễ hội cấp

    tỉnh, lễ hội cấp huyện và lễ hội cấp làng. Theo bà Lê Thị Minh Lý – Phó Cục trưởng

    Cục Di sản Văn hoá, điểm yếu trong việc quản lý lễ hội hiện nay đó là chưa có cơ sở

    dữ liệu khoa học và quan điểm tiếp cận đúng. Không nên đánh đồng giữa lễ hội và

    festival.

    Tùy vào từng thời điểm, vào chủ thể mà lễ hội hiện nay được tổ chức ở nhiều

    cấp khác nhau. Ví dụ như lễ hội đền Hùng được tổ chức ở quy mô quốc gia 5 năm/

    lần. Những năm số lẻ thì lại được tổ chức ở quy mô cấp tỉnh. Các lễ hội thường được

    tổ chức ở quy mô cấp tỉnh như hội Lim, lễ hội Lam Kinh (Thanh Hóa), lễ hội đền

    Trần (Nam Định)… Các lễ hội ở quy mô cấp huyện tiêu biểu như lễ hội đền Nguyễn

    Công Trứ ở Kim Sơn (Ninh Bình) vàTiền Hải (Thái Bình) để tưởng niệm người chiêu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Du Lịch Sông Cầu Phú Yên Có Gì Đẹp?
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Sông Cầu, Phú Yên (Cập Nhật 08/2020)
  • Du Lịch Thái Lan Nên Đi Tour Hay Đi Tự Túc?
  • Nên Đi Du Lịch Thái Lan Theo Tour Hay Tự Túc?
  • Khám Phá Du Lịch Bắc Kinh Vào Mùa Xuân
  • Tài Nguyên Du Lịch Nhân Văn

    --- Bài mới hơn ---

  • Tour Du Lịch Đà Nẵng Với Giá Rẻ Chỉ Từ 2.050.000 Vnđ
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Cuba Cực Bổ Ích Và “siêu” Tiết Kiệm
  • Cách Làm Thủ Tục Xin Visa Du Lịch Nhật Bản Tự Túc
  • Du Lịch Khoang Xanh Suối Tiên 2 Ngày 1 Đêm Thoả Sức Tận Hưởng Thiên Nhiên Trong Lành
  • Xin Visa Du Lịch Bi
  • Posted on by tailieudulich

    2.3. Tài nguyên du lịch nhân văn (TNDLNV)

    2.3.1. Quan niệm.

    TNDLNV nói một cách ngắn gọn, là các đối tượng, hiện tượng do con người tạo ra trong suốt quá trình tồn tại và có giá trị phục vụ cho nhu cầu du lịch.

    TNDLNV có các đặc điểm sau:

    – Có tác dụng nhận thức nhiều hơn. Tác dụng giải trí không điển hình hoặc chỉ có ý nghĩa thứ yếu.

    – Việc tìm hiểu các đối tượng nhân tạo thường diễn ra trong thời gian ngắn.

    – Số người quan tâm tới TNDLNV thường có văn hoá cao hơn, thu nhập và yêu cầu cao hơn.

    – TNDLNV thường tập trung ở các điểm quần cư và thành phố lớn.

    – Ưu thế của TNDLNV là đại bộ phận không có tính mùa vụ (trừ các lễ hội), không bị phụ thuộc nhiều vào các điều kiện khí hậu và các điều kiện tự nhiên khác.

    – Sở thích của những người tìm đến TNDLNV rất phức tạp và rất khác nhau…

    2.3.2. Các loại TNDLNV.

    a. Các di sản văn hoá thế giới và di tích lịch sử – văn hoá.

    * Di sản văn hoá thế giới .

    – Các tiêu chuẩn của văn hoá thế giới (6 tiêu chuẩn).

    + Là các tác phẩm nghệ thuật độc nhất vô nhị, tác phẩm hàng đầu của tài năng con người.

    + Có ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển của nghệ thuật kiến trúc, nghệ thuật cấu tạo không gian trong một thời kỳ nhất định, trong một khung cảnh văn hoá nhất định.

    + Chứng cớ xác thực cho một nền văn minh đã bị biến mất.

    + Cung cấp một ví dụ hùng hồn về một thể loại xây dựng hoặc kiến trúc phản ánh một giai đoạn lịch sử có ý nghĩa.

    + Cung cấp một ví dụ hùng hồn về một dạng nhà truyền thống nói lên được một nền văn hoá có nguy cơ bị huỷ hoại trước những biến động không thể cưỡng lại được.

    + Có mối quan hệ trực tiếp với sự kiện, tín ngưỡng đáp ứng được những tiêu chuẩn xác thực về ý tưởng sáng tạo, về vật liệu, về cách tạo lập cũng như về vị trí.

    – Nhìn chung, các di sản văn hoá thế giới là kết tinh cao nhất của những sáng tạo văn hoá một dân tộc. Bất cứ một quốc gia nào nếu có những di tích được công nhận là di sản văn hoá thế giới thì không những là một tôn vinh lớn cho dân tộc ấy, mà còn là nguồn tài nguyên quý giá, có sức hút khách du lịch, đặc biệt là khách quốc tế.

    Hết năm 2006, trên toàn thế giới Hội đồng di sản thế giới đã công nhận được 840 di sản. Nước ta có 7 di sản thế giới, trong đó có 5 di sản văn hoá gồm cố đô Huế (công nhận năm 1993), tháp Chàm Mỹ Sơn (1999), đô thị cổ Hội An (1999) nhã nhạc cung đình Huế (2003), cồng chiêng Tây Nguyên (2005) và 2 di sản tự nhiên gồm vịnh Hạ Long (1994) và Phong Nha – Kẻ Bàng (2003).

    Trong số các di sản thế giới phải kể tới 7 kỳ quan do bàn tay khối óc con người tạo ra tập trung ở những nôi của nền văn minh nhân loại. Đây là 7 kỳ quan kỳ diệu được khắc mốc ghi tên từ thế kỷ VI sau công nguyên, như những chứng tích điển hình. Cụ thể là:

    Kim tự tháp Ai Cập.

    Vườn treo Babilon (Irắc).

    Tượng khổng lồ Hêliốt trên đảo Rốt (Hy lạp).

    Lăng mộ vua Môdôn ở Halicacnasơ (Thổ Nhĩ Kỳ).

    Đền thờ nữ thần Actêmis ở Ephedo (Thổ Nhĩ Kỳ).

    Tượng thần Rớt trong ngôi đền tại Olympia (Hy Lạp).

    Ngọn hải đăng ở Alêcxanđria (Ai Cập).

    Trong 7 kỳ quan trên, chỉ còn kim tự tháp Ai Cập là vẫn tồn tại

    * Các di tích lịch sử tích lịch sử – văn hoá

    Di tích lịch sử tích lịch sử – văn hoá là tài sản quý giá của mỗi địa phương, mỗi dân tộc, đất nước và cả nhân loại. Nó là bằng chứng trung thành, xác thực, cụ thể về đặc điểm văn hoá mỗi nước. Ở đó chứa đựng tất cả những gì thuộc về truyền thống tốt đẹp, những tinh hoa, trí tuệ, tài năng, giá trị văn hoá nghệ thuật của mỗi quốc gia. Di tích lịch sử – văn hoá có khả năng rất lớn góp phần vào việc phát triển trí tuệ, tài năng của con người; góp phần vào việc phát triển khoa học nhân văn, khoa học lịch sử. Đó chính là bộ mặt quá khứ của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia.

    Trên thế giới những kim tự tháp ở Ai Cập, chùa tháp dát vàng, bạc ở Ấn Độ, Mianma, Angcovát ở Campuchia… và trong nước với thành Cổ Loa, đền Hùng, cố đô Huế, thánh địa Mỹ Sơn… vẫn mãi là biểu tượng chói ngời cho kho tàng văn hoá dân tộc và của nhân loại.

    Được gọi chung là di tích lịch sử – văn hoá vì chúng được tạo ra bởi con người (tập thể hoặc cá nhân) trong quá trình hoạt động, sáng tạo. Thứ văn hoá ở đây bao gồm cả văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần.

    Hiện nay, một số nước trên thế giới đã có những quy định về di tích lịch sử văn hoá.

    – Theo hiến chương Vơnidơ – Italia (1996) thì di tích lịch sử văn hoá bao gồm những công trình xây dựng lẻ loi, những khu di tích ở đô thị hoặc nông thôn, là những bằng chứng của một nền văn minh riêng biệt, của một sự tiến hoá có ý nghĩa hay là một biến cố về lịch sử.

    – Ở Ai Cập (1983) cho rằng các di tích lịch sử – văn hoá là cổ vật bất động sản và động sản. Cụ thể “Được coi là cổ vật mọi động sản hoặc bất động sản được làm ra từ các nền văn minh khác nhau, hoặc một sáng tạo nghệ thuật, khoa học, văn hoá, hoặc tôn giáo của thời đại tiền sử, hoặc các thời kỳ kế tiếp nhau của lịch sử và ngược trở lên một trăm năm, khi tài sản đó có một giá trị quan trọng về khảo cổ học hay lịch sử, là chứng cứ của một nền văn minh khác nhau đã tồn tại trên đất Ai Cập, đã có với đất nước Ai Cập những qua hệ lịch sử, cũng được coi là cổ vật, kể cả các di hài người và động vật cùng niên đại với thời kỳ ấy”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tài Nguyên Du Lịch Nhân Văn Việt Nam
  • Du Lịch Sông Cầu Phú Yên Có Gì Đẹp?
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Sông Cầu, Phú Yên (Cập Nhật 08/2020)
  • Du Lịch Thái Lan Nên Đi Tour Hay Đi Tự Túc?
  • Nên Đi Du Lịch Thái Lan Theo Tour Hay Tự Túc?
  • Luận Văn Đề Tài Đánh Giá Tài Nguyên Du Lịch Nhân Văn Tỉnh Ninh Bình

    --- Bài mới hơn ---

  • Vĩnh Phúc Đẩy Mạnh Thu Hút Đầu Tư Và Du Lịch
  • Khai Thác Tốt Tiềm Năng Du Lịch Tự Nhiên Sẽ Tạo Đà Phát Triển Cho Du Lịch Hà Nội
  • Khai Thác Tiềm Năng Du Lịch Từ Tài Nguyên Văn Hóa
  • 10 Lí Do Tại Sao Khách Du Lịch Yêu Thích Thái Lan
  • Tại Sao Du Lịch Thái Lan Ngày Càng Phát Triển Như Thế?
  • Ngày nay du lịch đã trở thành một hiện tƣợng kinh tế – xã hội phổ biến không chỉ ở các nƣớc phát triển mà ở cả các nƣớc đang phát triển trong đó có Việt Nam. Việc đầu tiên khi tập trung phát triển du lịch là phải nhận diện tiềm năng du lịch. Du lịch là ngành có định hƣớng tài nguyên rõ rệt. Tài nguyên du lịch càng phong phú đặc sắc bao nhiêu thì sức hấp dẫn và hiệu quả của hoạt động du lịch càng cao bấy nhiêu. Do vậy việc tìm hiểu đánh giá tài nguyên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc phát triển du lịch. Ninh Bình là một tỉnh cực nam của đồng bằng Bắc Bộ, có vị trí địa lý và hệ thống đƣờng sắt, đƣờng bộ, đƣờng thủy rất thuận tiện cho giao lƣu phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội. Đặc biệt Ninh Bình nằm ở vùng cửa ngõ miền Bắc Việt Nam cách thủ đô Hà Nội 93km là một trong những trung tâm du lịch lớn nhất cả nƣớc. Vùng đất Ninh Bình là kinh đô của nƣớc Việt thế kỉ X mảnh đất gắn với sự nghiệp của 6 vị vua thuộc 3 triều đại Đinh, Lê, Lý với những dấu ấn lịch sử: Thống nhất giang sơn, đánh Tống – dẹp Chiêm và phát tích quá trình định đô ở Hà Nội. Với lịch sử hàng ngàn năm dựng nƣớc đã tạo nên Ninh Bình thành một vùng đất thiêng, nơi phát tích của nhiều danh nhân, anh hùng dân tộc nhƣ: anh hùng dân tộc Đinh Bộ Lĩnh, Trƣơng Hán Siêu Đây cũng là miền đất cội nguồn, là kho tàng của văn hóa dân gian đặc sắc của miền đồng bằng Bắc Bộ, với những làn điệu hát chèo, hát chầu văn cùng với những di tích lịch sử văn hóa nổi tiếng nhƣ: Cố đô Hoa Lƣ, chùa Bái Đính, nhà thờ đá Phát Diệm. Với nguồn tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn đặc sắc đó đã tạo điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch tỉnh thành một ngành kinh tế quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nƣớc.

    TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC

    TIN KHUYẾN MÃI

    • Thư viện tài liệu Phong Phú

      Hỗ trợ download nhiều Website

    • Nạp thẻ & Download nhanh

      Hỗ trợ nạp thẻ qua Momo & Zalo Pay

    • Nhận nhiều khuyến mãi

      Khi đăng ký & nạp thẻ ngay Hôm Nay

    NẠP THẺ NGAY

    DANH MỤC TÀI LIỆU LUẬN VĂN

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bảo Vệ Môi Trường Và Tài Nguyên Thiên Nhiên Trong Hoạt Động Du Lịch
  • Tiềm Năng Du Lịch Tây Bắc
  • Nhiều Tiềm Năng Phát Triển Du Lịch Sơn La
  • Du Lịch Miền Tây Nam Bộ
  • Phát Triển Du Lịch Gắn Với Hoạt Động Văn Hóa Đang Dần Phát Triển Tại Đà Lạt
  • Tài Nguyên Văn Hóa Là Đặc Sắc Của Du Lịch Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Điều Cần Lưu Ý Khi Đi Du Lịch Hà Giang Mà Bạn Cần Phải Biết
  • Top 20 Khách Sạn Nên Ở Khi Đi Du Lịch Tại Singapore Từ Cao Cấp Đến Bình Dân
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Tam Đảo 1 Ngày
  • Du Lịch Tổng Hợp: Những Địa Điểm Du Lịch Lý Tưởng Gần Seoul
  • Tour Du Lịch Hải Phòng Nha Trang 3 Ngày 2 Đêm Khởi Hành Hằng Ngày
  • Văn hóa là khái niệm rất rộng, bao trùm mọi hành vi, ứng xử của con người trong cuộc sống; trong đó có du lịch. Tài nguyên du lịch gồm tài nguyên tự nhiên và tài nguyên văn hóa.

    Tài nguyên du lịch tự nhiên cũng phục vụ nhu cầu văn hóa của con người. Ở nghĩa hẹp hơn, người ta nói nhiều đến văn hóa du lịch. Không có thuật ngữ du lịch văn hóa như một loại hình, bên cạnh du lịch sinh thái, thể thao, nghỉ dưỡng…

    Theo Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên thế giới (World Wide Fund For Nature – WWF), Việt Nam xếp 30/140 quốc gia về tài nguyên văn hóa.

    Tổ chức giải thưởng du lịch thế giới (World Travel Awards – WTA) đề cử Việt Nam là điểm đến văn hóa hàng đầu của du lịch toàn cầu. Đa phần du khách, cả trong nước và quốc tế, đều mong muốn được trải nghiệm những khác biệt về văn hóa Việt Nam và chưa được thỏa mãn.

    Du khách có phần ấm ức, thất vọng. Người trong cuộc thì vò đầu, bứt tai than “Lực bất tòng tâm” hoặc “Quân ta hại quân mình”; kiểu một người xây, mấy kẻ phá. Người xưa từng dạy “Tiên trách kỷ, hậu trách nhân”. Phải nhấn mạnh vế đầu, vế sau không đáng kể. Vấn đề là có dám nhìn thẳng vào những sự thật hay không.

    Những sự thật trần trụi

    Du lịch vốn là một phần tất yếu (chứ không phải tất cả) của văn hóa. Tổng cục Du lịch trực thuộc Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch. Thể thao cũng là văn hóa. Chữ văn hóa ở đây được hiểu theo nghĩa là nghệ thuật. Tiếng Việt phong phú đến rối ren do cách dùng tùy tiện. Trong lý lịch cá nhân, có phần “Trình độ văn hóa” thay vì “Trình độ học vấn”. Tương tự, các cụm từ “Học văn hóa”, “Bổ túc văn hóa”; phải được thay bằng “học chữ”, “học nghề” (đủ thứ).

    Trong kinh doanh, ngoài chất lượng thì yếu tố quyết định thành công là sự khác biệt tích cực. Phải viết như vậy để phân biệt với sự khác biệt dị hợm, tiêu cực. Ngon và đẹp thì tùy cảm nhận của từng người, từng vùng nhưng lạ thì dễ dàng thống nhất. “Nửa ký của lạ bằng mấy tạ của quen” là vậy. Việt Nam có rất nhiều cái lạ. Đáng tiếc là cái lạ bản sắc, tích cực thì ít được giữ gìn và phát triển. Cái lạ tiêu cực thì cứ sinh sản vô tính.

    Ai cũng biết, các cửa khẩu là ấn tượng đầu tiên của du khách về bộ mặt quốc gia cần được chăm chút. Đáng buồn vì Việt Nam vẫn có nhiều nơi đang đón khách bằng thủ tục hành chính rườm rà. Cả thái độ lẫn tinh thần phục vụ của nhân viên đều có vấn đề, chưa kể trình độ ngoại ngữ; khác hẳn với sự thân thiện của người dân và truyền thống hiếu khách của dân tộc. Cứ tưởng là mấy chuyện nhỏ nhưng tác hại lớn, tạo nên những khó chịu, bực dọc và thành kiến tiếp theo, nhất là những ai lần đầu đến Việt Nam.

    Vào “nhà” thì rối ren đủ thứ. Trái với các nước phát triển, xe cộ ở Việt Nam là hung thần của người đi bộ. Giao thông hỗn loạn, không kiểm soát được, dù cảnh sát giao thông mai phục khắp chốn. Ở Samthienha.com còn có lực lượng áo xanh đông đảo phất cờ làm kiểng. An ninh của du khách thường xuyên bị đe dọa. Từ vấn nạn chặt chém của taxi, nhà hàng đến giựt dọc trên đường phố. Du khách bị khủng bố tinh thần vì thiếu nhà vệ sinh hoặc có mà dơ bẩn, vì phập phồng cướp giật, vì vệ sinh môi trường lẫn vệ sinh thực phẩm. Chất lượng các dịch vụ chưa thể so sánh với các đối thủ cạnh tranh trong khu vực.

    Vì những ý muốn chủ quan của các nhà quản lý, không ít di sản văn hóa bị xóa sổ. Chùa Bái Đính cổ gần như biến mất. Thay vào đó là chùa mới, to vật vã nhưng dường như…vô hồn. Đường xe lửa răng cưa Phan Rang – Đà Lạt bị tháo dỡ, các đầu máy được bán sắt vụn cho Thụy Sĩ. Họ mua về làm du lịch, vẫn lịch sự giữ nguyên dòng chữ “Toa xe Đà Lạt”. Ngay cả cầu Bến Hải cũng bị tháo dỡ. Báo chí và dư luận lên tiếng, cầu được phục chế.

    Đáng tiếc nhất là việc di dời chợ nổi Ngã Bảy Phụng Hiệp (Hậu Giang), đã xóa sổ thương hiệu lừng danh hơn trăm năm của cả khu vực Đông Nam Á. Gần nhất là việc tháo dỡ cầu Gành (Đồng Nai) hơn trăm tuổi. Rồi thì hàng ngàn biệt thự cổ biến mất khó hiểu ở khắp đất nước, nhiều nhất là ở Hà Nội và TP.HCM…

    Những dị biệt tiêu cực này lấn áp các khác biệt tích cực. Đó là ẩm thực phong phú, món ngon đường phố đa dạng. Là internet phổ cập miễn phí và dễ dàng. Là dịch vụ “Door to door” của vận chuyển liên tỉnh. Là cảnh quan và di sản đẹp, lạ. Là những phong tục tập quán đặc thù. Là lịch sử sôi động và bi tráng. Đất nước rất ổn định về chính trị nhưng lại… chưa dám mở cửa cho du khách vui chơi và tiêu tiền thoải mái. Mọi thứ cứ khác thiên hạ. Thứ gì các nước chặt thì ta lỏng và ngược lại.

    Việt Nam tự hào với lịch sử mấy ngàn năm văn hiến nhưng cách chào lai căng đủ kiểu. Cũng không có quốc phục riêng và những giai điệu dân gian đặc trưng được thừa nhận. Không có kiến trúc đặc thù…Ẩm thực Việt Nam rất phong phú nhưng văn hóa ẩm thực thì hổ lốn. Chẳng nơi nào có kiểu vừa ăn vừa xem ca múa nhạc tạp kỹ phổ biến như Việt Nam. Nhiều nơi, vừa du thuyền trên sông, vừa ăn uồng và thưởng thức nghệ thuật tổng hợp. Tác phong làm việc lề mề nhưng ăn rất nhanh, vừa ăn ngồm ngoàm vừa nói chuyện ồn ào. Văn hóa gắp đồ ăn cho khách lậm vào trong kinh doanh lẫn cuộc sống, cứ thích làm theo ý mình, nhất là lãnh đạo. Thói quen dùng đũa, muỗng chung; vừa mất vệ sinh vừa kỳ cục.

    Nhà vệ sinh, nơi thể hiện tính cách cá nhân rõ nét nhất, nơi thỏa mãn nhu cầu quan trọng nhất của con người luôn bị xem nhẹ. Ngược lại là thói khoa trương, bệnh thành tích, sính bằng cấp và coi thường thực tiễn. Hiệu ứng ghiền bê tông, thích xây mới lòe loẹt vô hồn đang phá vỡ cảnh quan nhiều danh thắng và cả vườn quốc gia.

    Các di tích bị xâm hại nghiêm trọng. Bảo tồn và trùng tu mà như phá hoại. Các công trình kiến trúc cổ xuống cấp, ngày càng bị xâm lấn và xóa sổ dần. Thời bao cấp ấu trĩ đành chịu, mất mát vô kể. Thời đổi mới mở cửa, vẫn tồn tại nghịch lý bảo tồn và phát triển. Việc xâm hại và xóa sổ di tích không trắng trợn mà tinh vi, núp dưới nhiều chiêu bài và danh nghĩa. Bản sắc văn hóa Việt đang ngày càng mai một!

    Đôi điều góp ý

    Nếu áo dài, cả nam lẫn nữ, được công nhận là quốc phục chính thức bằng văn bản pháp luật của Quốc hội thì đã không có chuyện nhà tạo mẫu ở Trung Quốc ăn cắp mẫu mã, vơ vào của mình. Áo dài, từng là quốc phục, bị phê phán và tẩy chay thời bao cấp. Có lãnh đạo từng cho rằng đó là tàn dư phong kiến, rườm rà, “một áo dài may được hai áo ngắn”. Việt Nam cũng từng có cách chào đặc thù nhưng bị xóa sổ vì ấu trĩ.

    Việc đầu tiên là phải xác định lại quốc phục và cách chào Việt Nam như tổ tiên mình từng công nhận. Việc quan trọng nhất là thay đổi nhận thức về văn hóa dân tộc, gạn đục khơi trong, lấy truyền thống làm nền tảng cho hiện đại. Đoạn tuyệt với tư duy “Lãnh đạo đồng nghĩa với khoa học” và “Quản không được thì cấm”. Loại bỏ văn hóa gắp đồ ăn cho khách; dùng đũa, muỗng chung; vừa ăn vừa nghe xem đủ thứ…

    Chống quan điểm cực đoan trong bảo tồn và phát triển. Cặp phạm trù này không hề có mâu thuẫn đối kháng. Thực tế cho thấy chỉ có mâu thuẫn giữa các chủ đầu tư và cộng đồng. Muốn bảo tồn phải biết trùng tu và phát triển. Ngược lại muốn phát triển bền vững phải biết bảo tồn. Tuyên chiến với vấn nạn bê tông hóa mọi nơi mọi lúc.

    Truyền thống thân thiện, hiếu khách của người Việt phải được thể hiện rõ nhất tại các cửa ngõ của đất nước cho đến các cơ quan công quyền, các cơ sở dịch vụ. Như nhân viên cửa khẩu Đài Loan, Myanmar…luôn tươi cười, tận tình hỗ trợ du khách và không ngừng nói lời cảm ơn.

    Campuchia mở cửa Hoàng Cung cho khách tham quan với giá vé 10 USD mỗi người trong ngày. Buổi nào quốc vương tiếp khách thì đóng cửa. Nhà khách vua Sihanouk ở Siem Riep được biến thành khách sạn cổ sang trọng Grand Angkor Hotel với tấm thảm đỏ in dấu chân nhiều nguyên thủ quốc gia. Nhà khách mới của Quốc vương Sihamoni nhỏ và đơn giản hơn nhiều. Việt Nam có thể làm tương tự với Phủ Chủ tịch, trụ sở Ủy ban nhân dân thành phố và nhiều tỉnh thành khác.

    Hoàng cung Brunei được chuyển thành phức hợp The Empire Hotel Country Club tương đương 6 sao. Phòng ở của vua Bokiah trước đây có giá bán tới hơn 20.000 USD/đêm. Xu thế các nước là ưu tiên cho phát triển du lịch và tận dụng mọi thứ để du lịch phát triển vì đây là ngành công nghiệp xuất khẩu tại chỗ rất hiệu quả.

    Các tỉnh thành Việt Nam hoàn toàn có thể chuyển các trụ sở hoành tráng để làm du lịch. Baan Tong Luang (Chieng Mai, Thái Lan), Mari – Mari (Kinabalu, Malaysia) là làng văn hóa các dân tộc đúng nghĩa; là những mô hình có thể vận dụng tại Việt Nam thay cho những công viên văn hóa các dân tộc, hoành tráng mà tốn kém (tốn tiền, kém hiệu quả). Hai cường quốc du lịch dẫn đầu thế giới là Pháp và Tây Ban Nha đều hấp dẫn và thu hút khách bằng những trải nghiệm văn hóa khác biệt, đa dạng.

    Có thể thay đường hoa Nguyễn Huệ bằng sông hoa Sài Gòn/TPHCM. Mở rộng các chợ đêm và phố đi bộ như ở Đài Loan, Thái Lan; tạo thành những công viên văn hóa sống động vào buổi tối. Tổ chức cho du khách trải nghiệm ẩm thực, học cách chế biến các món ngon Việt Nam và các sự kiện gia đình như “Thôi nôi”, “Đám hỏi”, “Đám cưới”, “Đám giỗ”, các hoạt động Tết…

    Xây dựng homestay chuẩn quốc gia theo mô hình các homestay A Chu (Sơn La), Minh Thơ (Hòa Bình), Xuân Diện (Lào Cai)…Phát triển các lễ hội tích cực như Đua bò (An Giang); Trái cây Nam bộ, Ẩm thực đường phố, Món ngon các nước, Áo dài (Sài Gòn); Bánh dân gian (Cần Thơ), Ook om bok – Đua ghe ngo (Sóc Trăng), Minh thề (Hải Phòng), Tịch điền (Hà Nam), Trâu rơm bò rạ (Vĩnh Phúc)…

    Chấm dứt các lễ hội dã man như Đâm trâu (thật ra là tế trâu hay khóc trâu – Tây Nguyên và Quảng Nam), Chém lợn (Bắc Ninh), Chọi trâu (Hải Phòng)… Chấn chỉnh những lễ hội biến tướng thành dịp buôn bán, hối lộ thần thánh như “cướp ấn, cướp lộc” và các lễ hội chùa, các festival thực chất chỉ có tính hình thức…Để tận dụng và phát tiển tài nguyên văn hóa một cách hiệu quả, cần có qui hoạch khoa học, dài hơi và đồng bộ.

    Làm du lịch là làm kinh tế chứ không phải làm phong trào, chạy theo số lượng và hình thức để báo cáo. Dĩ nhiên không làm kinh tế bằng mọi giá mà phải cân nhắc chọn lọc để phát triển bền vững. Nhiều quốc gia như Hàn Quốc, Singapore, Nhật Bản…sau nhiều thập niên kinh tế tăng trưởng nóng đã chấp nhận chậm lại. Họ hạn chế phát triển sản xuất nội địa, ưu tiên xuất khẩu công nghiệp, đẩy mạnh các dịch vụ du lịch để xuất khẩu tại chỗ và lấy văn hóa đặc thù làm nền tảng.

    Sự “dốt nát chân thật” (Trần Việt Phương) là lời cảnh báo về cách làm tùy tiện của nhiều địa phương, đã vô tình cản trở du lịch. Nguy hại hơn, đó là những hành động hủy diệt văn hóa dân tộc. Một dân tộc sẽ tiêu vong khi đánh mất bản sắc văn hóa. Chúng ta phải tự hào rằng: bản sắc Việt vẫn vững vàng với trang phục, chữ viết, ngôn ngữ và nhiều phong tục khác biệt và đặc sắc sau hàng ngàn năm bị đô hộ, qua nhiều cuộc chiến khốc liệt để giữ nước.

    Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc không chỉ để phát triển du lịch. Đó còn là cách tốt nhất để bảo vệ độc lập và chủ quyền lãnh thổ mà tổ tiên người Việt đã làm rất tốt mấy ngàn năm nay.

    (*) Bài viết thể hiện quan điểm của tác giả Nguyễn Vũ Mộc Thiêng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khu Du Lịch Gáo Giồng Cao Lãnh: Địa Chỉ
  • Du Lich Đài Loan 5 Ngày Từ Đà Nẵng
  • Top 50 Địa Điểm Du Lịch Gần Hà Nội Mới Và Đẹp Nhất Tháng 9/2020 * Du Lịch Số
  • Du Lịch Phú Yên Đẹp Qua Từng Thắng Cảnh
  • Khám Phá Khu Du Lịch Sinh Thái Quốc Tế Cà Mau
  • Tài Nguyên Du Lịch Nhân Văn (Humanistic Tourism Resources) Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Du Lịch Nhật Bản Trong 10 Ngày: Nên Đi Đâu Và Làm Gì?
  • Đi Hết Xứ Hoa Anh Đào Với Lịch Trình Du Lịch Nhật Bản Tự Túc 10 Ngày
  • Tour Du Lịch Nhật Bản 3 Ngày 2 Đêm Giá Rẻ
  • Tour Du Lịch Nhật Bản 3 Ngày 2 Đêm
  • Du Lịch Nhật Bản 4 Ngày 3 Đêm
  • Khái niệm

    Tài nguyên du lịch nhân văn trong tiếng Anh được gọi là Humanistic tourism resources.

    Toàn bộ của cải vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra từ xưa đến nay có thể thu hút con người tiến hành hoạt động du lịch được xem là tài nguyên du lịch nhân văn.

    Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể sử dụng phục vụ mục đích du lịch.

    Theo cách hiểu này, chúng ta có thể xem tài nguyên nhân tạo chính là tài nguyên nhân văn.

    Nhu cầu của con người là muốn tìm hiểu về lịch sử, cội nguồn của chúng ta cũng như nghiên cứu những nét văn hóa khác nhau giữa những cộng đồng dân tộc trên thế giới.

    Chính vì vậy mà tài nguyên du lịch nhân tạo đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc thu hút những đối tượng khách du lịch thích tìm hiểu khám phá văn hóa, lịch sử.

    Các thành phần của tài nguyên

    Để đi sâu tìm hiểu giá trị tài nguyên nhân tạo chúng ta có thể phân tích các thành phần của tài nguyên nhân tạo như sau:

    Di sản văn hóa thế giới và di tích lịch sử – văn hóa

    Đây được coi là nguồn tài nguyên quan trọng, là nguồn lực để phát triển và mở rộng hoạt động du lịch.

    Qua các thời đại, các di sản văn hóa thế giới và di tích lịch sử văn hóa đã minh chứng cho những hoạt động sáng tạo vĩ đại của xã hội loài người về văn hóa, tôn giáo và xã hội. Các di sản văn hóa thế giới và di tích lịch sử thích hợp để phát triển loại hình du lịch văn hóa, nghiên cứu,…

    Lễ hội

    Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa đặc sắc phản ánh đời sống tâm linh của mỗi dân tộc hay là một hình thức sinh hoạt tập thể của nhân dân sau những ngày lao động vất vả, hoặc là một dịp để mọi người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước, những sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân, hoặc chỉ đơn thuần là những hoạt động có tính chất vui chơi giải trí.

    Bất kì lễ hội nào cũng có hai phần chính là: phần lễ và phần hội. Cả hai phần đều thu hút sự tham gia của du khách.

    Đối tượng du lịch gắn với dân tộc học

    Đối tượng du lịch gắn với dân tộc học bao gồm: điều kiện sinh sống, đặc điểm văn hóa, phong tục tập quán, hoạt động sản xuất với những sắc thái riêng của các dân tộc trên địa bàn cư trú của họ. Những đặc trưng này có sức thu hút khách du lịch mạnh mẽ.

    Đối tượng văn hóa, thể thao và hoạt động nhận thức khác

    Tài nguyên du lịch này chủ yếu tập trung tại các thành phố lớn và cũng làm một trong những đối tượng thu hút khách du lịch mạnh mẽ, bao gồm: các trung tâm, viện khoa học, trường đại học, thư viện lớn và nổi tiếng, các trung tâm kinh tế – thương mại, thành phố có triển lãm nghệ thuật, tổ chức liên hoan âm nhạc, sân khấu, điện ảnh, các cuộc thi đấu thể thao quốc tế, cuộc thi hoa hậu,…

    Những thành phố có đối tượng văn hóa hoặc tổ chức những hoạt văn hóa thể thao đều được nhiều du khách lựa chọn làm điểm đến du lịch trong hành trình của họ và đều trở thành những trung tâm văn hóa du lịch.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Du Lịch Nhà Vườn Tại Tiền Giang
  • Du Lịch Nha Trang Đà Lạt Bằng Máy Bay Để “trốn Nắng” Hè 2022
  • Bí Quyết Du Lịch Nha Trang A
  • Du Lịch Nha Trang Xuất Phát Từ Hà Nội
  • Du Lịch Nha Trang: Nha Trang
  • Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Pulau Bidong Hải Đảo Bị Lãng Quên
  • ‘trào Nước Mắt Khi Thấy Người Việt Tỵ Nạn Trở Về Bidong’
  • Du Lịch Bụi Hay Du Lịch Theo Tour?
  • 7 Điều Cần Biết Trước Khi Đi Du Lịch Bụi Malaysia
  • Du Lịch Malaysia Có Gì Hấp Dẫn ?
  • THÔNG BÁO

    ĐÌNH CHỈ

    các chuyến Tảo mộ Di Tích THUYỀN NHÂN năm 2022

    Do tình hình dịch bệnh Corona Vũ Hán trên thế giới Văn Khố Thuyền Nhân lấy làm tiếc phải đình chỉ tất cả các chuyến Tảo mộ thuyền nhân trong năm 2022 và sẽ tổ chức cho năm 2022.

    Các chuyến năm 2022 dự trù sẽ bắt đầu vào mùa Easter và tháng 7 năm 2022 nếu tình hình dịch bệnh hoàn toàn lắng dịu trong năm 2022. Mọi chi tiết sẽ được cập nhật sau tại trang mạng này.

    Trân trọng cáo lỗi!

    Melbourne ngày 14 Mar 2022

    TM. Văn Khố Thuyền Nhân

    Trần Đông

    Một số Video và bài viết về chuyến

    Du khảo đảo Hải Tặc Kokra (Thái Lan)

    từ 20 Mar 2022 đến hết ngày 26 Mar 2022 ( VỀ BẾN TỰ DO 24) Trùng tu một số di tích Thuyền nhân tại đảo Bidong

    từ 26 Mar 2022 đến hết ngày 2 Apr 2022 ( VỀ BẾN TỰ DO 25)

    – SBS Australia (Audio Podcast)

    – Ko Kra, Một đêm trên đảo địa ngục, Việt Báo, USA với hình gốc trong bài viết.

    – Koh Kra – Một Đêm Trên Đảo Địa Ngục, trên một trang mạnh khác.

    – Photoessay Về Bến Tự Do 24, 25(2016):

    4- Các video và bài viết phóng sự củaLê Hữu Thành:

    – Phóng sự đầu tiên về chuyến về Bidong (SBTN)

    – Trào nước mắt khi thấy người Việt tỵ nạn trở lại Pulau Bidong (báo Người Việt).

    – Trùng tu nghĩa trang Người Việt ở Bataan, Philippines, (báo Người Việt).

    – Đoàn Văn khố thuyền nhân VN thăm nghĩa trang Terengganu, Malaysia (SBTN)

    – Lễ Động thổ trùng tu nghĩa trang thuyền nhân Việt Nam tại Bataan, Philippines (SBTN)

    – Bidong Trailer, (SBTN)

    – Văn khố thuyền nhân VN trùng tu di tích trên đảo Bidong (SBTN)

    5- Bài viết củaLa Quốc Tâm:

    – Bidong – ra đi và trở lại, báo Người Việt.

    – Bidong – ra đi và trở lại (tiếp theo và hết, báo Người Việt)

    6- Bài tường thuật của Lưu Dân:

    – Bidong, dấu xưa nền cũ, Phần 1

    – Bidong, dấu xưa nền cũ, Phần 2

    – Bidong, dấu xưa nền cũ, Album

    6-Các nguồn khác:

    – Kinh hoàng trên đảo Kokra

    – Tường Trình Từ Đảo Ko Kra Thái Lan.

    – Nổi nhớ mang tên Pulau Bidong (M-M).

    – Album hình trên trang mạng SBS.

    – Ghi chép của Lưu Dân tại SBS, phần 1.

    – Ghi chép của Lưu Dân tại SBS, phần 2. – Việt Face TV: Phỏng vấn về chuyến thăm đảo Ko Kra

    – Việt Face TV: Phỏng vấn về chuyến trùng tu di tích tại Bidong

    ĐÓNG GÓP quỹ TẢO MỘ (dành cho quý đồng hương tại Hoa Kỳ, Canada & Châu Âu)

    Mọi chi phiếu hay Money Order xin ghi: VKTNVN và gửi về hộp thư:

    VKTNVN P.O Box 5036

    Anaheim

    CA 92814-1036

    ĐÓNG GÓP quỹ TẢO MỘ (dành cho quý đồng hương tại Úc & các nơi)

    Mọi chi phiếu hay Money Order xin ghi: VKTNVN và gửi về hộp thư :

    VKTNVN

    PO Box 497

    Flemington

    VIC 3031, Australia

    – Quý vị muốn trả tiền bằng Internet hay đến ngân hàng để làm International wire (money transfer), chuyển tiền quốc tế thẳng qua Úc, xin vui lòng chuyển thẳng vào trương mục VKTNVN tại Úc với các chi tiết như sau:

    Người nhận: Archive of Vietnamese Boat People

    Địa chỉ: PO Box 497 Flemington,

    VIC 3031, Australia

    Ngân hàng: Commonwealth Bank

    Số chi nhánh (BSB): 063185

    Số trương mục (Account): 1093 6976

    Swift Code: CTBAAU2S

    Địa chỉ ngân hàng: Greensborough Plaza, Greensborough, VIC 3185, Australia

    Hân hạnh giới thiệu các Video clips về Văn Khố Thuyền Nhân trên mạng Youtube:

    – Hoàn tất trùng tu nghĩa trang thuyền nhân tại Galang: https://youtu.be/PYklXZ_2xao

    – Hoàn tất trùng tu đợt 2 tại Malaysia: Sơn lại tất cả mộ thuyền nhân tháng 4-2014: https://youtu.be/wCexPD53ZxA

    – Đi tìm nghĩa trang thuyền nhân tại Khu G, đảo Bidong(Malaysia): https://youtu.be/BPZ0MgO03cI

    – Nghĩa trang Thuyền nhân tại Bataan (Philippines): https://youtu.be/uveYt_np5r4

    – 4 vị lãnh đạo tinh thần nói về công tác trùng tu nghĩa trang thuyền nhân của VKTNVN: https://youtu.be/mWactTOu5MY

    – VỀ BẾN TỰ DO 14 – 14th Revisit to Bidong – Galang: https://youtu.be/3sW4y2QlIMo (by Kenneth Nguyen)

    – Thăm Galang vào tháng 7-2013: https://youtu.be/p7GR9TBXrHg

    Thành quả trùng tu 10 năm qua (2005-2015)

    Từ 2006 đến 2014 Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam đã hoàn tất trùng tu hàng trăm mộ thuyền nhân trong đất liền tại Malaysia mai táng tổng cộng 999 thuyền nhân được liệt kê như sau:

    – tiểu bang Kelantan:

    · mộ tập thể Tumpat (5 thuyền nhân)

    · mộ Panji (23 thuyền nhân)

    · mộ tập thể Balai bachok (46 thuyền nhân)

    · mộ tập thể Cherang Ruku (139 thuyền nhân + 5 dời từ Panji về)

    tổng cộng: Kelantan mai táng 218 thuyền nhân. Đã trùng tu xong.

    – tiểu bang Terengganu:

    · nghĩa trang Khu A, mai táng 454 thuyền nhân (mộ tập thể và cá nhân)

    · nghĩa trang Khu B (61 thuyền nhân, mộ tập thể và cá nhân)

    · nghĩa trang Khu C (9 thuyền nhân)

    ·

    nghĩa trang Khu D (2 thuyền nhân)

    ·

    Mộ Dungun 1 (hơn 40 thuyền nhân). Mộ tập thể.

    ·

    Mộ Dungun 2 (hơn 100 thuyền nhân). Mộ tập thể.

    ·

    Mộ Batu Lima (4 thuyền nhân)

    ·

    Mộ Besut (3 thuyền nhân)

    ·

    Mộ Kemaman (7 thuyền nhân)

    tổng cộng: Terengganu mai táng trên 680 thuyền nhân. Đã trùng tu xong.

    – tiểu bang Pahang: nghĩa trang Kuantan, mai táng 36 thuyền nhân. Đã trùng tu xong.

    – tiểu bang Johor :

    · nghĩa trang Rompin (13 thuyền nhân)

    · nghĩa trang Mersing (52 thuyền nhân)

    Ở Malaysia, một số mộ thuyền nhân tại Kuala Lumpur VKTNVN không có kế hoạch trùng tu vì cần giữ nguyên di tích trong khu nghĩa trang chung, nơi ấy tất cả các mộ đều có bia giống nhau.

    Nghĩa trang Khu F, đảo Bidong, Malaysia: trùng tu 153 mộ hoàn tất tháng 4-2013.

    Nghĩa trang Khu C, đảo Bidong, Malaysia: trùng tu 7 mộ hoàn tất tháng 4-2013.

    Nghĩa trang Khu E, đảo Bidong, Malaysia: trùng tu 16 mộ hoàn tất tháng 4-2013.

    Nghĩa trang Khu G, đảo Bidong, Malaysia: trùng tu 86 mộ hoàn tất tháng 4-2013.

    Nghĩa trang Galang, Indonesia: Đã hoàn tất trùng tu tất cả 500 mộ tại Galang trong năm 2014.

    Các nghĩa trang tại vùng quần đảo Anambas như trại Kuku, trại Air Raya, chợ Letung, Keramut, … (Indonesia):: Hoàn tất trùng tu năm 2014 và 2022, có thể tìm thấy khoảng 300 mộ nhưng chỉ nhận dạng và chỉ có thể trùng tu 100 mộ vì nhiều mộ và nhiều khu nghĩa trang ở các đảo nhỏ bị mất dấu.

    Nghĩa trang Bataan (Philippines): 300 mộ, được tổ chức V-Help giúp gây quỹ, nay đã có đủ ngân khảon để bắt đầu khởi công trùng tu sau tết Nguyên đán năm 2022. Công trình này được chia thành 4 dự án nhỏ.

    1- trồng trụ xi măng bao chung quanh để đánh dấu khu vực nghĩa trang;

    2- làm bia xi măng cốt sắt cho từng ngôi mộ;

    3- làm bảng nghĩa trang;

    4- làm nhà nguyện để làm nơi cầu nguyện, để trú mưa trú nắng và nghỉ chân khi thăm viếng.

    NGHĨA TRANG GALANG sau đợt

    TRÙNG TU GIAI ĐOẠN 1 (29-3-2013, VBTD 11)

    Sau khi bị đóng cửa vĩnh viễn vào năm 1996, đợt trùng tu tháng 3-2013 do VKTNVN thực hiện là đợt trùng tu đầu tiên sau 17 năm hoang phế. Hầu hết các ngôi mộ đều dược đắp thêm đất cho đầy, các vết nứt bể đều được đắp vá lại bằng xi măng. Nhiều hoa và cây cảnh được trồng thêm. Theo ghi nhận có từ khoảng 500 mộ thuyền nhân được mai táng trong nghĩa trang Galang, một số mộ vẫn còn bằng đất.

    Giải đoạn trùng tu đợt 2 sẽ được thực hiện trong thời gian sắp tới. Một ngân khoản 50.000 Úc kim được dành cho hai giai đoạn trùng tu này.

    NGHĨA TRANG GALANG ĐÃ ĐƯỢC TRÙNG TU HOÀN TẤT NĂM 2014

    NGHĨA TRANG KHU C (1-6-2012, VBTD 10) trùng tu đợt 1 từ 5 đến 12 tháng 4-2013,

    chuyến VBTD 12

    6 ngôi mộ tại nghĩa trang Khu C, bên sườn đồi, sau lưng chùa Từ Bi cũ, sẽ được trùng tu lần thứ 2 vào năm 2014. Những ngôi mộ này chỉ mới được tìm thấy vào năm 2007. Trong 300 ngôi mộ tại Bidong chỉ có ngôi mộ của bà Huỳnh Thị Trọng là có mối đóng ổ lớn, như hình bên trên. Dân gian truyền tụng rằng mộ có gò mối đóng con cháu sẽ ăn nên làm ra.

    NGHĨA TRANG KHU E (5-4-2013, VBTD 12) trùng tu đợt 1 từ 5 đến 12 tháng 4-2013,

    chuyến VBTD 12

    Nghĩa trang khu E nằm cuối khu Cao Uỷ, có 16 ngôi mộ. Nếu đi dọc theo bờ biển khu A, đến gần chân đồi sẽ có đường mòn rẻ vào tay phải, chỉ vài chục thước cách bờ biển khách đến Bidong sẽ nhìn thấy khu nghĩa trang này. Đây là khu nghĩa trang cũ, nằm trên khu vực rất thấp, hay bị tràn ngập bởi nước lũ từ trên núi đổ xuống. Các tấm bia đúc trên đầu mộ cho thấy nghĩa trang do Gia đình Phật tử thực hiện, rất tiếc chữ ghi tên người quá cố bằng sơn đều đã biến mất theo thời gian nên không thể biết được chi tiết cá nhân của người được mai táng.

    NGHĨA TRANG KHU F (5-4-2013, VBTD 12) trùng tu đợt 1 từ 5 đến 12 tháng 4-2013,

    chuyến VBTD 12

    Ngày thứ nhất trời nắng như đổ lửa. Đồi khu F bốn bề cây che kín, không một chút gió thoáng qua. Anh Đặng Trung Chính, Kế Toán tại Sydney, vừa làm vừa nói qua tiếng thở: “60 tuổi rồi, bây giờ mới biết đổ mồ hôi mẹ mồi con là cái gì!” Anh lính già Trần Đức Nhuận cởi trần sơn mộ. Ông Nghị viên Trần Nhân cũng lê lết từ ngôi mộ này đến ngôi mộ khác để sơn. Cháu Đặng Trần an, 25 tuổi, bạch diện thư sinh, lần đầu tiên trong đời, đội nắng dầm mưa cầm máy thổi, máy cưa, máy cắt cỏ để làm việc. Chị Kim Anh, chị Tâm, chị Thanh Hà hốt cỏ, kẻ chữ trên mộ, tiếp tế đồ ăn nước uống cho từng người giữa trời nắng như thiêu đốt, một ngày ba bốn bận đi lên đi xuống đồi khu F. Người nào người nấy áo cà cả quần đều ướt sủng mồ hôi.

    NGHĨA TRANG KHU G (5-4-2013, VBTD 12) trùng tu đợt 1 từ 5 đến 12 tháng 4-2013,

    chuyến VBTD 12

    Đường đi và về trên đồi khu G là dốc thăm thẳm như trên hình này đây. Mưa thì mưa, anh Đức vẫn ôm máy cưa cây. Quần áo ướt hết rồi anh Đức ơi, nghỉ đi kẻo bệnh. Mưa thì kệ mưa, Dược sĩ Bảng vẫn ôm cưa cây làm sạch nghĩa trang Khu G.

    Vài hình ảnh 5 ngày đêm cắm trại tại Bidong (từ 7 đến 12 tháng 4-2013), VBTD 12, thực hiện trùng tu 4 nghĩa trang Bidong, đợt 1

    4 tấn dụng cụ và vật liệu được 3 tàu chỡ tới đảo Bidong. Máy phát điện, máy bơm nước áp suất cao, máy cưa ngắn và dài, máy thổi, máy cắt cỏ, 50 trụ bê tông, 100 bao xi măng (40 kg một bao), 50 bình nước 20 lít, 15 thùng sơn/20 lít 1 thùng, nước uống, và nồi niêu song chảo, lều, dao, len, cuốc, xẻng, nhang, đèn, trái cây, … cho cả một “đạo quân”.

    Một số hình ảnh của chuyến Du khảo đảo hải tặc Ko Kra và chuyến Trùng tu Di tích Thuyền nhân tại đảo Bidong.

    Nghĩa trang thuyền nhân tại BATAAN, Philippines

    đã được trùng tu

    Hình ảnh Trùng tu một số Di tích tại trại tỵ nạn Galang

    tháng 7 – 2022 VỀ BẾN TỰ DO 26

    Hình ảnh Trùng tu mộ tập thể 46 thuyền nhân

    tại BALAI BACHOK, Malaysia, 2022 do Cty Du Lịch Hành Trình Đức Tin (Garden Grove, USA) bảo trợ

    Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam là một tổ chức thiện nguyện. Mục tiêu chánh của VKTNVN là sưu tập tài liệu và di vật thuyền nhân Việt nam để đưa vào hệ thống Văn Khố hay Bảo Tàng Viện quốc gia hay quốc tế. Những tài liệu này sẽ là nguồn tài liệu quý giá để các cháu nghiên cứu và tìm hiểu. Mục tiêu thứ nhì là tìm hiểu và bảo tồn các di tích thuyền nhân trong vùng Đông Nam Á như di tích các trại tỵ nạn, mộ phần thuyền nhân, v.v… Công tác Văn Khố là công tác thuần tuý lịch sử, văn hóa và xã hội. Văn Khố Thuyền nhân luôn hoan nghênh sự đóng góp và hỗ trợ của các nhà hảo tâm ở mọi nơi.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bidong: Dấu Xưa, Nền Cũ (Phần 1)
  • Những Điều Cần Biết Khi Tham Quan Du Lịch Bidong
  • Du Lịch Đảo Bidong Malaysia
  • Trải Nghiệm Ở Borneo, Bờ Đông Malaysia
  • Bật Mí Chốn Ở Lạ: The Culvert
  • Khai Thác Và Bảo Vệ Tài Nguyên Du Lịch Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Tài Nguyên Du Lịch Và Khí Hậu Phát Triển Du Lịch Vùng Nam Bộ, Hay
  • Các Lí Do Vì Sao Tôi Yêu Thích Du Lịch Thái Lan
  • Vì Sao Du Lịch Việt Nam Mãi Chậm Phát Triển?
  • Vì Sao Du Lịch Việt Nam Chưa Bứt Phá?
  • Tại Sao Nên Đi Du Lịch Côn Đảo Tháng 10, Du Lịch Côn Đảo Tháng 12?
  • Tài nguyên du lịch được coi là một phân hệ du lịch quan trọng, mang tính quyết định của hệ thống lãnh thổ du lịch, là mục đích khám phá của du khách, là cơ sở quan trọng để hình thành, phát triển du lịch ở một khu, điểm du lịch ở các địa phương hoặc quốc gia.

    Tổng quan về tài nguyên du lịch

    Theo Luật Du lịch Việt Nam 2005 thì Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử – văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch.

    Tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn đang được khai thác và chưa được khai thác. Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thuỷ văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch. Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hoá, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch.

    Tài nguyên du lịch phong phú và đa dạng, trong đó có nhiều tài nguyên đặc sắc và độc đáo có sức hấp dẫn lớn đối với du khách; tài nguyên du lịch là những tài nguyên gồm hai giá trị: giá trị hữu hình và giá trị vô hình; tài nguyên du lịch thường dễ khai thác; tài nguyên du lịch có thời gian khai thác khác nhau; tài nguyên du lịch được khai thác tại chỗ để tạo ra các sản phẩm du lịch; tài nguyên du lịch có thể sử dụng được nhiều lần.

    Khai thác và bảo vệ tài nguyên du lịch

    Để khai thác và bảo vệ hiệu quả tài nguyên du lịch nhân văn cần đánh giá hiện trạng khai thác và bảo vệ tài nguyên du lịch theo ngành và theo lãnh thổ, đưa ra một số nguyên tắc khai thác và bảo vệ tài nguyên du lịch theo hướng phát triển bền vững.

    Một số dấu hiệu nhận biết khai thác và bảo vệ hiệu quả tài nguyên du lịch: Số lượng (tỷ lệ) các khu, điểm du lịch được đầu tư tôn tạo, bảo vệ; số lượng (tỷ lệ) các khu, điểm du lịch được quy hoạch; áp lực môi trường tại các khu, điểm du lịch được quản lý; cường độ hoạt động tại các khu, điểm du lịch được quản lý; mức độ đóng góp từ thu nhập du lịch cho nỗ lực bảo tồn phát triển tài nguyên, bảo vệ môi trường.

    Để khai thác, bảo vệ tài nguyên du lịch theo hướng phát triển du lịch bền vững chúng ta cần thực hiện một số giải pháp:

    Một là: khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên du lịch một cách hợp lý và giảm thiểu chất thải ra môi trường.

    Hai là: phát triển du lịch phải gắn liền với nỗ lực bảo tồn tính đa dạng của tài nguyên.

    Ba là: phát triển du lịch phải phù hợp với quy hoạch tổng thể kinh tế – xã hội vì du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, có tính liên ngành, liên vùng cao nên mọi phương án khai thác tài nguyên để phát triển du lịch phải phù hợp với quy hoạch chuyên ngành nói riêng và quy hoạch tổng thể kinh tế – xã hội nói chung ở phạm vi quốc gia, vùng và địa phương.

    Bốn là: nâng cao nhận thức, vai trò, trách nhiệm, sự tham gia, ý kiến đóng góp của các đối tượng tham gia du lịch trong việc khai thác và bảo vệ tài nguyên du lịch.

    Năm là: tăng cường tính có trách nhiệm trong hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch.

    ( Nguồn: LV)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Di Sản Văn Hóa Là Nguồn Tài Nguyên Độc Đáo Của Du Lịch
  • Liên Hiệp Các Hội Khkt Tỉnh Thừa Thiên Huế
  • Vĩnh Phúc Phát Triển Du Lịch Đặc Trưng Bền Vững
  • Địa Du Lịch An Giang
  • Tìm Hiểu Du Lịch Tỉnh An Giang
  • Giải Pháp Khai Thác Tài Nguyên Nhân Văn Trong Phát Triển Du Lịch Hà Tĩnh

    --- Bài mới hơn ---

  • Du Lịch Nhật Bản 10 Ngày Chỉ 40 Triệu Đồng. Tin Nổi Không?
  • Du Lịch Akihabara Nhật Bản – Chia Sẻ Trọn Bộ Kinh Nghiệm
  • Hướng Dẫn Hoàn Hảo Để Đi Du Lịch Bằng Tàu Điện Ở Nhật Bản
  • Đi Du Lịch Nhật Bản Bằng Những Phương Tiện Gì?
  • Cách Đi Vòng Quanh Nhật Bản Tiết Kiệm Nhất
    1. Phân loại tài nguyên du lịch

    Tài nguyên du lịch là khách thể của du lịch và là cơ sở phát triển của ngành du lịch. Mọi nhân tố có thể kích thích động cơ du lịch của khách du lịch được ngành du lịch tận dụng để sinh ra lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội đều được gọi là tài nguyên du lịch.

    Người ta cũng chia ra 3 loại tài nguyên du lịch, đó là:

    – Tài nguyên du lịch thiên nhiên bao gồm khí hậu, địa hình, phong cảnh..v.v, có thể nói chung là tất cả những gì thiên nhiên ban tặng con người.

    – Tài nguyên du lịch nhân văn gồm có tài nguyên du lịch nhân văn vật thể và tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể. Đó là những di sản do con người tạo ra qua nhiều thế hệ và để lại cho các thế hệ mai sau. 

    + Tài nguyên du lịch nhân văn vật thể  bao gồm các di tích lịch sử, các công trình kiến trúc, văn hoá, nghệ thuật..v.v. 

    + Tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể bao gồm các truyền thống lịch sử, văn hoá dân tộc, các phong tục tập quán, các loại hình nghệ thuật truyền thống..v.v.

    – Tài nguyên du lịch xã hộibao gồm các sự kiện chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội do con người đương đại tổ chức cũng tạo ra sức hấp dẫn để thu hút khách du lịch. 

    1. Tài nguyên du lịch nhân văn của Hà Tĩnh

    Bất kỳ một quốc gia hay địa phương nào muốn phát triển du lịch đều phải dựa trên cơ sở khai thác các tài nuyên du lịch của bản than, trong đó tài nguyên du lịch nhân văn là một trong những yếu tố then chốt, đây là loại tài nguyên có sức hấp dẫn mạnh mẽ, là động lực thu hút ngày càng nhiều khách du lịch tham quan.

    Việt Nam đang chủ trương phát triển du lịch trên cơ sở bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa truyền thống tốt đẹp, thể hiện rõ trong Nghị Quyết 08 – NQ/TW của bộ chính trị. Du lịch văn hóa đã và đang trở thành sản phẩm du lịch trọng điểm, chủ đạo của nước ta.

    Hà Tĩnh là một trong những địa phương của cả nước giàu tài nguyên du lịch nhân văn cả vè tài nguyên du lịch nhân văn vật thể và phi vật thể.

    2.1. Tài nguyên du lịch nhân văn vật thể

    Tài nguyên du lịch nhân văn vật thể ở Hà Tĩnh gồm các di tích lịch sử văn hóa, các thắng cảnh cấp quốc gia và địa phương. Hệ thống di tích lịch sử – văn hóa trên địa bàn Hà Tĩnh có giá trị to lớn, “gia sản văn hoá” của Hà Tĩnh được xếp tốp 15 tỉnh dẫn đầu trong cả nước. Nguồn tài nguyên vô giá này đã có sức hấp dẫn rất lớn đối với du khách, là cơ sở quan trọng để xây dựng, phát triển các khu, điểm, tuyến du lịch.

    Trải qua bao biến cố của thời gian và lịch sự, sự tàn phá của thiên tai, mặc dù có bị mất mát khá nhiều nhưng hiệ nay Hà Tĩnh vẫn còn 557 di tích được xếp hạng, trong đó có 2 di tích quốc gia đặc biệt, 82 di tích quốc gia, 473 di tích cấp tỉnh

    Tóm lại, hệ thống di tích lịch sử, văn hoá Hà Tĩnh có một vị thế đặc biệt trong việc giáo dục truyền thống yêu quê hương đất nước, trong công tác nghiên cứu khoa học, trong sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hoá và du lịch địaphương.

    2.2. Tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể

    Hà Tĩnh là một địa phương có nguồn tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể khá đa dạng, phong phú và đặc sắc gồm các lễ hội, nghề và làng nghề thủ công truyền thống, văn hóa nghệ thuật, văn hóa ẩm thực, thơ ca, văn học dân gian, văn hóa gắn liền với các tộc người, tôn giáo…

    Theo thống kê bước đầu, Hà Tĩnh có hơn 45 làng nghề, trong đó có một số làng nghề nổi tiếng như: Mộc Thái Yên, Rèn Trung Lương, Nón Phù Việt, Gốm Cẩm Trang…; 108 lễ hội dân gian với các loại hình: lễ hội nông nghiệp, lễ hội tôn giáo và lễ hội văn hóa khác. Nhiều làn điệu dân ca có bản sắc riêng: hát ví dặm, hò đồng dao…; một số làn điệu có không gian diễn xướng độc đáo, tiêu biểu: ca trù, ví Phường vải, ví đò đưa, hò Chèo cạn Cẩm Nhượng, sắc bùa Kỳ Anh… Sân khấu có tuồng, chèo, cải lương (đã mai một). Mỹ thuật có: tạc tượng dân gian, trang trí dân gian với lối kiến trúc cổ truyền đa dạng và có bản sắc riêng của Hà Tĩnh. Truyện kể với nhiều thể loại, như: truyện cười, truyện ngụ ngôn… thấm đẫm triết lý nhân sinh bình dân. Bên cạnh đó là tri thức dân gian, ẩm thực…

    Nhìn chung, tài nguyên du lịch nhân văn Hà Tĩnh phong phú và có giá trị phục vụ du lịch rất cao. Cùng với tài nguyên tự nhiên, nếu khai thác tốt, có thể đáp ứng cho du khách nhiều chương trình tham quan phong phú và hấp dẫn.

    1. Giải pháp khai thác tài nguyên nhân văn trong phát triển du lịch ở Hà Tĩnh

    Mặc dù tài nguyên nhân văn ở Hà Tĩnh rất phong phú, nhưng việc khai thác, quản lý, phát triển các tài nguyên này chưa tương xứng và còn nhiều bất cập. Chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các địa phương với ngành văn hóa trong qui hoạch phát triển du lịch, dịch vụ trong việc điều tra, khảo sát hiện trạng, phân loại phân nhóm giá trị các di tích, vì vậy quy hoạch hệ thống di tích lịch sử văn hóa chưa được xây dựng trên cơ sở quy hoạch tổng thể về phát triển kinh tế xã hội của tỉnh và các địa phương, do đó chưa phát huy được hết các giá trị của tài nguyên nhân văn trong phát triển du lịch của từng địa phương nói riêng và của Hà tĩnh nói chung. Trong thời gian tới, để khai thác tốt tài nguyên nhân văn trong phát triển du lịch cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau:

    – Thứ hai,cần phải có sự gắn kết thống nhất giữa ngành du lịch với ngành văn hóa, hoạt động của ngành này phải là tiền đề, cơ sở, điều kiện cho ngành kia và ngược lại. Cần có sự phối kết hợp trong việc điều tra, khảo sát, lập hồ sơ khoa học các di tích lịch sử trên địa bàn các địa phương để đề nghị các cấp thẩm quyền công nhận xếp hạng di tích cấp tỉnh, cấp quốc gia, trên cơ sở các di tích được xếp hạng, tiến hành phân loại và khai thác hiệu quả tài nguyên này của từng địa phương, bởi không phải tất cả các di tích đều trở thành sản phẩm du lịch, vì vậy địa phương cần xem xét lựa chọn các di tích đặc sắc, có ý nghĩa nổi bật để đầu tư phát triển thành sản phẩm du lịch chủ đạo của địa phương. Nâng cao nhận thức về vai trò của di sản văn hóa trong phát triển du lịch nói riêng và kinh tế xã hội tỉnh nhà nói chung.

    Thứ ba, Tăng cường quảng bá về giá trị nhân văn của Hà Tĩnh, trong đó chú trọng cả về hệ thống các di tích cùng với tuyên truyền về các lễ hội, nghề và làng nghề thủ công truyền thống, văn hóa nghệ thuật, văn hóa ẩm thực, thơ ca, văn học dân gian nhằm truyền bá rộng rãi các thông điệp của các loại tài nguyên nhân văn của các địa phương tới đông đảo người dân địa phương cũng như cung cấp thông tin thiết thực cho các du khách, từ đó nâng cao hiệu quả quảng bá du lịch, thu hút du khách.

    Thứ tư, Cần phát triển du lịch theo hướng “du lịch trách nhiệm”, tức là du lịch luôn phải gắn liền với tôn trọng, khai thác tối ưu giá trị du lịch nhưng phải hài hòa trong việc giữ gìn văn hóa, môi trường du lịch. Kết hợp hài hòa lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân địa phương trong khai thác giá trị tài nguyên nhân văn phục vụ phát triển du lịch. Tạo điều kiện thuận lợi cho việc bảo tồn, tôn tạo và khai thác các gía trị của các di tích trong phát triển du lịch của địa phương.

    Thứ năm,ngành du lịch kết hợp với các địa phương, đề xuất các chính sách, cơ chế, kinh phí để đầu tư về nhân lực, xây dựng hệ thống giao thông, kết cấu hạ tầng phục vụ khai thác các giá trị nhân văn của địa phương một cách hiệu quả nhất. Tăng cường đào tạo kỹ năng thuyết trình cho hướng dẫn viên về các tài nguyên nhân văn, nhằm truyền đạt chân thật và sống động về ý nghĩa lịch sử và thực tiễn của các tài nguyên nhân văn của địa phương.

    Tài liệu tham khảo

    Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ chính trị khóa XII về phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn

    Trần Tấn Hành (1997), Di tích danh thắng Hà Tĩnh, Sở Văn hoá Thông tin HàTĩnh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tài Liệu – Học Tập – Du Lịch
  • Nhà Vườn Huế – Tham Quan Nhà Vườn Huế – Phần 1
  • Đà Lạt 5 Ngày 4 Đêm, Tour Nha Trang
  • Giá Vé + Review Vinpearl Nha Trang — 2022
  • Bay Cùng Vietravel Airlines Từ Nha Trang Trải Nghiệm Bộ Sản Phẩm Ưu Đãi Đầu Tiên Chỉ Từ 4,89 Triệu Đồng
  • Luận Văn Đề Tài Lễ Hội Dân Gian Với Phát Triển Du Lịch Văn Hóa Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Phát Triển Mô Hình Du Lịch Văn Hóa Ở Việt Nam
  • Liên Kết Hợp Tác Phát Triển Du Lịch Vùng Tây Bắc Mở Rộng
  • Tạo Bước Đột Phá Phát Triển Du Lịch Vùng Tây Bắc
  • Tphcm Nhiều Tiềm Năng Phát Triển Sản Phẩm Du Lịch Y Tế
  • Tiềm Năng Phát Triển Sản Phẩm Du Lịch Y Tế Thành Phố Hồ Chí Minh
  • Đất nước Việt Nam có tiềm năng du lịch rất phong phú và đa dạng, có sức hấp dẫn lớn chẳng những đối với khách du lịch trong nước mà còn với khách du lịch quốc tế và bà con Việt kiều ở xa Tổ quốc. Chúng ta có đủ điều kiện để đa dạng hóa các loại hình du lịch từ tham quan, nghỉ mát điều dưỡng, tắm biển, leo núi, thể thao đến nghiên cứu khoa học. và có khả năng tiếp nhận một số lượng lớn du khách. Về mặt tự nhiên, Việt Nam có nhiều cảnh đẹp, cảnh thiên nhiên có những nét hùng vĩ nên thơ của núi rừng như Sapa mờ ảo trong sương, như Đà Lạt – thành phố thông reo, hay vịnh Hạ Long – di sản thiên nhiên của thế giới Bên cạnh tiềm năng về mặt tự nhiên, Việt Nam còn có một kho tàng văn hóa – lịch sử phong phú. Đó là những di tích khảo cổ học minh chứng cho nền văn hóa Đông Sơn, Hòa Bình. nổi tiếng từ hồi tiền sử, những di tích lịch sử còn được bảo tồn nguyên hiện trạng hoặc sưu tầm được qua các triều đại lịch sử nước ta, rất có giá trị về mặt khoa học và giáo dục truyền thống, truyền bá kiến thức như Đền Hùng, Hoa Lư, chùa Tây Phương, Huế, Thánh Địa Mỹ Sơn, phố cổ Hội An. Những lễ hội truyền thống như hội Đền Hùng (Vĩnh Phú), hội Dóng (Hà Nội), hội chùa Dâu ( Bắc Ninh ), hội chùa Keo (Thái Bình), những nền văn nghệ dân gian với các nhạc cụ độc đáo (t’rưng, Krông put.) với các điệu múa đặc sắc của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Ngoài ra, chúng ta cũng có rất nhiều các mặt hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống như mây tre đan, sơn mài, gốm sứ, thêu đan, chạm khắc, các sản phẩm từ cói v.v. đạt trình độ thẩm mỹ cao, hoàn toàn có thể thỏa mãn nhu cầu các loại khách du lịch. Trong vài năm trở lại đây chúng ta thường hay nói tới một loại hình du lịch mới mà cũ đó là du lịch văn hoá. Trong hệ thống các nguồn tài nguyên phục vụ cho phát triển du lịch văn hoá có một nguồn tài nguyên hết sức quan trọng mà dường như từ lâu đã bị mai một, đó chính là các lễ hội dân gian ở Việt nam. Với mục tiêu làm rõ vai trò, ý nghĩa của lễ hội dân gian trong việc phát triển du lịch văn hoá ở Việt nam em đã chọn đề tài nghiên cứu : “Lễ hội dân gian với phát triển du lịch văn hoá ở Việt nam”. Với đề tài trên, trong bài viết này em xin được trình bày những nội dung sau: Phần I : Lễ hội dân gian, tính chất và đặc điểm của lễ hội dân gian ở Việt nam. Phần II : Lễ hội dân gian với phát triển du lịch văn hoá ở Việt nam. I-Những nét khái quát về du lịch văn hoá. II- Vai trò của lễ hội dân gian trong việc phát triển du lịch văn hoá. III-Một số lễ hội tiêu biểu ở miền bắc Việt nam. 1. Lễ hội Đền Hùng. 2. Lễ hội chọi trâu Đồ Sơn. 3. Lễ hội chùa Hương. Phần III : Những điều kiện để thu hút khách đến với các lễ hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Năm 2022, Năm Bản Lề Phát Triển Mới Của Du Lịch Thừa Thiên Huế
  • Thừa Thiên Huế Hướng Đến Phát Triển Du Lịch Thông Minh Và Bền Vững
  • Bắt Đầu Từ Thế Mạnh Đang Có
  • Đẩy Mạnh Liên Kết Phát Triển Du Lịch Tây Bắc
  • Phát Triển Du Lịch Tây Bắc
  • Di Sản Văn Hóa Ở Đà Nẵng: Tài Nguyên Du Lịch Hấp Dẫn

    --- Bài mới hơn ---

  • Di Tích Lịch Sử, Văn Hóa Ở Đà Nẵng Đưa Vào Tour Du Lịch
  • 6 Kinh Nghiệm Bạn Cần Biết Trước Khi Thuê Xe Máy Ở Đà Nẵng (2018)
  • Kinh Nghiệm Thuê Xe Du Lịch Khi Tới Đà Nẵng
  • Kinh Nghiệm Thuê Xe Tự Lái Ở Đà Nẵng
  • Kinh Nghiệm Thuê Xe Máy Ở Đà Nẵng
  • Đà Nẵng không có nhiều di sản văn hóa nhưng chính quyền thành phố này đang làm tốt và phát huy vai trò của di sản văn hóa với phát triển du lịch.

    Thành phố Đà Nẵng không có nhiều di sản văn hóa như các địa phương khác. Thế nhưng, mấy năm trở lại đây, thành phố này đã phát huy nét độc đáo của các di sản văn hóa lịch sử làm đa dạng hóa sản phẩm du lịch, níu chân du khách. Di sản văn hóa ở Đà Nẵng đang trở thành tài nguyên du lịch hấp dẫn tạo nền tảng cho phát triển du lịch bền vững.

    Danh thắng Ngũ Hành Sơn vừa được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia đặc biệt.

    Đà Nẵng mang trong mình nhiều câu chuyện về lịch sử và văn hóa thú vị. Di tích lịch sử Thành Điện Hải là đồn lũy quan trọng góp phần đánh bại cuộc tấn công của thực dân Pháp vào Đà Nẵng những năm 1858 – 1860. Di tích Hải Vân Quan là một công trình quân sự do triều đình nhà Nguyễn xây dựng trên đỉnh đèo Hải Vân vào năm 1862 để bảo vệ kinh thành Huế và giám sát các hoạt động ở cửa biển Đà Nẵng. Di tích Nghĩa trũng Khuê Trung ghi dấu ấn lịch sử những ngày đầu đấu tranh chống thực dân Pháp… Đây là những chứng tích có ý nghĩa lịch sử, tạo điều kiện cho du lịch Đà Nẵng phát triển.

    Anh Koen Seys, du khách đến từ nước Bỉ cho biết: “Việt Nam thực sự là điểm thu hút du khách, có nhiều địa điểm bảo tồn di tích lịch sử rất tốt. Tôi đặc biệt ấn tượng với Đà Nẵng, ở đây có cảnh quan núi đồi hùng vĩ, nhiều địa danh lịch sử ấn tượng. Đúng là địa điểm du lịch tuyệt vời”.

    Một trong những điểm tham quan du lịch tâm linh thu hút du khách đến Đà Nẵng là di tích danh thắng Ngũ Hành Sơn. Đến với Ngũ Hành Sơn là về nơi cửa Phật, sống trong không gian huyền ảo của tiếng chuông chùa, chốn thanh tịnh nơi chùa chiền, hang động.

    Nơi đây, có một hệ thống hang động thạch nhũ mát lạnh, thật huyền bí, kỳ diệu. Nếu như trước đây, danh thắng Ngũ Hành Sơn chỉ đón khách trong mùa lễ hội thì vài năm trở lại đây, khách thập phương tìm đến quanh năm. Để thu hút du khách, danh thắng này đã được đầu tư, xây dựng nhiều sản phẩm du lịch gắn với khu dịch vụ đầy đủ tiện nghi. Hiện nay, trung bình mỗi ngày danh thắng Ngũ Hành Sơn đón 1.500 đến 2.000 khách.

    Ông Nguyễn Văn Hiền, Trưởng Ban Quản lý khu du lịch thắng cảnh Ngũ Hành Sơn cho biết, lượng khách đến tham quan ngày càng đông, hàng năm, tiền vé thu được từ khu danh thắng này hơn 65 tỷ đồng: “Du khách đến Ngũ Hành Sơn ngày một đông hơn. Thường thường du khách là những bậc trung niên, lớn tuổi người ta rất ý thức được di tích lịch sử Ngũ Hành Sơn muốn đến khám phá, tìm hiểu. Cho nên họ đến thăm quan với 2 mục đích rõ ràng. Mục đích thứ nhất là đến chiêm ngưỡng di tích cấp quốc gia, thứ hai là người ta hướng về tâm linh, thiện tâm”.

    Hải Vân Quan đang là điểm đến thu hút khách du lịch nước ngoài.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Học Nhanh Trung Cấp Ô Tô Ở Đà Nẵng
  • Kỷ Luật Cán Bộ Y Tế Ở Quảng Ninh Không Tự Cách Ly Sau Khi Từ Đà Nẵng Về
  • Học Trung Cấp Hướng Dẫn Viên Du Lịch Ra Làm Gì?
  • Học Chính Quy Trung Cấp Du Lịch Ở Huyện Gia Lâm
  • Học Chính Quy Trung Cấp Du Lịch Ở Đà Nẵng
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • CẦM ĐỒ TẠI F88
    15 PHÚT DUYỆT
    NHẬN TIỀN NGAY

    VAY TIỀN NHANH
    LÊN ĐẾN 10 TRIỆU
    CHỈ CẦN CMND

    ×