Tài Nguyên Du Lịch Là Gì? Đặc Điểm, Phân Loại Tài Nguyên Du Lịch

--- Bài mới hơn ---

  • Địa Du Lịch An Giang – Tiềm Năng Cần Được Khai Thác
  • Một Số Vấn Đề Liên Quan Đến Phát Triển Sản Phẩm Du Lịch Tỉnh An Giang – Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch (Itdr)
  • Việt Nam : Du Lịch Ninh Bình Và Lợi Thế Quần Thể “Hạ Long Trên Cạn”
  • Sở Ngoại Vụ Tỉnh Vĩnh Phúc
  • Tổng Quan Về Du Lịch Hà Nội
  • 5

    /

    5

    (

    6

    bình chọn

    )

    1. Khái niệm tài nguyên du lịch là gì?

    Tài nguyên du lịch là khách thể của du lịch và là cơ sở phát triển của ngành du lịch. Theo định nghĩa trong Luật Du Lịch, chương II Tài nguyên du lịch, điều 13: “Tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn đang được khai thác và chưa được khai thác.”

    Theo đó, tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thuỷ văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch.

    Các dạng tài nguyên du lịch nhân văn như truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, di tích lịch sử, văn nghệ dân gian, khảo cổ học, kiến trúc học,… được sử dụng để phục vụ mục đích du lịch.

    2. Phân loại tài nguyên du lịch

    Người ta chia ra 3 loại tài nguyên du lịch, đó là: Tài nguyên du lịch thiên nhiên, tài nguyên du lịch nhân văn và tài nguyên du lịch xã hội.

    Tài nguyên du lịch thiên nhiên: Đó là các điều kiện và địa hình tự nhiên ban tặng cho con người như khí hậu, địa hình, phong cảnh,… v.v

    Tài nguyên du lịch nhân văn: Đó là các vật thể và tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể, những di sản do con người tạo ra qua nhiều thế hệ, cụ thể: 

    • Tài nguyên du lịch nhân văn vật thể: di tích lịch sử, các công trình kiến trúc, văn hóa, nghệ thuật,… 

    • Tài nguyên nhân văn phi vật thể: các truyền thống lịch sử, văn hoá dân tộc, các phong tục tập quán, các loại hình nghệ thuật truyền thống,… v.v.

    Tài nguyên du lịch xã hội: Đó là các sự kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội do con người đương đại tổ chức tạo ra sức hấp dẫn để thu hút khách du lịch. Ví dụ như: các sự kiện thể thao thế giới, các cuộc thi hoa hậu thế giới và khu vực, các hội nghị chính trị – kinh tế (Hội nghị thượng đỉnh ASEAN, Hội nghị APEC),…. v.v.

    Về phía các nhà khoa học, tài nguyên du lịch cũng chia ra làm hai loại, đó là tài nguyên du lịch hiện thực và tài nguyên du lịch tiềm năng còn chưa khai phá.

    Tìm hiểu ngay Khách du lịch là gì, các nghiên cứu thống kê về khách du lịch để có cái nhìn khách quan về mối liên hệ giữ tài nguyên du lịch và khách du lịch.

    3. Đặc điểm của tài nguyên du lịch

    Tải nguyên du lịch bao gồm các nguồn tài nguyên và diện tích phân bổ các nguồn tài nguyên, chúng là cơ sở cần thiết để xác định những tiềm năng của lãnh thổ và khả năng khai thác du lịch, nghỉ ngơi.

    Thời gian khai thác xác định tính mùa vụ của du lịch và nhịp điệu của dòng khách. Đặc điểm của lãnh thổ là điều khó thay đổi, đó chính là yếu tố tạo nên lực hút cơ sở hạ tầng và dòng khách du lịch đến khám phá tài nguyên đó.

    Để đầu tư cho các loại tài nguyên du lịch, chúng ta chỉ cần một khoản vốn nhỏ, chi phí sản xuất thấp lại xây dựng nhanh mang lại hiệu quả kinh tế cao. Hơn nữa, tài nguyên du lịch còn có khả năng tái sử dụng nhiều lần nếu thực hiện các biện pháp bảo vệ và tuân theo các quy định về sử dụng tài nguyên.

    Tài nguyên du lịch có vai trò vô cùng quan trọng đối với việc khai thác và thu hút du lịch. Tài nguyên du lịch càng phong phú, càng đặc sắc bao nhiêu thì sức hấp dẫn và hiệu quả hoạt động du lịch càng cao.

    4. Các quy định của nhà nước về tài nguyên du lịch 

    Các quy định của nhà nước về tài nguyên du lịch được ghi rõ trong Luật Du lịch 2005, đặc biệt qua điều 13 đến điều 16:

    Điều 13. Các loại tài nguyên du lịch

    1. Tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn đang được khai thác và chưa được khai thác.

    Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thuỷ văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch.

    Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hoá, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch.

    1. Tài nguyên du lịch có thể thuộc sở hữu nhà nước hoặc sở hữu của tổ chức, cá nhân.

    Điều 14. Điều tra tài nguyên du lịch

    Điều 15. Nguyên tắc bảo vệ, tôn tạo và phát triển tài nguyên du lịch

    1. Tài nguyên du lịch phải được bảo vệ, tôn tạo và khai thác hợp lý để phát huy hiệu quả sử dụng và bảo đảm phát triển du lịch bền vững.

    2. Nhà nước thống nhất quản lý tài nguyên du lịch trong phạm vi cả nước, có chính sách và biện pháp để bảo vệ, tôn tạo và khai thác hợp lý tài nguyên du lịch.

    Điều 16. Trách nhiệm quản lý, bảo vệ, tôn tạo và phát triển tài nguyên du lịch

    1. Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở trung ương, các bộ, cơ quan ngang bộ, Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm quản lý tài nguyên du lịch, phối hợp trong việc bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý và phát triển tài nguyên du lịch.

    2. Cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân sở hữu, quản lý tài nguyên du lịch có trách nhiệm bảo vệ, đầu tư, tôn tạo tài nguyên du lịch, tạo điều kiện cho khách đến tham quan, thụ hưởng giá trị của tài nguyên du lịch theo quy định của pháp luật.

    3. Khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, cộng đồng dân cư có trách nhiệm bảo vệ tài nguyên du lịch.

    4. Tổ chức, cá nhân sở hữu, quản lý tài nguyên du lịch có trách nhiệm phối hợp với cơ quan nhà nước về du lịch có thẩm quyền trong việc sử dụng và khai thác tài nguyên du lịch cho các mục tiêu kinh tế khác, bảo đảm không làm giảm độ hấp dẫn của tài nguyên du lịch.

    Nếu có bất kỳ thắc mắc gì khi tìm hiểu về tài nguyên du lịch, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại: 0915 686 999 hoặc qua email: [email protected] Xin cảm ơn và hẹn gặp lại các bạn trong bài viết sau!

    Nguồn: Luận Văn Việt

    0/5

    (0 Reviews)

    Hiện tại tôi đang đảm nhiệm vị trí Content Leader tại Luận Văn Việt. Tất cả các nội dung đăng tải trên website của Luận Văn Việt đều được tôi kiểm duyệt và lên kế hoạch nội dung. Tôi rất yêu thích việc viết lách ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Và đến nay thì tôi đã có hơn 5 năm kinh nghiệm viết bài.

    Hy vọng có thể mang đến cho bạn đọc thật nhiều thông tin bổ ích về tất cả các chuyên ngành, giúp bạn hoàn thành bài luận văn của mình một cách tốt nhất!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Để Trở Thành Điểm Du Lịch
  • Dịch Thuật Tài Liệu Chuyên Ngành Du Lịch: Uy Tín, Chuyên Nghiệp
  • Lỗi Thường Gặp Ở Máy Ảnh Số Du Lịch
  • Dịch Vụ Vệ Sinh Sửa Chữa Máy Ảnh Uy Tín Giá Rẻ Nhất
  • Vai Trò Và Lợi Ích Của Sự Kiện Du Lịch
  • Tài Nguyên Du Lịch Là Gì? Các Cách Phân Loại Tài Nguyên Du Lịch

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Quan Về Đà Nẵng
  • Tìm Hiểu Du Lịch Tỉnh An Giang
  • Địa Du Lịch An Giang
  • Vĩnh Phúc Phát Triển Du Lịch Đặc Trưng Bền Vững
  • Liên Hiệp Các Hội Khkt Tỉnh Thừa Thiên Huế
  • Theo Pirojnik, 1985: “Tài nguyên du lịch là tổng thệ tự nhiên, văn hoá và lịch sử cùng các thành phần của chúng trong việc khôi phục và phát trển thể lực và trí lực của con người, khả năng lao động và sức khoẻ của họ, những tài nguyên này được sử dụng cho nhu cầu trực tiếp và gián tiếp cho việc sản xuất dịch vụ du lịch với nhu cầu thời điểm hiện tại hay tương lai và trong điều kiện kinh tế – kỹ thuật cho phép.”

    Theo Luật du lịch năm 2005 của Quốc hội Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Tài nguyên du lịch là cơ sở để phát triển ngành du lịch. Đó là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử – văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch.

    Theo Pirojnik, 1985: “Tài nguyên du lịch là tổng thệ tự nhiên, văn hoá và lịch sử cùng các thành phần của chúng trong việc khôi phục và phát trển thể lực và trí lực của con người, khả năng lao động và sức khoẻ của họ, những tài nguyên này được sử dụng cho nhu cầu trực tiếp và gián tiếp cho việc sản xuất dịch vụ du lịch với nhu cầu thời điểm hiện tại hay tương lai và trong điều kiện kinh tế – kỹ thuật cho phép.”

    Du lịch là một ngành có sự định hướng tài nguyên rõ rệt. Tài nguyên du lịch là một trong những yếu tố cơ bản, điều kiện tiên quyết để hình thành và phát triển du lịch của một địa phương. Số lượng tài nguyên vốn có, chất lượng của chúng và mức độ kết hợp các loại tài nguyên trên cùng địa bàn có ý nghĩa đặc biệt đối với sự phát triển du lịch. Vì vậy, sức hấp dẫn của một địa phương phụ thuộc rất nhiều vào nguồn tài nguyên du lịch của địa phương đó.

    2. Các cách phân loại tài nguyên du lịch

    2.1 Phân loại tài nguyên du lịch theo WTO:

    WTO phân loại tài nguyên du lịch thành 3 nhóm như sau:

    • Cung cấp tiềm năng (VH kinh điển, TN kinh điển, vận động vui chơi)
    • Cung cấp hiện tại (giao thông, thiết bị, hình tượng tổng thể)
    • Tài nguyên kĩ thuật (khả năng hoạt động, cách thức và tiềm lực khu vực)

    2.2 Phân loại theo tác giả Bùi Thị Hải Yến

    Theo Tác giả Bùi Thị Hải Yến thì tài nguyên du lịch của nước ta được phân thành 3 nhóm chính là:

      Tài nguyên du lịch nhân văn:
    • TNDL nhân văn vật thể (DSVH thế giới, di tích khảo cổ,di tích lịch sử, di tích kiến trúc, danh lam thắng cảnh, công trình đương đại, vật kỉ niệm và cổ vật).
    • TNDL nhân văn phi vật thể (DSVH phi vật thể, lễ hội, nghề và làng nghề, ẩm thực, các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học, sự kiện thể thao văn hóa).
      Tài nguyên kinh tế – kĩ thuật và bổ trợ: (đường lối chính sách phát triển du lịch, tổ chức quản lý, quy hoạch du lịch, nguồn lao động, cơ sở vật chất kĩ thuật, xúc tiến quảng bá, kết cầu hạ tầng).
    • Thiên nhiên (cảnh quan địa văn, cảnh quan thủy văn, khí hậu và sinh vật, cảnh quan tự nhiên khác)
    • Nhân văn (di tích lịch sử, điểm nhân văn hiện đại, điểm hấo dẫn nhân văn trừu tượng, hấp dẫn nhân văn khác).
    • Dịch vụ (dịch vụ du lịch, các dịch vụ khác)

    2.3 Phân loại theo Ngô Tất Hổ

    Cũng giống với tác giả Bùi Thị Hải Yên, Tác giả Ngô Tất Hổ phân tích tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm:

      Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm địa hình, khí hậu, nguồn nước, thực vật và động vật.

    Dựa vào các cách phân loại trên, tài nguyên du lịch được chia làm 2 nhóm chính là:

    2.4 Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm:

    • Các di tích lịch sử-văn hoá, kiến trúc; các lễ hội;
    • Các đối tượng gắn liền với yếu tố dân tộc học;
    • Các làng nghề thủ công truyền thống;
    • Các đối tượng văn hoá, thể thao và hoạt động nhận thức khác.
    • Khối lượng các nguồn tài nguyên và diện tích phân bổ các nguồn tài nguyên là cơ sở cần thiết để xác định khả năng khai thác và tiềm năng của hệ thống lãnh thổ, nghỉ ngơi, du lịch.
    • Thời gian khai thác xác định tính mùa vụ của du lịch và nhịp điệu của dòng khách. Tính bất biến về mặt lãnh thổ của đa số các loại tài nguyên tạo nên lực hút cơ sở hạ tầng và dòng du lịch tới nơi tập trung các loại tài nguyên đó.
    • Vốn đầu tư tương đối thấp, chi phí sản xuất không cao, xây dựng tương đối nhanh và mang lại hiệu quả kinh tế xã hội cũng như khả năng sử dụng độc lập từng loại tài nguyên.
    • Tài nguyên du lịch có khả năng sử dụng nhiều lần nếu tuân theo các quy định về sử dụng một cách hợp lý, thực hiện các biện pháp bảo vệ cần thiết.

    2.5 Tài nguyên du lịch nhân văn là gì?

    Tài nguyên du lịch nhân văn là:

    Như vậy, tài nguyên du lịch được xem như tiền đề để phát triển du lịch. Tài nguyên du lịch càng phong phú, càng đặc sắc bao nhiêu thì sức hấp dẫn và hiệu quả hoạt động du lịch càng cao.

    + Khái niệm du lịch và sản phẩm du lịch hiện nay

    + Khái niệm, đặc điểm và các loại sản phẩm du lịch biển đảo

    Nguồn: trithuccongdong.net

    Top từ khóa tìm kiếm: khái niệm tài nguyên du lịch, các loại tài nguy ên du lịch, điểm tài nguyên du lịch là gì

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khai Thác Tài Nguyên Du Lịch Vùng Tây Bắc
  • Những Điểm Du Lịch Hấp Dẫn Tại Sơn La
  • Ba Lĩnh Vực Hứa Hẹn “hái Ra Tiền” Của Du Lịch Nghệ An
  • Luận Văn Thu Hút Khách Du Lịch Quốc Tế: Nghiên Cứu Cho Trường Hợp Việt Nam
  • Dịch Vụ Sửa Máy Ảnh, Sửa Máy Quay Uy Tín, Giá Rẻ Nhất Tại Hà Nội
  • Tài Nguyên Du Lịch (Tourism Resources) Là Gì? Phân Loại Tài Nguyên Du Lịch

    --- Bài mới hơn ---

  • Dựa Vào Hình 31.5 (Sgk Trang 141) Và Atlat Địa Lí Việt Nam, Với Tư Cách Là Một Người Hướng Dẫn Viên Du Lịch, Hãy Giới Thiệu Tuyến Du Lịch Xuyên Việt (Tài Nguyên Du Lịch, Các Trung Tâm Du Lịch Trên Tuyến Này).
  • Git Trong Du Lịch Là Gì? Và Những Điều Cần Biết
  • Git Trong Du Lịch Là Gì? Những Điều Cần Biết Về Git
  • Mua Gối Hơi Du Lịch, Gối Chữ U, Gối Kê Cổ Giá Rẻ Tại Hà Nội
  • Gợi Ý Lịch Trình Du Lịch Đà Lạt 4 Ngày 3 Đêm Tự Túc
  • Khái niệm

    Tài nguyên du lịch trong tiếng Anh được gọi là Tourism resources.

    Tài nguyên du lịch là khách thể của du lịch và là cơ sở phát triển của ngành du lịch.

    Các nhà nghiên cứu về du lịch đưa ra khái niệm sau: Mọi nhân tố có thể kích thích động cơ du lịch của khách du lịch được ngành du lịch tận dụng để sinh ra lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội đều được gọi là tài nguyên du lịch.

    Nói một cách khác, đã là nhân tố thiên nhiên, nhân văn và xã hội có thể thu hút được khách du lịch thì gọi chung là tài nguyên du lịch. Đây là một khái niệm rất rộng và rất bao quát, rất thiết thực.

    Phân loại tài nguyên du lịch

    Người ta cũng chia ra 3 loại tài nguyên du lịch, đó là:

    – Tài nguyên du lịch thiên nhiên bao gồm khí hậu, địa hình, phong cảnh..v.v, có thể nói chung là tất cả những gì thiên nhiên ban tặng con người.

    – Tài nguyên du lịch nhân văn gồm có tài nguyên du lịch nhân văn vật thể và tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể. Đó là những di sản do con người tạo ra qua nhiều thế hệ và để lại cho các thế hệ mai sau.

    + Tài nguyên du lịch nhân văn vật thể bao gồm các di tích lịch sử, các công trình kiến trúc, văn hoá, nghệ thuật..v.v.

    + Tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể bao gồm các truyền thống lịch sử, văn hoá dân tộc, các phong tục tập quán, các loại hình nghệ thuật truyền thống..v.v.

    – Tài nguyên du lịch xã hội bao gồm các sự kiện chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội do con người đương đại tổ chức cũng tạo ra sức hấp dẫn để thu hút khách du lịch.

    Ví dụ như: các sự kiện thể thao thế giới, các cuộc thi hoa hậu thế giới và khu vực, các hội nghị chính trị – kinh tế như: Hội nghị APEC, Hội nghị thượng đỉnh ASEAN….v.v.

    Các nhà khoa học cũng chia ra làm:

    + Tài nguyên du lịch hiện thực (tức là có khả nămg khai thác)

    + Tài nguyên du lịch tiềm năng còn chưa khai phá

    Chỉ có tài nguyên du lịch hiện thực mới có giá trị du lịch và mới có thể phát triển ngành du lịch.

    Khu du lịch và điểm du lịch

    Trên cơ sở của việc phân loại các tài nguyên du lịch, các nhà kinh doanh du lịch đã xây dựng các khu du lịch, các điểm du lịch.

    – Khu du lịch: Khu du lịch là đơn vị cơ bản của công tác qui hoạch và quản lí du lịch, là không gian có môi trường đẹp, cảnh vật tương đối tập trung, là tổng thể về địa lí lấy chức năng du lịch làm chính.

    Để trở thành khu du lịch phải thoả mãn được hai điều kiện

    + Thứ nhất, tài nguyên du lịch trong khu du lịch có qui mô nhất định và tương đối tập trung.

    + Thứ hai, có cơ sở đáp ứng nhu cầu du lịch như: ăn, ở, đi lại tham quan, vui chơi giải trí, mua sắm của khách du lịch…

    – Điểm du lịch bao gồm: Cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn và các loại động thực vật; là kết quả sáng tạo do con người xây dựng nên, đó là bảo tàng, di tích cổ đại, di tích lịch sử, văn hóa nghệ thuật, du lịch nước, du lịch săn bắn, du lịch leo núi (mạo hiểm) và những nơi nghỉ mát.

    Chính phủ sẽ xác định các điểm du lịch và sự hấp dẫn về mặt du lịch tại các điểm đó.

    Xây dựng một điểm du lịch và sự hấp dẫn du lịch còn phải chú ý những điểm sau

    + Có khả năng thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa tại địa phương

    + Đảm bảo gìn giữ được các giá trị văn hóa, tín ngưỡng và phong tục tập quán đang tồn tại tại địa phương

    + Giữ gìn được môi trường sinh thái

    + Đảm bảo sự phát triển du lịch lâu dài

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giới Thiệu Thuyết Minh Về Mũi Né
  • Giới Thiệu Về Ngành Du Lịch
  • “thật Không Thể Tin Nổi” Du Lịch Bạc Liêu Điểm Đến “thật Là Tuyệt Vời”
  • Khu Du Lịch Văn Thánhcó Gì Vui?
  • Giới Thiệu Đôi Nét Về Khu Du Lịch Tràng An Ninh Bình
  • Tài Nguyên Du Lịch Tự Nhiên Hue

    --- Bài mới hơn ---

  • Du Lịch Nha Trang Đà Lạt 4 Ngày 3 Đêm Giá Rẻ Từ Hà Nội Giá Rẻ
  • Bật Mí Kinh Nghiệm Du Lịch Mộc Châu Bằng Xe Khách 2022
  • Bài 1: Hướng Dẫn Đi Mộc Châu Bằng Xe Khách
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Gia Lai Tự Túc 2022
  • Gợi Ý Tour Du Lịch Ninh Bình Tự Túc Trong 1 Ngày
  • TÀI NGUYÊN DU LỊCH TỰ NHIÊN

    1.

    Địa hình

    Địa hình thừa thiên huế khá phức tạp gồm nhiều dạng: vùng đồi núi, đồng bằng,

    biển. Cấu trúc của địa hình theo chiều ngang từ Đông sang Tây gồm:biển đầm

    phá, đồng bằng nhỏ hẹp, vùng đồi thấp và núi. Đại hình thừa thiên huế có cấu

    tạo dạng bậc khá rõ rệt.

    -vùng đồi núi :

    Hệ thống búi của Thừa Thiên huế chiếm khoảng 75% diện tích của tỉnh, từ biên

    giới Việt Lào và kéo dài đến thành phố Đà Nẵng, là bộ phận phía nam của dải

    Trường Sơn Bắc. Dãy núi phía tây chạy theo hướng tây bắc-đông nam càng về

    phía nam càng cao dần và bẻ quặt theo hướng tây-đông(dãy Bạch Mã). Độ cao

    trung bình từ 500m- 600m, độ cao này tăng dần về phía tây, phía nam và đông

    nam.

    Vùng đồng bằng duyên hải:

    Đồng bằng Thừa Thiên Huế điển hình cho kiểu đồng bằng mài mòn, tích tụ, có

    cồn cát, đầm phá. Diện tích vùng đồng bằng chiếm khoảng 1.400km2.

    Vùng đầm phá:

    Là một hệ cảnh quan độc đáo của thừa Thiên Huế, vùng đầm phá có diện

    tích 22.040 ha, dài 68 km, bắt đầu từ cửa sông Ô Lâu phía bắc chạy song

    song với bờ biển đến cửa Tư Hiền, chiều rộng từ 1 đến 6 km. Độ sâu tăng

    dần từ Tây sang Đông. Hiện nay sự lắng tụ phù sa, làm độ sâu của đầm phá

    đang có chiều hướng cạn dần.

     Ảnh hưởng của địa hình đến phát triển du lịch:

    Do ảnh hưởng của địa hình, đại bộ phạn dân cư của tỉnh Thừa Thiên Huế

    phân bố không đều. Miền núi là địa bàn cư trú của đồng bào thiểu số. Sự

    phân bố dân cư này làm cho du lịch tập trung phát triển hơn ở một số

    vùng trọng điểm nhất định và hướng tới hình thức du lịch văn hóa, tìm

    hiểu các nền văn hóa của các dân tộc Việt Nam.

    Sự phân hóa của địa hình đã tạo nên nhiều vùng tự nhiên khá thuận lợi

    cho phát triển các loại hình du lịch sinh thái, nghĩ dưỡng…

    Tuy nhiên địa hình vùng trung du nhỏ hẹp làm độ dốc giảm, gây ra hiện

    tượng xói mòn mạnh, nhất là trong mùa mưa lũ. Điều này cực kỳ nguy

    hiểm đối với phát triển du lịch và việc xây dựng các cơ sở vật chât mang

    tính lâu dài, thu hút đầu tư quy mô lớn nhằm phục vụ du lịch.

    Khí hậu

    Đặc điểm chung của khí hậu Thừa Thiên Huế là nhiệt độ cao, độ ẩm lớn ,

    mưa theo mùa. Do vị trí địa lý và sự kéo dài của lãnh thổ theo vĩ tuyến, kết

    hợp với hướng địa hình và hoàn lưu khí quyển đã tác động sâu sắc đến việc

    hình thành một kiểu khí hậu đặc trưng và tạo nên những hệ quả phức tạp

    trong chế độ mưa, chế độ nhiệt và các yếu tố khí hậu khác.

    Nhiệt độ trung bình hàng năm của Thừa Thiên huế khoảng 250C. Tổng lượng

    bức xạ nhiệt trung bình năm tăng dần từ Bắc vào Nam của tỉnh và dao động

    trong khoảng từ 110 đến 140 kcal/cm2 , ứng với hai lần mặt trời qua thiên

    đỉnh tổng lượng bức xạ có hai cực đại: lần thứ nhất vào tháng V và lần thứ

    hai vào tháng VII, lượng bức xạ thấp nhất vào tháng 12. Cán cân bức xạ

    nhiệt trung bình từ 75 đến 85 kcal/cm2 , ngay cả tháng lạnh nhất vẫn mang

    trị số dương. Do tác động của vị trí, địa hình và hình dạng lãnh thổ, nhiệt độ

    có sự thay đổi theo không gian và thời gian:

    + phân bố theo không gian : theo chiều Đông – Tây nhiệt độ vùng núi (Nam

    Đông và A Lưới) trung bình năm thường chênh lệch với vùng đồng bằng từ

    00C đến 30C. Riêng trong mùa lạnh, sự phân hóa nhiệt sâu sắc hơn.

    + phân bố theo thời gian : do sự tác động của gió mùa nên đã hình thanhfhai

    mùa với sự khác biệt về chế độ nhiệt rõ rệt.

    Mùa lạnh : là khoảng thời gian nhiệt độ trung bình trong ngày ổn định dưới

    200 C. Thời gian lạnh của Thừa Thiên Huế tùy theo vùng có thể kéo dài từ

    30 đến 60 ngày.

    Mùa nóng : là thời kỳ nhiệt độ trung bình ổn định trên 250C. Mùa nóng bắt

    đầu từ tháng IV đến hết tháng IX. Những tháng đầu mùa nhiệt độ tăng khá

    đều trên các vùng, nhiệt độ cực đại vào tháng VII và giảm dần cho đến tháng

    I năm sau. Từ tháng Vcho đến tháng IX, hiệu ứng phơn Tây Nam đã làm

    nhiệt độ tăng cao, độ ẩm giảm thấp gây ra những đợt nóng kéo dài ảnh

    hưởng nghiêm trọng đến sinh hoạt và các hoạt động sản xuất nông nghiệp.

    Biên độ nhiệt : Thừa Thiên Huế có nhiệt độ trung bình hằng năm gần 100C.

    Đây là một điểm rất đặc biệt vì tính cách khắc nghiệt của khí hậu gần giống

    với những vùng lãnh thổ có vĩ độ cao hay của những lãnh thổ nằm sâu trong

    luc địa.

    4.

    Do sự tác động phối hợp giữa địa hình và hướng dịch chuyển của các khối

    khí theo mùa , Thừa Thiên Huế có thời kỳ khô và ẩm bị lệch pha so với cả

    nước.

    + Từ tháng IX đến tháng III độ ẩm không khí cao trên 90% trùng với mùa

    mưa và thời gian hoạt động của khối không khí lạnh biến tính từ biển đông

    tràn vào lãnh thổ

    +Hàng năm Thừa Thiên Huế nhận được một lượng mưa lớn, trung bình trên

    3000mm, song phân bố không đều. Mưa phần lớn tập trung vào tháng X và

    XI, trong khoản thời gian này bão thường xuất hiện gây nên những cơn lũ

    lớn. Năm 1953 (4937mm); năm 1975(3278mm) lụt vượt mức báo động 3

    với đỉnh lũ là 6m (kim long).

     Ảnh hưởng của khí hậu đến du lịch:

    Khí hậu của tỉnh Thừa Thiên Huế có sự thuận lợi nhất định cho việc phát

    triển du lịch. Tuy nhiên , khí hậu có nhiều biến động khá phức tạp, hiện

    tượng lệch pha so với khí hậu cả nước đòi hỏi Thừa Thiên Huế phải có kế

    hoạch tổ chức các hoạt động du lịch phù hợp. Thời gian mưa kéo dài

    khiến du lịch theo thời vụ ở Huế là rất rõ nét. Bên cạnh đó, theo thống kê

    mỗi năm có ít nhất một cơn bão đổ bộ trực tiếp vào lãnh thổ gây thiệt hại

    và khó khăn rất lớn cho việc phát triển cơ sở hạ tầng du lịch.

    Thủy văn:

    Thừa Thiên – Huế có hệ thống sông ngòi khá dày đặc nhưng các sông đều

    nhỏ, độ dốc lớn. Phần lớn bắt nguồn từ phía đônn của trường sơn, chảy theo

    hướng Tây – Đông, cửa sông hẹp. Tổng chiều dài các song chính chảy trên

    lãnh thổ của tỉnh là khoảng 300km trên đó hệ thống sông Hương chiếm đến

    60%. Nhìn chung, sông ngòi ở huế ngắn và dốc, ít có sông lớn. Các sông có

    sự chênh lệch rất lớn về dòng chảy trong năm. Tổng lượng nước trong ba

    tháng mùa lũ lớn gấp 2 lần tổng lượng nước trong 9 tháng mùa cạn. Diện

    tích các lưu vực sông không lớn, lớn nhất là sông Hương với diện tích lưu

    vực khoảng 1626 km2

     Đánh giá:

    Với mạng lưới sông ngòi và đầm phá, Thừa Thiên Huế có thể nối liền các

    huyện và thành phố rất thuận lợi cho giao thông đường thủy, phục vụ du

    lịch. Các cảng biển Thuận An, Chân Mây thuận lợi cho việc đón các du

    khách quốc tế. Sông hương với những nét văn hóa đậm chất Huế đã và

    đang thu hút một lượng khách không nhỏ mỗi năm.

    Sinh vật:

    Thừa Thiên Huế có vị trí chuyển tiếp của 2 miền khí hậu Bắc và Nam đã

    hình thành thảm thực vật rừng nhiệt đới đa dạng, hội tụ nhiều loại cây: cây

    bản địa như lim, gõ, kiền,chò…(cây họ đậu phương Bắc) cây di cư như dẻ,

    re, thông, bàng và các cây họ dầu phương Nam…Diện tích rừng chiếm

    khoảng 57% đất tự nhiên, độ che phủ 55%(2008).

    Động vật thiên nhiên của Thừa Thiên Huế khá phong phú, có giá trị kinh tế

    cao.

    + Động vât rừng: ngoài những động vật phổ biến trong rừng như: khỉ , hươu,

    nai, công, gà rừng…nhiều động vật quý hiếm đã được phát hiện ở Nam

    Đông, Phú Lộc, A Lưới như: voi, hổ, trĩ, sao, gà lôi, chồn bay, gấu chó…

    +Thủy sản: với gần 126 km đường bờ biển, 22.000 ha đầm phá và một hệ

    sông ngòi phong phú, Thừa Thiên Huế có lượng thủy sản đa dạng với nhiều

    loại quý hiếm có giá trị kinh tế cao: sò huyết, mực, tôm, rau câu…

     Đánh giá:

    Hệ thống sinh vật phong phú góp phần tạo nên cảnh quan môi trường

    sinh thái và cảnh quan du lịch của vùng, vườn quốc gia Bạch Mã có khí

    hậu mát mẻ cùng sự đa dạng sinh vật đã trở thành một trung tâm du lịch

    sinh thái rất hấp dẫn.

    TÀI NGUYÊN DU LỊCH NHÂN VĂN

    Tài nguyên du lịch nhân văn của Thừa Thiên Huế có nhiều loại

    hình phong phú và đa dạng rất khác nhau. Hệ thống kiến trúc thành

    quách, cung điện, chùa, di sản văn hóa (được công nhận là di sản văn

    hóa thế giới). Tài nguyên phi vật thể: lễ hội, ẩm thực, làng nghề, nhã

    nhạc cung đình Huế (di sản văn hóa phi vật thể)..các tài nguyên đó đã tạo

    cho Thừa Thiên Huế có tiềm năng to lớn để trở thành trung tâm du lịch

    của cả nước.

    Nét đặc sắc là sự kết hợp hài hòa giữa văn hóa dân gian và văn hóa cung

    đình. Thừa Thiên-Huế là một trong những trung tâm du lịch văn hóa của

    của Việt Nam, là nơi duy nhất còn giữ lại được một kho tàng sử liệu vật

    chất đồ sộ, một di sản văn hóa vô cùng phong phú với hàng trăm công

    trình kiến trúc nghệ thuật đặc sắc và nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng.

    Huế là “một kiệt tác về thơ – kiến trúc đô thị”. Vì lẽ đó mà cuối năm

    1993, UNESCO đã chính thức công nhận Huế là một di sản văn hóa thế

    giới.

    1.Các di tích lịch sử văn hóa:

    Đặc điểm

    Chùa Thiên Mụ

    Chùa nằm cách trung tâm thành

    phố huế khoảng 5km, trên đồi Hà

    Khê, tả ngạn song Hương, xã

    Hương Long. Trước các điện,

    quanh chùa là các vườn hoa cây

    cảnh xanh tươi, rực rỡ. phía sau

    cùng là vườn thông tĩnh mịch,

    phong cảnh nên thơ. Chùa bị hư

    hỏng nặng năm 1943. Từ năm

    1945, Hòa thượng Thích Đôn Hậu

    đã tổ chức công cuộc đại trùng tu

    kéo dài hơn 30 năm.

    Quần thể di tích Cố Đô Huế nằm

    dọc bên bờ sông Hương thuộc

    thành phố Huế và một vùng phụ

    cận thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế là

    trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế

    của tỉnh, là cố đô của Việt Nam thời

    phong kiến dưới triều nhà Nguyễn,

    từ năm 1802 đén 1945. Bên bờ Bắc

    của con song Hương, hệ thống kiến

    trúc biểu thị cho quyền uy của chế

    độ trung ương tập quyền Nguyễn là

    ba tòa thành: Kinh thành Huế,

    Hoàng thành Huế, Tử cấm thành

    Huế, lồng vào nhau được bố trí

    đăng đối trên một trục dọc xuyên

    suốt từ mặt Nam ra mặt Bắc. hệ

    thống thành quách ở đây là một

    mẫu mực của sự kết hợp hài hòa

    nhuần nhuyễn giữa tinh hoa kiến

    Quần thể di tích Cố Đô Huế

    (di sản văn hóa thế giới)

    trúc Đông và Tây, được đặt trong

    một khung cảnh thiên nhiên kỳ thú

    với nhiều yếu tố biểu tượng sẵn có

    tự nhiên đến mức người ta mặc

    nhiên xem đó là những bộ phận của

    kinh thành Huế – đó là núi Ngự

    Bình, dòng Hương giang, cồn Giã

    Viên, cồn Bộc Thanh… Hoàng

    thành giới hạn bởi một vòng tường

    thành gần vuông với mỗi chiều xấp

    xỉ 600m với 4 cổng ra vào mà độc

    đáo nhất thường được lấy làm biểu

    tượng của cố đô: Ngọ Môn, chính

    là khu vực hành chính tối cao của

    triều đình Nguyễn. Bên trong

    Hoàng thành, hơi dịch về phía sau,

    là Tử cấm thành, hơi dịch về phía

    sau, là Tử cấm thành – nơi ăn ở

    sinh hoạt của Hoàng Gia.

    chúa Nguyễn . Các lễ hội truyền thống được duy trì, phát triển cũng từ

    những nguồn văn hóa ấy.

    Lễ hội các loại là một nhu cầu sinh hoạt văn hóa của con người Thừa

    Thiên Huế đã trở thành truyền thống. Nhìn tổng quát về lễ hội và sự tham

    gia lễ hội của cư dân vùng này, ta sẽ thấy lễ hội ở Thừa Thiên Huế tuy

    không phong phú như Miền Bắc, nhưng cũng khá đa dạng, có hai loại lễ

    hội: lễ hội cung đình và lễ hội dân gian. Lễ hội cung đình phản ánh sinh

    hoạt lễ nghi của triều Nguyễn . Phần lớn chỉ chú trọng về “lễ” hơn “hội”.

    Lễ hội dân gian gồm nhiều loại rất phong phú, có thể kể đến một số lễ hội

    tiêu biểu như sau: lễ hội Huệ Nam (điện Hòn Chén) hay còn gọi là lễ

    rước sắc nữ thần Thiên Y A Na theo tín ngưỡng của người Chamwpa

    xưa… Trong những dịp tế lễ, nhiều sinh hoạt văn hóa bổ ích nư đua

    thuyền, kéo co, đấu vật… còn được tổ chức và thu hút rất đông người

    xem.

    Hội đua ghe truyền thống: Hội đua ghe truyền thống tỉnh Thừa Thiên Huế là

    một lễ hội mới được tổ chức sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam năm

    1975. Hội được tổ chức trong một ngày nhằm ngày lễ Quốc kanhs 29(dương lịch). Địa điểm đua là bờ Nam song Hương trước trường Quốc học.

    Hội nhằm tạo điều kiện thuận tiện cho thanh niên nam nữ có cơ hội thi tài

    trên song nước, qua đó rèn luyện tăng cường bảo vệ sức khỏe và tạo không

    khí vui vui tươi lành mạnh cho nhân dân .

    Hội vật làng sình: Vật võ cũng là một hình thức để tưởng nhớ ngài khai canh

    làng đã truyền dạy dân làng nghề vật. Nên đến ngày giỗ Ngài, dân làng tổ

    chức vật võ.

    …….

    Festival Huế: tổ chức lần đầu tiên vào năm 2000, đén nay Festival Huế tổ

    chức được 7 lần (2000,2002,2004,2006,2008,2010,2012…). Đây là sự kiện

    văn hóa lớn có quy mô quốc gia tầm cỡ quốc tế, có ý nghĩa quan trọng trong

    đời sống của người dân Huế. Là điều kiện quan trọng để xây dựng Huế

    thành phố Festival cuả Việt Nam.

     Đánh giá:

    Thừa Thiên Huế có khá nhiều lễ hội lớn với các loại hình khác nhau: lễ

    hội vui chơi giải trí, lệ hội cầu ngưu, lễ hội đua thuyền… Những lễ hội

    này nhằm tôn vinh bản sắc văn hóa vùng miền, và chúng góp phần thu

    hút đông đảo các khách du lịch từ các địa phương khác trong cả nước

    cũng như khách du lịch nước ngoài.

    3. Văn hóa , ẩm thực:

    Văn hóa vật thể: quần thể di tích Huế được UNESCO công nhận là di sản

    văn hóa thế giới. Ngoài ra, Huế còn quê hương của nhiều công trình kiến

    trúc tôn giáo độc đáo.

    Văn hóa phi vật thể: Nhã nhạc cung đình Huế cũng được UNESCO công

    nhận là di sản văn hóa phi vật thể của thế giới. Ngoài ra, Huế còn bảo tồn

    được rất nhiều phong tục tập quán thông qua các lễ hội dân gian được tổ

    chức hàng năm như: lễ hộ điện Hòn Chén, hội võ làng Sình…

    Ẩm thực đặc sắc: Huế còn lưu giữ trên 1000 món ăn nấu theo lối Huế, có

    cả những món ăn ngự thiện của các vua triều Nguyễn. Bản thực đơn ngự

    thiện có trên vài chục món thuộc loại cao lương mỹ vị, được chuẩn bị và

    tổ chức rất công phu, tỷ mỷ, cầu kỳ. Các món ăn dân dã rất phổ biến

    trong quần chúng với bản thực đơn phong phú hàng trăm món được chế

    biến khéo léo hương vị quyến rũ màu sắc hấp dẫn , coi trọng phần chất

    hơn lượng; nghệ thuật bày biện các món ăn đẹp mắt, nghệ thuật thưởng

    thức tinh tế.

    Làng nghề truyền thống:

    Làng nghề nón bài thơ Tây Hồ.

    Làng nghề phường đúc đồng.

    Làng nghề làm hoa giấy Thanh Tiên.

    Tranh làng sình.

    …….

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tour Du Lịch Đảo Lý Sơn 3 Ngày Từ Hà Nội Giá Rẻ
  • Những Địa Điểm Hấp Dẫn Khi Đi Du Lịch Hàn Quốc
  • 7 Bài Hát Nên Nghe Khi Đi Du Lịch
  • Tour Du Lịch Hà Giang 3 Ngày 2 Đêm Của Sinhcafe
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Đà Nẵng 3 Ngày 2 Đêm
  • Bảo Vệ Môi Trường Và Tài Nguyên Thiên Nhiên Trong Hoạt Động Du Lịch

    --- Bài mới hơn ---

  • Luận Văn Đề Tài Đánh Giá Tài Nguyên Du Lịch Nhân Văn Tỉnh Ninh Bình
  • Vĩnh Phúc Đẩy Mạnh Thu Hút Đầu Tư Và Du Lịch
  • Khai Thác Tốt Tiềm Năng Du Lịch Tự Nhiên Sẽ Tạo Đà Phát Triển Cho Du Lịch Hà Nội
  • Khai Thác Tiềm Năng Du Lịch Từ Tài Nguyên Văn Hóa
  • 10 Lí Do Tại Sao Khách Du Lịch Yêu Thích Thái Lan
  • Việt Nam biển bạc rừng vàng với những bãi biển trong xanh dài bất tận, những cánh rừng lâu năm cùng nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và lịch sử văn hóa lâu đời. Trong đó, Vĩnh Phúc may mắn có được nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, văn hóa, kiến trúc nghệ thuật,… có khí hậu và không khí trong lành chính là tiềm năng và lợi thế để phát triển du lịch. Cùng với việc khai thác và quy hoạch các khu, điểm du lịch thì song song với đó cũng cần phải có kế hoạch bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên để gìn giữ cho đời sau.

    Vĩnh Phúc ở đỉnh tam giác châu thổ sông Hồng, thuộc vùng trung du, chuyển tiếp giữa rừng núi và đồng bằng chia thành ba dạng địa hình rõ nét: đồng bằng, trung du và miền núi. Rừng rậm, núi cao, hệ thống sông suối và thác gềnh quanh co, đó đây điểm xuyết một vạt rừng, một mặt đầm,… làm cho cảnh quan thiên nhiên nhiều hình nhiều vẻ, cảnh đẹp tạo nên bộ mặt kì thú riêng của tỉnh, vừa nghiêm trang, vừa thơ mộng, vừa trữ tình. Những năm gần đây, khách du lịch đến với Vĩnh Phúc tăng nhanh, điểm đến của du khách đã không chỉ dừng lại tại các khu du lịch nghỉ dưỡng như Tam Đảo, Flamingo Đại Lải Resort,… Khám phá thiên nhiên và trải nghiệm những cảm giác mới lạ đang là xu hướng du lịch của đông đảo giới trẻ, đặc biệt, Vĩnh Phúc có hệ thống thác, suối phong phú, đa dạng, nhiều điểm du lịch mới chưa đc khai thác, vẫn giữ được nét hoang sơ tự nhiên, đây chính là tiềm năng để phát triển du lịch. Tuy nhiên, phát triển du lịch cũng là nguyên ngân không nhỏ ảnh hưởng đến môi trường và nguồn tài nguyên thiên nhiên.

    Thác Ba Ao – điểm đến được ưa thích bởi thiên nhiên còn hoang sơ trong lành

    Về mặt tích cực, du lịch phát triển tác động rất lớn đến môi trường tự nhiên như: Tăng hiệu quả sử dụng đất nhờ sử dụng quỹ đất còn bỏ trống hoặc sử dụng không hiệu quả; giảm sức ép do khai thác tài nguyên quá mức, cải thiện các điều kiện về khí hậu, làm tăng mức độ đa dạng sinh học…, du lịch có thể giúp làm sạch môi trường thông qua các chương trình quy hoạch cảnh quan, thiết kế xây dựng.

    Bên cạnh những mặt tích cực, du lịch cũng đem đến những tác động tiêu cực cho môi trường khi tốc độ phát triển du lịch quá nhanh trong điều kiện nhận thức của các chủ thể tham gia vào hoạt động du lịch hạn chế, công cụ quản lý nhà nước về môi trường còn hạn chế, thiếu phương tiện xử lý môi trường, thiếu kinh phí…Đối với môi trường tự nhiên, du lịch làm tăng áp lực về chất thải, nước thải sinh hoạt; tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường đất, nước, các nguồn nước ngầm. Tuy được coi là ngành “công nghiệp không khói”, nhưng du lịch có thể gây ô nhiễm không khí thông qua phát, xả khí thải động cơ xe máy và tàu thuyền.

    Bảo vệ môi trường du lịch là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong quá trình phát triển du lịch mà các cơ quan quản lý, chính quyền địa phương, cộng đồng dân cư, các đơn vị kinh doanh du lịch kể cả khách du lịch phải nhìn nhận đúng mới có những hành động đúng để cùng phối hợp thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ môi trường du lịch.

    Đối với cộng đồng địa phương, là những người chủ sở hữu các nguồn tài nguyên, họ có quyền tham gia và hưởng lợi ích hợp pháp từ hoạt động du lịch. Đồng thời, họ cũng có trách nhiệm bảo vệ tài nguyên du lịch, bản sắc văn hoá địa phương; giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội, vệ sinh môi trường; khôi phục và phát huy các loại hình văn hóa, nghệ thuật dân gian, ngành nghề thủ công truyền thống, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân địa phương.

    Đơn vị du lịch lữ hành cần tuân thủ quy định về bảo vệ môi trường ở các khu, điểm du lịch và trên các tuyến du lịch; tích cực tham gia bảo vệ môi trường tại nơi doanh nghiệp tổ chức chương trình du lịch, khắc phục hậu quả do sự cố tác động đến môi trường, khuyến khích và hướng dẫn khách du lịch tự mang rác đến địa điểm tập kết theo quy định. Khách du lịch phải tuân thủ các quy định và chỉ dẫn về bảo vệ môi trường, có ý thức giữ gìn vệ sinh, bảo vệ môi trường, không có những hành vi làm ảnh hưởng đến cảnh quan…

    Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên chính là bảo vệ cuộc sống của chúng ta. Mỗi cá nhân đều phải có trách nhiệm với tương lai của các thế hệ sau này. Hãy đối xử tốt với thiên nhiên, sống thân thiện với môi trường, ta sẽ tận hưởng được những giây phút thư giãn, thoải mái trong bầu không khí trong lành, được tận hưởng những cảnh đẹp từ thiên nhiên.

    Linh Trang

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tiềm Năng Du Lịch Tây Bắc
  • Nhiều Tiềm Năng Phát Triển Du Lịch Sơn La
  • Du Lịch Miền Tây Nam Bộ
  • Phát Triển Du Lịch Gắn Với Hoạt Động Văn Hóa Đang Dần Phát Triển Tại Đà Lạt
  • Du Lịch Tây Nguyên: Nhiều Thế Mạnh Nhưng Chưa Được Phát Huy
  • Tài Nguyên Du Lịch Nhân Văn (Humanistic Tourism Resources) Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Du Lịch Nhật Bản Trong 10 Ngày: Nên Đi Đâu Và Làm Gì?
  • Đi Hết Xứ Hoa Anh Đào Với Lịch Trình Du Lịch Nhật Bản Tự Túc 10 Ngày
  • Tour Du Lịch Nhật Bản 3 Ngày 2 Đêm Giá Rẻ
  • Tour Du Lịch Nhật Bản 3 Ngày 2 Đêm
  • Du Lịch Nhật Bản 4 Ngày 3 Đêm
  • Khái niệm

    Tài nguyên du lịch nhân văn trong tiếng Anh được gọi là Humanistic tourism resources.

    Toàn bộ của cải vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra từ xưa đến nay có thể thu hút con người tiến hành hoạt động du lịch được xem là tài nguyên du lịch nhân văn.

    Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể sử dụng phục vụ mục đích du lịch.

    Theo cách hiểu này, chúng ta có thể xem tài nguyên nhân tạo chính là tài nguyên nhân văn.

    Nhu cầu của con người là muốn tìm hiểu về lịch sử, cội nguồn của chúng ta cũng như nghiên cứu những nét văn hóa khác nhau giữa những cộng đồng dân tộc trên thế giới.

    Chính vì vậy mà tài nguyên du lịch nhân tạo đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc thu hút những đối tượng khách du lịch thích tìm hiểu khám phá văn hóa, lịch sử.

    Các thành phần của tài nguyên

    Để đi sâu tìm hiểu giá trị tài nguyên nhân tạo chúng ta có thể phân tích các thành phần của tài nguyên nhân tạo như sau:

    Di sản văn hóa thế giới và di tích lịch sử – văn hóa

    Đây được coi là nguồn tài nguyên quan trọng, là nguồn lực để phát triển và mở rộng hoạt động du lịch.

    Qua các thời đại, các di sản văn hóa thế giới và di tích lịch sử văn hóa đã minh chứng cho những hoạt động sáng tạo vĩ đại của xã hội loài người về văn hóa, tôn giáo và xã hội. Các di sản văn hóa thế giới và di tích lịch sử thích hợp để phát triển loại hình du lịch văn hóa, nghiên cứu,…

    Lễ hội

    Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa đặc sắc phản ánh đời sống tâm linh của mỗi dân tộc hay là một hình thức sinh hoạt tập thể của nhân dân sau những ngày lao động vất vả, hoặc là một dịp để mọi người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước, những sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân, hoặc chỉ đơn thuần là những hoạt động có tính chất vui chơi giải trí.

    Bất kì lễ hội nào cũng có hai phần chính là: phần lễ và phần hội. Cả hai phần đều thu hút sự tham gia của du khách.

    Đối tượng du lịch gắn với dân tộc học

    Đối tượng du lịch gắn với dân tộc học bao gồm: điều kiện sinh sống, đặc điểm văn hóa, phong tục tập quán, hoạt động sản xuất với những sắc thái riêng của các dân tộc trên địa bàn cư trú của họ. Những đặc trưng này có sức thu hút khách du lịch mạnh mẽ.

    Đối tượng văn hóa, thể thao và hoạt động nhận thức khác

    Tài nguyên du lịch này chủ yếu tập trung tại các thành phố lớn và cũng làm một trong những đối tượng thu hút khách du lịch mạnh mẽ, bao gồm: các trung tâm, viện khoa học, trường đại học, thư viện lớn và nổi tiếng, các trung tâm kinh tế – thương mại, thành phố có triển lãm nghệ thuật, tổ chức liên hoan âm nhạc, sân khấu, điện ảnh, các cuộc thi đấu thể thao quốc tế, cuộc thi hoa hậu,…

    Những thành phố có đối tượng văn hóa hoặc tổ chức những hoạt văn hóa thể thao đều được nhiều du khách lựa chọn làm điểm đến du lịch trong hành trình của họ và đều trở thành những trung tâm văn hóa du lịch.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Du Lịch Nhà Vườn Tại Tiền Giang
  • Du Lịch Nha Trang Đà Lạt Bằng Máy Bay Để “trốn Nắng” Hè 2022
  • Bí Quyết Du Lịch Nha Trang A
  • Du Lịch Nha Trang Xuất Phát Từ Hà Nội
  • Du Lịch Nha Trang: Nha Trang
  • Những Thuận Lợi Về Tài Nguyên Du Lịch Tự Nhiên Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Du Lịch Thiền, Thế Mạnh Chưa Được Khai Thác Ở Việt Nam
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Thiên Sơn Suối Ngà Tự Túc Ngày Cuối Tuần
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Thiên Sơn Suối Ngà Từ A Đến Z
  • Du Lịch Thiên Sơn Suối Ngà
  • “bật Mí” Top Những Kinh Nghiệm Đi Du Lịch Thiên Sơn Suối Ngà Tự Túc Từ A Đến Z
  • Đối với mỗi một đất nước lại có một tài nguyên du lịch khác nhau. Thậm chí ở mỗi vùng miền cũng có thể phân chia rõ ràng.

    Cụ thể như tài nguyên du lịch vùng trung du miền núi bắc bộ là những đồi núi trùng trùng điệp điệp hùng vĩ. Còn tài nguyên du lịch vùng đông nam bộ thì lại là các vườn quốc gia, hệ sinh thái nước mặn/nước ngọt đa dạng. Nhưng duy nhất một điều có thể thấy rõ ràng rằng tài nguyên du lịch tự nhiên việt nam cực kỳ phong phú.

    Tìm hiểu về tài nguyên du lịch

    Tài nguyên du lịch tự nhiên là gì ?

    Tài nguyên du lịch tự nhiên là gồm các cảnh quan thiên nhiên (rừng, biển, đồi, núi…). Và những yếu tố tự nhiên khác có thể được sử dụng cho mục đích du lịch như là khí hậu, địa chất, hệ sinh thái,…

    Tài nguyên du lịch nhân văn là gì ?

    Tài nguyên du lịch nhân văn hay văn hóa chính là các di tích lịch sử – văn hóa, di tích cách mạng. Chúng bao gồm các giá trị về khảo cổ, kiến trúc, văn hóa, lịch sử, truyền thống. Và cả những phong tục tập quán truyền thống, lễ hội, văn nghệ dân gian. Có thể nói chung là các công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng cho mục đích du lịch.

    Vai trò của tài nguyên du lịch

    Dù là tài nguyên du lịch tự nhiên hay tài nguyên du lịch nhân văn, thì chúng cũng đóng một vai trò cực kỳ quan trọng với đất nước. Nhờ vào những tài nguyên sẵn có hoặc nhân tạo này mà ngành du lịch nước nhà mới có thể phát triển đến ngày hôm nay.

    Những tài nguyên du lịch việt nam

    Đất nước Việt Nam xinh đẹp có lợi thế sát biển cho nên có nền khí hậu cực kỳ đa dạng và phong phú.

    Thuận lợi của du lịch vùng biển

    Với bờ biển dài 3.260 km dọc theo chiều dài đất nước. Tổng cộng có đến 125 bãi tắm biển được khai thác du lịch, đây quả là con số “trong mơ” đối với nhiều quốc gia khác. Từ bắc đến nam, các bãi biển trải dài để khách du lịch dễ dàng lựa chọn nơi thích hợp cho bản thân. Một vài bãi biển thuộc TOP yêu thích như: Hạ Long, Sầm Sơn, Cát Bà, Cửa Lò, Cô Tô, Thiên Cầm, Ðà Nẵng, Nha Trang, Bình Ba, Lý Sơn, Vũng Tàu, Côn Đảo, Phú Quốc…

    Đặc biệt không ai là không biết đến Vịnh Hạ Long xinh đẹp được công nhận là di sản văn hóa thế giới. Bãi biển trong xanh cùng những núi đá vôi rải rác tạo nên một kỳ quan hùng vĩ khiến ai cũng phải thán phục.

    Đi kèm với du lịch biển Việt Nam không chỉ là về cảnh quan mà là nét ẩm thực hải sản tươi ngon. Những loại hải sản quý gia như bào ngu, tu hài, tôm hùm,.. lúc nào cũng làm hài lòng cách thực khách. Hải sản khô hoặc tươi sống là món quà mà ai cũng rất yêu thích khi du lịch biển.

    Thuận lợi của du lịch vùng núi

    Với bãi biễn trải dài vô tận là vậy. Nhưng Việt Nam lại gây bất ngờ khi có cả những ngọn núi cực kỳ hùng vĩ và cao lớn. Đỉnh Phan xi păng được mệnh danh là “Nóc nhà của Đông Dương” cũng là một tài nguyên đáng chú ý. Khi mà rất nhiều người mong muốn được chinh phục ngọn núi cao 3143m này.

    Tuy là đất nước chúng ta có khí hậu nhiệt đới nhưng vẫn có nơi mang khí hậu ôn đới khác biệt. Mang lại trải nghiệm thú vị cho khách du lịch. Những điểm dừng chân nổi tiếng như là Sa Pa, Tam Ðảo, Bạch Mã, Bà Nà, Ðà Lạt… Các địa điểm du lịch này thường ở độ cao trên 1000 m so với mặt biển nên khí hậu mát mẻ và ôn hòa. Đặc biệt có thể làm nơi tránh cái nóng mùa hè ở Việt Nam và các nước lân cận.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thiên Nhiên Là Gì? Các Vườn Quốc Gia Ở Và Mục Đích Của Các Khu Bảo Tồn
  • Trốn Khói Bụi Thành Phố Với 5 Resort Thiên Nhiên Ngay Gần Hà Nội
  • Phát Triển Du Lịch Gần Gũi Thiên Nhiên
  • Thiên Nhiên Đà Nẵng Có Gì Hấp Dẫn? Chuyến Du Lịch Khám Phá
  • Vân & Veo & Du Lịch Thiện Nguyện
  • Quy Hoạch Khu Du Lịch Quốc Gia Sơn Trà: Phát Triển Đi Đôi Với Bảo Tồn Tài Nguyên Thiên Nhiên

    --- Bài mới hơn ---

  • Thủ Tướng Phê Duyệt Quy Hoạch Phát Triển Du Lịch Đà Nẵng Gắn Với Bất Động Sản Nghỉ Dưỡng, Sinh Thái
  • Hà Giang Phê Duyệt Quy Hoạch Tổng Thể Phát Triển Du Lịch
  • Giới Thiệu Quy Hoạch Tổng Thể Phát Triển Du Lịch Việt Nam
  • Quy Hoạch Tổng Thể Phát Triển Du Lịch Bền Vững Quần Đảo Cát Bà Đến Năm 2022, Tầm Nhìn Đến Năm 2050
  • Quy Hoạch Tổng Thể Phát Triển Du Lịch Nghệ An Đến Năm 2022
  • Mới đây, Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch (VH-TT&DL) công bố quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển khu du lịch quốc gia (DLQG) Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Đây là cơ hội lớn của ngành du lịch nhưng cũng là thách thức không nhỏ.

    Với nhiều động thực vật quý hiếm, phát triển Sơn Trà cần phải đi đôi với bảo vệ tài nguyên quý giá mà thiên nhiên ban tặng cho Đà Nẵng.

    Về vấn đề này, ông Trần Chí Cường (ảnh), Phó Giám đốc Sở Du lịch thành phố Đà Nẵng cho biết:

    – Bán đảo Sơn Trà được xem là “báu vật”, viên ngọc quý mà thiên nhiên ban tặng cho thành phố Đà Nẵng. Theo quyết định phê duyệt quy hoạch, đến năm 2030, bán đảo Sơn Trà được định hướng phát triển trở thành trung tâm du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng cao cấp đặc sắc của vùng duyên hải Nam Trung bộ nói riêng và cả nước nói chung.

    Để được chọn quy hoạch và biến từ quy hoạch trở thành hiện thực là cả quá trình nỗ lực rất lớn. Việc Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 2163/QĐ-TTg đã tạo điều kiện thuận lợi cho ngành du lịch thành phố Đà Nẵng trong việc đầu tư và tạo thêm các sản phẩm du lịch để thu hút khách.

    Trước hết, việc quy hoạch bán đảo Sơn Trà thành khu DLQG là khung pháp lý hết sức quan trọng, tạo điều kiện thúc đẩy đầu tư và khai thác du lịch tại bán đảo Sơn Trà xứng đáng với tiềm năng vốn có, mở ra các cơ hội để bán đảo Sơn Trà có các sản phẩm độc đáo thu hút khách. Công tác đầu tư, nâng cấp cơ sở hạ tầng và các dịch vụ sẽ được thực hiện nhằm xứng tầm là khu DLQG.

    Công tác quản lý và khai thác tại khu vực này sẽ được tổ chức bài bản, thống nhất và hiệu quả hơn, tránh tình trạng nhiều đơn vị quản lý nhưng lại chồng chéo và không rõ trách nhiệm. Sau khi được công nhận là khu DLQG, hình ảnh điểm đến Sơn Trà nói riêng và Đà Nẵng nói chung sẽ được nâng lên ở tầm cao hơn và quảng bá rộng rãi hơn nữa.

    Mục tiêu đến năm 2025, khu DLQG Sơn Trà sẽ đón 3,5 triệu lượt khách du lịch và đạt doanh thu 1.900 tỷ đồng; đến năm 2030 đón 4,6 triệu lượt khách, doanh thu khoảng 4.300 tỷ đồng. Ước tính khu DLQG Sơn Trà hình thành sẽ góp phần tạo việc làm cho khoảng 2.800 lao động trực tiếp. Thành phố sẽ tiếp tục thu hút các nhà đầu tư phát triển các sản phẩm theo định hướng tại quy hoạch và tạo thêm nhiều việc làm cho người dân.

    Bên cạnh đó, với vị trí địa chính trị đặc biệt của bán đảo Sơn Trà, việc phát triển du lịch ở đây cũng phải bảo đảm yếu tố về quốc phòng – an ninh, phải kết hợp hài hòa giữa phát triển du lịch với nhiệm vụ bảo vệ quốc phòng – an ninh.

    Bán đảo Sơn Trà nhìn từ trên cao. Ảnh: LÊ HẢI SƠN

    * Trước kia, bán đảo Sơn Trà đã xây dựng một số tour, tuyến nhưng việc khai thác chưa hiệu quả. Nay ngành du lịch thành phố có kế hoạch, giải pháp gì trong việc xây dựng sản phẩm du lịch cũng như công tác xúc tiến, quảng bá xây dựng thương hiệu cho khu du lịch mới này?

    – Sau khi bán đảo Sơn Trà được chính thức đưa vào khai thác phục vụ du lịch (năm 2004), cùng với việc đầu tư một số điểm đến như Đồi Vọng Cảnh, đỉnh Bàn Cờ Tiên…, bán đảo Sơn Trà đã được UBND thành phố phê duyệt 5 tuyến du lịch tham quan tại khu vực này.

    Trong thời gian qua, lượng khách tham quan đến bán đảo Sơn Trà tăng trưởng với các tour vòng quanh bán đảo, các tour du lịch về tâm linh. Tuy nhiên, việc đầu tư tour, tuyến chỉ dừng lại ở mức sơ khai và đáp ứng một phần rất nhỏ nhu cầu của du khách. Vì vậy, theo đánh giá khách quan, việc khai thác các tour, tuyến này chưa hiệu quả so với tiềm năng và lợi thế của bán đảo Sơn Trà.

    Để được công nhận là khu DLQG, có rất nhiều việc cần làm như: xây dựng quy hoạch chi tiết, tổ chức bộ máy nhân lực, tổ chức đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng, sản phẩm dịch vụ… để bảo đảm các điều kiện và tiêu chuẩn của một khu DLQG theo quy định của Luật Du lịch. Triển khai quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, thành phố đang xây dựng kế hoạch triển khai cụ thể trên cơ sở nội dung và giải pháp mà quy hoạch đã đề ra; trong đó có các giải pháp về phát triển thị trường và sản phẩm du lịch, giải pháp về xúc tiến, quảng bá xây dựng thương hiệu khu du lịch…

    Các sản phẩm du lịch bổ trợ gồm: du lịch tìm hiểu văn hóa – lịch sử – cách mạng, tham quan thắng cảnh và các sản phẩm liên kết với khu vực lân cận như Ngũ Hành Sơn, Nam Hải Vân, Bà Nà… Bên cạnh đó, ngành du lịch sẽ nghiên cứu, tham mưu, vận dụng, đưa Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn vào xây dựng cơ chế chính sách cho triển khai quy hoạch khu du lịch quốc gia Sơn Trà.

    Trong thời gian đến, ngành du lịch sẽ tăng cường công tác quảng bá xúc tiến các sản phẩm du lịch tại bán đảo Sơn Trà gắn liền với hình ảnh voọc chà vá chân nâu. Bên cạnh đó, việc xây dựng bộ nhận diện thương hiệu cho khu du lịch Sơn Trà hết sức thuận lợi, có thể chọn hình ảnh voọc chà vá chân nâu để xây dựng bộ nhận diện thương hiệu cho khu DLQG Sơn Trà. Điều này sẽ có sức lan tỏa rất lớn vì hình ảnh voọc chà vá chân nâu đã được thành phố Đà Nẵng chọn làm hình ảnh nhận diện của Đà Nẵng tại APEC 2022.

    Cùng với kênh quảng bá chung của ngành du lịch thành phố, khu DLQG Sơn Trà sẽ có bộ máy quản lý được thành lập theo quy định, trong đó có cơ cấu bộ phận tổ chức hoạt động xúc tiến có năng lực và chuyên môn để xây dựng kế hoạch quảng bá xúc tiến xác thực và hiệu quả hơn.

    * Theo ông, ngành du lịch cần làm gì để vừa phát triển du lịch, vừa bảo tồn tài nguyên và môi trường ở bán đảo Sơn Trà?

    – Hiện nay, tại bán đảo Sơn Trà, bên cạnh một số dự án đã triển khai đầu tư tạo nên những sản phẩm, dịch vụ có tiếng vang và thương hiệu quốc tế như khu nghỉ dưỡng InterContinental Sun Penninsula, vẫn còn một số dự án đang triển khai hoặc chưa triển khai.

    Trách nhiệm này không chỉ của các cơ quan chức năng, ngành du lịch, nhà đầu tư mà còn là của mỗi người dân, du khách để bán đảo Sơn Trà mãi là “lá phổi xanh – hòn ngọc xanh”. Vì vậy, công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng trong việc bảo vệ Sơn Trà hết sức quan trọng, làm sao để mỗi người dân, mỗi du khách đến với Sơn Trà đều thấy được trách nhiệm của mình trong công tác giám sát, bảo vệ môi trường nơi đây.

    * Xin cảm ơn ông!

    THU HÀ thực hiện

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Cục Du Lịch Không Thay Đổi Quy Hoạch Sơn Trà, Hiệp Hội Du Lịch Đà Nẵng Không Ký Biên Bản Cuộc Họp
  • Vĩnh Phúc Công Bố Quy Hoạch Chi Tiết Khu Du Lịch Tam Đảo 1
  • Khu Du Lịch Tam Đảo I (Vĩnh Phúc) Công Bố Quy Hoạch Chi Tiết Tỷ Lệ 1/500
  • Công Bố Quy Hoạch Phát Triển Khu Du Lịch Quốc Gia Mộc Châu (Sơn La)
  • Quy Hoạch Tổng Thể Phát Triển Du Lịch Vùng Tây Nguyên Đến Năm
  • Du Lịch Sinh Thái Không Đơn Thuần Là Du Lịch Thiên Nhiên

    --- Bài mới hơn ---

  • Thêm Một Điểm Du Lịch Sinh Thái Mới Ở Lăng Cô
  • Khu Du Lịch Sinh Thái Ngọc Sương
  • “lăn Xả” Cùng Những Điểm Du Lịch Sinh Thái Nổi Tiếng Miền Bắc
  • Top 7 Khu Du Lịch Sinh Thái Miền Tây
  • Nên Đi Du Lịch Khu Sinh Thái Nào Ở Miền Đông Nam Bộ
  • Du lịch sinh thái là một trong những hình thái phát triển nhanh nhất của ngành du lịch hiện nay. Du lịch sinh thái dường như là hình thái du lịch đầu tiên nhằm vào các vấn đề bền vững trong du lịch, và có ảnh hưởng lớn trong việc xanh hóa ngành du lịch, thông qua nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường và phúc lợi của cộng đồng địa phương đối với sự thành công của ngành du lịch.

    Khuynh hướng hiện tại và những thách thức trong du lịch sinh thái

    Du lịch sinh thái được bắt đầu từ hơn 25 năm trước, khi những người tham gia lĩnh vực bảo tồn, du lịch và các cộng đồng địa phương sống trong hoặc xung quanh các khu vực được bảo tồn nhận thấy mối quan tâm ngày càng tăng đối với du lịch thiên nhiên, và thấy được cơ hội định hướng một cách bền vững hơn. Ngày nay, du lịch sinh thái đã trở thành một trong những hình thái du lịch phát triển nhanh trong ngành du lịch nói chung do: sự quan tâm ngày càng tăng đối với các vấn đề môi trường, bảo tồn cũng như phát triển; người ta muốn được học hỏi và trải nghiệm thực tế những gì họ nghe thấy và đọc được qua báo chí hay các phương tiện thông tin khác; mọi người muốn đóng góp vào công việc bảo tồn và phát triển cộng đồng; du khách mong được đến những điểm du lịch hẻo lánh hơn và tránh đi theo lối mòn; và người ta thường tìm đến những nơi gần gũi với thiên nhiên hơn để thư giãn.

    Du lịch sinh thái ngày càng trở nên phổ biến và được công nhận rộng rãi trên toàn thế giới, nhiều nhà kinh doanh và cơ quan quản ớy du lịch hiện nay vẫn sử dụng nhẵn hiệu du lịch sinh thái để khuếch trương sản phẩm của họ mà không thật sự tuân theo các nguyên tắc của loại hình du lịch này. Vấn đề thường được coi là “tô xanh” này dường như là khó khăn lớn nhất mà ngành du lịch sinh thái đang gặp phải hiện nay. Có hai nguyên nhân chính dẫn đến “tô xanh”: một là để theo đuổi lợi ích kinh tế, hai là thiếu hiểu biết thực sự về du lịch sinh thái. Những người “tô xanh” sản phẩm vì lợi ích của mình và tin rằng họ sẽ thu được nhiều lợi nhuận hơn, thu hút được lượng du khách nhiều hơn nữa bằng cách rao bán sản phẩm với nhãn hiệu “sinh thái” đã nhận ra rằng ngày càng nhiều du khách tìm kiếm những gì khác với du lịch sinh thái.

    Thị trường du lịch trong nước của Việt Nam cả trước kia cũng như hiện nay có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển ngành Du lịch trong nước, đóng góp cho sự phát triển ngày càng nhanh của ngành Du lịch và tạo ra các dịch vụ thu hút du khách trong và ngoài nước. Dự kiến khách du lịch trong nước sẽ tăng khoảng gấp đôi trong vòng 5 năm tới, từ 16 triệu lượt người tới 26 triệu lượt người. Đây là tốc độ tăng trưởng rất nhanh và thường theo định hướng nhu cầu, không có thời gian thích hợp để nâng cao nhận thức và thích ứng với các tiêu chuẩn quốc tế. Vì lý do này, thiên nhiên và các sản phẩm, dịch vụ du lịch đã bị trộn lẫn với các hoạt động giải trí đơn thuần như karaoke và giải trí khác.

    Mặc dù, Chính phủ đó có một số nỗ lực nhằm giải quyết những vấn đề này, như đang trong quá trình xây dựng Chiến lược du lịch sinh thái, du lịch sinh thái ở Việt Nam vẫn chưa được các ngành hiểu một cách đúng đắn. Nhiều nhà chức trách địa phương đã xây dựng kế hoạch “Các khu an dưỡng du lịch sinh thái” tại các vùng nông thôn, tuy nhiên, ngoài một số trường hợp ngoại lệ, nhiều trong số các dự án “Du lịch sinh thái” này chỉ là những khu giải trí với rất ít nội dung giáo dục hay bảo tồn, và thậm chí ít quan tâm tới cuộc sống yên bình của người dân địa phương. Mặc dù xu thế này đó bắt đầu thay đổi (xem khung 1), nhiều kế hoạch phát triển du lịch, bao gồm cả những kế hoạch gọi là du lịch sinh thái, tại những khu vực thiên nhiên ở nông thôn, không có sự tham gia hoặc đồng tình của người dân địa phương, đặc biệt là bà con dân tộc thiểu số. Thông thường người dân địa phương được coi như nguồn lao động hoặc những người cung cấp dịch vụ trình độ thấp.

    Các khu bảo tồn, điểm du lịch chính đối với khách du lịch sinh thái, thường có ít hoặc không có khả năng quản lý du lịch và du lịch ít khi được đưa vào kế hoạch quản lý của các khu này, điều đó dẫn đến tình trạng không kiểm soát được số lượng và hoạt động của du khách trong các vườn quốc gia. Mặc dù nhiều khu bảo tồn có đề ra các quy định về môi trường cho du khách, việc vi phạm thường bị làm ngơ.

    Trong khối kinh doanh, rất ít cơ sở kinh doanh lữ hành cung cấp dịch vụ du lịch sinh thái thật sự (xem khung 2). Đa số các cơ sở bán “tour du lịch sinh thái” hiện nay thực chất là cung cấp các tour đi các vùng nông thôn và có khung cảnh thiên nhiên – họ chủ yếu “tô xanh” sản phẩm vì các tour của họ không tuân theo bất cứ nguyên tắc nào của du lịch sinh thái. Trình độ nhận thức về môi trường hiện nay của công chúng ở Việt Nam còn thấp, điều đó dẫn tới các hành vi thiếu trách nhiệm của rất nhiều du khách trong nước khi tới thăm các điểm du lịch thiên nhiên. Những nhà cung cấp dịch vụ du lịch cho thị trường này không có đủ năng lực cần thiết để giải quyết các vấn đề đặt ra và họ thường không nhận thức được vấn đề hoặc làm ngơ. Du lịch trong nước thường được quản lý bởi các công ty, mà công việc kinh doanh chính của họ không phải là du lịch – du lịch chỉ là một nhánh hoặc một phần nhỏ trong hoạt động kinh doanh của họ: có thể là bất cứ lĩnh vực nào từ xây dựng tới sản xuất nông sản. Do đó, khái niệm du lịch sinh thái không phải là ưu tiên hàng đầu của các hoạt động kinh doanh.

    Cơ hội và xu hướng tương lai

    SNV quan tâm tới tình trạng thiếu hiểu biết và sử dụng sai thuật ngữ du lịch sinh thái tại Việt Nam. Chừng nào du lịch sinh thái không được sử dụng một cách thích hợp thì người dân nghèo địa phương ở những điểm du lịch này sẽ còn phải tiếp tục gánh chịu những tác động tiêu cực từ du lịch. SNV đó tiến hành Chương trình Du lịch bền vững vì người nghèo tại Việt Nam và cùng phối hợp với các nhà chức trách và cơ sở kinh doanh địa phương, nhằm hỗ trợ xây dựng các loại hình du lịch có thể làm gia tăng lợi ích cho người dân địa phương, bao gồm các lợi ích về môi trường, xã hội và kinh tế.

    Để du lịch thiên nhiên ở Việt Nam, hiện nay cũng như về sau, có thể trở thành du lịch sinh thái thực sự, cần phải đáp ứng một số điều kiện sau:

    – Nâng cao nhận thức và đào tạo về du lịch sinh thái cho các nhà phát triển và tham gia vào du lịch, bao gồm các nhà chức trách địa phương, hướng dẫn du lịch, và các cơ sở kinh doanh du lịch;

    – Nâng cao nhận thức cho công chúng về các vấn đề môi trường và du lịch có trách nhiệm;

    – Đầu tư cho công các quản lý khu vực thiên nhiên và nguồn nhân lực;

    – Quản lý và điều phối tốt hơn tại các điểm du lịch sinh thái;

    – Xây dựng tốt hơn kế hoạch, chính sách và quy định về phát triển du lịch bền vững, đặc biệt là các khu bảo tồn;

    – Tăng cường sự tham gia của người dân địa phương sinh sống trong và gần các điểm du lịch sinh thái vào quá trình lập kế hoạch và quản lý du lịch;

    – Đảm bảo du lịch sinh thái góp phần bảo tồn các khu tự nhiên cũng như đóng góp cho công cuộc xóa đói giảm nghèo để giảm bớt áp lực về tài nguyên thiên nhiên.

    Việc hoàn tất quá trình xây dựng Chiến lược du lịch sinh thái quốc gia và thành lập Hiệp hội Du lịch sinh thái cũng sẽ có lợi cho phát triển du lịch ở Việt Nam thông qua hỗ trợ nâng cao chất lượng và phát triển hơn nữa du lịch sinh thái thực sự.

    Những tiến triển trong vài năm vừa qua chỉ ra tương lai sán lạn hơn đối với du lịch sinh thái tại Việt Nam. Chính phủ Việt Nam hiện bắt đầu nhận thấy tầm quan trọng trong việc phát triển du lịch một cách bền vững hơn, sử dụng hình thức du lịch này để tăng cường bảo tồn thiên nhiên và mang lại nhiều lợi ích hơn nữa cho người dân địa phương. Trong năm 2005 Chính phủ đó thông qua Luật Du lịch, trong đó lần đầu tiên các vấn đề về du lịch bền vững, bảo vệ môi trường, tham gia của cộng đồng và xóa đói giảm nghèo được đề cập đến. Đây là một cơ hội rất lớn để Việt Nam bắt đầu phát triển các điểm du lịch sinh thái bền vững với nhiều cơ hội tạo thu nhập hơn nữa cho cộng đồng địa phương, đồng thời vẫn bảo tồn được môi trường thiên nhiên.

    Footprint Vietnam Travel (www.footprintsvietnam.com) cung cấp các tour du lịch theo yêu cầu của khách hàng đến những điểm du lịch khác biệt với thói quen thông thường, và cung cấp thông tin đa dạng cho khách hàng về cách thức du lịch có trách nhiệm, tôn trọng môi trường và văn hóa địa phương.

    Handspan Adventure Travel (www.handspan.com) hoạt động từ năm 1997, và các tour của công ty này tập trung chủ yếu vào các tour nhỏ và đặc sắc nhằm bảo tồn môi trường, hỗ trợ nền kinh tế địa phương và tôn trọng nền văn hóa truyền thống. Rất nhiều hướng dẫn viên du lịch xuất thân từ các làng bản ở địa phương tại chính nơi họ làm việc, mang lại lợi ích cho gia đình mình và truyền bá kiến thức cho đông đảo cộng đồng địa phương. Công ty này cũng cung cấp thông tin và khuyến nghị cho du khách về du lịch có trách nhiệm đối với môi trường và xã hội.

    Phuong Nam Tours (www.phuongnamtours.com) có trụ sở tại Đà Lạt, công ty này phát triển một điểm du lịch sinh thái ở gần Núi Voi, trong đó gồm cả một khu an dưỡng sinh thái quy mô nhỏ được xây bằng các chất liệu thiên nhiên và nhạy cảm đối với môi trường. Chủ nhân cơ sở này cũng có kế hoạch làm việc với bà con dân tộc thiểu số K’Ho sinh sống gần đó để giúp người dân có thể hưởng nhiều lợi ích hơn nữa từ các hoạt động du lịch tại khu vực này.

    Địa chỉ liên hệ:

    Bà Nguyễn Thị Kiều Viễn

    Giám đốc Chương trình Du lịch bền vững vì người nghèo, SNV Việt Nam

    105-112, nhà D1, khu Ngoại giao đoàn Vạn Phúc, Hà Nội

    Tel: 8463791; Fax: 8463794

    STEPHANIE THULLEN

    SNV-Việt Nam

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Du Lịch Sinh Thái Và Nhiệm Vụ Của Các Loại Hình Sinh Thái
  • Nguyên Tắc Cơ Bản Và Điều Kiện Để Phát Triển Du Lịch Sinh Thái
  • Kiên Giang Phát Triển Du Lịch Sinh Thái Vườn Quốc Gia U Minh Thượng
  • ‘trái Ngọt’ Từ Mô Hình Vườn Cây Du Lịch Sinh Thái Ở Kiên Giang
  • Về Với Thiên Nhiên Tại Khu Du Lịch Sinh Thái Nhân Tâm Khánh Hòa
  • Tài Nguyên Văn Hóa Là Đặc Sắc Của Du Lịch Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Điều Cần Lưu Ý Khi Đi Du Lịch Hà Giang Mà Bạn Cần Phải Biết
  • Top 20 Khách Sạn Nên Ở Khi Đi Du Lịch Tại Singapore Từ Cao Cấp Đến Bình Dân
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Tam Đảo 1 Ngày
  • Du Lịch Tổng Hợp: Những Địa Điểm Du Lịch Lý Tưởng Gần Seoul
  • Tour Du Lịch Hải Phòng Nha Trang 3 Ngày 2 Đêm Khởi Hành Hằng Ngày
  • Văn hóa là khái niệm rất rộng, bao trùm mọi hành vi, ứng xử của con người trong cuộc sống; trong đó có du lịch. Tài nguyên du lịch gồm tài nguyên tự nhiên và tài nguyên văn hóa.

    Tài nguyên du lịch tự nhiên cũng phục vụ nhu cầu văn hóa của con người. Ở nghĩa hẹp hơn, người ta nói nhiều đến văn hóa du lịch. Không có thuật ngữ du lịch văn hóa như một loại hình, bên cạnh du lịch sinh thái, thể thao, nghỉ dưỡng…

    Theo Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên thế giới (World Wide Fund For Nature – WWF), Việt Nam xếp 30/140 quốc gia về tài nguyên văn hóa.

    Tổ chức giải thưởng du lịch thế giới (World Travel Awards – WTA) đề cử Việt Nam là điểm đến văn hóa hàng đầu của du lịch toàn cầu. Đa phần du khách, cả trong nước và quốc tế, đều mong muốn được trải nghiệm những khác biệt về văn hóa Việt Nam và chưa được thỏa mãn.

    Du khách có phần ấm ức, thất vọng. Người trong cuộc thì vò đầu, bứt tai than “Lực bất tòng tâm” hoặc “Quân ta hại quân mình”; kiểu một người xây, mấy kẻ phá. Người xưa từng dạy “Tiên trách kỷ, hậu trách nhân”. Phải nhấn mạnh vế đầu, vế sau không đáng kể. Vấn đề là có dám nhìn thẳng vào những sự thật hay không.

    Những sự thật trần trụi

    Du lịch vốn là một phần tất yếu (chứ không phải tất cả) của văn hóa. Tổng cục Du lịch trực thuộc Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch. Thể thao cũng là văn hóa. Chữ văn hóa ở đây được hiểu theo nghĩa là nghệ thuật. Tiếng Việt phong phú đến rối ren do cách dùng tùy tiện. Trong lý lịch cá nhân, có phần “Trình độ văn hóa” thay vì “Trình độ học vấn”. Tương tự, các cụm từ “Học văn hóa”, “Bổ túc văn hóa”; phải được thay bằng “học chữ”, “học nghề” (đủ thứ).

    Trong kinh doanh, ngoài chất lượng thì yếu tố quyết định thành công là sự khác biệt tích cực. Phải viết như vậy để phân biệt với sự khác biệt dị hợm, tiêu cực. Ngon và đẹp thì tùy cảm nhận của từng người, từng vùng nhưng lạ thì dễ dàng thống nhất. “Nửa ký của lạ bằng mấy tạ của quen” là vậy. Việt Nam có rất nhiều cái lạ. Đáng tiếc là cái lạ bản sắc, tích cực thì ít được giữ gìn và phát triển. Cái lạ tiêu cực thì cứ sinh sản vô tính.

    Ai cũng biết, các cửa khẩu là ấn tượng đầu tiên của du khách về bộ mặt quốc gia cần được chăm chút. Đáng buồn vì Việt Nam vẫn có nhiều nơi đang đón khách bằng thủ tục hành chính rườm rà. Cả thái độ lẫn tinh thần phục vụ của nhân viên đều có vấn đề, chưa kể trình độ ngoại ngữ; khác hẳn với sự thân thiện của người dân và truyền thống hiếu khách của dân tộc. Cứ tưởng là mấy chuyện nhỏ nhưng tác hại lớn, tạo nên những khó chịu, bực dọc và thành kiến tiếp theo, nhất là những ai lần đầu đến Việt Nam.

    Vào “nhà” thì rối ren đủ thứ. Trái với các nước phát triển, xe cộ ở Việt Nam là hung thần của người đi bộ. Giao thông hỗn loạn, không kiểm soát được, dù cảnh sát giao thông mai phục khắp chốn. Ở Samthienha.com còn có lực lượng áo xanh đông đảo phất cờ làm kiểng. An ninh của du khách thường xuyên bị đe dọa. Từ vấn nạn chặt chém của taxi, nhà hàng đến giựt dọc trên đường phố. Du khách bị khủng bố tinh thần vì thiếu nhà vệ sinh hoặc có mà dơ bẩn, vì phập phồng cướp giật, vì vệ sinh môi trường lẫn vệ sinh thực phẩm. Chất lượng các dịch vụ chưa thể so sánh với các đối thủ cạnh tranh trong khu vực.

    Vì những ý muốn chủ quan của các nhà quản lý, không ít di sản văn hóa bị xóa sổ. Chùa Bái Đính cổ gần như biến mất. Thay vào đó là chùa mới, to vật vã nhưng dường như…vô hồn. Đường xe lửa răng cưa Phan Rang – Đà Lạt bị tháo dỡ, các đầu máy được bán sắt vụn cho Thụy Sĩ. Họ mua về làm du lịch, vẫn lịch sự giữ nguyên dòng chữ “Toa xe Đà Lạt”. Ngay cả cầu Bến Hải cũng bị tháo dỡ. Báo chí và dư luận lên tiếng, cầu được phục chế.

    Đáng tiếc nhất là việc di dời chợ nổi Ngã Bảy Phụng Hiệp (Hậu Giang), đã xóa sổ thương hiệu lừng danh hơn trăm năm của cả khu vực Đông Nam Á. Gần nhất là việc tháo dỡ cầu Gành (Đồng Nai) hơn trăm tuổi. Rồi thì hàng ngàn biệt thự cổ biến mất khó hiểu ở khắp đất nước, nhiều nhất là ở Hà Nội và TP.HCM…

    Những dị biệt tiêu cực này lấn áp các khác biệt tích cực. Đó là ẩm thực phong phú, món ngon đường phố đa dạng. Là internet phổ cập miễn phí và dễ dàng. Là dịch vụ “Door to door” của vận chuyển liên tỉnh. Là cảnh quan và di sản đẹp, lạ. Là những phong tục tập quán đặc thù. Là lịch sử sôi động và bi tráng. Đất nước rất ổn định về chính trị nhưng lại… chưa dám mở cửa cho du khách vui chơi và tiêu tiền thoải mái. Mọi thứ cứ khác thiên hạ. Thứ gì các nước chặt thì ta lỏng và ngược lại.

    Việt Nam tự hào với lịch sử mấy ngàn năm văn hiến nhưng cách chào lai căng đủ kiểu. Cũng không có quốc phục riêng và những giai điệu dân gian đặc trưng được thừa nhận. Không có kiến trúc đặc thù…Ẩm thực Việt Nam rất phong phú nhưng văn hóa ẩm thực thì hổ lốn. Chẳng nơi nào có kiểu vừa ăn vừa xem ca múa nhạc tạp kỹ phổ biến như Việt Nam. Nhiều nơi, vừa du thuyền trên sông, vừa ăn uồng và thưởng thức nghệ thuật tổng hợp. Tác phong làm việc lề mề nhưng ăn rất nhanh, vừa ăn ngồm ngoàm vừa nói chuyện ồn ào. Văn hóa gắp đồ ăn cho khách lậm vào trong kinh doanh lẫn cuộc sống, cứ thích làm theo ý mình, nhất là lãnh đạo. Thói quen dùng đũa, muỗng chung; vừa mất vệ sinh vừa kỳ cục.

    Nhà vệ sinh, nơi thể hiện tính cách cá nhân rõ nét nhất, nơi thỏa mãn nhu cầu quan trọng nhất của con người luôn bị xem nhẹ. Ngược lại là thói khoa trương, bệnh thành tích, sính bằng cấp và coi thường thực tiễn. Hiệu ứng ghiền bê tông, thích xây mới lòe loẹt vô hồn đang phá vỡ cảnh quan nhiều danh thắng và cả vườn quốc gia.

    Các di tích bị xâm hại nghiêm trọng. Bảo tồn và trùng tu mà như phá hoại. Các công trình kiến trúc cổ xuống cấp, ngày càng bị xâm lấn và xóa sổ dần. Thời bao cấp ấu trĩ đành chịu, mất mát vô kể. Thời đổi mới mở cửa, vẫn tồn tại nghịch lý bảo tồn và phát triển. Việc xâm hại và xóa sổ di tích không trắng trợn mà tinh vi, núp dưới nhiều chiêu bài và danh nghĩa. Bản sắc văn hóa Việt đang ngày càng mai một!

    Đôi điều góp ý

    Nếu áo dài, cả nam lẫn nữ, được công nhận là quốc phục chính thức bằng văn bản pháp luật của Quốc hội thì đã không có chuyện nhà tạo mẫu ở Trung Quốc ăn cắp mẫu mã, vơ vào của mình. Áo dài, từng là quốc phục, bị phê phán và tẩy chay thời bao cấp. Có lãnh đạo từng cho rằng đó là tàn dư phong kiến, rườm rà, “một áo dài may được hai áo ngắn”. Việt Nam cũng từng có cách chào đặc thù nhưng bị xóa sổ vì ấu trĩ.

    Việc đầu tiên là phải xác định lại quốc phục và cách chào Việt Nam như tổ tiên mình từng công nhận. Việc quan trọng nhất là thay đổi nhận thức về văn hóa dân tộc, gạn đục khơi trong, lấy truyền thống làm nền tảng cho hiện đại. Đoạn tuyệt với tư duy “Lãnh đạo đồng nghĩa với khoa học” và “Quản không được thì cấm”. Loại bỏ văn hóa gắp đồ ăn cho khách; dùng đũa, muỗng chung; vừa ăn vừa nghe xem đủ thứ…

    Chống quan điểm cực đoan trong bảo tồn và phát triển. Cặp phạm trù này không hề có mâu thuẫn đối kháng. Thực tế cho thấy chỉ có mâu thuẫn giữa các chủ đầu tư và cộng đồng. Muốn bảo tồn phải biết trùng tu và phát triển. Ngược lại muốn phát triển bền vững phải biết bảo tồn. Tuyên chiến với vấn nạn bê tông hóa mọi nơi mọi lúc.

    Truyền thống thân thiện, hiếu khách của người Việt phải được thể hiện rõ nhất tại các cửa ngõ của đất nước cho đến các cơ quan công quyền, các cơ sở dịch vụ. Như nhân viên cửa khẩu Đài Loan, Myanmar…luôn tươi cười, tận tình hỗ trợ du khách và không ngừng nói lời cảm ơn.

    Campuchia mở cửa Hoàng Cung cho khách tham quan với giá vé 10 USD mỗi người trong ngày. Buổi nào quốc vương tiếp khách thì đóng cửa. Nhà khách vua Sihanouk ở Siem Riep được biến thành khách sạn cổ sang trọng Grand Angkor Hotel với tấm thảm đỏ in dấu chân nhiều nguyên thủ quốc gia. Nhà khách mới của Quốc vương Sihamoni nhỏ và đơn giản hơn nhiều. Việt Nam có thể làm tương tự với Phủ Chủ tịch, trụ sở Ủy ban nhân dân thành phố và nhiều tỉnh thành khác.

    Hoàng cung Brunei được chuyển thành phức hợp The Empire Hotel Country Club tương đương 6 sao. Phòng ở của vua Bokiah trước đây có giá bán tới hơn 20.000 USD/đêm. Xu thế các nước là ưu tiên cho phát triển du lịch và tận dụng mọi thứ để du lịch phát triển vì đây là ngành công nghiệp xuất khẩu tại chỗ rất hiệu quả.

    Các tỉnh thành Việt Nam hoàn toàn có thể chuyển các trụ sở hoành tráng để làm du lịch. Baan Tong Luang (Chieng Mai, Thái Lan), Mari – Mari (Kinabalu, Malaysia) là làng văn hóa các dân tộc đúng nghĩa; là những mô hình có thể vận dụng tại Việt Nam thay cho những công viên văn hóa các dân tộc, hoành tráng mà tốn kém (tốn tiền, kém hiệu quả). Hai cường quốc du lịch dẫn đầu thế giới là Pháp và Tây Ban Nha đều hấp dẫn và thu hút khách bằng những trải nghiệm văn hóa khác biệt, đa dạng.

    Có thể thay đường hoa Nguyễn Huệ bằng sông hoa Sài Gòn/TPHCM. Mở rộng các chợ đêm và phố đi bộ như ở Đài Loan, Thái Lan; tạo thành những công viên văn hóa sống động vào buổi tối. Tổ chức cho du khách trải nghiệm ẩm thực, học cách chế biến các món ngon Việt Nam và các sự kiện gia đình như “Thôi nôi”, “Đám hỏi”, “Đám cưới”, “Đám giỗ”, các hoạt động Tết…

    Xây dựng homestay chuẩn quốc gia theo mô hình các homestay A Chu (Sơn La), Minh Thơ (Hòa Bình), Xuân Diện (Lào Cai)…Phát triển các lễ hội tích cực như Đua bò (An Giang); Trái cây Nam bộ, Ẩm thực đường phố, Món ngon các nước, Áo dài (Sài Gòn); Bánh dân gian (Cần Thơ), Ook om bok – Đua ghe ngo (Sóc Trăng), Minh thề (Hải Phòng), Tịch điền (Hà Nam), Trâu rơm bò rạ (Vĩnh Phúc)…

    Chấm dứt các lễ hội dã man như Đâm trâu (thật ra là tế trâu hay khóc trâu – Tây Nguyên và Quảng Nam), Chém lợn (Bắc Ninh), Chọi trâu (Hải Phòng)… Chấn chỉnh những lễ hội biến tướng thành dịp buôn bán, hối lộ thần thánh như “cướp ấn, cướp lộc” và các lễ hội chùa, các festival thực chất chỉ có tính hình thức…Để tận dụng và phát tiển tài nguyên văn hóa một cách hiệu quả, cần có qui hoạch khoa học, dài hơi và đồng bộ.

    Làm du lịch là làm kinh tế chứ không phải làm phong trào, chạy theo số lượng và hình thức để báo cáo. Dĩ nhiên không làm kinh tế bằng mọi giá mà phải cân nhắc chọn lọc để phát triển bền vững. Nhiều quốc gia như Hàn Quốc, Singapore, Nhật Bản…sau nhiều thập niên kinh tế tăng trưởng nóng đã chấp nhận chậm lại. Họ hạn chế phát triển sản xuất nội địa, ưu tiên xuất khẩu công nghiệp, đẩy mạnh các dịch vụ du lịch để xuất khẩu tại chỗ và lấy văn hóa đặc thù làm nền tảng.

    Sự “dốt nát chân thật” (Trần Việt Phương) là lời cảnh báo về cách làm tùy tiện của nhiều địa phương, đã vô tình cản trở du lịch. Nguy hại hơn, đó là những hành động hủy diệt văn hóa dân tộc. Một dân tộc sẽ tiêu vong khi đánh mất bản sắc văn hóa. Chúng ta phải tự hào rằng: bản sắc Việt vẫn vững vàng với trang phục, chữ viết, ngôn ngữ và nhiều phong tục khác biệt và đặc sắc sau hàng ngàn năm bị đô hộ, qua nhiều cuộc chiến khốc liệt để giữ nước.

    Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc không chỉ để phát triển du lịch. Đó còn là cách tốt nhất để bảo vệ độc lập và chủ quyền lãnh thổ mà tổ tiên người Việt đã làm rất tốt mấy ngàn năm nay.

    (*) Bài viết thể hiện quan điểm của tác giả Nguyễn Vũ Mộc Thiêng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khu Du Lịch Gáo Giồng Cao Lãnh: Địa Chỉ
  • Du Lich Đài Loan 5 Ngày Từ Đà Nẵng
  • Top 50 Địa Điểm Du Lịch Gần Hà Nội Mới Và Đẹp Nhất Tháng 9/2020 * Du Lịch Số
  • Du Lịch Phú Yên Đẹp Qua Từng Thắng Cảnh
  • Khám Phá Khu Du Lịch Sinh Thái Quốc Tế Cà Mau
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100