Tài Nguyên Văn Hóa Là Đặc Sắc Của Du Lịch Việt Nam

--- Bài mới hơn ---

  • Những Điều Cần Lưu Ý Khi Đi Du Lịch Hà Giang Mà Bạn Cần Phải Biết
  • Top 20 Khách Sạn Nên Ở Khi Đi Du Lịch Tại Singapore Từ Cao Cấp Đến Bình Dân
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Tam Đảo 1 Ngày
  • Du Lịch Tổng Hợp: Những Địa Điểm Du Lịch Lý Tưởng Gần Seoul
  • Tour Du Lịch Hải Phòng Nha Trang 3 Ngày 2 Đêm Khởi Hành Hằng Ngày
  • Văn hóa là khái niệm rất rộng, bao trùm mọi hành vi, ứng xử của con người trong cuộc sống; trong đó có du lịch. Tài nguyên du lịch gồm tài nguyên tự nhiên và tài nguyên văn hóa.

    Tài nguyên du lịch tự nhiên cũng phục vụ nhu cầu văn hóa của con người. Ở nghĩa hẹp hơn, người ta nói nhiều đến văn hóa du lịch. Không có thuật ngữ du lịch văn hóa như một loại hình, bên cạnh du lịch sinh thái, thể thao, nghỉ dưỡng…

    Theo Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên thế giới (World Wide Fund For Nature – WWF), Việt Nam xếp 30/140 quốc gia về tài nguyên văn hóa.

    Tổ chức giải thưởng du lịch thế giới (World Travel Awards – WTA) đề cử Việt Nam là điểm đến văn hóa hàng đầu của du lịch toàn cầu. Đa phần du khách, cả trong nước và quốc tế, đều mong muốn được trải nghiệm những khác biệt về văn hóa Việt Nam và chưa được thỏa mãn.

    Du khách có phần ấm ức, thất vọng. Người trong cuộc thì vò đầu, bứt tai than “Lực bất tòng tâm” hoặc “Quân ta hại quân mình”; kiểu một người xây, mấy kẻ phá. Người xưa từng dạy “Tiên trách kỷ, hậu trách nhân”. Phải nhấn mạnh vế đầu, vế sau không đáng kể. Vấn đề là có dám nhìn thẳng vào những sự thật hay không.

    Những sự thật trần trụi

    Du lịch vốn là một phần tất yếu (chứ không phải tất cả) của văn hóa. Tổng cục Du lịch trực thuộc Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch. Thể thao cũng là văn hóa. Chữ văn hóa ở đây được hiểu theo nghĩa là nghệ thuật. Tiếng Việt phong phú đến rối ren do cách dùng tùy tiện. Trong lý lịch cá nhân, có phần “Trình độ văn hóa” thay vì “Trình độ học vấn”. Tương tự, các cụm từ “Học văn hóa”, “Bổ túc văn hóa”; phải được thay bằng “học chữ”, “học nghề” (đủ thứ).

    Trong kinh doanh, ngoài chất lượng thì yếu tố quyết định thành công là sự khác biệt tích cực. Phải viết như vậy để phân biệt với sự khác biệt dị hợm, tiêu cực. Ngon và đẹp thì tùy cảm nhận của từng người, từng vùng nhưng lạ thì dễ dàng thống nhất. “Nửa ký của lạ bằng mấy tạ của quen” là vậy. Việt Nam có rất nhiều cái lạ. Đáng tiếc là cái lạ bản sắc, tích cực thì ít được giữ gìn và phát triển. Cái lạ tiêu cực thì cứ sinh sản vô tính.

    Ai cũng biết, các cửa khẩu là ấn tượng đầu tiên của du khách về bộ mặt quốc gia cần được chăm chút. Đáng buồn vì Việt Nam vẫn có nhiều nơi đang đón khách bằng thủ tục hành chính rườm rà. Cả thái độ lẫn tinh thần phục vụ của nhân viên đều có vấn đề, chưa kể trình độ ngoại ngữ; khác hẳn với sự thân thiện của người dân và truyền thống hiếu khách của dân tộc. Cứ tưởng là mấy chuyện nhỏ nhưng tác hại lớn, tạo nên những khó chịu, bực dọc và thành kiến tiếp theo, nhất là những ai lần đầu đến Việt Nam.

    Vào “nhà” thì rối ren đủ thứ. Trái với các nước phát triển, xe cộ ở Việt Nam là hung thần của người đi bộ. Giao thông hỗn loạn, không kiểm soát được, dù cảnh sát giao thông mai phục khắp chốn. Ở Samthienha.com còn có lực lượng áo xanh đông đảo phất cờ làm kiểng. An ninh của du khách thường xuyên bị đe dọa. Từ vấn nạn chặt chém của taxi, nhà hàng đến giựt dọc trên đường phố. Du khách bị khủng bố tinh thần vì thiếu nhà vệ sinh hoặc có mà dơ bẩn, vì phập phồng cướp giật, vì vệ sinh môi trường lẫn vệ sinh thực phẩm. Chất lượng các dịch vụ chưa thể so sánh với các đối thủ cạnh tranh trong khu vực.

    Vì những ý muốn chủ quan của các nhà quản lý, không ít di sản văn hóa bị xóa sổ. Chùa Bái Đính cổ gần như biến mất. Thay vào đó là chùa mới, to vật vã nhưng dường như…vô hồn. Đường xe lửa răng cưa Phan Rang – Đà Lạt bị tháo dỡ, các đầu máy được bán sắt vụn cho Thụy Sĩ. Họ mua về làm du lịch, vẫn lịch sự giữ nguyên dòng chữ “Toa xe Đà Lạt”. Ngay cả cầu Bến Hải cũng bị tháo dỡ. Báo chí và dư luận lên tiếng, cầu được phục chế.

    Đáng tiếc nhất là việc di dời chợ nổi Ngã Bảy Phụng Hiệp (Hậu Giang), đã xóa sổ thương hiệu lừng danh hơn trăm năm của cả khu vực Đông Nam Á. Gần nhất là việc tháo dỡ cầu Gành (Đồng Nai) hơn trăm tuổi. Rồi thì hàng ngàn biệt thự cổ biến mất khó hiểu ở khắp đất nước, nhiều nhất là ở Hà Nội và TP.HCM…

    Những dị biệt tiêu cực này lấn áp các khác biệt tích cực. Đó là ẩm thực phong phú, món ngon đường phố đa dạng. Là internet phổ cập miễn phí và dễ dàng. Là dịch vụ “Door to door” của vận chuyển liên tỉnh. Là cảnh quan và di sản đẹp, lạ. Là những phong tục tập quán đặc thù. Là lịch sử sôi động và bi tráng. Đất nước rất ổn định về chính trị nhưng lại… chưa dám mở cửa cho du khách vui chơi và tiêu tiền thoải mái. Mọi thứ cứ khác thiên hạ. Thứ gì các nước chặt thì ta lỏng và ngược lại.

    Việt Nam tự hào với lịch sử mấy ngàn năm văn hiến nhưng cách chào lai căng đủ kiểu. Cũng không có quốc phục riêng và những giai điệu dân gian đặc trưng được thừa nhận. Không có kiến trúc đặc thù…Ẩm thực Việt Nam rất phong phú nhưng văn hóa ẩm thực thì hổ lốn. Chẳng nơi nào có kiểu vừa ăn vừa xem ca múa nhạc tạp kỹ phổ biến như Việt Nam. Nhiều nơi, vừa du thuyền trên sông, vừa ăn uồng và thưởng thức nghệ thuật tổng hợp. Tác phong làm việc lề mề nhưng ăn rất nhanh, vừa ăn ngồm ngoàm vừa nói chuyện ồn ào. Văn hóa gắp đồ ăn cho khách lậm vào trong kinh doanh lẫn cuộc sống, cứ thích làm theo ý mình, nhất là lãnh đạo. Thói quen dùng đũa, muỗng chung; vừa mất vệ sinh vừa kỳ cục.

    Nhà vệ sinh, nơi thể hiện tính cách cá nhân rõ nét nhất, nơi thỏa mãn nhu cầu quan trọng nhất của con người luôn bị xem nhẹ. Ngược lại là thói khoa trương, bệnh thành tích, sính bằng cấp và coi thường thực tiễn. Hiệu ứng ghiền bê tông, thích xây mới lòe loẹt vô hồn đang phá vỡ cảnh quan nhiều danh thắng và cả vườn quốc gia.

    Các di tích bị xâm hại nghiêm trọng. Bảo tồn và trùng tu mà như phá hoại. Các công trình kiến trúc cổ xuống cấp, ngày càng bị xâm lấn và xóa sổ dần. Thời bao cấp ấu trĩ đành chịu, mất mát vô kể. Thời đổi mới mở cửa, vẫn tồn tại nghịch lý bảo tồn và phát triển. Việc xâm hại và xóa sổ di tích không trắng trợn mà tinh vi, núp dưới nhiều chiêu bài và danh nghĩa. Bản sắc văn hóa Việt đang ngày càng mai một!

    Đôi điều góp ý

    Nếu áo dài, cả nam lẫn nữ, được công nhận là quốc phục chính thức bằng văn bản pháp luật của Quốc hội thì đã không có chuyện nhà tạo mẫu ở Trung Quốc ăn cắp mẫu mã, vơ vào của mình. Áo dài, từng là quốc phục, bị phê phán và tẩy chay thời bao cấp. Có lãnh đạo từng cho rằng đó là tàn dư phong kiến, rườm rà, “một áo dài may được hai áo ngắn”. Việt Nam cũng từng có cách chào đặc thù nhưng bị xóa sổ vì ấu trĩ.

    Việc đầu tiên là phải xác định lại quốc phục và cách chào Việt Nam như tổ tiên mình từng công nhận. Việc quan trọng nhất là thay đổi nhận thức về văn hóa dân tộc, gạn đục khơi trong, lấy truyền thống làm nền tảng cho hiện đại. Đoạn tuyệt với tư duy “Lãnh đạo đồng nghĩa với khoa học” và “Quản không được thì cấm”. Loại bỏ văn hóa gắp đồ ăn cho khách; dùng đũa, muỗng chung; vừa ăn vừa nghe xem đủ thứ…

    Chống quan điểm cực đoan trong bảo tồn và phát triển. Cặp phạm trù này không hề có mâu thuẫn đối kháng. Thực tế cho thấy chỉ có mâu thuẫn giữa các chủ đầu tư và cộng đồng. Muốn bảo tồn phải biết trùng tu và phát triển. Ngược lại muốn phát triển bền vững phải biết bảo tồn. Tuyên chiến với vấn nạn bê tông hóa mọi nơi mọi lúc.

    Truyền thống thân thiện, hiếu khách của người Việt phải được thể hiện rõ nhất tại các cửa ngõ của đất nước cho đến các cơ quan công quyền, các cơ sở dịch vụ. Như nhân viên cửa khẩu Đài Loan, Myanmar…luôn tươi cười, tận tình hỗ trợ du khách và không ngừng nói lời cảm ơn.

    Campuchia mở cửa Hoàng Cung cho khách tham quan với giá vé 10 USD mỗi người trong ngày. Buổi nào quốc vương tiếp khách thì đóng cửa. Nhà khách vua Sihanouk ở Siem Riep được biến thành khách sạn cổ sang trọng Grand Angkor Hotel với tấm thảm đỏ in dấu chân nhiều nguyên thủ quốc gia. Nhà khách mới của Quốc vương Sihamoni nhỏ và đơn giản hơn nhiều. Việt Nam có thể làm tương tự với Phủ Chủ tịch, trụ sở Ủy ban nhân dân thành phố và nhiều tỉnh thành khác.

    Hoàng cung Brunei được chuyển thành phức hợp The Empire Hotel Country Club tương đương 6 sao. Phòng ở của vua Bokiah trước đây có giá bán tới hơn 20.000 USD/đêm. Xu thế các nước là ưu tiên cho phát triển du lịch và tận dụng mọi thứ để du lịch phát triển vì đây là ngành công nghiệp xuất khẩu tại chỗ rất hiệu quả.

    Các tỉnh thành Việt Nam hoàn toàn có thể chuyển các trụ sở hoành tráng để làm du lịch. Baan Tong Luang (Chieng Mai, Thái Lan), Mari – Mari (Kinabalu, Malaysia) là làng văn hóa các dân tộc đúng nghĩa; là những mô hình có thể vận dụng tại Việt Nam thay cho những công viên văn hóa các dân tộc, hoành tráng mà tốn kém (tốn tiền, kém hiệu quả). Hai cường quốc du lịch dẫn đầu thế giới là Pháp và Tây Ban Nha đều hấp dẫn và thu hút khách bằng những trải nghiệm văn hóa khác biệt, đa dạng.

    Có thể thay đường hoa Nguyễn Huệ bằng sông hoa Sài Gòn/TPHCM. Mở rộng các chợ đêm và phố đi bộ như ở Đài Loan, Thái Lan; tạo thành những công viên văn hóa sống động vào buổi tối. Tổ chức cho du khách trải nghiệm ẩm thực, học cách chế biến các món ngon Việt Nam và các sự kiện gia đình như “Thôi nôi”, “Đám hỏi”, “Đám cưới”, “Đám giỗ”, các hoạt động Tết…

    Xây dựng homestay chuẩn quốc gia theo mô hình các homestay A Chu (Sơn La), Minh Thơ (Hòa Bình), Xuân Diện (Lào Cai)…Phát triển các lễ hội tích cực như Đua bò (An Giang); Trái cây Nam bộ, Ẩm thực đường phố, Món ngon các nước, Áo dài (Sài Gòn); Bánh dân gian (Cần Thơ), Ook om bok – Đua ghe ngo (Sóc Trăng), Minh thề (Hải Phòng), Tịch điền (Hà Nam), Trâu rơm bò rạ (Vĩnh Phúc)…

    Chấm dứt các lễ hội dã man như Đâm trâu (thật ra là tế trâu hay khóc trâu – Tây Nguyên và Quảng Nam), Chém lợn (Bắc Ninh), Chọi trâu (Hải Phòng)… Chấn chỉnh những lễ hội biến tướng thành dịp buôn bán, hối lộ thần thánh như “cướp ấn, cướp lộc” và các lễ hội chùa, các festival thực chất chỉ có tính hình thức…Để tận dụng và phát tiển tài nguyên văn hóa một cách hiệu quả, cần có qui hoạch khoa học, dài hơi và đồng bộ.

    Làm du lịch là làm kinh tế chứ không phải làm phong trào, chạy theo số lượng và hình thức để báo cáo. Dĩ nhiên không làm kinh tế bằng mọi giá mà phải cân nhắc chọn lọc để phát triển bền vững. Nhiều quốc gia như Hàn Quốc, Singapore, Nhật Bản…sau nhiều thập niên kinh tế tăng trưởng nóng đã chấp nhận chậm lại. Họ hạn chế phát triển sản xuất nội địa, ưu tiên xuất khẩu công nghiệp, đẩy mạnh các dịch vụ du lịch để xuất khẩu tại chỗ và lấy văn hóa đặc thù làm nền tảng.

    Sự “dốt nát chân thật” (Trần Việt Phương) là lời cảnh báo về cách làm tùy tiện của nhiều địa phương, đã vô tình cản trở du lịch. Nguy hại hơn, đó là những hành động hủy diệt văn hóa dân tộc. Một dân tộc sẽ tiêu vong khi đánh mất bản sắc văn hóa. Chúng ta phải tự hào rằng: bản sắc Việt vẫn vững vàng với trang phục, chữ viết, ngôn ngữ và nhiều phong tục khác biệt và đặc sắc sau hàng ngàn năm bị đô hộ, qua nhiều cuộc chiến khốc liệt để giữ nước.

    Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc không chỉ để phát triển du lịch. Đó còn là cách tốt nhất để bảo vệ độc lập và chủ quyền lãnh thổ mà tổ tiên người Việt đã làm rất tốt mấy ngàn năm nay.

    (*) Bài viết thể hiện quan điểm của tác giả Nguyễn Vũ Mộc Thiêng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khu Du Lịch Gáo Giồng Cao Lãnh: Địa Chỉ
  • Du Lich Đài Loan 5 Ngày Từ Đà Nẵng
  • Top 50 Địa Điểm Du Lịch Gần Hà Nội Mới Và Đẹp Nhất Tháng 9/2020 * Du Lịch Số
  • Du Lịch Phú Yên Đẹp Qua Từng Thắng Cảnh
  • Khám Phá Khu Du Lịch Sinh Thái Quốc Tế Cà Mau
  • Tài Nguyên Du Lịch Nhân Văn Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Tài Nguyên Du Lịch Nhân Văn
  • Tour Du Lịch Đà Nẵng Với Giá Rẻ Chỉ Từ 2.050.000 Vnđ
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Cuba Cực Bổ Ích Và “siêu” Tiết Kiệm
  • Cách Làm Thủ Tục Xin Visa Du Lịch Nhật Bản Tự Túc
  • Du Lịch Khoang Xanh Suối Tiên 2 Ngày 1 Đêm Thoả Sức Tận Hưởng Thiên Nhiên Trong Lành
  • PHẦN MỞ ĐẦU

    1.

    Lí do chọn đề tài

    Du lịch là ngành công nghiệp không khói có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình

    phát triển kinh tế bởi mang lại lợi ích kinh tế cao. Đặc biệt với các quốc gia đang

    trong quá trình hội nhập và phát triển như Việt Nam thì việc đẩy mạnh phát triển du

    lịch là một vấn đề quan trọng. Để phát triển du lịch đòi hỏi phải có sự hợp thành của

    nhiều yếu tố. Trong đó tài nguyên du lịch là yếu tố cơ bản để tạo thành các sản phẩm

    du lịch. Chính sự phong phú đa dạng và đặc sắc của tài nguyên du lịch tạo nên sự

    phong phú, đa dạng, hấp dẫn của sản phẩm du lịch.

    Trải dài trên lãnh thổ hình chữ S, Việt Nam có rất nhều các tài nguyên du lịch,

    từ những tài nguyên du lịch tự nhiên đến tài nguyên du lịch nhân văn với vô vàng

    danh lam thắng cảnh nổi tiếng. Những điểm đến là khu du lịch sinh thái, vườn quốc

    gia, vịnh biển, hệ thống các đảo và quần đảo làm cho tài nguyên thiên nhiên thêm

    phong phú. Bên cạnh đó là tài nguyên du lịch nhân văn với nhiều di tích mang đậm

    giá trị lịch sử và không ít công trình là “Di sản văn hóa của nhân loại”. Với tài

    nguyên vô cùng đa dạng đó việc khai thác các thế mạnh, tính toán đến tác động môi

    trường khác nhau trong quá trình khai thác là vấn đề hết sức khó khăn, đặc biệt là tài

    nguyên du lịch nhân văn.

    Xuất phát từ mâu thuẫn đó, tôi nghiên cứu vấn đề: “Thế mạnh tài nguyên du

    lịch nhân văn và tác động đến phát triển kinh tế xã hội”. Đề tài tạo điều kiện đánh

    giá giá trị tài nguyên du lịch nhân văn, xác định mối quan hệ giữa tài nguyên du lịch

    nhân văn và việc khai thác các tài nguyên đó để phục vụ phát triển du lịch.

    2.

    Mục tiêu của đề tài

    Đánh giá thế mạnh tài nguyên du lịch nhân văn Việt Nam nhằm xây dựng định

    hướng khai thác phù hợp và đề xuất các giải pháp khai thác có hiệu quả.

    3.

    Nhiệm vụ của đề tài

    Tổng hợp một số vấn đề lí luận về du lịch nói chung và tài nguyên du lịch

    nhân văn nói riêng.

    Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn trên lãnh thổ Việt Nam

    Nghiên cứu đánh giá thực trạng khai thác tài nguyên du lịch nhân văn Việt

    Nam nhằm xây dựng định hướng khai thác phù hợp.

    4.

    Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

    Đối tượng nghiên cứu: Tài nguyên du lịch nhân văn tác động trên các mặt

    Kinh tế – xã hội – môi trường.

    Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu tài nguyên du lịch nhân văn trên lãnh

    thổ Việt Nam.

    5.

    Các phương pháp nghiên cứu

    Phương pháp phân tích số liệu thống kê: thu thập các tài liệu thông kê liên

    quan từ các cơ trung ương đến địa phương tỉnh, huyện, xã,…

    Kế thừa những kết quả nghiên cứu có trước, hệ thống hóa cơ sở lí luận, thực

    tiễn và vận dụng vào đề tài một cách hợp lý.

    6.

    Nội dung bài tiểu luận

    Ngoài phần mở đầu, kết luận, và tài liệu tham khảo, đề tài gồm các nội dung

    chính sau:

    Chương 1. Một số vấn đề lí luận cơ bản về du lịch và tài nguyên du lịch nhân

    văn.

    Chương 2. Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch nhân văn ở Việt Nam.

    Chương 3. Tác động của tài nguyên du lịch nhân văn đến Kinh tế – Xã hội –

    Môi trường của Việt Nam.

    Chương 4. Giải pháp khai thác tài nguyên du lịch nhân văn của Việt Nam.

    PHẦN NỘI DUNG

    CHƯƠNG 1

    MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VÀ THỰC TIỄN VỀ DU LỊCH

    VÀ TÀI NGUYÊN DU LỊCH NHÂN VĂN

    1.1.

    Một số vấn đề lí luận

    1.1.1. Khái niệm du lịch

    Dưới những góc độ nghiên cứu khác nhau, hoàn cảnh không gian, thời gian

    khác nhau, mỗi tổ chức cá nhân có những cách hiểu về du lịch khác nhau.

    Với mục đích quốc tế hóa, tại hội nghị Liên Hợp Quốc về du lịch họp tại

    ROMA (Italia) năm 1963, các chuyên gia đã đưa ra khái niệm như sau: “Du lịch là

    tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ cuộc

    hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi cư trú thường xuyên

    của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình. Nơi họ đến du lịch không phải nơi

    làm việc của họ.”

    Tổ chức Du lịch thế giới (World Tourism Organization) lại định nghĩa: “Du

    lịch là tổng thể các hiện tượng và các mối quan hệ xuất phát từ sự giao lưu với du

    khách, các nhà kinh doanh, chính quyền địa phương và cộng đồng dân cư trong quá

    trình thu hút và đón tiếp khách du lịch.”

    1.1.2. Khái niệm tài nguyên du lịch

    Tài nguyên hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các nguồn nguyên liệu, năng

    lượng và thông tin trên Trái Đất và trong không gian vũ trụ mà con người có thể sử

    dụng phục vụ cho cuộc sống và sự phát triển của mình.

    Tài nguyên du lịch theo Pirojnik: “Tài nguyên du lịch là những tổng thể tự

    nhiên văn hóa – lịch sử và những thành phần của chúng, tạo điều kiện cho việc phục

    hồi và phát triển thể lực tinh thần của con người, khả năng lao động và sức khỏe của

    họ, trong cấu trúc nhu cầu du lịch hiện tại và tương lai, trong khả năng kinh tế kĩ

    thuật cho phép, chúng được dùng để trực tiếp và gián tiếp sản xuất những dịch vụ du

    lịch và nghỉ ngơi.”

    Tài nguyên du lịch là một dạng đặc sắc của tài nguyên nói chung. Khái niệm

    này luôn gắn liền với khái niệm du lịch.

    – Tài nguyên du lịch có khả năng sử dụng nhiều lần nếu tuân theo các qui

    định về sử dụng một cách hợp lý, thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo vệ.

    1.2.

    Phân loại tài nguyên du lịch:

    Tài nguyên du lịch có thể chia làm 2 nhóm sau:

    Tài nguyên tự nhiên:

    Tài nguyên nhân văn:

     Tài nguyên nhân văn vật thể

    Di sản văn hoá thế giới

    Các Di tích lịch sử văn hoá, thắng cảnh đẹp cấp quốc gia và địa phương

     Tài nguyên nhân văn phi vật thể

    Di sản văn hoá truyền miệng và phi vật thể của nhân loại

    Các lễ hội

    Nghề và làng nghề thủ công truyền thống

    Văn hoá nghệ thuật

    Văn hoá ẩm thực

    Thơ ca và văn học

    Văn hoá ứng xử và những phong tục, tập quán tốt đẹp

    Tài nguyên du lịch gắn với văn hoá các tộc người

    Các hoạt động mang tính sự kiện

    1.2.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên

    Theo khoản 1 (Điều 13, Chương II) Luật du lịch Việt Nam năm 2005 quy

    định: “Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí

    hậu, thuỷ văn, hệ sinh thái, cảnh quan tự nhiên đang được khai thác hoặc có thể

    được sử dụng phục vụ mục đích du lịch”.

    Các loại tài nguyên du lịch tự nhiên không tồn tại độc lập mà luôn luôn tồn

    tại, phát triển trong cùng một không gian lãnh thổ nhất định, nó có mối quan hệ qua

    lại, tương hỗ chặt chẽ theo những quy luật của tự nhiên cũng như các điều kiện văn

    hoá, kinh tế – xã hội và thường được phân bố gần các tài nguyên du lịch nhân văn.

    Thực tế, khi tìm hiểu và nghiên cứu về tài nguyên du lịch tự nhiên, các nhà nghiên

    cứu thường nghiên cứu theo từng thành phần tự nhiên, các thể tổng hợp tự nhiên có

    điều kiện thuận lợi cho sự phát triển du lịch, các di sản thiên nhiên thế giới và các

    điểm tham quan tự nhiên.

    1.2.2. Tài nguyên du lịch nhân văn

    a. Khái niệm

    Tài nguyên du lịch nhân văn bao gồm truyền thống văn hoá, các yếu tố văn

    hoá, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình

    lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể khác có

    thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch.

    Tài nguyên du lịch nhân văn là các đối tượng và hiện tượng xã hội cùng các

    giá trị văn hoá, lịch sử của chúng có sức hấp dẫn du khách và được khai thác để kinh

    doanh du lịch. Trong số các tài nguyên du lịc nhân văn thì các di sản văn hoá có vị

    trí đặc biệt.

    Trong Luật di sản văn hoá của Việt nam thì di sản văn hoá được chia làm 2

    loại, đó là di sản văn hoá vật thể và di sản văn hoá phi vật thể.

     Di sản văn hoá vật thể

    “Di sản văn hoá vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa

    học,bao gồm các di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật

    quốc gia”.

    “Di tích lịch sử văn hoá là công trình xây dựng và các di vật, cổ vật,bảo vật

    quốc gia thuộc công trình địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học”

    “Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp

    giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mĩ, khoa

    học”.

    “Di vật là hiện vật được lưu truyền lại có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học”.

    “Cổ vật là hiện tượng được lưu truyền lại có giá trị tiêu biểu vè lịch sử, văn

    hoá, khoa học từ một trăm năm tuổi trở lên”.

    “Bảo vật quốc gia là hiện vật được lưu truyền lại có giá trị đặc biệt quý hiếm

    của đất nước về lịch sử, văn hoá, khoa học”.

     Di sản văn hoá phi vật thể

    “Di sản văn hoá phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử – văn hoá,

    khoa học, được lưu truyền bằng trí nhớ, chữ viết, được truyền miệng, truyền nghề,

    trình diễn và các hình thức lưu truyền khác bao gồm: tiếng nói, chữ viết, tác phẩm

    văn học nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống,

    lễ hội, bí quyết nghề nghiệp thủ công truyền thống, tri thức về y dược cổ truyền, văn

    hoá ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian”.

    b. Đặc điểm

    Do những nét đặc trưng và tính chất của mình, tài nguyên du lịch nhân văn có

    những đặc điểm khác với tài nguyên du lịch tự nhiên:

    Tài nguyên du lịch nhân văn có tác dụng nhận thức nhiều hơn tác dụng giải trí

    Việc tìm hiểu các đối tượng nhân văn diễn ra trong thời gian ngắn, nó có thể

    kéo dài một vài giờ, cũng có thể một vài phút. Do vậy trong một chuyến du lịch

    người ta có thể hiểu từ nhiều giá trị nhân văn.

    Số người quan tâm đến tài nguyên du lịch nhân văn thường có văn hoá hơn,

    thu nhập và yêu cầu cao hơn.

    Tài nguyên du lịch nhân văn thường tập trung ở những điểm quần cư và

    những thành phố lớn.

    Ưu thế to lớn của tài nguyên du lịch nhân văn là đại bộ phận không có tính

    mùa, không bị phụ thuộc vào các điều kiện khí tượng và điều kiện tự nhiên khác.

    Sở thích của những người tìm đến tài nguyên du lịch nhân văn rất phức tạp và

    rất khác nhau. Điều này sẽ gây khó khăn cho việc đánh giá tài nguyên du lịch nhân

    văn. Cơ sở để đánh giá nguồn tài nguyên này chủ yếu dựa vào cơ sở định tính, xúc

    cảm và trực cảm. Đồng thời nó cũng chịu ảnh hưởng mạnh của các nhân tố như: Độ

    tuổi, trình độ văn hoá,, hứng thú, trình độ nghề nghiệp, thành phần dân tộc,…

    1.2.2.1.

    Tài nguyên du lịch nhân văn vật thể

    a. Di sản văn hoá thế giới

    Ủy ban Di sản Thế giới đã xác định và liệt kê danh sách các di sản là các cảnh

    quan văn hóa có giá trị lớn đối với nhân loại. Để được đưa vào danh sách di sản thế

    giới, các khu vực đề cử phải có giá trị nổi bật toàn

    cầu và đáp ứng được ít nhất 1 trong 10 tiêu chí.

    Trong bản hướng dẫn năm 2002, trong bộ tiêu chí

    lựa chọn có 6 tiêu chí về văn hóa và 4 tiêu chí về

    tự nhiên. Năm 2005, Ủy ban Di sản Thế giới đưa

    ra bộ tiêu chí mới gồm 10 tiêu chí lựa chọn như

    sau:

    Hình 1.1: Biểu tượng Di sản Thế giới

    Nguồn: vi.wikipedia.org

    Tiêu chuẩn văn hóa

    (I) – là một tuyệt tác về tài năng sáng tạo của con người.

    (II) – Thể hiện một sự giao lưu quan trọng giữa các giá trị của nhân loại, trong

    một khoảng thời gian hoặc trong phạm vi một vùng văn hoá của thế giới, về các

    bước phát triển trong kiến trúc hoặc công nghệ, nghệ thuật tạo hình, quy hoạch đô

    thị hoặc thiết kế cảnh quan.

    (III) – Là một bằng chứng độc đáo hoặc duy nhất hoặc ít ra cũng là một bằng

    chứng đặc biệt về một truyền thống văn hoá hay một nền văn minh đang tồn tại hoặc

    đã biến mất.

    (IV) – Là một ví dụ nổi bật về một kiểu kiến trúc xây dựng hoặc một quần thể

    kiến trúc cảnh quan minh hoạ cho một hay nhiều giai đoạn có ý nghĩa trong lịch sử

    nhân loại.

    (V) – Là một ví dụ tiêu biểu về sự định cư của con người hoặc một sự chiếm

    đóng lãnh thổ mang tính truyền thống và tiêu biểu cho một hoặc nhiều nền văn hóa,

    nhất là khi nó trở nên dễ bị tổn thương dưới tác động của những biến động không thể

    đảo ngược được.

    (VI) – Gắn bó trực tiếp hoặc cụ thể với những sự kiện hoặc truyền thống sinh

    hoạt với các ý tưởng, hoặc các tín ngưỡng, các tác phẩm văn học nghệ thuật có ý

    nghĩa nổi bật toàn cầu. (tiêu chuẩn này chỉ duy nhất được sử dụng trong những

    trường hợp đặc biệt và áp dụng đồng thời với các tiêu chuẩn khác).

    Tiêu chuẩn tự nhiên

    (VII) – Chứa đựng các hiện tượng, địa điểm tự nhiên hết sức nổi bật hoặc các

    khu vực có vẻ đẹp tự nhiên độc đáo và tầm quan trọng về thẩm mỹ.

    (VIII) – Là những ví dụ nổi bật đại diện cho những giai đoạn lớn trong lịch

    sử của Trái Đất, trong đó có lịch sử về sự sống, các quá trình địa chất quan trọng

    Những di tích lịch sử là những địa điểm, những công trình kỷ niệm, những vật

    kỷ niệm, những cổ vật ghi dấu bằng những sự kiện lịch sử, những cuộc chiến đấu,

    những danh nhân, anh hùng dân tộc của một thời kỳ nào đó trong quá trình lịch sử

    của mỗi địa phương, mỗi quốc gia.

     Loại hình di tích văn hoá nghệ thuật:

    Là các di tích gắn với các công trình kiến trúc có giá trị nên còn gọi là di tích

    kiến trúc nghệ thuật. Những di tích này không chỉ chứa đựng những giá trị kiến trúc

    mà còn chứa đựng cả những giá trị văn hoá xã hội, văn hoá tinh thần.

    Sự phân biệt các dạng tài nguyên du lich nói chung chỉ mang tính tương đối.

    Vì trong tài nguyên du lịch nhân văn vật thể lại chứa đựng cả tài nguyên nhân văn

    phi vật thể và ngược lại. Trong các di tích kiến trúc nghệ thuật lại thường mang

    trong mình cả những giá trị lịch sử, vì vậy nhiều nhà nghiên cứu thường gọi chung là

    Di tích Lịch sử Văn hoá nghệ thuật.

     Các danh lam thắng cảnh:

    Theo Luật Di sản Văn hoá của Việt Nam năm 2003: “Danh lam thắng cảnh là

    cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với

    công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ và khoa học”.

    Các danh lam thắng cảnh không chỉ có vẻ đẹp thiên nhiên bao la, hùng vĩ,

    thoáng đãng mà còn có giá trị nhân văn do bàn tay khối óc của con người tạo dựng

    nên.

    Các danh lam thắng cảnh thường chứa đựng trong đó giá trị của nhiều loại di

    tích lịch sử – văn hoá. Bởi thế nên nó có giá trị đặc biệt quan trọng đối với sự phát

    triển du lịch ngày nay.

     Các công trình đương đại:

    Là các công trình kiến trúc được xây dựng trong thời kỳ hiện đại, có giá trị

    kiến trúc, mỹ thuật, khoa học, kỹ thuật xây dựng, kinh tế, văn hoá thể thao hấp dẫn

    du khách có thể là đối tượng thăm quan nghiên cứu, vui chơi giả trí, chụp ảnh kỷ

    niệm,… đối với khách du lịch.

    Tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể

    a. Di sản Văn hoá truyền miệng và phi vật thể của nhân loại

    Năm 1989 tại phiên họp Đại hội đồng UNESCO đã đưa ra hai chính sách:

    Công nhận một danh hiệu cho một sản phẩm văn hoá phi vật thể, danh hiệu đó

    gọi là “kiệt tác Di sản Văn hoá truyền miệng và phi vật thể của nhân loại”.

    Di sản Văn hoá phi vật thể và truyền miệng luôn luôn được giữ gìn trình diễn,

    bổ sung truyền lại cho lớp trẻ thông qua trí nhớ và tài năng của nghệ nhân.

    b. Các lễ hội

    Ở bất cứ thời đại nào, bất cứ dân tộc nào, bất cứ mùa nào cũng đều có lễ hội,

    bởi lễ hội là một loại hình sinh hoạt văn hoá tập thể của nhân dân sau thời gian lao

    động mệt nhọc, hoặc đây là dịp để con người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại:

    ngưỡng mộ tổ tiên, ôn lại truyền thống, hoặc giải quyết những nỗi lo âu, những khao

    khát, ước mơ mà cuộc sống thực tại chưa giải quyết được.

    Cấu trúc lễ hội thường bao gồm 2 phần:

     Phần lễ:

    Các lễ hội dù lớn hay nhỏ cũng đều có phần nghi lễ với những nghi thức

    nghiêm túc, trọng thể để mở đầu ngày hội theo không gian và thời gian.

    Tùy vào tính chất của lễ hội mà phần lễ có ý nghĩa riêng. Thông thường phần

    lễ mở đầu ngày hội bao giờ cũng mang tính tưởng niệm lịch sử, hướng về một sự

    kiện lịch sử trọng đại, một vị anh hùng dân tộc lỗi lạc có ảnh hưởng lớn đến sự phát

    triển của xã hội. Bên cạnh đó cũng có những lễ hội mà phần lễ thực hiện những

    nghi lễ tôn kính, dâng hiến lễ vật cho các vị thiên thần, thánh nhân, cầu mong

    những điều tốt đẹp trong cuộc sống. Nghi lễ trong lễ hội mang ý nghĩa đặc biệt

    thiêng liêng, nó chứa đựng những giá trị văn hoá truyền thống, giá trị thẩm mỹ và tư

    duy triết học của cộng đồng.

     Phần hội:

    Trong phần hội thường diễn ra những hoạt động biểu tượng điển hình của tâm

    lý cộng đồng, văn hoá dân tộc, chứa đựng những quan niệm của dân tộc đó với thực

    tế lịch sử, xã hội và thiên nhiên.

    Trong hội thường tổ chức những trò vui chơi giải trí, biểu diễn văn hoá nghệ

    thuật. Yếu tố cấu thành và nuôi dưỡng lễ hội là kinh tế – xã hội và tự nhiên nên nội

    dung của phần hội không chỉ giữ nguyên những giá trị văn hoá truyền thống mà nó

    luôn có xu hướng bổ sung thêm những thành tố văn hoá mới. Chính đặc điểm này đã

    tạo cho lễ hội thêm sống động, vui nhộn và phong phú. Tuy nhiên nếu yếu tố này

    không được chọn lọc và giám sát chặt chẽ cũng như tuyên truyền, giáo dục, đầu tư

    bảo vệ và phát triển những giá trị văn hoá truyền thống thì sẽ làm cho những giá trị đó

    bị lai tạp, mai một và suy thoái.

    Tuỳ vào quy mô và giá trị văn hoá truyền thống còn được bảo tồn, ý nghĩa của

    lễ hội đối với quốc gia hay địa phương mà các lễ hội được xếp hạng làm lễ hội quốc

    tế hay lễ hội địa phương. Các lễ hội có sức hấp dẫn cao đối với du khách là đối

    tượng để triển khai nhiều loại hình du lịch văn hoá, đặc biệt là loại hình du lịch lễ

    hội.

     Thời gian tổ chức lễ hội:

    Các lễ hội thường được tổ chức nhiều vào sau mùa vụ sản xuất, mùa mà thời

    tiết, phong cảnh đẹp là mùa xuân và mùa thu. Các giá trị văn hoá lịch sử của lề hội là

    nguồn tài nguyên du lịch quý giá để tổ chức triển khai các loại hình tham quan,

    nghiên cứu chuyên đề lễ hội hoặc kết hợp với các loại hình du lịch tham quan,

    nghiên cứu và mua sắm.

    c. Nghề và làng nghề thủ công truyền thống

     Nghề thủ công truyền thống:

    Là những nghề có những bí quyết về công nghệ sản xuất ra các sản phẩm

    mang những giá trị thẩm mỹ, tư tưởng triết học, tâm tư tình cảm và những ước vọng

    của con người.

    Nghề thủ công truyền thống là nghề sản xuất ra nghệ thuật do những nghệ

    nhân dân gian sáng tạo, gìn giữ và phát triển từ đời này qua đời khác cho những

    người cùng huyết thông hoặc cùng làng bản. Các sản phẩm thủ công cổ truyền này

    không chỉ mang những giá trị sử dụng trong cuộc sống hàng ngày mà nó còn chứa

    đựng bên trong những giá trị về mỹ thuật, giá trị triết học, tâm linh thể hiện tài

    nghệ, tâm tư, ước vọng của người làm ra chúng. Chính những tính hữu ích và giá trị

    văn hoá của chúng mà theo dòng chảy của lịch sử, đến nay nhiều nước trên thế giới

    nói chung và Việt Nam nói riêng đã hình thành và bảo tồn được những giá trị tốt đẹp

    của tài nguyên này.

     Làng nghề:

    “Là những làng có các nghề sản xuất hàng hoá bằng các công cụ thô sơ và sức

    lao động của con người đã được hình thành một thời gian dài trong lịch sử, nghệ

    thuật sản xuất hàng hoá được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác ở trong làng. Sản

    phẩm hàng hoá được sản xuất không chỉ đáp ứng nhu cầu ở trong làng mà còn bán ở

    thị trường trong nước và quốc tế”.

    d.

    Các đối tượng văn hoá – thể thao và hoạt động nhận thức khác

    Những đối tượng văn hoá như các trung tâm khoa học, các trường đại học, các

    thư viện lớn, bảo tàng… đều có sức hấp dẫn rất lớn du khách tới tham quan và nghiên

    cứu. Những hoạt động mang tính sự kiện: các giải thể thao lớn, các cuộc triển lãm

    thành tựu kinh tế quốc dân, các hội chợ, liên hoan phim ảnh quốc tế, ca nhạc quốc

    tế… cũng là đối tượng hấp dẫn khách du lịch. Thông thường những đối tượng văn

    hoá tập trung ở các thủ đô và các thành phố lớn. Vì vậy những thành phố lớn đương

    nhiên trở thành những trung tâm du lịch văn hoá của các quốc gia, vùng và khu vực

    và là hạt nhân của các trung tâm du lịch.Vai trò tài nguyên du lịch nhân văn với phát

    triển du lịch.

    1.3.

    Vai trò tài nguyên du lịch nhân văn với phát triển du lịch

    Du lịch là ngành kinh tế mà trong sự phát triển hoạt động của ngành vai trò

    của tài nguyên rất quan trọng. TNDL nhân văn là một trong hai yếu tố, cùng với tài

    nguyên du lịch tự nhiên tạo thành các sản phẩm du lịch.

    Ta có thể tạo lập công thức như sau:

    T = A + B +C

    S=T+D

    Trong đó

    T: Tài nguyên du lịch

    A: Tài nguyên du lịch nhân văn

    B: Tài nguyên du lịch tự nhiên

    C: Tài nguyên kinh tế kĩ thuật và bổ trợ

    S: Sản phẩm du lịch

    D: Các dịch vụ và hàng hóa du lịch

    Đối với mỗi vùng miền lãnh thổ, có sự tập trung đa dạng, phong phú tài

    nguyên du lịch nhân văn thì hướng phát triển du lịch của vùng miền đó cũng theo

    quy luật lấy tài nguyên nhân văn hiện có làm cơ sở để tạo ra sản phẩm du lịch đặc

    trưng. Tài nguyên du lịch nhân văn có mối quan hệ qua lại mật thiết với các yếu tố

    khác, nó thể hiện lịch sử văn hóa vùng miền, thông qua đó tác động tới lối sống của

    dân cư địa phương, tới nghề và truyền thống văn hóa xã hội khác. Do vậy, tài nguyên

    du lịch nhân văn là yếu tố quan trọng trong việc tạo nên sản phẩm du lịch.

    Tài nguyên du lịch nhân văn là cơ sở quan trọng để phát triển các loại hình du

    lịch văn hoá. Các hình thức du lịch được đưa ra trên cơ sở của nguồn tài nguyên. Tài

    nguyên du lịch nhân văn cần phải được khai thác sao cho xứng đáng với tiềm năng

    mà không làm mất đi các giá trị truyền thống sẵn có.

    Tài nguyên du lịch nhân văn là một phần của tài nguyên du lịch, một bộ phận

    quan trọng của tổ chức lãnh thổ du lịch. Các phân hệ của hệ thống lãnh thổ du lịch

    gồm: Khách du lịch, tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du

    lịch, đội ngũ cán bộ nhân viên và bộ máy tổ chức điều hành, quản lí du lịch. Các

    phân hệ này đều có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và với môi trường kinh tế xã hội

    cũng như các phân hệ khác.

    Như vậy, có thể nói rằng tài nguyên du lịch nhân văn là nhân tố quan trọng

    trong sự phát triển du lịch. Tài nguyên du lịch nhân văn góp phần định hướng phát

    triển du lịch của địa phương, là nguồn tài nguyên có khả năng bền vững cao nếu biết

    quan tâm, bảo tồn tôn tạo một cách hợp lí. Vì vậy, trước những đặc điểm của tài

    nguyên du lịch nhân văn sẵn có mỗi địa phương hãy đưa ra các chính sách phù hợp

    để vừa phát triển du lịch, lại vừa bảo tồn được tài nguyên.

    CHƯƠNG II

    THỰC TRẠNG DU LỊCH NHÂN VĂN Ở VIỆT NAM

    2.1.

    Tài nguyên du lịch nhân văn Việt Nam

    2.1.1. Các di tích văn hóa – lịch sử

    Gía trị văn hóa – lịch sử là yếu tố cốt lõi tạo nên sự hấp dẫn và độc đáo của sản

    phẩm du lịch, có sức lôi cuốn du khách đến tìm hiểu một nền văn hóa khác lạ. Việt

    Nam là đất nước của những di tích văn hóa – lịch sử lâu đời, có giá trị cao đối với du

    lịch. Ở nước ta, 1 di tích khi đủ các điều kiện sẽ được công nhận theo thứ tự: di tích

    cấp tỉnh, di tích cấp quốc gia và di tích quốc gia đặc biệt. Tính đến năm 2014, Việt

    Nam có hơn 40.000 di tích, thắng cả nh trong đó có hơn 3.000 di tích được xếp hạng

    di tích quốc gia và hơn 7.000 di tích được xếp hạng cấp tỉnh. Mật độ và số lượng di

    tích nhiều nhất ở 11 tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng với tỷ lệ chiếm khoảng 70% di

    tích của Việt Nam. Trong số di tích quốc gia có 62 di tích quốc gia đặc biệt và trong

    số đó có 8 di sản thế giới.

    2.1.1.1.

    Thống kê di tích Việt Nam

    Các tỉnh có số lượng di tích lớn hơn 1500 gồm: Hà Nội: 5175 di tích; Bắc

    Giang: 2237 di tích,Bắc Ninh 1859 di tích,Ninh Bình: 1879 di tích, Đồng Nai: 1800

    di tích; Hà Nam: 1784 di tích; Nam Định: 1655 di tích; Thanh Hóa: 1535 di tích.

    Các tỉnh có mật độ di tích lớn nhất gồm: Hà Nam 2,07 di tích/km2; Hà Nội:

    1,56 di tích/km2; Bắc Ninh: 1,96 di tích/km2; Ninh Bình: 1,36 di tích/km2 và Hưng

    Yên: 1,31 di tích/km2.

    Bảng 2.1: Thống kê di tích Việt Nam

    Nguồn: vi.wikipedia.org

    STT

    Tên tỉnh

    Tổng di tích

    1287

    1

    An Giang

    2

    Bà Rịa Vũng Tàu

    31

    14

    150

    2014

    3

    Bạc Liêu

    10

    35

    130

    2014

    4

    Bắc Giang

    99

    539

    2237

    2014

    5

    Bắc Kạn

    12

    33

    160

    2014

    Bắc Ninh

    297

    726

    1859

    2014

    7

    Bến Tre

    15

    22

    8

    Bình Dương

    12

    38

    500

    2015

    9

    Bình Định

    33

    50

    231

    2008

    10

    Bình Phước

    9

    3

    12

    2009

    11

    Bình Thuận

    24

    20

    300

    2012

    12

    Cà Mau

    9

    17

    13

    Cao Bằng

    26

    36

    226

    2008

    14

    Cần Thơ

    4

    16

    20

    2009

    15

    Đà Nẵng

    16

    37

    200

    2011

    16

    Đăk Lăk

    12

    4

    58

    2012

    17

    Đăk Nông

    9

    1

    2014

    18

    Điện Biên

    7

    10

    2014

    19

    Đồng Nai

    27

    19

    1800

    2013

    20

    Đồng Tháp

    13

    50

    91

    2015

    21

    Gia Lai

    13

    3

    30

    2009

    22

    Hà Giang

    15

    2

    36

    2010

    23

    Hà Nam

    69

    54

    1784

    2010

    24

    Hà Nội

    1196

    1156

    5175

    2015

    25

    Hà Tĩnh

    75

    393

    500

    2015

    26

    Hải Dương

    146

    89

    1098

    2009

    27

    Hải Phòng

    110

    208

    236

    2009

    28

    Hậu Giang

    9

    6

    188

    2015

    29

    Hòa Bình

    41

    27

    295

    2015

    30

    Hưng Yên

    159

    88

    1210

    2010

    31

    Khánh Hòa

    13

    98

    1091

    2009

    32

    Kiên Giang

    22

    13

    200

    2009

    33

    Kon Tum

    5

    8

    2014

    34

    Lai Châu

    4

    14

    2014

    35

    Lạng Sơn

    23

    95

    581

    2013

    36

    Lào Cai

    15

    11

    50

    2015

    37

    Lâm Đồng

    20

    10

    38

    Long An

    16

    65

    2015

    2015

    2009

    Nam Định

    74

    125

    1655

    2010

    40

    Nghệ An

    50

    70

    1000

    2010

    41

    Ninh Bình

    103

    235

    1879

    2015

    42

    Ninh Thuận

    14

    27

    233

    2014

    43

    Phú Thọ

    73

    218

    1372

    2014

    44

    Phú Yên

    18

    21

    45

    Quảng Bình

    45

    34

    150

    2010

    46

    Quảng Nam

    60

    300

    500

    2015

    47

    Quảng Ngãi

    28

    76

    199

    2014

    48

    Quảng Ninh

    60

    44

    626

    2010

    49

    Quảng Trị

    29

    160

    489

    2010

    50

    Sóc Trăng

    8

    22

    300

    2010

    51

    Sơn La

    11

    34

    64

    2010

    52

    Tây Ninh

    22

    54

    365

    2010

    53

    Thái Bình

    91

    349

    1400

    2007

    54

    Thái Nguyên

    36

    70

    780

    2010

    55

    Thanh Hóa

    136

    441

    1535

    2009

    56

    Thừa Thiên Huế

    32

    88

    902

    2010

    57

    Tiền Giang

    20

    86

    106

    2010

    58

    TP. Hồ Chí Minh

    54

    91

    400

    2010

    59

    Trà Vinh

    12

    16

    533

    2015

    60

    Tuyên Quang

    88

    55

    498

    2010

    61

    Vĩnh Long

    10

    36

    450

    2014

    62

    Vĩnh Phúc

    68

    222

    1264

    2010

    63

    Yên Bái

    10

    34

    500

    2013

    2.1.1.2.

    2014

    Phân loại di tích

    Căn cứ Điều 4 Luật di sản văn hoá, Điều 14 Nghị định số 92/2002/NĐCP ngày

    11/11/2002 của Chính phủ Việt Nam quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật

    Di sản văn hoá, các di tích được phân loại như sau:

     Di tích lịch sử văn hoá

    Di tích lịch sử văn hoá là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật,

    bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học.

    Di tích lịch sử văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau đây:

    Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình

    dựng nước và giữ nước. Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như đền Hùng, Cổ Loa,

    Hình 2.1: Du lịch – Atlat Địa lý Việt nam

    Nguồn: onthidialy.files.wordpss.com

    Cố đô Hoa Lư, Bãi cọc Bạch Đằng, Cột cờ… Công trình xây dựng, địa điểm

    gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân của đất nước. Các di

    tích tiêu biểu thuộc loại này như Khu di tích lịch sử Kim Liên, Đền Kiếp Bạc, Quần

    thể di tích danh thắng Yên Tử, Lam Kinh, đền Đồng Nhân…

    Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ

    cách mạng, kháng chiến. Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như Khu di tích chiến

    thắng Điện Biên Phủ, Địa đạo Củ Chi, Khu di tích lịch sử cách mạng Pắc Bó, Phòng

    tuyến Tam Điệp, Hành cung Vũ Lâm, Khu rừng Trần Hưng Đạo… Năm 2010, di tích

    lịch sử chiếm 51.2% số di tích được xếp hạng. Các di tích này không những có giá trị

    lịch sử và văn hóa mà còn mang lại những giá trị lớn trên phương diện kinh tế, nhất là

    kinh tế du lịch.

     Di tích kiến trúc nghệ thuật

    Di tích kiến trúc nghệ thuật là công trình kiến trúc nghệ thuật, tổng thể kiến

    trúc đô thị và đô thị có giá trị tiêu biểu trong các giai đoạn phát triển nghệ thuật kiến

    trúc của dân tộc. Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có

    giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử. Các di

    tích tiêu biểu loại này như Chùa Bút Tháp, phố cổ Hội An, nhà thờ Phát Diệm, chùa

    Keo, đình Tây Đằng,Chùa Phật Tích. Năm 2010, di tích kiến trúc nghệ thuật chiếm

    44.2% tổng số di tích được xếp hạng.

     Di tích khảo cổ

    Di tích khảo cổ là những địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai

    đoạn phát triển của các văn hoá khảo cổ. Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như

    Hoàng thành Thăng Long, hang Con Moong, di chỉ Đông Sơn, động Người Xưa,

    thánh địa Mỹ Sơn. Năm 2010, di tích khảo cổ chiếm 1.3% các di tích được xếp hạng.

     Di tích thắng cảnh

    Di tích thắng cảnh (danh lam thắng cảnh) là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa

    điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch

    sử, thẩm mỹ, khoa học. Danh lam thắng cảnh phải có một trong các tiêu chí sau đây:

    Cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên

    với công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu. Các di tích quốc gia đặc biệt tiêu

    biểu thuộc loại này như 4 danh lam thắng cảnh khu danh thắng Tây Thiên, Tràng An

    Tam Cốc Bích Động, vịnh Hạ Long, động Phong Nha.

    Khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng

    sinh học, hệ sinh thái đặc thù hoặc khu vực thiên nhiên chứa đựng những dấu tích vật

    chất về các giai đoạn phát triển của Trái Đất. Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như

    vịnh Hạ Long, Cao nguyên Đồng Văn, các vườn quốc gia và khu dự trữ sinh quyển

    thế giới ở Việt Nam. Danh lam thắng cảnh chiếm khoảng 3.3% số di tích được xếp

    hạng.

     Di tích lịch sử cách mạng

    Di tích cách mạng kháng chiến là một bộ phận cấu thành hệ thống các di tích

    lịch sử văn hoá, tuy nhiên, nó có những điểm khác với các di tích tôn giáo tín ngưỡng

    như đình, đền, chùa, miếu… ở chỗ: đó là những địa điểm cụ thể, công trình kiến trúc

    có sẵn (nhà ở, đường phố…), là những công trình được con người tạo nên phù hợp

    với mục đích sử dụng (địa đạo, hầm bí mật…) gắn liền với những sự kiện cụ thể,

    nhân vật lịch sử cụ thể mà trở thành di tích. Loại hình di tích này rất đa dạng, phong

    phú, có mặt ở khắp mọi nơi, khó nhận biết, đồng thời cũng rất dễ bị lãng quên, dễ

    biến dạng theo mục đích sử dụng, theo thời tiết và theo thời gian. Bởi vậy các di tích

    này vừa khó bảo tồn vừa khó phát huy tác dụng nếu không được quan tâm đặc biệt.

    Một số di tích lịch sử cách mạng như: Chiến khu Tân Trào, Chiến khu Quỳnh Lưu,

    Khu di tích chiến thắng Điện Biên Phủ,…

    2.1.1.3.

    Phân cấp di tích

    Di tích quốc gia đặc biệt là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia. Thủ

    tướng Chính phủ quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt; quyết định việc đề

    nghị Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hợp quốc xem xét đưa di tích

    tiêu biểu của Việt Nam vào Danh mục di sản thế giới. Di tích quốc gia đặc biệt ở Việt

    Nam được xếp hạng các đợt đầu gồm: Cố đô Hoa Lư, Di tích Pác Bó, Dinh Độc Lập,

    Hoàng thành Thăng Long, Khu căn cứ Trung ương Cục miền Nam, Khu di tích ATK

    Thái Nguyên, Khu di tích chiến thắng Điện Biên Phủ, Khu di tích Côn Sơn Kiếp Bạc,

    Khu di tích khởi nghĩa Yên Thế, Khu di tích Kim Liên, Khu di tích Phủ Chủ tịch, Khu

    di tích Tân Trào, Khu lưu niệm chủ tịch Tôn Đức Thắng, Nhà tù Côn Đảo, Quần thể

    di tích Cố đô Huế, Thành nhà Hồ, Thánh địa Mỹ Sơn, Thắng cảnh Tràng An Tam

    Cốc Bích Động, Văn Miếu Quốc Tử Giám, Vườn quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng,

    Vịnh Hạ Long, Đô thị cổ Hội An và Đền Hùng.

    Trong trường hợp di tích đã được xếp hạng mà sau đó có đủ căn cứ xác định là

    không đủ tiêu chuẩn hoặc bị huỷ hoại không có khả năng phục hồi thì người có thẩm

    quyền quyết định xếp hạng di tích nào có quyền ra quyết định huỷ bỏ xếp hạng đối

    với di tích đó.

    2.1.1.4.

    Di sản thế giới văn hóa thế giới

    Việt Nam với bề dày lịch sử hang nghìn năm dựng nước và giữ nước, đã hun

    đúc nên biết bao nét đẹp văn hóa truyền thống, trong đó có giá trị văn hóa được cả thế

    giới tôn vinh. NQ TW5 (khóa VII) của Đảng ta khẳng định: “Di sản văn hóa là tài

    sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc và cơ sở để sáng

    tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa. Cần phải hết sức coi trọng bảo tồn, kế

    thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc (bác học và nhân

    gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể”. Tại

    thời điểm cập nhật, trên cả nước có 17 di sản văn hóa được UNESCO công nhận.

    Trong đó 8 di sản văn hóa vật thể, 9 di sản là kiệt tác phi vật thể và truyền khẩu của

    nhân loại. Các di sản có sức hấp dẫn đặc biệt với du khách và là niềm tự hào, là tài

    sản vô giá của quốc gia và nhân loại.

    Bảng 2.2: Di sản văn hóa vật thể được UNESCO công nhận

    Nguồn: vi.wikipedia.org

    STT

    Di sản

    1

    Quần thể di tích Cố đô Huế

    Hạng mục

    Di sản văn hóa:

    (III), (IV)

    Địa phương Năm

    Huế

    1993

    Di sản

    2

    Vịnh Hạ Long

    Di sản thiên nhiên:

    (VII), (VIII)

    Quảng Ninh 1994

    3

    Phố cổ Hội An

    Di sản văn hóa:

    (II), (V)

    Quảng Nam 1999

    4

    Thánh địa Mỹ Sơn

    Di sản văn hóa:

    (II), (III)

    Quảng Nam 1999

    5

    Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ

    Bàng

    Di sản thiên nhiên:

    (VIII)

    Quảng Bình 2003

    6

    Trung tâm Hoàng thành

    Thăng Long

    Di sản văn hóa:

    (II), (III), (VI)

    7

    Thành nhà Hồ

    Di sản văn hóa:

    (II), (IV)

    Thanh Hóa 2011

    Di sản hỗn hợp:

    (V), (VII), (VIII)

    Ninh Bình

    8

    Quần thể danh thắng

    Tràng An

    Hạng mục

    Địa phương Năm

    Hà Nội

    2010

    2014

    Bảng 2.3: Di sản văn hóa phi vật thể tại Việt Nam

    Nguồn: Samthienha.com phương Năm

    STT

    Di sản

    Hạng mục

    1

    Nhã nhạc cung đình Huế

    Kiệt tác phi vật thể và truyền

    khẩu của nhân loại

    Huế

    2003

    2

    Không gian văn hóa Cồng Chiêng

    Tây Nguyên

    Kiệt tác phi vật thể và truyền

    khẩu của nhân loại

    Tây Nguyên

    2005

    3

    Dân ca Quan họ

    Di sản phi vật thể đại diện cho

    nhân loại

    Bắc Ninh

    2008

    4

    Ca trù

    Di sản phi vật thể đại diện cho

    nhân loại cần bảo vệ gấp

    Bắc Bộ

    2009

    5

    Hội Gióng tại đền Phù Đổng và

    đền Sóc, Hà Nội

    Di sản phi vật thể

    Hà Nội

    2009

    6

    Hát xoan

    Di sản phi vật thể

    Phú Thọ

    2010

    7

    Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương

    Di sản phi vật thể đại diện cho

    nhân loại

    Phú Thọ

    2011

    8

    Đờn ca tài tử Nam Bộ

    Kiệt tác phi vật thể và truyền

    Nam Bộ

    2012

    Kiệt tác phi vật thể và truyền Nghệ An –

    khẩu của nhân loại

    Hà Tĩnh

    Di sản vật thể của Việt Nam được UNESCO công nhận

    Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh

    2.2. Quần thể di tích Cố đô Huế

    vietnamtourism.gov.vn

    2.4. Thánh địa Mỹ Sơn

    vietnamtourism.gov.vn

    2013

    2.3. Vịnh Hạ Long

    vietnamtourism.gov.vn

    2.5. Phố cổ Hội An

    vietnamtourism.gov.vn

    2.7. Hoàng Thành Thăng Long

    2.6. Phong Nha-Kẻ Bàng

    thiennhien.net

    2.8. Thành Nhà Hồ

    www.dulichvn.org.vn

    vietnamtourism.gov.vn

    2.9. Quần thể danh thắng Tràng An

    vietnamtourism.gov.vn

    2.1.2. Lễ hội

    Là sự kiện văn hóa được tổ chức mang tính cộng đồng. “Lễ” là hệ thống những

    hành vi, động tác nhằm biểu hiện sự tôn kính của con người với thần linh, phản ánh

    những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có

    khả năng thực hiện. “Hội” là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng,

    xuất phát từ nhu cầu cuộc sống.

    2.1.2.1. Thống kê lễ hội

    Theo thống kê 2009, hiện cả nước Việt Nam có 7.966 lễ hội; trong đó có 7.039

    lễ hội dân gian (chiếm 88,36%), 332 lễ hội lịch sử (chiếm 4,16%), 544 lễ hội tôn giáo

    (chiếm 6,28%), 10 lễ hội du nhập từ nước ngoài (chiếm 0,12%), còn lại là lễ hội khác

    (chiếm 0,5%). Các địa phương có nhiều lễ hội là Hà Nội, Bắc Ninh, Hà Nam, Hải

    Dương và Phú Thọ.

    Việt Nam là một quốc gia đã có hàng nghìn năm lịch sử. Cũng như nhiều quốc

    gia khác trên thế giới, Việt Nam có một nền văn hóa mang bản sắc riêng. Chính

    những nét đó làm nên cốt cách, hình hài và bản sắc của dân tộc Việt Nam.

    Trong kho tàng văn hóa của dân tộc Việt Nam, sinh hoạt lễ hội là vùng văn hóa

    rất đặc trưng. Lễ hội là sinh hoạt văn hóa dân gian hầu như có mặt ở khắp mọi

    miền đất nước. Nhiều lễ hội ra đời cách đây hàng nghìn năm đến nay vẫn được duy

    trì. Lễ hội ở Việt Nam bao giờ cũng hướng tới một đối tượng thiêng liêng cần suy tôn

    là nhân thần hay nhiên thần. Đó chính là hình ảnh hội tụ những phẩm chất cao đẹp

    nhất của con người. Giúp con người nhớ về nguồn cội, hướng thiện và nhằm tạo dựng

    một cuộc sống tốt lành, yên vui.

    Lễ hội truyền thống ở Việt Nam thường diễn ra vào mùa Xuân và số ít vào mùa

    Thu là hai mùa đẹp nhất trong năm, đồng thời cũng là lúc nhà nông có thời gian nhàn

    rỗi. Trong số các lễ hội Việt Nam thì phải kể đến những lễ hội chi phối hầu hết các gia

    đình trên mọi miền tổ quốc, đó là Tết Nguyên Đán, Lễ Vu Lan và tết Trung Thu. Gần

    đây một số lễ hội được nhà nước và nhân dân quan tâm như: Lễ hội đền Hùng,Lễ hội

    Tịch điền Đọi Sơn,Giáng Sinh, Hội Phật Tích.

    Một số lễ hội lớn ảnh hưởng cả một vùng rộng lớn, tiêu biểu như: hội

    Gióng (xứ Kinh Bắc), lễ hội đền Hùng (Xứ Đoài), lễ hội chùa Bái Đính, Hội Lim

    (Kinh Bắc) phủ Dày,(xứ Sơn Nam), lễ hội Yên Tử, lễ hội bà chúa Xứ (An Giang), Lễ

    hội pháo hoa Quốc tế Đà Nẵng (thành phố Đà Nẵng)…

    2.1.2.2. Phân cấp lễ hội

    Khác với các di tích Việt Nam đã được kiểm kê và phân cấp theo quy định, các

    lễ hội ở Việt Nam chưa được quy định phân cấp bài bản. Có những lễ hội bị biến

    tướng, trần tục hoá, mở hội tràn lan… nhiều ý kiến đề xuất việc kiểm kê các lễ hội

    trên toàn quốc để tiến tới phân cấp lễ hội theo các cấp: lễ hội cấp quốc gia, lễ hội cấp

    tỉnh, lễ hội cấp huyện và lễ hội cấp làng. Theo bà Lê Thị Minh Lý – Phó Cục trưởng

    Cục Di sản Văn hoá, điểm yếu trong việc quản lý lễ hội hiện nay đó là chưa có cơ sở

    dữ liệu khoa học và quan điểm tiếp cận đúng. Không nên đánh đồng giữa lễ hội và

    festival.

    Tùy vào từng thời điểm, vào chủ thể mà lễ hội hiện nay được tổ chức ở nhiều

    cấp khác nhau. Ví dụ như lễ hội đền Hùng được tổ chức ở quy mô quốc gia 5 năm/

    lần. Những năm số lẻ thì lại được tổ chức ở quy mô cấp tỉnh. Các lễ hội thường được

    tổ chức ở quy mô cấp tỉnh như hội Lim, lễ hội Lam Kinh (Thanh Hóa), lễ hội đền

    Trần (Nam Định)… Các lễ hội ở quy mô cấp huyện tiêu biểu như lễ hội đền Nguyễn

    Công Trứ ở Kim Sơn (Ninh Bình) vàTiền Hải (Thái Bình) để tưởng niệm người chiêu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Du Lịch Sông Cầu Phú Yên Có Gì Đẹp?
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Sông Cầu, Phú Yên (Cập Nhật 08/2020)
  • Du Lịch Thái Lan Nên Đi Tour Hay Đi Tự Túc?
  • Nên Đi Du Lịch Thái Lan Theo Tour Hay Tự Túc?
  • Khám Phá Du Lịch Bắc Kinh Vào Mùa Xuân
  • Khai Thác Tiềm Năng Du Lịch Từ Tài Nguyên Văn Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • 10 Lí Do Tại Sao Khách Du Lịch Yêu Thích Thái Lan
  • Tại Sao Du Lịch Thái Lan Ngày Càng Phát Triển Như Thế?
  • Tại Sao Phải Đi Du Lịch Côn Đảo Một Lần Trong Đời
  • Nên Đi Du Lịch Côn Đảo Thời Điểm Nào?
  • Du Lịch Côn Đảo Tự Túc Từ A
  • (QBĐT) – Quảng Bình là vùng đất chứa đựng rất nhiều di sản văn hóa gồm các di tích lịch sử, hệ thống hang động, lễ hội văn hóa và ẩm thực độc đáo cùng các làn điệu dân ca, dân vũ đặc trưng ở những vùng, miền… Chính sự phong phú về di sản văn hóa vật thể và phi vật thể là điều kiện quan trọng để tỉnh khai thác, phát triển du lịch bền vững. Tuy nhiên, việc phát huy giá trị của di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh ta thời gian qua chưa tương xứng với giá trị, tiềm năng vốn có. Tiềm năng chờ được khai mở

    Quảng Bình là địa phương có sự giao lưu và hội tụ văn hóa đa dạng trong tiến trình lịch sử của dân tộc. Vì vậy, nơi đây chứa đựng nhiều di sản văn hóa đặc sắc. Một số di tích lịch sử, văn hóa đã trở thành điểm đến yêu thích của khách du lịch, như: Khu mộ và nhà tưởng niệm Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đài tưởng niệm Thanh niên xung phong, hang Tám Cô, núi Thần Đinh, đền Công chúa Liễu Hạnh, chùa Hoằng Phúc, làng chiến đấu Cảnh Dương… Song, bên cạnh đó còn rất nhiều di sản chưa được khai thác thành sản phẩm du lịch để thu hút du khách trong nước và quốc tế.

    Ông Lê Hùng Phi, Chủ tịch Hội Di sản tỉnh cho biết: Về văn hóa vật thể, tuy số lượng không nhiều, song tỉnh ta hội tụ đủ 4 loại hình di tích: di tích lịch sử văn hóa, di tích khảo cổ, di tích kiến trúc, nghệ thuật, di tích danh thắng. Đó là các di sản tiêu biểu, như: đảo Chim, bãi biển Đá Nhảy, suối Bang, hệ thống hang động, di tích khảo cổ học Bàu Tró, hệ thống lũy Đào Duy Từ, chùa Hoằng Phúc, làng chiến đấu Cự Nẫm, ngầm Trạ Ang, bến phà Xuân Sơn… Hệ thống di tích Quảng Bình được kết nối liên hoàn theo hai chiều Bắc-Nam và Đông-Tây.

    Đây là điều hết sức quan trọng trong phát triển du lịch theo hai tuyến: con đường di sản miền Trung (theo hướng Bắc-Nam) và hành lang Đông-Tây (Việt Nam-Lào-các tỉnh Đông Bắc Thái Lan). Ngoài ra, tỉnh ta còn có nhiều giá trị văn hóa phi vật thể gồm các lễ hội truyền thống và các làn điệu dân ca, dân vũ độc đáo.

    Thực tế cho thấy, không ít tiềm năng chờ được khai mở và phát huy hiệu quả, như: tuyến đường Hồ Chí Minh, đường 12A với hàng chục di tích lịch sử ghi dấu hai cuộc kháng chiến trường kỳ và anh dũng của dân tộc (đèo Đá Đẽo, ngầm Khe Rinh, cầu Khe Ve, cổng trời Cha Lo, trận địa Nguyễn Viết Xuân…).

    Việc đầu tư các mô hình du lịch cộng đồng để tìm hiểu, khám phá nét sinh hoạt văn hóa đặc trưng của người Bru Vân Kiều, người Chứt, hay các hoạt động khác, như: du lịch tìm hiểu làng nghề truyền thống (nghề làm nón, nghề đan lát, nghề mộc chạm, rèn đúc… ở khắp các làng quê trong tỉnh); tìm hiểu các lễ hội văn hóa (lễ hội cầu ngư các xã vùng biển, lễ hội mồng 10 tháng ba làng Thổ Ngọa (Ba Đồn), lễ hội rằm tháng giêng làng Văn La (Lương Ninh, Quảng Ninh) và đưa các làn điệu dân ca, dân vũ (hò khoan Lệ Thủy, ca trù, hò biển, hát Kiều…) vào hoạt động du lịch chưa được quan tâm đúng mức.

    Theo thống kê, tỉnh ta hiện có 120 di tích được xếp hạng (gồm 52 di tích xếp hạng cấp quốc gia, 68 di tích xếp hạng cấp tỉnh) và các di sản văn hóa phi vật thể gồm lễ hội, nghệ thuật diễn xướng, các ngành nghề thủ công truyền thống, văn hóa ẩm thực… Đây là nguồn tài nguyên quý giá để phát triển du lịch bền vững.

    Tuy nhiên, việc khai thác các giá trị của di sản văn hóa trong phát triển du lịch ở tỉnh ta còn nhiều hạn chế. Điều dễ nhận thấy là cơ sở hạ tầng du lịch ở tỉnh ta chưa đồng bộ, sản phẩm du lịch từ di sản còn đơn điệu, chủ yếu mới phát huy những yếu tố lợi thế sẵn có, ít tính sáng tạo, do vậy giá trị chưa cao. Không ít di tích lịch sử, văn hóa đã xuống cấp nghiêm trọng như: Sở chỉ huy cơ bản của Bộ Tư lệnh 559 (xã Hiền Ninh, huyện Quảng Ninh), lăng mộ Trung Bình hầu Trần Bình Ngũ (Trường Thủy, huyện Lệ Thủy), đền Song Trung (Phù Hóa,Quảng Trạch), đình Vịnh Sơn (Quảng Đông, Quảng Trạch), miếu thờ Hiệp biện Đại học sĩ, Thái học Đường Trần Cảnh Huống (Văn Hóa, Tuyên Hóa)… Một số làn điệu dân ca, dân vũ ở các địa phương đã bị mai một hoặc đang đứng trước nguy cơ thất truyền.

    Khai thác song song với bảo tồn

    Tại hội thảo khoa học “Nghiên cứu khai thác tiềm năng du lịch Quảng Bình từ tài nguyên văn hóa” được Hội Di sản tỉnh tổ chức gần đây, nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu cho rằng: Di sản văn hóa là tài sản chung của quốc gia, nên việc khai thác tiềm năng di sản vào phát triển du lịch phải tính đến sự bền vững để bảo tồn, phát huy các giá trị của di sản. Và để đạt được điều đó cần có sự bắt tay chặt chẽ giữa những người làm du lịch và những người làm công tác quản lý di sản.

    Ông Đặng Đông Hà, Phó Giám đốc Sở Du lịch cho hay: Để các di tích tiêu biểu trở thành điểm đến hấp dẫn du khách, việc xây dựng các sản phẩm, dịch vụ du lịch được xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng của ngành Du lịch. Dưới góc nhìn du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp thì điểm đến du lịch phải đáp ứng đồng bộ các dịch vụ bổ trợ, như: khu nghỉ dưỡng, hàng lưu niệm, thưởng thức văn hóa, ẩm thực địa phương… Vì vậy, cần phải xây dựng các sản phẩm, loại hình du lịch hấp dẫn, như: du lịch về nguồn, du lịch hoài niệm, du lịch tâm linh, du lịch tìm hiểu văn hóa, lịch sử, du lịch cộng đồng… phù hợp với giá trị của các di tích; đồng thời, đưa các loại hình văn hóa phi vật thể vào khai thác nhằm làm phong phú thêm các sản phẩm du lịch. Qua đó, góp phần bảo tồn, phát huy các giá trị của tài nguyên văn hóa trong phát triển du lịch.

    Và để văn hóa “bắt tay” với du lịch, thời gian tới, ngành du lịch tỉnh ta sẽ tập trung triển khai nhiều hoạt động, trong đó đặc biệt chú trọng đến việc xây dựng các di tích tiêu biểu gắn với điểm đến và sản phẩm du lịch; đồng thời đẩy mạnh công tác quảng bá, liên kết du lịch… từng bước phát huy các giá trị của tài nguyên văn hóa để thúc đẩy du lịch phát triển theo hướng bền vững, trở thành ngành kinh tế mũi nhọn theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2022-2020 đã đề ra.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khai Thác Tốt Tiềm Năng Du Lịch Tự Nhiên Sẽ Tạo Đà Phát Triển Cho Du Lịch Hà Nội
  • Vĩnh Phúc Đẩy Mạnh Thu Hút Đầu Tư Và Du Lịch
  • Luận Văn Đề Tài Đánh Giá Tài Nguyên Du Lịch Nhân Văn Tỉnh Ninh Bình
  • Bảo Vệ Môi Trường Và Tài Nguyên Thiên Nhiên Trong Hoạt Động Du Lịch
  • Tiềm Năng Du Lịch Tây Bắc
  • Di Sản Văn Hóa Ở Đà Nẵng: Tài Nguyên Du Lịch Hấp Dẫn

    --- Bài mới hơn ---

  • Di Tích Lịch Sử, Văn Hóa Ở Đà Nẵng Đưa Vào Tour Du Lịch
  • 6 Kinh Nghiệm Bạn Cần Biết Trước Khi Thuê Xe Máy Ở Đà Nẵng (2018)
  • Kinh Nghiệm Thuê Xe Du Lịch Khi Tới Đà Nẵng
  • Kinh Nghiệm Thuê Xe Tự Lái Ở Đà Nẵng
  • Kinh Nghiệm Thuê Xe Máy Ở Đà Nẵng
  • Đà Nẵng không có nhiều di sản văn hóa nhưng chính quyền thành phố này đang làm tốt và phát huy vai trò của di sản văn hóa với phát triển du lịch.

    Thành phố Đà Nẵng không có nhiều di sản văn hóa như các địa phương khác. Thế nhưng, mấy năm trở lại đây, thành phố này đã phát huy nét độc đáo của các di sản văn hóa lịch sử làm đa dạng hóa sản phẩm du lịch, níu chân du khách. Di sản văn hóa ở Đà Nẵng đang trở thành tài nguyên du lịch hấp dẫn tạo nền tảng cho phát triển du lịch bền vững.

    Danh thắng Ngũ Hành Sơn vừa được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia đặc biệt.

    Đà Nẵng mang trong mình nhiều câu chuyện về lịch sử và văn hóa thú vị. Di tích lịch sử Thành Điện Hải là đồn lũy quan trọng góp phần đánh bại cuộc tấn công của thực dân Pháp vào Đà Nẵng những năm 1858 – 1860. Di tích Hải Vân Quan là một công trình quân sự do triều đình nhà Nguyễn xây dựng trên đỉnh đèo Hải Vân vào năm 1862 để bảo vệ kinh thành Huế và giám sát các hoạt động ở cửa biển Đà Nẵng. Di tích Nghĩa trũng Khuê Trung ghi dấu ấn lịch sử những ngày đầu đấu tranh chống thực dân Pháp… Đây là những chứng tích có ý nghĩa lịch sử, tạo điều kiện cho du lịch Đà Nẵng phát triển.

    Anh Koen Seys, du khách đến từ nước Bỉ cho biết: “Việt Nam thực sự là điểm thu hút du khách, có nhiều địa điểm bảo tồn di tích lịch sử rất tốt. Tôi đặc biệt ấn tượng với Đà Nẵng, ở đây có cảnh quan núi đồi hùng vĩ, nhiều địa danh lịch sử ấn tượng. Đúng là địa điểm du lịch tuyệt vời”.

    Một trong những điểm tham quan du lịch tâm linh thu hút du khách đến Đà Nẵng là di tích danh thắng Ngũ Hành Sơn. Đến với Ngũ Hành Sơn là về nơi cửa Phật, sống trong không gian huyền ảo của tiếng chuông chùa, chốn thanh tịnh nơi chùa chiền, hang động.

    Nơi đây, có một hệ thống hang động thạch nhũ mát lạnh, thật huyền bí, kỳ diệu. Nếu như trước đây, danh thắng Ngũ Hành Sơn chỉ đón khách trong mùa lễ hội thì vài năm trở lại đây, khách thập phương tìm đến quanh năm. Để thu hút du khách, danh thắng này đã được đầu tư, xây dựng nhiều sản phẩm du lịch gắn với khu dịch vụ đầy đủ tiện nghi. Hiện nay, trung bình mỗi ngày danh thắng Ngũ Hành Sơn đón 1.500 đến 2.000 khách.

    Ông Nguyễn Văn Hiền, Trưởng Ban Quản lý khu du lịch thắng cảnh Ngũ Hành Sơn cho biết, lượng khách đến tham quan ngày càng đông, hàng năm, tiền vé thu được từ khu danh thắng này hơn 65 tỷ đồng: “Du khách đến Ngũ Hành Sơn ngày một đông hơn. Thường thường du khách là những bậc trung niên, lớn tuổi người ta rất ý thức được di tích lịch sử Ngũ Hành Sơn muốn đến khám phá, tìm hiểu. Cho nên họ đến thăm quan với 2 mục đích rõ ràng. Mục đích thứ nhất là đến chiêm ngưỡng di tích cấp quốc gia, thứ hai là người ta hướng về tâm linh, thiện tâm”.

    Hải Vân Quan đang là điểm đến thu hút khách du lịch nước ngoài.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Học Nhanh Trung Cấp Ô Tô Ở Đà Nẵng
  • Kỷ Luật Cán Bộ Y Tế Ở Quảng Ninh Không Tự Cách Ly Sau Khi Từ Đà Nẵng Về
  • Học Trung Cấp Hướng Dẫn Viên Du Lịch Ra Làm Gì?
  • Học Chính Quy Trung Cấp Du Lịch Ở Huyện Gia Lâm
  • Học Chính Quy Trung Cấp Du Lịch Ở Đà Nẵng
  • Luận Văn Đề Tài Lễ Hội Dân Gian Với Phát Triển Du Lịch Văn Hóa Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Phát Triển Mô Hình Du Lịch Văn Hóa Ở Việt Nam
  • Liên Kết Hợp Tác Phát Triển Du Lịch Vùng Tây Bắc Mở Rộng
  • Tạo Bước Đột Phá Phát Triển Du Lịch Vùng Tây Bắc
  • Tphcm Nhiều Tiềm Năng Phát Triển Sản Phẩm Du Lịch Y Tế
  • Tiềm Năng Phát Triển Sản Phẩm Du Lịch Y Tế Thành Phố Hồ Chí Minh
  • Đất nước Việt Nam có tiềm năng du lịch rất phong phú và đa dạng, có sức hấp dẫn lớn chẳng những đối với khách du lịch trong nước mà còn với khách du lịch quốc tế và bà con Việt kiều ở xa Tổ quốc. Chúng ta có đủ điều kiện để đa dạng hóa các loại hình du lịch từ tham quan, nghỉ mát điều dưỡng, tắm biển, leo núi, thể thao đến nghiên cứu khoa học. và có khả năng tiếp nhận một số lượng lớn du khách. Về mặt tự nhiên, Việt Nam có nhiều cảnh đẹp, cảnh thiên nhiên có những nét hùng vĩ nên thơ của núi rừng như Sapa mờ ảo trong sương, như Đà Lạt – thành phố thông reo, hay vịnh Hạ Long – di sản thiên nhiên của thế giới Bên cạnh tiềm năng về mặt tự nhiên, Việt Nam còn có một kho tàng văn hóa – lịch sử phong phú. Đó là những di tích khảo cổ học minh chứng cho nền văn hóa Đông Sơn, Hòa Bình. nổi tiếng từ hồi tiền sử, những di tích lịch sử còn được bảo tồn nguyên hiện trạng hoặc sưu tầm được qua các triều đại lịch sử nước ta, rất có giá trị về mặt khoa học và giáo dục truyền thống, truyền bá kiến thức như Đền Hùng, Hoa Lư, chùa Tây Phương, Huế, Thánh Địa Mỹ Sơn, phố cổ Hội An. Những lễ hội truyền thống như hội Đền Hùng (Vĩnh Phú), hội Dóng (Hà Nội), hội chùa Dâu ( Bắc Ninh ), hội chùa Keo (Thái Bình), những nền văn nghệ dân gian với các nhạc cụ độc đáo (t’rưng, Krông put.) với các điệu múa đặc sắc của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Ngoài ra, chúng ta cũng có rất nhiều các mặt hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống như mây tre đan, sơn mài, gốm sứ, thêu đan, chạm khắc, các sản phẩm từ cói v.v. đạt trình độ thẩm mỹ cao, hoàn toàn có thể thỏa mãn nhu cầu các loại khách du lịch. Trong vài năm trở lại đây chúng ta thường hay nói tới một loại hình du lịch mới mà cũ đó là du lịch văn hoá. Trong hệ thống các nguồn tài nguyên phục vụ cho phát triển du lịch văn hoá có một nguồn tài nguyên hết sức quan trọng mà dường như từ lâu đã bị mai một, đó chính là các lễ hội dân gian ở Việt nam. Với mục tiêu làm rõ vai trò, ý nghĩa của lễ hội dân gian trong việc phát triển du lịch văn hoá ở Việt nam em đã chọn đề tài nghiên cứu : “Lễ hội dân gian với phát triển du lịch văn hoá ở Việt nam”. Với đề tài trên, trong bài viết này em xin được trình bày những nội dung sau: Phần I : Lễ hội dân gian, tính chất và đặc điểm của lễ hội dân gian ở Việt nam. Phần II : Lễ hội dân gian với phát triển du lịch văn hoá ở Việt nam. I-Những nét khái quát về du lịch văn hoá. II- Vai trò của lễ hội dân gian trong việc phát triển du lịch văn hoá. III-Một số lễ hội tiêu biểu ở miền bắc Việt nam. 1. Lễ hội Đền Hùng. 2. Lễ hội chọi trâu Đồ Sơn. 3. Lễ hội chùa Hương. Phần III : Những điều kiện để thu hút khách đến với các lễ hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Năm 2022, Năm Bản Lề Phát Triển Mới Của Du Lịch Thừa Thiên Huế
  • Thừa Thiên Huế Hướng Đến Phát Triển Du Lịch Thông Minh Và Bền Vững
  • Bắt Đầu Từ Thế Mạnh Đang Có
  • Đẩy Mạnh Liên Kết Phát Triển Du Lịch Tây Bắc
  • Phát Triển Du Lịch Tây Bắc
  • Ảnh Hưởng Của Văn Hóa Nước Ngoài Trên Văn Hóa Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Nên Đi Phú Quốc Bằng Phương Tiện Gì
  • Tầm Nhìn Trong Chiến Lược Phát Triển Du Lịch Quảng Ninh
  • Du Lịch Phú Quốc Bằng Phương Tiện Gì?
  • Mẹo Chuẩn Bị Hành Lý Khi Đi Du Lịch Thái Lan
  • Mẹo Vặt Khi Đi Du Lịch Thái Lan Để Không Bị Bỡ Ngỡ
  • Việt Nam là một nước được coi như là điểm hội tụ của các nền văn hóa Đông – Tây và dĩ nhiên cũng là nước chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của hai nền văn hóa Phương Đông.

    Khi nói đến văn hóa Phương Đông cũng như nói đến sự ảnh hưởng của nó lên văn hóa Việt Nam thì người ta nghĩ ngay đến nền văn hóa vĩ đại Trung Hoa. Nền văn hóa Trung Hoa vừa mang tính cách đa dạng cả về văn hóa tinh thần lẫn văn hóa vật chất vừa có bề dày lịch sử vào hàng nhất nhì thế giới. Văn hóa Trung Hoa đã ảnh hưởng một cách sâu đậm đến hầu như toàn bộ khu vực Đông Nam Á. Đặc biệt đối với văn hóa Việt Nam thì văn hóa Trung Hoa đã để lại nhiều dấu ấn và chứng tích đậm nét ăn sâu vào cả văn hóa tinh thần lẫn văn hóa vật chất. Nó đã gắn liền với các sinh hoạt trong đời sống của người dân Việt Nam từ xưa tới nay.

    Hoàn cảnh và thời gian thâm nhập vào Việt Nam

    Song song với mục tiêu chính trị – quân sự và thương mại, văn hóa Trung Hoa đã du nhập vào Việt Nam theo bước chân của các đạo quân xâm lược qua các thời kỳ xâm chiếm Việt Nam. Theo lịch sử Việt Nam, Trung Hoa xâm lược và cai trị Việt Nam trên một ngàn năm qua ba thời kỳ chính:

    – Thời kỳ thứ nhất, thời nhà Triệu, từ năm 207 – 39 TCN

    – Thời kỳ thứ hai, thời Đông Ngô, từ năm 43 – 543

    – Thời kỳ thứ ba, thời nhà Đường, từ năm 603 – 939

    Ba cuộc xâm lược kéo dài này, là thời gian văn hóa Trung Hoa luôn hiện diện trên đất nước Việt Nam, còn người Việt thì luôn phải tiếp cận và phải sống với nền văn hóa khổng lồ này để rồi nó đi sâu vào trong máu thịt của hàng trăm thế hệ người Việt Nam và chiếm lĩnh hầu hết vị trí của văn hóa thuần túy Việt Nam. Ngoài ba cuộc xâm lược kéo dài này, còn có một số cuộc xâm chiếm khác nữa đã làm cho văn hóa Việt Nam trở nên điêu tàn nhường chỗ cho văn hóa Phương Tây.

    Trong mấy thế kỷ tiếp xúc và giao lưu với văn hóa Phương Tây, văn hóa Việt Nam đã chịu ảnh hưởng khá sâu đậm vào nhiều lĩnh vực, cả trên văn hóa tinh thần lẫn văn hóa vật chất. Thế nhưng tùy lúc tùy nơi, người Việt có thể chấp nhận hay chống đối, nhưng bao giờ cũng là một sự thâu hóa linh hoạt, tiếp nhận những gì có ích và biến đổi cho phù hợp với tính cách, điều kiện và nhu cầu của người dân.

    Thời gian và hoàn cảnh thâm nhập

    Thời gian thâm nhập của văn hóa Phương Tây có thể manh nha từ thế kỷ XVI – XVII khi các giáo sĩ Phương Tây đến truyền đạo Kitô giáo. Ngoài ra, song song với tôn giáo, văn hóa Phương Tây còn đi vào Việt Nam bằng con đường chính trị, kinh tế, thương mại,… Chúng ta có thể chia thời gian và hoàn cảnh thâm nhập của văn hóa Phương Tây thành 4 thời kỳ chính:

    – Khởi đầu là thời kỳ thâm nhập của Kitô giáo

    – Thời kỳ thực dân xâm lược và giao lưu với văn hóa Pháp (1858 – 1945)

    – Thời kỳ giao lưu với văn hóa XHCN Max-Lênin (1945 trở đi)

    – Thời kỳ hiện tại, giao lưu với văn minh văn hóa nhân loại.

    PHẬT GIÁO

    Quá trình xâm nhập, phát triển và những bước thăng trầm của Phật giáo ở Việt Nam

    Đầu công nguyên (thế kỷ II) các nhà sư Ấn Độ đã đến Việt Nam theo đường biển và thiết lập ở Luy Lâu, trị sở quận Giao Chỉ, một trung tâm Phật giáo lớn.

    Đến thế kỷ IV – Việt Nam lại có thêm luồng Phật giáo Đại Thừa Bắc Tông từ Trung Hoa tràn vào Việt Nam và chẳng mấy chốc nó đã lấn át và thay thế luồng Nam Tông có từ trước đó. Vì thâm nhập vào Việt Nam trong bầu khí hòa bình nên Phật giáo đã phổ biến rộng khắp ngay từ thời Bắc Thuộc và tiếp tục phát triển sau này.

    Đến thời Lý – Trần Phật giáo Việt Nam phát triển tới mức cực thịnh. Nhiều chùa chiền được xây khắp cả nước. Dân chúng tô tượng, đúc chuông, sùng bái Phật Thích Ca.

    Sang đời nhà Lê, nhà nước tuyên bố lấy Nho giáo làm quốc giáo; Phật giáo bị phái Nho công kích, triều đình không săn sóc nên Phật giáo đi vào con đường suy thoái.

    Đến thời Pháp thuộc Phật giáo càng bị chèn ép và suy kém rất nhiều. Tuy nhiên cho đến nay số tín đồ Phật giáo vẫn chiếm một con số rất lớn tại Việt Nam và có nhiều ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống của người dân Việt Nam.

    Ảnh hưởng của Phật giáo đến văn hóa Việt Nam

    Phật giáo với tư cách là những giáo lý cao sâu, trừu tượng, thuần túy mang tính bác học hầu như lại ít ảnh hưởng tới đại đa số quần chúng. Cái ảnh hưởng lên lớp bình dân lại là những tư tưởng cơ bản nhưng đơn giản, dễ hiểu, nếp sống đạo đức, tác phong của các nhà sư.

    Từ khi du nhập, theo suốt chiều dài lịch sử, Phật giáo luôn có mặt, gắn bó mật thiết với dân tộc và hầu như đã thấm sâu vào máu thịt của con người Việt Nam. Bởi vậy dù trực tiếp hay gián tiếp, hầu hết người Việt đều chịu ảnh hưởng của Phật giáo.

    a/. Con người Việt Nam và thuyết nhân quả của Phật giáo

    Phật giáo cho rằng mối quan hệ cơ bản phổ biến của mọi sự vật hiện tượng là quan hệ nhân quả. Quan niệm này có ảnh hưởng rất lớn đến quan niệm về thế giới quan và nhân sinh quan của đại đa số người Việt. Người ta luôn nói với nhau: “gieo nhân nào thì gặt quả ấy”, “gieo gió gặt bão”, xem cái gì cũng là kết quả của một cái trước. Mỗi khi gặp sự việc gì xảy đến cho bản thân, người Việt dễ cho là phải có một nguyên nhân nào đó. Luật nhân quả có tác dụng trực tiếp là khuyên người ta làm thiện, tránh ác vì nhân nào thì quả ấy, thiện giả thiện báo, ác giả ác báo. Từ đây cũng dẫn đến quan niệm làm phúc để lại cho con cháu; cha ăn mặn, con khát nước. Trong nhiều trường hợp động lực thúc đẩy người Việt sống lương thiện chính là để tích đức lại cho con cháu.

    b/. Người Việt và quan niệm về cái Tâm của Phật giáo

    Phật giáo cho rằng cái tâm con người rất quan trọng, nó chi phối tất cả con người ta, “nhất thiết duy tâm tạo”, mọi thứ đều do tâm tạo ra. Quan niệm này đã ảnh hưởng sâu xa đến cách cư xử của người Việt Nam. Ngay trong quan hệ giữa người với người ở nước ta từ xưa đến nay dân ta đều coi trọng cái tâm. Trong mọi việc, vấn đề quan trọng là tấm lòng, là thành tâm, thực bụng. Đây là truyền thống quý báu của người Việt Nam với sự góp phần rất lớn của Phật giáo. Nguyễn Du đã thấm nhuần tinh thần này của Phật giáo và đã thốt lên trong tác phẩm của mình: “Thiện căn ở tại lòng ta. Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”.

    c/. Lòng từ bi của Phật giáo và tâm hồn khoan dung của con người Việt Nam

    Lòng từ bi của Phật giáo đã thấm nhập vào tâm hồn người Việt vốn mang trong mình hòa tính và nữ tính – nét đặc trưng của văn hóa nông nghiệp – để tạo nên bản tính hiếu hòa, khoan dung nơi tâm hồn người Việt. Điều này được chứng nghiệm qua các cuộc chiến tranh ở nước ta. Các cuộc chiến tranh xảy ra ở nước ta đều xuất phát từ ý đồ xâm lược của kẻ ngoại xâm, người Việt chỉ chiến đấu để bảo vệ chủ quyền của đất nước mình mà thôi. Trong các cuộc chiến khi mà kẻ địch không còn khả năng chống cự, người Việt không nỡ lòng nào giết họ. Trong nhiều trường hợp các tướng không những không giết quân giặc mà còn cấp thuyền, ngựa, lương thực cho họ được về nước. Tư tưởng này còn thể hiện rõ trong thái độ của Nguyễn Trãi: “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn. Lấy chí nhân để thay cường bạo”.

    Quan niệm “nhu thắng cương”, “nhược thắng cường” đã được các thế hệ cha ông ta truyền lại cho nhau thể hiện rõ lòng khoan dung của người Việt, nhờ sự góp phần không nhỏ của Phật giáo.

    d/. Phật giáo và các lễ hội ở Việt Nam

    Lễ hội đóng một vai trò quan trọng trong sinh hoạt văn hóa của người Việt. Trong số những lễ hội lớn có một phần đóng góp không nhỏ của Phật giáo. Đến ngày hội dân chúng không những tại địa phương mà có khi còn từ các tỉnh khác tới tham dự lễ hội rất đông. Nhiều lễ hội có nguồn gốc từ Phật giáo đã trở nên như máu thịt, như một phần không thể thiếu trong sinh hoạt văn hóa của người Việt Nam. Một trong số những lễ hội đó có thể kể đến như Hội Chùa Hương ở tỉnh Hà Tây. Hội mở từ đầu tháng Giêng cho đến hết tháng Hai, ngày hội chính là ngày rằm tháng Hai. Hội Chùa Thầy mở vào ngày mồng bảy tháng ba âm lịch hằng năm tại tỉnh Hà Tây. Hội Đền Linh Sơn Thánh Mẫu tại núi Bà Đen, Tây Ninh. Hằng năm vào dịp xuân, từ mồng 10 tháng Giêng dân chúng các nơi tới hành hương lễ bái rất đông, nhất là ngày 15 tháng Giêng. Hội Miếu Bằng Lăng được tổ chức hằng năm vào ngày 15 và 16 tháng Ba âm lịch tại tỉnh An Giang,…

    NHO GIÁO Nho giáo và sự phát triển tại Việt Nam

    Ngay từ đầu công nguyên Nho giáo đã được truyền bá vào Việt Nam. Tuy nhiên, vì đây là thứ văn hóa của kẻ xâm lược áp đặt nên, ngoài một số người Việt đỗ đạt được bổ nhiệm làm quan trong bộ máy cai trị Trung Hoa, trong suốt thời kỳ Bắc thuộc (207 – 906 TCN), Nho giáo tuy đã được đưa vào Việt Nam nhưng chưa có chỗ đứng trong xã hội Việt Nam.

    Đến thời tự chủ, Nho giáo bắt đầu phát triển tại Việt Nam. Với sự kiện Lý Thái Tổ (Lý Nhân Tông) cho lập văn miếu thời Khổng Tử năm 1070, có thể coi đây là lúc Nho giáo được tiếp nhận chính thức.

    Nho giáo được xem là thịnh hành nhất trong thời nhà Lê khi mà Nho giáo được coi như là Quốc giáo. Nho giáo còn hưng thịnh cho đến thời Pháp thuộc từ năm 1858 thì bị Pháp lấn át và bãi bỏ các kỳ thi về Nho học. Và cứ như thế, Nho giáo dần mất chỗ đứng không những trong xã hội mà còn phai nhạt dần trong lòng người Việt.

    Ảnh hưởng của Nho giáo tại Việt Nam

    Nho giáo đã có một sự ảnh hưởng khá sâu rộng lớn đến nhiều mặt của cuộc sống của người Việt trong một thời gian dài. Nhiều khi Nho giáo lại uyển chuyển để thích nghi với nền văn hóa của Việt Nam để rồi bị Việt Nam hóa. Vì thế có nhiều điểm ta không biết được đâu là văn hóa thuần Việt Nam và đâu là ảnh hưởng của Nho giáo. Tuy thế Nho giáo đã để lại nhiều ảnh hưởng rõ nét trên hai bình diện chính là gia đình và xã hội.

    Có thể khẳng định rằng văn hóa truyền thống của người Việt mang tính mẫu hệ giống như một số dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay như Chăm, Êđê, … Chính Nho giáo đã mang vào Việt Nam quan niệm phụ hệ.

    Nho giáo coi gia đình là đơn vị để xây nên sự vững mạnh cho đất nước nên gia đình cần phải có trật tự trên dưới rõ ràng. Với địa vị độc tôn của người cha trong gia đình, có quyền quyết định mọi việc trong nhà giống như một ông vua có quyền tuyệt đối trên các quan và thần dân.

    Trong gia đình con cái phải tuyệt đối vâng lời cha mẹ, ngay cả trong việc hôn nhân con cái cũng phải theo sự hướng dẫn của cha mẹ: cha mẹ đặt đâu con ngồi đó. Ngoài ra con cái phải sống với cha mẹ cho tròn chữ hiếu và hiếu là một việc bắt buộc đối với bổn phận làm con: “Một lòng thờ mẹ kính cha. Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”.

    Thế nào là sống tròn chữ hiếu? Con cái được xem là có hiếu khi biết săn sóc, phụng dưỡng cha mẹ thật chu đáo khi còn sống khỏe mạnh cũng như lúc đau yếu, khi về già. Lúc cha mẹ qua đời còn phải chu toàn chữ hiếu bằng cách lo tang tế đàng hoàng, lại còn phải nhang khói đầy đủ để thờ phượng cha mẹ nữa.

    Người phụ nữ bị xem là bị lệ thuộc vào người đàn ông trong suốt cuộc đời của mình. Với quan niệm tam tòng: tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử, nghĩa là ở gia đình phải theo cha, lấy chồng phải theo chồng và chồng chết thì phải theo con. Quan niệm nam tôn nữ ti hay trọng nam khinh nữ, mặc dù đã bị khúc xạ do bản chất mẫu hệ của văn hóa Việt Nam, nhưng đã một thời ảnh hưởng rất mạnh và nay vẫn còn hằn sâu trong tâm thức của người Việt, nhất là ở các vùng quê: nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô.

    Nho giáo nhấn mạnh đến vấn đề đạp nghĩa trong cuộc sống thường ngày giữa người với người, đề cao chữ nhân trong cách ứng xử của con người vì nhân và nghĩa là hai đức tính được đề cao hàng đầu trong Ngũ thường (Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín). Người Việt đã chịu ảnh hưởng sâu xa của quan niệm này, vì thế cho đến ngày nay người Việt vẫn luôn coi trọng đạo nghĩa. Sống với nhau phải có đạo nhân, nghĩa, không làm những việc trái với luân lý, nghĩa là trái với những điều được vạch ra trong Ngũ thường. Hơn nữa, trong các mối quan hệ thì phải biết tôn trọng lẫn nhau, lại phải biết kính trên, nhường dưới.

    Một nét ảnh hưởng nữa có thể kể đến là các loại nghi thức tế tự. Bao nhiêu nghi thức tiết lễ của Nho giáo đã dần được áp dụng trong việc phụng thờ của các tôn giáo khác, đáng kể hơn hết là trong đạo Thờ Phụng Tổ Tiên, đạo thờ Thần,…

    III. ĐẠO GIÁO (LÃO GIÁO) Bối cảnh hình thành Lão giáo và sự truyền bá vào Việt Nam

    Vào thời Lão Tử, người đời chuộng lễ nghĩa, chú ý rất nhiều đến những điều vụn vặt, làm bận tâm trí con người và vì những điều câu nệ tỉ mỉ đã làm mất đi cái khoáng đạt của tâm hồn. Trước tệ đoan đó, Lão Tử có ý muốn sửa đổi lại để con người sống theo lẽ tự nhiên. Vì thế với tôn chỉ vô vi, Lãi Tử đã lập nên Lão giáo.

    Lão giáo thâm nhập vào Việt Nam vào khoảng cuối thế kỷ II qua các đạo sĩ chạy lánh nạn đến Việt Nam. Ngay khi đến Việt Nam, Lão giáo đã tìm thấy những tín ngưỡng tương đồng đã có sẵn từ lâu vì người Việt từ xa xưa đã rất sùng bái ma thuật, phù phép; họ tin rằng các lá bùa, những câu thần chú có thể chữa bệnh, đuổi tà ma, tăng sức mạnh,… Đến thời Đinh Tiên Hoàng, văn hóa Lão giáo khá phát triển, nhưng không thịnh bằng đạo Phật và đạo Nho. Lão giáo ở Việt Nam chia làm hai phái chính: Lão giáo phù thủy và Lão giáo thần tiên.

    Ảnh hưởng của Lão giáo tại Việt Nam

    Vì Lão giáo được chia làm hai nhánh chính nên ảnh hưởng của nó tại Việt Nam cũng chia làm hai hướng rõ rệt, mối hướng ảnh hưởng lên từng tầng lớp khác nhau trong xã hội.

    Lão giáo phù thủy tác động khá sâu sắc đến tầng lớp bình dân khi họ tiếp cận văn hóa Lão giáo ở khía cạnh thần tiên, huyền bí; họ tin vào phép bói toán, tu luyện, phù thủy,… Do vậy, lối tiếp cận này đã dần mê tín dị đoan như xem bói, cúng, quảy, làm phép để trừ khử ma quỷ, lập đền miếu để thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế, Hải Thượng Lãn Ông,… và qua hệ thống đồng cốt để cầu xin giàu sang phú quý và chữa bệnh. Đền Ngọc Sơn (Hà Nội), điện Hòn Chén (Huế), điện Bà Chúa Xứ (An Giang) và các đền miếu khác là những nơi tín đồ Lão giáo thường tụ họp vào ngày rằm, mồng một hoặc các ngày lễ lớn khác để cầu xin, lên đồng, chữa bệnh,…

    Lão giáo thần tiên lại ảnh hưởng lên tầng lớp trí thức, đặc biệt là một số nhà Nho Việt Nam. Sinh không gặp thời, gặp chuyện bất bình ở chốn quan trường hay chỉ đơn giản là thích cuộc sống nhàn hạ, phóng khoáng, chán chường danh lợi, “nhìn xem phú quí tựa chiêm bao”, nên khi về già thường lui về sống ẩn dật, vui thú với thiên nhiên, bên chén rượu, bàn cờ, ngâm thơ; sống điều độ với tinh thần thanh thản trong khung cảnh thiên nhiên. Tiêu biểu có các nhà Nho như Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phan Huy Ích, Nguyễn Công Trứ,…

    KITÔ GIÁO

    Có tài liệu cho rằng chân phước Ordorico Di Pordenone đã đến Chiêm Thành (Việt Nam ngày nay) vào tiền bán thế kỷ XIV. Tuy nhiên không có bằng chứng chắc chắn là Kitô giáo đã được truyền vào Việt Nam thời đó.

    Từ sau năm 1550 một số tu sĩ Đaminh đã vào Việt Nam truyền giáo, đến năm 1586 lại có thêm các tu sĩ dòng Phanxicô vào Việt Nam, nhưng việc truyền giáo kém hiệu quả vì vấn đề bất đồng ngôn ngữ.

    Sang đầu thế kỷ XVII có thêm các tu sĩ Dòng Tên vào truyền giáo tại Việt Nam. Nhiều giáo sĩ Dòng Tên thông thạo tiếng Việt Nam, lại hoạt động khôn khéo nên mặc dù gặp khó khăn phức tạp, có khi đổ máu nhưng thu hút được khá nhiều người theo đạo và cứ thế việc truyền giáo phát triển với số Kitô hữu tăng lên đều đặn.

    Đến thế kỷ XVIII việc cấm đạo trở nên gay gắt, với các sắc chỉ cấm đạo của các chúa Minh Vương, Võ Vương, đặc biệt trong ba đời vua của triều Nguyễn là Minh Mệnh, Thiệu Trị và Tự Đức có tất cả 14 sắc chỉ cấm đạo Công Giáo. Nhiều nhà thờ bị đốt phá, giáo dân bị tù đày, giáo sĩ bị giết,…

    Sau khi chiếm được Việt Nam, nhất là sau khi thiết lập được chế độ thống trị, Pháp đã dành cho các giáo sĩ của Hội Thừa Sai Paris nhiều điều kiện thuận lợi cho việc truyền giáo. Vì thế hàng ngàn cơ sở tôn giáo được triển khai xây dựng, số tín hữu ngày càng tăng nhanh.

    Mãi đến năm 1933, sau hơn 400 năm truyền đạo, Giáo hội Việt Nam mới được quyền tự quản với vị giám mục đầu tiên là Nguyễn Bá Tòng. Năm 1960 hàng giáo phẩm Việt Nam được chính thức thành lập và từng bước xây dựng và phát triển cho đến ngày nay.

    ***

    PHẦN II: SỰ ẢNH HƯỞNG VỀ NGÔN NGỮ

    Tiếng Việt ngày nay chịu ảnh hưởng khá lớn từ hai dòng chính là Trung Hoa và Tây Âu

    TRUNG HOA

    Ngay từ đầu công nguyên, từ khi có sự đô hộ phương Bắc, tiếng Hán đã được sử dụng ở Giao Châu với tư cách một sinh ngữ. Người Hán muốn đồng hóa tiếng nói của dân tộc Việt, nhưng tiếng Việt vốn đã có cơ sở vững vàng từ trước vẫn tiếp tục tồn tại. Tuy nhiên, trải qua hàng ngàn năm, một số lẻ tẻ từ Hán thường dùng đã được người Việt vay mượn để lấp chỗ thiếu hụt trong tiếng Việt như: buồng, buồn, muộn, mây, muỗi, đục, đuốc,… Cuối thời đô hộ, người Hán mở nhiều trường học, văn ngôn Hán được truyền bá rộng rãi cùng với kinh, sử, tử, tập. Sang thời tự chủ, tiếng Hán và chữ Hán vẫn được các triều đại phong kiến Việt Nam tiếp tục sử dụng trong cơ quan hành chính, trường học, khoa cử cũng như trong sáng tác văn chương. Nhưng lúc này tiếng Hán đã mất tính cách là một sinh ngữ; tiếng Hán không được đọc theo âm Hán của người Hán. Người Việt đã tạo ra âm Hán Việt là cách đọc chữ Hán của riêng người Việt trên địa bàn Việt Nam. Âm Hán Việt đã tạo điều kiện để chuyển tải hàng loạt từ Hán du nhập vào tiếng Việt. Những từ này có thể giữ nguyên nghĩa, cũng có thể chuyển đổi nghĩa theo hướng Việt hóa.

    Vào những thế kỷ cuối cùng, các nước châu Á bắt đầu chịu ảnh hưởng của tư tưởng tư sản châu Âu qua cửa ngõ Nhật Bản. Người Nhật đã dùng chữ Hán trong văn tự của họ để phiên dịch các khái niệm của châu Âu, sau đó người Hán lại đọc các từ đó theo âm Hán và người Việt Nam lại đọc các từ này theo âm Hán Việt, ví dụ như các từ: dân chủ, cộng hòa, giác ngộ, giai cấp, kinh tế, chính trị, xã hội, cách mạng, quần chúng, quyền lợi, tư sản,…

    Từ đầu thế kỉ XX và đặc biệt sau Cách mạng tháng Tám 1945, những từ này đã ồ ạt đi vào tiếng Việt cùng với những từ Hán Việt để tạo thành những từ riêng của mình như đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn, đại bác, phi công, náo động, thiếu tá, trung tá,…

    Sau khi âm Hán Việt đã hình thành, trong tiếng Việt vẫn có những biến đổi ngữ âm. Những biến đổi này có thể tác động vào một bộ phận tự Hán Việt, nhất là những từ sinh hoạt, làm cho những từ này phát sinh ra âm mới như: gan, gương, dừng, vốn, vạch,… Những từ này cũng có những nét ngữ nghĩa và phong cách riêng khác với từ Hán Việt và thường được gọi là từ Hán Việt Việt Hóa.

    TÂY ÂU

    Hậu bán thế kỷ XVII các nhà truyền giáo người Tây Ban Nha, Ý, Pháp sang truyền giáo tại Việt Nam thì khó khăn họ gặp phải đầu tiên là vấn đề ngôn ngữ. Vì thế, với sự góp công to lớn của giáo sĩ Alexandre de Rhodes và một số giáo sĩ khác, họ đã dùng mẫu tự Latinh, có bổ sung thêm các dấu phụ để ghi âm tiếng Việt; và thứ chữ đó được gọi là chữ Quốc ngữ. Hơn nữa họ còn soạn nhiều cuốn từ điển như Việt – Bồ, Bồ – Việt, Việt – Bồ – La, nhờ đó người Việt có thể học chữ quốc ngữ dễ dàng hơn nhiều so với chữ Nôm trước đó. Vì dễ học, dễ nhớ nên chữ Quốc ngữ ngày càng được nhiều người học và nó đã góp phần rất lớn trong việc phổ cập giáo dục và nâng cao dân trí của người Việt Nam lúc bấy giờ. Kết quả là nhiều tác phẩm bằng chữ Quốc ngữ đã ra đời và đến năm 1856 khoa báo chí bằng tiếng Việt được hình thành. Tờ báo đầu tiên do Ernest Potteaux làm chánh tổng tài được phát hành, số đầu tiên ra ngày 15-01-1865. Tờ báo này được gọi là Gia Định báo.

    ***

    PHẦN III: SỰ ẢNH HƯỞNG VỀ GIÁO DỤC

    ẢNH HƯỞNG CỦA TRUNG HOA

    Giáo dục gia đình

    Theo truyền thống cổ truyền, dân tộc ta sống theo chế độ gia tộc mẫu hệ, tức là người con sinh ra chỉ biết có người mẹ mà ít quan tâm đến người cha, và người cha không có quyền gì đối với vợ con cả. Tuy nhiên chế độ này ngày nay hầu như đã mất hẳn, và thay vào đó là chế độ phụ hệ. Theo các nhà sử học Việt Nam, chế độ phụ hệ là do giáo lý Khổng – Mạnh truyền sang. Chế độ phụ hệ là tập tục cha truyền con nối. Người con sinh ra là phải lấy theo họ cha, và xem họ hàng bên cha là họ nội, họ hàng bên mẹ là họ ngoại.

    Từ chế độ phụ hệ đưa đến chế độ phụ quyền, nghĩa là nam tôn nữ ty, trọng nam khinh nữ. Người đàn ông nắm quyền làm chủ gia đình, còn phụ nữ chỉ phụ thuộc. Chế độ này ảnh hưởng nhiều nhất trong tầng lớp quan lại thượng lưu thời xưa. Còn trong thời đại hôm nay, chế độ này ảnh hưởng rất ít vì một phần do tiếp xúc với lối sống tự do bình đẳng của phương Tây, cộng thêm sự trở lại chế độ Mẫu hệ truyền thống, nên các gia đình hầu như đã tiếp nhận và dung hòa giữa các chế độ với nhau và đưa ra một chế độ bình đẳng bình quyền như hôm nay. Họ quan niệm “Thuận vợ thuận chồng tát bể đông cũng cạn”.

    Việc giáo dục gia đình trong Nho giáo có một vị trí rất quan trọng. Mạnh tử nói: “Thiên hạ gốc ở nước, nước gốc ở nhà, nhà gốc ở thân mình” và “nhà mình không thể dạy mà dạy được người ta điều không có. Trị quốc, Bình thiên hạ làm được hay không phụ thuộc vào việc tề gia”,… Như vậy, việc tề gia trở thành vấn đề quốc sách chứ không còn là việc của cá nhân hay của một gia đình, một dòng họ nữa.

    Giáo dục hiếu đễ

    “Con có hiếu với cha mẹ, em kính nể anh chị được coi là đức tính quí báu nhất, là tình cảm tất yếu, tự nhiên của con người”. Chữ hiếu đi liền với chữ trung. Chữ tình phải nhẹ hơn chữ hiếu. Mặc dù đạo hiếu quá khắt khe, có phần độc đoán, song có những điểm đáng trân trọng, giữ gìn. Và chính những điểm đó vẫn còn đọng lại trong nền giáo dục gia đình Việt Nam hôm nay.

    “Con cái phải có trách nhiệm nuôi dưỡng, kính trọng ông bà, cha mẹ, luôn luôn làm những điều thiện để cha mẹ được vui lòng”. Khổng Tử coi việc con cái nuôi nấng cha mẹ mà không kính thì không khác gì nuôi súc vật.

    “Thờ phụng tổ tiên là biểu hiện lòng hiếu thảo của con cháu, các thế hệ sau đối với người đã khuất, sự thờ phụng đó là để tỏ lòng tưởng nhớ, biết ơn đối với cha ông, gìn giữ và phát huy những di sản, thanh danh tốt đẹp của tiên tổ”.

    Ngoài ra con cái trong gia đình phải “tiên học lễ, hậu học văn”. Trước hết phải biết kính trọng, lễ phép sau đó mới học chữ nghĩa. Hơn nữa quan điểm Tam Cương Ngũ Thường trong Nho giáo phần nào vẫn còn ảnh hưởng trong giáo dục gia đình Việt Nam hôm nay.

    Giáo dục đối với người phụ nữ

    Ngày xưa xã hội phong kiến đòi buộc người phụ nữ vào chuẩn mực “tam tòng tứ đức”. Tam tòng có nghĩa là: người phụ nữ suốt đời chỉ là người phụ thuộc: tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử (ở nhà theo cha, lấy chồng theo chồng, chồng chết ở với con). Nền giáo dục này hầu như không có một chút gì ảnh hưởng trong nền giáo dục của xã hội hôm nay. Song bên cạnh đó, tứ đức lại là mặt giáo dục tích cực vẫn còn đọng lại và đòi buộc người con gái cần phải có: Công là nết làm ăn cần cù, thức khuya dậy sớm, tài đảm đang nội trợ của người con gái khi còn ở nhà, của người phụ nữ với địa vị làm vợ, làm dâu, làm mẹ. Dung là sự chăm chút mộ cách kín đáo nhan sắc của mình sao cho dễ coi, duyên dáng. Ngôn là giữ lời ăn tiếng nói dịu dàng, nhỏ nhẹ khiêm tốn, không khoe khoang, cười đùa ầm ĩ. Hạnh là phẩm chất đạo đức, sự chung thủy với chồng được coi là tiêu chuẩn cao nhất về đạo đức của người con gái.

    ẢNH HƯỞNG CỦA TÂY ÂU

    Khi trình bày về sự ảnh hưởng văn hóa Tây phương trên lãnh vực giáo dục học đường Việt Nam, chúng ta thấy sự ảnh hưởng sâu đậm đó là hệ thống giáo dục của Pháp. Hầu như hệ thống giáo dục Việt Nam hiện đại đều chịu ảnh hưởng của Pháp.

    Sau khi Pháp thực sự đô hộ trên đất Việt (từ 1858 – 1945), đã áp đặt một hệ thống giáo dục của Pháp lên nền giáo dục Việt Nam. Và mãi tới hôm nay, tuy hệ thống giáo dục nước ta phần nào có sự thay đổi về nhiều mặt: hình thức tổ chức, bằng cấp, chương trình học, thi cử,… nhưng sâu xa vẫn bị ảnh hưởng hệ thống giáo dục của Pháp thời ấy.

    Về các cấp học và danh xưng

    – Bậc Ấu học gồm 2 lớp: lớp Đồng Ấu và lớp Dự Bị tương đương với 2 lớp: lớp Mầm Non và lớp Vỡ Lòng ngày nay.

    – Bậc Tiểu Học: tương đương với trường cấp I ngày nay, trong Nam có thời gọi đệ tam cấp, ngày nay cũng có nơi lấy lại danh xưng Trường Tiểu Học.

    – Bậc Trung Học: tương đương với trường cấp I và cấp II hay là trường Phổ Thông Cơ Sở và trường Phổ Thông Trung Học hiện nay.

    – Bậc Đại Học: ngày nay cũng lấy lại y như vậy

    Ảnh hưởng trên hình thức thi cử và bằng cấp

    – Kỳ thi lấy bằng Sơ Học Yếu Lược

    – Kỳ thi lấy bằng Tiểu Học

    – Kỳ thi lấy bằng cao đẳng Tiểu Học có thời đổi là bằng Thành Chung

    – Kỳ thi vào Đại Học

    Tuy nhiên các kỳ thi này hiện nay vẫn được sử dụng nhưng có một số bổ sung và thay đổi cho phù hợp với thời đại. Chẳng hạn chia cấp: cấp I, cấp II, cấp III tương đương với Tiểu học và Trung học thời Pháp.

    – Học hết cấp I cũng có kỳ thi lấy bằng Tiểu học để bước vào học chương trình Phổ thông Cơ sở

    – Hết cấp II, có kỳ thi tốt nghiệp Phổ thông Cơ sở, nếu đậu mới được dự thi chuyển cấp, tức là vào học chương trình Phổ thông Trung học

    – Hết chương trình Phổ thông Trung học, có kỳ thi lấy bằng tốt nghiệp Phổ thông Trung học hay gọi là bằng Tú Tài. Đậu kỳ thi này mới được dự thi Đại học

    – Hết chương trình Đại học, có kỳ thi lấy bằng cử nhân

    – Sau Đại học, có kỳ thi lấy bằng Thạc sĩ và Tiến sĩ

    ***

    PHẦN IV: SỰ ẢNH HƯỞNG TRÊN VĂN CHƯƠNG

    ẢNH HƯỞNG CỦA TRUNG HOA

    Hơn 10 thế kỷ dưới chế độ phong kiến, văn hóa Trung Hoa trong đó có chữ Hán, phần nhiều phổ biến ở tầng lớp trên của xã hội như vua chúa, quan lại, nho sĩ, và quí tộc. Do đó văn hóa tam giáo từ Trung Hoa du nhập vào văn hóa Việt Nam qua từng thành phần trên một cách sâu đậm hơn tầng lớp bình dân. Hiện tượng này không những chỉ thể hiện trong đời sống gia đình, xã hội và bộ máy nhà nước, mà còn phản ánh trong đời sống văn học, nhất là những tác phẩm Hán văn; văn hóa tam giáo biểu hiện khi sâu đậm khi bàng bạc qua dòng văn học chữ Hán, nhưng ít có những tác phẩm trường thiên, phần nhiều là những bài thơ, bài kịch, bài kệ,… thông qua thi pháp Trung Hoa với các thể thơ cổ phong, đường luật. Tầng lớp tri thức Việt Nam hội nhập văn hóa Tam giáo vào các tác phẩm của mình.

    1/. Ảnh hưởng của Nho giáo trong văn thơ: Có Đoạn trường tân thanh, Lục Vân Tiên, thơ của Nguyễn Công Trứ,…

    2/. Ảnh hưởng Phật giáo trong văn thơ: Có Cung oán ngâm khúc, Quan Âm Thị Kính,…

    3/. Ảnh hưởng của Lão giáo trong văn thơ: Có Thơ Nhàn, Bích câu kì ngộ.

    Và sau đây là một số bài thơ đơn cử nói lên ảnh hưởng của quan điểm cũng như tư tưởng của tam giáo vào trong nền văn học Việt Nam.

    – Phật giáo

    Có bài thơ “Thi đệ tử” của nhà sư Vạn Hạnh, phản ánh triết lý hư vô của đạo Phật rất khái quát. Theo học thuyết của đạo Phật, con người có rồi không, không rồi có, cũng như cây cỏ lúc xanh tươi, khi tàn úa, rồi sự đời thịnh rồi lại suy, chẳng có gì vĩnh hằng trong thế gian.

    Thân như điện ảnh hữu hoàn vô,

    Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô,

    Nhiệm vận thính uy vô bố úy,

    Thịnh suy như lộ khảo đầu khô”.

    Dịch:

    Thân như bóng chớp có rồi không,

    Cây cối xuân tươi thu não nùng,

    Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãi,

    Kìa kìa ngọn cỏ giọt sương đông”.

    – Nho giáo:

    Trong bài “Quân Đạo”, Lê Thánh Tông đã bộc lộ đạo vừa theo tinh thần văn hóa dân tộc vừa phảng phất quan niệm tu thân của văn hóa Nho giáo:

    Chế trị bảo bang tư kế thuật

    Thanh tâm quả dục tuyệt du điền”.

    Dịch:

    “Chánh dựng nước bền mau nối dõi

    Tâm thanh dục ít dứt chơi săn”.

    Hay trong bài “Thần Tiết” thì tác giả bộc lộ quan điểm “tu, tề, trị, bình” của Nho giáo khá rõ:

    “Nội ninh ngoại phủ hồi thiên lực

    Hậu lạc tiên ưu tế thế tâm”.

    Dịch:

    “Lo trước vui sau lòng tế thế

    Ngoài yên trong trị sức hồi thiên”.

    ẢNH HƯỞNG CỦA TÂY ÂU

    Văn hóa Việt Nam vốn nằm trong bối cảnh văn hóa Phương Đông, nhưng đến những năm hậu bán thế kỷ XIV trở đi, qua sự giao lưu với phương Tây, chữ Quốc Ngữ phát triển và hình thành dòng văn học Quốc Ngữ. Mặt khác trong quá trình xâm lăng và định trị trên đất Việt bắt đầu từ 1858 – 1945, người Pháp trực tiếp truyền văn hóa, tư tưởng Âu Tây vào Việt Nam, trong đó nền văn học Quốc Ngữ đóng vai trò chủ yếu.

    Hơn một trăm năm chữ Quốc ngữ ra đời đã để lại và ảnh hưởng trên nền văn học nước ta chủ yếu là hai hình thức: văn vần, văn xuôi và thơ mới, nhưng văn xuôi chiếm ưu thế. Ngoài các thể thơ văn truyền thống như: ca dao, hò, vè,… chữ Quốc Ngữ rất thuận lợi trong quá trình tiếp biến văn hóa nước ngoài, từ đó thơ mang nhiều hình thức và thi pháp mới, mà ta thường gọi phong trào thơ mới.

    Tuy nhiên văn học Việt Nam không chỉ ảnh hưởng trên mặt hình thức mà còn ảnh hưởng trên cả đời sống quan điểm và tư tưởng của người dân Việt Nam nữa.

    1/. Ảnh hưởng tư tưởng lãng mạn: Tác phẩm “Tố Tâm” của Hoàng Ngọc Phách; “Hồn Bướm Mơ Tiên” của Khải Hưng; “Thơ Say” của Vũ Hoàng Chương;…

    2/. Ảnh hưởng tư tưởng tự do dân chủ: Tác phẩm “Quân Tự Chủ Nghĩa” và “Dân Tự Chủ Nghĩa” của Phan Châu Trinh, “Cao Vọng Thanh Niên” của Nguyễn An Ninh; “Đoạn Tuyệt” của Nhất Linh,…

    3/. Ảnh hưởng của tôn giáo: Thơ Hàn Mặc Tử,…

    “Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ,

    Thủa tung hoành hóng hạch những ngày xưa.

    Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già,

    Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi.

    (Nhớ Rừng – Thế Lữ)

    Ta muốn say cánh mướn với tình yêu

    Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều”.

    Hay:

    “Trong vườn đêm ấy nhiều trăng qua,

    Ánh sáng tuôn đầy các lối đi,

    Tôi với người yêu qua nhè nhẹ…

    Im lìm không dám nói năng chi”.

    (Trăng – Xuân Diệu)

    Trong thời đại ngày hôm nay hầu như các thể thức của nền văn học nước ta đều chịu ảnh hưởng của Tây, tuy nhiên các tác giả vẫn giữ được các cốt lõi, cái thâm sâu nhất của truyền thống Á Đông.

    ***

    PHẦN V: SỰ ẢNH HƯỞNG VỀ THỂ THAO VÀ GIẢI TRÍ

    ẢNH HƯỞNG CỦA TRUNG HOA

    Thời xưa, nước ta chỉ có mấy lối cờ bình dân như cờ chiếu tướng, cờ ngũ hành, cờ chân chó,… Và sau này có thêm cờ tướng là một trò chơi giải trí thanh cao tao nhã, dễ chơi được nhiều người yêu thích, nhất là các cụ ông khi về già thường tụ tập nhau lại để cùng vui chơi. Mỗi ván cờ là một cuộc đấu trí vừa gay go và vừa thú vị mà người chơi phải suy nghĩ chăm chú vào đó rất nhiều. Chuyện kể rằng: Bấy giờ dưới đời vua Trần Dụ Tôn (1341 – 1369), nước ta đang ở trong thời kỳ bị nước Tàu “dòm ngó”, muốn xâm lăng. Vua Tàu sai sứ giả sang nước ta để thách đố đánh cờ với vua Dụ Tôn. Vua Dụ Tôn không dám từ chối, nhưng thật tình rất lo ngại. Nhà vua sai đi tìm người tài giỏi để đấu cờ với sứ Tàu. Khi ấy ở làng Mộ Trạch, huyện Đường An có ông Vũ Huyền là một hảo thủ tượng kỳ. Ông Vũ Huyền vào yết kiến nhà vua, cam đoan giúp nhà vua thắng sứ Tàu, nhưng cuộc cờ phải bắt đầu vào đúng giờ ngọ, và xin nhà vua cho Vũ Huyền được đứng hầu cận trong lúc đánh cờ.

    Cờ chơi ở ngoài trời, kẻ hầu cận phải che lọng cho vua và sứ giả Trung Hoa. Lọng Vũ Huyền che cho nhà vua đã dùi lủng một lỗ để ánh sáng mặt trời lọt qua. Vua cứ theo tia nắng ở lỗ lọng chiếu xuống mà đi cờ, nên đã thắng sứ giả Trung Hoa. Nhờ sự thắng cờ này, Trung Hoa cho nhà vua là người tài giỏi và không dám gây cuộc binh đao. Qua mẩu chuyện nhỏ này chúng ta có thể nói rằng cờ tướng đã có ở nước ta cũng khá lâu rồi.

    Cờ tướng là một trò giải trí phát xuất từ nước Trung Hoa, nhưng đây là một trò tiêu khiển lành mạnh mà ai cũng có thể chơi được, chỉ cần biết đường đi của từng con cờ. Ngày nay trò giải trí này cũng được đưa vào chương trình thi đấu quốc tế.

    ẢNH HƯỞNG CỦA TÂY PHƯƠNG Cờ – bài

    Nói đến cờ bạc là nói đến mất nhà, mất cửa, mất ruộng, mất trâu, và mất cả quần lẫn áo:

    Cờ bạc nó đã quấy anh

    Áo quần bán hết một manh chẳng còn

    Buổi gió sương chui vào đống rạ

    Hở mông ra cho quạ nó moi

    Anh còn cờ bạc nữa thôi”.

    Mặc dù cờ – bài nguyên bản chất không xấu nhưng qua mấy câu ca dao trên, ta đủ thấy thế nào là tác hại của cờ – bài khi nó mất đi tính văn hóa. Chơi cờ – bài, có khi là để giải buồn, có khi để ăn tiền, nhưng thực ra, ai biết đâu mà giới hạn giải buồn tiêu khiển với những cuộc “đỏ đen” bóc lột. Cờ bạc cũng có lối chơi cần suy xét, cũng có lối chơi trông cậy ở cả đỏ đen may rủi.

    Không rõ cơ – bài đã du nhập vào Việt Nam khi nào nhưng có thể thấy một số loại cờ bài phổ biến ở Việt Nam hiện nay như: Tú-lơ-khơ, cờ vua, Đô-mi-nô,… còn việc chơi và thưởng thức loại hình giải trí này tuỳ thuộc vào tầng lớp và trình độ.

    Bóng đá

    Theo một số tài liệu xưa, bóng đá du nhập vào Việt Nam năm 1896, tức là năm đánh dấu Olympic hiện đại lần đầu tiên tổ chức tại Athen, Hy Lạp. Lúc đó một nhóm người mang quốc tịch Châu Âu mỗi tuần tụ họp nhau lại tại Jardin de la ville (Tao Đàn, Thành phố Hồ Chí Minh) để giải trí. Họ cùng đùa giỡn tranh nhau một đấu giày trên cỏ.

    Từ năm 1896 – 1905 các đội bóng có người Việt Nam tham gia được thành lập do giới thống trị của Pháp lập nên, mỗi đội chỉ có một vài người Việt Nam. Năm 1906, một nhóm người Việt Nam bàn nhau lập riêng cho mình một đội bóng và lấy tên đội là Gia Định Sport.

    Sau Đại Chiến Thế Giới Thứ II tốc độ phát triển bóng đá thế giới rất nhanh, mạnh và đều khắp thế giới. Bóng đá không còn là lãnh vực dành riêng cho Trung Mỹ và Châu Âu nữa mà phát triển mạnh sang Châu Á – Phi, Bắc Nam mới trở thành hội viên chính thức của FIFA, do Tiệp Khắc và Bungarie giới thiệu theo điều lệ của FIFA. Từ đó trở đi đội bóng của Nước ta phát triển và có cơ hội giao đấu với một số các nước bạn.

    Đến 1966, đội tuyển nước ta đã làm cho khán giả trên sân Merdeka, thủ đô Kualalumpur, Malaysia ngây ngất bởi tài nghệ của mình và đã đem về cho đất nước chiếc cúp Merdeka. Ngày nay bóng đá trở thành một môn thể thao của toàn thế giới được mọi người yêu thích và bất cứ tầng lớp nào cũng có thể chơi được.

    Ngoài những môn thể thao giải trí nói trên còn có một số môn quen thuộc khác như bóng chuyền, bóng bàn, cầu lông, quần vợt,…

    ***

    PHẦN VI: SỰ ẢNH HƯỞNG VỀ ẨM THỰC

    ẢNH HƯỞNG CỦA TRUNG HOA

    Các món ăn

    Từ xưa, người nước ta vẫn sinh hoạt bằng nghề cày cấy và nghề chài lưới, cho nên đồ ăn chủ yếu của ta là gạo và cá. Gạo là hoa màu chính của đồng ruộng Việt Nam cũng như cá là sản phẩm chính của sông ngòi và biển cả đất nước. Ngoài hai thứ đồ ăn chủ yếu trên, ta còn ăn nhiều thứ rau đậu trồng ở vườn hay mọc tự nhiên ở đồng (rau cải, rau dền, ray đay, rau mồng tơi, rau muống, rau ngổ, đậu, cà, khoai, sắn,…), thịt các thứ gia súc gà, vịt, lợn,… và thỉnh thoảng có thêm một ít thịt trâu bò và một gia cầm, dã thú đánh hoặc săn được như: cò, chim mỏ thác, le le, cun cút, đa đa, hươu, nai, chồn, cáo thỏ, lợn rừng. Trước kia người vùng quê dùng các thứ thức ăn này trong các dịp lễ hội, Tết, ngày giỗ. Nhưng nay thời thế đã đổi khác cũng là do ảnh hưởng của Tàu nên các món ăn của ta cũng thay đổi, buổi sáng có thêm một số món ăn như bánh bao, xíu mại, phở, miến canh, cháo gà, còn trong những dịp lễ lạc hay đãi khách với người dân vùng quê thì nấu các món ăn bình dân, người khá giả hơn thì nấu các món ăn đặc biệt và ngon hơn. Những nhà sang trọng thì dùng sơn hào hải vị nấu toàn các món ăn của Tàu như: Da tê, gân hươu, yến sào, bào ngư, hải sâm, bong bóng, vây cá,…

    Trà – Nghệ thuật uống trà

    Người Việt Nam thường uống nước hay uống trà sau bữa ăn cốt để súc miệng, hoặc uống để giải khát khi trời nóng. Nhưng không nghĩ rằng uống trà là cả một nghệ thuật. Là nghệ thuật vì uống trà có một sự cầu kỳ khác, uống trà Tàu không giống như uống trà sen. Muốn thưởng thức hương vị của trà, không phải uống bất kỳ lúc nào cũng thấy ngon và càng không phải uống với bất cứ ai cũng thưởng thức được hương vị thơm ngon của trà. Ta cứ tưởng tượng buổi sáng trời lạnh với một ấm trà và buổi tối trời lạnh với một ấm trà sen thì sẽ thấy hương vị uống trà khác nhau.

    – Cách thức uống trà và hai loại trà tiêu biểu: trà Tàu và trà Sen

    Cũng như bất cứ dân tộc nào trên thế giới, đồ uống trước tiên là nước, rồi nước đó được đem pha chế thành các đồ uống khác. Nước, ta thường dùng là nước làm sạch. Người Việt Nam thường uống nước đã đun sôi hay với lá chè xanh, trà, lá vối, gạo rang,… làm nước uống hằng ngày.

    Nói đến đồ uống, không thể bỏ qua được trà Tàu. Đây cũng là búp những cây trà được người Tàu hái rồi phơi ủ chế cho thành một thứ trà ngon, khi pha ra thì có một mùi vị tuyệt vời.

    Qua nếp sống của ta, trong công việc giao tiếp chén nước trà dự phần rất nhiều. Về việc uống trà đã được người Trung Hoa nghiên cứu rất kỹ lưỡng từ xưa, và tạo ra những đồ ấm chén, lò siêu dành riêng để pha trà. Những đồ ấm chén này có từ thời nhà Tống đến nhà Minh và sang nhà Thanh. Chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa, ta có lối uống trà của người Tàu rất hợp với mình, nhất là ở miền Bắc về mùa lạnh.

    Người sành uống trà biết phân biệt hương vị các thứ trà lại hiểu khí chất mỗi loại, loại nào phải pha chế thế nào uống mới đậm nước nồng hương, loại nào cần uống thật đặc, loại nào uống đặc vừa cho hợp. Ấm pha thế nào thì tốt, chén uống thế nào thì ngon, cho đến lò than và siêu nước cũng phải nấu thế nào cho mau. Đấy là những điều khó khăn của nghệ thuật pha trà. Người không nghiện và sành uống trà thì không sao hiểu được. Cần phải có nghiên cứu và biết tinh tường.

    Ở nước ta uống trà Tàu sành là một biểu tượng phong lưu. Nhiều người nghiện trà Tàu, hễ sáng không có một chén trà đậm thì không làm được gì cả. Có người nhịn ăn thì được nhưng không thể nào nhịn được trà.

    Trong các loài trà ướp hoa, chỉ có trà ướp hoa sen là chuộng hơn cả. Uống trà Tàu cầu kỳ ở chỗ pha trà, trái lại uống trà sen thì cầu kỳ lại chính là ở chỗ ướp trà với hoa sen. Trà sen ướp thì công phu cầu kỳ như vậy, nhưng đến lúc uống thì rất giản dị, không phức tạp như uống trà Tàu. Trà sen pha vào ấm nào cũng được và có thể uống bất kỳ chỗ nào, thời gian nào cũng đều có thể thưởng thức được ấm trà sen.

    ẢNH HƯỞNG CỦA TÂY PHƯƠNG Thức ăn – Uống

    Xưa nay bất cứ ở đâu dinh dưỡng vẫn là nguồn lương thực cần thiết để duy trì sự sống. Người ta không ai nhịn ăn, nhịn uống mà sống mãi được. Ta có câu “Dân dĩ thực vi tiên”, người dân lấy ăn làm đầu, và Tây Phương cũng nói ăn để mà sống. Người xưa thường nói: “ăn lấy no, uống lấy khỏi khát”. Ăn uống là điều cần thiết của con người.

    Dân Việt Nam ăn mỗi ngày ba bữa: bữa sáng hay còn gọi là bữa ăn điểm tâm, bữa trưa và bữa chiều. Người ở vùng quê, họ cho cả ba đều là bữa ăn chính; còn người dân sống ở thành thị, người thương gia, buôn bán chỉ ăn hai bữa chính, họ coi bữa sáng chỉ là bữa ăn phụ, bữa ăn lót dạ mà thôi. Vì không phải làm việc đồng áng, việc nặng nhọc vất vả do ảnh hưởng lối sống Tây Phương, người ta ăn bánh mì, sữa là những món ăn có thời Pháp thuộc cũng được người Việt dùng để ăn điểm tâm.

    Trong cách ăn, mâm cơm của người Việt Nam dọn ra bao giờ cũng có đồng thời nhiều món: cơm, canh, rau, dưa,… Với người nông dân ở vùng quê, bữa sáng người ta cũng ăn nhiều như hai bữa kia. Và người ta theo đúng câu tục ngữ “Ăn lấy chắc mặc lấy bền”, người ta phải ăn no, ăn những thức ăn no lâu để có thể chịu đựng được với công việc làm. Những người nhà nông thường họ rất ít ăn cháo, ăn xôi hay bánh trái gì mà người ta ăn cơm hoặc một thứ ngũ cốc hay hoa màu khác để thay cơm: ngô khoai, củ mì, củ sắn,…

    Bữa trưa: trong bữa này, gia đình quây quần bên mâm cơm, tạo nên cảnh gia đình đoàn tụ cùng với cơm nóng, canh nóng làm cho bữa ăn của cả nhà vui vẻ và ngon miệng. Bữa ăn thường là thịt, cá, dưa, xáo, rán hoặc nấu canh tuỳ theo từng gia đình. Một số gia đình dùng theo lối Tây, dùng cơm Tây, ăn bánh mì thay cơm, món này ta thường gặp trong các nhóm đi chơi, đi du lịch, tham quan,…

    Cũng giống bữa trưa, buổi chiều là bữa ăn chính của người Việt Nam. Từ thức ăn đến đồ ăn đều giống như bữa trưa, nghĩa là cơm, cá, thịt, rau,… Trong bữa ăn, người thành thị sống kiểu Tây Phương họ thường dọn, cá, thịt,…

    Người Việt Nam không những chịu ảnh hưởng về các món ăn của Tây mà ngay cả đồ uống cũng bị Tây hoá. Về đồ uống ngoài các loại mà người dân Việt Nam thường dùng thì ngày nay trong những bữa tiệc như tiệc cưới hỏi, sinh nhật, tiếp đãi khách,… thì có bia, nước ngọt,… nếu tiệc sang trọng hơn thì có các loại rượu Tây như Champapne, whisky, cognae,…

    Cách thức tổ chức tiệc

    Người dân Việt Nam thường tổ chức tiệc mừng, tiệc đãi khách tại nhà để tiện cho việc bếp núc, nhưng với những gia đình khá giả thì họ lại thích tổ chức tiệc tại nhà hàng vừa lịch sử vừa đỡ phải bận rộn với việc nấu nướng. Ngày nay ở các nơi thành thị các món ăn đã chịu ảnh hưởng ít nhiều của Tây Phương, họ ăn các món Tây và sắp xếp tổ chức bữa tiệc theo kiểu Tây. Vì thế mà các món ăn được dọn lên cho khách mời theo thực đơn từng món một để tiện việc ăn uống. Bên cạnh đó, một số nơi còn tổ chức tiệc đứng, thường họ dọn các món ăn và đồ uống ra cùng lúc để khách tự chọn và tự phục vụ các món ăn đồ uống theo sở thích.

    ***

    PHẦN VII: SỰ ẢNH HƯỞNG VỀ NGHỆ THUẬT

    Về lãnh vực nghệ thuật, chúng ta thấy, mặc dầu văn hóa và người Trung Hoa ngự trên đất nước Việt Nam hơn một ngàn năm qua nhiều thời kỳ nhưng hầu như không thấy để lại dấu ấn nào rõ nét từ âm nhạc – sân khấu – hội hoạ cho tới thời trang, điện ảnh,v.v… trong khi đó văn hóa phương Tây mới du nhập vào Việt Nam mấy thế kỷ gần đây nhưng thực sự đã ảnh hưởng đến văn hóa Việt Nam trên lãnh vực này khá rõ. Nó đã để lại những dấu ấn nghệ thuật ăn sâu vào trong đời sống của người Việt Nam mà nhiều khi ta không biết.

    Nghệ thuật hội hoạ điêu khắc

    Trong nghệ thuật hội hoạ – điêu khắc, văn hóa Việt Nam đã thực sự chịu ảnh hưởng và tiếp nhận từ nền hội hoạ – điêu khắc phương Tây rất nhiều như mang tính cách bút pháp tả thực và đã có những thể loại tranh sơn dầu, tranh bột màu có giá trị (Vd. Tranh sơn dầu và tranh bột màu xuất hiện ở phương Tây từ thế kỷ XV).

    Nghệ thuật sân khấu

    Với bút pháp tả thực của nghệ thuật phương Tây lại thêm tính phân biệt rõ ràng các thể loại bi, hài kịch cũng đã xuất hiện trên sân khấu Việt Nam với thể loại kịch nói và tác động đến sự ra đời của nghệ thuật cải lương.

    Vào những năm 20 cuối thể kỷ XX, Nam Bộ chịu ảnh hưởng của văn hóa phương Tây sớm nhất nên đã hình thành nghệ thuật cải lương, một sản phẩm của việc cải cách sân khấu hát bội truyền thống. Trong sân khấu cải lương, ảnh hưởng của bút pháp tả thực phương Tây, hát được giảm bớt thay vào đó là nói được tăng lên; các điệu bộ ước lệ, biểu trưng được giảm bớt và thay vào đó là các động tác giống như thật ngoài đời; phong cảnh đạo được chú trọng hơn.

    Như vậy cải lương và kịch nói cũng là kết quả của sự ảnh hưởng và giao lưu văn hóa với phương Tây mà có đôi lúc người ta cứ tưởng như là văn hóa thuần tuý của mình.

    Nghệ thuật âm nhạc

    Song song với các nghệ thuật khác, đối với âm nhạc kể cả nhạc cụ của phương tây đã thực sự có chỗ đứng trong sinh hoạt đời sống văn hóa – xã hội Việt Nam. Nhất là những năm gần đây, âm nhạc và nhạc cụ phương Tây được công chúng Việt Nam đón nhận rất nồng nhiệt. Nó đã trở thành như một lĩnh vực sinh hoạt văn hóa trong đời sống cộng đồng. Đặc biệt, đối với giới trẻ thì âm nhạc phương Tây có thể nói được là một phần không thể thiếu đối với họ. Từ các thể loại như nhạc Jazz – Disco – Pop – Rock,… đều trở nên quen thuộc và phổ biến với giới trẻ Việt Nam. Các tác phẩm cổ điển của Môzart, Bethoven, Chopin,… cũng được người Việt Nam tiếp nhận cách trân trọng từ người thưởng thức cũng như người biểu diễn.

    Ở các nhạc viện, các phân khoa nhạc hiện đại và nhạc cổ điển phương Tây đã được đưa vào chương trình giảng dạy từ lâu.

    Âm nhạc ảnh hưởng của phương Tây hay còn gọi là tân nhạc phát sinh trong nền âm nhạc Việt Nam các thể loại mang tính phụng tự của Kitô giáo, nhạc ca khúc, nhạc sôlô, nhạc hoà tấu, nhạc kịch.

    Tất cả những loại nói trên là kết quả của sự ảnh hưởng từ phương Tây.

    Nghệ thuật điện ảnh

    Cùng với sự du nhập của các lãnh vực nghệ thuật khác, điện ảnh cũng sớm có mặt ở Việt Nam. Lãnh vực nghệ thuật này là hoàn toàn của phương Tây, Việt Nam không có. Nó được manh nha vào năm 1879 do một người Anh tên là Eadweard Muybridge và đến năm 1895 thì anh em nhà August và Luois Lurminer, người Pháp phát minh thành hệ thống chiếu và được đưa ra trình diện ở Paris. Nghệ thuật điện ảnh ra đời từ đấy, không biết nó vào Việt Nam từ khi nào nhưng rạp chiếu bóng đầu tiên ra đời ở Việt Nam là rạp Pathe – Hà Nội vào năm 1920. Đối với Sài Gòn xưa, buổi chiếu phim đầu tiên cũng là đầu tiên ở Việt Nam được tổ chức vào khoảng cuối tháng 9-1898 trước dinh Tổng đốc chợ Lớn (nay là đường Lê Quang Liêm). Đến ngày nay thì điện ảnh không còn xa lạ đối với người dân Việt Nam nữa. Điện ảnh được xem như món ăn tinh thần của mọi thành phần trong xã hội.

    Nghệ thuật nhiếp ảnh

    Nhiếp ảnh là hình nghệ thuật mà người Việt Nam được tiếp cận do sự du nhập từ văn hóa phương Tây. Nhiếp ảnh ra đời do Etiên Marrey, người Pháp, phát minh máy chụp ảnh vào lúc đầu chỉ là chụp ảnh thông thường nhưng dần dần phát triển thành ngành nghệ thuật nhiếp ảnh lan rộng khắp thế giới. Cũng giống như điện ảnh, nhiếp ảnh du nhập vào Việt Nam không rõ lúc nào nhưng hiện nay ở các thành phố, thành thị và các gia đình khá giả việc chụp ảnh trong các dịp lễ hội đã trở thành như một nhu cầu, nhất là đối với giới trẻ.

    Hiện Việt Nam đã có rất nhiều câu lạc bộ nhiếp ảnh và hội nhiếp ảnh chuyên nghiệp, bán chuyên nghiệp. Việt Nam đã có những nhiếp ảnh gia nổi tiếng.

    Thời trang

    Thuần tuý văn hóa Việt Nam, trang phục xưa cho tới thời Pháp thuộc, thường là áo tứ thân, yếm, guốc gỗ dành cho phụ nữ; khố, quần áo sớ, áo ngắn,… giày dành cho nam giới. Chất liệu của các trang phục nói trên thường là tơ tằm truyền thống và các chất liệu khác như đay, gai,… miễn làm sao càng bền càng tốt. Người Việt Nam xưa có một quan niệm về trang phục thật thiết thực “ăn lấy chắc, mặc lấy bền”. Nói vậy nhưng do khoa học và công nghệ phát triển cùng với sự hiện diện của văn hóa và con người phương Tây mà Việt Nam đã có nhiều sự đổi thay trong trang phục cách nhanh chóng.

    Từ khi phương Tây vào Việt Nam thì cùng lúc trang phục kiểu phương Tây và thời trang của họ cũng bắt đầu hiện diện ở Việt Nam và từ từ được người Việt Nam tiếp nhận càng ngày càng mạnh mẽ từ quần Tây áo Veston, quần Jean, Jupe, giày dép,v.v… Đây thực sự là một sự tiếp nhận trọn vẹn chứ không phải là ảnh hưởng. Còn sự ảnh hưởng văn hóa phương Tây và kết quả đầu tiên của nó là vào những năm 30 của thế kỷ XX này chiếc áo dài cổ truyền Việt Nam đã được cải tiến thành áo dài tân thời ngày nay. Đây là bước mở cho quá trình phát triển thời trang ở Việt Nam. Đến nay thời trang đã trơ thành ngành học ở các trường mỹ thuật. Trên phương tiện thông tin đại chúng (truyền hình) có chương trình Thời Trang & Cuộc Sống. Ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh thường có biểu diễn thời trang.

    ***

    PHẦN VIII: SỰ ẢNH HƯỞNG VỀ CÁC NGÀY LỄ HỘI

    Do chịu ảnh hưởng và kế thừa nhiều nền văn hóa trong đó văn hóa Trung Hoa và phương Tây là chủ yếu, đã tạo cho Việt Nam một nền văn hóa với nhiều lễ tết khác nhau mang nhiều nội dung khác nhau. Ở đây chúng ta chỉ tìm hiểu những ngày lễ tết khá nổi bật và phổ biến trong năm có nguồn gốc từ hai nền văn hóa lớn này.

    Sự ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa để lại cho văn hóa Việt Nam một số lễ hội đặc biệt như sau.

    Tết Nguyên Đán

    Ăn theo lịch âm, vào ngày mồng 1 tháng Giêng gọi là Tết; tết là do người Việt Nam đọc trại từ chứ Tiết. Theo lịch sử Trung Hoa thì lịch Âm có từ đời nhà Hà và lấy tên 12 chi đặt cho 12 tháng; tháng đầu là tháng Dần tức tháng Giêng được chọn làm tháng đầu năm và người ta ăn Tết vào ngày đầu của tháng Dần. Về sau nhà Ân thay đổi lấy tháng Sửu làm đầu năm, đến thời nhà Chu lại lấy tháng Tý nhưng đến thời nhà Tần lại lấy tháng Hợi và đến thời nhà Hán Vũ Đế lại đổi lại tháng Dần và được cố định từ đó đến nay.

    Như vậy Tết Nguyên Đán mà Việt Nam có bây giờ có nguồn gốc sâu xa từ Trung Hoa. Nó là kết quả sự ngự trị của văn hóa Trung Hoa trên đất nước Việt Nam suốt cả ngàn năm.

    Lễ Thượng Nguyên (rằm tháng Giêng)

    Theo Phật giáo, nguồn gốc của lễ Thượng Nguyên như sau: tất cả những ngày mồng Một và ngày Rằm mỗi tháng đều được coi là ngày của Phật. Trong những ngày mồng Một và ngày Rằm Phật tử tăng ny có bổn phận làm lễ cúng Phật, đi lễ chùa tụng kinh. Đúng ra người ta phải lấy ngày mồng Một tháng Giêng làm lễ Thượng Nguyên mới phải vì đây là ngày đầu năm nhưng ngày này trời về đêm lại quá tối nên mới trọn ngày Rằm tháng Giêng vì đây là Rằm đầu tiên. Phật tử đi lễ chùa tụng kinh niệm Phật như là kể lại các sự tích của Phật và chư vị Bồ Tát. Người Phật giáo tin rằng trong ngày rằm Đức Phật sẽ giáng lâm trước các chùa để chứng độ lòng thành của Tăng Ny Phật Tử. Tuy nhiên người Việt Nam thuần tuý thờ ông bà, tổ tiên vì yêu mến sự thiện cũng như ảnh hưởng và đã lấy ngày này để cúng tỏ lòng biết ơn ông bà tổ tiên đồng thời cũng để tỏ lòng biết ơn Đức Phật, Thổ Công,…

    Như vậy nguồn gốc của lễ Thượng Nguyên là từ đạo Phật tức là Trung Hoa đưa sang và người Việt Nam đã tiếp nhận rồi làm thay đổi từ từ cho đến ngày nay đã thành phổ biến đối với tất cả những ai theo đạo ông bà ở Việt Nam.

    Tết Đoan Ngọ (5-5 Âm lịch)

    Cũng như những ngày lễ khác, người Việt Nam đã bắt chước người Trung Hoa ăn Tết Đoan Ngọ từ thời rất xa xưa.

    Về sự tích tết Đoan Ngọ, thực ra ban đầu đây chỉ là ngày người dân làm lễ để đánh dấu một thời tiết mới, mừng sự trong sáng quang đãng của khí trời nhưng về sau để cho ngày này thêm phần ý nghĩa tín ngưỡng – tôn giáo, người ta kỷ niệm luôn ngày Khuất Nguyên tự vẫn. Về sau ngươi ta kỷ niệm luôn sự tích Lưu – Nguyễn, hai người đi hái lá thuốc lạc vào cõi thiên thai.

    Khuất Nguyên làm chức tả đồ nước Sở dưới triều Hoài Vương thời Thất Quốc bên Trung Hoa (307 – 246 TCN). Ông là người có tài, liêm chính hay ngăn cản nhà vua. Sau khi vua Hoài Vương qua đời Tương Vương lên ngôi và thường bị Khuất Nguyên can ngăn khi làm việc chẳng hay nên Tương Vương bắt Khuất Nguyên đi đày. Khuất Nguyên làm bài thơ Hoài Sơn rồi buộc đá vào mình nhảy xuống sông Mịt Loan tự tử khi đi qua đó, hôm đó nhằm ngày 5 tháng 5 âm lịch. Nghe tin đó vua rất ân hận thương tiếc cho Khuất Nguyên và làm cỗ đưa ra bờ sông cúng Khuất Nguyên. Cũng xong vua bỏ lễ xuống sông nhưng tôm cá ăn hết sau đó Khuất Nguyên hiện về nói nếu sau này còn cúng thì khi bỏ lễ xuống sông nhớ gọi lại lấy dây buộc chặt khỏi cá tôm ăn hết. Từ đấy về sau cứ ngày mồng 5 tháng 5 là dân chúng khắp nơi làm cỗ đưa ra các bờ sông để cúng Khuất Nguyên và đến ngày nay cũng thế. Theo sự tích này, ở Việt Nam ngày nay kỷ niệm hay làm giỗ Khuất Nguyên không phải là chủ yếu trong tết Đoan Ngọ. Dân Việt Nam sáng tạo ra nhiều tập tục phù hợp với những sự tích và rất thực tế như giết sâu bọ, hái thuốc vào giờ ngọ, tắm sông vào giờ ngọ… Đến ngày này học sinh đi tết thầy cô giáo, bệnh nhân đi tết thầy lang, con rể đi tết ông bà,… và có giỗ cúng gia tiên.

    Tết Đoan Ngọ đã đi vào cuộc sống của người Việt Nam từ xa xưa và nay có vẻ như càng ngày càng lớn mạnh hơn. Tuy nhiên cách thức ăn tết này lại rất khác nhau, nó hầu như tuỳ thuộc vào tín ngưỡng, tôn giáo, địa phương.

    Tết Trung Thu

    Tết Trung Thu còn được gọi là tết trông trăng và có khi lại gọi là tết trẻ con vì người ta thường sắm nhiều đồ chơi cho trẻ trong những ngày này.

    Tết Trung Thu có từ thời Đường Minh Hoàng; tích truyền rằng vào đêm rằm tháng Tám nằm mơ thấy đạo sỹ đưa lên cung trăng chơi nhà vua đăm mình trong cảnh đẹp thần tiên lộng lẫy. Tan giấc mộng, vua nuối tiếc cảnh trăng thu ở cung trăng bèn đặt ra tết Trung Thu để về sau vào ngày đó ngắm trăng, ngâm vịnh. Bắt đầu từ triều đình rồi phổ biến trong toàn dân và sau đó nó theo chân của những đạo quân sang xâm chiếm Việt Nam và trở thành một ngày Tết như của người Việt Nam vậy.

    Ngày nay, Tết Trung Thu càng ngày càng in đậm vào đời sống dân Việt Nam không phân biệt tôn giáo tín ngưỡng nào. Nó đã được biến đổi theo tính cách của người Việt Nam và rất gần gũi với mọi người dân.

    Trước hết là tết Dương lịch, ngày Tết này thuộc là tết cổ truyền của phương Tây. Nhưng do tính cách hội nhập toàn cầu và sự ảnh hưởng mạnh mẽ của lịch tây mà Việt Nam cũng đã ăn Tết này theo phương Tây. Tuy nhiên người Việt Nam ăn tết này không lớn lắm, chỉ có ở học đường, công sở nhà nước và tầng lớp công nhân viên mới ăn tết này thôi vì họ được hưởng quyền lợi (nghỉ làm nhưng lại được hưởng lương trong ngày này).

    Sau tết Dương lịch là lễ Noel, song hành với sự du nhập của Kitô giáo lễ Noel đã được tổ chức ở Việt Nam từ những năm đầu khi các nhà truyền giáo có mặt. Nhưng trước đây lễ Noel mang duy nhất một tính chất tôn giáo dành riêng cho các Kitô hữu. Gần đây, khi Việt Nam giao lưu văn hóa, mở rộng quan hệ với phương Tây và tiếp nhận nền văn minh từ phương Tây vào thì lễ Noel, ngoài ý nghĩa tôn giáo, đã trở thành lễ hội cho cộng đồng nhất là đối với giới trẻ và dân thành thị.

    Ngoài hai lễ tết này ra còn có những ngày khác nữa mà những năm gần đây rất được nhiều người quan tâm như ngày 14 tháng 2; 8 tháng 3; 1 tháng 4; 1 tháng 5 ;…

    Tóm lại, hai nền văn hóa Đông – Tây, đã để lại những dấu ấn rõ nét trên lãnh vực lễ hội trong văn hóa Việt Nam và những dấu ấn này có lẽ chẳng bao giờ mất đi nhưng sẽ được phát triển mang tính chất Việt Nam hơn. Điều này còn phụ thuộc vào cách tiếp nhận của cộng đoàn.

    THAY LỜI KẾT

    Hoàng Thiên, OP.

    (catechesis)

    (Nguồn: lamhong.org)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Du Lịch Sydney Nên Đi Đâu? Những Địa Điểm Phải Đến Tại Xứ Sở Chuột Túi
  • Kinh Nghiệm Khi Đi Du Lịch Hà Nội Bạn Cần Biết
  • Văn Hóa Du Lịch
  • ​những Điều Cần Biết Khi Đi Du Lịch Hà Nội Theo Tháng
  • Bãi Tắm Du Lịch Tại Cát Bà
  • Việt Nam Văn Hóa Và Du Lịch

    --- Bài mới hơn ---

  • Phim Sakura Và Chuyến Du Lịch Hongkong (Movie) Phần 1 Full
  • Kỹ Năng Sale Tour Trong Du Lịch
  • Chia Sẻ Kỹ Năng Sale Tour Du Lịch Cho Bạn
  • Kỹ Năng Và Quy Trình Sale Tour Du Lịch Giúp Tăng Đơn Hàng
  • Sản Phẩm Du Lịch Là Gì? Thành Phần Cơ Bản Của Sản Phẩm Du Lịch
  • Việt Nam là cửa ngõ thông ra vùng Đông Nam Á. Việt Nam là một quốc gia có hàng ngàn năm văn hiến với bao danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, văn hoá rộng khắp đất nước. Cha ông ta đã để lại trên nước non này biết bao thành quách, đền đài, chùa chiền, miếu mạo…, lớp nọ nối tiếp lớp kia. Cả đất nước là một bảo tàng lịch sử, văn hoá của 54 dân tộc cùng chung lưng đấu cật xây dựng nên đất nước này.

    Việt Nam, đất nước giầu tiềm năng du lịch. Ngày nay trong xu thế hội nhập toàn cầu hoá kinh tế, chúng ta đang từng bước hội nhập với khu vực và thế giới trên nhiều lĩnh vực, trong đó du lịch với tư cách là một ngành công nghiệp xanh đóng vai trò hết sức quan trọng. Nó vừa là một ngành kinh tế mũi nhọn, vừa đảm đương chức nang thông tin, tuyên truyền, trong mối quan hệ giao lưu văn hoá.

    Để góp phần quảng bá nền văn hoá và tiềm năng du lich Việt Nam, Nhà xuất bản Thông tấn cho ra mắt bạn đọc cuốn sách Việt Nam Văn hoá du lịch của soạn giả Trần Mạnh Thường. Với non một nghìn trang sách, từ nhiều nguồn tư liệu phong phú, soạn giả gới thiệu với bạn đọc một bức tranh toàn cảnh về nền văn hoá đa dạng và lâu đời của dân tộc Việt Nam từ địa lý, danh am thắng cảnh, di tích lịch sử văn hoá đến lễ hội, phong tục, tập quán…của 64 tỉnh thành trên cả nước. Hy vọng cuốn sách sẽ là một cẩm nang quý cho bạn đọc trong và ngoài nước muốn tìm hiểu về văn hoá và du lịch Việt Nam.

    Báo chí giới thiệu

    Việt Nam văn hóa & du lịch

    Quyển sách thực hiện rất công phu với gần 1.000 trang tư liệu và 96 trang hình ảnh giới thiệu toàn cảnh về Việt Nam Đất nước – Lịch sử – Con người. Có thể tìm thấy ở đây những hiểu biết bao quát về địa lý – lịch sử, trong đó ghi nhận những cột mốc đáng nhớ trong cả lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt, từ những truyền thuyết đến thời đương đại.

    Cũng có thể thấy rõ chân dung của 54 dân tộc đang sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam từ thời dựng nước đến nay, với ngôn ngữ, chữ viết, văn học, mỹ thuật, kiến trúc, nghề thủ công, âm nhạc truyền thống gồm cả âm nhạc dân gian và âm nhạc có tính chuyên nghiệp cao. Các mặt sinh hoạt văn hóa – tinh thần cũng được giới thiệu kỹ qua những lễ nghi tôn giáo, những phong tục tập quán lâu đời, cách ăn và cách mặc, cộng với những lễ hội để hợp lại thành diện mạo riêng của người Việt trong xã hội rộng lớn của loài người.

    Phần hai của tập sách dành giới thiệu chi tiết từng địa phương của 64 tỉnh thành trên cả nước. Đó là những danh lam thắng cảnh, những lễ hội hằng năm với những đặc trưng từng vùng miền bộc lộ sự phong phú trong đời sống của cộng đồng người Việt đa dạng nhưng hòa hợp và bổ sung cho nhau trong tiến trình giao thoa văn hóa và khẳng định bản sắc của từng dân tộc, từng địa phương, cũng như của cả dân tộc Việt Nam.

    Sách có ích không chỉ cho khách du lịch bên ngoài muốn tìm hiểu về Việt Nam mà còn có ích cho cả người Việt Nam khi muốn thưởng thức những tinh hoa của chính dân tộc mình.

    Sách do Trần Mạnh Thường biên soạn, Nguyễn Minh Tiến hiệu đính, NXB Thông Tấn và Công ty Văn hóa Hương Trang ấn hành, 2005.

    T.Đ (Thanh Nien 06/10/2005)

    Việt Nam Văn Hóa Và Du Lịch

    Quyển sách thực hiện rất công phu với gần 1.000 trang tư liệu và 96 trang hình ảnh giới thiệu toàn cảnh về Việt Nam Đất nước – Lịch sử – Con người. Có thể tìm thấy ở đây những hiểu biết bao quát về địa lý – lịch sử, trong đó ghi nhận những cột mốc đáng nhớ trong cả lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt, từ những truyền thuyết đến thời đương đại.

    Cũng có thể thấy rõ chân dung của 54 dân tộc đang sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam từ thời dựng nước đến nay, với ngôn ngữ, chữ viết, văn học, mỹ thuật, kiến trúc, nghề thủ công, âm nhạc truyền thống gồm cả âm nhạc dân gian và âm nhạc có tính chuyên nghiệp cao. Các mặt sinh hoạt văn hóa – tinh thần cũng được giới thiệu kỹ qua những lễ nghi tôn giáo, những phong tục tập quán lâu đời, cách ăn và cách mặc, cộng với những lễ hội để hợp lại thành diện mạo riêng của người Việt trong xã hội rộng lớn của loài người.

    Phần hai của tập sách dành giới thiệu chi tiết từng địa phương của 64 tỉnh thành trên cả nước. Đó là những danh lam thắng cảnh, những lễ hội hằng năm với những đặc trưng từng vùng miền bộc lộ sự phong phú trong đời sống của cộng đồng người Việt đa dạng nhưng hòa hợp và bổ sung cho nhau trong tiến trình giao thoa văn hóa và khẳng định bản sắc của từng dân tộc, từng địa phương, cũng như của cả dân tộc Việt Nam.

    Sách có ích không chỉ cho khách du lịch bên ngoài muốn tìm hiểu về Việt Nam mà còn có ích cho cả người Việt Nam khi muốn thưởng thức những tinh hoa của chính dân tộc mình.

    Sách do Trần Mạnh Thường biên soạn, Nguyễn Minh Tiến hiệu đính, NXB Thông Tấn và Công ty Văn hóa Hương Trang ấn hành, 2005.

    Theo Báo Thanh Niên 06/10/2005 T.Đ

    Không Phải Lỗi Của Con…

    Hạt Giống Tâm Hồn – Hạnh Phúc Không Khó Tìm (Tập 2)

    (Thứ Bảy, 17/03/2007)

    Xác định những điều thật sự quan trọng “Hạnh phúc là ý thức vươn tới những thành quả nói lên giá trị mà bản thân mỗi người muốn theo đuổi.”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cẩm Nang Hướng Dẫn Du Lịch Việt Nam Sách Online Uy Tín Giá Rẻ Hà Nội
  • Sách Hướng Dẫn Du Lịch Nhật Bản Đầu Tiên Dành Riêng Cho Người Việt Nam
  • Cuốn Sách Hướng Dẫn Du Lịch Nhật Bản Dành Cho Người Việt
  • Lào Đi Du Lịch Hướng Dẫn Miễn Phí Tải Về
  • Hàn Quốc Đi Du Lịch Hướng Dẫn Miễn Phí Tải Về
  • Việt Nam Học (Văn Hóa Du Lịch)

    --- Bài mới hơn ---

  • Ngành Việt Nam Học (Hướng Dẫn Viên Du Lịch)
  • ¬ Ngành Việt Nam Học (Chuyên Ngành Văn Hóa Du Lịch)
  • Nghỉ Hè Nên Đi Du Lịch Ở Đâu
  • Mua Việt Nam Văn Hóa Và Du Lịch
  • 3N2Đ Ở Vinpearl Phú Quốc Ocean Resort & Villas + Vé Máy Bay + Buffet 6 Bữa + Vinpearl Land + Safari Chỉ 5.350.000 Đồng
  • Bậc đại học – Mã ngành: 7310630A

    Loại hình đào tạo: Chính quy.

    1. Giới thiệu tóm tắt về chương trình: Việt Nam học (Văn hóa Du lịch) đào tạo Việt Nam học theo hướng ứng dụng.

    3. Cơ hội tìm kiếm việc làm và phát triển nghề nghiệp

    Với hướng ứng dụng vàcách tiếp cận đa mục tiêu,sinh viên tốt nghiệp cử nhân Việt Nam học (Văn hóa Du lịch)hướng đến 2 vị trí việc làm cơ bản là cán bộ văn hóa và hướng dẫn viên du lịch. Các vị trí việc làm cụ thể:

    – Các trung tâm nghiên cứu và đào tạo Việt Nam học;

    – Các cơ quan, tổ chức, đoàn thể xã hội về văn hoá, giáo dục như Ủy ban nhân dân, Sở, Phòng, Ban văn hóa; cán bộ văn xã ở xã/phường/thị trấn,…;

    – Các hoạt động hướng dẫn du lịch tại doanh nghiệp lữ hành, đại lý lữ hành, điểm tham quan du lịch.

    Tốt nghiệp chương trình đào tạo Việt Nam học theo hướng Văn hóa Du lịch, người học có đủ khả năng tiếp tục học tập và nghiên cứu chuyên môn ở trình độ thạc sĩ, tiến sĩ thuộc các chuyên ngành: Việt Nam học, Văn hóa học, Đông phương học…

    4. Điểm ưu trội của Chương trình đào tạo

    – Sinh viên ra trường có thể lựa chọn làm cán bộ văn hóa hoặc làm hướng dẫn viên du lịch, đặc biệt là du lịch văn hóa, lịch sử, tâm linh, sinh thái,…

    – Nhà trường có đầy đủ giảng viên cơ hữu tham gia đào tạo cả các modul kiến thức văn hóa lẫn kiến thức du lịch.

    5. Một số hình ảnh hoạt động của sinh viên Việt Nam học – Khoa KHXH & NV

    Sinh viên Văn hóa Du lịch đi điền dã học phần Hán Nôm ở chùa Linh Phước

    Sinh viên Văn hóa Du lịch đi Thực tế bộ môn ở Đà Lạt

    Sinh viên Văn hóa Du lịch tổ chức hoạt động thiện nguyện ở mái ấm tình thương Nha Trang

    Thực tập hướng dẫn viên du lịch

    TS. Trần Viết Thiện – Trưởng khoa, tập huấn về Văn hóa Du lịch

    cho nhân viên Champa Island Nha Trang

    Lưu ý:

    – Thí sinh có nhu cầu tìm hiểu thông tin cụ thể hơn liên hệ cô Bé – cán bộ tư vấn tuyển sinh của Khoa: 0982 828 909; Hoặc thầy Thiện – Trưởng khoa: 0982 053 058.

    Ban Tư vấn tuyển sinh Khoa KHXH&NV

    --- Bài cũ hơn ---

  • Canada Và Việt Nam Có Tiềm Năng Rất Lớn Để Hợp Tác Phát Triển Du Lịch
  • Việt Nam Có Mấy Vùng Kinh Tế Trọng Điểm?
  • Dịch Vụ Làm Visa Hà Lan Trọn Gói Tại Hà Nội Và Hồ Chí Minh
  • Hướng Dẫn Khai Tờ Khai Xin Visa Hungary
  • Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch Triển Khai Công Tác Năm 2013
  • Di Sản Văn Hóa Là Nguồn Tài Nguyên Độc Đáo Của Du Lịch

    --- Bài mới hơn ---

  • Khai Thác Và Bảo Vệ Tài Nguyên Du Lịch Ở Việt Nam
  • Tài Nguyên Du Lịch Và Khí Hậu Phát Triển Du Lịch Vùng Nam Bộ, Hay
  • Các Lí Do Vì Sao Tôi Yêu Thích Du Lịch Thái Lan
  • Vì Sao Du Lịch Việt Nam Mãi Chậm Phát Triển?
  • Vì Sao Du Lịch Việt Nam Chưa Bứt Phá?
  • Di sản văn hóa là sự kết tinh các giá trị vật chất và tinh thần của các thế hệ và trở thành tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Di sản văn hóa là biểu tượng của sự trường tồn, đồng thời là cầu nối giữa quá khứ, hiện tại và tương lai của dân tộc. Di sản văn hóa không chỉ góp phần tạo nên nền văn hóa Việt Nam phong phú và đa dạng mà còn đem lại những giá trị cho sự phát triển kinh tế – xã hội.

    Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Hà Văn Siêu cho biết: “Di sản văn hóa là tài nguyên du lịch có sức hấp dẫn mạnh mẽ, là động lực thu hút ngày càng nhiều khách tham quan trong nước và khách du lịch quốc tế đến Việt Nam. Hiện nay, ngành du lịch xem đây là nền tảng trụ cột quan trọng để phát triển kinh tế du lịch bên cạnh các yêu tố về hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật chuyên ngành và nguồn nhân lực. Di sản văn hóa cũng là công cụ hỗ trợ tích cực trong việc định vị hình ảnh, xây dựng thương hiệu du lịch Việt Nam”.

    Đồng quan điểm với Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch, chúng tôi Phạm Thị Thu Hương – Hiệu trưởng trường Đại học Văn hóa Hà Nội cũng nhận định: “Ngày nay, di sản văn hóa trở thành một trong những nguồn lực quan trọng để phát triển du lịch không chỉ bởi nó là nguồn tài nguyên có sức hấp dẫn bởi các giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, để từ đó tạo nên những sản phẩm văn hóa – du lịch hoàn chỉnh và đặc sắc, mà còn là công cụ hỗ trợ tích cực trong việc định vị hình ảnh, xây dựng và quảng bá hình ảnh quốc gia. Trên thế giới, du lịch văn hóa từ lâu đã là một trong những dòng sản phẩm du lịch cơ bản, và vì thế, với các quốc gia, vùng lãnh thổ có hệ thống di sản đậm đặc như Việt Nam thì du lịch văn hóa trở thành một trong những thế mạnh nổi trội”.

    Có thể thấy, những năm gần đây du lịch di sản đã phát triển mạnh mẽ, lượng khách tham quan trong nước và quốc tế không ngừng gia tăng, đặc biệt di sản sau khi đã được Nhà nước lập hồ sơ công nhận và được UNESCO vinh danh. Sức hấp dẫn của di sản đã tạo động lực cho phát triển du lịch mang lại nhiều lợi ích về thu nhập, việc làm và phát triển kinh tế – xã hội địa phương. Cụ thể như Quần thể di tích cố đô Huế, năm 2022 đón 3 triệu lượt khách du lịch, trong đó 1,8 triệu khách du lịch quốc tế, thu hút được 320 tỷ đồng từ bán vé tham quan di sản; Phố cổ Hội An đón 1,98 triệu lượt khách, thu về 2022 tỷ đồng từ bán vé tham quan…

    Trên thế giới, du lịch văn hóa đã từ lâu và sẽ là trường phái hay dòng sản phẩm du lịch cơ bản. Đặc biệt đối với các quốc gia, vùng lãnh thổ có chiều sâu văn hóa đo bằng hệ thống di sản đậm đặc như nước ta thì du lịch di sản trở thành một trong những thế mạnh nổi trội.

    Du lịch tạo nguồn lực để thúc đẩy việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản

    Ở nước ta, chủ trương phát triển du lịch trên cơ sở bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc đã được thể hiện trong Nghị quyết 08/NQ-TW của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Du lịch văn hóa vì vậy là một dòng sản phẩm chủ đạo của du lịch Việt Nam từ tham quan di tích lịch sử văn hóa, hệ thống bảo tàng, các công trình văn hóa, hoạt động nghệ thuật cho tới tìm hiểu, tương tác, trải nghiệm văn hóa, lễ hội, lối sống địa phương…

    Vì thế, không thể phủ nhận vai trò của du lịch đối với di sản. Du lịch tạo nguồn lực tài chính, sự đam mê, trí tuệ thúc đẩy việc bảo tồn và phát huy các giá trị di sản. Chính nhu cầu tham quan, tìm hiểu, trải nghiệm của du khách đã thôi thúc chính quyền và nhân dân biết quý trọng, tự hào, quan tâm chăm lo giữa gìn bảo tồn, phục dựng và làm sáng tỏ, phát huy những giá trị vốn quý của di sản văn hóa.

    Du lịch di sản vừa tạo ra thu nhập, việc làm vừa tạo động cơ, vừa tạo ra nguồn lực để bảo tồn và phát huy giá trị di sản; đồng thời hỗ trợ tích cực nâng cao chất lượng cuộc sống, tăng cường sự hiểu biết, tôn trọng đa dạng và giao thoa các nền văn hóa, làm cơ sở hình thành quy tắc ứng xử phù hợp giữa người dân và khách du lịch với di sản. Những lợi ích của du lịch di sản là không nhỏ và được chia sẻ đến doanh nghiệp, người dân và một phần doanh thu từ du lịch di sản được quay trở lại tái đầu tư vào việc bảo tồn, tôn tạo, tôn vinh, phục dựng và quản lý di sản. Với ý nghĩa đó, du lịch di sản đóng góp to lớn cho bảo tồn và phát huy bền vững di sản văn hóa.

    PGS. TS Bùi Thanh Thủy – Trưởng Khoa Gia đình và công tác xã hội, trường Đại học Văn hóa Hà Nội khẳng định: “Du lịch phát triển tạo tiềm lực để tôn tạo, trùng tu các di tích, phục dựng các lễ thức, lễ hội, các loại hình nghệ thuật dân gian… đồng thời tạo nguồn thu nhập tại chỗ cho phép các địa phương tích lũy và phát triển kinh tế xã hội, trong đó có văn hóa. Ngoài ra bản thân du lịch còn có chức năng giáo dục thông qua các hoạt động ngành nghề, nó nhắc nhở mọi người về gốc gác văn hóa và giúp du khách xác định, hình thành nên bản sắc của mình, thúc đẩy mối quan tâm của công dân đến lịch sử, văn hóa, di sản.

    Tuy nhiên, trong bối cảnh du lịch phát triển mạnh mẽ như hiện nay, nhất là khi thực tiễn cho thấy: du lịch đại trà đã và đang có những tác động tiêu cực tới di sản văn hóa, thì vấn đề cần đặt ra là cần có phương thức, giải pháp phù hợp để cân bằng, giải quyết mối quan hệ bảo tồn – phát triển. Để làm được điều đó, ngành Du lịch Việt Nam cần xác định: Không thể chỉ khai thác, phát huy giá trị của nguồn tài nguyên văn hóa đặc sắc vốn có, mà để phát triển một cách bền vững, việc bảo tồn nó cũng là một nhiệm vụ thường xuyên của Ngành.

    Lan Anh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Liên Hiệp Các Hội Khkt Tỉnh Thừa Thiên Huế
  • Vĩnh Phúc Phát Triển Du Lịch Đặc Trưng Bền Vững
  • Địa Du Lịch An Giang
  • Tìm Hiểu Du Lịch Tỉnh An Giang
  • Tổng Quan Về Đà Nẵng
  • Tài Nguyên Du Lịch Nhân Văn

    --- Bài mới hơn ---

  • Tour Du Lịch Đà Nẵng Với Giá Rẻ Chỉ Từ 2.050.000 Vnđ
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Cuba Cực Bổ Ích Và “siêu” Tiết Kiệm
  • Cách Làm Thủ Tục Xin Visa Du Lịch Nhật Bản Tự Túc
  • Du Lịch Khoang Xanh Suối Tiên 2 Ngày 1 Đêm Thoả Sức Tận Hưởng Thiên Nhiên Trong Lành
  • Xin Visa Du Lịch Bi
  • Posted on by tailieudulich

    2.3. Tài nguyên du lịch nhân văn (TNDLNV)

    2.3.1. Quan niệm.

    TNDLNV nói một cách ngắn gọn, là các đối tượng, hiện tượng do con người tạo ra trong suốt quá trình tồn tại và có giá trị phục vụ cho nhu cầu du lịch.

    TNDLNV có các đặc điểm sau:

    – Có tác dụng nhận thức nhiều hơn. Tác dụng giải trí không điển hình hoặc chỉ có ý nghĩa thứ yếu.

    – Việc tìm hiểu các đối tượng nhân tạo thường diễn ra trong thời gian ngắn.

    – Số người quan tâm tới TNDLNV thường có văn hoá cao hơn, thu nhập và yêu cầu cao hơn.

    – TNDLNV thường tập trung ở các điểm quần cư và thành phố lớn.

    – Ưu thế của TNDLNV là đại bộ phận không có tính mùa vụ (trừ các lễ hội), không bị phụ thuộc nhiều vào các điều kiện khí hậu và các điều kiện tự nhiên khác.

    – Sở thích của những người tìm đến TNDLNV rất phức tạp và rất khác nhau…

    2.3.2. Các loại TNDLNV.

    a. Các di sản văn hoá thế giới và di tích lịch sử – văn hoá.

    * Di sản văn hoá thế giới .

    – Các tiêu chuẩn của văn hoá thế giới (6 tiêu chuẩn).

    + Là các tác phẩm nghệ thuật độc nhất vô nhị, tác phẩm hàng đầu của tài năng con người.

    + Có ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển của nghệ thuật kiến trúc, nghệ thuật cấu tạo không gian trong một thời kỳ nhất định, trong một khung cảnh văn hoá nhất định.

    + Chứng cớ xác thực cho một nền văn minh đã bị biến mất.

    + Cung cấp một ví dụ hùng hồn về một thể loại xây dựng hoặc kiến trúc phản ánh một giai đoạn lịch sử có ý nghĩa.

    + Cung cấp một ví dụ hùng hồn về một dạng nhà truyền thống nói lên được một nền văn hoá có nguy cơ bị huỷ hoại trước những biến động không thể cưỡng lại được.

    + Có mối quan hệ trực tiếp với sự kiện, tín ngưỡng đáp ứng được những tiêu chuẩn xác thực về ý tưởng sáng tạo, về vật liệu, về cách tạo lập cũng như về vị trí.

    – Nhìn chung, các di sản văn hoá thế giới là kết tinh cao nhất của những sáng tạo văn hoá một dân tộc. Bất cứ một quốc gia nào nếu có những di tích được công nhận là di sản văn hoá thế giới thì không những là một tôn vinh lớn cho dân tộc ấy, mà còn là nguồn tài nguyên quý giá, có sức hút khách du lịch, đặc biệt là khách quốc tế.

    Hết năm 2006, trên toàn thế giới Hội đồng di sản thế giới đã công nhận được 840 di sản. Nước ta có 7 di sản thế giới, trong đó có 5 di sản văn hoá gồm cố đô Huế (công nhận năm 1993), tháp Chàm Mỹ Sơn (1999), đô thị cổ Hội An (1999) nhã nhạc cung đình Huế (2003), cồng chiêng Tây Nguyên (2005) và 2 di sản tự nhiên gồm vịnh Hạ Long (1994) và Phong Nha – Kẻ Bàng (2003).

    Trong số các di sản thế giới phải kể tới 7 kỳ quan do bàn tay khối óc con người tạo ra tập trung ở những nôi của nền văn minh nhân loại. Đây là 7 kỳ quan kỳ diệu được khắc mốc ghi tên từ thế kỷ VI sau công nguyên, như những chứng tích điển hình. Cụ thể là:

    Kim tự tháp Ai Cập.

    Vườn treo Babilon (Irắc).

    Tượng khổng lồ Hêliốt trên đảo Rốt (Hy lạp).

    Lăng mộ vua Môdôn ở Halicacnasơ (Thổ Nhĩ Kỳ).

    Đền thờ nữ thần Actêmis ở Ephedo (Thổ Nhĩ Kỳ).

    Tượng thần Rớt trong ngôi đền tại Olympia (Hy Lạp).

    Ngọn hải đăng ở Alêcxanđria (Ai Cập).

    Trong 7 kỳ quan trên, chỉ còn kim tự tháp Ai Cập là vẫn tồn tại

    * Các di tích lịch sử tích lịch sử – văn hoá

    Di tích lịch sử tích lịch sử – văn hoá là tài sản quý giá của mỗi địa phương, mỗi dân tộc, đất nước và cả nhân loại. Nó là bằng chứng trung thành, xác thực, cụ thể về đặc điểm văn hoá mỗi nước. Ở đó chứa đựng tất cả những gì thuộc về truyền thống tốt đẹp, những tinh hoa, trí tuệ, tài năng, giá trị văn hoá nghệ thuật của mỗi quốc gia. Di tích lịch sử – văn hoá có khả năng rất lớn góp phần vào việc phát triển trí tuệ, tài năng của con người; góp phần vào việc phát triển khoa học nhân văn, khoa học lịch sử. Đó chính là bộ mặt quá khứ của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia.

    Trên thế giới những kim tự tháp ở Ai Cập, chùa tháp dát vàng, bạc ở Ấn Độ, Mianma, Angcovát ở Campuchia… và trong nước với thành Cổ Loa, đền Hùng, cố đô Huế, thánh địa Mỹ Sơn… vẫn mãi là biểu tượng chói ngời cho kho tàng văn hoá dân tộc và của nhân loại.

    Được gọi chung là di tích lịch sử – văn hoá vì chúng được tạo ra bởi con người (tập thể hoặc cá nhân) trong quá trình hoạt động, sáng tạo. Thứ văn hoá ở đây bao gồm cả văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần.

    Hiện nay, một số nước trên thế giới đã có những quy định về di tích lịch sử văn hoá.

    – Theo hiến chương Vơnidơ – Italia (1996) thì di tích lịch sử văn hoá bao gồm những công trình xây dựng lẻ loi, những khu di tích ở đô thị hoặc nông thôn, là những bằng chứng của một nền văn minh riêng biệt, của một sự tiến hoá có ý nghĩa hay là một biến cố về lịch sử.

    – Ở Ai Cập (1983) cho rằng các di tích lịch sử – văn hoá là cổ vật bất động sản và động sản. Cụ thể “Được coi là cổ vật mọi động sản hoặc bất động sản được làm ra từ các nền văn minh khác nhau, hoặc một sáng tạo nghệ thuật, khoa học, văn hoá, hoặc tôn giáo của thời đại tiền sử, hoặc các thời kỳ kế tiếp nhau của lịch sử và ngược trở lên một trăm năm, khi tài sản đó có một giá trị quan trọng về khảo cổ học hay lịch sử, là chứng cứ của một nền văn minh khác nhau đã tồn tại trên đất Ai Cập, đã có với đất nước Ai Cập những qua hệ lịch sử, cũng được coi là cổ vật, kể cả các di hài người và động vật cùng niên đại với thời kỳ ấy”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tài Nguyên Du Lịch Nhân Văn Việt Nam
  • Du Lịch Sông Cầu Phú Yên Có Gì Đẹp?
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Sông Cầu, Phú Yên (Cập Nhật 08/2020)
  • Du Lịch Thái Lan Nên Đi Tour Hay Đi Tự Túc?
  • Nên Đi Du Lịch Thái Lan Theo Tour Hay Tự Túc?
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100