Top #10 ❤️ Tài Nguyên Du Lịch Văn Hóa Việt Nam Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 9/2022 ❣️ Top Trend | Samthienha.com

Tài Nguyên Văn Hóa Là Đặc Sắc Của Du Lịch Việt Nam

Những Điều Cần Lưu Ý Khi Đi Du Lịch Hà Giang Mà Bạn Cần Phải Biết

Top 20 Khách Sạn Nên Ở Khi Đi Du Lịch Tại Singapore Từ Cao Cấp Đến Bình Dân

Kinh Nghiệm Du Lịch Tam Đảo 1 Ngày

Du Lịch Tổng Hợp: Những Địa Điểm Du Lịch Lý Tưởng Gần Seoul

Tour Du Lịch Hải Phòng Nha Trang 3 Ngày 2 Đêm Khởi Hành Hằng Ngày

Văn hóa là khái niệm rất rộng, bao trùm mọi hành vi, ứng xử của con người trong cuộc sống; trong đó có du lịch. Tài nguyên du lịch gồm tài nguyên tự nhiên và tài nguyên văn hóa.

Tài nguyên du lịch tự nhiên cũng phục vụ nhu cầu văn hóa của con người. Ở nghĩa hẹp hơn, người ta nói nhiều đến văn hóa du lịch. Không có thuật ngữ du lịch văn hóa như một loại hình, bên cạnh du lịch sinh thái, thể thao, nghỉ dưỡng…

Theo Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên thế giới (World Wide Fund For Nature – WWF), Việt Nam xếp 30/140 quốc gia về tài nguyên văn hóa.

Tổ chức giải thưởng du lịch thế giới (World Travel Awards – WTA) đề cử Việt Nam là điểm đến văn hóa hàng đầu của du lịch toàn cầu. Đa phần du khách, cả trong nước và quốc tế, đều mong muốn được trải nghiệm những khác biệt về văn hóa Việt Nam và chưa được thỏa mãn.

Du khách có phần ấm ức, thất vọng. Người trong cuộc thì vò đầu, bứt tai than “Lực bất tòng tâm” hoặc “Quân ta hại quân mình”; kiểu một người xây, mấy kẻ phá. Người xưa từng dạy “Tiên trách kỷ, hậu trách nhân”. Phải nhấn mạnh vế đầu, vế sau không đáng kể. Vấn đề là có dám nhìn thẳng vào những sự thật hay không.

Những sự thật trần trụi

Du lịch vốn là một phần tất yếu (chứ không phải tất cả) của văn hóa. Tổng cục Du lịch trực thuộc Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch. Thể thao cũng là văn hóa. Chữ văn hóa ở đây được hiểu theo nghĩa là nghệ thuật. Tiếng Việt phong phú đến rối ren do cách dùng tùy tiện. Trong lý lịch cá nhân, có phần “Trình độ văn hóa” thay vì “Trình độ học vấn”. Tương tự, các cụm từ “Học văn hóa”, “Bổ túc văn hóa”; phải được thay bằng “học chữ”, “học nghề” (đủ thứ).

Trong kinh doanh, ngoài chất lượng thì yếu tố quyết định thành công là sự khác biệt tích cực. Phải viết như vậy để phân biệt với sự khác biệt dị hợm, tiêu cực. Ngon và đẹp thì tùy cảm nhận của từng người, từng vùng nhưng lạ thì dễ dàng thống nhất. “Nửa ký của lạ bằng mấy tạ của quen” là vậy. Việt Nam có rất nhiều cái lạ. Đáng tiếc là cái lạ bản sắc, tích cực thì ít được giữ gìn và phát triển. Cái lạ tiêu cực thì cứ sinh sản vô tính.

Ai cũng biết, các cửa khẩu là ấn tượng đầu tiên của du khách về bộ mặt quốc gia cần được chăm chút. Đáng buồn vì Việt Nam vẫn có nhiều nơi đang đón khách bằng thủ tục hành chính rườm rà. Cả thái độ lẫn tinh thần phục vụ của nhân viên đều có vấn đề, chưa kể trình độ ngoại ngữ; khác hẳn với sự thân thiện của người dân và truyền thống hiếu khách của dân tộc. Cứ tưởng là mấy chuyện nhỏ nhưng tác hại lớn, tạo nên những khó chịu, bực dọc và thành kiến tiếp theo, nhất là những ai lần đầu đến Việt Nam.

Vào “nhà” thì rối ren đủ thứ. Trái với các nước phát triển, xe cộ ở Việt Nam là hung thần của người đi bộ. Giao thông hỗn loạn, không kiểm soát được, dù cảnh sát giao thông mai phục khắp chốn. Ở Samthienha.com còn có lực lượng áo xanh đông đảo phất cờ làm kiểng. An ninh của du khách thường xuyên bị đe dọa. Từ vấn nạn chặt chém của taxi, nhà hàng đến giựt dọc trên đường phố. Du khách bị khủng bố tinh thần vì thiếu nhà vệ sinh hoặc có mà dơ bẩn, vì phập phồng cướp giật, vì vệ sinh môi trường lẫn vệ sinh thực phẩm. Chất lượng các dịch vụ chưa thể so sánh với các đối thủ cạnh tranh trong khu vực.

Vì những ý muốn chủ quan của các nhà quản lý, không ít di sản văn hóa bị xóa sổ. Chùa Bái Đính cổ gần như biến mất. Thay vào đó là chùa mới, to vật vã nhưng dường như…vô hồn. Đường xe lửa răng cưa Phan Rang – Đà Lạt bị tháo dỡ, các đầu máy được bán sắt vụn cho Thụy Sĩ. Họ mua về làm du lịch, vẫn lịch sự giữ nguyên dòng chữ “Toa xe Đà Lạt”. Ngay cả cầu Bến Hải cũng bị tháo dỡ. Báo chí và dư luận lên tiếng, cầu được phục chế.

Đáng tiếc nhất là việc di dời chợ nổi Ngã Bảy Phụng Hiệp (Hậu Giang), đã xóa sổ thương hiệu lừng danh hơn trăm năm của cả khu vực Đông Nam Á. Gần nhất là việc tháo dỡ cầu Gành (Đồng Nai) hơn trăm tuổi. Rồi thì hàng ngàn biệt thự cổ biến mất khó hiểu ở khắp đất nước, nhiều nhất là ở Hà Nội và TP.HCM…

Những dị biệt tiêu cực này lấn áp các khác biệt tích cực. Đó là ẩm thực phong phú, món ngon đường phố đa dạng. Là internet phổ cập miễn phí và dễ dàng. Là dịch vụ “Door to door” của vận chuyển liên tỉnh. Là cảnh quan và di sản đẹp, lạ. Là những phong tục tập quán đặc thù. Là lịch sử sôi động và bi tráng. Đất nước rất ổn định về chính trị nhưng lại… chưa dám mở cửa cho du khách vui chơi và tiêu tiền thoải mái. Mọi thứ cứ khác thiên hạ. Thứ gì các nước chặt thì ta lỏng và ngược lại.

Việt Nam tự hào với lịch sử mấy ngàn năm văn hiến nhưng cách chào lai căng đủ kiểu. Cũng không có quốc phục riêng và những giai điệu dân gian đặc trưng được thừa nhận. Không có kiến trúc đặc thù…Ẩm thực Việt Nam rất phong phú nhưng văn hóa ẩm thực thì hổ lốn. Chẳng nơi nào có kiểu vừa ăn vừa xem ca múa nhạc tạp kỹ phổ biến như Việt Nam. Nhiều nơi, vừa du thuyền trên sông, vừa ăn uồng và thưởng thức nghệ thuật tổng hợp. Tác phong làm việc lề mề nhưng ăn rất nhanh, vừa ăn ngồm ngoàm vừa nói chuyện ồn ào. Văn hóa gắp đồ ăn cho khách lậm vào trong kinh doanh lẫn cuộc sống, cứ thích làm theo ý mình, nhất là lãnh đạo. Thói quen dùng đũa, muỗng chung; vừa mất vệ sinh vừa kỳ cục.

Nhà vệ sinh, nơi thể hiện tính cách cá nhân rõ nét nhất, nơi thỏa mãn nhu cầu quan trọng nhất của con người luôn bị xem nhẹ. Ngược lại là thói khoa trương, bệnh thành tích, sính bằng cấp và coi thường thực tiễn. Hiệu ứng ghiền bê tông, thích xây mới lòe loẹt vô hồn đang phá vỡ cảnh quan nhiều danh thắng và cả vườn quốc gia.

Các di tích bị xâm hại nghiêm trọng. Bảo tồn và trùng tu mà như phá hoại. Các công trình kiến trúc cổ xuống cấp, ngày càng bị xâm lấn và xóa sổ dần. Thời bao cấp ấu trĩ đành chịu, mất mát vô kể. Thời đổi mới mở cửa, vẫn tồn tại nghịch lý bảo tồn và phát triển. Việc xâm hại và xóa sổ di tích không trắng trợn mà tinh vi, núp dưới nhiều chiêu bài và danh nghĩa. Bản sắc văn hóa Việt đang ngày càng mai một!

Đôi điều góp ý

Nếu áo dài, cả nam lẫn nữ, được công nhận là quốc phục chính thức bằng văn bản pháp luật của Quốc hội thì đã không có chuyện nhà tạo mẫu ở Trung Quốc ăn cắp mẫu mã, vơ vào của mình. Áo dài, từng là quốc phục, bị phê phán và tẩy chay thời bao cấp. Có lãnh đạo từng cho rằng đó là tàn dư phong kiến, rườm rà, “một áo dài may được hai áo ngắn”. Việt Nam cũng từng có cách chào đặc thù nhưng bị xóa sổ vì ấu trĩ.

Việc đầu tiên là phải xác định lại quốc phục và cách chào Việt Nam như tổ tiên mình từng công nhận. Việc quan trọng nhất là thay đổi nhận thức về văn hóa dân tộc, gạn đục khơi trong, lấy truyền thống làm nền tảng cho hiện đại. Đoạn tuyệt với tư duy “Lãnh đạo đồng nghĩa với khoa học” và “Quản không được thì cấm”. Loại bỏ văn hóa gắp đồ ăn cho khách; dùng đũa, muỗng chung; vừa ăn vừa nghe xem đủ thứ…

Chống quan điểm cực đoan trong bảo tồn và phát triển. Cặp phạm trù này không hề có mâu thuẫn đối kháng. Thực tế cho thấy chỉ có mâu thuẫn giữa các chủ đầu tư và cộng đồng. Muốn bảo tồn phải biết trùng tu và phát triển. Ngược lại muốn phát triển bền vững phải biết bảo tồn. Tuyên chiến với vấn nạn bê tông hóa mọi nơi mọi lúc.

Truyền thống thân thiện, hiếu khách của người Việt phải được thể hiện rõ nhất tại các cửa ngõ của đất nước cho đến các cơ quan công quyền, các cơ sở dịch vụ. Như nhân viên cửa khẩu Đài Loan, Myanmar…luôn tươi cười, tận tình hỗ trợ du khách và không ngừng nói lời cảm ơn.

Campuchia mở cửa Hoàng Cung cho khách tham quan với giá vé 10 USD mỗi người trong ngày. Buổi nào quốc vương tiếp khách thì đóng cửa. Nhà khách vua Sihanouk ở Siem Riep được biến thành khách sạn cổ sang trọng Grand Angkor Hotel với tấm thảm đỏ in dấu chân nhiều nguyên thủ quốc gia. Nhà khách mới của Quốc vương Sihamoni nhỏ và đơn giản hơn nhiều. Việt Nam có thể làm tương tự với Phủ Chủ tịch, trụ sở Ủy ban nhân dân thành phố và nhiều tỉnh thành khác.

Hoàng cung Brunei được chuyển thành phức hợp The Empire Hotel Country Club tương đương 6 sao. Phòng ở của vua Bokiah trước đây có giá bán tới hơn 20.000 USD/đêm. Xu thế các nước là ưu tiên cho phát triển du lịch và tận dụng mọi thứ để du lịch phát triển vì đây là ngành công nghiệp xuất khẩu tại chỗ rất hiệu quả.

Các tỉnh thành Việt Nam hoàn toàn có thể chuyển các trụ sở hoành tráng để làm du lịch. Baan Tong Luang (Chieng Mai, Thái Lan), Mari – Mari (Kinabalu, Malaysia) là làng văn hóa các dân tộc đúng nghĩa; là những mô hình có thể vận dụng tại Việt Nam thay cho những công viên văn hóa các dân tộc, hoành tráng mà tốn kém (tốn tiền, kém hiệu quả). Hai cường quốc du lịch dẫn đầu thế giới là Pháp và Tây Ban Nha đều hấp dẫn và thu hút khách bằng những trải nghiệm văn hóa khác biệt, đa dạng.

Có thể thay đường hoa Nguyễn Huệ bằng sông hoa Sài Gòn/TPHCM. Mở rộng các chợ đêm và phố đi bộ như ở Đài Loan, Thái Lan; tạo thành những công viên văn hóa sống động vào buổi tối. Tổ chức cho du khách trải nghiệm ẩm thực, học cách chế biến các món ngon Việt Nam và các sự kiện gia đình như “Thôi nôi”, “Đám hỏi”, “Đám cưới”, “Đám giỗ”, các hoạt động Tết…

Xây dựng homestay chuẩn quốc gia theo mô hình các homestay A Chu (Sơn La), Minh Thơ (Hòa Bình), Xuân Diện (Lào Cai)…Phát triển các lễ hội tích cực như Đua bò (An Giang); Trái cây Nam bộ, Ẩm thực đường phố, Món ngon các nước, Áo dài (Sài Gòn); Bánh dân gian (Cần Thơ), Ook om bok – Đua ghe ngo (Sóc Trăng), Minh thề (Hải Phòng), Tịch điền (Hà Nam), Trâu rơm bò rạ (Vĩnh Phúc)…

Chấm dứt các lễ hội dã man như Đâm trâu (thật ra là tế trâu hay khóc trâu – Tây Nguyên và Quảng Nam), Chém lợn (Bắc Ninh), Chọi trâu (Hải Phòng)… Chấn chỉnh những lễ hội biến tướng thành dịp buôn bán, hối lộ thần thánh như “cướp ấn, cướp lộc” và các lễ hội chùa, các festival thực chất chỉ có tính hình thức…Để tận dụng và phát tiển tài nguyên văn hóa một cách hiệu quả, cần có qui hoạch khoa học, dài hơi và đồng bộ.

Làm du lịch là làm kinh tế chứ không phải làm phong trào, chạy theo số lượng và hình thức để báo cáo. Dĩ nhiên không làm kinh tế bằng mọi giá mà phải cân nhắc chọn lọc để phát triển bền vững. Nhiều quốc gia như Hàn Quốc, Singapore, Nhật Bản…sau nhiều thập niên kinh tế tăng trưởng nóng đã chấp nhận chậm lại. Họ hạn chế phát triển sản xuất nội địa, ưu tiên xuất khẩu công nghiệp, đẩy mạnh các dịch vụ du lịch để xuất khẩu tại chỗ và lấy văn hóa đặc thù làm nền tảng.

Sự “dốt nát chân thật” (Trần Việt Phương) là lời cảnh báo về cách làm tùy tiện của nhiều địa phương, đã vô tình cản trở du lịch. Nguy hại hơn, đó là những hành động hủy diệt văn hóa dân tộc. Một dân tộc sẽ tiêu vong khi đánh mất bản sắc văn hóa. Chúng ta phải tự hào rằng: bản sắc Việt vẫn vững vàng với trang phục, chữ viết, ngôn ngữ và nhiều phong tục khác biệt và đặc sắc sau hàng ngàn năm bị đô hộ, qua nhiều cuộc chiến khốc liệt để giữ nước.

Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc không chỉ để phát triển du lịch. Đó còn là cách tốt nhất để bảo vệ độc lập và chủ quyền lãnh thổ mà tổ tiên người Việt đã làm rất tốt mấy ngàn năm nay.

(*) Bài viết thể hiện quan điểm của tác giả Nguyễn Vũ Mộc Thiêng

Khu Du Lịch Gáo Giồng Cao Lãnh: Địa Chỉ

Du Lich Đài Loan 5 Ngày Từ Đà Nẵng

Top 50 Địa Điểm Du Lịch Gần Hà Nội Mới Và Đẹp Nhất Tháng 9/2020 * Du Lịch Số

Du Lịch Phú Yên Đẹp Qua Từng Thắng Cảnh

Khám Phá Khu Du Lịch Sinh Thái Quốc Tế Cà Mau

Tài Nguyên Du Lịch Nhân Văn Việt Nam

Tài Nguyên Du Lịch Nhân Văn

Tour Du Lịch Đà Nẵng Với Giá Rẻ Chỉ Từ 2.050.000 Vnđ

Kinh Nghiệm Du Lịch Cuba Cực Bổ Ích Và “siêu” Tiết Kiệm

Cách Làm Thủ Tục Xin Visa Du Lịch Nhật Bản Tự Túc

Du Lịch Khoang Xanh Suối Tiên 2 Ngày 1 Đêm Thoả Sức Tận Hưởng Thiên Nhiên Trong Lành

PHẦN MỞ ĐẦU

1.

Lí do chọn đề tài

Du lịch là ngành công nghiệp không khói có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình

phát triển kinh tế bởi mang lại lợi ích kinh tế cao. Đặc biệt với các quốc gia đang

trong quá trình hội nhập và phát triển như Việt Nam thì việc đẩy mạnh phát triển du

lịch là một vấn đề quan trọng. Để phát triển du lịch đòi hỏi phải có sự hợp thành của

nhiều yếu tố. Trong đó tài nguyên du lịch là yếu tố cơ bản để tạo thành các sản phẩm

du lịch. Chính sự phong phú đa dạng và đặc sắc của tài nguyên du lịch tạo nên sự

phong phú, đa dạng, hấp dẫn của sản phẩm du lịch.

Trải dài trên lãnh thổ hình chữ S, Việt Nam có rất nhều các tài nguyên du lịch,

từ những tài nguyên du lịch tự nhiên đến tài nguyên du lịch nhân văn với vô vàng

danh lam thắng cảnh nổi tiếng. Những điểm đến là khu du lịch sinh thái, vườn quốc

gia, vịnh biển, hệ thống các đảo và quần đảo làm cho tài nguyên thiên nhiên thêm

phong phú. Bên cạnh đó là tài nguyên du lịch nhân văn với nhiều di tích mang đậm

giá trị lịch sử và không ít công trình là “Di sản văn hóa của nhân loại”. Với tài

nguyên vô cùng đa dạng đó việc khai thác các thế mạnh, tính toán đến tác động môi

trường khác nhau trong quá trình khai thác là vấn đề hết sức khó khăn, đặc biệt là tài

nguyên du lịch nhân văn.

Xuất phát từ mâu thuẫn đó, tôi nghiên cứu vấn đề: “Thế mạnh tài nguyên du

lịch nhân văn và tác động đến phát triển kinh tế xã hội”. Đề tài tạo điều kiện đánh

giá giá trị tài nguyên du lịch nhân văn, xác định mối quan hệ giữa tài nguyên du lịch

nhân văn và việc khai thác các tài nguyên đó để phục vụ phát triển du lịch.

2.

Mục tiêu của đề tài

Đánh giá thế mạnh tài nguyên du lịch nhân văn Việt Nam nhằm xây dựng định

hướng khai thác phù hợp và đề xuất các giải pháp khai thác có hiệu quả.

3.

Nhiệm vụ của đề tài

Tổng hợp một số vấn đề lí luận về du lịch nói chung và tài nguyên du lịch

nhân văn nói riêng.

Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn trên lãnh thổ Việt Nam

Nghiên cứu đánh giá thực trạng khai thác tài nguyên du lịch nhân văn Việt

Nam nhằm xây dựng định hướng khai thác phù hợp.

4.

Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Tài nguyên du lịch nhân văn tác động trên các mặt

Kinh tế – xã hội – môi trường.

Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu tài nguyên du lịch nhân văn trên lãnh

thổ Việt Nam.

5.

Các phương pháp nghiên cứu

Phương pháp phân tích số liệu thống kê: thu thập các tài liệu thông kê liên

quan từ các cơ trung ương đến địa phương tỉnh, huyện, xã,…

Kế thừa những kết quả nghiên cứu có trước, hệ thống hóa cơ sở lí luận, thực

tiễn và vận dụng vào đề tài một cách hợp lý.

6.

Nội dung bài tiểu luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, và tài liệu tham khảo, đề tài gồm các nội dung

chính sau:

Chương 1. Một số vấn đề lí luận cơ bản về du lịch và tài nguyên du lịch nhân

văn.

Chương 2. Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch nhân văn ở Việt Nam.

Chương 3. Tác động của tài nguyên du lịch nhân văn đến Kinh tế – Xã hội –

Môi trường của Việt Nam.

Chương 4. Giải pháp khai thác tài nguyên du lịch nhân văn của Việt Nam.

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VÀ THỰC TIỄN VỀ DU LỊCH

VÀ TÀI NGUYÊN DU LỊCH NHÂN VĂN

1.1.

Một số vấn đề lí luận

1.1.1. Khái niệm du lịch

Dưới những góc độ nghiên cứu khác nhau, hoàn cảnh không gian, thời gian

khác nhau, mỗi tổ chức cá nhân có những cách hiểu về du lịch khác nhau.

Với mục đích quốc tế hóa, tại hội nghị Liên Hợp Quốc về du lịch họp tại

ROMA (Italia) năm 1963, các chuyên gia đã đưa ra khái niệm như sau: “Du lịch là

tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ cuộc

hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi cư trú thường xuyên

của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình. Nơi họ đến du lịch không phải nơi

làm việc của họ.”

Tổ chức Du lịch thế giới (World Tourism Organization) lại định nghĩa: “Du

lịch là tổng thể các hiện tượng và các mối quan hệ xuất phát từ sự giao lưu với du

khách, các nhà kinh doanh, chính quyền địa phương và cộng đồng dân cư trong quá

trình thu hút và đón tiếp khách du lịch.”

1.1.2. Khái niệm tài nguyên du lịch

Tài nguyên hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các nguồn nguyên liệu, năng

lượng và thông tin trên Trái Đất và trong không gian vũ trụ mà con người có thể sử

dụng phục vụ cho cuộc sống và sự phát triển của mình.

Tài nguyên du lịch theo Pirojnik: “Tài nguyên du lịch là những tổng thể tự

nhiên văn hóa – lịch sử và những thành phần của chúng, tạo điều kiện cho việc phục

hồi và phát triển thể lực tinh thần của con người, khả năng lao động và sức khỏe của

họ, trong cấu trúc nhu cầu du lịch hiện tại và tương lai, trong khả năng kinh tế kĩ

thuật cho phép, chúng được dùng để trực tiếp và gián tiếp sản xuất những dịch vụ du

lịch và nghỉ ngơi.”

Tài nguyên du lịch là một dạng đặc sắc của tài nguyên nói chung. Khái niệm

này luôn gắn liền với khái niệm du lịch.

– Tài nguyên du lịch có khả năng sử dụng nhiều lần nếu tuân theo các qui

định về sử dụng một cách hợp lý, thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo vệ.

1.2.

Phân loại tài nguyên du lịch:

Tài nguyên du lịch có thể chia làm 2 nhóm sau:

Tài nguyên tự nhiên:

Tài nguyên nhân văn:

 Tài nguyên nhân văn vật thể

Di sản văn hoá thế giới

Các Di tích lịch sử văn hoá, thắng cảnh đẹp cấp quốc gia và địa phương

 Tài nguyên nhân văn phi vật thể

Di sản văn hoá truyền miệng và phi vật thể của nhân loại

Các lễ hội

Nghề và làng nghề thủ công truyền thống

Văn hoá nghệ thuật

Văn hoá ẩm thực

Thơ ca và văn học

Văn hoá ứng xử và những phong tục, tập quán tốt đẹp

Tài nguyên du lịch gắn với văn hoá các tộc người

Các hoạt động mang tính sự kiện

1.2.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên

Theo khoản 1 (Điều 13, Chương II) Luật du lịch Việt Nam năm 2005 quy

định: “Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí

hậu, thuỷ văn, hệ sinh thái, cảnh quan tự nhiên đang được khai thác hoặc có thể

được sử dụng phục vụ mục đích du lịch”.

Các loại tài nguyên du lịch tự nhiên không tồn tại độc lập mà luôn luôn tồn

tại, phát triển trong cùng một không gian lãnh thổ nhất định, nó có mối quan hệ qua

lại, tương hỗ chặt chẽ theo những quy luật của tự nhiên cũng như các điều kiện văn

hoá, kinh tế – xã hội và thường được phân bố gần các tài nguyên du lịch nhân văn.

Thực tế, khi tìm hiểu và nghiên cứu về tài nguyên du lịch tự nhiên, các nhà nghiên

cứu thường nghiên cứu theo từng thành phần tự nhiên, các thể tổng hợp tự nhiên có

điều kiện thuận lợi cho sự phát triển du lịch, các di sản thiên nhiên thế giới và các

điểm tham quan tự nhiên.

1.2.2. Tài nguyên du lịch nhân văn

a. Khái niệm

Tài nguyên du lịch nhân văn bao gồm truyền thống văn hoá, các yếu tố văn

hoá, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình

lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể khác có

thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch.

Tài nguyên du lịch nhân văn là các đối tượng và hiện tượng xã hội cùng các

giá trị văn hoá, lịch sử của chúng có sức hấp dẫn du khách và được khai thác để kinh

doanh du lịch. Trong số các tài nguyên du lịc nhân văn thì các di sản văn hoá có vị

trí đặc biệt.

Trong Luật di sản văn hoá của Việt nam thì di sản văn hoá được chia làm 2

loại, đó là di sản văn hoá vật thể và di sản văn hoá phi vật thể.

 Di sản văn hoá vật thể

“Di sản văn hoá vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa

học,bao gồm các di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật

quốc gia”.

“Di tích lịch sử văn hoá là công trình xây dựng và các di vật, cổ vật,bảo vật

quốc gia thuộc công trình địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học”

“Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp

giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mĩ, khoa

học”.

“Di vật là hiện vật được lưu truyền lại có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học”.

“Cổ vật là hiện tượng được lưu truyền lại có giá trị tiêu biểu vè lịch sử, văn

hoá, khoa học từ một trăm năm tuổi trở lên”.

“Bảo vật quốc gia là hiện vật được lưu truyền lại có giá trị đặc biệt quý hiếm

của đất nước về lịch sử, văn hoá, khoa học”.

 Di sản văn hoá phi vật thể

“Di sản văn hoá phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử – văn hoá,

khoa học, được lưu truyền bằng trí nhớ, chữ viết, được truyền miệng, truyền nghề,

trình diễn và các hình thức lưu truyền khác bao gồm: tiếng nói, chữ viết, tác phẩm

văn học nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống,

lễ hội, bí quyết nghề nghiệp thủ công truyền thống, tri thức về y dược cổ truyền, văn

hoá ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian”.

b. Đặc điểm

Do những nét đặc trưng và tính chất của mình, tài nguyên du lịch nhân văn có

những đặc điểm khác với tài nguyên du lịch tự nhiên:

Tài nguyên du lịch nhân văn có tác dụng nhận thức nhiều hơn tác dụng giải trí

Việc tìm hiểu các đối tượng nhân văn diễn ra trong thời gian ngắn, nó có thể

kéo dài một vài giờ, cũng có thể một vài phút. Do vậy trong một chuyến du lịch

người ta có thể hiểu từ nhiều giá trị nhân văn.

Số người quan tâm đến tài nguyên du lịch nhân văn thường có văn hoá hơn,

thu nhập và yêu cầu cao hơn.

Tài nguyên du lịch nhân văn thường tập trung ở những điểm quần cư và

những thành phố lớn.

Ưu thế to lớn của tài nguyên du lịch nhân văn là đại bộ phận không có tính

mùa, không bị phụ thuộc vào các điều kiện khí tượng và điều kiện tự nhiên khác.

Sở thích của những người tìm đến tài nguyên du lịch nhân văn rất phức tạp và

rất khác nhau. Điều này sẽ gây khó khăn cho việc đánh giá tài nguyên du lịch nhân

văn. Cơ sở để đánh giá nguồn tài nguyên này chủ yếu dựa vào cơ sở định tính, xúc

cảm và trực cảm. Đồng thời nó cũng chịu ảnh hưởng mạnh của các nhân tố như: Độ

tuổi, trình độ văn hoá,, hứng thú, trình độ nghề nghiệp, thành phần dân tộc,…

1.2.2.1.

Tài nguyên du lịch nhân văn vật thể

a. Di sản văn hoá thế giới

Ủy ban Di sản Thế giới đã xác định và liệt kê danh sách các di sản là các cảnh

quan văn hóa có giá trị lớn đối với nhân loại. Để được đưa vào danh sách di sản thế

giới, các khu vực đề cử phải có giá trị nổi bật toàn

cầu và đáp ứng được ít nhất 1 trong 10 tiêu chí.

Trong bản hướng dẫn năm 2002, trong bộ tiêu chí

lựa chọn có 6 tiêu chí về văn hóa và 4 tiêu chí về

tự nhiên. Năm 2005, Ủy ban Di sản Thế giới đưa

ra bộ tiêu chí mới gồm 10 tiêu chí lựa chọn như

sau:

Hình 1.1: Biểu tượng Di sản Thế giới

Nguồn: vi.wikipedia.org

Tiêu chuẩn văn hóa

(I) – là một tuyệt tác về tài năng sáng tạo của con người.

(II) – Thể hiện một sự giao lưu quan trọng giữa các giá trị của nhân loại, trong

một khoảng thời gian hoặc trong phạm vi một vùng văn hoá của thế giới, về các

bước phát triển trong kiến trúc hoặc công nghệ, nghệ thuật tạo hình, quy hoạch đô

thị hoặc thiết kế cảnh quan.

(III) – Là một bằng chứng độc đáo hoặc duy nhất hoặc ít ra cũng là một bằng

chứng đặc biệt về một truyền thống văn hoá hay một nền văn minh đang tồn tại hoặc

đã biến mất.

(IV) – Là một ví dụ nổi bật về một kiểu kiến trúc xây dựng hoặc một quần thể

kiến trúc cảnh quan minh hoạ cho một hay nhiều giai đoạn có ý nghĩa trong lịch sử

nhân loại.

(V) – Là một ví dụ tiêu biểu về sự định cư của con người hoặc một sự chiếm

đóng lãnh thổ mang tính truyền thống và tiêu biểu cho một hoặc nhiều nền văn hóa,

nhất là khi nó trở nên dễ bị tổn thương dưới tác động của những biến động không thể

đảo ngược được.

(VI) – Gắn bó trực tiếp hoặc cụ thể với những sự kiện hoặc truyền thống sinh

hoạt với các ý tưởng, hoặc các tín ngưỡng, các tác phẩm văn học nghệ thuật có ý

nghĩa nổi bật toàn cầu. (tiêu chuẩn này chỉ duy nhất được sử dụng trong những

trường hợp đặc biệt và áp dụng đồng thời với các tiêu chuẩn khác).

Tiêu chuẩn tự nhiên

(VII) – Chứa đựng các hiện tượng, địa điểm tự nhiên hết sức nổi bật hoặc các

khu vực có vẻ đẹp tự nhiên độc đáo và tầm quan trọng về thẩm mỹ.

(VIII) – Là những ví dụ nổi bật đại diện cho những giai đoạn lớn trong lịch

sử của Trái Đất, trong đó có lịch sử về sự sống, các quá trình địa chất quan trọng

Những di tích lịch sử là những địa điểm, những công trình kỷ niệm, những vật

kỷ niệm, những cổ vật ghi dấu bằng những sự kiện lịch sử, những cuộc chiến đấu,

những danh nhân, anh hùng dân tộc của một thời kỳ nào đó trong quá trình lịch sử

của mỗi địa phương, mỗi quốc gia.

 Loại hình di tích văn hoá nghệ thuật:

Là các di tích gắn với các công trình kiến trúc có giá trị nên còn gọi là di tích

kiến trúc nghệ thuật. Những di tích này không chỉ chứa đựng những giá trị kiến trúc

mà còn chứa đựng cả những giá trị văn hoá xã hội, văn hoá tinh thần.

Sự phân biệt các dạng tài nguyên du lich nói chung chỉ mang tính tương đối.

Vì trong tài nguyên du lịch nhân văn vật thể lại chứa đựng cả tài nguyên nhân văn

phi vật thể và ngược lại. Trong các di tích kiến trúc nghệ thuật lại thường mang

trong mình cả những giá trị lịch sử, vì vậy nhiều nhà nghiên cứu thường gọi chung là

Di tích Lịch sử Văn hoá nghệ thuật.

 Các danh lam thắng cảnh:

Theo Luật Di sản Văn hoá của Việt Nam năm 2003: “Danh lam thắng cảnh là

cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với

công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ và khoa học”.

Các danh lam thắng cảnh không chỉ có vẻ đẹp thiên nhiên bao la, hùng vĩ,

thoáng đãng mà còn có giá trị nhân văn do bàn tay khối óc của con người tạo dựng

nên.

Các danh lam thắng cảnh thường chứa đựng trong đó giá trị của nhiều loại di

tích lịch sử – văn hoá. Bởi thế nên nó có giá trị đặc biệt quan trọng đối với sự phát

triển du lịch ngày nay.

 Các công trình đương đại:

Là các công trình kiến trúc được xây dựng trong thời kỳ hiện đại, có giá trị

kiến trúc, mỹ thuật, khoa học, kỹ thuật xây dựng, kinh tế, văn hoá thể thao hấp dẫn

du khách có thể là đối tượng thăm quan nghiên cứu, vui chơi giả trí, chụp ảnh kỷ

niệm,… đối với khách du lịch.

Tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể

a. Di sản Văn hoá truyền miệng và phi vật thể của nhân loại

Năm 1989 tại phiên họp Đại hội đồng UNESCO đã đưa ra hai chính sách:

Công nhận một danh hiệu cho một sản phẩm văn hoá phi vật thể, danh hiệu đó

gọi là “kiệt tác Di sản Văn hoá truyền miệng và phi vật thể của nhân loại”.

Di sản Văn hoá phi vật thể và truyền miệng luôn luôn được giữ gìn trình diễn,

bổ sung truyền lại cho lớp trẻ thông qua trí nhớ và tài năng của nghệ nhân.

b. Các lễ hội

Ở bất cứ thời đại nào, bất cứ dân tộc nào, bất cứ mùa nào cũng đều có lễ hội,

bởi lễ hội là một loại hình sinh hoạt văn hoá tập thể của nhân dân sau thời gian lao

động mệt nhọc, hoặc đây là dịp để con người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại:

ngưỡng mộ tổ tiên, ôn lại truyền thống, hoặc giải quyết những nỗi lo âu, những khao

khát, ước mơ mà cuộc sống thực tại chưa giải quyết được.

Cấu trúc lễ hội thường bao gồm 2 phần:

 Phần lễ:

Các lễ hội dù lớn hay nhỏ cũng đều có phần nghi lễ với những nghi thức

nghiêm túc, trọng thể để mở đầu ngày hội theo không gian và thời gian.

Tùy vào tính chất của lễ hội mà phần lễ có ý nghĩa riêng. Thông thường phần

lễ mở đầu ngày hội bao giờ cũng mang tính tưởng niệm lịch sử, hướng về một sự

kiện lịch sử trọng đại, một vị anh hùng dân tộc lỗi lạc có ảnh hưởng lớn đến sự phát

triển của xã hội. Bên cạnh đó cũng có những lễ hội mà phần lễ thực hiện những

nghi lễ tôn kính, dâng hiến lễ vật cho các vị thiên thần, thánh nhân, cầu mong

những điều tốt đẹp trong cuộc sống. Nghi lễ trong lễ hội mang ý nghĩa đặc biệt

thiêng liêng, nó chứa đựng những giá trị văn hoá truyền thống, giá trị thẩm mỹ và tư

duy triết học của cộng đồng.

 Phần hội:

Trong phần hội thường diễn ra những hoạt động biểu tượng điển hình của tâm

lý cộng đồng, văn hoá dân tộc, chứa đựng những quan niệm của dân tộc đó với thực

tế lịch sử, xã hội và thiên nhiên.

Trong hội thường tổ chức những trò vui chơi giải trí, biểu diễn văn hoá nghệ

thuật. Yếu tố cấu thành và nuôi dưỡng lễ hội là kinh tế – xã hội và tự nhiên nên nội

dung của phần hội không chỉ giữ nguyên những giá trị văn hoá truyền thống mà nó

luôn có xu hướng bổ sung thêm những thành tố văn hoá mới. Chính đặc điểm này đã

tạo cho lễ hội thêm sống động, vui nhộn và phong phú. Tuy nhiên nếu yếu tố này

không được chọn lọc và giám sát chặt chẽ cũng như tuyên truyền, giáo dục, đầu tư

bảo vệ và phát triển những giá trị văn hoá truyền thống thì sẽ làm cho những giá trị đó

bị lai tạp, mai một và suy thoái.

Tuỳ vào quy mô và giá trị văn hoá truyền thống còn được bảo tồn, ý nghĩa của

lễ hội đối với quốc gia hay địa phương mà các lễ hội được xếp hạng làm lễ hội quốc

tế hay lễ hội địa phương. Các lễ hội có sức hấp dẫn cao đối với du khách là đối

tượng để triển khai nhiều loại hình du lịch văn hoá, đặc biệt là loại hình du lịch lễ

hội.

 Thời gian tổ chức lễ hội:

Các lễ hội thường được tổ chức nhiều vào sau mùa vụ sản xuất, mùa mà thời

tiết, phong cảnh đẹp là mùa xuân và mùa thu. Các giá trị văn hoá lịch sử của lề hội là

nguồn tài nguyên du lịch quý giá để tổ chức triển khai các loại hình tham quan,

nghiên cứu chuyên đề lễ hội hoặc kết hợp với các loại hình du lịch tham quan,

nghiên cứu và mua sắm.

c. Nghề và làng nghề thủ công truyền thống

 Nghề thủ công truyền thống:

Là những nghề có những bí quyết về công nghệ sản xuất ra các sản phẩm

mang những giá trị thẩm mỹ, tư tưởng triết học, tâm tư tình cảm và những ước vọng

của con người.

Nghề thủ công truyền thống là nghề sản xuất ra nghệ thuật do những nghệ

nhân dân gian sáng tạo, gìn giữ và phát triển từ đời này qua đời khác cho những

người cùng huyết thông hoặc cùng làng bản. Các sản phẩm thủ công cổ truyền này

không chỉ mang những giá trị sử dụng trong cuộc sống hàng ngày mà nó còn chứa

đựng bên trong những giá trị về mỹ thuật, giá trị triết học, tâm linh thể hiện tài

nghệ, tâm tư, ước vọng của người làm ra chúng. Chính những tính hữu ích và giá trị

văn hoá của chúng mà theo dòng chảy của lịch sử, đến nay nhiều nước trên thế giới

nói chung và Việt Nam nói riêng đã hình thành và bảo tồn được những giá trị tốt đẹp

của tài nguyên này.

 Làng nghề:

“Là những làng có các nghề sản xuất hàng hoá bằng các công cụ thô sơ và sức

lao động của con người đã được hình thành một thời gian dài trong lịch sử, nghệ

thuật sản xuất hàng hoá được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác ở trong làng. Sản

phẩm hàng hoá được sản xuất không chỉ đáp ứng nhu cầu ở trong làng mà còn bán ở

thị trường trong nước và quốc tế”.

d.

Các đối tượng văn hoá – thể thao và hoạt động nhận thức khác

Những đối tượng văn hoá như các trung tâm khoa học, các trường đại học, các

thư viện lớn, bảo tàng… đều có sức hấp dẫn rất lớn du khách tới tham quan và nghiên

cứu. Những hoạt động mang tính sự kiện: các giải thể thao lớn, các cuộc triển lãm

thành tựu kinh tế quốc dân, các hội chợ, liên hoan phim ảnh quốc tế, ca nhạc quốc

tế… cũng là đối tượng hấp dẫn khách du lịch. Thông thường những đối tượng văn

hoá tập trung ở các thủ đô và các thành phố lớn. Vì vậy những thành phố lớn đương

nhiên trở thành những trung tâm du lịch văn hoá của các quốc gia, vùng và khu vực

và là hạt nhân của các trung tâm du lịch.Vai trò tài nguyên du lịch nhân văn với phát

triển du lịch.

1.3.

Vai trò tài nguyên du lịch nhân văn với phát triển du lịch

Du lịch là ngành kinh tế mà trong sự phát triển hoạt động của ngành vai trò

của tài nguyên rất quan trọng. TNDL nhân văn là một trong hai yếu tố, cùng với tài

nguyên du lịch tự nhiên tạo thành các sản phẩm du lịch.

Ta có thể tạo lập công thức như sau:

T = A + B +C

S=T+D

Trong đó

T: Tài nguyên du lịch

A: Tài nguyên du lịch nhân văn

B: Tài nguyên du lịch tự nhiên

C: Tài nguyên kinh tế kĩ thuật và bổ trợ

S: Sản phẩm du lịch

D: Các dịch vụ và hàng hóa du lịch

Đối với mỗi vùng miền lãnh thổ, có sự tập trung đa dạng, phong phú tài

nguyên du lịch nhân văn thì hướng phát triển du lịch của vùng miền đó cũng theo

quy luật lấy tài nguyên nhân văn hiện có làm cơ sở để tạo ra sản phẩm du lịch đặc

trưng. Tài nguyên du lịch nhân văn có mối quan hệ qua lại mật thiết với các yếu tố

khác, nó thể hiện lịch sử văn hóa vùng miền, thông qua đó tác động tới lối sống của

dân cư địa phương, tới nghề và truyền thống văn hóa xã hội khác. Do vậy, tài nguyên

du lịch nhân văn là yếu tố quan trọng trong việc tạo nên sản phẩm du lịch.

Tài nguyên du lịch nhân văn là cơ sở quan trọng để phát triển các loại hình du

lịch văn hoá. Các hình thức du lịch được đưa ra trên cơ sở của nguồn tài nguyên. Tài

nguyên du lịch nhân văn cần phải được khai thác sao cho xứng đáng với tiềm năng

mà không làm mất đi các giá trị truyền thống sẵn có.

Tài nguyên du lịch nhân văn là một phần của tài nguyên du lịch, một bộ phận

quan trọng của tổ chức lãnh thổ du lịch. Các phân hệ của hệ thống lãnh thổ du lịch

gồm: Khách du lịch, tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du

lịch, đội ngũ cán bộ nhân viên và bộ máy tổ chức điều hành, quản lí du lịch. Các

phân hệ này đều có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và với môi trường kinh tế xã hội

cũng như các phân hệ khác.

Như vậy, có thể nói rằng tài nguyên du lịch nhân văn là nhân tố quan trọng

trong sự phát triển du lịch. Tài nguyên du lịch nhân văn góp phần định hướng phát

triển du lịch của địa phương, là nguồn tài nguyên có khả năng bền vững cao nếu biết

quan tâm, bảo tồn tôn tạo một cách hợp lí. Vì vậy, trước những đặc điểm của tài

nguyên du lịch nhân văn sẵn có mỗi địa phương hãy đưa ra các chính sách phù hợp

để vừa phát triển du lịch, lại vừa bảo tồn được tài nguyên.

CHƯƠNG II

THỰC TRẠNG DU LỊCH NHÂN VĂN Ở VIỆT NAM

2.1.

Tài nguyên du lịch nhân văn Việt Nam

2.1.1. Các di tích văn hóa – lịch sử

Gía trị văn hóa – lịch sử là yếu tố cốt lõi tạo nên sự hấp dẫn và độc đáo của sản

phẩm du lịch, có sức lôi cuốn du khách đến tìm hiểu một nền văn hóa khác lạ. Việt

Nam là đất nước của những di tích văn hóa – lịch sử lâu đời, có giá trị cao đối với du

lịch. Ở nước ta, 1 di tích khi đủ các điều kiện sẽ được công nhận theo thứ tự: di tích

cấp tỉnh, di tích cấp quốc gia và di tích quốc gia đặc biệt. Tính đến năm 2014, Việt

Nam có hơn 40.000 di tích, thắng cả nh trong đó có hơn 3.000 di tích được xếp hạng

di tích quốc gia và hơn 7.000 di tích được xếp hạng cấp tỉnh. Mật độ và số lượng di

tích nhiều nhất ở 11 tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng với tỷ lệ chiếm khoảng 70% di

tích của Việt Nam. Trong số di tích quốc gia có 62 di tích quốc gia đặc biệt và trong

số đó có 8 di sản thế giới.

2.1.1.1.

Thống kê di tích Việt Nam

Các tỉnh có số lượng di tích lớn hơn 1500 gồm: Hà Nội: 5175 di tích; Bắc

Giang: 2237 di tích,Bắc Ninh 1859 di tích,Ninh Bình: 1879 di tích, Đồng Nai: 1800

di tích; Hà Nam: 1784 di tích; Nam Định: 1655 di tích; Thanh Hóa: 1535 di tích.

Các tỉnh có mật độ di tích lớn nhất gồm: Hà Nam 2,07 di tích/km2; Hà Nội:

1,56 di tích/km2; Bắc Ninh: 1,96 di tích/km2; Ninh Bình: 1,36 di tích/km2 và Hưng

Yên: 1,31 di tích/km2.

Bảng 2.1: Thống kê di tích Việt Nam

Nguồn: vi.wikipedia.org

STT

Tên tỉnh

Tổng di tích

1287

1

An Giang

2

Bà Rịa Vũng Tàu

31

14

150

2014

3

Bạc Liêu

10

35

130

2014

4

Bắc Giang

99

539

2237

2014

5

Bắc Kạn

12

33

160

2014

Bắc Ninh

297

726

1859

2014

7

Bến Tre

15

22

8

Bình Dương

12

38

500

2015

9

Bình Định

33

50

231

2008

10

Bình Phước

9

3

12

2009

11

Bình Thuận

24

20

300

2012

12

Cà Mau

9

17

13

Cao Bằng

26

36

226

2008

14

Cần Thơ

4

16

20

2009

15

Đà Nẵng

16

37

200

2011

16

Đăk Lăk

12

4

58

2012

17

Đăk Nông

9

1

2014

18

Điện Biên

7

10

2014

19

Đồng Nai

27

19

1800

2013

20

Đồng Tháp

13

50

91

2015

21

Gia Lai

13

3

30

2009

22

Hà Giang

15

2

36

2010

23

Hà Nam

69

54

1784

2010

24

Hà Nội

1196

1156

5175

2015

25

Hà Tĩnh

75

393

500

2015

26

Hải Dương

146

89

1098

2009

27

Hải Phòng

110

208

236

2009

28

Hậu Giang

9

6

188

2015

29

Hòa Bình

41

27

295

2015

30

Hưng Yên

159

88

1210

2010

31

Khánh Hòa

13

98

1091

2009

32

Kiên Giang

22

13

200

2009

33

Kon Tum

5

8

2014

34

Lai Châu

4

14

2014

35

Lạng Sơn

23

95

581

2013

36

Lào Cai

15

11

50

2015

37

Lâm Đồng

20

10

38

Long An

16

65

2015

2015

2009

Nam Định

74

125

1655

2010

40

Nghệ An

50

70

1000

2010

41

Ninh Bình

103

235

1879

2015

42

Ninh Thuận

14

27

233

2014

43

Phú Thọ

73

218

1372

2014

44

Phú Yên

18

21

45

Quảng Bình

45

34

150

2010

46

Quảng Nam

60

300

500

2015

47

Quảng Ngãi

28

76

199

2014

48

Quảng Ninh

60

44

626

2010

49

Quảng Trị

29

160

489

2010

50

Sóc Trăng

8

22

300

2010

51

Sơn La

11

34

64

2010

52

Tây Ninh

22

54

365

2010

53

Thái Bình

91

349

1400

2007

54

Thái Nguyên

36

70

780

2010

55

Thanh Hóa

136

441

1535

2009

56

Thừa Thiên Huế

32

88

902

2010

57

Tiền Giang

20

86

106

2010

58

TP. Hồ Chí Minh

54

91

400

2010

59

Trà Vinh

12

16

533

2015

60

Tuyên Quang

88

55

498

2010

61

Vĩnh Long

10

36

450

2014

62

Vĩnh Phúc

68

222

1264

2010

63

Yên Bái

10

34

500

2013

2.1.1.2.

2014

Phân loại di tích

Căn cứ Điều 4 Luật di sản văn hoá, Điều 14 Nghị định số 92/2002/NĐCP ngày

11/11/2002 của Chính phủ Việt Nam quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật

Di sản văn hoá, các di tích được phân loại như sau:

 Di tích lịch sử văn hoá

Di tích lịch sử văn hoá là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật,

bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học.

Di tích lịch sử văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau đây:

Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình

dựng nước và giữ nước. Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như đền Hùng, Cổ Loa,

Hình 2.1: Du lịch – Atlat Địa lý Việt nam

Nguồn: onthidialy.files.wordpss.com

Cố đô Hoa Lư, Bãi cọc Bạch Đằng, Cột cờ… Công trình xây dựng, địa điểm

gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân của đất nước. Các di

tích tiêu biểu thuộc loại này như Khu di tích lịch sử Kim Liên, Đền Kiếp Bạc, Quần

thể di tích danh thắng Yên Tử, Lam Kinh, đền Đồng Nhân…

Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ

cách mạng, kháng chiến. Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như Khu di tích chiến

thắng Điện Biên Phủ, Địa đạo Củ Chi, Khu di tích lịch sử cách mạng Pắc Bó, Phòng

tuyến Tam Điệp, Hành cung Vũ Lâm, Khu rừng Trần Hưng Đạo… Năm 2010, di tích

lịch sử chiếm 51.2% số di tích được xếp hạng. Các di tích này không những có giá trị

lịch sử và văn hóa mà còn mang lại những giá trị lớn trên phương diện kinh tế, nhất là

kinh tế du lịch.

 Di tích kiến trúc nghệ thuật

Di tích kiến trúc nghệ thuật là công trình kiến trúc nghệ thuật, tổng thể kiến

trúc đô thị và đô thị có giá trị tiêu biểu trong các giai đoạn phát triển nghệ thuật kiến

trúc của dân tộc. Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có

giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử. Các di

tích tiêu biểu loại này như Chùa Bút Tháp, phố cổ Hội An, nhà thờ Phát Diệm, chùa

Keo, đình Tây Đằng,Chùa Phật Tích. Năm 2010, di tích kiến trúc nghệ thuật chiếm

44.2% tổng số di tích được xếp hạng.

 Di tích khảo cổ

Di tích khảo cổ là những địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai

đoạn phát triển của các văn hoá khảo cổ. Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như

Hoàng thành Thăng Long, hang Con Moong, di chỉ Đông Sơn, động Người Xưa,

thánh địa Mỹ Sơn. Năm 2010, di tích khảo cổ chiếm 1.3% các di tích được xếp hạng.

 Di tích thắng cảnh

Di tích thắng cảnh (danh lam thắng cảnh) là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa

điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch

sử, thẩm mỹ, khoa học. Danh lam thắng cảnh phải có một trong các tiêu chí sau đây:

Cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên

với công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu. Các di tích quốc gia đặc biệt tiêu

biểu thuộc loại này như 4 danh lam thắng cảnh khu danh thắng Tây Thiên, Tràng An

Tam Cốc Bích Động, vịnh Hạ Long, động Phong Nha.

Khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng

sinh học, hệ sinh thái đặc thù hoặc khu vực thiên nhiên chứa đựng những dấu tích vật

chất về các giai đoạn phát triển của Trái Đất. Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như

vịnh Hạ Long, Cao nguyên Đồng Văn, các vườn quốc gia và khu dự trữ sinh quyển

thế giới ở Việt Nam. Danh lam thắng cảnh chiếm khoảng 3.3% số di tích được xếp

hạng.

 Di tích lịch sử cách mạng

Di tích cách mạng kháng chiến là một bộ phận cấu thành hệ thống các di tích

lịch sử văn hoá, tuy nhiên, nó có những điểm khác với các di tích tôn giáo tín ngưỡng

như đình, đền, chùa, miếu… ở chỗ: đó là những địa điểm cụ thể, công trình kiến trúc

có sẵn (nhà ở, đường phố…), là những công trình được con người tạo nên phù hợp

với mục đích sử dụng (địa đạo, hầm bí mật…) gắn liền với những sự kiện cụ thể,

nhân vật lịch sử cụ thể mà trở thành di tích. Loại hình di tích này rất đa dạng, phong

phú, có mặt ở khắp mọi nơi, khó nhận biết, đồng thời cũng rất dễ bị lãng quên, dễ

biến dạng theo mục đích sử dụng, theo thời tiết và theo thời gian. Bởi vậy các di tích

này vừa khó bảo tồn vừa khó phát huy tác dụng nếu không được quan tâm đặc biệt.

Một số di tích lịch sử cách mạng như: Chiến khu Tân Trào, Chiến khu Quỳnh Lưu,

Khu di tích chiến thắng Điện Biên Phủ,…

2.1.1.3.

Phân cấp di tích

Di tích quốc gia đặc biệt là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia. Thủ

tướng Chính phủ quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt; quyết định việc đề

nghị Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hợp quốc xem xét đưa di tích

tiêu biểu của Việt Nam vào Danh mục di sản thế giới. Di tích quốc gia đặc biệt ở Việt

Nam được xếp hạng các đợt đầu gồm: Cố đô Hoa Lư, Di tích Pác Bó, Dinh Độc Lập,

Hoàng thành Thăng Long, Khu căn cứ Trung ương Cục miền Nam, Khu di tích ATK

Thái Nguyên, Khu di tích chiến thắng Điện Biên Phủ, Khu di tích Côn Sơn Kiếp Bạc,

Khu di tích khởi nghĩa Yên Thế, Khu di tích Kim Liên, Khu di tích Phủ Chủ tịch, Khu

di tích Tân Trào, Khu lưu niệm chủ tịch Tôn Đức Thắng, Nhà tù Côn Đảo, Quần thể

di tích Cố đô Huế, Thành nhà Hồ, Thánh địa Mỹ Sơn, Thắng cảnh Tràng An Tam

Cốc Bích Động, Văn Miếu Quốc Tử Giám, Vườn quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng,

Vịnh Hạ Long, Đô thị cổ Hội An và Đền Hùng.

Trong trường hợp di tích đã được xếp hạng mà sau đó có đủ căn cứ xác định là

không đủ tiêu chuẩn hoặc bị huỷ hoại không có khả năng phục hồi thì người có thẩm

quyền quyết định xếp hạng di tích nào có quyền ra quyết định huỷ bỏ xếp hạng đối

với di tích đó.

2.1.1.4.

Di sản thế giới văn hóa thế giới

Việt Nam với bề dày lịch sử hang nghìn năm dựng nước và giữ nước, đã hun

đúc nên biết bao nét đẹp văn hóa truyền thống, trong đó có giá trị văn hóa được cả thế

giới tôn vinh. NQ TW5 (khóa VII) của Đảng ta khẳng định: “Di sản văn hóa là tài

sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc và cơ sở để sáng

tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa. Cần phải hết sức coi trọng bảo tồn, kế

thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc (bác học và nhân

gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể”. Tại

thời điểm cập nhật, trên cả nước có 17 di sản văn hóa được UNESCO công nhận.

Trong đó 8 di sản văn hóa vật thể, 9 di sản là kiệt tác phi vật thể và truyền khẩu của

nhân loại. Các di sản có sức hấp dẫn đặc biệt với du khách và là niềm tự hào, là tài

sản vô giá của quốc gia và nhân loại.

Bảng 2.2: Di sản văn hóa vật thể được UNESCO công nhận

Nguồn: vi.wikipedia.org

STT

Di sản

1

Quần thể di tích Cố đô Huế

Hạng mục

Di sản văn hóa:

(III), (IV)

Địa phương Năm

Huế

1993

Di sản

2

Vịnh Hạ Long

Di sản thiên nhiên:

(VII), (VIII)

Quảng Ninh 1994

3

Phố cổ Hội An

Di sản văn hóa:

(II), (V)

Quảng Nam 1999

4

Thánh địa Mỹ Sơn

Di sản văn hóa:

(II), (III)

Quảng Nam 1999

5

Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ

Bàng

Di sản thiên nhiên:

(VIII)

Quảng Bình 2003

6

Trung tâm Hoàng thành

Thăng Long

Di sản văn hóa:

(II), (III), (VI)

7

Thành nhà Hồ

Di sản văn hóa:

(II), (IV)

Thanh Hóa 2011

Di sản hỗn hợp:

(V), (VII), (VIII)

Ninh Bình

8

Quần thể danh thắng

Tràng An

Hạng mục

Địa phương Năm

Hà Nội

2010

2014

Bảng 2.3: Di sản văn hóa phi vật thể tại Việt Nam

Nguồn: Samthienha.com phương Năm

STT

Di sản

Hạng mục

1

Nhã nhạc cung đình Huế

Kiệt tác phi vật thể và truyền

khẩu của nhân loại

Huế

2003

2

Không gian văn hóa Cồng Chiêng

Tây Nguyên

Kiệt tác phi vật thể và truyền

khẩu của nhân loại

Tây Nguyên

2005

3

Dân ca Quan họ

Di sản phi vật thể đại diện cho

nhân loại

Bắc Ninh

2008

4

Ca trù

Di sản phi vật thể đại diện cho

nhân loại cần bảo vệ gấp

Bắc Bộ

2009

5

Hội Gióng tại đền Phù Đổng và

đền Sóc, Hà Nội

Di sản phi vật thể

Hà Nội

2009

6

Hát xoan

Di sản phi vật thể

Phú Thọ

2010

7

Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương

Di sản phi vật thể đại diện cho

nhân loại

Phú Thọ

2011

8

Đờn ca tài tử Nam Bộ

Kiệt tác phi vật thể và truyền

Nam Bộ

2012

Kiệt tác phi vật thể và truyền Nghệ An –

khẩu của nhân loại

Hà Tĩnh

Di sản vật thể của Việt Nam được UNESCO công nhận

Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh

2.2. Quần thể di tích Cố đô Huế

vietnamtourism.gov.vn

2.4. Thánh địa Mỹ Sơn

vietnamtourism.gov.vn

2013

2.3. Vịnh Hạ Long

vietnamtourism.gov.vn

2.5. Phố cổ Hội An

vietnamtourism.gov.vn

2.7. Hoàng Thành Thăng Long

2.6. Phong Nha-Kẻ Bàng

thiennhien.net

2.8. Thành Nhà Hồ

www.dulichvn.org.vn

vietnamtourism.gov.vn

2.9. Quần thể danh thắng Tràng An

vietnamtourism.gov.vn

2.1.2. Lễ hội

Là sự kiện văn hóa được tổ chức mang tính cộng đồng. “Lễ” là hệ thống những

hành vi, động tác nhằm biểu hiện sự tôn kính của con người với thần linh, phản ánh

những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có

khả năng thực hiện. “Hội” là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng,

xuất phát từ nhu cầu cuộc sống.

2.1.2.1. Thống kê lễ hội

Theo thống kê 2009, hiện cả nước Việt Nam có 7.966 lễ hội; trong đó có 7.039

lễ hội dân gian (chiếm 88,36%), 332 lễ hội lịch sử (chiếm 4,16%), 544 lễ hội tôn giáo

(chiếm 6,28%), 10 lễ hội du nhập từ nước ngoài (chiếm 0,12%), còn lại là lễ hội khác

(chiếm 0,5%). Các địa phương có nhiều lễ hội là Hà Nội, Bắc Ninh, Hà Nam, Hải

Dương và Phú Thọ.

Việt Nam là một quốc gia đã có hàng nghìn năm lịch sử. Cũng như nhiều quốc

gia khác trên thế giới, Việt Nam có một nền văn hóa mang bản sắc riêng. Chính

những nét đó làm nên cốt cách, hình hài và bản sắc của dân tộc Việt Nam.

Trong kho tàng văn hóa của dân tộc Việt Nam, sinh hoạt lễ hội là vùng văn hóa

rất đặc trưng. Lễ hội là sinh hoạt văn hóa dân gian hầu như có mặt ở khắp mọi

miền đất nước. Nhiều lễ hội ra đời cách đây hàng nghìn năm đến nay vẫn được duy

trì. Lễ hội ở Việt Nam bao giờ cũng hướng tới một đối tượng thiêng liêng cần suy tôn

là nhân thần hay nhiên thần. Đó chính là hình ảnh hội tụ những phẩm chất cao đẹp

nhất của con người. Giúp con người nhớ về nguồn cội, hướng thiện và nhằm tạo dựng

một cuộc sống tốt lành, yên vui.

Lễ hội truyền thống ở Việt Nam thường diễn ra vào mùa Xuân và số ít vào mùa

Thu là hai mùa đẹp nhất trong năm, đồng thời cũng là lúc nhà nông có thời gian nhàn

rỗi. Trong số các lễ hội Việt Nam thì phải kể đến những lễ hội chi phối hầu hết các gia

đình trên mọi miền tổ quốc, đó là Tết Nguyên Đán, Lễ Vu Lan và tết Trung Thu. Gần

đây một số lễ hội được nhà nước và nhân dân quan tâm như: Lễ hội đền Hùng,Lễ hội

Tịch điền Đọi Sơn,Giáng Sinh, Hội Phật Tích.

Một số lễ hội lớn ảnh hưởng cả một vùng rộng lớn, tiêu biểu như: hội

Gióng (xứ Kinh Bắc), lễ hội đền Hùng (Xứ Đoài), lễ hội chùa Bái Đính, Hội Lim

(Kinh Bắc) phủ Dày,(xứ Sơn Nam), lễ hội Yên Tử, lễ hội bà chúa Xứ (An Giang), Lễ

hội pháo hoa Quốc tế Đà Nẵng (thành phố Đà Nẵng)…

2.1.2.2. Phân cấp lễ hội

Khác với các di tích Việt Nam đã được kiểm kê và phân cấp theo quy định, các

lễ hội ở Việt Nam chưa được quy định phân cấp bài bản. Có những lễ hội bị biến

tướng, trần tục hoá, mở hội tràn lan… nhiều ý kiến đề xuất việc kiểm kê các lễ hội

trên toàn quốc để tiến tới phân cấp lễ hội theo các cấp: lễ hội cấp quốc gia, lễ hội cấp

tỉnh, lễ hội cấp huyện và lễ hội cấp làng. Theo bà Lê Thị Minh Lý – Phó Cục trưởng

Cục Di sản Văn hoá, điểm yếu trong việc quản lý lễ hội hiện nay đó là chưa có cơ sở

dữ liệu khoa học và quan điểm tiếp cận đúng. Không nên đánh đồng giữa lễ hội và

festival.

Tùy vào từng thời điểm, vào chủ thể mà lễ hội hiện nay được tổ chức ở nhiều

cấp khác nhau. Ví dụ như lễ hội đền Hùng được tổ chức ở quy mô quốc gia 5 năm/

lần. Những năm số lẻ thì lại được tổ chức ở quy mô cấp tỉnh. Các lễ hội thường được

tổ chức ở quy mô cấp tỉnh như hội Lim, lễ hội Lam Kinh (Thanh Hóa), lễ hội đền

Trần (Nam Định)… Các lễ hội ở quy mô cấp huyện tiêu biểu như lễ hội đền Nguyễn

Công Trứ ở Kim Sơn (Ninh Bình) vàTiền Hải (Thái Bình) để tưởng niệm người chiêu

Du Lịch Sông Cầu Phú Yên Có Gì Đẹp?

Kinh Nghiệm Du Lịch Sông Cầu, Phú Yên (Cập Nhật 08/2020)

Du Lịch Thái Lan Nên Đi Tour Hay Đi Tự Túc?

Nên Đi Du Lịch Thái Lan Theo Tour Hay Tự Túc?

Khám Phá Du Lịch Bắc Kinh Vào Mùa Xuân

Luận Văn Đề Tài Lễ Hội Dân Gian Với Phát Triển Du Lịch Văn Hóa Ở Việt Nam

Giải Pháp Phát Triển Mô Hình Du Lịch Văn Hóa Ở Việt Nam

Liên Kết Hợp Tác Phát Triển Du Lịch Vùng Tây Bắc Mở Rộng

Tạo Bước Đột Phá Phát Triển Du Lịch Vùng Tây Bắc

Tphcm Nhiều Tiềm Năng Phát Triển Sản Phẩm Du Lịch Y Tế

Tiềm Năng Phát Triển Sản Phẩm Du Lịch Y Tế Thành Phố Hồ Chí Minh

Đất nước Việt Nam có tiềm năng du lịch rất phong phú và đa dạng, có sức hấp dẫn lớn chẳng những đối với khách du lịch trong nước mà còn với khách du lịch quốc tế và bà con Việt kiều ở xa Tổ quốc. Chúng ta có đủ điều kiện để đa dạng hóa các loại hình du lịch từ tham quan, nghỉ mát điều dưỡng, tắm biển, leo núi, thể thao đến nghiên cứu khoa học. và có khả năng tiếp nhận một số lượng lớn du khách. Về mặt tự nhiên, Việt Nam có nhiều cảnh đẹp, cảnh thiên nhiên có những nét hùng vĩ nên thơ của núi rừng như Sapa mờ ảo trong sương, như Đà Lạt – thành phố thông reo, hay vịnh Hạ Long – di sản thiên nhiên của thế giới Bên cạnh tiềm năng về mặt tự nhiên, Việt Nam còn có một kho tàng văn hóa – lịch sử phong phú. Đó là những di tích khảo cổ học minh chứng cho nền văn hóa Đông Sơn, Hòa Bình. nổi tiếng từ hồi tiền sử, những di tích lịch sử còn được bảo tồn nguyên hiện trạng hoặc sưu tầm được qua các triều đại lịch sử nước ta, rất có giá trị về mặt khoa học và giáo dục truyền thống, truyền bá kiến thức như Đền Hùng, Hoa Lư, chùa Tây Phương, Huế, Thánh Địa Mỹ Sơn, phố cổ Hội An. Những lễ hội truyền thống như hội Đền Hùng (Vĩnh Phú), hội Dóng (Hà Nội), hội chùa Dâu ( Bắc Ninh ), hội chùa Keo (Thái Bình), những nền văn nghệ dân gian với các nhạc cụ độc đáo (t’rưng, Krông put.) với các điệu múa đặc sắc của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Ngoài ra, chúng ta cũng có rất nhiều các mặt hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống như mây tre đan, sơn mài, gốm sứ, thêu đan, chạm khắc, các sản phẩm từ cói v.v. đạt trình độ thẩm mỹ cao, hoàn toàn có thể thỏa mãn nhu cầu các loại khách du lịch. Trong vài năm trở lại đây chúng ta thường hay nói tới một loại hình du lịch mới mà cũ đó là du lịch văn hoá. Trong hệ thống các nguồn tài nguyên phục vụ cho phát triển du lịch văn hoá có một nguồn tài nguyên hết sức quan trọng mà dường như từ lâu đã bị mai một, đó chính là các lễ hội dân gian ở Việt nam. Với mục tiêu làm rõ vai trò, ý nghĩa của lễ hội dân gian trong việc phát triển du lịch văn hoá ở Việt nam em đã chọn đề tài nghiên cứu : “Lễ hội dân gian với phát triển du lịch văn hoá ở Việt nam”. Với đề tài trên, trong bài viết này em xin được trình bày những nội dung sau: Phần I : Lễ hội dân gian, tính chất và đặc điểm của lễ hội dân gian ở Việt nam. Phần II : Lễ hội dân gian với phát triển du lịch văn hoá ở Việt nam. I-Những nét khái quát về du lịch văn hoá. II- Vai trò của lễ hội dân gian trong việc phát triển du lịch văn hoá. III-Một số lễ hội tiêu biểu ở miền bắc Việt nam. 1. Lễ hội Đền Hùng. 2. Lễ hội chọi trâu Đồ Sơn. 3. Lễ hội chùa Hương. Phần III : Những điều kiện để thu hút khách đến với các lễ hội.

Năm 2022, Năm Bản Lề Phát Triển Mới Của Du Lịch Thừa Thiên Huế

Thừa Thiên Huế Hướng Đến Phát Triển Du Lịch Thông Minh Và Bền Vững

Bắt Đầu Từ Thế Mạnh Đang Có

Đẩy Mạnh Liên Kết Phát Triển Du Lịch Tây Bắc

Phát Triển Du Lịch Tây Bắc

Việt Nam Học (Văn Hóa Du Lịch)

Ngành Việt Nam Học (Hướng Dẫn Viên Du Lịch)

¬ Ngành Việt Nam Học (Chuyên Ngành Văn Hóa Du Lịch)

Nghỉ Hè Nên Đi Du Lịch Ở Đâu

Mua Việt Nam Văn Hóa Và Du Lịch

3N2Đ Ở Vinpearl Phú Quốc Ocean Resort & Villas + Vé Máy Bay + Buffet 6 Bữa + Vinpearl Land + Safari Chỉ 5.350.000 Đồng

Bậc đại học – Mã ngành: 7310630A

Loại hình đào tạo: Chính quy.

1. Giới thiệu tóm tắt về chương trình: Việt Nam học (Văn hóa Du lịch) đào tạo Việt Nam học theo hướng ứng dụng.

3. Cơ hội tìm kiếm việc làm và phát triển nghề nghiệp

Với hướng ứng dụng vàcách tiếp cận đa mục tiêu,sinh viên tốt nghiệp cử nhân Việt Nam học (Văn hóa Du lịch)hướng đến 2 vị trí việc làm cơ bản là cán bộ văn hóa và hướng dẫn viên du lịch. Các vị trí việc làm cụ thể:

– Các trung tâm nghiên cứu và đào tạo Việt Nam học;

– Các cơ quan, tổ chức, đoàn thể xã hội về văn hoá, giáo dục như Ủy ban nhân dân, Sở, Phòng, Ban văn hóa; cán bộ văn xã ở xã/phường/thị trấn,…;

– Các hoạt động hướng dẫn du lịch tại doanh nghiệp lữ hành, đại lý lữ hành, điểm tham quan du lịch.

Tốt nghiệp chương trình đào tạo Việt Nam học theo hướng Văn hóa Du lịch, người học có đủ khả năng tiếp tục học tập và nghiên cứu chuyên môn ở trình độ thạc sĩ, tiến sĩ thuộc các chuyên ngành: Việt Nam học, Văn hóa học, Đông phương học…

4. Điểm ưu trội của Chương trình đào tạo

– Sinh viên ra trường có thể lựa chọn làm cán bộ văn hóa hoặc làm hướng dẫn viên du lịch, đặc biệt là du lịch văn hóa, lịch sử, tâm linh, sinh thái,…

– Nhà trường có đầy đủ giảng viên cơ hữu tham gia đào tạo cả các modul kiến thức văn hóa lẫn kiến thức du lịch.

5. Một số hình ảnh hoạt động của sinh viên Việt Nam học – Khoa KHXH & NV

Sinh viên Văn hóa Du lịch đi điền dã học phần Hán Nôm ở chùa Linh Phước

Sinh viên Văn hóa Du lịch đi Thực tế bộ môn ở Đà Lạt

Sinh viên Văn hóa Du lịch tổ chức hoạt động thiện nguyện ở mái ấm tình thương Nha Trang

Thực tập hướng dẫn viên du lịch

TS. Trần Viết Thiện – Trưởng khoa, tập huấn về Văn hóa Du lịch

cho nhân viên Champa Island Nha Trang

Lưu ý:

– Thí sinh có nhu cầu tìm hiểu thông tin cụ thể hơn liên hệ cô Bé – cán bộ tư vấn tuyển sinh của Khoa: 0982 828 909; Hoặc thầy Thiện – Trưởng khoa: 0982 053 058.

Ban Tư vấn tuyển sinh Khoa KHXH&NV

Canada Và Việt Nam Có Tiềm Năng Rất Lớn Để Hợp Tác Phát Triển Du Lịch

Việt Nam Có Mấy Vùng Kinh Tế Trọng Điểm?

Dịch Vụ Làm Visa Hà Lan Trọn Gói Tại Hà Nội Và Hồ Chí Minh

Hướng Dẫn Khai Tờ Khai Xin Visa Hungary

Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch Triển Khai Công Tác Năm 2013

🌟 Home
🌟 Top