Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Ẩm Thực Ở Việt Nam

--- Bài mới hơn ---

  • Du Lịch Trung Quốc Cần Chuẩn Bị Những Gì Để Chuyến Đi Thuận Tiện
  • Du Lịch Thái Lan 5 Ngày 4 Đêm Vietravel
  • Du Lịch Hàn Quốc Cần Điều Kiện Gì
  • Nên Chơi Ở Đâu Và Ăn Gì Khi Đi Du Lịch Brussels, Bỉ ?
  • Tour Cần Thơ 2 Ngày 1 Đêm
  • --- Bài cũ hơn ---

  • Tour Du Lịch Bali Khởi Hành Từ Hà Nội 4 Ngày,tour Du Lich Bali Khoi Hanh Tu Ha Noi 4 Ngay
  • Tour Đi Phú Quốc Từ Đà Nẵng 3 Ngày 2 Đêm Hấp Dẫn, Giá Tốt
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Tây Thiên (Cập Nhật 2022)
  • Tất Tần Tật Kinh Nghiệm Đi Du Lịch Nha Trang Từ Hà Nội
  • 9 Ngày Du Lịch Tại Phúc Kiến Trung Quốc
  • Thực Trạng Du Lịch Mice Ở Việt Nam Và Giải Pháp Phát Triển

    --- Bài mới hơn ---

  • Ba Mục Tiêu Mới Để Phát Triển Du Lịch Mộc Châu
  • Phát Triển Du Lịch Mộc Châu Cần Những Giải Pháp Đột Phá
  • Tiềm Năng Và Hiện Trạng Phát Triển Du Lịch Của Mộc Châu
  • Tiềm Năng Phát Triển Du Lịch Mộc Châu,tiem Nang Phat Trien Du Lich Moc Chau
  • Để Phát Triển Du Lịch Nghệ An Trở Thành Ngành Kinh Tế Mũi Nhọn
  • Đa số khách đi du lịch MICE thường là các đoàn với số lượng đông, kéo theo đó mức chi tiêu cho các dịch vụ đi kèm cũng cao. Chính vì vậy lợi nhuận thu được từ khách du lịch MICE rất lớn. Có thể ước tính lợi nhuận từ loại hình du lịch này cao gấp 5 đến 6 lần so với du lịch thông thường.

    Du lịch MICE đem lại nhiều lợi nhuận

    Loại hình du lịch MICE yêu cầu cao về cơ sở lưu trú, địa điểm hội nghị, hội họp, vì vậy để gia tăng các điều kiện tổ chức MICE, cộng đồng chủ nhà phải xây dựng, bổ sung, nâng cấp hệ thống đường xá, khách sạn, trung tâm hội nghị…nhờ đó mà các cơ sở vật chất cũng được nâng cấp theo. Bên cạnh đó, du lịch MICE còn mở ra cơ hội quảng bá về đất nước, con người, tạo ấn tượng và thu hút khách du lịch.

    Thực trạng phát triển du lịch MICE ở Việt Nam hiện nay

    Có thể nói Việt Nam là một quốc gia có lợi thế cạnh tranh trong việc thu hút khách MICE trong khu vực Đông Nam Á, bởi lẽ:

    • Cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, nhiều kỳ quan thiên nhiên thế giới, nhiều Resort mới được xây dựng, đường bờ biển dài (3260 km) với nhiều bãi biển đẹp
    • Được mệnh danh là điểm đến an toàn, thân thiện với tình hình chính trị ổn định, sự hiếu khách của cư dân địa phương.
    • Sự kiện Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO vào ngày 7/12/2006 đã thổi bùng làn sóng đi lại, nghiên cứu thị trường, xúc tiến đầu tư…vào Việt Nam

    Cảnh quan, chính trị bình ổn là lợi thế đối với du lịch MICE

    Trong số thách thức Việt Nam gặp phải, điều đáng nói đầu tiên chính là cơ sở hạ tầng. Kết cấu hạ tầng của Việt Nam chưa phát triển. Do khách MICE chủ yếu là khách hạng sang, nên đòi hỏi hạ tầng phải đồng bộ, chất lượng cao và lại phải phong phú và đa dạng. Thêm vào đó, các hoạt động thu hút khách MICE chủ yếu là tự phát, chưa có định hướng và hỗ trợ từ phía các cơ quan quản lý nhà nước.

    Không chỉ vậy những hoạt động quảng bá còn nhỏ lẻ, chưa xứng tầm với tiềm năng. Đầu tư cho quảng bá còn quá ít dao động từ 2 đến 2,5 triệu USD/năm, trong khi đó so với các nước trong khu vực thì chi phí cho quảng bá cho du lịch của Việt Nam chỉ bằng 3% Thái Lan, 2,5% Singapore và 1,9% Malaysia. Do những nguyên nhân đó mà ngành du lịch Việt Nam rất khó cạnh tranh với các nước bạn.

    Một trong những thách thức Việt Nam đang gặp phải nữa là nguồn nhân lực phục vụ cho du lịch nói chung và MICE nói riêng còn thiếu và chưa đảm bảo chất lượng. Công tác đào tạo chưa được trú trọng, đội ngũ nhân viên phục vụ tại các nhà hàng, khách sạn, các trung tâm mua sắm… còn thiếu chuyên nghiệp, chủ yếu tự đào tạo, chưa có hệ thống.

    Giải pháp nào cho du lịch MICE tại Việt Nam

    Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

    Yếu tố con người luôn là điều cần phải quan tâm trước hết trong mọi vấn đề. Đối với du lịch MICE cũng vậy, để loại hình du lịch này phát triển, chúng ta cần chú trọng hơn việc đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ du lịch.

    Có thể mở thêm nhiều khoa chuyên ngành hay những trung tâm đào tạo chuyên cho loại hình du lịch này. Tiếp theo là đảm bảo đầu ra cho người học đạt tiêu chuẩn theo đúng khung tiêu chuẩn nghề quốc tế VTOS. Bên cạnh đó cũng có thể tổ chức thêm các khóa đào tạo ngắn hạn để cải thiện cũng như nâng cao chuyên môn của đội ngũ nhân viên làm việc trong lĩnh vực này.

    Đặc biệt có thể thường xuyên tổ chức cho cán bộ, nhân viên học tập thực tế về du lịch MICE ở những nước dẫn đầu về công nghiệp MICE như Mỹ, Anh, Úc, Nhật Bản, Thái Lan…

    Cải thiện cơ sở vật chất, kỹ thuật

    Đầu tiên, cần quy hoạch lại hệ thống đường bộ để giao thông thông thoáng hơn thuận tiện cho mọi hoạt động. Tiếp theo, cần mở thêm nhiều đường bay thẳng quốc tế để tạo sự thuận lợi cho các khách du lịch. Đặc biệt, không thể quên nâng cấp và mở thêm các khách sạn cũng như các trung tâm hội nghị có phòng ốc hiện địa, đầy đủ tiện nghi, sang trọng. Quy hoạch lại hệ thống đường đường bộ để giao thông thông thoáng, thuận tiện. Đảm bảo trang bị đầy đủ các trang thiết bị hiện đại phục vụ cho hoạt động của du khách và khiến họ cảm thấy thoải mái nhất có thể.

    Du lịch MICE – khi đẳng cấp tạo nên sự khác biệt

    Tăng cường quảng bá, xúc tiến

    Đặc biệt, Việt Nam nên có một mạng lưới đại diện ở nước ngoài hoặc liên kết với các văn phòng ở nước ngoài để quảng bá. Thêm vào đó, cũng cần có trang web hấp dẫn cho phép các blog và giao tiếp qua các diễn đàn truyền thông xã hội như Twitter, Facebook, Youtube… Hơn nữa, các hoạt động quảng bá bằng hàng không phải được tăng cường và thu hút các hãng hàng không bay đến Việt Nam.

    Tăng cường sự liên kết giữa các doanh nghiệp du lịch, liên kết giữa ngành du lịch với chính quyền địa phương nhằm xây dựng thương hiệu phù hợp với nhiều yếu tố, từ an ninh trật tự, vệ sinh môi trường, cảnh quan đến các chương trình du lịch thu hút khách trong và ngoài nước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phát Triển Du Lịch Lý Sơn Vẫn Ở Dạng Tiềm Năng
  • Những Tiềm Năng Và Lợi Thể Để Phát Triển Du Lịch Lý Sơn
  • Hội Thảo “phát Triển Du Lịch Lý Sơn”
  • Phát Triển Du Lịch Cộng Đồng Ở Lý Sơn
  • Phát Triển Du Lịch Lý Sơn
  • Du Lịch Lạng Sơn: Thực Trạng Và Định Hướng Phát Triển

    --- Bài mới hơn ---

  • Tiềm Năng Của Du Lịch Mice Tại Việt Nam
  • Khai Thác Tiềm Năng Du Lịch Mice Ở Ninh Bình
  • Khám Phá Vẻ Đẹp Tiềm Ẩn, Giàu Tiềm Năng Du Lịch Của Ninh Thuận
  • Presstrip Trải Nghiệm Tiềm Năng Du Lịch Huế
  • Tiềm Năng Du Lịch Phú Yên
  • Nằm ở cửa ngõ phía Đông Bắc của Tổ quốc, Lạng Sơn là nơi có khá nhiều thuận lợi về điều kiện tự nhiên; có đường biên giới giáp với Quảng Tây – Trung Quốc, có 2 cửa khẩu quốc tế, 2 cửa khẩu quốc gia và các cặp chợ biên giới;

    Lạng Sơn còn có các quốc lộ 1A, 1B, 4A, 4B, 279 và tuyến đường sắt liên vận quốc tế chạy qua; có nhiều thắng cảnh và di tích văn hoá, di tích lịch sử, như động Nhị Thanh, chùa Tam Thanh, núi Tô Thị, Chùa Tiên, khu du lịch nghỉ mát Mẫu Sơn, hệ thống các hang động ở Hữu Lũng, Chi Lăng, Bình Gia và Bắc Sơn,…

    Lạng Sơn là nơi có nhiều dân tộc cùng chung sống, là sự hoà nhập của cộng đồng, những tập quán sinh hoạt, những phong tục hội hè, những phiên chợ vùng cao, những ngày hội Lồng thồng, những sắc màu trang phục truyền thống, những áng ca dao, cũng như những làn điệu dân ca, hát then, hát sli, hát lượn …. đều say đắm lòng người. Ngoài ra quê hương Xứ Lạng còn có những nét văn hoá ẩm thực đặc sắc mang đậm những phong vị riêng như: phở chua, vịt quay, khau nhục, xá xíu, thịt lạp, xôi ngũ sắc, bánh cuốn, bánh phồng, măng ớt, khẩu Shi … Cùng với các món ăn đó, các loại hoa quả tại vùng quê Xứ Lạng cũng đa dạng phong phú như: mơ, lê Tràng Định, mận Bình Gia, quýt Bắc Sơn, hồng không hạt Bảo Lâm, na Chi Lăng, đào Mẫu Sơn… Sự phong phú, đa dạng và độc đáo của các sản phẩm ẩm thực của Lạng Sơn sẽ là ấn tượng sâu sắc đối với du khách sau mỗi lần đến thăm, tìm hiểu và thưởng thức.

    Vị trí của Lạng Sơn trở nên quan trọng cho ngành du lịch của tỉnh nhà và cho ngành du lịch cả nước. Đặc biệt từ khi Đảng và Nhà nước thực hiện đường lối chính sách đổi mới và hội nhập, các hệ thống trung tâm thương mại, các khu kinh tế cửa khẩu và chợ biên giới tại Lạng Sơn được xây dựng và nâng cấp, cùng với các thủ tục hành chính được cải cách thuận tiện…. Nên việc giao lưu buôn bán và tham quan du lịch ngày càng diễn ra sôi động, từng bước đưa Lạng Sơn trở thành một trong những trung tâm giao lưu buôn bán, tham quan quan du lịch với các loại hình như: du lịch mua sắm, du lịch tâm linh, du lịch tham quan nghỉ dưỡng, du lịch biên giới và sang nước bạn Trung Quốc.

    Trên cơ sở các văn bản của Chính phủ về phát triển du lịch, đặc biệt là Chương trình hành động quốc gia về du lịch và sự quan tâm giúp đỡ của Tổng cục Du lịch, ngành du lịch của tỉnh đã tham mưu cho Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành các chỉ thị, nghị quyết chuyên đề về phát triển du lịch Lạng Sơn các giai đoạn 2000 – 2005 và 2006 – 2010; tham mưu cho UBND tỉnh thành lập Ban chỉ đạo phát triển du lịch của tỉnh và ban hành Chương trình hành động phát triển du lịch các giai đoạn 2000 – 2005; 2006 – 2010; đề xuất xây dựng các quy định ưu đãi đầu tư trên địa bàn tỉnh, trong đó có lĩnh vực du lịch. Do đó những năm qua tốc độ tăng trưởng ngành du lịch dịch vụ bình quân đạt 13,2 %, chiếm 38,8 % trong cơ cấu GDP của tỉnh.

    Công tác quản lý nhà nước về du lịch được ổn định và kiện toàn đáp ứng yêu cầu công việc; phối hợp với các ngành chức năng của tỉnh như: Công an, Bộ chỉ huy Biên phòng tỉnh giải quyết kịp thời thuận lợi các thủ tục xuất nhập cảnh cho khách du lịch.

    Công tác xúc tiến du lịch ngày càng được quan tâm. Những năm qua ngành luôn tích cực tham gia các hoạt động xúc tiến du lịch như: hội chợ, hội thảo, tọa đàm và các hoạt động xúc tiến khác nhằm quảng bá cho khách du lịch, nhà đầu tư về tiềm năng du lịch Lạng Sơn.

    Xác định du lịch biên giới là một thế mạnh của du lịch Lạng Sơn, do đó cơ quan quản lý nhà nước về du lịch của tỉnh đã thường xuyên trao đổi để hợp tác với Cục Du lịch Quảng Tây – Trung Quốc ký các biên bản thỏa thuận, bản ghi nhớ giữa hai bên để tạo điều kiện thuận cho các doanh nghiệp lữ hành của hai bên hợp tác trao đổi khách với nhau, phối hợp về xúc tiến quảng bá để khai thác nguồn khách mở rộng thị trường, mặt khác trao đổi và bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cũng như phối hợp giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện.

    Về quy hoạch và các dự án đầu tư: Hiện nay Lạng Sơn đang triển khai xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển du lịch của tỉnh giai đoạn 2010 – 2022 và tầm nhìn đến năm 2030; Lập Dự án điều chỉnh Quy hoạch khu du lịch Mẫu Sơn theo hướng mở rộng quy mô lớn hơn; Một số quy hoạch chi tiết và dự án đầu tư cơ sở hạ tầng, đầu tư các khu, điểm du lịch khác trên địa bàn đã phê duyệt, được triển khai, quản lý và thực hiện theo các quy định hiện hành.

    Về hoạt động du lịch dịch vụ: Hệ thống cơ sở lưu trú du lịch được các doanh nghiệp đầu tư mới và thường xuyên cải tạo nâng cấp, bổ sung trang thiết bị với số vốn hàng trăm tỷ đồng. Nâng số cơ sở lưu trú đến thời điểm hiện nay lên hàng trăm cơ sở, với hơn 3000 giường. Hoạt động kinh doanh lữ hành có sự chuyển biến tích cực, các đơn vị đã chủ động khai thác nguồn khách và thị trường du lịch, nhất là thị trường Trung Quốc, với nhiều loại hình du lịch, nhiều tour, tuyến khác nhau như: du lịch lễ hội, du lịch sinh thái, du lịch gắn với khảo sát thị trường tạo cơ hội kinh doanh, hội thảo khoa học, mua sắm ….

    Bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên, thì du lịch Lạng Sơn cũng còn nhiều khó khăn bất cập, đặc biệt là tiềm năng và thế mạnh về du lịch chưa được khai thác tương xứng. Vì vậy trên cơ sở các chủ trương, định hướng của tỉnh, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lạng Sơn xác định một số nhiệm vụ trọng tâm về phát triển du lịch trong thời gian tới như sau:

    Về quy hoạch và xây dựng các dự án phát triển du lịch: Sớm hoàn thiện quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Lạng Sơn đến năm 2022 và tầm nhìn đến năm 2030. Rà soát, điều chỉnh các quy hoạch, các khu, điểm du lịch như: Phát triển Khu du lịch Mẫu Sơn theo hướng mở rộng với nhiều nội dung phong phú và riêng biệt hướng tới thành khu lịch quốc gia; Đẩy mạnh tiến độ thực hiện các dự án tại các khu du lịch Nhị Tam Thanh, thành Nhà Mạc, khu du lịch sinh thái Hồ Nà Tâm, các điểm vui chơi giải trí trên địa bàn thành phố và các cửa khẩu; Triển khai thực hiện các đề án về quy hoạch tổng thể, quy hoạch các khu, các điểm du lịch và các ngành nghề truyền thống của tỉnh. Đầu tư các khu, điểm du lịch gắn kết, đan xen để phát triển một số loại hình du lịch là thế mạnh của tỉnh như: du lịch tâm linh; du lịch sinh thái, hang động; du lịch mua sắm; du lịch cửa khẩu và tham quan các danh lam thắng cảnh.

    Đặc biệt là cùng với các trung tâm thương mại tại khu kinh tế cửa khẩu Tân Thanh đã được đầu tư và trở thành điểm du lịch mua săm hấp dẫn, Lạng Sơn còn nằm trong quy hoạch phát triển tuyến hành lang kinh tế: Nam Ninh – (Trung Quốc) – Lạng Sơn – Hà Nội – Hải Phòng (Việt Nam), mặt khác Chính Phủ đã phê duyệt Đề án xây dựng Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng – Lạng Sơn và ban hành Quy chế hoạt động. Với các chính sách đầu tư mở rộng, cơ chế quản lý năng động sẽ mở ra cho du lịch Lạng Sơn thời cơ, vận hội mới để phát triển.

    Nghiên cứu quy hoạch tôn tạo các di tích, danh thắng, khôi phục những nét văn hóa đặc sắc như: hát then, sli, lượn, các món ăn ẩm thực truyền thống có chất lượng và mang đậm tính riêng của vùng đất Xứ Lạng để phục vụ khách du lịch.

    Đẩy mạnh phát triển các tour tuyến du lịch: Tiếp tục phát huy những tour du lịch truyền thống, trong đó đặc biệt là chú trọng phát huy thế mạnh về loại hình du lịch như: du lịch mua sắm tại các khu cửa khẩu và trung tâm thành phố Lạng Sơn; du lịch cửa khẩu biên giới và đi vào nội địa Trung Quốc; du lịch tâm linh, du lịch hang động và cảnh quan môi trường sinh thái. Tạo điều kiện cho các danh nghiệp trong và ngoài tỉnh liên kết khảo sát và xây dựng các tour, tuyến du lịch mới với các hình thức và phương tiện cả về đường bộ, đường sắt và đường hàng không; trong đó tập trung những tour tuyến nhằm khai thác nguồn khách đầy tiềm năng từ các tỉnh, thành phố lớn của đất nước như thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành lân cận. Bên cạnh đó, tiếp tục nâng cao chất lượng các dịch vụ và đẩy mạnh công tác tuyên truyền quảng bá rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng nhằm giới thiệu về tiềm năng, các điểm đến của Lạng Sơn với du khách, các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Nghiên cứu, đề xuất xây dựng các cơ chế chính sách như: ưu đãi khuyến khích đầu tư phát triển du lịch, các thủ tục quản lý xuất nhập cảnh và các thủ tục hành chính khác nhằm tạo thuận lợi nhất cho du khách và nhà đầu tư đến với Lạng Sơn. Chú trọng công tác đào tạo đội ngũ CBCNV làm du lịch bằng nhiều hình thức. Về hợp tác phát triển: Chú trọng phát huy những kết quả đạt được từ sự hợp tác với các tỉnh bạn, với Quảng Tây Trung Quốc. Đặc biệt là tiếp tục liên kết và hợp tác với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các, tỉnh thành phố lân cận như: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Bắc Giang, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Cao Bằng để cùng thúc đẩy tạo cơ hội mới cho du lịch phát triển hiệu quả và bền vững hơn.

    Với những nhiệm vụ cơ bản nêu trên, cùng với sự nỗ lực các cấp các ngành, đặc biệt là bằng năng động sáng tạo của các doanh nghiệp du lịch và cộng đồng xã hội trên địa bàn tỉnh, tin tưởng rằng du lịch Lạng Sơn sẽ có bước phát triển mạnh mẽ và bền vững hơn trong tương lai.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lạng Sơn: Tiềm Năng Phát Triển Kinh Tế Mũi Nhọn Về Du Lịch
  • Chào Mừng Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Huyện Lạc Dương Lần Thứ Xi, Nhiệm Kỳ 2022
  • Tiềm Năng Của Du Lịch Đà Lạt
  • Tọa Đàm Khai Thác Tiềm Năng Du Lịch Tỉnh Lai Châu
  • Du Lịch Lai Châu Có Nhiều Tiềm Năng Phát Triển
  • Du Lịch Tâm Linh Ở Việt Nam: Thực Trạng Và Định Hướng Phát Triển

    --- Bài mới hơn ---

  • Top 7 Địa Điểm Du Lịch Tâm Linh Linh Thiêng Nhất Việt Nam ⋆ Innotour.vn
  • Top 10 Địa Điểm Du Lịch Tâm Linh, Linh Thiêng Nhất Ở Việt Nam
  • Du Lịch Tâm Linh Ở Phú Thọ Đến Các Chùa
  • 5 Địa Điểm Du Lịch Tâm Linh Nổi Tiếng Tỉnh Phú Thọ
  • Phú Thọ: Du Lịch Tâm Linh Hấp Dẫn Khách Du Lịch Mùa Lễ Hội
  • Du lịch tâm linh trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đã và đang trở thành xu hướng ngày càng phổ biến. Tham luận này đề cập đến tình hình và định hướng phát triển du lịch tâm linh đóng góp vào quá trình tăng trưởng bền vững cho du lịch Việt Nam.

    Du lịch tâm linh trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng có những quan niệm khác nhau và đến nay vẫn chưa có một khái niệm chung nhất. Tuy nhiên, xét về nội dung và tính chất hoạt động, du lịch tâm linh thực chất là loại hình du lịch văn hóa, lấy yếu tố văn hóa tâm linh vừa làm cơ sở vừa làm mục tiêu nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh của con người trong đời sống tinh thần. Theo cách nhìn nhận đó, du lịch tâm linh khai thác những yếu tố văn hóa tâm linh trong quá trình diễn ra các hoạt động du lịch, dựa vào những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể gắn với lịch sử hình thành nhận thức của con người về thế giới, những giá trị về đức tin, tôn giáo, tín ngưỡng và những giá trị tinh thần đặc biệt khác. Theo đó, du lịch tâm linh mang lại những cảm xúc và trải nghiệm thiêng liêng về tinh thần của con người trong khi đi du lịch.

    Với cách hiểu như vậy, có thể nhận diện những dòng người đi du lịch đến các điểm tâm linh gắn với không gian văn hóa, cảnh quan các khu, điểm du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch của mình, trong đó nhu cầu tâm linh được xem là cốt yếu. Khách du lịch tâm linh ở Việt Nam thường hội tụ về các điểm du lịch tâm linh như: đền, chùa, đình, đài, lăng tẩm, tòa thánh, khu thờ tự, tưởng niệm và những vùng đất linh thiêng gắn với phong cảnh đặc sắc gắn kết với văn hóa truyền thống, lối sống địa phương. Ở đó du khách tiến hành các hoạt động tham quan, tìm hiểu văn hóa lịch sử, triết giáo, cầu nguyện, cúng tế, chiêm bái, tri ân, báo hiếu, thiền, tham gia lễ hội… Thông qua đó, hoạt động du lịch mang lại những cảm nhận, giá trị trải nghiệm và giải thoát trong tâm hồn của con người, cân bằng và củng cố đức tin, hướng tới những giá trị chân, thiện, mỹ và góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống.

    Đáp ứng nhu cầu du lịch tâm linh, các hoạt động kinh doanh, tổ chức dịch vụ phục vụ du lịch tâm linh trên các tuyến hành trình và tại các khu, điểm du lịch được thực hiện, qua đó tạo việc làm, tăng thu nhập cho cư dân địa phương, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội.

    Đặc điểm và xu hướng phát triển du lịch tâm linh ở Việt Nam

    a) Đặc điểm

    Sự đặc thù khác biệt của du lịch tâm linh ở Việt Nam so với các nơi khác trên thế giới có thể nhận thấy đó là:

    – Du lịch tâm linh gắn với tôn giáo và đức tin và ở Việt Nam, trong đó Phật giáo có số lượng lớn nhất (chiếm tới 90%) cùng tồn tại với các tôn giáo khác như Thiên Chúa giáo, Cao đài, Hòa Hảo… Triết lý phương đông, đức tin, giáo pháp, những giá trị vật thể và phi vật thể gắn với những thiết chế, công trình tôn giáo ở Việt Nam là những ngôi chùa, tòa thánh và những công trình văn hóa tôn giáo gắn với các di tích là đối tượng mục tiêu hướng tới của du lịch tâm linh.

    – Du lịch tâm linh ở Việt Nam gắn với tín ngưỡng thờ cúng, tri ân những vị anh hùng dân tộc, những vị tiền bối có công với nước, dân tộc (Thành Hoàng) trở thành du lịch về cội nguồn dân tộc với đạo lý uống nước nhớ nguồn. Mới đây, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Việt Nam đã được UNESCO công nhận là di sản phi vật thể đại diện nhân loại.

    – Du lịch tâm linh ở Việt Nam gắn tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, dòng tộc, tri ân báo hiếu đối với bậc sinh thành.

    – Du lịch tâm linh ở Việt Nam gắn với những hoạt động thể thao tinh thần như thiền, yoga hướng tới sự cân bằng, thanh tao, siêu thoát trong đời sống tinh thần, đặc trưng và tiêu biểu ở Việt Nam mà không nơi nào có đó là

    – Ngoài ra du lịch tâm linh ở Việt Nam còn có những hoạt động gắn với yếu tố linh thiêng và những điều huyền bí.

    b) Xu hướng phát triển du lịch tâm linh ở Việt Nam

    Việt Nam có nhiều tiềm năng và thế mạnh để phát triển du lịch tâm linh thể hiện ở bề dày văn hóa gắn với truyền thống, tôn giáo, tín ngưỡng. Sự đa dạng và phong phú của các thắng tích tôn giáo và với số lượng lớn các tín ngưỡng, lễ hội dân gian được tổ chức quanh năm trên phạm vi cả nước. Nhu cầu du lịch tâm linh của người Việt Nam đang trở thành động lực thúc đẩy du lịch tâm linh phát triển. Ngày nay du lịch tâm linh ở Việt Nam đang trở thành xu hướng phổ biến:

    – Số lượng khách du lịch tâm linh ngày càng tăng, chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu khách du lịch, đặc biệt là khách nội địa. Số khách du lịch đến các điểm tâm linh tăng cho thấy du lịch tâm linh ngày càng giữ vị trí quan trọng trong đời sống xã hội.

    – Nhu cầu và du lịch tâm linh ngày càng đa dạng không chỉ giới hạn trong khuôn khổ hoạt động gắn với tôn giáo mà ngày càng mở rộng tới các hoạt động, sinh hoạt tinh thần, tín ngưỡng cổ truyền của dân tộc và những yếu tố linh thiêng khác. Hoạt động du lịch tâm linh ngày càng chủ động, có chiều sâu và trở thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống tinh thần của đại bộ phận nhân dân.

    – Hoạt động kinh doanh, đầu tư vào du lịch linh ngày càng đẩy mạnh thể hiện ở quy mô, tính chất hoạt động của các khu, điểm du lịch tâm linh. Ra đời và phát triển ngày càng nhiều các điểm du lịch tâm linh ở hầu hết các địa phương, vùng, miền trên phạm vi cả nước, tiêu biểu như: Đền Hùng (Phú Thọ); Yên Tử (Quảng Ninh); Chùa Hương (Hà Nội); Phát Diệm (Ninh Bình); Núi Bà Đen, Thánh thất Cao Đài (Tây Ninh); Chùa Bái Đính (Ninh Bình); Đại Nam Văn Hiến (Bình Dương); Miếu Bà Chúa Xứ (An Giang); Công Sơn-Kiếp Bạc (Hải Dương); Tây Thiên (Vĩnh Phúc); Đền Trần-Phủ Dầy (Nam Định)…

    – Du lịch tâm linh ngày càng được xã hội tiếp cận và nhìn nhận tích cực cả về khía cạnh kinh tế và xã hội. Nhà nước ngày càng quan tâm hơn đối với phát triển du lịch tâm linh và coi đó là một trong những giải pháp đáp ứng đời sống tinh thần cho nhân dân đồng thời với việc bảo tồn, tôn vinh những giá trị truyền thống, suy tôn những giá trị nhân văn cao cả.

    Tình hình phát triển và kết quả đóng góp của du lịch tâm linh vào tăng trưởng du lịch Việt Nam

    Trong giai đoạn vừa qua, Du lịch Việt Nam chứng kiến giai đoạn tăng trưởng mạnh mẽ với tỷ lệ ấn tượng trên 12% mỗi năm (ngoại trừ suy giảm do dịch SARS 2003 và suy thoái kinh tế thế giới 2009). Năm 2012, với 6,8 triệu lượt khách quốc tế, 32,5 triệu lượt khách nội địa, tổng thu du lịch đạt 160.000 tỷ đồng. 10 tháng đầu năm 2013 số khách quốc tế đạt 6,12 triệu lượt, tăng 10,4% so với cùng kỳ năm 2012. Với tốc độ đó, ước tính 2013 Việt Nam sẽ đạt mốc 7,4 triệu lượt khách quốc tế và 35 triệu lượt khách nội địa, tổng thu sẽ đạt 195.000 tỷ đồng (tương đương 9 tỷ USD). Như vậy, chỉ sau 4 năm phục hồi suy thoái, lượng khách quốc tế đến Việt Nam đã tăng gấp 2 lần; tổng thu du lịch tăng trên 2,2 lần. Với những chỉ tiêu tổng thể đó thì mục tiêu Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2022 đã về đích trước 2 năm. Đạt được kết quả tăng trưởng đó có sự đóng góp tích cực của du lịch tâm linh với những kết quả đáng ghi nhận.

    a) Số lượng, cơ cấu khách du lịch tâm linh

    Ở Việt Nam, khách du lịch tâm linh chiếm một tỷ trọng khá lớn. Thông thường khách đi du lịch hầu như kết hợp với mục đích tâm linh hoặc mục đích tâm linh được lồng ghép trong nhiều chuyến đi. Vì vậy, khó có thể phân biệt rõ số khách với mục đích du lịch tâm linh thuần túy (ngoại trừ số tăng ni, phật tử, tín đồ, khách hành hương).

    Trong số 32,5 triệu khách du lịch nội địa năm 2012 chỉ tính riêng số khách đến các điểm tâm linh (chùa, đền, phủ, tòa thánh) có khoảng 13,5 triệu lượt, tương đương 41,5%. Một số điểm du lịch tâm linh tiêu biểu năm 2012 đón một lượng khách lớn như Miếu Bà Chúa Xứ An Giang (3,6 triệu lượt khách), Chùa Hương (1,5 triệu lượt); Chùa Bái Đính (2,1 triệu lượt), Yên Tử (2,3 triệu lượt), khu du lịch Núi Bà Đen (2,2 triệu lượt); Cô Sơn Kiếp Bạc (1,2 triệu). Đối với khách quốc tế đến Việt Nam với mục đích tâm linh không nhiều, trong số 6,8 triệu lượt khách đến Việt Nam năm 2012 ước tính có khoảng 12% khách du lịch có đến các điểm du lịch tâm linh.

    b) Những hoạt động du lịch tâm linh chủ yếu

    – Hành hương đến những điểm tâm linh: những ngôi chùa (cả nước có trên cả nước có 465 ngôi chùa được xếp hạng di tích lịch sử-văn hóa quốc gia), tòa thánh, đền, đài, lăng, tẩm, phủ, khu tưởng niệm; tiến hành các hoạt động thờ cúng: thờ cúng thành hoàng, thờ mẫu, thờ cúng tổ nghề, thờ tam phủ, tứ phủ, thờ tứ pháp, thờ bốn vị tứ bất tử, thờ danh nhân, anh hùng dân tộc, thờ táo quân, thổ địa… Các hoạt động chiêm bái, cầu nguyện, tụng kinh, thiền, yoga, pháp đàm; thiền trà; tham vấn; pháp thoại; thiền ca; thiền buông thư,…

    – Tham quan, vãn cảnh, thưởng ngoạn không gian cảnh quan và không gian kiến trúc, điêu khắc gắn với điểm tâm linh; tìm hiểu văn hóa gắn với lịch sử tôn giáo và lối sống bản địa, những giá trị di sản văn hóa gắn với điểm tâm linh

    – Tham gia lễ hội tín ngưỡng, dân gian: Quốc giỗ, lễ hội Đến Hùng, Lễ Vu Lan, lễ hội Thánh Gióng (Hà Nội), lễ hội vía Bà Tây Ninh, lễ hội Tế Cá Ông (Bình Thuận), lễ hội vía Bà núi Sam (Châu Đốc) v.v.

    c) Dịch vụ phục vụ du lịch tâm linh

    Dịch vụ lữ hành phục vụ các chương trình du lịch với mục đích tâm linh kết hợp các mục đích khác; dịch vụ lưu trú, ăn uống, mua sắm lưu niệm; phục vụ cúng tế, chiêm bái, thiền, yoga; dịch vụ vận chuyển bằng xe điện, cáp treo, lái đò, thuyền; dịch vụ thuyết minh; dịch vụ chụp ảnh; thưởng thức nghệ thuật dân gian, văn nghệ truyền thống, âm nhạc, múa, trò chơi dân gian…

    d) Thời gian lưu trú trung bình của khách du lịch tâm linh

    Thời gian lưu trú trung bình của khách du lịch ngắn, có thể chỉ vài giờ trong ngày, nhưng cũng có thể kéo dài nhiều ngày. Thông thường khách du lịch tâm linh đi trong ngày và ít nghỉ lại qua đêm. Thời gian lưu trú lâu dài nhất là 1.8 ngày như ở Măng Đen gắn với các mục đích khác như nghỉ dưỡng, sinh thái. Thời gian đi du lịch tâm linh thường tập trung vào dịp cuối năm và đầu năm âm lịch và các thời điểm lễ hội dân gian năm.

    e) Chi tiêu của khách du lịch tâm linh

    Chi tiêu của phần lớn khách du lịch tại các điểm tâm linh thường là thấp, chủ yếu chi cho các hoạt động phục vụ tế lễ, cầu nguyện, chiêm bái… mà ít phát sinh chi phí. Một số điểm tâm linh thu phí tham quan, còn lại hầu hết các điểm tâm linh gắn với tín ngưỡng không thu phí nhưng đều có các hòm công đức để khách tự nguyện đóng góp. Số tiền đóng góp tự nguyện đó khá lớn và là nguồn thu chính cho việc trùng tu, quản lý vận hành các điểm du lịch tâm linh. Các chi tiêu cơ bản cho các hoạt động di chuyển (cáp treo, thuyền, đò, xe điện…) chiếm một tỷ trọng đáng kể. Chi cho ăn uống và giải khát, chi cho lưu trú qua đêm, lưu niệm, sản vật địa phương… chiếm một tỷ trọng đáng kể nhưng không lớn do khách hầu hết viếng thăm trong thời gian ngắn, ít nghỉ lại qua đêm. Theo báo cáo của các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, doanh thu từ các địa điểm du lịch tâm linh còn rất khiêm tốn. Tuy nhiên, hiệu ứng lan tỏa của chi tiêu tại điểm du lịch tâm linh đến cộng đồng dân cư là rất lớn, có tác động rõ rệt thông qua tạo việc làm, bán hàng lưu niệm, sản vật địa phương.

    f) Du lịch tâm linh đóng góp tích cực vào phát triển bền vững

    – Người dân địa phương được chủ động tham gia vào các hoạt động phục vụ khách tại các điểm du lịch tâm linh: chèo đò, xích lô, bán hàng lưu niệm, hướng dẫn, tiêu thụ sản vật địa phương, phục vụ ăn uống (Ví dụ ở Tràng An: 1 vụ đò bằng 3 vụ lúa). Du lịch tâm linh tạo việc làm và thu nhập trực tiếp cho người dân địa phương, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn từ nông nghiệp sang kết hợp dịch vụ.

    Theo lời kể của người dân chèo đò, trước đây, hơn 10 năm khu vực Bái Đính là một vùng đất chưa được du khách biết đến, đường đi vào rất khó khăn, người dân sống lam lũ, một mùa cấy lúa nước, thu nhập bấp bênh, không có việc làm. Nhưng từ khi dự án xây dựng chùa Bái Đính, bộ mặt ở đây đã đổi thay cuộc sống của người dân đã có sự dịch chuyển từ thuần nông sang làm dịch vụ; nay một vụ đò bằng 3 vụ lúa; hàng chục ngàn người đã có việc làm, thu nhập 4-6 triệu đồng/tháng, an ninh trật tự được đảm bảo. Có thể nói, cuộc sống của người dân ở đây đã thực sự đổi thay nhờ du lịch tâm linh đến Bái Đính-Tràng An.

    – Với triết lý đạo Phật cũng như các tôn giáo khác là sống tốt đời đẹp đạo, du lịch tâm linh chủ động và tích cực trong việc bảo vệ môi trường và đóng góp thích đáng vào phát triển bền vững. Ở Việt Nam hầu hết các điểm du lịch tâm linh là những nơi có phong cảnh đẹp, hệ sinh thái độc đáo luôn được giữ gìn bảo vệ môi trường tốt bằng các hành vi có ý thức của con người. Ngoại trừ những nơi do thương mại hóa quá mức không kiểm soát nổi dẫn tới quá tải.

    – Du lịch tâm linh mang lại những giá trị trải nghiệm thanh tao cho du khách, nhận thức và tận hưởng những giá trị về tinh thần giúp cho con người đạt tới sự cân bằng, cực lạc trong tâm hồn như theo triết lý từ-bi-hỷ-xả của đạo Phật… Những giá trị ấy có được nhờ du lịch tâm linh và đóng góp quan trọng vào sự an lạc, hạnh phúc và chất lượng cuộc sống cho dân sinh.

    – Du lịch tâm linh đạt tới sự phát triển cân bằng về các yếu tố kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường và đóng góp tích cực vào phát triển bền vững.

    Định hướng phát triển du lịch tâm linh ở Việt Nam

    Định hướng phát triển du lịch tâm linh ở Việt Nam

    a) Về quan điểm phát triển

    Thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước thể hiện trong quan điểm Chiến lược phát triển du lịch theo chiều sâu, có chất lượng, hiệu quả, bền vững, có thương hiệu và sức cạnh tranh, phát triển du lịch tâm linh dựa trên các quan điểm chủ đạo sau:

    – Thứ nhất, Du lịch tâm linh phải được tập trung đầu tư phát triển theo quy hoạch bài bản trên cơ sở khai thác những giá trị nổi trội về cảnh quan thiên nhiên và văn hóa dân tộc, đặc biệt là văn hóa tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam.

    – Thứ hai, Phát triển du lịch tâm linh trở thành động lực thu hút khách du lịch, thúc đẩy các hoạt động dịch vụ du lịch khác, tạo sự đa dạng và hấp dẫn cho du lịch Việt Nam và đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế-xã hội theo hướng bền vững; phát triển du lich tâm linh trở thành giải pháp hữu hiệu để phát triển bền vững thông qua tạo việc làm, thu nhập cho cư dân địa phương, tăng cường hiểu biết giao lưu văn hóa, tìm hiểu thế giới và tạo động lực bảo tồn giá trị truyền thống, tôn vinh bản sắc văn hóa dân tộc.

    – Thứ ba, Phát triển du lịch tâm linh trở thành mục tiêu phát triển đời sống tinh thần cho nhân dân hướng tới những giá trị chân-thiện-mỹ và nâng cao chất lượng cuộc sống, thúc đẩy tiến bộ xã hội; du lịch tâm linh phải phát triển theo hướng chăm lo nuôi dưỡng tinh thần tiến bộ, làm cho tư tưởng, tinh thần trong sáng đồng thời đấu tranh, bài trừ những hủ tục, dị đoan làm sai lệch tư tưởng và u muội tinh thần.

    b) Định hướng những giải pháp trọng tâm

    Với quan điểm phát triển du lịch tâm linh nêu trên, nhiệm vụ đặt ra đối với ngành Du lịch cần hướng tới, đó là:

    – Giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức về du lịch tâm linh, đảm bảo thực hiện đúng các quan điểm phát triển du lịch tâm linh mang lại những giá trị tinh thần tiến bộ cho xã hội, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế xã hội bền vững; Thực hiện chương trình nâng cao nhận thức về du lịch tâm linh cho các đối tượng từ cấp hoạch định chính sách cho tới phổ biến kiến thức, kinh nghiệm cho dân cư trong việc phát triển du lịch cộng đồng gắn với điểm du lịch tâm linh; tạo điều kiện và định hướng hoạt động cho các chức sắc tôn giáo, các tín đồ, tăng ni, phật tử trong việc tổ chức hoạt động du lịch tại các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo.

    – Tập trung nguồn lực, tạo cơ chế huy động nguồn lực đầu tư vào các khu, điểm du lịch tâm linh dựa trên quy hoạch các khu, điểm du lịch tâm linh. Đầu tư cho bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa tâm linh, đặc biệt về tín ngưỡng, tôn giáo và những giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể gắn với điểm tâm linh trở thành yếu tố hấp dẫn đặc sắc Việt Nam để thu hút khách du lịch; đầu tư vào hạ tầng tiếp cận điểm du lịch linh và hệ thống cơ sở dịch vụ đảm bảo chất lượng, tiện nghi, hài hòa với không gian và tính chất khu, điểm du lịch tâm linh.

    – Tổ chức cung cấp dịch vụ tại điểm du lịch tâm linh và tăng cường quản lý điểm đến du lịch tâm linh

    – Tăng cường nghiên cứu thị trường, phát triển sản phẩm, xúc tiến quảng bá du lịch tâm linh trong mối liên kết phát triển các loại hình du lịch khác đi liền với quản lý điểm đến trở thành thương hiệu du lịch nổi bật như Yên Tử, Hương tích, Bái Đính…

    – Thực hiện chương trình liên kết phát triển du lịch tâm linh giữa các điểm du lịch tâm linh trong nước: Yên Tử-Côn Sơn Kiếp Bạc-Hương tích-Đền Trần Phủ Dầy-Tam Chúc Ba Sao… và ngoài nước với: Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Độ, Myanma, Nepal, Bhutan, Trung đông… trong khuôn khổ hợp tác du lịch song phương và đa phương.

    – Phát huy vai trò của cộng đồng dân cư, mang lại sự hưởng lợi tối đa cho cộng đồng dân cư tại điểm du lịch tâm linh.

    Kết luận

    Du lịch tâm linh đang trở thành xu hướng phổ biến, gắn kết các nền văn hóa trong thế giới tinh thần. Việt Nam có nhiều tiềm năng phát triển du lịch tâm linh bởi nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc với nhu cầu hướng tới những giá trị tinh thần cao cả, đức tin, tín ngưỡng và tôn giáo.

    Những giá trị văn hóa tâm linh trên khắp mọi miền đất nước có sức hấp dẫn du lịch mạnh mẽ. Thời gian qua, số lượng lớn khách du lịch tới điểm tâm linh hàng năm và xu hướng ngày càng đông đảo du khách có nhu cầu du lịch tâm linh; hoạt động du lịch tâm linh ở Việt Nam không chỉ gắn với tôn giáo mà biết kết hợp phát huy triết học phương đông, đạo lý uống nước nhớ nguồn, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, anh hùng dân tộc, các vị tiền bối có công với nước.

    Du lịch tâm linh đã trở thành nhu cầu không thể thiếu, ngày càng sôi động, mang lại hiệu quả thiết thực cho kinh tế địa phương, nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân và đóng góp tích cực vào phát triển bền vững.

    Đảng và Nhà nước không ngừng quan tâm chăm lo tới đời sống tinh thần cho nhân dân thông qua các chính sách tạo điều kiện cho du lịch tâm linh phát triển theo đúng hướng mang lại những giá trị tinh thần thiết thực, góp phần vào phát triển kinh tế xã hội và phát triển kinh tế du lịch nói riêng. Trong thời gian tới, theo quan điểm chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030, Việt Nam cần triển khai đồng bộ các giải pháp thúc đẩy phát triển du lịch tâm linh phù hợp với xu hướng chung và vì sự phát triển bền vững.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đầu Năm Hành Hương Đến 5 Điểm Du Lịch Tâm Linh Ở Quảng Ninh
  • Du Lịch Xuân Đến Những Điểm Tâm Linh Ở Quảng Ninh
  • Điểm Danh Khu Du Lịch Văn Hóa Tâm Linh Ở Quảng Ninh
  • Khám Phá Địa Chỉ Du Lịch Tâm Linh Nổi Tiếng Ở Quảng Ninh, Kham Pha Dia Chi Du Lich Tam Linh Noi Tieng O Quang Ninh
  • Địa Điểm Du Lịch Tâm Linh Ở Quảng Ninh
  • Thực Trạng Và Tiềm Năng Phát Triển Du Lịch Bình Định

    --- Bài mới hơn ---

  • Phát Triển Du Lịch Tỉnh Bình Định Theo Hướng Bền Vững
  • Giới Thiệu Tổng Quan Về Quảng Nam
  • Kinh Nghiệm Xin Visa Du Lịch Hàn Quốc Tự Túc
  • Muốn Đi Du Lịch Hàn Quốc Cần Bao Nhiêu Tiền?
  • Đông Về Tắm Suối Khoáng Nóng Kim Bôi
  • TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN

    KHOA ĐỊA LÍ – ĐỊA CHÍNH

    Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch tỉnh Bình

    Định

    GVHD: LÊ THỊ LÀNH

    NHÓM: 5

    CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI

    MỞ ĐẦU

    NỘI DUNG

    CHƯƠNG 1:

    CHƯƠNG 2:

    CHƯƠNG 3:

    CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC

    TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG

    GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU

    TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN

    PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH

    LỊCH TỈNH BÌNH ĐỊNH

    CỨU

    BÌNH ĐỊNH

    KẾT LUẬN

    1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

    Du lịch – ngành kinh tế được ví như là ” Công nghiệp không khói” đã trở thành hoạt động kinh tế sôi động

    hàng đầu trên thế giới

    Bình Định là một tỉnh ven biển thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, với diện tích 6050,6 km

    2

    là một trong

    các cửa ngõ ra biển của Tây Nguyên và vùng Nam Lào.

    Có vị trí địa lí, địa hình tương đối phức tạp nhưng lại có nhiều cảnh quan đẹp như: Ghềnh Ráng – Tiên Sa,

    Hầm Hô, đầm Thị Nại, Cù Lao Xanh, suối khoáng nóng Hội Vân,…cùng với một bề dày lịch sử.

    Với 231 di tích trong đó có 33 di tích lịch sử-văn hóa được xếp hạng cấp quốc gia, 50 di tích lịch sử-văn hóa

    được xếp hạng cấp tỉnh tạo ra nhiều sản phẩm du lịch thu hút nhiều du khách: tháp Chăm, Bảo tàng Quang

    Trung, võ cổ truyền, ẩm thực…

    1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

    1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

    Bình Định cũng được mệnh danh là “Đất võ trời văn” nơi sản sinh ra nhiều nhà văn hóa, nhà anh hùng

    hào kiệt. Chình những yếu tố này giúp cho tỉnh Bình Định có tiềm năng về du lịch vô cùng quý giá

    Tuy nhiên, hiện nay với sự phát triển của ngành du lịch tỉnh Bình Định còn đơn điệu, nghèo nàn chưa

    tương xứng với tiềm năng , chưa mang tính đặc trưng của địa phương làm hài lòng và thõa mãn nhu cầu

    tìm hiểu của khách du lịch.

    Do đó, việc thực hiện đề tài ” Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch ở tỉnh Bình Định” có ý nghĩa lí

    luận và thực tiễn cao.

    2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

    2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

    Đánh giá tiềm năng phát triển du lịch tỉnh Bình Định nói chung. Từ đó, đề xuất một số giải

    pháp nhằm phát triển du lịch tỉnh Bình Định.

    3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

    3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

    Để đạt được mục tiêu trên, trong quá trình nghiên cứu đề tài phải:

    Tìm hiểu cơ sở lí luận và thực tiễn của ngành du lịch nói chung.

    Đánh giá tiềm năng phát triển du lịch ở tỉnh Bình Định.

    Đánh giá tình hình phát triển du lịch ở tỉnh Bình Định.

    Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển du lịch ở tỉnh Bình Định.

    4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

    4. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU

    4.1. Đối tượng nghiên cứu

    Tìm năng phát triển du lịch.

    4.2. Phạm vi nghiên cứu

    Nội dung: Các tài nguyên du lịch, điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội phục vụ cho phát

    triển du lịch

    Thời gian: 24/11-16/12/2015

    Không gian: tỉnh Bình Định

    5. QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

    5. QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

    5.1 Quan điểm nghiên cứu:

    Quan điểm lãnh thổ

    Quan điểm hệ thống, tổng hợp

    Quan điểm thực tiễn

    Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững

    5. QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

    5.2 Phương pháp nghiên cứu:

    Phương pháp thu thập và xử lí số liệu

    Phương pháp bản đồ

    Phương pháp khảo sát thực địa

    6.NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

    6. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

    Cơ sở lí luận và thực tiễn

    về vấn đề nghiên cứu.

    Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch tỉnh Bình Định.

    Giải pháp phát triển du lịch ở tỉnh Bình Định.

    7. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

    7.1. KQ1: Hệ thống hóa cơ sở lí luận và thực tiễn

    Cơ sở lí luận:

    Khái niệm du lịch

    Tiềm năng du lịch

    Tài nguyên du lịch

    Điểm du lịch

    Tuyến du lịch

    7.1. KẾT QUẢ THỨ NHẤT

    7.1. KQ1: Hệ thống hóa cơ sở lí luận và thực tiễn

    Các khái niệm về du lịch.

    Tiềm năng du lịch là tổng hợp tất cả các điều kiện bên trong và bên ngoài có giá trị khai thác, sử dụng và

    phát triển. Tiềm năng du lịch là một trong những điều kiện trực tiếp để phát triển du lịch. Tiềm năng du

    lịch bao hàm: vị trí địa lý, tài nguyên du lịch, con người, thị trường, các điều kiện về kinh tế – xã hội…

    Sự đa dạng của nguồn tài nguyên thiên nhiên về tự nhiên lẫn nhân văn:

    *

    +Về tự nhiên: bãi biển, hang động, đảo, nước khoáng, cảnh quan…

    *

    +Về nhân văn: di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật, làng nghề thủ công truyền thống, lễ hội…

    7.1. KẾT QUẢ THỨ NHẤT

    7.1. KQ1: Hệ thống hóa cơ sở lí luận và thực tiễn

    Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch

    *

    Điều kiện để công nhân là điểm du lịch :Theo điều 24, mục 1, chương 4 Luật Du lịch Việt Nam

    (2005)

    Tuyến du lịch là lộ trình liên kết các khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở cung cấp dịch vụ du lịch, gắn

    với các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường hàng không.

    Điều kiện để công nhân là tuyến du lịch :Theo điều 25, mục 1, chương 4 Luật Du lịch Việt Nam

    (2005)

    7.2. KQ2: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch tỉnh Bình Định

    Tiềm năng:

    + Vị trí địa lí

    + Điều kiện tự nhiên

    + Tài nguyên du lịch tự nhiên

    + Tài nguyên du lịch nhân văn

    + Điều kiện kinh tế-xã hội: dân cư, cơ sở vật chất, hạ tầng..

    7.2. KẾT QUẢ THỨ HAI

    7.2. KQ2: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch tỉnh Bình Định

    1. Doanh thu từ du lịch trong những năm qua

    Tổng doanh thu du lịch Bình Định giai đoạn 2001-2010

    Năm

    Tổng doanh thu (tỷ đồng)

    Tăng so vói năm trước (%)

    2001

    50.096

    10

    2002

    54.487

    9

    2003

    60.281

    11

    2004

    75.000

    24

    2005

    90.000

    20

    2006

    110.000

    22

    2007

    142.800

    30

    2008

    190.000

    33

    2009

    214.538

    13

    2010

    275.985

    29

    Tăng TB

    20.87

    Nguồn: Sở Văn hóa-Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Định

    7.2. KQ2: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch tỉnh Bình Định

    Cơ cấu GDP theo ngành tỉnh Bình Định giai đoạn 2001-2010

    Đơn vị tính : tỷ đồng

    2001

    GDP

    2009

    Tỉ lệ (%)

    GDP

    2010

    Tỉ lệ (%)

    GDP

    Tỉ lệ (%)

    Tốc độ tăng

    trưởng

    Ngành kinh tế

    (%)

    1.Nông -Lâm-Ngư

    1805,6

    46,61

    3038,8

    35,78

    3273,2

    34,96

    6,83

    2.CN-XD

    776,9

    20,05

    2357,3

    27,75

    2681

    28,63

    14,75

    3.Dịch vụ

    1291,4

    33,34

    3098

    36,47

    3408,55

    36,41

    11,39

    Du lịch

    60,1

    1,55

    199,1

    2,34

    213,4

    2,28

    15,12

    Tổng cộng

    3873,9

    100

    8494,1

    100

    9362,7

    100

    10,3

    Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Bình Định; Sở Văn hóa-Thể thao-Du lịch tỉnhBình Định

    7.2. KQ2: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch tỉnh Bình Định

    2.Quy mô khách du lịch

    Tổng lượng khách du lịch đến Bình Định giai đoạn 20012010

    Năm

    Tổng lượng khách

    Số lượng

    Khách quốc tế

    Tăng so với năm

    Số lượng

    trước(%)

    Khách nội địa

    Tăng so với năm

    Số lượng

    trước(%)

    Tăng so với năm

    trước(%)

    2001

    146.396

    12

    20.036

    14

    126.060

    11

    2002

    162.579

    11,05

    23.412

    15,12

    139.167

    10,39

    2003

    183.340

    12,77

    18.174

    -22,37

    165.166

    18,68

    2004

    275.000

    49,99

    25.000

    37,55

    250.000

    51,36

    2005

    380.000

    38,18

    28.373

    13,49

    351.627

    40,65

    2006

    450.000

    18,42

    35.000

    23,35

    415.000

    18,02

    2007

    560.000

    24,44

    42.000

    20

    518.000

    24,81

    2008

    712.800

    27,28

    57.018

    35,75

    655.782

    26,59

    2009

    835.000

    17,14

    64.000

    12,24

    771.000

    17,56

    2010

    1.040.000

    24,55

    76.800

    20

    963.200

    24,92

    Nguồn: Sở Văn hóa-Thể thao-Du lịch tỉnhBình Định

    7.2. KQ2: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch tỉnh Bình Định

    3.Quy mô cơ sở lưu trú

    Tình hình lưu trú của khách du lịch tại Bình Định giai đoạn 20052010

    (Đơn vị: Lượt

    khách)

    2005

    Chỉ tiêu

    2006

    2007

    2008

    2009

    2010

    Tổng số khách

    380.000

    450.000

    560.700

    712.800

    835.000

    1.040.000

    Ngày lưu trú TB KQT

    1,59

    1,70

    1,81

    1,80

    1,83

    1,95

    Ngày lưu trú TB KNĐ

    1,70

    1,74

    1,83

    1,84

    1,82

    2,3

    Bình quân chung

    1,69

    1,73

    1,82

    1,83

    1.82

    2,2

    Nguồn: Sở Văn hóa-Thể thao-Du lịch tỉnhBình Định

    7.3. KQ3: Giải pháp phát triển du lịch tỉnh Bình Định.

    Cần quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết phát triển du lịc h:

    *

    Quy hoạch là một trong những nội dung quan trọng để phát triển du lịch, có những giải pháp quản lí và phát

    triển du lịch.

    *

    Bên cạnh đó cần quy hoạch chuyên ngành khác như các làng nghề truyền thống, hệ thống siêu thị, điểm mua

    sắm, nhà hang.. làm phong phú các loại hình dịch vụ du lịch.

    7.3. KẾT QUẢ THỨ BA

    7.3. KQ3: Giải pháp phát triển du lịch tỉnh Bình Định.

    Về mũi nhọn đầu tư phát triển hạ tầng:

    Tiếp tục đầu tư, nâng cấp cơ sở hạ tầng và các phương tiện giao thông vận chuyển du lịch.

    Tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng cho du lịch biển

    Đầu tư chỉnh trang đô thị, tôn tạo cảnh quan Tp Quy Nhơn

    Nâng cấp và xây dựng mới cơ sở vật chất kĩ thuật, dịch vụ phục vụ du lịch tại một số di tích và danh

    thắng.

    Xây dựng một số khu vui chơi, giải trí tổng hợp với nhiều loại hình kết hợp

    Thu hút đầu tư, xây mới hệ thống cơ sở lưu trú, hình thành tổ hợp khách sạn kết hợp và trung tâm

    thương mại, kết hợp nghỉ dưỡng và hội nghị hội thảo mang tầm quốc gia, quốc tế.

    7.3. KẾT QUẢ THỨ BA

    7.3. KQ3: Giải pháp phát triển du lịch tỉnh Bình Định.

    Về giải pháp phát triển du lịch bền vững:

    Huy động các nguồn lực trong nước lẫn ngoài nước trong việc khai thác và phát triển du lịch

    Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ du lịch

    Nâng cao nhận thức và giáo dục cộng đồng về vị trí và vai trò của du lịch

    Đẩy mạnh quảng bá, phát triển thương hiệu du lịch

    Tập trung phát triển các ngành dịch vụ và công nghiệp phụ trợ cho du lịch

    Sớm thiết lập hệ thống văn phòng đại diện du lịch Bình Định

    8. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

    30

    7.3. KQ3: Giải pháp phát triển du lịch tỉnh Bình Định.

    Về trọng tâm phát triển du lịch:

    Tiến hành quy hoạch về không gian các tuyến, các khu, cụm, điểm du lịch

    Chú trọng đầu tư phát triển các sản phẩm du lịch đặc trưng của Tỉnh

    Chính sách khuyến kích đầu tư để thu hút các công ty du lịch lớn của quốc gia và quốc

    tế

    8. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

    8. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

    8.1. Những mặt đạt được

    Lợi thế các đặc điểm tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và kinh tế xã hội ở địa phương ảnh hưởng tới sự

    phát triển du lịch

    Nắm được tình hình phát triển du lịch tỉnh Bình Định trong những năm qua

    Đề xuất một số giải pháp nhằm khôi phát triển tiềm năng du lịch tỉnh Bình Định

    8.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

    8. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

    8.2. Những mặt chưa đạt được

    Nguồn tài liệu thu thập còn thiếu, đặc biệt là nguồn số liệu thống kê, nên chưa phản

    ánh rõ tình hình phát triển du lịch tỉnh Bình Định.

    Chưa khảo sát thực tế các địa điểm du lịch, cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển du lịch

    để thấy rõ lợi thế và khó khăn

    8. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Điều Cần Biết Về Du Lịch Bụi Ý
  • Khai Thác Tiềm Năng Và Các Sản Phẩm Du Lịch Cao Bằng
  • Khai Thác Tiềm Năng Du Lịch Cao Bằng
  • Du Lịch Cần Thơ Nên Mua Gì Về Làm Quà & Địa Chỉ Mua?
  • Mua Quà Gì Khi Đi Du Lịch Cần Thơ
  • Phát Triển Du Lịch Nông Nghiệp Trên Thế Giới Và Thực Trạng Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Du Lịch Nông Thôn (Rural Tourism) Là Gì? Lợi Ích Của Du Lịch Nông Thôn
  • Tour Núi Bà Đen Giá Rẻ 420.000Đ
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Vườn Quốc Gia Núi Chúa Tại Ninh Thuận
  • 7 Trải Nghiệm Bạn Nên Thử Khi Đến Với Vườn Quốc Gia Núi Chúa
  • Du Lịch Vũng Tàu Trải Nghiệm 1 Ngày Khám Phá Núi Dinh
  • Việt Nam, trên cơ sở đánh giá đúng vai trò, vị trí của du lịch đối với sự phát triển kinh tế, xã hội, Đảng và Nhà nước đã có chủ trương cơ cấu lại ngành du lịch bảo đảm tính chuyên nghiệp, hiện đại và phát triển bền vững. Trong định hướng Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam, du lịch sinh thái gắn với nông nghiệp, nông thôn được xác định là 1 trong 5 dòng sản phẩm chủ đạo. Theo đó, hiện DLNN ở nước ta đã được phát triển trên mọi miền đất nước, sản phẩm du lịch sinh thái nông nghiệp đã trở thành điểm nhấn thu hút, thúc đẩy tăng trưởng du khách với nhiều sản phẩm du lịch mang đặc trưng văn hóa nông ngiệp của vùng miền, trải dài từ Bắc tới Nam. Loại hình DLNN ở Việt Nam phát triển song song với loại hình du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái và đều tuân thủ nguyên tắc du lịch trải nghiệm, khai thác các giá trị tổng hợp dựa trên thành quả của ngành nông nghiệp. Có thể kể đến các sản phẩm DLNN điển hình như: Tham quan làng cổ Đường Lâm (Hà Nội); tham quan đồi chè, trang trại bò sữa ở nông trường Mộc Châu (Sơn La); thưởng ngoạn ruộng bậc thang mùa lúa chín ở Mù Cang Chải (Yên Bái), Sa Pa (Lào Cai); làng rau Trà Quế (Quảng Nam); du lịch trải nghiệm vườn rau thủy canh, đồi chè, hoa công nghệ cao ở Đà Lạt (Lâm Đồng); du lịch sinh thái dọc sông Sài Gòn; trải nghiệm vườn điều ở Bình Phước, Đồng Nai; trái cây nhà vườn tại Bình Dương, du lịch làng nghề ở An Giang; tour tham quan, nghỉ dưỡng tại các vườn nho, vườn táo, trang trại dê, cừu tại tỉnh Ninh Thuận và nhiều điểm du lịch gắn với nông nghiệp của tỉnh Quảng Ninh, như: Điểm du lịch làng quê Yên Đức (Thị xã Đông Triều); làng nghề gốm sứ Đông Triều; khu trồng cây ăn quả chất lượng cao xã Dân Chủ, cánh đồng rau, hoa chất lượng cao xã Lê Lợi (huyện Hoành Bồ); nuôi cấy ngọc trai tại vụng Tùng Sâu (Vịnh Hạ Long); khu đồi trà hoa vàng, ba kích tím ở huyện Ba Chẽ…

    Theo Tổng cục Du lịch, nhiều sản phẩm từ ngành Nông nghiệp như thực phẩm, đồ uống, hàng thủ công mỹ nghệ, hoa quả, bánh kẹo… của các vùng, miền đã được sử dụng trong hệ thống các nhà hàng, khách sạn của ngành Du lịch. Việc khai thác nghệ thuật ẩm thực mang tính chất vùng, miền để phục vụ khách du lịch cũng là một trong những yếu tố thúc đẩy hoạt động DLNN. Chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch không thể thiếu các sản phẩm từ ngành Nông nghiệp, các sản phẩm nông nghiệp của nông dân bày bán tại các điểm du lịch không chỉ đem lại nguồn thu lớn hơn nhiều so với tiền bán vé tham quan, mà còn là công cụ quảng bá rộng rãi cho mỗi điểm du lịch.

    DLNN đã đem lại hiệu quả kinh tế – xã hội ngày càng rõ cho nhiều địa phương, doanh nghiệp. Điều đáng quan tâm là thông qua việc tham gia trực tiếp vào các hoạt động DLNN, người nông dân đã góp phần tạo nên sự phong phú, hấp dẫn của các sản phẩm du lịch, đồng thời có mức thu nhập cao hơn so với hoạt động nông nghiệp thuần túy.

    Theo báo cáo của một số địa phương, doanh nghiệp, lượng khách tham gia vào hoạt động nông nghiệp nông thôn ngày một tăng. Chi tiêu, thu nhập từ hoạt động DLNN đem lại nguồn thu ổn định cho người nông dân, doanh nghiệp và đóng góp cho kinh tế mỗi địa phương. Hiện nay, trong tổng thu nhập của người dân nông thôn, thu nhập từ sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm khoảng 27%, thu nhập từ các hoạt động sản xuất phi nông nghiệp và dịch vụ chiếm 73%. Thống kê của Sở Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy, nhu cầu khách du lịch mong muốn được tham quan trải nghiệm ở khu nông trại miệt vườn tăng đều mỗi năm từ 20 – 30%. Còn tại tỉnh Quảng Nam, mỗi năm DLNN đón khoảng 300 nghìn lượt khách, chiếm gần 5% tổng lượng khách tham quan du lịch trên địa bàn. Các mô hình DLNN với sự tham gia trực tiếp của người dân bản địa đã tạo nên sự phong phú, hấp dẫn của các sản phẩm du lịch, đồng thời đem lại thu nhập cao hơn cho bà con nông dân, trở thành một phương thức giảm nghèo, hướng tới phát triển bền vững, hiệu quả tại những cộng đồng còn khó khăn và các miền quê trong cả nước… Đó được xem như là những tín hiệu tích cực bước đầu khi triển khai phát triển DLNN ở nước ta, tuy nhiên bên cạnh những kết quả đã đạt được, theo đánh giá của các chuyên gia, hiện phần lớn hoạt động DLNN vẫn mang tính tự phát, nhỏ lẻ, manh mún, trùng lặp, sản phẩm chưa thực sự hấp dẫn du khách và chưa được chú trọng về thương hiệu. Người nông dân vẫn chỉ quen sản xuất nông nghiệp nên chưa có các kỹ năng để phục vụ khách du lịch một cách chuyên nghiệp hoặc chưa quan tâm và không đặt mục tiêu sản xuất gắn với phát triển du lịch.

    Sản phẩm DLNN chất lượng cao tại nhiều địa phương để phục vụ du khách chưa nhiều. Tại nhiều khu du lịch sinh thái, dịch vụ còn nghèo nàn, chất lượng thấp, mới đáp ứng nhu cầu của du khách ở mức đơn giản. Chi tiêu của du khách đối với sản phẩm DLNN chủ yếu là mua vé tham quan, ăn uống, phòng ở…, chưa chi nhiều cho các dịch vụ ngoài tour do chưa có nhiều dịch vụ bổ trợ hoặc có nhưng không hấp dẫn được du khách. Bên cạnh đó, kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất phụ trợ tại nhiều điểm du lịch sinh thái nông nghiệp chưa được đầu tư hoàn chỉnh, chất lượng chưa cao. Đặc biệt, sự hợp tác giữa doanh nghiệp lữ hành và các điểm đến cung cấp hoạt động DLNN còn hạn chế. Việc liên kết phát triển DLNN giữa các địa phương trong tỉnh và giữa các địa phương trong cả nước chưa được triển khai hiệu quả. Nhiều điểm DLNN gặp khó khăn trong việc kết nối với doanh nghiệp lữ hành để hoàn thiện, xây dựng sản phẩm du lịch nông nghiệp cũng như thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế…

    những kết quả bước đầu và những khó khăn, hạn chế, các chuyên gia, nhà quản lý cho rằng, để nâng tầm DLNN thì còn rất nhiều việc phải làm. Theo đó, Chính phủ và các bộ, ngành Trung ương cần có sự quan tâm hơn nữa đối với lĩnh vực này thông qua các cơ chế, chính sách, như: Xây dựng chương trình phát triển DLNN gắn với xây dựng nền nông nghiệp bền vững; xây dựng DLNN gắn với xây dựng nông thôn mới; hỗ trợ kỹ thuật, công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực; đầu tư cho kết cấu hạ tầng phục vụ DLNN như đường, điện, nước sạch; hoàn chỉnh chính sách tín dụng, chính sách đất đai, thu hút đầu tư, chính sách thuế ưu đãi, ban hành bộ tiêu chí về DLNN; tăng cường xúc tiến đầu tư, quảng bá, giới thiệu… nhằm khai thác, phát huy tối đa tiềm năng, thế mạnh của nền nông nghiệp nước nhà vào ngành “công nghiệp không khói”, góp phần nâng cao chất lượng du lịch và cải thiện đời sống nông dân.

    Có thể thấy, DLNN trên thế giới thật sự đã có những bước tiến dài, bên cạnh việc mang lại những lợi ích kinh tế lớn, còn góp phần giới thiệu những đặc trưng văn hóa mỗi vùng, miền, mỗi quốc gia ra thế giới, qua đó xây dựng hình ảnh, vị thế cho quốc gia, dân tộc. Ở Việt Nam, DLNN đang dần trở thành một xu hướng mới, một “món ăn lạ” bên cạnh các loại hình du lịch nghỉ dưỡng biển, du lịch thể thao biển, du lịch văn hóa tâm linh, khám phá… Cùng với đó, hoạt động du lịch gắn với tuyên truyền giáo dục, nâng cao ý thức của con người về bảo vệ thiên nhiên, môi trường và trải nghiệm cuộc sống gắn bó với tự nhiên, với sản xuất nông nghiệp, nhất là ở những địa bàn nông thôn thuần túy gắn với bản sắc văn hóa bản địa ngày càng trở nên hấp dẫn và đây cũng là nhiệm vụ cấp thiết nhằm bảo vệ môi trường sinh thái, tài nguyên thiên nhiên trước những tác động tiêu cực từ biến đổi khí hậu, tác động của quá trình toàn cầu hóa… do vậy, DLNN được dự báo sẽ có sức lan tỏa mạnh mẽ và có thêm nhiều động lực phát triển trong thời gian tới./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Du Lịch Nội Mông Cổ ❹ Ngày Giá Rẻ Từ Hcm
  • Khách Du Lịch Nội Địa Là Gì? Đặc Điểm Và Cách Phân Biệt Khách Du Lịch Nội Địa
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Ninh Thuận Từ Hà Nội
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Mũi Né Phan Thiết,phượt Mũi Né,phượt Phan Thiết
  • Khám Phá Xứ Nắng Gió Với Trọn Bộ Kinh Nghiệm Du Lịch Ninh Thuận A
  • Thực Trạng Và Giải Pháp: Phát Triển Du Lịch Đông Nam Bộ

    --- Bài mới hơn ---

  • Điều Gì Đã Làm Nên Du Lịch Thái Lan Tuyệt Vời Đến Vậy
  • “Tại Sao Du Khách Đến Việt Nam Ít Hơn Thái Lan, Singapore?”
  • 07 Lý Do Vì Sao Bạn Nên Đến Côn Đảo Một Lần Trong Đời
  • Du Lịch Hàn Quốc: Lý Do Vì Sao Bạn Nên Đến Seoul Ít Nhất Một Lần Trong Đời
  • Tại Sao Nên Đi Du Lịch Hàn Quốc ? 14 Lý Do Sẽ Trả Lời Cho Bạn.
  • Thực trạng và giải pháp: Phát triển du lịch Đông Nam bộ

    Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược và Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến 2022, tầm nhìn đến năm 2030; trong đó đã xác định Đông Nam Bộ là một trong bảy vùng du lịch phát triển du lịch có vai trò quan trọng đối với phát triển du lịch cả nước. Vùng Đông Nam Bộ gồm thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh: Bà Rịa Vũng Tàu, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh đây là vùng phát triển kinh tế năng động, dẫn đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, là hạt nhân then chốt của vùng trọng điểm kinh tế phía Nam.

    Thời gian qua, du lịch vùng Đông Nam Bộ đã có những bước phát triển mạnh mẽ và đã có những đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế – xã hội; tạo nên nhiều công ăn việc làm, góp phần vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo; củng cố quốc phòng – an ninh trên địa bàn… thể hiện qua các chỉ tiêu cơ bản như  đến năm 2013 đã đón được 4,5 triệu lượt khách du lịch quốc tế và 18,8 triệu lượt khách du lịch nội địa; tổng thu từ khách du lịch đạt 65,4 ngàn tỷ đồng (tương đương 3 tỷ USD); tạo ra được 87,9 ngàn lao động trực tiếp và 160 ngàn lao động gián tiếp…

       1. Đánh giá tiềm năng, điều kiện phát triển du lịch.

       – Tiềm năng về tự nhiên. Vùng Đông Nam Bộ nằm trên vùng đồng bằng và bình nguyên rộng, chuyển tiếp từ cao nguyên Nam Trung Bộ đến đồng bằng sông Cửu Long; vùng khí hậu cận xích đạo với nền nhiệt độ cao và hầu như ít thay đổi trong năm, các diễn biến thất thường về khí hậu quanh năm rất nhỏ, ít có thiên tai, không quá lạnh, ít ảnh hưởng của bão; là khu vực có các sông lớn và dài với mật độ phân bố tương đối thấp 0,5km/km2, có nhiều hồ lớn và hệ sinh thái rừng đa dạng…thuận lợi cho phát triển du lịch.

    Tài nguyên biển, đảo: Vùng ĐNB có chiều dài bờ biển gần 180km với thềm lục địa rộng trên 100.000 km2 có các bãi biển đẹp, nước trong tại Bà Rịa-Vũng Tàu; hệ sinh thái đất ngập mặt tại Cần Giờ…

    Tài nguyên du lịch sinh thái gắn liền với VQG, khu dự trữ sinh quyển, khu bảo tồn, các khu rừng ngập mặn như: Khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai, Khu dữ trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ đã được UNESCO công nhận, hệ thống VQG làCát Tiên (Đồng Nai), VQG.Côn Đảo (Bà Rịa – Vũng Tàu), VQG.Bù Gia Mập (Bình Phước), VQG.Lò Gò – Xa Mát (Tây Ninh).

    Tài nguyên du lịch gắn liền với cảnh quan núi có ý nghĩa đối với phát triển du lịch như: Núi Bà Đen (Tây Ninh), còn được công nhận là Quần thể di tích lịch sử, văn hóa và danh thắng núi Bà; Núi Bà Rá; Núi Dinh; Núi Chứa Chan …

    Tài nguyên du lịch tự nhiên gắn liền với cảnh quan, hệ sinh thái sông, hồ như: sông Sài Gòn, sông Vàm Cỏ Đông, sông Đồng Nai…; hồ Dầu Tiếng; hồ Trị An (Đồng Nai); hồ Thác Mơ (Bình Phước)…

       – Tiềm năng về tài nguyên nhân văn.

    Đông Nam Bộ là vùng địa linh nhân kiệt, nôi của phong trào cách mạng trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm nên đã để lại rất nhiều tài nguyên di tích lịch sử, văn hóa cách mạng, trong đó nhiều di tích lịch sử được công nhận cấp quốc gia đặc biệt gồm: Khu di tích Căn cứ Trung ương Cục miền Nam (Tây Ninh), di tích Dinh Độc Lập (TP.Hồ Chí Minh), di tích lịch sử Nhà tù Côn Đảo (Bà Rịa – Vũng Tàu), di tích lịch sử Đường Trường Sơn – Đường Hồ Chí Minh (huyện Lộc Ninh, Bù Gia Mập – Bình Phước…

    Các di tích lịch sử – văn hóa, kiến trúc nghệ thuật, khảo cổ: Có 150 loại di tích lịch sử – văn hóa, công trình kiến trúc có giá trị trên địa bàn đã được công nhận cấp quốc gia và địa phương, trong đó có 01 di sản văn hóa phi vật thể được công nhận cấp quốc tế như: Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ nói chung và ĐNB nói riêng được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, Quần thể di tích lịch sử, văn hóa và danh thắng núi Bà tại Tây Ninh được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia, di chỉ khảo cổ di chỉ văn hóa Óc Eo, Bưng Bạc, Bưng Thơm… tại Bà Rịa – Vũng Tàu..

    Lễ hội văn hóa dân gian gồm: Lễ hội, tâm linh và tín ngưỡng của các tôn giáo như: lễ hội Phật Giáo, Thiên chúa giáo, Cao Đài, Hòa Hảo…; lễ hội gắn liền với phong tục tập quán của các cộng đồng dân tộc Kinh, Chăm, Hoa, Tà Mun, S’tiêng, Mạ…; lễ hội gắn liền nghề biển như lễ hội Cầu Ngư tại các làng chài ven biển, lễ lên rẫy, lễ vào mùa…, trong đó lễ hội đang thu hút khách du lịch là lễ hội tại Toàn Thánh Cao Đài Tây Ninh, chàu Ông Cậu Bình Dương…

    Ẩm thực vùng ĐNB được thể hiện qua các món ăn truyền thống như:  bánh canh, báng tráng phơi sương Trảng Bàng (Tây Ninh); ẩm thực biển  (Bà Rịa-Vũng Tàu); gỏi măng cụt Lái Thiêu, bánh bèo bì (Bình Dương), chè bưởi Tân Triều (Đồng Nai), rau rừng Bình Phước.

    Nghề thủ công truyền thống đang được phục vụ du lịch và thu hút khách là nghề gốm tại xã Tân Vạn, nghề dệt thổ cẩm Tài Lài; tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu có nghề đúc đồng xã Anh Nhứt, rượu Hòa Long, bánh cuốn An Ngãi; tỉnh Bình Dương có làng nghề sơn mài Tân Bình Hiệp, nghề gốm Bình Dương; tỉnh Tây Ninh có làng nghề báng tráng phơi sương Trảng Bàng, nghề đồng…

       – Điều kiện về hạ tầng, vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch

    Hàng không. Có hệ thống cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất và cảng hàng không nội địa Côn Sơn và Vũng Tàu (Bà Rịa – Vũng Tàu), cảng hàng không Biên Hòa (Đồng Nai).

    Đường bộ. Vùng có 13 đường quốc lộ kết nối với hệ thống đường quốc gia và quốc tế như đường quốc lộ 22, 22B và 13 nối với Campuchia qua cửa khẩu quốc tế Mộc Bài, Xa Mát (Tây Ninh) và Hoa Lư (Bình Phước), đường mòn Hồ Chí Minh; đường bộ nối với các vùng du lịch như: Quốc lộ 1A, 50. N2 nối các tỉnh vùng du lịch Nam Trung Bộ, duyên hải và Tây Nam Bộ, quốc lộ 20, 14, 13, 14C nối với vùng du lịch Tây Nguyên; đường bộ nối các tỉnh, đô thị, các khu vực trong vùng và hệ thống đường đến các khu tuyến điểm du lịch; nói chung tiêu chuẩn kỹ thuật hệ thống giao thông đạt tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế.

    Hệ thống đường thủy. Tuyến đường biển nối biển Đông với vùng ĐNB qua Vũng Tàu đến cảng Sài Gòn qua các sông Soài Rạp, Cái Mép, sông Tiền; tuyến đường thủy liên tỉnh; tuyến đường thủy nội vùng trên sông Sài Gòn, sông Vàm Cỏ Đông, sông Đồng Nai… thuận lợi cho việc bố trí các tuyến điểm du lịch cho khách tham quan du lịch.

    Đường sắt và nhà ga.Tuyến đường sắt quốc gia đi qua các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương và TP.Hồ Chí Minh với chiều dài 110km có 13 nhà ga đạt tiêu chuẩn để phục vụ hành khách và khách du lịch.

       2. Hiện trạng phát triển du lịch vùng Đông Nam Bộ.

       2.1. Hiện trạng về khách du lịch

    Nguồn khách đến tham quan vùng phụ thuộc rất nhiều số lượng khách đến TP.Hồ Chí Minh là do chúng tôi là đầu mối giao thông  và tập trung các hãng lữ hành quốc tế, TP.Hồ Chí Minh là địa điểm thu hút khách du lịch quốc tế đến tham quan và TP.Vũng Tàu là nơi khách du lịch nội địa chọn nghỉ dưỡng biển.

    Sau đây, phân tích một số chỉ tiêu khách du lịch.

    Tốc độ tăng trưởng trung bình khách du lịch toàn vùng giai đoạn 2000 – 2013 đạt 11,2%, trong đó tăng trưởng khách du lịch quốc tế là 10,4%, khách du lịch nội địa là 11,4%;  năm 2000 đón được 5,9 triệu lượt khách, đến năm 2013 đạt 23,3 triệu lượt khách

    Tốc độ tăng trưởng trung bình khách du lịch quốc tế giai đoạn 2000 – 2013 đạt 10,4%; năm 2000 đón được 1,2 triệu lượt khách, đến năm 2013 đón được 4,5 triệu lượt khách tăng gấp 4 lần so với đầu; Cụ thể: du lịch TP.Hồ Chí Minh đón được hơn 4,009 triệu lượt khách quốc tế chiếm 89% số lượt khách Vùng, du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu đón được 380 ngàn lượt khách, du lịch Bình Dương đón được 54 ngàn lượt khách và du lịch Đồng Nai đón được 50 ngàn lượt khách…

    Phân tích thành phần khách đến: về độ tuổi thì số lượng khách du lịch có độ tuổi cao chiếm ưu thế vào các thị trường khách các nước Châu Âu và Châu Mỹ; phân tích điểm xuất phát thì khách từ các nước Châu Á và vùng lãnh thổ có số lượng khách cao nhất.

    Phân tích cửa khẩu và phương tiện nhập cảnh: Cửa khẩu quốc tế sân bay Tân Sơn Nhất chiếm đến 76% lượng khách du lịch quốc tế đến vùng ĐNB, các cửa khẩu đường bộ Mộc Bài, Xa Mát (Tây Ninh) chiếm 12% lượng khách; ngoài ra, khách đến vùng ĐNB qua các cửa khẩu quốc tế của các vùng du lịch khác hoặc thông qua hệ thống đường bộ, đường sắt, tàu biển góp phần quan trọng tăng số lượng khách đến TP.Hồ Chí Minh và trên địa bàn.

    Tốc độ tăng trưởng trung bình khách du lịch nội địa giai đoạn đạt 11,4%, cụ thể: năm 2000 lượt khách đến đạt 4,5 triệu lượt khách, đến năm 2013 khách đến Vùng đạt 18,8 triệu lượt khách.

    Đặc điểm thị trường khách du lịch nội địa đến vùng ĐNB chủ yếu là khách du lịch nghỉ dưỡng kết hợp tham quan các điểm du lịch gắn liền với di tích lịch sử cách mạng, di tích văn hóa tại TP.Hồ Chí Minh, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh. Sản phẩm du lịch lễ hội gắn với tâm linh thu hút khách du lịch nội địa vào dịp nghỉ lễ tết, ngày lễ của các dân tộc, tôn giáo như: lễ hội chùa Bà (Tây Ninh), chùa Thái Sơn-Núi Cậu (Bình Dương.

       Về ngày lưu trú trung bình và ngày khách

    Tốc độ tăng trưởng bình quân về ngày lưu trú đối với khách du lịch quốc tế trong giai đoạn là 0,4%/năm; năm có ngày lưu trú trung bình cao nhất là 2,36 ngày/khách; năm 2013 đạt 2,32 ngày/khách, đạt 10.464 ngàn ngày khách; năm thấp nhất là 1,89 ngày/khách (2003).

    Tốc độ tăng trưởng bình quân về ngày lưu trú đối với khách du lịch nội địa trong giai đoạn là 2,5%/năm; năm có ngày lưu trú trung bình cao nhất là 1,83 ngày/khách; năm 2013 có ngày lưu trú trung bình là 1,80 ngày/khách, đạt 33.844 ngàn ngày khách; năm thấp nhất là 1,30 ngày/khách (2000).

    Chi tiêu bình quân của khách du lịch và tổng thu từ khách du lịch

    Đối với khách du lịch quốc tế từ 80 – 130USD/ngày khách, đối với khách du lịch nội địa từ 25 – 55 USD.

    Tổng thu từ khách du lịch. Từ ngày khách và mức chi tiêu trên cho thấy tốc độ tăng trưởng trung bình đạt 23%, mức tăng dần trong các năm, từ năm đầu kỳ nghiên cứu đạt 4 ngàn tỷ đồng, đến năm cuối kỳ 2013 đạt mức 65,3 ngàn tỷ đồng, trong đó tổng thu từ khách du lịch tại TP.Hồ Chí Minh chiếm tỷ trọng lớn nhất trong Vùng với chiếm 94% tổng thu từ khách du lịch toàn vùng đạt gần 61,2 ngàn tỷ đồng trong năm 2013. Cơ cấu thu từ khách du lịch bị chi phối bởi thu từ khách du lịch của TP.Hồ Chí Minh nơi tập trung số lượng khách du lịch lớn nhất nước, dịch vụ lưu trú có xu hướng tăng dần trong các năm đạt 12-15%/năm và chiếm 50-58% chi tiêu trung bình của khách, dịch vụ ăn uống nhà hàng chiếm 20-28%; doanh thu từ kinh doanh lữ hành chiếm 14-21%; còn lại là kinh doanh vận chuyển, vui chơi giải trí, mua sắm…, đối với dịch vụ vui chơi giải trí (VCGT) có xu hướng giảm.

       2.2. Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch

    Cơ sở lưu trú. Tốc độ tăng trưởng trung bình số lượng cơ sở lưu trú đạt 11,73%/năm, mức tăng đều trong các năm và đến năm 2013 tổng số cơ sở trên địa bàn có 3.624 cơ sở; tốc độ tăng trưởng trung bình về buồng đạt 9,64%/năm và đến 2013 có 72 ngàn buồng, mức tăng giảm không đều trong các năm, nhiều cơ sở có số lượng phòng dưới 20 buồng/01 cơ sở. Theo địa bàn thì TP.Hồ Chí Minh có 1.980 cơ sở chiếm 54% số lượng cơ sở, với 45,95 ngàn buồng chiếm 63% về số lượng buồng; tiếp đến Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu, Tây Ninh và Bình Phước. Về chất lượng buồng từ 1-5 sao có 1.098 cơ sở, chiếm 30% số lượng cơ sở hiện có với 36.984 buồng, chiếm 51% số lượng buồng trong vùng. Phân loại chất lượng sao: loại 01 sao có 746 cơ sở, chiếm 68% số cơ sở được phân loại với 12.430 buồng; loại 2 sao có 231 cơ sở, chiếm 21% với 8.870 buồng; loại 3 sao có 92 cơ sở, chiếm 8,4% số cơ sở được phân loại với 6.952 buồng; loại 4 sao có 31 cơ sở với 6.952 buồng; loại 5 sao có 18 cơ sở, chiếm 1,6% số cơ sở được phân loại với 4.856 buồng.

    Công suất sử dụng buồng tại TP.Hồ Chí Minh, TP.Vũng Tàu đạt cao nhất trên 65%/năm, một số tỉnh Bình Phước, Tây Ninh có công suất sử dụng buồng hạn chế 30-32%. Tính chung toàn vùng chỉ đạt 52%.

    Dịch vụ ăn uống. Cơ sở đạt tiêu chuẩn chất lượng cao. Các cơ sở này đều ở các trung tâm du lịch, thường có 02 loại cơ bản là các cơ sở nhà hàng ăn uống trong các khách sạn từ 3 sao trở lên tại các thành phố, thị xã, tại quận 1,3,5 (TP.Hồ Chí Minh); Bãi Trước, Bãi Sau (TP.Vũng Tàu); TP.Biên Hòa (Đồng Nai); TP.Thủ Dầu Một (Bình Dương)… Cơ sở nhà hàng ăn uống đạt tiêu chuẩn trung bình (bình dân) có số lượng đạt nhiều nhất trong vùng, chủ yếu phục vụ khách nội địa có số lượng đông, chất lượng sản phẩm ở mức trung bình.

    Dịch vụ vui chơi giải trí. Tập trung tại các bãi biển; trên sông nước, hồ; tại các công viên, VQG, khu bảo tồn; trong các cơ sở lưu trú…tại TP. Hồ Chí Minh: Khu công viên văn hóa Đầm Sen tại Q.1; Khu du lịch Văn hóa Suối Tiên tại Q.9; Khu du lịch sinh thái Vàm Sát tại Cần Giờ; Bình Dương: Khu du lịch Văn hiến Đại Nam; Tây Ninh: Các dịch vụ vui chơi giải trí tại khu du lịch núi Bà Đen, khu du lịch Long Điền Sơn, khu văn hóa thể thao Thiên Sơn…

       2.3. Lao động ngành du lịch

    Tốc độ tăng trưởng lao động trực tiếp đạt 21,9%, với 87,9 ngàn lao động (2013); TP. Hồ Chí Minh có mức tăng trưởng nhanh nhất đạt 32% với 59 ngàn lao động chiếm 68% lao động trong Vùng; Đồng Nai đạt 23,9% với 7,3 ngàn lao động; tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có mức tăng trưởng đạt thấp là 13% do đã có quá trình phát triển các năm trước  với số lượng lao động đến năm 2013 là 15 ngàn lao động đứng thứ 2 sau TP. Hồ Chí Minh. Về lao động gián tiếp cung cấp sản phẩm du lịch trên địa bàn ước khoảng 160 ngàn lao động của các ngành. Cơ cấu lao động trực tiếptrong các doanh nghiệp kinh doanh lưu trú và nhà hàng chiếm trên 58-62% lao động toàn ngành, doanh nghiệp vận chuyển chiếm 15%; doanh nghiệp lữ hành chiếm 8%; doanh nghiệp dịch vụ vui chơi giải trí có tỷ lệ thấp nhất.

    Về chất lượng đội ngũ lao động trên địa bàn không đều, TP.Hồ Chí Minh và Vũng Tàu có chất lượng tương đối cao còn các khu vực khác còn thấp.

      3. Thực trạng thị trường khách và sản phẩm du lịch

    Thị trường khách du lịch quốc tế bị chi phối bởi cơ cấu thị trường khách du lịch tại TP.Hồ Chí Minh thông qua đường hàng không qua cửa khẩu sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất chiếm đến 68%, đường tàu biển khoảng 3-6%, tiếp đến chi phối bởi cơ cấu thị trường khách du lịch đường bộ qua cửa khẩu quốc tế Mộc Bài và Xa Mát (Tây Ninh) khoảng 15-20%, ngoài ra đường bộ và đường sắt chiếm 2-5%. Lượng khách đến TP.Hồ Chí Minh, sau đó đi tham quan các điểm du lịch chiếm 85-88% số lượng khách quốc tế, còn lại 15-20% khách du lịch đến các tỉnh trong Vùng, sau đó đi du lịch đến các tỉnh còn lại. Nguồn khách du lịch quốc tế đến từ các nước thuộc Châu Á, Bắc Mỹ, Châu Âu và một số nước ở Châu Đại Dương chiếm đến 55% lượng khách, cụ thể: Từ các nước và vùng lãnh thổ như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Công chiếm tỷ trọng lớn chiếm 26,3%;  thị trường Mỹ và Canada (Bắc Mỹ) chiếm tỷ trọng từ 8-11%;  thị trườngh Úc, NewZealand (Châu Đại Dương) chiếm từ 5-6%; thị trường các ASEAN chiếm từ 7-12% thị trường khách du lịch TP.Hồ Chí Minh, trong đó khách Malaysia, Singapore, Brunây chiếm từ 8-9% thị phần, khách Thái Lan có xu hướng giảm.

    Thị trường khách du lịch nội địa nội vùng chiếm tỷ trọng nhiều nhất, ngoài ra khách từ các vùng du lịch khác lân cận và các tỉnh phía bắc.

    Sản phẩm du lịch đặc trưng chính là sản phẩm du lịch MICE gắn với các đô thị, du lịch văn hóa lịch sử, du lịch nghỉ dưỡng biển, du lịch sinh thái, du lịch làng nghề; sản phẩm du lịch gắn liền với tham quan các công trình văn hóa, các di tích lịch sử; sản phẩm du lịch gắn liền với tài nguyên biển, đảo, suối nước nóng thu hút khách đi du lịch nghỉ; sản phẩm du lịch gắn liền với tài nguyên hệ sinh thái tại các VQG, KBTTN; sản phẩm du lịch gắn liền với tài nguyên văn hóa phi vật thể như: tâm linh, tín ngưỡng, phong tục tập quán, lễ hội của các dân tộc, tôn giáo

    Hạn chế và nguyên nhân phát triển du lịch

    – Tốc độ tăng trưởng về khách du lịch là 11,2%/năm, mức tăng trưởng này cao nhất nước nhưng chưa tương xứng với tiềm năng và điều kiện của vùng; tỷ trọng khách du lịch quốc tế còn thấp, chiếm 17% tổng số lượt khách.

    – Số ngày lưu trú trên địa bàn thấp dẫn đến tổng thu từ khách du lịch không cao.

    – Thị trường khách du lịch không ổn định, số lượng khách du lịch chủ yếu tập trung ở địa bàn TP.Hồ Chí Minh; các tỉnh khác chưa có thị trường tiềm năng về khách du lịch quốc tế.

    – Sản phẩm du lịch trên địa bàn còn trùng lặp, đơn điệu gây ra nhàm chán cho khách du lịch; chất lượng sản phẩm du lịch không cao chưa đủ sức hút khách du lịch và cạnh tranh với sản phẩm du lịch trong khu vực. Sản phẩm là dịch vụ vui chơi giải trí tại nhiều tỉnh chưa chưa được đầu tư xây dựng nên mức độ lôi kéo khách du lịch kéo dài ngày tham quan trên địa bàn rất hạn chế, chưa có sản phẩm du lịch nào mang thương hiệu cho du lịch Vùng.

    – Công tác đầu tư vẫn còn dàn trải, thiếu trọng tâm, trọng điểm nên chưa định hình được khu điểm du lịch có đầy đủ các yếu tố cần thiết cho việc  thu hút khách du lịch. Một số khu, điểm du lịch có tiềm năng tài nguyên du lịch nổi trội chưa định hướng đầu tư và ưu tiên đầu tư rõ rệt nên sản phẩm du lịch này vẫn dưới dạng tiềm năng.

    – Công tác quy hoạch chi tiết một số khu du lịch trên địa bàn tỉnh chưa kịp thời, ảnh hưởng tới việc triển khai các dự án đầu tư xây dựng sản phẩm du lịch mới hấp dẫn hơn.

    – Các doanh nghiệp kinh doanh du lịch trên địa bàn phần lớn là các doanh nghiệp vừa và nhỏ kinh doanh chủ yếu là cơ sở lưu trú, nhà hàng; chất lượng dịch vụ chưa đạt tiêu chuẩn quy định. Mặt khác, công ty lữ hành của địa phương còn thiếu về số lượng, chưa đủ khả năng và trình độ để cạnh tranh, vươn ra thị trường quốc tế.

    – Công tác đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực tuy đã có cố gắng nhiều song vẫn chưa theo kịp yêu cầu đặt ra cả về số lượng và chất lượng; trình độ năng lực của cán bộ quản lý nhà nước và doanh nghiệp còn thiếu và yếu; chưa có đội ngũ chuyên gia giỏi nghề trên địa bàn.

    – Công tác xúc tiến, quảng bá du lịch của một số tỉnh, doanh nghiệp chưa đủ tầm vươn ra thị trường quốc tế; nội dung tuyên truyền quảng bá còn đơn điệu; kinh phí đầu tư cho công tác quảng bá, xúc tiến chưa nhiều, nội dung xúc tiến quảng bá chưa hiệu quả trong việc tìm kiếm thị trường khách du lịch…; một số tỉnh công tác xúc tiến, quảng bá du lịch trực thuộc Trung tâm Xúc tiến, Đầu tư Thương mại và Du lịch của tỉnh nên phần nào bị hạn chế.

    – Công tác liên kết cùng phát triển du lịch chưa hiệu quả rõ rệt, chưa rõ khả năng liên kết của các doanh nghiệp du lịch.

       3. Định hướng phát triển du lịch Đông Nam Bộ

       3.1 Quan điểm phát triển du lịch

    Phát huy cao nhất những lợi thế so sánh về vị trí địa lý, cơ sở hạ tầng, điều kiện tự nhiên và tiềm năng tài nguyên du lịch để phát triển các sản phẩm du lịch hội  nghị, hội thảo; du lịch biển, du lịch văn hóa, du lịch sinh thái, trong đó lấy du lịch hội  nghị, hội thảo là sản phẩm chủ đạo.

    Đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, huy động mọi nguồn lực để phát triển du lịch bền vững, hài hòa với các mục tiêu phát triển về kinh tế – xã hội, an sinh xã hội, quốc phòng – an ninh, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu.

    Tăng cường liên phát triển du lịch giữa các địa phương trong Vùng để phát huy tối đa tiềm năng, thế mạnh về du lịch chung cho toàn Vùng.

       3.2. Mục tiêu phát triển

       Mục tiêu tổng quát

    Phát triển du lịch vùng Đông Nam Bộ với vai trò động lực phát triển du lịch Việt Nam, với hệ thống sản phẩm du lịch đa dạng, độc đáo, có thương hiệu và sức cạnh tranh với các nước trong khu vực.

       Mục tiêu cụ thể.

       a) Về tổ chức lãnh thổ: Phát triển du lịch TP. Hồ Chí Minh trở thành trung tâm và hạt nhân của Vùng. Đầu tư phát triển đô thị Vũng Tàu trở thành các đô thị du lịch biển hiện đại. Đầu tư phát triển 04 khu du lịch quốc gia, 05 điểm du lịch quốc gia với cơ sở dịch vụ cao cấp. Nâng cấp các tuyến du lịch quốc gia, tuyến du lịch liên vùng và nội vùng. Xây dựng và phát triển các khu, điểm du lịch địa phương để làm tăng tính đa dạng sản phẩm du lịch Vùng để tạo ra động lực phát triển du lịch cho toàn Vùng.

       b) Các chỉ tiêu về phát triển ngành

       + Về số lượng khách

    Phấn đấu đến năm 2022, đón được khoảng 25 triệu lượt khách, trong đó có 5 triệu lượt khách du lịch quốc tế . Đến năm 2022, đón được khoảng 30 triệu lượt khách, trong đó khách quốc tế là 6 triệu lượt; Đến năm 2025, đón được khoảng 37 triệu lượt khách, trong đó khách quốc tế là 8 triệu lượt; Đến năm 2030, phấn đấu đón được khoảng 43 triệu lượt khách, trong đó khách quốc tế là 10 triệu lượt.

       + Về ngày lưu trú

    Ngày lưu trú trung bình khách du lịch quốc tế: Năm 2022 đạt khoảng 3,8 ngày; năm 2022 đạt khoảng 4,2 ngày; năm 2025 đạt khoảng 4,3 ngày và năm 2030 đạt khoảng 4,4 ngày.

    Ngày lưu trú trung bình khách du lịch nội địa: Năm 2022 đạt khoảng 2,2 ngày; năm 2022 đạt khoảng 2,4 ngày; năm 2025 đạt khoảng 2,5 ngày và năm 2030 đạt khoảng 2,6 ngày.

       + Về mức chi tiêu

    Mức chi tiêu trung bình khách du lịch quốc tế: Năm 2022 khoảng 2.400.000 VNĐ (114 USD); năm 2022 khoảng 2.500.000 VNĐ (120 USD); năm 2025 khoảng 2.600.000 VNĐ (124 USD) và năm 2030 khoảng 2.700.000 VNĐ (126 USD).

    Mức chi tiêu trung bình khách du lịch nội địa: Năm 2022 khoảng 655.000 VNĐ (31USD); năm 2022 khoảng 1.000.000 VNĐ (48 USD); năm 2025 khoảng 1.250.000 VNĐ (59 USD) và năm 2030 khoảng 1.300.000 VNĐ (60 USD).

       + Về tổng thu từ khách du lịch

    Năm 2022 đạt khoảng 68.000 tỷ đồng, tương đương 3,2 tỷ USD; năm 2022 đạt khoảng 123.000 tỷ đồng, tương đương 5,8 tỷ USD; năm 2025 đạt khoảng 176.000 tỷ đồng, tương đương 8,3  tỷ USD; năm 2030 đạt khoảng 221.000 tỷ đồng, tương đương 10,5 tỷ USD.

       + Đóng góp của du lịch trong GDP:

    . Năm 2022 đạt 53.900 tỷ đồng, tương đương 2,2 tỷ USD;

    . Năm 2022 đạt 85.800 tỷ đồng, tương đương 4,0 tỷ USD;

    . Năm 2025 đạt 123.000 tỷ đồng, tương đương 5,8 tỷ USD;

    . Năm 2030 đạt 154.900 tỷ đồng, tương đương 7,3 tỷ USD.

       + Về cơ sở lưu trú

    Năm 2022, nhu cầu buồng là 79.300 buồng, trong đó tỷ lệ buồng 3 sao đến 5 sao đạt khoảng 22%; năm 2022 nhu cầu buồng là  86.000 buồng khách sạn, tỷ lệ buồng 3 sao đến 5 sao đạt khoảng 25%; năm 2025 phát triển 109.000 buồng khách sạn, tỷ lệ buồng 3 sao đến 5 sao đạt 25%; năm 2030 phát triển khoảng 146.000 buồng khách sạn, tỷ lệ buồng 3 sao đến 5 sao đạt khoảng 30%.

       + Về nhu cầu vốn đầu tư cho du lịch

    Đến năm 2022 nhu cầu vốn khoảng 59.000 tỷ đồng, tương đương  2,8 tỷ USD; đến năm 2022 nhu cầu vốn cho cả giai đoạn là 160.000 tỷ đồng, tương đương 7,5 tỷ USD; đến năm 2025 nhu cầu vốn cho cả giai đoạn là 162.201 tỷ đồng, tương đương 7,7 tỷ USD và đến năm 2030 nhu cầu vốn đầu tư cho cả giai đoạn là 167.792 tỷ đồng, tương đương 8,0 tỷ USD.

       + Chỉ tiêu việc làm

    Đến năm 2022 là 278.000 lao động (trong đó lao động trực tiếp là 88.000 lao động); đến năm 2022 là 390.000 lao động (trong đó lao động trực tiếp là 130.000 lao động); đến năm 2025 là 870.000 lao động (trong đó lao động trực tiếp là 290.000 lao động) và đến năm 2030 khoảng 1 triệu lao động (trong đó lao động trực tiếp là 360.000 lao động).

       4. Các giải pháp phát triển du lịch vùng Đông Nam Bô

    Để thực hiện các nội dung định hướng phát triển du lịch vùng ĐNB có hiệu quả đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030, cần triển khai các nhóm giải pháp sau:1) Chính sánh, cơ chế phát triển du lịch; 2) Về Đầu tư và huy động vốn đầu tư; 3) Về Phát triển nhân lực; 4) Về Hợp tác, liên kết; 5) Về Quy hoạch và quản lý quy hoạch; 6) Về Xúc tiến quảng bá; 7) Về Ứng dụng khoa học và công nghệ; 8) Về Phát triển thị trường; 9) Về Phát triển sản phẩm và xây dựng thương hiệu; 10) Về Bảo vệ tài nguyên môi trường; 11) Về Bảo đảm quốc phòng, an ninh.

    Trong đó các nhóm giải pháp về Chính sách, cơ chế, về Đầu tư, về Phát triển nguồn nhân lực giữ vai trò then chốt.

       a) Nhóm giải pháp cơ chế chính sách phát triển du lịch

    – Xây dựng chính sách về thuế cho phát triển du lịch.

    – Cơ chế, chính sách xã hội hóa du lịch.

    – Cơ chế chính sách về bảo vệ tài nguyên và môi trường du lịch.

    – Cơ chế chính sách đầu tư cho du lịch.

       b) Giải pháp đầu tư và huy động vốn đầu tư cho phát triển du lịch

    –  Đầu tư du lịch

    + Xúc tiến đầu tư để thu hút nguồn vốn cho phát triển du lịch vùng thông qua các diễn đàn xúc tiến đầu tư du lịch; xây dựng chương trình, lộ trình và kinh phí xúc tiến đầu tư du lịch trong vùng; tạo ra sự liên kết, phối hợp các doanh nghiệp, các địa phương để phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn vùng.

    + Cải thiện môi trường đầu tư để nâng cao năng lực cạnh tranh du lịch.  Xây dựng và điều chỉnh các chủ trương, chính sách, quy hoạch, kế hoạch phát triển phù hợp với tình hình đặc điểm của vùng, có cơ chế mở để cho các địa phương vận dụng phù hợp với từng địa bàn cụ thể; có chính sách ưu tiên cho các địa phương còn khó khăn, chưa đủ năng lực phát triển du lịch; tổ chức định kỳ Hội nghị phát triển du lịch vùng nhằm thu hút được nhiều ý kiến từ các nhà quản lý, các chuyên gia, các nhà nghiên cứu và các doanh nghiệp.

    – Huy động nguồn vốn cho du lịch

    + Huy động nguồn lực tài chính trong nhân dân, tiềm lực tài chính của các tổ chức trong và ngoài nước để đảm bảo đủ nguồn vốn đầu tư cho du lịch.

    + Mở rộng, đa dạng hóa các hình thức thu hút đầu tư cả trong và ngoài nước như các hình thức BOT, BTO, BT, PPP.

    + Đẩy mạnh xúc tiến, thu hút và có cơ chế, chính sách ưu đãi để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Thu hút nguồn vốn đầu tư từ cộng đồng người Việt ở nước ngoài.

    + Tăng cường xã hội hóa đầu tư để thu hút nguồn vốn đầu tư cho bảo vệ, tôn tạo di tích, thắng cảnh; bảo tồn và phục dựng các lễ hội, hoạt động văn hóa dân gian, các làng nghề phục vụ phát triển du lịch.

    + Đa dạng nguồn vốn đầu tư thông qua xã hội hóa các loại hình và sản phẩm du lịch; tạo môi trường thuận lợi cho huy động nguồn vốn cho du lịch.

       c) Giải pháp phát triển nguồn nhân lực

    – Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên của các cơ sở đào tạo nghề du lịch; chú trọng đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo; tăng cường công tác đào tạo tại chỗ đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực của từng địa phương và phù hợp với hội nhập quốc tế…

    – Phát triển đội ngũ nhân lực du lịch đủ về số lượng theo yêu cầu, cân đối về cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo, đảm bảo về chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch cao và bền vững của vùng.

    – Nâng cao chất lượng đội ngũ quản lý nhà nước du lịch, cán bộ quản lý các doanh nghiệp du lịch và quản lý các khu du lịch tại các địa phương trong vùng. Tăng cường năng lực chuyên môn về xúc tiến quảng bá cho các cán bộ của các Trung tâm xúc tiến du lịch tại các địa phương trong vùng.

       d) Giải pháp liên kết phát triển du lịch

    – Tăng cường trao đổi kinh nghiệm về phát triển du lịch giữa các địa phương trong vùng. Phối hợp chặt chẽ giữa các địa phương trong việc khai thác tài nguyên, xây dựng sản phẩm du lịch, xây dựng chương trình du lịch và xúc tiến, quảng bá du lịch thống nhất.

    – Tăng cường trao đổi, phối hợp và hỗ trợ cung cấp dịch vụ giữa các doanh nghiệp kinh doanh du lịch trên địa bàn vùng, đặc biệt là liên kết cung cấp dịch vụ giữa các công ty lữ hành với các doanh nghiệp kinh doanh lưu trú, vận chuyển khách… trong việc  đón, phục vụ khách du lịch.

    –  Mở rộng liên kết vùng hoặc các địa phương trong vùng với các vùng khác liền kề và với các trung tâm du lịch phát triển như: Đà Nẵng, Huế, Hà Nội.

       đ) Giải pháp quy hoạch và quản lý quy hoạch vùng

    – Thực hiện đồng bộ các quy hoạch

    + Trên cơ sở nội dung quy hoạch, các tỉnh; thành phố trong vùng Đông Nam Bộ cần rà soát, điều chỉnh hoặc xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch phù hợp.

    + Nhanh chóng triển khai xây dựng quy hoạch các khu du lịch quốc gia, đô thị du lịch trên địa bàn.

    + Cập nhật và đánh giá tiềm năng tài nguyên du lịch trên địa bàn để có thông tin cung cấp cho các nhà đầu tư.

    + Triển khai xây dựng quy hoạch cụ thể các khu du lịch chức năng và các dự án đầu tư cho từng khu vực cụ thể.

    – Tăng cường công tác quản lý quy hoạch

    + Tổ chức phổ biến quy hoạch du lịch đến mọi tầng lớp xã hội, cộng đồng, tôn giáo, dân.

    + Tiến hành cắm mốc giới, chỉ giới cho các dự án đã được xác định hoặc đã có nhà đầu tư và để bảo vệ đất và tài nguyên du lịch.

    + Tổ chức giám sát nội dung các chỉ tiêu về kinh tế du lịch, tiêu chuẩn về bảo vệ tài nguyên môi trường…

    + Quản lý tổng hợp các dự án đầu tư của các ngành khác trong khu vực đã được quy hoạch phát triển du lịch.

    + Xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên môn chuyên sâu về quản lý quy hoạch, tài nguyên và môi trường du lịch thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

       e) Giải pháp xúc tiến quảng bá du lịch

    – Khẩn trương kiện toàn bộ máy tổ chức về xúc tiến, quảng bá du lịch và xây dựng chương trình, lộ trình cho hoạt động xúc tiến ở từng địa phương trong vùng.

    – Nghiên cứu xây dựng cơ chế xúc tiến, quảng bá du lịch chung cho toàn vùng. Đẩy mạnh xã hội hóa trong hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch và đa dạng các hình thức quảng bá.

    – Phát huy vai trò hỗ trợ xúc tiến, quảng bá của các cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài cho du lịch vùng Đông Nam Bộ.

    – Đẩy mạnh công tác xúc tiến quảng bá du lịch tại các thị trường tiềm năng để nâng cao hình ảnh du lịch vùng.

       f) Giải pháp ứng dụng khoa học, công nghệ và hợp tác quốc tế

    – Xây dựng và hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu và công tác thống kê về du lịch trên địa bàn.

    – Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực du lịch để nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch. Chú trọng nghiên cứu ứng dụng khoa học và công nghệ trong quá trình quản lý và khai thác tài nguyên du lịch, thống kê du lịch, đánh giá môi trường, biến đổi khí hậu.

       g) Giải pháp phát triển thị trường và sản phẩm du lịch

    – Khuyến khích xây dựng các hãng lữ hành có thương hiệu mạnh và có năng lực trong việc thu hút các thị trường khách du lịch, trong đó chú trọng lữ hành quốc tế.

    – Xây dựng chiến lược về thị trường khách để phát triển du lịch một cách ổn định và mang tính bền vững.

    – Ưu tiên xây dựng và hình thành các khu, điểm du lịch quốc gia để tạo sức lan tỏa phát triển du lịch cho toàn vùng.

    – Tập trung phát triển “Du lịch hội nghị, hội thảo” thành sản phẩm du lịch chủ đạo của vùng Đông Nam Bộ; Phát triển sản phẩm du lịch gắn với tài nguyên du lịch biển, đảo, sông, hồ và các tài nguyên du lịch nhân văn để đa dạng hóa các loại hình du lịch.

    – Đầu tư và phát triển các khu dịch vụ vui chơi giải trí có chất lượng cao để tăng chi tiêu và kéo dài ngày lưu trú của khách.

       h) Giải pháp bảo vệ tài nguyên, môi trường du lịch và ứng phó với biến đổi khí hậu

    – Giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức về vai trò, ý nghĩa của du lịch, của tài nguyên và môi trường đối với hoạt động du lịch.

    – Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật để kiểm soát các vấn đề về môi trường, để quản lý và phát triển tài nguyên.

    – Khuyến khích các hoạt động du lịch thân thiện với môi trường; khuyến khích và hỗ trợ cộng đồng tham gia đầu tư phát triển du lịch, chia sẻ lợi ích và trách nhiệm trong việc khai thác tài nguyên phục vụ phát triển du lịch.

    – Xây dựng các giải pháp kỹ thuật hữu hiệu nhằm bảo vệ tài nguyên, môi trường du lịch.

    – Có các biện pháp phòng chống thiên tai hữu hiệu.

    – Rà soát, điều chỉnh các quy hoạch phù hợp với kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng.

       i) Giải pháp bảo đảm an ninh quốc phòng

    – Triển khai các dự án phát triển du lịch cần phải phối hợp với bảo vệ an ninh, quốc phòng gắn liền với chủ quyền quốc gia.

    – Tăng cường hợp tác quốc tế, đặc biệt là hợp tác, liên kết giữa các tỉnh có biên giới với nước bạn trong phát triển du lịch để góp phần giữ vững chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ.Bảng các phương án dự báo khách du lịch vùng ĐNB

    TT

    Chỉ tiêu

    ĐV tính

    Hiện trạng

    Phương án 1

    Phương án 2

    Phương án 3

    A

    Giai đoạn ngắn hạn

    Năm 2013

    Giai đoạn 2014 – 2022

    1

    Tổng số lượt khách

    Ngàn lượt

    23.301,0

    23.561,0

    23.818,0

    24.960,0

    Khách DL quốc tế

    Ngàn lượt

    4.510,0

    4.638,0

    4.638,0

    4.831,0

    Mức tăng trưởng

    %

    10,4

    0,8

    2,0

    3,5

    Khách DL nội địa

    Ngàn lượt

    18.791,0

    19.180,0

    19.180,0

    20.129,0

    Mức tăng trưởng

    %

    11,4

    0,5

    2,5

    3,5

    B

    Giai đoạn 2022-2020

    Năm 2022

    Giai đoạn 2022 – 2022

    1

    Tổng số lượt khách

    Ngàn lượt

    24.429,0

    28.319,0

    30.046,0

    32.193,0

    Khách DL quốc tế

    Ngàn lượt

    4.698,0

    5.446,0

    6.028,0

    6.436,0

    Mức tăng trưởng

    %

    2,0

    3,0

    5,1

    6,5

    Khách DL nội địa

    Ngàn lượt

    19.731,0

    22.873,0

    24.018,0

    25.757,0

    Mức tăng trưởng

    %

    2,5

    3,0

    4,0

    5,0

    C

    Giai đoạn 2022-2025

    Năm 2022

    Giai đoạn 2022 – 2025

    Tổng số lượt khách

    Ngàn lượt

    30.039,0

    35.527,0

    36.761,0

    38.180,0

    Khách DL quốc tế

    Ngàn lượt

    6.026,0

    7.690,0

    7.961,0

    8.256,0

    Mức tăng trưởng

    %

    5,1

    5,0

    5,7

    6,5

    Khách DL nội địa

    Ngàn lượt

    24.013,0

    27.837,0

    28.800,0

    29.924,0

    Mức tăng trưởng

    %

    4,0

    3,0

    3,8

    4,5

    D

    Giai đoạn 2026-2030

    Năm 2025

    Giai đoạn 2026 – 2030

    Tổng số lượt khách

    Ngàn lượt

    36.775,0

    41.267,0

    43.212,0

    46.302,0

    Khách DL quốc tế

    Ngàn lượt

    7.965,0

    9.459,0

    9.873,0

    10.409,0

    Mức tăng trưởng

    %

    5,7

    3,5

    4,1

    5,5

    Khách DL nội địa

    Ngàn lượt

    28.810,0

    31.808,0

    33.339,0

    35.902,0

    Mức tăng trưởng

    %

    3,8

    2,0

    3,0

    4,5

    Yêu cầu đáp ứng

    Thị trường khách du lịch

    Phát triển bình thường

    Cần phải tạo thêm thị trường tiềm năng

    Thị trường khách quốc tế chiếm ưu thế

    Sản phẩm du lịch

    Phát triển bình thường

    Xây dựng nhiều sản phẩm du lịch đặc thù

    Hàu hết các sản phẩm du lịch đạt chất lượng cao

    Nguồn lực nội tại ( vốn, lao động, quản lý

    Đáp ứng hơn

    Đáp ứng đầy đủ

    Đáp ứng tuyệt đối

    Nguồn : Dự báo của các chuyên gia dự án

    TS. Võ Quế – Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nguyễn Thị Kim Liên. Khai Thác Các Giá Trị Văn Hóa Trong Phát Triển Du Lịch
  • Tổng Quan Về Phát Triển Du Lịch Các Tỉnh Vùng Đông Bắc Và Những Vấn Đề Đặt Ra – Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch (Itdr)
  • Tổng Quan Về Du Lịch Hà Nội
  • Sở Ngoại Vụ Tỉnh Vĩnh Phúc
  • Việt Nam : Du Lịch Ninh Bình Và Lợi Thế Quần Thể “Hạ Long Trên Cạn”
  • Du Lịch Tâm Linh Ở Việt Nam – Thực Trạng Và Định Hướng Phát Triển – Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch (Itdr)

    --- Bài mới hơn ---

  • Bàn Thêm Về Du Lịch Tâm Linh Ở Việt Nam (Phần 1)
  • Những Điểm Du Lịch Tâm Linh Nổi Tiếng Dịp Đầu Năm Mới, Cứ Đến Là Rước Tiền Về!
  • Top 7 Các Điểm Du Lịch Tâm Linh Huyền Bí Ở Quảng Bình
  • Những Dấu Hỏi Về Du Lịch Tâm Linh
  • Tây Tạng Về Vùng Đất Thiêng
  •     Du lịch tâm linh trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đã và đang trở thành xu hướng ngày càng phổ biến. Tuy vậy, nhận thức về du lịch tâm linh vẫn chưa thực sự đầy đủ và thống nhất. Những năm qua, Du lịch Việt Nam tăng trưởng mạnh mẽ, trong đó du lịch tâm linh có đóng góp to lớn và bền vững vào sự tăng trưởng đó. Những lợi ích của du lịch tâm linh không chỉ về kinh tế mà hơn bao giờ hết là những giá trị tinh thần cho đời sống xã hội. Với ý nghĩa đó, Hội nghị này tìm kiếm những giải pháp thúc đẩy phát triển du lịch tâm linh nhằm hướng tới phát triển bền vững đối với Du lịch Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung. Tham luận này đề cập đến tình hình và định hướng phát triển du lịch tâm linh đóng góp vào quá trình tăng trưởng bền vững cho du lịch Việt Nam.   

       1.Quan niệm về du lịch tâm linh

       Du lịch tâm linh trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng có những quan niệm khác nhau và đến nay vẫn chưa có một khái niệm chung nhất. Tuy nhiên, xét về nội dung và tính chất hoạt động, du lịch tâm linh thực chất là loại hình du lịch văn hóa, lấy yếu tố văn hóa tâm linh vừa làm cơ sở vừa làm mục tiêu nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh của con người trong đời sống tinh thần. Theo cách nhìn nhận đó, du lịch tâm linh khai thác những yếu tố văn hóa tâm linh trong quá trình diễn ra các hoạt động du lịch, dựa vào những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể gắn với lịch sử hình thành nhận thức của con người về thế giới, những giá trị về đức tin, tôn giáo, tín ngưỡng và những giá trị tinh thần đặc biệt khác. Theo đó, du lịch tâm linh mang lại những cảm xúc và trải nghiệm thiêng liêng về tinh thần của con người trong khi đi du lịch.

       Với cách hiểu như vậy, có thể nhận diện những dòng người đi du lịch đến các điểm tâm linh gắn với không gian văn hóa, cảnh quan các khu, điểm du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch của mình, trong đó nhu cầu tâm linh được xem là cốt yếu. Khách du lịch tâm linh ở Việt Nam thường hội tụ về các điểm du lịch tâm linh như: đền, chùa, đình, đài, lăng tẩm, tòa thánh, khu thờ tự, tưởng niệm và những vùng đất linh thiêng gắn với phong cảnh đặc sắc gắn kết với văn hóa truyền thống, lối sống địa phương. Ở đó du khách tiến hành các hoạt động tham quan, tìm hiểu văn hóa lịch sử, triết giáo, cầu nguyện, cúng tế, chiêm bái, tri ân, báo hiếu, thiền, tham gia lễ hội… Thông qua đó, hoạt động du lịch mang lại những cảm nhận, giá trị trải nghiệm và giải thoát trong tâm hồn của con người, cân bằng và củng cố đức tin, hướng tới những giá trị chân, thiện, mỹ và góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống.

       Đáp ứng nhu cầu du lịch tâm linh, các hoạt động kinh doanh, tổ chức dịch vụ phục vụ du lịch tâm linh trên các tuyến hành trình và tại các khu, điểm du lịch được thực hiện, qua đó tạo việc làm, tăng thu nhập cho cư dân địa phương, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội.       

       2. Đặc điểm và xu hướng phát triển du lịch tâm linh ở Việt Nam

      a) Đặc điểm

       Sự đặc thù khác biệt của du lịch tâm linh ở Việt Nam so với các nơi khác trên thế giới có thể nhận thấy đó là:

       – Du lịch tâm linh gắn với tôn giáo và đức tin và ở Việt Nam, trong đó Phật giáo có số lượng lớn nhất (chiếm tới 90%) cùng tồn tại với các tôn giáo khác như Thiên Chúa giáo, Cao đài, Hòa Hảo… Triết lý phương đông, đức tin, giáo pháp, những giá trị vật thể và phi vật thể gắn với những thiết chế, công trình tôn giáo ở Việt Nam là những ngôi chùa, tòa thánh và những công trình văn hóa tôn giáo gắn với các di tích là đối tượng mục tiêu hướng tới của du lịch tâm linh.

       – Du lịch tâm linh ở Việt Nam gắn với tín ngưỡng thờ cúng, tri ân những vị anh hùng dân tộc, những vị tiền bối có công với nước, dân tộc (Thành Hoàng) trở thành du lịch về cội nguồn dân tộc với đạo lý uống nước nhớ nguồn. Mới đây, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Việt Nam đã được UNESCO công nhận là di sản phi vật thể đại diện nhân loại.

       – Du lịch tâm linh ở Việt Nam gắn tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, dòng tộc, tri ân báo hiếu đối với bậc sinh thành. 

       – Du lịch tâm linh ở Việt Nam gắn với những hoạt động thể thao tinh thần như thiền, yoga hướng tới sự cân bằng, thanh tao, siêu thoát trong đời sống tinh thần, đặc trưng và tiêu biểu ở Việt Nam mà không nơi nào có đó là Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.

       – Ngoài ra du lịch tâm linh ở Việt Nam còn có những hoạt động gắn với yếu tố linh thiêng và những điều huyền bí.

       b) Xu hướng phát triển du lịch tâm linh ở Việt Nam 

       Việt Nam có nhiều tiềm năng và thế mạnh để phát triển du lịch tâm linh thể hiện ở bề dày văn hóa gắn với truyền thống, tôn giáo, tín ngưỡng. Sự đa dạng và phong phú của các thắng tích tôn giáo và với số lượng lớn các tín ngưỡng, lễ hội dân gian được tổ chức quanh năm trên phạm vi cả nước. Nhu cầu du lịch tâm linh của người Việt Nam đang trở thành động lực thúc đẩy du lịch tâm linh phát triển. Ngày nay du lịch tâm linh ở Việt Nam đang trở thành xu hướng phổ biến:

       – Số lượng khách du lịch tâm linh ngày càng tăng, chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu khách du lịch, đặc biệt là khách nội địa. Số khách du lịch đến các điểm tâm linh tăng cho thấy du lịch tâm linh ngày càng giữ vị trí quan trọng trong đời sống xã hội.

       – Nhu cầu và du lịch tâm linh ngày càng đa dạng không chỉ giới hạn trong khuôn khổ hoạt động gắn với tôn giáo mà ngày càng mở rộng tới các hoạt động, sinh hoạt tinh thần, tín ngưỡng cổ truyền của dân tộc và những yếu tố linh thiêng khác. Hoạt động du lịch tâm linh ngày càng chủ động, có chiều sâu và trở thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống tinh thần của đại bộ phận nhân dân.  

       – Hoạt động kinh doanh, đầu tư vào du lịch linh ngày càng đẩy mạnh thể hiện ở quy mô, tính chất hoạt động của các khu, điểm du lịch tâm linh. Ra đời và phát triển ngày càng nhiều các điểm du lịch tâm linh ở hầu hết các địa phương, vùng, miền trên phạm vi cả nước, tiêu biểu như: Đền Hùng (Phú Thọ); Yên Tử (Quảng Ninh); Chùa Hương (Hà Nội); Phát Diệm (Ninh Bình); Núi Bà Đen, Thánh thất Cao Đài (Tây Ninh); Chùa Bái Đính (Ninh Bình); Đại Nam Văn Hiến (Bình Dương); Miếu Bà Chúa Xứ (An Giang); Công Sơn-Kiếp Bạc (Hải Dương); Tây Thiên (Vĩnh Phúc); Đền Trần-Phủ Dầy (Nam Định)…

       – Du lịch tâm linh ngày càng được xã hội tiếp cận và nhìn nhận tích cực cả về khía cạnh kinh tế và xã hội. Nhà nước ngày càng quan tâm hơn đối với phát triển du lịch tâm linh và coi đó là một trong những giải pháp đáp ứng đời sống tinh thần cho nhân dân đồng thời với việc bảo tồn, tôn vinh những giá trị truyền thống, suy tôn những giá trị nhân văn cao cả.

       3. Tình hình phát triển và kết quả đóng góp của du lịch tâm linh vào tăng trưởng du lịch Việt Nam

       Trong giai đoạn vừa qua, Du lịch Việt Nam chứng kiến giai đoạn tăng trưởng mạnh mẽ với tỷ lệ ấn tượng trên 12% mỗi năm (ngoại trừ suy giảm do dịch SARS 2003 và suy thoái kinh tế thế giới 2009). Năm 2012, với 6,8 triệu lượt khách quốc tế, 32,5 triệu lượt khách nội địa, tổng thu du lịch đạt 160.000 tỷ đồng. 10 tháng đầu năm 2013 số khách quốc tế đạt 6,12 triệu lượt, tăng 10,4% so với cùng kỳ năm 2012. Với tốc độ đó, ước tính 2013 Việt Nam sẽ đạt mốc 7,4 triệu lượt khách quốc tế và 35 triệu lượt khách nội địa, tổng thu sẽ đạt 195.000 tỷ đồng (tương đương 9 tỷ USD). Như vậy, chỉ sau 4 năm phục hồi suy thoái, lượng khách quốc tế đến Việt Nam đã tăng gấp 2 lần; tổng thu du lịch tăng trên 2,2 lần. Với những chỉ tiêu tổng thể đó thì mục tiêu Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2022 đã về đích trước 2 năm. Đạt được kết quả tăng trưởng đó có sự đóng góp tích cực của du lịch tâm linh với những kết quả đáng ghi nhận. 

       a) Số lượng, cơ cấu khách du lịch tâm linh

       Ở Việt Nam, khách du lịch tâm linh chiếm một tỷ trọng khá lớn. Thông thường khách đi du lịch hầu như kết hợp với mục đích tâm linh hoặc mục đích tâm linh được lồng ghép trong nhiều chuyến đi. Vì vậy, khó có thể phân biệt rõ số khách với mục đích du lịch tâm linh thuần túy (ngoại trừ số tăng ni, phật tử, tín đồ, khách hành hương). 

       Trong số 32,5 triệu khách du lịch nội địa năm 2012 chỉ tính riêng số khách đến các điểm tâm linh (chùa, đền, phủ, tòa thánh) có khoảng 13,5 triệu lượt, tương đương 41,5%. Một số điểm du lịch tâm linh tiêu biểu năm 2012 đón một lượng khách lớn như Miếu Bà Chúa Xứ An Giang (3,6 triệu lượt khách), Chùa Hương (1,5 triệu lượt); Chùa Bái Đính (2,1 triệu lượt), Yên Tử (2,3 triệu lượt), khu du lịch Núi Bà Đen (2,2 triệu lượt); Cô Sơn Kiếp Bạc (1,2 triệu). Đối với khách quốc tế đến Việt Nam với mục đích tâm linh không nhiều, trong số 6,8 triệu lượt khách đến Việt Nam năm 2012 ước tính có khoảng 12% khách du lịch có đến các điểm du lịch tâm linh.

     

       b) Những hoạt động du lịch tâm linh chủ yếu 

       – Hành hương đến những điểm tâm linh: những ngôi chùa (cả nước có trên cả nước có 465 ngôi chùa được xếp hạng di tích lịch sử-văn hóa quốc gia), tòa thánh, đền, đài, lăng, tẩm, phủ, khu tưởng niệm; tiến hành các hoạt động thờ cúng: thờ cúng thành hoàng, thờ mẫu, thờ cúng tổ nghề, thờ tam phủ, tứ phủ, thờ tứ pháp, thờ bốn vị tứ bất tử, thờ danh nhân, anh hùng dân tộc, thờ táo quân, thổ địa… Các hoạt động chiêm bái, cầu nguyện, tụng kinh, thiền, yoga, pháp đàm; thiền trà; tham vấn; pháp thoại; thiền ca; thiền buông thư,…

       – Tham quan, vãn cảnh, thưởng ngoạn không gian cảnh quan và không gian kiến trúc, điêu khắc gắn với điểm tâm linh; tìm hiểu văn hóa gắn với lịch sử tôn giáo và lối sống bản địa, những giá trị di sản văn hóa gắn với điểm tâm linh

       – Tham gia lễ hội tín ngưỡng, dân gian: Quốc giỗ, lễ hội Đến Hùng, Lễ Vu Lan, lễ hội Thánh Gióng (Hà Nội), lễ hội vía Bà Tây Ninh, lễ hội Tế Cá Ông (Bình Thuận), lễ hội vía Bà núi Sam (Châu Đốc) v.v.

       c) Dịch vụ phục vụ du lịch tâm linh

       Dịch vụ lữ hành phục vụ các chương trình du lịch với mục đích tâm linh kết hợp các mục đích khác; dịch vụ lưu trú, ăn uống, mua sắm lưu niệm; phục vụ cúng tế, chiêm bái, thiền, yoga; dịch vụ vận chuyển bằng xe điện, cáp treo, lái đò, thuyền; dịch vụ thuyết minh; dịch vụ chụp ảnh; thưởng thức nghệ thuật dân gian, văn nghệ truyền thống, âm nhạc, múa, trò chơi dân gian…

       d) Thời gian lưu trú trung bình của khách du lịch tâm linh

       Thời gian lưu trú trung bình của khách du lịch ngắn, có thể chỉ vài giờ trong ngày, nhưng cũng có thể kéo dài nhiều ngày. Thông thường khách du lịch tâm linh đi trong ngày và ít nghỉ lại qua đêm. Thời gian lưu trú lâu dài nhất là 1.8 ngày như ở Măng Đen gắn với các mục đích khác như nghỉ dưỡng, sinh thái. Thời gian đi du lịch tâm linh thường tập trung vào dịp cuối năm và đầu năm âm lịch và các thời điểm lễ hội dân gian năm.

       e) Chi tiêu của khách du lịch tâm linh 

       Chi tiêu của phần lớn khách du lịch tại các điểm tâm linh thường là thấp, chủ yếu chi cho các hoạt động phục vụ tế lễ, cầu nguyện, chiêm bái… mà ít phát sinh chi phí. Một số điểm tâm linh thu phí tham quan, còn lại hầu hết các điểm tâm linh gắn với tín ngưỡng không thu phí nhưng đều có các hòm công đức để khách tự nguyện đóng góp. Số tiền đóng góp tự nguyện đó khá lớn và là nguồn thu chính cho việc trùng tu, quản lý vận hành các điểm du lịch tâm linh. Các chi tiêu cơ bản cho các hoạt động di chuyển (cáp treo, thuyền, đò, xe điện…) chiếm một tỷ trọng đáng kể. Chi cho ăn uống và giải khát, chi cho lưu trú qua đêm, lưu niệm, sản vật địa phương… chiếm một tỷ trọng đáng kể nhưng không lớn do khách hầu hết viếng thăm trong thời gian ngắn, ít nghỉ lại qua đêm. Theo báo cáo của các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, doanh thu từ các địa điểm du lịch tâm linh còn rất khiêm tốn. Tuy nhiên, hiệu ứng lan tỏa của chi tiêu tại điểm du lịch tâm linh đến cộng đồng dân cư là rất lớn, có tác động rõ rệt thông qua tạo việc làm, bán hàng lưu niệm, sản vật địa phương.

       f) Du lịch tâm linh đóng góp tích cực vào phát triển bền vững

       – Người dân địa phương được chủ động tham gia vào các hoạt động phục vụ khách tại các điểm du lịch tâm linh: chèo đò, xích lô, bán hàng lưu niệm, hướng dẫn, tiêu thụ sản vật địa phương, phục vụ ăn uống (Ví dụ ở Tràng An: 1 vụ đò bằng 3 vụ lúa). Du lịch tâm linh tạo việc làm và thu nhập trực tiếp cho người dân địa phương, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn từ nông nghiệp sang kết hợp dịch vụ.

       Theo lời kể của người dân chèo đò, trước đây, hơn 10 năm khu vực Bái Đính là một vùng đất chưa được du khách biết đến, đường đi vào rất khó khăn, người dân sống lam lũ, một mùa cấy lúa nước, thu nhập bấp bênh, không có việc làm. Nhưng từ khi dự án xây dựng chùa Bái Đính, bộ mặt ở đây đã đổi thay cuộc sống của người dân đã có sự dịch chuyển từ thuần nông sang làm dịch vụ; nay một vụ đò bằng 3 vụ lúa; hàng chục ngàn người đã có việc làm, thu nhập 4-6 triệu đồng/tháng, an ninh trật tự được đảm bảo. Có thể nói, cuộc sống của người dân ở đây đã thực sự đổi thay nhờ du lịch tâm linh đến Bái Đính-Tràng An.

       –  Với triết lý đạo Phật cũng như các tôn giáo khác là sống tốt đời đẹp đạo, du lịch tâm linh chủ động và tích cực trong việc bảo vệ môi trường và đóng góp thích đáng vào phát triển bền vững. Ở Việt Nam hầu hết các điểm du lịch tâm linh là những nơi có phong cảnh đẹp, hệ sinh thái độc đáo luôn được giữ gìn bảo vệ môi trường tốt bằng các hành vi có ý thức của con người. Ngoại trừ những nơi do thương mại hóa quá mức không kiểm soát nổi dẫn tới quá tải.

       – Du lịch tâm linh mang lại những giá trị trải nghiệm thanh tao cho du khách, nhận thức và tận hưởng những giá trị về tinh thần giúp cho con người đạt tới sự cân bằng, cực lạc trong tâm hồn như theo triết lý từ-bi-hỷ-xả của đạo Phật… Những giá trị ấy có được nhờ du lịch tâm linh và đóng góp quan trọng vào sự an lạc, hạnh phúc và chất lượng cuộc sống cho dân sinh.

       – Du lịch tâm linh đạt tới sự phát triển cân bằng về các yếu tố kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường và đóng góp tích cực vào phát triển bền vững. 

       4. Định hướng phát triển du lịch tâm linh ở Việt Nam

       a) Về quan điểm phát triển

       Thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước thể hiện trong quan điểm Chiến lược phát triển du lịch theo chiều sâu, có chất lượng, hiệu quả, bền vững, có thương hiệu và sức cạnh tranh, phát triển du lịch tâm linh dựa trên các quan điểm chủ đạo sau:

       – Thứ nhất, Du lịch tâm linh phải được tập trung đầu tư phát triển theo quy hoạch bài bản trên cơ sở khai thác những giá trị nổi trội về cảnh quan thiên nhiên và văn hóa dân tộc, đặc biệt là văn hóa tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam. 

    – Thứ hai, Phát triển du lịch tâm linh trở thành động lực thu hút khách du lịch, thúc đẩy các hoạt động dịch vụ du lịch khác, tạo sự đa dạng và hấp dẫn cho du lịch Việt Nam và đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế-xã hội theo hướng bền vững; phát triển du lich tâm linh trở thành giải pháp hữu hiệu để phát triển bền vững thông qua tạo việc làm, thu nhập cho cư dân địa phương, tăng cường hiểu biết giao lưu văn hóa, tìm hiểu thế giới và tạo động lực bảo tồn giá trị truyền thống, tôn vinh bản sắc văn hóa dân tộc.  

       – Thứ ba, Phát triển du lịch tâm linh trở thành mục tiêu phát triển đời sống tinh thần cho nhân dân hướng tới những giá trị chân-thiện-mỹ và nâng cao chất lượng cuộc sống, thúc đẩy tiến bộ xã hội; du lịch tâm linh phải phát triển theo hướng chăm lo nuôi dưỡng tinh thần tiến bộ, làm cho tư tưởng, tinh thần trong sáng đồng thời đấu tranh, bài trừ những hủ tục, dị đoan làm sai lệch tư tưởng và u muội tinh thần.

    b) Định hướng những giải pháp trọng tâm

       Với quan điểm phát triển du lịch tâm linh nêu trên, nhiệm vụ đặt ra đối với ngành Du lịch cần hướng tới, đó là:

       – Giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức về du lịch tâm linh, đảm bảo thực hiện đúng các quan điểm phát triển du lịch tâm linh mang lại những giá trị tinh thần tiến bộ cho xã hội, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế xã hội bền vững; Thực hiện chương trình nâng cao nhận thức về du lịch tâm linh cho các đối tượng từ cấp hoạch định chính sách cho tới phổ biến kiến thức, kinh nghiệm cho dân cư trong việc phát triển du lịch cộng đồng gắn với điểm du lịch tâm linh; tạo điều kiện và định hướng hoạt động cho các chức sắc tôn giáo, các tín đồ, tăng ni, phật tử trong việc tổ chức hoạt động du lịch tại các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo.

       – Tập trung nguồn lực, tạo cơ chế huy động nguồn lực đầu tư vào các khu, điểm du lịch tâm linh dựa trên quy hoạch các khu, điểm du lịch tâm linh. Đầu tư cho bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa tâm linh, đặc biệt về tín ngưỡng, tôn giáo và những giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể gắn với điểm tâm linh trở thành yếu tố hấp dẫn đặc sắc Việt Nam để thu hút khách du lịch; đầu tư vào hạ tầng tiếp cận điểm du lịch linh và hệ thống cơ sở dịch vụ đảm bảo chất lượng, tiện nghi, hài hòa với không gian và tính chất khu, điểm du lịch tâm linh.

       – Tổ chức cung cấp dịch vụ tại điểm du lịch tâm linh và tăng cường quản lý điểm đến du lịch tâm linh

       – Tăng cường nghiên cứu thị trường, phát triển sản phẩm, xúc tiến quảng bá du lịch tâm linh trong mối liên kết phát triển các loại hình du lịch khác đi liền với quản lý điểm đến trở thành thương hiệu du lịch nổi bật như Yên Tử, Hương tích, Bái Đính…

       – Thực hiện chương trình liên kết phát triển du lịch tâm linh giữa các điểm du lịch tâm linh trong nước: Yên Tử-Côn Sơn Kiếp Bạc-Hương tích-Đền Trần Phủ Dầy-Tam Chúc Ba Sao… và ngoài nước với: Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Độ, Myanma, Nepal, Bhutan, Trung đông… trong khuôn khổ hợp tác du lịch song phương và đa phương.

       – Phát huy vai trò của cộng đồng dân cư, mang lại sự hưởng lợi tối đa cho cộng đồng dân cư tại điểm du lịch tâm linh.

       5. Kết luận

       Du lịch tâm linh đang trở thành xu hướng phổ biến, gắn kết các nền văn hóa trong thế giới tinh thần. Việt Nam có nhiều tiềm năng phát triển du lịch tâm linh bởi nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc với nhu cầu hướng tới những giá trị tinh thần cao cả, đức tin, tín ngưỡng và tôn giáo. 

       Những giá trị văn hóa tâm linh trên khắp mọi miền đất nước có sức hấp dẫn du lịch mạnh mẽ. Thời gian qua, số lượng lớn khách du lịch tới điểm tâm linh hàng năm và xu hướng ngày càng đông đảo du khách có nhu cầu du lịch tâm linh; hoạt động du lịch tâm linh ở Việt Nam không chỉ gắn với tôn giáo mà biết kết hợp phát huy triết học phương đông, đạo lý uống nước nhớ nguồn, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, anh hùng dân tộc, các vị tiền bối có công với nước. 

       Du lịch tâm linh đã trở thành nhu cầu không thể thiếu, ngày càng sôi động, mang lại hiệu quả thiết thực cho kinh tế địa phương, nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân và đóng góp tích cực vào phát triển bền vững. 

       Đảng và Nhà nước không ngừng quan tâm chăm lo tới đời sống tinh thần cho nhân dân thông qua các chính sách tạo điều kiện cho du lịch tâm linh phát triển theo đúng hướng mang lại những giá trị tinh thần thiết thực, góp phần vào phát triển kinh tế xã hội và phát triển kinh tế du lịch nói riêng. Trong thời gian tới, theo quan điểm chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030, Việt Nam cần triển khai đồng bộ các giải pháp thúc đẩy phát triển du lịch tâm linh phù hợp với xu hướng chung và vì sự phát triển bền vững./.

        Tham luận của Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Tuấn tại Hội Nghị quốc tế về du lịch tâm linh vì sự phát triển bền vững (Ninh Bình, 21-22/11/2013)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhật Bản Và Những Quan Niệm Tâm Linh Bạn Nên Biết
  • 10 Địa Điểm Tham Quan Lịch Sử Tâm Linh Nổi Tiếng Nhất Nhật Bản
  • Các Địa Điểm Tâm Linh Tại Côn Đảo 2022
  • 5 Điểm Du Lịch Tâm Linh Khi Đến Với Côn Đảo
  • 8 Điểm Du Lịch Tâm Linh Không Nên Bỏ Qua Khi Đến Cửa Lò
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Thành Phố Cần Thơ

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Để Du Lịch Đà Nẵng Có Khả Năng Cạnh Tranh Quốc Tế
  • Tiềm Năng Và Giải Pháp Định Hướng Phát Triển Du Lịch Sinh Thái Đồng Tháp Mười
  • Cần Có Giải Pháp Đưa Du Lịch Phát Triển Bền Vững
  • Giải Pháp Để Du Lịch Phát Triển Bền Vững
  • Giải Pháp Phục Hồi Hoạt Động Du Lịch
  • Thứ tư, 16 Tháng 5 2022 11:46

    6589 Lượt xem

    (LLCT) – Trong thời kỳ đổi mới, thành phố Cần Thơ đã sớm nhận thức rõ vị thế,tiềm năngvà thế mạnh của địa phươngtrong phát triểndu lịch nên đã tập trungđầu tư phát triển, thu hút nhiều thành phần kinh tế tham gia, tạo động lực phát triển kinh tế – xã hội của thành phố. Tuy nhiên,bên cạnh những kết quả đạt được thì ngành du lịch Cần Thơ cũng còn không ít những hạn chế, bất cập, đòi hỏi phải có các giải pháp khắc phục đểphát triển một cách bền vững.

    1. Thực trạng phát triển du lịch thành phố Cần Thơ những năm qua

    Với những lợi thế về vị trí địa lý, tiềm năng du lịch và điều kiện cơ sở hạ tầng, sau 10 năm phát triển (2006 – 2022), du lịch Cần Thơ đã đạt những kết quả quan trọng:

    Lượng khách du lịch đến thành phố Cần Thơ không ngừng tăng lên, năm 2022 tăng 2,5 lần so với năm 2010. Thu nhập từ dịch vụ du lịch từng bước được nâng cao, năm 2022 thu nhập từ hoạt động du lịch (HĐDL)thuần túy đạt 1.826 tỷ đồng, tăng 6,7 lần so với năm 2006, đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội và sự chuyển dịch mạnh mẽ trong cơ cấu kinh tế – xã hội của thành phố Cần Thơ(1).

    Tỉnh đã thu hút nhiều thành phần kinh tế tham gia phát triển du lịch, tạo động lực phát triển và góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế của từng khu vực và toàn thành phố; tạo được nhiều việc làm, nâng cao đời sống nhân dân và góp phần xóa đói giảm nghèo. Thị trường du lịch ngày càng được mở rộng, sản phẩm du lịch dần được đa dạng hoá và nâng cao chất lượng.

    Từ thực tế phát triển du lịch, Cần Thơ xác định phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn và tập trung đầu tư khai thác những tiềm năng du lịch của thành phố để phát huy vai trò trung tâm du lịch vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).

    Hệ thống cơ sở hạ tầng được quan tâm đầu tư phát triển đã thúc đẩy sự phát triển HĐDLtrên địa bàn. Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch như các khu du lịch, các khách sạn nhà hàng, khu vui chơi giải trí… được chú trọng đầu tư, xây dựng tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng các chỉ tiêu phát triển du lịch, góp phần tạo nên diện mạo mới cho thành phố.

    Bên cạnh những kết quả đạt được, du lịch trên địa bàn thành phố Cần Thơ còn những hạn chế, yếu kém sau:

    Ngành du lịch Cần Thơchưa phát huy, khai thác hết lợi thế, tiềm năng du lịch của thành phốtrực thuộc Trung ương,thiếu những khu vui chơi giải trí tầm cỡ, hiện đại, những công trình tạo điểm nhấn nhằm thu hút khách du lịch. Sản phẩm du lịch của thành phố còn thiếu tính độc đáo, hấp dẫn, phân bố không đồng đều, chưa phong phú.Dịch vụ du lịch chưa đa dạng, phong phú, một số tuyến, điểm du lịch mới hình thành nhưng chưa bổ sung dịch vụ thu hút du khách.

    Kết quả khảo sát thực tế đánh giá về loại hình sản phẩm du lịch cho thấy, các hoạt động vui chơi giải trí, du lịch làng nghề còn hạn chế, tỷ lệ đánh giá tốt chỉ đạt 20,6% và 25,2% tương ứng. Về giá và phí dịch vụ cũng chưa được đánh giá cao, mức độ phù hợp với nhu cầu của du khách, tính cạnh tranh và cung cấp thông tin đầy đủ về giá dịch vụ cho du khách còn thấp(2). Theo khảo sát của tác giả, khách du lịch quốc tế đánh giá về sản phẩm du lịch đa dạng, độc đáo, hấp dẫn và hoạt động vui chơi, giải trí ở Cần Thơ, hầu hết đều cho là bình thường hoặc không tốt, chỉ 34% và 32% đánh giá tốt tương ứng từng vấn đề. Đối với du khách trong nước đánh giá về vấn đề này cao hơn (48,5%, 56,5%)(3).

    Khảo sát cũng cho thấy, các HĐDLđược du khách yêu thích bao gồm: du lịch sông nước chợ nổi (khách quốc tế: 92%, khách trong nước: 90%); Trải nghiệm cuộc sống người dân (khách quốc tế: 86%, khách trong nước: 62,5%); Thưởng thức ẩm thực địa phương (khách quốc tế: 79%, khách trong nước: 70%); Thăm các di tích lịch sử (khách quốc tế: 74%, khách trong nước: 61%).

    Quảng bá xúc tiếnvàtổ chức HĐDLcòn thiếu tính chuyên nghiệp, sức cạnh tranh của doanh nghiệp du lịch (DNDL)còn yếu. Sự liên kết giữa các quận, huyện trong khai thác tuyến, điểm du lịch chưa chặt chẽ. Việc gắn du lịch với các làng nghề truyền thống chưa được quan tâm đúng mức.Qua khảo sát thực tế du khách quốc tế cho thấy, chỉ có 34% là thích thăm quan làng nghề(4).

    Đào tạo,bồi dưỡng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu, tỷlệ lao động qua đào tạo chuyên ngành còn thấpso với nhu cầu ngày càng phát triển. Đội ngũ hướng dẫn viêndu lịch của thành phố còn thiếu và yếu về chuyên môn, nghiệp vụ.Các quận, huyện trên địa bàn thành phố gặp khó khăn về nhân sự chuyên trách du lịch và kinh phí HĐDL.Khảo sát thực tế cho thấy, đánh giá của du khách về sự chuyên nghiệp, tận tình và ngoại ngữ của nhân viên: ở mức tốt có tỷ lệ thấp (khách trong nước: 39,5% chuyên nghiệp, tận tình; 21,5% ngoại ngữ. Khách quốc tế: 38% và 23% tương ứng). Qua khảo sát 500 đối tượng, đánh giá ở mức tốt cũng có tỷ lệ thấp: 23% chuyên nghiệp, 7,4% ngoại ngữ.

    Ngành du lịch thành phố vẫn còn chậm chuyển biến trong việc thu hút đầu tư vào các dự án lớn, chưa có những dự án quy mô, đột phá.Nguồn lực đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng du lịch còn hạn chế, chưa đủ mạnh để thúc đẩy sự phát triển. Việcđầu tư xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù của thành phố triển khai còn chậm, nhất là tuyến du lịch đường sông liên quận, huyện, tỉnh, thành,… Môi trường du lịch tuy được cải thiện nhưng một số nơi vẫn còn nhiều bất cập, nhất là vệ sinh môi trường.

    2. Một số giải pháp phát triển du lịch thành phố Cần T

    Một là, tăng cường đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng du lịch

    -Chú trọng đầu tư phát triển các khu, điểm du lịchvà sản phẩm du lịch

    Để du lịch Cần Thơ phát triển, trở thành trung tâm du lịch của vùng ĐBSCL, cần phải chú trọng đầu tư phát triển hạ tầng du lịch, các khu du lịch, tập trung cho các trọng điểm du lịch là giải pháp then chốt.

    Xác định hệ thống các khu, điểm du lịch quan trọng nhất, có vị trí chiến lược đối với việc xây dựng hình ảnh và sản phẩm du lịch của Cần Thơ. Đầu tư, phát triển những sản phẩm du lịch đáp ứng nhu cầu,phù hợp với tính chất đô thị trung tâm vùng.

    Lựa chọn địa điểm để hình thành và phát triển khu vực tập trung phát triển các dịch vụ du lịch để thu hút du khách đến Cần Thơ với vai trò đô thị trung tâm của vùng ĐBSCL. Hình thành khu tập trung thu nhỏ trong đó tái hiện lại mô hình với nét lịch sử, văn hoá, đời sống sinh hoạt của người dân các địa phương trong vùngđể giới thiệu với du khách về các đặc điểm của vùng ĐBSCL.

    Phát triển, hình thành khu vực tập trung là đầu mối giao thương, mua bán các đặc sản của các tỉnh trong khu vực ĐBSCL, đầu mối quảng bá, xúc tiến các chương trình, tour du lịch, các sản phẩm du lịch của các địa phương trong vùng. Hình thành đầu mối nông sản của vùngtrên cơ sở phát triển chợ nổi Cái Răng nhằm vừa phát triển vừa tái tạo và bảo tồn được văn hóa chợ nổi Cái Răng.

    Phát triển nghệ thuật “Đờn ca tài tử”, di sản văn hóa phi vật thể. Tổ chức điểm phục vụ vừa bảo tồn được loại hình nghệ thuật này, vừa đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu, thưởng thức của du khách.

    Đầu tư thích hợp hệ thống các công trình văn hóa, thể thao lớn, bao gồm các bảo tàng, nhà hát, rạp chiếu phim, thư viện, công viên, các sân vận động và nhà thi đấu để đa dạng hóa sản phẩm, phát triển du lịch phù hợp với vai trò, vị trí của một đô thị trung tâm vùng.

    Phát triển đa dạng các loại sản phẩm du lịch làm tăng thời gian lưu trú và mức chi tiêu của khách du lịch, tăng sự hấp dẫn cho du lịch. Đầu tư các công trình, sản phẩm du lịch để thu hút và giữ chân du khách như: xây dựng khu phức hợp nghỉ dưỡng, khu nghỉ dưỡng sinh thái có các hoạt động vui chơi giải trí, khu trung tâm mua sắm, công viên, quảng trường phục vụ cho hoạt động vui chơi giải trí, các sự kiện lớn của thành phố, khu cắm trại trên các cồn, cù lao, sân golf đẳng cấp quốc tế,…

    – Gia tăng nguồn cung khách sạn

    Tiếp tục đầu tư phát triển về số lượng và chất lượng hệ thống các cơ sở lưu trú đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của du lịch. Đến năm 2022,cần thiết đầu tư xây dựng thêm khách sạn 5 sao, phát triển hệ thống khách sạn 3-4 sao để đáp ứng nhu cầu lưu trú của khách hạng sang, nhất là khách kinh doanh, công vụ. Trong quá trình phát triển sản phẩm lưu trú du lịch, chính quyền cần có biện pháp tăng cường kỷ cương quản lý nhà nướcnhằm bảo đảm thực hiện đúng quy hoạch, bảo toàn được môi trường thiên nhiên, giữ gìn được bản sắc vănhóađịa phương.Trên góc độ thị trường, thực hiện đồng bộ các biện pháp nhằm xây dựng và duy trì hình ảnh sản phẩm lưu trú du lịch Cần Thơ lànơi nghỉ hấp dẫn và an toàn.

    -Thu hút các nguồn lực đầu tư hạ tầng du lịch

    Thành lập Quỹ Phát triển du lịch Cần Thơ; Chú trọng chính sách thực hiện xã hội hóa trong công tác đầu tư phát triển du lịch, hợp tác công tư (PPP) trong lĩnh vực du lịch; xây dựng cơ chế, chính sách thông thoáng, đơn giản hóa các thủ tục hành chính vềđầu tư các hoạt động kinh doanh du lịch, hạ tầng du lịch; có chính sách ưu đãi tài chính,thuế cho các quận huyện nhằmthu hút đầu tư;tăng cường tính cạnh tranh trong quảng bá cơ hội đầu tư.

    Hai là, tăng cường chính sách khuyến khích, hỗ trợ các cơ sở kinh doanh du lịch

    Việc khuyến khích, hỗ trợ các cơ sở kinh doanh du lịch sẽgiúp tăng cường năng lực phục vụ du khách,từ đó làm tăng lượng du khách, thời gian lưu trú và mức chi tiêu.Đặc biệt, để thu hút nguồn vốn trong dân đầu tư phát triển du lịch, phải thể hiện rõ lợi ích người dân sẽ được hưởng khi tham gia trong thực tế hoặc có thể tồn tại được từ các HĐDL.

    – Hỗ trợ về thủ tục hành chínhvà các hỗ trợ khác nhằm phát triển du lịch

    Cần xây dựng “Trung tâm dịch vụ công”cung cấp các dịch vụ hành chính dành cho doanh nghiệp, người dân và các nhà đầu tư,…Khuyến khích các nhà đầu tư, người dân địa phươngthiết lập quan hệ đối tác và với các đối tác quốc tếtrong lĩnh vực du lịch (nhà hàng, khách sạn, lữ hành, vui chơi giải trí,…) đầu tư vào Cần Thơ.

    Hỗtrợ, khuyến khích xây dựng khu tập trung kinh doanh món ăn đường phố của địa phương, dịch vụ dịch thực đơn cho các nhà hàng. Hỗ trợđào tạo hướng dẫn viên du lịch (chương trình đào tạo, cơ sở vật chất kỹ thuật,…). Xây dựng chương trình thanh tra, cấp chứng nhận nhà hàng, chứng nhận các dịch vụ du lịch khác và xây dựng đường dây nóng phục vụ du lịch.

    -Hỗ trợ về đất đai và đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ du lịch

    Kết hợp đa dạng các loại hình, phương thức đào tạo,bồi dưỡng, thu hút nguồn nhân lực để bảo đảm cho HĐDLCần Thơđến năm 2022 có đủ lực lượng lao động theo yêu cầu; tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng kiến thức cơ bản, ngắn hạndành cho các đối tượng lao động phổ thông, dân cư tại các điểm du lịch sinh thái, cộng đồng; hỗ trợ các doanh nghiệp, cơ sởdu lịch tự tổ chức các lớp truyền nghề, đào tạo tại chỗ,…

    – Hỗ trợ xúc tiến du lịch

     Xây dựng chiến lược xúc tiến du lịch đến năm 2022, tầm nhìn 2030 với các mục tiêu, định hướng cho từng giai đoạn gắn với thị trường truyền thống và các thị trường có tiềm năng. Xây dựng kế hoạch, chương trình quảng bá, xúc tiến về du lịch hàng năm. Thiếp lập các cơ chế phối hợp giữa các cơ quan,ban ngành của thành phố trong quảng bá du lịch.Liên kết chặt chẽ với các thành phố lớn và các địa phương trong vùng ĐBSCLđể lên kế hoạch và tổ chức các hoạt động xúc tiến quảng bá. Xây dựng và duy trì mối quan hệ tốt với các cơ quan quan trọng, đặc biệt là Tổng cục Du lịch Việt Nam, đồng thời đặt gian hàng du lịch tại các địa điểm quan trọng trong và ngoài nước, ví dụ như các phòng du lịch nước ngoài tại các quốc gia thị trường mục tiêu.

    Xây dựng hình ảnh du lịch Cần Thơ là một trong những thành phố lớn nhất nằm trực tiếp ngay bên dòng sông Mêkong. Xúc tiến chương trình dán nhãn sinh thái cho sản phẩm, dịch vụ du lịch Cần Thơ, nhãn du lịch bền vững Bông xen xanh.

    Xây dựng bản sắc riêng biệt cho thành phố và các quận, huyệncủa Cần Thơ nhằm làm nổi bật giá trị văn hóa, lịch sử và môi trường của thành phốvà mỗi quận, huyện. Khách du lịch sẽ nắm rõ các sản phẩm khác nhau tốt hơn và đáp ứng nhu cầu của họ dễ dàng hơn. Phát triển các sản phẩm du lịch giúp quảng bá các điểm đặc trưng của địa phương (ví dụ, tour du lịch sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, tham quan cùng người dân ở các làng nghề du lịch, hành trình du lịch văn hóa miệt vườn).Đưa những điểm đặc trưng này vào các ấn phẩm quảng bá.

    - Hỗ trợ về thông tin du lịch

    - Khuyến khích hình thành các hiệp hội, mạng lưới nghề nghiệp

    Ba là, đẩy mạnh hình thành và đa dạng các tour du lịch

    Cần Thơ là trung tâm vùng ĐBSCL,điểm xuất phát của các tuyến du lịch nội vùng (Cần Thơ – Vĩnh Long – Tiền Giang – Bến Tre – Trà Vinh – Sóc Trăng – Cần Thơ; Cần Thơ – Sóc Trăng – Bạc Liêu – Cà Mau – Hậu Giang – Cần Thơ; Cần Thơ – Cà Mau – Kiên Giang – Cần Thơ ; Cần Thơ – Kiên Giang – An Giang – Đồng Tháp – Vĩnh Long – Cần Thơ). Ngoài ra, Cần Thơ nằm trên tuyến du lịch quốc gia, trục giao thông quốc gia liên vùng và kết nối ĐBSCL với Campuchia và các nước trong tiểu vùng sông Mekong mở rộng qua cửa khẩu Châu Đốc.

    Để hình thành và đa dạng các tour du lịch thì giải pháp liên kết, kết nối là một trong những giải pháp then chốt để phát triển du lịch Cần Thơ thành trung tâm du lịch vùng. Liên kết phát triển sẽ có mục tiêu nâng cao hiệu quả đầu tư, nâng cao sức cạnh tranh của du lịch Cần Thơ cũng như của cả vùng ĐBSCL, nâng cao hiệu quả công tác quảng bá, xúc tiến, góp phần hạn chế những yếu kém, bất cập hiện nay trong công tác xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù của các địa phương cũng như cả vùng.Cần Thơ cần liên kết để hình thành và đa dạng Tour du lịch như sau:

    Hình thành các tour du lịch với sự kết hợp đa dạng loại hình di chuyển như đi ô tô, đi thuyền, đi xe đạp, đi xuồng, ghe… trong một chuyến du lịch nhằm tạo sự trải nghiệm,cảm nhận của du khách về sản phẩm du lịch.

    Hình thành các tour du lịch với những sản phẩm du lịch tiềm năng chuyên biệt. Liên kết với các địa phương có thế mạnh,vận dụng những cơ sở và đặc thù của các ngành nông nghiệp, thủy sản thế mạnh của vùng ĐBSCL,để xây dựng các tour du lịch kết hợp mớinhưtham quan, tìm hiểu các quy trình đánh bắt, nuôi trồng, các cơ sở chế biển thủy sản nhằm thu hút đượcnhiều nhóm du kháchvà tăng sự đa dạng.

    Hình thành các tour du lịch liên kết với các tỉnh trong vùng để phát triển sản phẩmtheo chuyên đề, có sự đơn giản hóa do sự tương đồng về tài nguyên, văn hóa và điều kiện phát triển. Ngoài ra, cách liên kết sản phẩm có thể thực hiện dọc các tuyến du lịch quốc gia, vùng theo các tuyến quốc lộ và các tuyến sông lớn của vùng. Với tính chất khá khác biệt của từng địa phươngtrong vùng ĐBSCL, việc thực hiện liên kết tạo ra sự bổ sung phù hợpvàtạo sức hấp dẫn.

    Hình thành các tour du lịch bằng cách liên kết liên vùngnhằm tạo ra nhiều sản phẩm du lịch chuyên đề và tổng hợp khác nhau.Liên kết với Hà Nội, Đà Nẵng,thành phố Hồ Chí Minh,…và miền Đông Nam Bộ (du kháchhầu hết đều tập trung tại các nơi này) để thu hút khách đến Cần Thơ và điều phối khách cho toàn vùng.Sự liên kết này sẽ tạo ra sự kết hợp bổ sung, nhấn mạnh sự khác biệt và tăng tính hấp dẫn của vùng với cácsản phẩm khác nhau. 

    Hình thành tour du lịch quốc tế với các liên kết sản phẩm quốc tế.Cần Thơ có thể trở thành tâm du lịch vùng ĐBSCL với sự thuận lợi ngày càng lớn trong giao thông đường bộ giữa các nước trong khu vựcđể hình thànhcác chương trình kết nối bằng đường bộ giữa ĐBSCL, Campuchia, Thái Lan và Myanmar.Có thể hình thành các tour du lịch quốc tế theo đường hàng không và đường thủy trên cơ sở phát huy tiềm năng sân bay quốc tế và cảng biển quốc tế của Cần Thơ. Đâycũng là thuận lợi lớn cho phát triển du lịch ĐBSCL cũng như cho việc phát triển các sản phẩm liên kết với các quốc gia trong khu vực.

    Bốn là, đầu tư phát triển hạ tầng giao thôngphục vụ du lịch và bảo vệ môi trường

    Tăng cường đầu tư, cải thiện các tuyến đường giao thông qua các tuyến du lịch quan trọng vùng ĐBSCL và Cần Thơ.Đầu tư phát triển các loại hình di chuyển đến Cần Thơ (đường bộ, đường sắt, đường không, đường thủy,…). Tăng đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông các tuyến gắn với các điểm, cụm, trung tâm du lịch trên địa bàn Thành phố.Cơ sở hạ tầng giao thôngyếu kém chính là rào cản lớn đối với phát triển du lịch,những dự án nâng cấp giao thông sẽ làm tăng đáng kể khả năng kết nối, thu hút khách du lịch tới Cần Thơ.

    Từ Cần Thơ xây dựng các tuyến du lịch đường thủy nội vùng kết nối với các địa phương khác. Tăng cường khai thác tiềm năng của Sân bay quốc tế Cần Thơ, cải thiện cơ sở hạ tầng dịch vụ xe khách, xe buýtvàcó các biện pháp giúp khách du lịch, đặc biệt là khách du lịchphương Tây đi lại bằng xe khách, xe buýt dễ dàng, thuận tiện.Phát triển các tuyến du lịch với các phương tiện đặc thù thân thiện với môi trường (du lịch bằng xe đạp, xe điện…)

    Cải thiện công tác quản lý môi trường, rác thải tốt hơn, tăng cường kế hoạch chương trình kiểm tra tình trạng môi trường. Xây dựng chương trình thu gom và xử lý rác thải cho chợ nổi Cái Răng và các khu điểm du lịch.Thực hiện hợp tác công tư trong bảo vệ môi trường, có các chương trình, dự án như cùng với người dân, du khách thực các hoạt động vệ sinh môi trường, vớt rác trên sông, trồng cây xanh,…

    (1) Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịchCần Thơ:Báo cáo tổng kết hoạt động du lịch năm 2022, 2022.

    (2) Nguồn khảo sát thực tế của tác giả đối với 500 đối tượng, gồm: chuyên gia du lịch, doanh nghiệp du lịch, quan chức, người dân địa phương, đối tượng khác (truyền thông, hướng dẫn viên, lao động tại các doanh nghiệp du lịch,…

    (3), (4) Nguồn khảo sát 300 du khách trong nước và quốc tế của tác giả.

    ThS Ngô Nguyễn Hiệp Phước

    Trường Cao đẳng Cần Thơ

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Biển Bền Vững Từ Góc Nhìn Chuyên Gia
  • Một Số Giải Pháp Phát Triển Bền Vững Du Lịch Biển Đảo Ở Quảng Ngãi Và Các Tỉnh Vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ – Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch (Itdr)
  • Phát Triển Du Lịch Bạc Liêu Trong Tình Hình Mới
  • Giải Pháp Tăng Lượng Khách Du Lịch Quốc Tế Đến Với Việt Nam
  • Thẻ Hội Viên Du Lịch – Giải Pháp Thông Minh
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Duy Xuyên, Quảng Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Giá Thuê Xe Hợp Đồng Du Lịch 7 Chỗ Sài Gòn Đi Duyên Hải
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Đà Bắc
  • Tour Du Lịch Đà Bắc Hòa Bình 2 Ngày 1 Đêm Giá Rẻ
  • Chia Sẻ Kinh Nghiệm Du Lịch Đà Lạt 2 Ngày 1 Đêm Cực Chi Tiết!
  • Tour Đà Lạt 2 Ngày 1 Đêm 2022 ” Siêu Hot ” Và Ưu Đãi Giảm Đến 50%
  • Ngày đăng: 10/06/2014, 10:09

    tìm hiểu về thực trạng phát triển du lịch huyện Duy Xuyên, Quảng Nam và đề xuất các giải pháp phát triển du lịch tại đó. Thực trạng giải pháp phát triển du lịch huyện Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam A. PHN M U 1. Lý do chn ti ụng Nam hin nay ang l khu vc din ra nhng hot ng sụi ng. Trong ú, Vit Nam do c im v a lý, lch s, kinh t v s giao lu quc t l iu kin thun li ho nhp vi tro lu phỏt trin du lch ca khu vc. Thi c cho du lch Vit Nam phỏt trin ngy cng c th hin rừ nột vi chớnh sỏch m ca ca ng v nh nc ta. c bit, t khi gia nhp ASEAN mi giao lu trong khu vc ngy cng m rng v nay chớnh thc tr thnh thnh viờn ca WTO – mt sõn chi nng ng y th thỏch. Thc t cho thy, mi quan tõm ca khỏch du lch i vi Vit Nam trc ht l quan tõm n mt t nc cú nhiu sn phm du lch vn hoỏ c ỏo. Ngoi mt ngun ti nguyờn thiờn nhiờn a dng gm: bói bin, hang ng, nc khoỏng, o, sinh vt, cnh quan thiờn nhiờn c ỏo, in hỡnhVit Nam cũn cú mt ngun ti nguyờn nhõn vn a dng, c sc: Cỏc di tớch lch s, ngh thut, kin trỳc, nhng phong tc tp quỏn, truyn thng vn hoỏ cỏc dõn tc thiu s c bit, Vit Nam l ngó t giao lu ca 2 nn vn hoỏ n Trung ó li nhng di sn quý giỏ luụn luụn l s hp dn du khỏch thp phng. L mt tnh duyờn hi nm trung tõm min Trung vi nhng yu t thun li phỏt trin du lch, Qung Nam nm trong vựng du lch trng im ca t nc. Phn ln khỏch n Qung Nam u n Hi An v M Sn hai sn phm du lch vn hoỏ chớnh ca Qung Nam v c nc. Trong mi quan h ú, Duy Xuyờn cú c hi rt ln phỏt trin du lch a phng. Cựng vi Hu – Nng – Hi An – M Sn ó to ra vựng du lch vn hoỏ c ỏo. Ngoi M Sn, Tr KiuDuy Xuyờn vi con sụng Thu Bn th mng y s tớch: Tuyn giao thụng gia Duy Xuyờn – Hi An, Duy Xuyờn – i Lc, Duy Xuyờn – in Bn hoc theo tuyn ũ dc vi Ca i – Giao Thu – Tuy Trang 1 Thực trạng giải pháp phát triển du lịch huyện Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam Phc – i Bỡnh – Hũn Km ỏ Dngs m ra nhiu c hi phỏt trin du lch Duy Xuyờn. Tuy nhiờn, du lch Duy Xuyờn vn cũn nhiu tn ti trong cụng tỏc qun lý, t chc, c s h tng k thutVỡ vy, cn cú nhng ti nghiờn cu v du lch Duy Xuyờn v xõy dng nhng gii phỏp hp lý phỏt trin tng xng vi tim nng. L mt ngi con trờn quờ hng x Qung v l mt sinh viờn ngnh Vn hoỏ Du lch, trong tng lai s l nhng ngi m nhn cụng tỏc nghiờn cu vn hoỏ du lch. Vỡ vy, tụi luụn mong mun tỡm tũi hc hi, trao di tri thc v em nhng kin thc ngnh ó hc gúp phn nh bộ vo xõy dng quờ hng giu p. ú chớnh l lý do tụi chn ti ny: Thc trng v gii phỏp phỏt trin du lch Duy Xuyờn tnh Qung Nam. 2. Mc tiờu ca ti – Gúp phn thc hin cỏc mc tiờu m tnh Qung Nam v huyn Duy Xuyờn ó ra phỏt trin du lch. V mong mun phỏt trin du lch Duy Xuyờn vi tc tng trng nhanh, tr thnh ngnh kinh t mi nhn ca a phng – Gúp phn gii quyt lao ng d tha – Xúi úi gim nghốo – Phỏt trin du lch Duy Xuyờn tng xng vi tim nng. 3. Lch s nghiờn cu Trong nhiu nm qua, ó cú rt nhiu hc gi nghiờn cu v Duy Xuyờn. iu ú ó c th hin trongnhng trang sỏch, bỏo, tp chớ, s kinnh trong sỏch Di tớch v danh thng Qung Nam, Non nc Vit Nam, Qung Nam th v lc mi, S tht v huyn thoi v thỏp Chm, hoc trong cỏc tp chớ ca S vn hoỏ thụng tin Qung Nam, trong cỏc ỏn, quy hoch ca tnh v huyn. Hu ht cỏc tỏc phm ú ó c nghiờn cu k lng v cú nhng úng gúp to ln cho du lch Duy Xuyờn. Nhng vi tụi thỡ thi gian thc tp cú gii hn Trang 2 Thực trạng giải pháp phát triển du lịch huyện Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam (6 tun) nờn vic nghiờn cu cũn nhiu hn ch. Do vy, ti cha th gi l hon ho c. 4. im mi ca ti ti ny ó ỏnh giỏ c tim nng du lch v xõy dng c h thng gii phỏp nhm a du lch Duy Xuyờn phỏt trin tng xng vi tim nng. 4. i tng v gii hn nghiờn cu ti tp trung nghiờn cu v tim nng ti nguyờn du lch v t ú xõy dng nhng gii phỏp phỏt trin du lch Duy Xuyờn. Vỡ vy, ti c gii hn trong phm vi huyn Duy Xuyờn 5. Phng phỏp nghiờn cu – Thu thp v tng hp ti liu – Thc a – in gió – Thng kờ 6. B cc A. Phn m u B. Phn ni dung Gm 3 chng: Chng 1: C s lý lun ca vic ỏnh giỏ v xõy dng gii phỏp phỏt trin du lch huyn Duy Xuyờn tnh Qung Nam Chng 2: Thc trng phỏt trin du lch huyn Duy Xuyờn Chng 3: Mt s gii phỏp phỏt trin du lch huyn duy Xuyờn C. Phn kt lun v kin ngh Trang 3 Thực trạng giải pháp phát triển du lịch huyện Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam B. PHN NI DUNG Chng 1: C S Lí LUN CA VIC NH GI V XY DNG GII PHP I. Mt s khỏi nim v du lch 1. Khỏi nim v du lch Du lch l mt dng hot ng ca dõn c trong thi gian ri, liờn quan vi s di chuyn v lu li tm thi bờn ngoi ni c trỳ thng xuyờn nhm mc ớch ngh ngi, cha bnh, tham quan, tỡm hiu trong mt khong thi gian nht nh. 2. Cỏc khỏi nim cú liờn quan n du lch – Du lch vn hoỏ l hỡnh thc du lch da vo bn sc vn hoỏ dõn tc vi s tham gia ca cng ng nhm bo tn v phỏt huy cỏc giỏ tr vn hoỏ truyn thng. – Du lch bn vng l s phỏt trin du lch ỏp ng c cỏc nhu cu hin ti m khụng lm tn hi n kh nng ỏp ng nhu cu v du lch ca tng lai. – Ti nguyờn du lch l cnh quan thiờn nhiờn, yu t t nhiờn, di tớch lch s vn hoỏ, cụng trỡnh lao ng sỏng to ca con ngi v cỏc giỏ tr nhõn vn khỏc cú th c s dng nhm ỏp ng nhu cu du lch, im du lch, tuyn du lch, ụ th du lch – Khỏch du lch l ngi i du lch hoc kt hp i du lch, tr trng hp i hc, lm vic hoc hnh ngh nhn thu nhp ni n. Ngoi ra cũn cú nhiu khỏi nim khỏc: du lch sinh thỏi, mụi trng du lch, xỳc tin du lch, hot ng du lch II. c im ca hot ng du lch 1. c im v du khỏch Du khỏch tham gia vo hot ng du lch gm: khỏch ni a v khỏch quc t. Trong ú khỏch quc t n nh nhiu quc tch khỏc nhau. Khỏch du lch tham gia vo hot ng du lch vi nhiu mc ớch khỏc nhau: tham quan, ngh dng, nghiờn cu vi thi gian lu trỳ khỏc nhau. Trang 4 Thùc tr¹ng vµ gi¶i ph¸p ph¸t triÓn du lÞch huyÖn Duy Xuyªn tØnh Qu¶ng Nam 2. Tính thời vụ Thời vụ du lịch là sự dao động lặp đi lặp lại hằng năm của “cung” “cầu” trong du lịch, dưới tác động của một số nhân tố xác định. Trong thực tế thời vụ du lịch của một trung tâm, một đất nước nào đó, là tập hợp hàng loạt các biến động theo mùa của cung cầu, cũng như sự tác động tương thổ của chúng trong tiêu dùng du lịch. Thời vụ trong du lịch là một hiện tượng phổ biến khách quan. Nó tồn tại ở tất cả các nước các vùng có hoạt động du lịch. Ở các nước khác nhau, vùng khách nhau có thể có một hoặc nhiều thời vụ du lịch tuỳ thuộc vào các thể loại du lịch phát triển ở đó. Thời gian cường độ của thời vụ du lịch có sự khác biệt phụ thuộc vào từng loại khách du lịch. Ví dụ: Các trung tâm dành cho du lịch thanh niên thường có mùa ngắn hơn cường độ mạnh hơn các trung tâm đón khách cao tuổi trung niên. Thời gian cường độ của các mùa du lịch có sự khác biệt phụ thuộc vào mực độ khai thác tài nguyên du lịch điều kiện đón tiếp, phục vụ khách du lịch. Ví dụ: Ở các nơi có các công trình kiên cố như khách sạn, khu điều dưỡng… thì mùa du lịch kéo dài cường độ mùa du lịch chính không chênh lệch quá cao so với thời gian còn lại ngược lại. Thời gian cường độ của thời vụ du lịch có sự khác biệt theo từng loại hình du lịch. Ví dụ: Du lịch nghỉ biển có thời gian ngắn hơn cường độ cao hơn nhiều so với du lịch chữa bệnh. Thời gian cường độ của thời vụ du lịch có sự khác biệt tuỳ thuộc vào điều kiện phát triển của từng quốc gia, từng vùng. Cường độ của thời vụ du lịch không bằng nhau theo chu kỳ kinh doanh (hay là các tháng khác nhau). Trang 5 Thực trạng giải pháp phát triển du lịch huyện Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam 3. c im ti nguyờn du lch Khi lng cỏc ngun ti nguyờn v din tớch phõn b cỏc ngun ti nguyờn l c s cn thit xỏc nh kh nng khai thỏc v tim nng ca h thng lónh th ngh ngi, du lch. Thi gian cú th khai thỏc (nh thi k khớ hu thớch hp, mựa tm, th nm ca lp tuyt ph n nh) xỏc nh tớnh mựa ca du lch, nhp iu dũng khỏch. Tớnh bt bin v mt lónh th ca a s cỏc loi ti nguyờn to nờn lc hỳt c s h tng v dũng du lch ti tp trung cỏc loi ti nguyờn ú. Vn u t tng i thp v giỏ thnh sn xut khụng cao cho phộp xõy dng tng i nhanh chúng c s h tng v mang li hiu qu kinh t xó hi cng nh kh nng s dng c lp tng loi ti nguyờn. Kh nng s dng nhiu ln ti nguyờn du lch nu tuõn theo cỏc quy nh v s dng t nhiờn mt cỏch hp lớ, thc hin cỏc bin phỏp bo v chung. Ngoi ra, ti nguyờn du lch cũn cú nhiu c im khỏc: tớnh hp dn, tớnh khụng th di chuyn, tớnh vn hoỏ III. Cỏc nhõn t tỏc ng n du lch 1. Dõn c v lao ng Dõn c l lc lng sn xut quan trng ca xó hi. Cựng vi hot ng lao ng, dõn c cũn cú nhu cu ngh ngi v du lch. S lng ngi lao ng v hc sinh tng lờn s tham gia vo cỏc loi hỡnh du lch khỏc nhau. S lng ngi lao ng trong hot ng sn xut v dch v ngy cng ụng gn lin trc tip vi kinh doanh du lch. Vic nm vng s dõn, thnh phn dõn tục, c im nhõn khu, cu trỳc s phõn b v mt dõn c cú ý ngha rt ln i vi phỏt trin du lch. S tp trung dõn c v tng dõn s cú nh hng n s phỏt trin du lch. 2. S phỏt trin ca nn sn xut xó hi v cỏc ngnh kinh t khỏc S phtỏ trin ca nn sn xut xó hi cú tm quan trng hng u lm xut hin nhu cu du lch v bin nhu cu ca con ngi thnh hin thc. Khụng th núi Trang 6 Thực trạng giải pháp phát triển du lịch huyện Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam ti nhu cu hoc hot ng du lch xó hi nu lc lng sn xut xó hi cũn tỡnh trng thp kộm. S phỏt trin ca nn sn xut xó hi v cỏc ngnh kinh t khỏc l tin , c s thỳc y du lch phỏt trin. 3. Nhu cu ngh ngi du lch Nhu cu ngh ngi du lch v s thay i ca nú theo thi gian v khụng gian tr thnh mt trong nhng nhõn t quan trng nh hng n quỏ trỡnh ra i v phỏt trin du lch. S hot ng mang tớnh cht xó hi ca cỏ nhõn trong thi gian ri c quyt nh bi nhu cu v nhng nh hng cú giỏ tr, nhu cu ngh ngi l hỡnh thc th hin v gii quyt mõu thun gia ch th vi mụi trng bờn ngoi, gia iu kin sng hin cú vi iu kin sng cn cú thụng qua cỏc dng ngh ngi khỏc nhau. 4. Cỏch mng khoa hc k thut Cỏch mng khoa hc k thut, cụng nghip hoỏ v t ng hoỏ quỏ trỡnh sn xut liờn quan cht ch vi nhau. Chỳng l nhng nhõn t trc tip lm ny sinh du cu du lch v hot ng du lch. Hay núi cỏch khỏc, cỏch mng khoa hc k thut ng thi l nhõn t y mnh phỏt trin du lch. Cụng nghip du lch chc chn khụng phỏt trin mnh nu thiu s h tr ca cỏch mng khoa hc k thut v quỏ trỡnh cụng nghip hoỏ. L tin nõng cao thu nhp ca ngi lao ng, tng thờm kh nng thc t tham gia hot ng ngh ngi du lch hon thin c cu h tng v to cho du lch cú bc phỏt trin mi, vng chc hn 5. ụ th hoỏ L kt qu quỏ s phỏt trin lc lng sn xut ụ th hoỏ nh nhõn t phỏt minh gúp phn y mnh nhu cu du lch. ụ th hoỏ to nờn mt li sng c bit – li sng thnh th ng thi hỡnh thnh cỏc thnh ph ln, cm thnh ph. Trang 7 Thực trạng giải pháp phát triển du lịch huyện Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam ụ th hoỏ cú nhng úng gúp to ln trong ci thin i sng cho nhõn dõn v phng tin vt cht v vn hoỏ, thay i tõm lớ v hnh vi ca con ngi. 6. iu kin sng iu kin sng ca nhõn dõn l nhõn t quan trng phỏt trin du lch. Nú hỡnh thnh nh vo vic tng thu nhp thc t v ci thin iu kin sinh hot, nõng cao khu phn n ung, phỏt trin y mng li y t, vn hoỏ, giỏo dc Du lch ch cú th phỏt trin khi mc sng ca con ngi t n trỡnh nht nh v cỏc iu kin sng khỏc liờn tc c ci thin. 7. Thi gian nhn ri Du lch trong nc v quc t khụng th phỏt trin c nu con ngi thiu thi gian nhn ri. Nú thc s tr thnh mt trong nhng nhõn t quan trng thỳc y hot ng du lch. Ngun quan trng lm tng thi gian ri l gim di ca tun lm vic v gim thi gian ca cụng vic ni tr. y mnh phỏt trin du lch trong nc iu kin quan trng c bit l cú nhiu thi gian ri vo cui tun. Cú th coi õy l nhõn t thun li nht phỏt trin loi hỡnh du lch di ngy. 8. Cỏc nhõn t chớnh tr L iu kin c bit quan trng cú tỏc dng thỳc y v kỡm hóm s phỏt trin du lch trong nc v quc t. Khụng phi ngu nhiờn m nm 1967 c cụng b l nm du lch quc t di khu hiu du lch l giy thụng hnh ca ho bỡnh. Du lch ch xut hin v phỏt trin trong iu kin ho bỡnh v quan h hu ngh. Ho bỡnh l ũn by y mnh hot ng du lch. Ngc li, du lch cú tỏc dng tr li n vic cựng tn ti ho bỡnh. Thụng qua du lch quc t con ngi th hin nguyn vng núng bng ca mỡnh l c sng, lao ng trong ho bỡnh v hu ngh. Trang 8 Thực trạng giải pháp phát triển du lịch huyện Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam Vớ d: Thỏi Lan du lch phỏt trin mnh nhng do khng b vỡ vy khỏch du lch khụng dỏm n hoc chin tranh Irc Cũn Vit Nam do tỡnh hỡnh chớnh tr n nh, khỏch n du lch ngy cng nhiu. Vit Nam c xem l im n an ton nht. Ngoi ra cũn rt nhiu nhõn t tỏc ng n du lch nh: v trớ a lớ, khớ hu, cỏc cụng ty t chc hot ng du lch, cỏc chớnh sỏch, ti nguyờn du lch, c s vt cht, ngun nhõn lc Trang 9 Thực trạng giải pháp phát triển du lịch huyện Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam Chng 2: THC TRNG PHT TRIN DU LCH DUY XUYấN TNH QUNG NAM I. Tỡnh hỡnh phỏt trin du lch t 2002 n 2007 1. Kt qu hot ng phỏt trin du lch trong thi gian qua T T Ch tiờu V T 2002 2003 2004 2005 2006 2007 01 Tc tng % 14,22 13,51 15,13 8,71 19,60 02 C cu ngnh du lch trong nn kinh t % 0,70 0,77 1,32 1,27 1,47 03 Ngun vn u t tớnh n nm Ton xó hi T ng 220,00 Nh nc T ng 201,62 5 04 Lt khỏch M Sn + Khu du lch ST Duy Sn Lt 91.00 0 103.94 7 117.99 2 135.842 147.68 2 176.63 0 05 Khỏch quc t Lt 61.80 0 51.992 66.034 82.461 89.496 113.58 7 06 S phũng (nh ngh, nh tr) Phũ ng 13 17 26 35 51 07 Lao ng liờn quan n du lch Ng i 08 Lao ng trc tip trong ngnh du lch Ng i 60 72 100 130 150 09 Tng s d ỏn u t n 2007 D ỏn 15 2. Cỏc loi hỡnh du lch trờn a bn Huyn Duy Xuyờn tranh th mi ngun lc, tng bc u t xõy dng v phỏt trin a dng cỏc loi hỡnh du lch: Trang 10 […].. .Thực trạng giải pháp phát triển du lịch huyện Duy Xuyên tỉnh Quảng NamDu lch di sn di tớch vn hoỏ nh: Di sn vn hoỏ th gii M Sn, cm di tớch: Lng b on Quý Phi, lng b Mc Th Giai, lng b Chiờm Sn, chựa Vua xó Duy Trinh, Kinh ụ Tr Kiu – Bo tng Chm, Nh th Ng Xó Tr Kiu xó Duy Sn, lng b Thu Bn xó Duy Tõn v cỏc di tớch chin tranh – Du lich sinh thỏi: Khu du lch sinh thỏi Duy Sn, du lch sinh… gn khu du lch c bit Duy Ngha v Hi An nờn trong quy hoch ny khụng t vn phỏt trin c s lu trỳ, m ch b trớ cỏc nh ngh, cỏc tin nghi sinh hot Núi cỏch khỏc, khu du lch ngh dng vựng ụng Duy Xuyờn l khu vc nh hng ca khu du lch ngh dng Hi An Trang 25 Thực trạng giải pháp phát triển du lịch huyện Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam Cỏch huyn l Duy Xuyờn 6 km l thu in Duy Sn II hin nay ó thu hỳt mt lng khỏch du lch… sụng Thu Bn, bói tm Duy Hi, vựng sụng nc Tr Nhiờu Trang 21 huyện Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam Chng 3: MT S GII PHP PHT TRIN DU LCH HUYN DUY XUYấN TNH QUNG NAM I C s xõy dng gii phỏp – Lut du lch Vit Nam c Quc hi thụng qua thỏng 6 nm 2005 – ỏn Phng hng v gii phỏp y mnh phỏt trin du lch khu vc min trung Tõy nguyờn s 194/2005/Q-TTg c chớnh ph phờ duyt ngy 13 thỏng… Thch Bn (18,689 t ng), nh trng by Chm (3,6 t ng) ó quy hoch chi tit Khu du lch M Sn – Thch Bn v khu du lch sinh thỏi Duy Sn Quy hoch chi tit cỏc lng ngh cú gn vi du lch: Dt vi t la Mó Chõu TT Nam Phc, Dõu tm t Trang 11 huyện Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam ụng Yờn xó Duy Trinh; Dt chiu An Phc xó Duy Phc Trong ú lng ngh Mó Chõu ó c u t xõy dng h thng ng giao thụng vi… trin du lch huyn nh Trang 14 huyện Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam 7 Cụng tỏc qun lớ nh nc v du lch, nhng vn cũn tn ti trong phỏt trin du lch Nm 2005, thnh lp Phũng Cụng nghip – Thng mi Du lch nhm tng cng nng lc qun lớ nh nc v du lch trờn a bn huyn – Lp ỏn phỏt trin du lch huyn Duy Xuyờn giai on 2003-2015 nhm ỏnh giỏ thc trng v t ra mc tiờu, gii phỏp phỏt trin du. .. Lng quờ – Du thuyn (ũi hi trỡnh t chc cao) 7 Khỏch tu Nng – Tham quan M Ch yu l hng lu bin Sn, Tr Kiu nim + dch v n – Lng ngh ung – Lng quờ Yờu cu lu trỳ t tri Nh ngh ti Duy Sn Nh trờn Lu trỳ ti Duy Sn hoc Hi An, Nng Lu ngh tm lỳc tra Bit th cao cp Khụng lu trỳ ti Duy Xuyờn 2 Gii phỏp phỏt trin cỏc tuyn im du lch Trang 27 huyện Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam Vic… Du lch sinh thỏi thiu tớnh bn vng, vnh ai cỏc khu du lch hin ang c trng cõy kinh t khai tỏc theo thi hn ngn, do ú nh hng n cnh quan mụi trng du lch khi khai thỏc, cỏc lng ngh gn vi du lch cha c tp trung trng cõy xanh theo ỳng ngha lng quờ, mc ụ th hoỏ cao Trang 15 huyện Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam – Cha kt ni c gia du lch di tớch vn hoỏ, du lch lng ngh v du. .. Trang 12 Thực trạng giải pháp phát triển du lịch huyện Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam – BQL di tớch v du lch M Sn ó xõy dng c sn phm du lch cú cht lng nh Mỳa Chm ti khu di tớch M Sn, cỏc doanh nghip ang xõy dng cỏc sn phm du lch ca mỡnh nhng cha thu hỳt c du khỏch 5 Cụng tỏc tuyờn truyn qung bỏ, xỳc tin du lch – Vi nhiu hỡnh thc tuyờn truyn khỏc nhau: bỏo, i, in sỏch, tp gp, hi tho, tham gia hi ch, Duy Xuyờn… dt mỏy Vit Nam c tin hoỏ t mỏy dt bng tay tr thnh mỏy dt nh bõy gi l nh s sỏng kin ca cỏc ngh nhõn ca Trang 19 Thực trạng giải pháp phát triển du lịch huyện Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam lng dt Duy Trinh Ngi cú cụng trong s phỏt minh ny l c Cu Dim, hin nay lng ngh Duy Trinh ó xõy dng n rt ln ti xó tng nh n v ngh nhõn ca lng ngh ni ting ny Tuy dt mỏy em li hiu qu kinh t cao nhng phỏt trin du lch ta cn… Trang 23 Thực trạng giải pháp phát triển du lịch huyện Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam – y mnh cụng tỏc tuyờn truyn qung cỏo trờn mi phng tin thụng tin i chỳng v cỏc th trng gi khỏch: Hi An, Nng, Hu, Tp H Chớ Minh, Nha Trang, H Ni b Tham quan lng quờ Qung Nam, hn õu ht cỏc lng quờ Duy Xuyờn cũn gi sau lu tre lng rt nhiu du n, li sng cng ng ca nn vn hoỏ Vit Nam õy l mt trong nhng trng im hp dn du khỏch . cao tham gia vào quá trình xây dựng và phát triển du lịch huyện nhà. Trang 14 Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch huyện Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam 7. Cụng tỏc qun lớ nh nc v du lch, nhng. ngun nhõn lc Trang 9 Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch huyện Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam Chng 2: THC TRNG PHT TRIN DU LCH DUY XUYấN TNH QUNG NAM I. Tỡnh hỡnh phỏt trin du lch t 2002 n 2007 1 cao. Trang 15 Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch huyện Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam – Cha kt ni c gia du lch di tớch vn hoỏ, du lch lng ngh v du lch sinh thỏi. Cỏc nh u t v lnh vc du lch n vi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Từ A Đến Z Những Điều Cần Biết Khi Du Lịch Dubai
  • Cẩm Nang Du Lịch Dubai Từ A Đến Z
  • Kinh Nghiệm Xin Visa Du Lịch Dubai Tự Túc 2022
  • Bỏ Túi Kinh Nghiệm Du Lịch Dubai Tự Túc Tiết Kiệm Chi Phí Nhất
  • Tour Du Lịch Dubai Trọn Gói
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100