Tình Hình Phát Triển Du Lịch Sinh Thái Ở Việt Nam

--- Bài mới hơn ---

  • 10 Khu Du Lịch Sinh Thái Ở Miền Bắc
  • Du Lịch Bụi Cuba Để Tận Hưởng Thả Ga
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Nha Trang, Phượt Bụi Nha Trang
  • Nhật Ký Mèo Đi Bụi: Kinh Nghiệm Du Lịch Bụi Cuba
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Nha Trang, Khánh Hòa (Cập Nhật 09/2020)
  • --- Bài cũ hơn ---

  • Kinh Nghiệm Du Lịch Yokohama Tự Túc 2022
  • Du Lịch Thái Lan Tại Đà Nẵng
  • Top 10 Địa Điểm Du Lịch Phượt Gần Sài Gòn Đang Hấp Dẫn Giới Trẻ
  • Việt Anh Ơi, Đi Du Lịch Đà Nẵng Hết Bao Nhiêu Tiền?
  • Tour Du Lịch Huế Đi Đà Nẵng Chất Lượng Chuẩn Đón Tiễn Tận Nơi
  • Phát Triển Du Lịch Bạc Liêu Trong Tình Hình Mới

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Phát Triển Bền Vững Du Lịch Biển Đảo Ở Quảng Ngãi Và Các Tỉnh Vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ – Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch (Itdr)
  • Một Số Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Biển Bền Vững Từ Góc Nhìn Chuyên Gia
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Thành Phố Cần Thơ
  • Giải Pháp Để Du Lịch Đà Nẵng Có Khả Năng Cạnh Tranh Quốc Tế
  • Tiềm Năng Và Giải Pháp Định Hướng Phát Triển Du Lịch Sinh Thái Đồng Tháp Mười
  • Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, ngành du lịch đã có bước phát triển mạnh mẽ, đóng góp quan trọng vào mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội; góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế; thu hút đầu tư; tạo nhiều việc làm; xóa đói giảm nghèo; nâng cao dân trí; bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc; xây dựng và quảng bá hình ảnh đất, văn hóa, con người Bạc Liêu năng động, hiếu khách, thân thiện trọng nghĩa, trọng tình. Tuy nhiên, một số chỉ tiêu như tốc độ tăng trưởng khách du lịch quốc tế đến Bạc Liêu thu nhập xã hội từ du lịch, tỷ trọng đóng góp của ngành du lịch trong GDP của tỉnh và năng lực cạnh tranh của du lịch còn thấp so với các tỉnh trong khu vực. Bên cạnh đó nguồn lực đầu tư phát triển hạ tầng du lịch còn thấp. Mặt khác, nhận thức về phát triển du lịch ở một số nơi còn hạn chế; sự phối hợp liên ngành chưa hiệu quả; vai trò, trách nhiệm của các cấp, các ngành chưa phát huy đầy đủ; hiệu quả hoạt động xúc tiến quảng bá chưa cao, nguồn nhân lực du lịch và hạ tầng giao thông chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; đầu tư cho du lịch chưa tương xứng; một số chính sách thúc đẩy phát triển du lịch còn bất cập, chưa tháo gỡ kịp thời; tình hình an ninh, an toàn, vệ sinh môi trường tại một số điểm đến chưa được duy trì thường xuyên có hiệu quả.

    Để khai thác, phát huy hiệu quả các nguồn lực, tài nguyên du lịch của tỉnh nhà, tận dụng cơ hội thuận lợi trong nước, tạo bước phát triển đột phá cho ngành du lịch trong thời kỳ mới đưa ngành du lịch Bạc Liêu phát triển nhanh, hiệu quả trở thành ngành kinh tế mũi nhọn có tính chất động lực. Vai trò của Ngành VHTTDL cùng với các cấp, các ngành cần nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, mang nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao, đem lại hiệu quả tích cực cho phát triển kinh tế – xã hội, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo nhiều việc làm, xóa đói giảm nghèo; tạo điều kiện thuận lợi và bảo đảm môi trường cho phát triển du lịch.

    Tại các địa phương trọng điểm về du lịch như trung tâm thành phố Bạc Liêu, huyện Giá Rai tăng cường việc tuyên truyền, phổ biến sâu rộng, vận động nhân dân tự giác và tích cực tham gia giữ gìn an ninh trật tự, vệ sinh môi trường; tăng cường thực hiện nếp sống văn minh, lịch sự, tôn trọng pháp luật; xây dựng phong trào ứng xử văn minh, có thái độ cởi mở, chân thành đối với khách du lịch.

    Thực trạng hiện nay Bạc Liêu là một trong những tỉnh có sản phẩm thương hiệu văn hóa du lịch đặc trưng nhiều nhất trong vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL khá sinh động theo các dòng sản phẩm như sản phẩm văn hóa lịch sử, tâm linh tín ngưỡng, nghệ thuật đờn ca tài tử, Công tử Bạc Liêu, sinh thái rừng biển, Điện gió, các công trình nghệ thuật kiến trúc lâu đời và hiện đại chính điều đó chúng ta cần quan tâm nhiều hơn về chất lượng để chẳng những được duy trì mà còn phát huy được hiệu quả. Chiến lược chất lượng thể hiện ở từng chi tiết sản phẩm, từng phân khúc trong chuổi dịch vụ và trong tổng thể điểm đến. Chất lượng dịch vụ phải được đo bằng sự hài lòng của khách, chất lượng điểm đến chỉ có thể đánh giá bằng giá trị trãi nghiệm mà du khách tiếp nhận được. Như vậy nhu cầu và sự kỳ vọng của du khách là tối thượng phải được đáp ứng thỏa mãn trong môi trường luôn luôn biến đổi. Du khách là trung tâm thì mục tiêu phát triển bền vững phải đảm bảo sự cân đối giữa việc làm hài lòng khách với lợi ích của điểm đến trong đó chính quyền, doanh nghiệp và người dân đều có vai trò quyết định tạo điều kiện thuận lợi nhất tháo gỡ những rào cản tạo môi trường thông thoáng cho doanh nghiệp, nâng cao nhận thức và chung tay cải thiện môi trường du lịch văn minh, thân thiện, an toàn…Chiến lược phát triển tư duy các sản phẩm được chuyển hóa thành chiến lược hành động trong từng lĩnh vực. Về thị trường phân đoạn theo mục đích, động cơ du lịch nhắm tới thị trường khách nghĩ dưỡng dài ngày, do đó cần nghiên cứu những sản phẩm tương ứng với những phân đoạn thị trường mục tiêu hướng tới đáp ứng nhu cầu đa dạng, khác biệt huy động mọi người cùng tham gia cung ứng dịch vụ. Bên cạnh đó cần quan tâm quản lý quy hoạch đúng theo định hướng phát triển khu, điểm du lịch tôn trọng tính đa dạng văn hóa, đa dạng sinh học và không gian khác biệt, nhưng đòi hỏi có sự kết nối tinh tế đặc biệt coi trọng các yếu tố bản địa và cuộc sống của cộng đồng dân cư. Đồng thời tập trung phát triển nguồn nhân lực lấy kỷ năng chuyên nghiệp làm trọng trong tương tác với du khách, quản trị liên kết kỷ năng nghề làm nền tảng, tập trung phát triển hạ tầng và cơ sở vật chất kỷ thuật kết hợp với các yếu tố truyền thống với các yếu tố hiện đại lồng ghép hài hòa với các yếu tố vùng, địa phương trong tỉnh nhằm nâng cao tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm trong điều kiện kinh doanh cạnh tranh ngày càng quyết liệt trong cùng một sản phẩm.

    Thực trạng tình hình du lịch tỉnh Bạc Liêu trong những năm gần đây xác định rõ du lịch Bạc Liêu “Điểm hẹn văn hóa” do vậy các ngành chức năng cần tiếp tục nghiên cứu nội hàm sản phẩm nhằm hướng tới bảo tồn sức mạnh văn hóa nội sinh. Đồng thời cải tạo nâng cấp hoàn thiện các công trình dự án, chỉnh trang diện mạo văn minh đô thị, văn hóa nông thôn, kích thích đầu tư phát triển sản phẩm ngành nghề gắn liền với tăng cường đào tạo bồi dưỡng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Hiện đại hóa các cơ sở vật chất kỷ thuật đáp ứng thỏa mãn tối đa nhu cầu của du khách, tạo ra sức lan tỏa có tầm ảnh hưởng sâu rộng bởi những sản phẩm văn hóa đặc trưng khác biệt làm cho du khách cứ mỗi lần quay lại chiêm ngưỡng và hưởng thụ thấy được chiều sâu của sự tinh tế sáng tạo mới lạ luôn luôn hấp dẫn.

    Bài: Minh Huấn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Tăng Lượng Khách Du Lịch Quốc Tế Đến Với Việt Nam
  • Thẻ Hội Viên Du Lịch – Giải Pháp Thông Minh
  • Ngành Du Lịch Chủ Động Tìm Giải Pháp Phục Hồi
  • Tập Trung Triển Khai Giải Pháp Phục Hồi Hoạt Động Du Lịch Trong Năm 2022
  • Giải Pháp Thúc Đẩy Du Lịch Sinh Thái Nông Nghiệp Phát Triển Trong Bối Cảnh Ứng Phó Với Tác Động Của Biến Đổi Khí Hậu
  • Tình Hình Và Cơ Hội Của Ngành Du Lịch Việt Nam Cần Phát Triển Thêm Những Gì

    --- Bài mới hơn ---

  • Thách Thức Mới Của Ngành Du Lịch
  • Cơ Hội Khám Phá Campuchia Cùng Vietravel
  • Tour Du Lịch Campuchia Kohrong Bokor Sinhanouk Ville Tết Nguyên Đán 2022
  • Tour Du Lịch Đà Nẵng Tiết Kiệm 2022
  • Tour Du Lịch Đà Nẵng Hè 2022
  • Trong những năm gần đây, du lịch Việt Nam đang rất phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên bên cạnh đó cũng có những điều cần phát triển nhiều hơn. Tình hình và cơ hội của ngành du lịch Việt Nam đang là vấn đề được nhiều người quan tâm.

    Tình hình và cơ hội của ngành du lịch Việt Nam

    Trong những năm gần đây, ngành du lịch của Việt Nam đã thu hút được rất nhiều khách trong và ngoài nước. Năm 2022, Việt Nam đón 13 triệu du khách nước ngoài, tăng 30% so với năm 2022. Con số này là rất cao và trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn thực sự.

    Du lịch Việt Nam ngày càng được biết đến nhiều hơn trên thế giới, nhiều điểm đến trong nước được bình chọn là địa chỉ yêu thích của du khách quốc tế. Du lịch Việt Nam đóng góp lớn vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

    Ngành du lịch Việt Nam trong nhiều năm qua đã không ngừng phát triển, đạt tốc độ tăng trưởng trung bình gấp khoảng 1,5 lần tốc độ tăng trưởng GDP chung cả nước; đóng góp trực tiếp 6,6% và đóng góp chung 13% trong cấu thành GDP của Việt Nam. Riêng trong năm 2022, du lịch là một trong những động lực chính của tăng trưởng kinh tế đất nước, ước tính du lịch đóng góp 1% vào mức tăng trưởng của GDP của Việt Nam.

    Các điểm đến du lịch, sản phẩm đang được hình thành lớn mạnh

    Quá trình phát triển, các sản phẩm du lịch Việt Nam đã được thị trường nhìn nhận và đánh giá cao như: du lịch tham quan cảnh quan, di sản di tích, nghỉ dưỡng biển, núi, du lịch tâm linh, lễ hội, ẩm thực, du lịch thể thao mạo hiểm, nghỉ dưỡng sinh thái, du lịch MICE,.. Các sản phẩm tham quan cảnh quan như: Vịnh Hạ Long, cố đô Huế, Hội An, Mỹ Sơn,..Du lịch thể thao mạo hiểm như khám phá Sơn Đoòng, Phong Nha – Kẻ Bàng,…nghỉ dưỡng biến Phú Quốc, Nha Trang, Mũi Né,…được du khách trong nước và du khách quốc tế yêu thích…

    Năng lực cạnh tranh của du lịch Việt Nam (dựa vào bảng xếp TTCI của WEF 2022) TTCI đánh giá năng lực cạnh tranh Du lịch và Lữ hành của 141 nền kinh tế, hệ thống tính điểm bao gồm 4 chỉ tiêu chính, 14 mục và 90 chỉ tiêu riêng biệt. Năm 2022, Việt Nam đứng ở vị trí thứ 75/141 quốc gia trong bảng xếp hạng, tăng 5 bậc so với năm 2013. Trong khu vực, năng lực cạnh tranh của Du lịch Việt Nam được TTCI xếp hạng 7 trên 9 nước ASEAN (Brunei không xếp hạng).

    Một số nhu cầu phát triển chính của du lịch Việt Nam hiện nay

    Thứ nhất: Đẩy mạnh cải cách, thủ tục, chính sách hệ thống luật, Chiến lược phát triển du lịch, Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch, chính sách VISA,…đã lỗi thời không còn đáp ứng nhu cầu thực tiễn;

    Thứ hai: đẩy mạnh đầu tư, nâng cấp, cải thiện hệ thống cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch theo hướng đồng bộ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu cạnh tranh bao gồm: hệ thống sân bay, cảng biển, nhà ga…

    Thứ 3: tăng ngân sách cho xúc tiến, quảng bá du lịch, áp dụng cơ chế linh hoạt, mở văn phòng đại diện du lịch Việt Nam trước tiên tại các thị trường trọng điểm;

    Thứ tư: nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao, nhân lực quản lý, nhân lực có tay nghề.

    Cơ hội của ngành du lịch Việt Nam đang là rất lớn, tuy nhiên cần có được những bước hoàn thiện để phát triển ngành du lịch.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Du Lịch Xanh: Cơ Hội Và Thách Thức Đối Với Việt Nam
  • Du Lịch: Làng Cổ Đường Lâm 1 Ngày
  • Du Lịch Làng Cổ Đường Lâm
  • Làng Cổ Đường Lâm, Kinh Nghiệm Du Lich Duong Lam 1 Ngày
  • Du Lịch Phú Quốc Tháng 6 Có Đẹp Không ? Lead Travel
  • Du Lịch Y Tế (Medical Tourism) Là Gì? Tình Hình Phát Triển

    --- Bài mới hơn ---

  • Kinh Nghiệm Du Lịch Đảo Phú Quốc Tự Túc Sau Dịch Covid 19
  • Chia Sẻ Kinh Nghiệm Du Lịch Bụi Đảo Koh Rong Sanloem
  • Cần Thiết Khi Đi Du Lịch Thái Lan
  • Du Lịch Hàn Quốc: Đến Seoul Nên Ở Đâu?
  • Hướng Dẫn Thủ Tục Xin Visa Du Lịch Hàn Quốc, Chi Tiết Từ A
  • Khái niệm

    Du lịch y tế trong tiếng Anh gọi là: Medical tourism.

    Du lịch y tế là khi người tiêu dùng chọn đi du lịch qua biên giới tới các nước khác với mong muốn tiếp cận một số loại hình điều trị y tế. Điều trị này có thể bao gồm đầy đủ các chuyên khoa, nhưng phổ biến nhất bao gồm chăm sóc nha khoa, phẫu thuật thẩm mĩ, phẫu thuật không cấp thiết và điều trị khả năng sinh sản. (Theo OECD, 2010)

    Tình hình phát triển

    Trong khoảng 10 năm trở lại đây, du lịch y tế đã phát triển vô cùng mạnh mẽ như một ngành công nghiệp toàn cầu, đặc biệt là ở các nước đang phát triển (Wong 2022).

    Ở lục địa châu Á, du lịch y tế đang mở rộng nhanh chóng, trong đó các quốc gia đang cạnh tranh mạnh mẽ thông qua các nỗ lực dịch vụ và chiến lược tiếp thị trên toàn cầu (Connell 2013: 1-13).

    Hiện tượng toàn cầu về du lịch y tế tập trung cao độ ở các quốc gia như Vương quốc Anh, Hoa Kỳ, Ấn Độ và Malaysia (Tổ chức Du lịch Thế giới 2022).

    Các nghiên cứu về du lịch y tế giải thích đặc biệt về ý nghĩa của nó đối với kinh tế, nhu cầu và cung cấp của thương mại du lịch y tế, sự tham gia của nhà nước và những lợi thế và bất lợi của sự phát triển du lịch y tế với các quốc gia khác.

    Hiệp hội Du lịch Y tế (2017) định nghĩa du lịch y tế là một quá trình du lịch bên ngoài quốc gia cư trú với mục đích được điều trị chăm sóc y tế. Điều này phù hợp với định nghĩa được cung cấp bởi Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS).

    Một trong những phương thức cung cấp dịch vụ theo qui định của GATS là tiêu dùng ở nước ngoài, theo đó đề cập đến tình huống người tiêu dùng dịch vụ (cụ thể là khách du lịch hoặc bệnh nhân) di chuyển đến lãnh thổ quốc gia khác để có được dịch vụ (BEA 2022).

    Du lịch y tế trong thế kỉ 21 không ngừng phát triển và đã trở thành một ngành rộng lớn, nổi bật và độc lập với ngành du lịch. Nguyên nhân chính của phát triển du lịch y tế là do chi phí điều trị thấp hơn hoặc thiếu các phương pháp điều trị tại các quốc gia bản địa.

    Một nghiên cứu (Abdulrahman Alili – 2022) cho thấy 40% bệnh nhân đi du lịch nước ngoài để điều trị là do muốn sử dụng các công nghệ y khoa tiên tiến ở nước sở tại.

    Trong khi đó, 32% tìm các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ tốt hơn, 15% vì thời gian chờ đợi lâu hơn ở nước sở tại, và 9% khách du lịch đi du lịch nước ngoài là do chi phí y tế ở nước đến thấp hơn.

    Có ba loại du lịch y tế: du lịch y tế trong nước; du lịch y tế xuyên biên giới và du lịch y tế “diaspora”.

    Tuyết Nhi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kinh Nghiệm Du Lịch Lào
  • Tour Du Lịch Hongkong 4 Ngày 3 Đêm Trọn Gói Từ Hà Nội
  • Cẩm Nang Giúp Khách Du Lịch Thái Lan Tránh Bị Lừa Đảo
  • Du Lịch Thái Lan Du Khách Cần Chú Ý Đừng Để Bị Lừa
  • Top 4 Ngọn Núi Gần Sài Gòn Nhất Có Thể Đi Trong Ngày
  • Tình Hình Du Lịch Việt Nam, Cơ Hội Thách Thức Trong Hội Nhập Quốc Tế – Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch (Itdr)

    --- Bài mới hơn ---

  • Cơ Hội Và Thách Thức Của Ngành Du Lịch
  • Có Nên Đi Du Lịch Cần Giờ Không? Nỗi Băn Khoăn Của Nhiều Người
  • Có Nên Đi Du Lịch Đà Nẵng Vào Tháng 11? – Để Không Bỏ Lỡ Phong Cảnh Tuyệt Đẹp
  • Du Lịch Lào Tháng 9 Nên Hay Không?
  • 4 Lý Do Khiến Bạn Muốn Đi Du Lịch Nga Ngay Lập Tức – Vietcharmtour
  •    Ngành du lịch đang đi nốt những ngày cuối cùng của năm 2022 trong tâm thế hồ hởi với một thành tích gần như trong tầm tay: Đón 13 triệu du khách nước ngoài, tăng 30% so với năm ngoái. Chưa bao giờ Việt Nam đạt được con số cao kỷ lục như vậy. Du lịch Việt Nam đang trên con đường trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn thực sự. 

       Với tiềm năng du lịch đa dạng và phong phú. Trong những năm qua, du lịch Việt Nam đang trên đà phát triển, lượng khách quốc tế đến cũng như lượng khách đi du lịch nội địa ngày càng tăng. Du lịch Việt Nam ngày càng được biết đến nhiều hơn trên thế giới, nhiều điểm đến trong nước được bình chọn là địa chỉ yêu thích của du khách quốc tế. Du lịch Việt Nam đóng góp lớn vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

       Một số chỉ tiêu về du lịch giai đoạn 2011-2016

       Bảng 1: Một số chỉ tiêu du lịch Việt Nam giai đoạn 2011-2016

    Nguồn: vietnamtourism.gov.vn

       Tăng trưởng tốc độ cao

       Các chỉ tiêu về số lượng khách quốc tế, nội địa, tổng thu từ du lịch, đóng góp của du lịch vào GDP tăng nhanh. Triển vọng du lịch Việt Nam trong năm 2022 và những năm tiếp theo là rất khả quan.

       – Về khách quốc tế: Mục tiêu năm 2022, đón 13-14 triệu khách, 6 tháng đầu năm 2022, Việt Nam đón 6,2 triệu lượt khách. Tính đến cuối tháng 12, Việt Nam đã đón được khoảng 13 triệu lượt khách, hoàn thành mục tiêu chính phủ giao cho ngành du lịch, là con số kỷ lục chưa từng có mà ngành du lịch đã đạt được.

       – Về khách du lịch nội địa: mục tiêu 2022 phục vụ 66 triệu lượt. Ước tính số liệu 6 tháng đầu năm 2022, đã phục vụ 40,7 triệu lượt khách nội địa. Tính đến hết năm 2022, đã phục vụ khoảng 74 triệu lượt khách nội địa, vượt xa mục tiêu đặt ra.

       Ngành du lịch Việt Nam trong 5 năm qua đã không ngừng phát triển, đạt tốc độ tăng trưởng trung bình gấp khoảng 1,5 lần tốc độ tăng trưởng GDP chung cả nước; đóng góp trực tiếp 6,6% và đóng góp chung 13% trong cấu thành GDP của Việt Nam. Riêng trong năm 2022, du lịch là một trong những động lực chính của tăng trưởng kinh tế đất nước, ước tính du lịch đóng góp 1% vào mức tăng trưởng của GDP của Việt Nam.

    Năm 2022 tổng thu từ du lịch đạt 417,2 nghìn tỷ đồng, so với 337,82 nghìn tỷ đồng của năm 2022, mục tiêu năm 2022 đạt tổng thu từ du lịch là 460.000 tỷ đồng đóng góp 6,6% GDP cả nước, tạo việc làm trực tiếp và gián tiếp đến 2,25 triệu người, giá trị xuất khẩu đến 8,5 tỷ USD. Tuy nhiên, tính đến hết tháng 12 năm 2022, ước tính tổng thu du lịch thu về 515.000 tỷ đồng, đã vượt rất xa mục tiêu đề ra.

       Thu hút mạnh đầu tư, phát triển nhanh cở sở hạ tầng, CSVCKT du lịch được cải thiện

       Những năm qua, hàng chục tỷ USD đầu tư trực tiếp nước ngoài và hơn 300.000 tỷ đồng đầu tư trong nước (với hơn 6.100 tỷ đồng đầu tư NSNN từ năm 2006 đến nay) đã được đầu tư cho hạ tầng du lịch quốc gia, hình thành hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch hiện đại tại nhiều địa phương và hình thành rõ hơn các vùng động lực phát triển du lịch Việt Nam.

    Năm 2022, toàn ngành đang có 18.800 cơ sở lưu trú với hơn 355.000 buồng và 1.573 doanh nghiệp lữ hành quốc tế và hàng ngàn doanh nghiệp lữ hành nội địa, các cơ sở dịch vụ ăn uống, nhà hàng, cơ sở giải trí văn hóa, thể thao, hội nghị, triển lãm và nhiều loại hình dịch vụ mới ra đời, cải tạo, nâng cấp tại hầu hết các địa bàn phát triển du lịch trọng điểm. Đặc biệt, hàng trăm khách sạn, khu du lịch cao cấp được xây mới, hình thành hàng loạt cơ sở lưu trú (khách sạn và tổ hợp resort) cao cấp như: Intercontinental, JW Marriott, hệ thống khách sạn Mường Thanh, FLC, VinGroup, SunGroup…làm diện mạo ngành du lịch có những thay đổi căn bản.

       Hệ thống vận tải du lịch, nhất là hàng không và đường bộ, đang được xã hội hóa mạnh và ngày càng kết nối rộng rãi với các điểm đến trong và ngoài nước, cả tầm ngắn, tầm trung và tầm dài. Việt Nam hiện có 52 hãng hàng không quốc tế đến từ 25 quốc gia và vùng lãnh thổ, với 54 đường bay quốc tế, 48 đường bay nội địa kết nối. Việt Nam đã tham gia hàng loạt văn kiện pháp lý và dự án hợp tác quốc tế về du lịch. Du khách 22 quốc gia đã được miễn visa đến Việt Nam.

       Hình thành các điểm đến, sản phẩm du lịch

       Quá trình phát triển, các sản phẩm du lịch Việt Nam đã được thị trường nhìn nhận và đánh giá cao như: du lịch tham quan cảnh quan, di sản di tích, nghỉ dưỡng biển, núi, du lịch tâm linh, lễ hội, ẩm thực, du lịch thể thao mạo hiểm, nghỉ dưỡng sinh thái, du lịch MICE,.. Các sản phẩm tham quan cảnh quan như: Vịnh Hạ Long, cố đô Huế, Hội An, Mỹ Sơn,..Du lịch thể thao mạo hiểm như khám phá Sơn Đoòng, Phong Nha – Kẻ Bàng,…nghỉ dưỡng biến Phú Quốc, Nha Trang, Mũi Né,…được du khách trong nước và du khách quốc tế yêu thích…

       Phát triển nguồn nhân lực du lịch còn nhiều bất cập

       Theo số liệu từ Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch Việt Nam, tính đến hết năm 2022, ngành du lịch mới có khoảng hơn 2,2 triệu lao động với hơn 600.000 lao động trực tiếp. Điều này một mặt khẳng định còn khá nhiều tiềm năng để phát triển ngành này, nhưng mặt khác cũng bộc lộ lỗ hổng lớn về nhân lực của ngành.

       Thiếu trầm trọng nguồn nhân lực chất lượng cao

       Theo thống kê của Tổng cục Du lịch mỗi năm, toàn ngành cần thêm gần 40.000 lao động; nhưng chỉ có khoảng 20.000 lao động tốt nghiệp từ các cơ sở đào tạo, trong số đó chỉ có khoảng 1.800 sinh viên đại học, cao đẳng chuyên nghiệp, 2.100 sinh viên cao đẳng nghề du lịch, còn lại là học sinh trung cấp, sơ cấp và đào tạo ngắn hạn dưới ba tháng. Các con số này cho thấy, nguồn nhân lực không những thiếu về số lượng mà còn thiếu trầm trọng đội ngũ được đào tạo bài bản.

       Thực tế cho thấy, nguồn nhân lực do các cơ sở đào tạo cung cấp cho thị trường chưa đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp, nhất là nguồn nhân lực quản lý. Ngay cả khi tuyển đúng người học ngành du lịch, các doanh nghiệp vẫn mất thời gian, công sức đào tạo lại. Trong quá trình này, doanh nghiệp cũng vướng phải không ít khó khăn, khi mà người quản lý kiêm vai trò đào tạo giỏi không nhiều, thường hướng dẫn theo kinh nghiệm là chủ yếu, thiếu kỹ năng, kiến thức cụ thể. Ngoại ngữ, tin học được coi là chìa khóa để hội nhập, song đây lại là điểm yếu lớn của nguồn nhân lực du lịch Việt Nam.

       Năng lực cạnh tranh của du lịch Việt Nam (dựa vào bảng xếp TTCI của WEF 2022) 

       TTCI đánh giá năng lực cạnh tranh Du lịch và Lữ hành của 141 nền kinh tế, hệ thống tính điểm bao gồm 4 chỉ tiêu chính, 14 mục và 90 chỉ tiêu riêng biệt. Báo cáo xếp hạng năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực Du lịch và Lữ hành của các quốc gia dựa trên 4 chỉ tiêu chính: Môi trường du lịch, Chính sách hỗ trợ phát triển du lịch, Cơ sở hạ tầng, Tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn.

       Năm 2022, Việt Nam đứng ở vị trí thứ 75/141 quốc gia trong bảng xếp hạng, tăng 5 bậc so với năm 2013.

       Trong khu vực, năng lực cạnh tranh của Du lịch Việt Nam được TTCI xếp hạng 7 trên 9 nước ASEAN (Brunei không xếp hạng), cụ thể như trong bảng sau:

       Bảng 2: Một số chỉ số năng lực cạnh tranh du lịch và lữ hành theo Diễn đàn kinh tế thế giới

    Nguồn: Diễn đàn kinh tế thế giới WEF

       Có thể thấy rằng, năng lực cạnh tranh của Việt Nam so với các nước trong khu vực thuộc dạng yếu kém. Mặc dù, trong một số lĩnh vực, Việt Nam đang có lợi thế cạnh tranh ngang bằng thậm chí là vượt hơn hẳn như sự an toàn, an ninh; giá cả cạnh tranh; tài nguyên du lịch thiên nhiên; nguồn nhân lực lao động, nhưng những yếu tố này cũng chưa thể nâng cao năng lực cạnh tranh của Du lịch Việt Nam, cần phải có những đổi mới cả về chính sách, cơ sở hạ tầng và môi trường du lịch trước khi những lợi thế cạnh tranh của Việt Nam không còn là duy nhất.

       Vài nét chính trong hội nhập quốc tế của du lịch Việt Nam 

       Hội nhập WTO

       Việt Nam chính thức gia nhập tổ chức WTO sau khi Quốc hội phê chuẩn vào đầu tháng 01 năm 2007. Riêng trong lĩnh vực dịch vụ, Việt Nam đã cam kết tất cả 11 ngành dịch vụ được phân loại theo Hiệp định chung về Thương mại và Dịch vụ (GATS). Đối với dịch vụ du lịch, Việt Nam chỉ cam kết đối với các phân ngành dịch vụ đại lý du lịch và kinh doanh lữ hành du lịch, dịch vụ sắp xếp chỗ trong khách sạn, dịch vụ cung cấp thức ăn và đồ uống. Những cam kết này sẽ được áp dụng tự động cho các thành viên ASEAN. 

    GATS quy định có 4 phương thức cung cấp dịch vụ, bao gồm: 1) cung cấp qua biên giới (dịch vụ được cung cấp từ lãnh thổ của một Thành viên này sang lãnh thổ của một Thành viên khác,); 2) tiêu dùng ngoài lãnh thổ (người tiêu dùng của một Thành viên di chuyển sang lãnh thổ của một Thành viên khác để tiêu dùng dịch vụ); 3) hiện diện thương mại (nhà cung cấp dịch vụ của một Thành viên thiết lập các hình thức hiện diện như công ty 100% vốn nước ngoài, công ty liên doanh, chi nhánh v.v…trên lãnh thổ của một Thành viên khác để cung cấp dịch vụ); 4) hiện diện thể nhân (thể nhân cung cấp dịch vụ của một Thành viên di chuyển sang lãnh thổ của một Thành viên khác để cung cấp dịch vụ). 

       Trong các cam kết của mình với WTO, Việt Nam cam kết không hạn chế đối với phương thức 1 và 2. Đối với phương thức 3, Việt Nam cũng cam kết xóa bỏ hạn chế vốn sở hữu nước ngoài đối với các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam dưới hình thức liên doanh, liên kết trong hoạt động đại lý du lịch, kinh doanh lữ hành du lịch. Tuy nhiên các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ lữ hành du lịch có vốn đầu tư nước ngoài chỉ được phép cung cấp dịch vụ đưa khách vào du lịch Việt Nam (inbound) và lữ hành nội địa đối với khách vào du lịch Việt Nam như là một phần của dịch vụ đưa khách vào du lịch Việt Nam. Các doanh nghiệp sở hữu nước ngoài không được phép thực hiện các dịch vụ gửi khách trong nước. Công ty nước ngoài tuy được phép đưa cán bộ quản lý vào làm việc tại Việt Nam nhưng ít nhất 20% cán bộ quản lý của công ty phải là người Việt Nam. Đối với phương thức 4, Việt Nam vẫn không cho phép hướng dẫn viên du lịch nước ngoài được hành nghề tại Việt Nam. 

       Như vậy, có thể nói Việt Nam đã mở cửa thị trường du lịch tương đối mạnh mẽ so với một số ngành dịch vụ khác như ngân hàng, tài chính, bảo hiểm. Nhiều nghiên cứu cho thấy, chắc chắn cơ hội mang lại cho ngành Du lịch Việt Nam sau khi WTO sẽ nhiều hơn thách thức nếu các cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp đánh giá lại năng lực, định vị lại và xây dựng chiến lược rõ ràng nhằm tham gia vào chuỗi giá trị gia tăng một cách chủ động cùng với phát huy thế mạnh riêng vốn có của mình.

       Tham gia công đồng kinh tế ASEAN

       Hội nhập quốc tế về du lịch của Việt Nam thời gian qua được triển khai theo hướng thúc đẩy ký kết và thực hiện các hiệp định thỏa thuận hợp tác cấp chính phủ, cấp ngành song phương và đa phương, tranh thủ hợp tác, hỗ trợ của các nước thông qua các chương trình, dự án cụ thể và các cam kết mở cửa tự do hóa thương mại dịch vụ du lịch trong các khuôn khổ WTO, ASEAN, APEC, GMS…. Trong đó, ASEAN là một trong những khuôn khổ hợp tác mà Du lịch Việt Nam tham gia sâu rộng và có hiệu quả nhất.

       Du lịch Việt Nam bắt đầu tìm hiểu và tham gia các cơ chế hợp tác từ cuối những năm 1990, sau khi gia nhập ASEAN (1995). Việt Nam từng bước tham gia đầy đủ các hoạt động trong các nhóm/tiểu ban công tác du lịch từ đầu những năm 2000 và chủ động hội nhập từ cuối những năm 2000. Đối với các cam kết về thị trường, Việt Nam đã thực hiện đầy đủ các cam kết đối với các lĩnh vực khách sạn, dịch vụ xếp chỗ ở khách sạn, dịch vụ phục vụ ăn uống và kinh doanh lữ hành quốc tế. Năm 2009, Việt Nam đăng cai và tổ chức thành công Hội nghị Bộ trưởng Du lịch và Diễn đàn Du lịch ASEAN (ATF) – sự kiện lớn nhất trong năm của du lịch ASEAN.

       Đối với các lĩnh vực cụ thể, Việt Nam đã ký Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau trong ASEAN về nghề du lịch (MRA-TP) (tại ATF 2009, tại Hà Nội) để làm cơ sở cho việc phát triển nguồn nhân lực du lịch ASEAN và tạo thuận lợi cho dịch chuyển lao động trong khu vực. Du lịch Việt Nam đã chủ động đóng góp vào việc triển khai MRA-TP chung của ASEAN thông qua việc xây dựng các tài liệu hướng dẫn triển khai MRA-TP (2013). Du lịch Việt Nam đã tham gia xây dựng 130 sản phẩm du lịch chung để kết nối ít nhất 2 quốc gia trong ASEAN theo các nhóm chuyên đề như du lịch thiên nhiên, du lịch văn hóa và di sản, du lịch cộng đồng, du lịch đường biển và đường sông đồng thời tích cực triển khai Chiến lược marketing du lịch ASEAN 2011 – 2022 với tiêu đề “Đông Nam Á – cảm nhận sự ấm áp” tập trung vào khai thác các thị trường Trung Quốc và Ấn Độ, khách du lịch trải nghiệm và sáng tạo, khách du lịch khám phá, khách du lịch công vụ, khách du lịch lưu trú dài ngày và người cao tuổi, khách trong nội vùng ASEAN. Cùng với đó, Việt Nam đã đảm nhiệm thành công vai trò Trưởng nhóm Marketing và Truyền thông du lịch ASEAN (2013-2014), hiện đang là Phó Trưởng nhóm Chất lượng dịch vụ du lịch, điều phối phát triển sản phẩm du lịch đường sông và Dự án hỗ trợ kỹ thuật phát triển du lịch đường sông khu vực sông Mê Kông do UNWTO hỗ trợ ASEAN, điều phối triển khai Dự án xây dựng Hướng dẫn xây dựng và vận hành loại hình Boutique Hotel; nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ ASEAN thông qua việc phối hợp cùng các quốc gia thành viên phát triển và áp dụng các bộ tiêu chuẩn chung trong ASEAN như tiêu chuẩn khách sạn xanh ASEAN, cơ sở lưu trú nhà dân ASEAN, nhà vệ sinh công cộng ASEAN, dịch vụ Spa ASEAN, tiêu chuẩn thành phố du lịch sạch ASEAN, tiêu chuẩn du lịch cộng đồng, hướng dẫn an ninh và an toàn du lịch ASEAN cho các khách sạn, khu nghỉ dưỡng và lộ trình du lịch ASEAN ứng phó với biến đổi khí hậu…

       Hàng năm, Du lịch Việt Nam tham gia Hội chợ Du lịch quốc tế TRAVEX bên lề Diễn đàn Du lịch ASEAN, tham gia và có đóng góp tích cực tại các phiên họp định kỳ và họp chuyên đề. Bên cạnh ATF năm 2009, Việt Nam cũng đã đăng cai tổ chức thành công cuộc họp chuyên đề về Marketing và Phát triển sản phẩm du lịch ASEAN (2013) và sẽ tiếp tục tổ chức phiên họp các nhóm công tác du lịch dự kiến vào tháng 4/2016. Bên cạnh các nội dung hợp tác du lịch ASEAN nói chung, Việt Nam còn tích cực và chủ động trong các cơ chế hợp tác du lịch tiểu vùng và giữa ASEAN với các nước, tổ chức đối tác. Các khuôn khổ hợp tác phổ biến là: Hợp tác kinh tế ACMECS (hợp tác kinh tế gồm 5 nước Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam); Hợp tác GMS (còn gọi là chương trình hợp tác Tiểu vùng Mê Kông mở rộng, gồm Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanmar và tỉnh Vân Nam, tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc); Hợp tác CLMV (gồm Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam); Hợp tác giữa ASEAN với các nước và tổ chức đối tác (ASEAN với 3 nước Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc; ASEAN với Nga, ASEAN với Ấn Độ, ASEAN với Tổ chức Du lịch thế giới UNWTO, ASEAN với Ngân hàng phát triển châu Á ADB…), và hợp tác du lịch song phương để đóng góp vào cơ chế hợp tác du lịch trong ASEAN.

      Một số tác động của hội nhập AEC với du lịch Việt Nam

       Thuận lợi

       – Do hợp tác phát triển sản phẩm du lịch ASEAN sẽ góp phần đa dạng hóa các sản phẩm du lịch Việt hiện nay

       – Tranh đủ được các nguồn khách nối tour trong khu vực để qua đó tăng thêm sức hấp dẫn của du lịch khu vực ASEAN nói chung và khả năng kết nối khách giữa Việt Nam với các nước và ngược lại

       – Việc nới lỏng điều kiện tự do đầu tư và di chuyển lao động giữa 12 nước nội khối trong AEC sẽ giúp gia tăng nhu cầu đi lại tìm kiếm cơ hội đầu tư, việc làm và kết hợp du lịch, tức gia tăng dòng khách quốc tế và tăng cường mật độ, quy mô các loại hình du lịch- kinh doanh, du lịch- hội họp ngay trong nội khối AEC mà Việt Nam là một thành viên.

       Khó khăn

       – Hiện sức cạnh tranh của sản phẩm du lịch Việt Nam trong khu vực ASEAN không cao, sản phẩm dịch vụ du lịch của Việt Nam chưa tạo được điểm nhấn trong khu vực và thiếu sức hấp dẫn đặc biệt do còn đơn điệu và trùng lặp với các sản phẩm trong khu vực.

       – Việc thiếu nguồn lực và cơ chế tài chính còn nhiều vướng mắc đã ảnh hưởng chung tới hiệu quả của việc tổ chức triển khai các hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch trong khu vực, khó theo kịp các đối thủ cạnh tranh trong khu vực

       – Tổ chức bộ máy và lực lượng thực hiện hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch còn nhiều bất cập. Thương hiệu du lịch Việt Nam còn đang trong quá trình hình thành, chưa tận dụng được hiệu quả của các cơ hội để xây dựng thương hiệu.

       – Về chất lượng nguồn nhân lực, nhân lực Việt Nam chưa đáp ứng được nhu cầu của hội nhập AEC. Lao động du lịch Việt Nam còn kém cạnh tranh so với các nước có ngành Du lịch phát triển trong khu vực. Chất lượng du lịch toàn ngành chưa cao, việc triển khai thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau về nghề du lịch ASEAN còn nhiều khó khăn vướng mắc.

       Ngoài hợp tác trong các khôn khổ hợp tác nêu trên, hợp tác trên các diễn đàn khác như APEC, ASEM và nhiều diễn đàn song phương và đa phương khác tạo ra nhiều cơ hội phát triển du lịch.

       Các quan điểm định hướng mới trong phát triển du lịch

       – Những năm gần đây, ngành du lịch đã chứng kiến nhiều dấu ấn đặc biệt trong xây dựng thể chế chính sách, tạo điều kiện thuận lợi phát triển du lịch. Đảng, Nhà nước, Chính phủ đã xác định phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp ngày càng lớn cho nền kinh tế đất nước. Với định hướng quan trọng này, nhiều chính sách hỗ trợ mới được hình thành để khác phục khó khăn, khai thách tốt tiềm năng cuãng như phát huy lợi thế để ngành du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong thời gian tới. Đáng chú ý nhất là Lần đầu tiên Bộ chính trị đã ban hành một nghị quyết về phát triển du lịch: nghị quyết là động lực manh mẽ thúc đẩy phát triển du lịch trong giai đoạn tới, có nhiều quan điểm mới chẳng hạn như: Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn là định hướng chiến lược quan trọng để phát triển đất nước, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển của các ngành, lĩnh vực khác, nhưng không nhất thiết địa phương nào cũng xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn. Phát triển du lịch là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành, của toàn xã hội, có sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của các cấp ủy đảng; phát huy mạnh mẽ vai trò động lực của doanh nghiệp và cộng đồng dân cư, sự quản lý thống nhất của Nhà nước; tập trung nguồn lực quốc gia cho phát triển du lịch,…

       Ngoài ra, lần đâu tiên chính phủ tổ chức một hội nghị toàn quốc về phát triển du lịch: với nhiều chỉ đạo quan trọng của thủ Tướng như: đổi mới tư duy về phát triển du lịch, tạo điều kiển thuận lợi cho thủ tục xuất nhập cảnh, thành lập Quỹ hỗ trợ phát triển Du lịch, đẩy mạnh xúc tiến quảng bá,…Bên cạnh đó, Luật Du lịch sửa đổi được Quốc hội thông qua với nhiều nội dung mới, tạo ra hành lang pháp lý vững chắc đảm bảo cho du lịch phát triển. Đồng thời, lần đầu tiên Quốc hội cho thí điểm cấp thị thực điện tử cho công dân của 40 quốc gia, thúc đẩy thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam, thành lập nhiều Sở Du lịch tại các địa bàn trọng điểm về phát triển du lịch,..

       Tóm tắt điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức của ngành du lịch Việt Nam trong hội nhập quốc tế

      

       Một số nhu cầu phát triển chính của du lịch Việt Nam hiện nay

       Hai là, cần tăng ngân sách cho xúc tiến, quảng bá du lịch, áp dụng cơ chế linh hoạt, mở văn phòng đại diện du lịch Việt Nam trước tiên tại các thị trường trọng điểm,…

       Ba là, cần đẩy mạnh đầu tư, nâng cấp, cải thiện hệ thống cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch theo hướng đồng bộ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu cạnh tranh bao gồm: hệ thống sân bay, cảng biển, nhà ga, hệ thống giao thông đường bộ, giao thông công cộng, hệ thống nhà hàng, khách sạn, buồng phòng, hệ thống bảo tàng,…..

       Bốn là, cần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao, nhân lực quản lý, nhân lực có tay nghề, …

    Năm là, cần đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức toàn xã hội trong phát triển du lịch, kêu gọi toàn thể mọi người chung tay bảo vệ môi trường, …góp phần việc phát triển du lịch.

    Văn Dương

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cơ Hội Quảng Bá Du Lịch Hội An
  • Những Thách Thức Khi Đà Nẵng Phát Triển Nóng Về Du Lịch
  • Đà Nẵng Hoàn Toàn Có Thể Trở Thành Điểm Đến Du Lịch Đẳng Cấp
  • Cơ Hội Của Du Lịch Đà Nẵng
  • Cơ Hội Mới Cho Ngành Du Lịch Đà Nẵng – Cổng Du Lịch Thành Phố Đà Nẵng
  • Tình Hình Phát Triển Du Lịch Tại Hàn Quốc Và Những Chính Sách Phát Triển Du Lịch Trong Thời Gian Tới

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Học Phát Triển Ngành Du Lịch Từ Hàn Quốc
  • Hội An Mừng Vui Với Chỉ Số Phát Triển Du Lịch Và Nỗi Lo Bền Vững
  • Du Lịch Huế Cần Năng Động Hơn
  • Phát Triển Du Lịch Huế Xanh
  • Khánh Hòa: Chung Tay Phát Triển Du Lịch
  • Theo báo cáo UNWTO tại kỳ họp Đại hội đồng lần thứ 19 (8-14/10/2011, Gyeongju, Hàn Quốc), dự kiến sẽ có khoảng 1,8 tỷ lượt khách đi du lịch quốc tế vào năm 2030, du lịch sẽ tiếp tục tăng trưởng trong hai thập kỷ tới , thu hút 10% lao động ở các quốc gia Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản… Năm 2022, tổng số khách du lịch quốc tế đến Hàn Quốc đạt 13,3 triệu lượt, giảm 22,7% so với năm 2022 (17,24 triệu lượt), mặc dù số liệu khách du lịch quốc tế năm 2022 tăng 30,3% so với năm 2022. Doanh thu từ du lịch đạt 17,210 triệu USD, GDP trên đầu người của Hàn Quốc là 1.929 USD, dự kiến đến năm 2030 con số này tăng lên 2.651 USD, đến năm 2050 là 3.539 USD.

    Tổ chức Du lịch Hàn Quốc (Korean Tourism Organisation – KTO), trực thuộc Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch Hàn Quốc thành lập năm 1962, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về văn hoá, thể thao và du lịch. Thứ trưởng phụ trách về du lịch giúp việc cho Bộ trưởng, chịu trách nhiệm điều hành, chỉ đạo Cục Du lịch. Cục Du lịch gồm 7 phòng: phòng chính sách du lịch, phòng tài nguyên du lịch, phòng công nghiệp du lịch, phòng hợp tác quốc tế, phòng xúc tiến du lịch, phòng phát triển du lịch và nghỉ dưỡng. Hiện tổ chức có 27 văn phòng đại diện ở nước ngoài và 5 văn phòng trong nước với tổng số 765 nhân viên. Các Văn phòng đại diện do Cơ quan Du lịch quốc gia KNTO (Korea National Tourism Organization) quản lý và điều hành, nhân sự cũng do KNTO quyết định. Nhiệm vụ chính của KNTO là quảng bá và phát triển du lịch – là ngành kinh tế chiến lược; xây dựng chính sách phát triển du lịch và thiết lập mối quan hệ hợp tác với các đơn vị tư nhân trong lĩnh vực du lịch.

    Sự phát triển vượt bậc về khoa học công nghệ đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành dịch vụ du lịch, trong đó phải kể đến sân bay quốc tế Incheon, cùng với Sân bay quốc tế Hồng Kông và sân bay Changi, đã trở thành những trung tâm vận tải quan trọng ở châu Á. Những thế mạnh của du lịch Hàn Quốc là văn hoá, truyền thống lâu đời mang ảnh hưởng của Trung Hoa; giao thông đi lại thuận tiện; tính hiện đại và đa dạng của các khu vui chơi giải trí; đặc biệt là ngành công nghiệp giải trí (điện ảnh, truyền hình, âm nhạc và nghệ thuật biểu diễn). Hàn Quốc được biết đến với khẩu hiệu ‘Dynamic Korea’ (Hàn Quốc năng động). MICE cũng là một thế mạnh của ngành dịch vụ Hàn Quốc. Điểm yếu và cũng là trở ngại lớn nhất cho sự phát triển của du lịch Hàn Quốc là ngôn ngữ. Tiếng Hàn là ngôn ngữ chính thống duy nhất được sử dụng tại Hàn Quốc. Tiếng Anh và một số thứ tiếng khác như tiếng Trung, tiếng Nhật cũng được sử dụng với phạm vi nhỏ hẹp và chỉ ở các trung tâm du lịch, các cơ sở lưu trú cao cấp.

    – Tổ chức các hội chợ du lịch quốc tế và các sự kiện quảng bá du lịch

    – Xây dựng chiến lược thị trường mới, chú trọng thị trường trọng điểm là Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Mông Cổ, Kazakhstan… và các thị trường chi trả cao như Trung Đông và Nga. Đặc biệt, tăng cường các hoạt động trao đổi du lịch giữa Hàn Quốc – Trung Quốc – Nhật Bản

    – Quản lý chặt chẽ các thị trường đang có xu hướng phát triển nhanh như thị trường Đông Nam Á, Đông Bắc Á, có kế hoạch xây dựng thương hiệu chung “Visit East Asia”

    – Phát triển nội dung các loại hình du lịch dựa vào văn hóa “Làn sóng Hàn Quốc”

    – Phát triển các loại hình sản phẩm du lịch gắn với đạo Hồi, như nhà hàng phục vụ người theo Hồi giáo với các bàn, kệ cầu nguyện…

    – Phát triển các sản phẩm du lịch chăm sóc sức khỏe vì sản phẩm có tính cá biệt hóa đối với từng cá nhân và vì vậy chi tiêu của khách tương đối cao.

    – Có chiến lược quảng bá ở nước ngoài, khai thác lợi thế của các sự kiện giao lưu với các quốc gia khác, như sự kiện Thế vận hội mùa đông châu Á

    – Tạo điều kiện thuận lợi cho khách du lịch (Bộ Tư pháp) thực hiện việc cải thiện thủ tục cấp visa như mẫu đăng ký đơn giản cho các chuyến du lịch khuyến thưởng, ngoại giao, sinh viên các trường đại học danh tiếng trên thế giới, nhân viên các tập đoàn của các quốc gia Đông Nam Á, các quốc gia OECD… Đồng thời, cải tiến thủ tục nhập cảnh, xuất cảnh dễ dàng, tự động hóa cao.

    – Có chính sách cấp visa điện tử cho các thị trường Ấn Độ và Đông Nam Á, bao gồm Indonesia, Việt Nam và Philippines

    – Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và xây dựng kết cấu hạ tầng cho ngành Du lịch, hỗ trợ các doanh nghiệp xây dựng sản phẩm du lịch thông minh, doanh nghiệp số để tạo ra sản phẩm du lịch hội tụ của tương lai đáp ứng yêu cầu phát triển phù hợp với CMCN 4.0

    – Nâng cao năng lực quản trị chặt chẽ, nghiêm khắc xử lý các trường hợp vi phạm luật Du lịch, ví dụ không cho phép phá giá thị trường…

    – Cải thiện điều kiện giao thông xuyên biên giới, các đường bay, và quảng bá chính sách tự do hóa hàng không

    – Có chiến lược xây dựng mô hình hợp tác đa phương về phát triển du lịch, trong đó, chú trọng kênh đối tác với các tổ chức như UNWTO, PATA, Ủy ban Du lịch của OECD, APEC, và ASEAN…

    – Chủ động trong vai trò chủ chốt thu hút các chuyên gia du lịch, các hội nghị, hội thảo cho ngành Du lịch

    – Phổ biến thông điệp mô hình phát triển du lịch thành công của Hàn Quốc đến từng công ty, viện nghiên cứu của Hàn Quốc.

    – Thúc đẩy các dự án có vốn đầu tư nước ngoài (ODA) để tăng cơ hội đầu tư

    – Hiệp hội du lịch Hàn Quốc quảng bá du lịch thông qua chương trình phát sóng các buổi hòa nhạc K-Pop, phim truyền hình Hàn Quốc, gặp gỡ các ngôi sao, người nổi tiếng Hàn Quốc, gắn với trải nghiệm ẩm thực và văn hóa Hàn Quốc.

    – Phát triển thị trường dựa trên sự lớn mạnh của công ty tư nhân và thúc đẩy mô hình quảng bá du lịch dựa trên mối quan hệ đối tác công tư.

    – Cộng đồng khởi nghiệp Hàn Quốc với các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã thành lập “Trung tâm hỗ trợ doanh nghiệp du lịch tiềm năng” (tourism venture incubation Center), với các dịch vụ tư vấn phù hợp (quản lý tài chính, pháp lý, marketing…)

    Kế hoạch Phát triển Du lịch Tương lai

    – Xây dựng Luật Du lịch sửa đổi, đặt trọng tâm cho nhiệm vụ quảng bá du lịch và Chiến lược Phát triển Du lịch Quốc gia, trong đó tăng cường hơn nữa sự tham gia của công chúng vào phát triển du lịch và nâng cao chất lượng hệ thống cơ sở đào tạo nghề và cấp chứng chỉ trong ngành Du lịch.

    – Hình ảnh Hàn Quốc đa dạng được thể hiện trong kế hoạch quảng bá khác nhau cho các thị trường chiến lược.

    – Tạo điều kiện thuận lợi cấp visa cho khách du lịch Trung Quốc, đặc biệt thu hút đối tượng khách có khả năng chi trả cao và chú trọng vào các thị trường đang nổi khác.

    – Xây dựng sản phẩm du lịch chất lượng cao để phục vụ khách du lịch cao cấp

    – Xây dựng sản phẩm du lịch gắn với làn sóng Hàn Quốc, lựa chọn “Nhóm sản phẩm du lịch chăm sóc sức khỏe”. Ngành công nghiệp sáng tạo sẽ trở thành một ngành mang lại giá trị tạo thêm cho du lịch.

    -Tăng số lượng khách của các thị trường Nhật Bản, Trung Đông, Trung Quốc và các vùng lãnh thổ từ 6,4 triệu lượt năm 2007 lên 8,5 triệu lượt.

    – Tăng số lượt khách quay trở lại từ 7 triệu lên 15 triệu lượt.

    – Tỷ lệ khách du lịch đi lẻ tăng từ 75% lên 80%.

    – Thu nhập từ du lịch tăng từ 17 nghìn tỷ Won (15,42 tỷ USD) lên 28 nghìn tỷ Won (25,40 tỷ USD).

    – Tăng thứ hạng năng lực cạnh tranh về du lịch và lữ hành từ 19 (2016) lên 15

    – Tăng chi tiêu xúc tiến du lịch từ 25% lên 30%

    – Cải cách ngành Du lịch, chú trọng tới việc tăng cường hiệu lực của các quy định

    – Huy động kinh phí cho quỹ phát triển du lịch lên tới 150 nghìn tỷ Won

    – 800 công ty cung cấp dịch vụ du lịch mới của tương lai

    $11.Xây dựng chiến lược phát triển du lịch

    $12.Quan tâm đến bảo vệ khách du lịch

    $13.Nâng cao năng lực phục vụ và nền tảng phát triển du lịch nội địa

    $14.Xây dựng chiến lược riêng biệt cho các thị trường

    $15.Chú trọng thị trường khách du lịch cao cấp

    a.Du lịch bền vững, gắn với

    ii.Du lịch y tế

    iii.Du lịch nông thôn

    iv.Du lịch tàu biển, nâng cấp kết cấu hạ tầng

    1b.Du lịch cao cấp

    $16.Đổi mới du lịch sinh thái

    1a.Công ty du lịch sinh thái sáng tạo, đổi mới

    1b.Ngành Du lịch huy động thêm cho quỹ phát triển du lịch

    1c.Tri trả công bằng cho dịch vụ môi trường

    $17.Hỗ trợ chuyên môn tùy theo loại hình kinh doanh

    1a.Kiến thức, thông tin

    1b.Mở rộng dịch vụ trí tuệ nhân tạo

    $18.Cải cách quy định ngành Du lịch để hỗ trợ tăng trưởng

    1a.Nhanh chóng vượt qua thách thức trong kinh doanh

    1b.Đẩy mạnh xây dựng quỹ hỗ trợ phát triển du lịch

    1c.Cải cách quy định cho ngành Du lịch

    $19.Cải thiện hệ thống pháp lý ngành Du lịch cho tương lai

    1a.Trình Quốc hội Luật Du lịch sửa đổi

    1b.Thường xuyên truyền thông cho chính quyền địa phương

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ẩm Thực: “gia Vị” Cho Phát Triển Du Lịch Hải Phòng
  • Phát Triển Kinh Tế Biển
  • Khai Thác Tiềm Năng Và Lợi Thế Của Ngành Du Lịch Hà Giang
  • Hà Giang: Phát Triển Du Lịch Trải Nghiệm Ba Cùng
  • Để Du Lịch Đồng Tháp Thu Hút Khách Du Lịch
  • Tình Hình Phát Triển Du Lịch Tại Hàn Quốc Và Những Chính Sách Phát Triển Du Lịch Trong Thời Gian Tới – Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch (Itdr)

    --- Bài mới hơn ---

  • Du Lịch Hàn Quốc 2022 Đạt Kỷ Lục Mới Sau Hai Năm Liền Suy Giảm
  • Để Hội An Phát Triển Bền Vững
  • Tiếp Tục Khai Thác Tiềm Năng Đưa Lai Châu Phát Triển
  • Lễ Hội Với Phát Triển Kinh Tế Du Lịch – Góc Nhìn Từ Quốc Tế
  • Phát Triển Du Lịch Mice Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh Của Du Lịch Việt Nam – Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch (Itdr)
  •    Theo báo cáo UNWTO tại kỳ họp Đại hội đồng lần thứ 19 (8-14/10/2011, Gyeongju, Hàn Quốc), dự kiến sẽ có khoảng 1,8 tỷ lượt khách đi du lịch quốc tế vào năm 2030, du lịch sẽ tiếp tục tăng trưởng trong hai thập kỷ tới , thu hút 10% lao động ở các quốc gia Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản…, mặc dù số liệu khách du lịch quốc tế năm 2022 tăng 30,3% so với năm 2022. Doanh thu từ du lịch đạt 17,210 triệu USD

       Tổ chức Du lịch Hàn Quốc (Korean Tourism Organisation – KTO), trực thuộc Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch Hàn Quốc thành lập năm 1962, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về văn hoá, thể thao và du lịch. Thứ trưởng phụ trách về du lịch giúp việc cho Bộ trưởng, chịu trách nhiệm điều hành, chỉ đạo Cục Du lịch. Cục Du lịch gồm 7 phòng: phòng chính sách du lịch, phòng tài nguyên du lịch, phòng công nghiệp du lịch, phòng hợp tác quốc tế, phòng xúc tiến du lịch, phòng phát triển du lịch và nghỉ dưỡng. Hiện tổ chức có 27 văn phòng đại diện ở nước ngoài và 5 văn phòng trong nước với tổng số 765 nhân viên. Các Văn phòng đại diện do Cơ quan Du lịch quốc gia KNTO (Korea National Tourism Organization) quản lý và điều hành, nhân sự cũng do KNTO quyết định. Nhiệm vụ chính của KNTO là quảng bá và phát triển du lịch – là ngành kinh tế chiến lược; xây dựng chính sách phát triển du lịch và thiết lập mối quan hệ hợp tác với các đơn vị tư nhân trong lĩnh vực du lịch.

       – Tổ chức các hội chợ du lịch quốc tế và các sự kiện quảng bá du lịch

       – Xây dựng chiến lược thị trường mới, chú trọng thị trường trọng điểm là Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Mông Cổ, Kazakhstan… và các thị trường chi trả cao như Trung Đông và Nga. Đặc biệt, tăng cường các hoạt động trao đổi du lịch giữa Hàn Quốc – Trung Quốc – Nhật Bản

       – Quản lý chặt chẽ các thị trường đang có xu hướng phát triển nhanh như thị trường Đông Nam Á, Đông Bắc Á, có kế hoạch xây dựng thương hiệu chung “Visit East Asia”

       – Phát triển nội dung các loại hình du lịch dựa vào văn hóa “Làn sóng Hàn Quốc”

       – Phát triển các loại hình sản phẩm du lịch gắn với đạo Hồi, như nhà hàng phục vụ người theo Hồi giáo với các bàn, kệ cầu nguyện…

       – Phát triển các sản phẩm du lịch chăm sóc sức khỏe vì sản phẩm có tính cá biệt hóa đối với từng cá nhân và vì vậy chi tiêu của khách tương đối cao.

       – Có chiến lược quảng bá ở nước ngoài, khai thác lợi thế của các sự kiện giao lưu với các quốc gia khác, như sự kiện Thế vận hội mùa đông châu Á

       – Tạo điều kiện thuận lợi cho khách du lịch (Bộ Tư pháp) thực hiện việc cải thiện thủ tục cấp visa như mẫu đăng ký đơn giản cho các chuyến du lịch khuyến thưởng, ngoại giao, sinh viên các trường đại học danh tiếng trên thế giới, nhân viên các tập đoàn của các quốc gia Đông Nam Á, các quốc gia OECD… Đồng thời, cải tiến thủ tục nhập cảnh, xuất cảnh dễ dàng, tự động hóa cao.

       – Có chính sách cấp visa điện tử cho các thị trường Ấn Độ và Đông Nam Á, bao gồm Indonesia, Việt Nam và Philippines

       – Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và xây dựng kết cấu hạ tầng cho ngành Du lịch, hỗ trợ các doanh nghiệp xây dựng sản phẩm du lịch thông minh, doanh nghiệp số để tạo ra sản phẩm du lịch hội tụ của tương lai đáp ứng yêu cầu phát triển phù hợp với CMCN 4.0

       – Nâng cao năng lực quản trị chặt chẽ, nghiêm khắc xử lý các trường hợp vi phạm luật Du lịch, ví dụ không cho phép phá giá thị trường…

       – Cải thiện điều kiện giao thông xuyên biên giới, các đường bay, và quảng bá chính sách tự do hóa hàng không

       – Có chiến lược xây dựng mô hình hợp tác đa phương về phát triển du lịch, trong đó, chú trọng kênh đối tác với các tổ chức như UNWTO, PATA, Ủy ban Du lịch của OECD, APEC, và ASEAN…

       – Chủ động trong vai trò chủ chốt thu hút các chuyên gia du lịch, các hội nghị, hội thảo cho ngành Du lịch

       – Phổ biến thông điệp mô hình phát triển du lịch thành công của Hàn Quốc đến từng công ty, viện nghiên cứu của Hàn Quốc.

       – Thúc đẩy các dự án có vốn đầu tư nước ngoài (ODA) để tăng cơ hội đầu tư

       – Hiệp hội du lịch Hàn Quốc quảng bá du lịch thông qua chương trình phát sóng các buổi hòa nhạc K-Pop, phim truyền hình Hàn Quốc, gặp gỡ các ngôi sao, người nổi tiếng Hàn Quốc, gắn với trải nghiệm ẩm thực và văn hóa Hàn Quốc.

       – Phát triển thị trường dựa trên sự lớn mạnh của công ty tư nhân và thúc đẩy mô hình quảng bá du lịch dựa trên mối quan hệ đối tác công tư.

       – Cộng đồng khởi nghiệp Hàn Quốc với các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã thành lập “Trung tâm hỗ trợ doanh nghiệp du lịch tiềm năng” (tourism venture incubation Center), với các dịch vụ tư vấn phù hợp (quản lý tài chính, pháp lý, marketing…)

       Kế hoạch Phát triển Du lịch Tương lai

       – Xây dựng Luật Du lịch sửa đổi, đặt trọng tâm cho nhiệm vụ quảng bá du lịch và Chiến lược Phát triển Du lịch Quốc gia, trong đó tăng cường hơn nữa sự tham gia của công chúng vào phát triển du lịch và nâng cao chất lượng hệ thống cơ sở đào tạo nghề và cấp chứng chỉ trong ngành Du lịch.

       – Hình ảnh Hàn Quốc đa dạng được thể hiện trong kế hoạch quảng bá khác nhau cho các thị trường chiến lược.

       – Tạo điều kiện thuận lợi cấp visa cho khách du lịch Trung Quốc, đặc biệt thu hút đối tượng khách có khả năng chi trả cao và chú trọng vào các thị trường đang nổi khác.

       – Xây dựng sản phẩm du lịch chất lượng cao để phục vụ khách du lịch cao cấp

       – Xây dựng sản phẩm du lịch gắn với làn sóng Hàn Quốc, lựa chọn “Nhóm sản phẩm du lịch chăm sóc sức khỏe”. Ngành công nghiệp sáng tạo sẽ trở thành một ngành mang lại giá trị tạo thêm cho du lịch.

       Dự báo đến năm 2022

          – Tăng số lượng khách của các thị trường Nhật Bản, Trung Đông, Trung Quốc và các vùng lãnh thổ từ 6,4 triệu lượt năm 2007 lên 8,5 triệu lượt.

          – Tăng số lượt khách quay trở lại từ 7 triệu lên 15 triệu lượt.

          –  Tỷ lệ khách du lịch đi lẻ tăng từ 75% lên 80%.

          – Thu nhập từ du lịch tăng từ 17 nghìn tỷ Won (15,42 tỷ USD) lên 28 nghìn tỷ Won (25,40 tỷ USD).

          – Tăng thứ hạng năng lực cạnh tranh về du lịch và lữ hành từ 19 (2016) lên 15

          – Tăng chi tiêu xúc tiến du lịch từ 25% lên 30%

          – Cải cách ngành Du lịch, chú trọng tới việc tăng cường hiệu lực của các quy định

          – Huy động kinh phí cho quỹ phát triển du lịch lên tới 150 nghìn tỷ Won

          – 800 công ty cung cấp dịch vụ du lịch mới của tương lai

    Kế hoạch hành động đến năm 2022

    $11.     Xây dựng chiến lược phát triển du lịch

    $12.     Quan tâm đến bảo vệ khách du lịch

    $13.     Nâng cao năng lực phục vụ và nền tảng phát triển du lịch nội địa

    $14.     Xây dựng chiến lược riêng biệt cho các thị trường

    $15.     Chú trọng thị trường khách du lịch cao cấp

    a.      Du lịch bền vững, gắn với

     i.      MICE

    ii.      Du lịch y tế

    iii.      Du lịch nông thôn

    iv.      Du lịch tàu biển, nâng cấp kết cấu hạ tầng

    1b.     Du lịch cao cấp

    $16.     Đổi mới du lịch sinh thái

    1a.      Công ty du lịch sinh thái sáng tạo, đổi mới

    1b.     Ngành Du lịch huy động thêm cho quỹ phát triển du lịch

    1c.      Tri trả công bằng cho dịch vụ môi trường

    $17.     Hỗ trợ chuyên môn tùy theo loại hình kinh doanh

    1a.      Kiến thức, thông tin

    1b.     Mở rộng dịch vụ trí tuệ nhân tạo

    $18.     Cải cách quy định ngành Du lịch để hỗ trợ tăng trưởng

    1a.      Nhanh chóng vượt qua thách thức trong kinh doanh

    1b.     Đẩy mạnh xây dựng quỹ hỗ trợ phát triển du lịch

    1c.      Cải cách quy định cho ngành Du lịch

    $19.     Cải thiện hệ thống pháp lý ngành Du lịch cho tương lai

    1a.      Trình Quốc hội Luật Du lịch sửa đổi

    1b.     Thường xuyên truyền thông cho chính quyền địa phương

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    $11.                  

    UNWTO (2017). Tourism Highlights 2022 Edition. https://www.e-unwto.org/doi/pdf/10.18111/9789284419029

     

    $12.                  

    IMF (số liệu năm 2022); PwC (dự báo cho năm 2030 và 2050)

     

    $13.                  

    BOK – Ngân hàng Hàn Quốc (2014): Nghiên cứu Ngành

     

    $14.                  

    Bộ VHTTDL, Báo cáo tổng hợp Đề án Đẩy mạn thu hút khách du lịch Hàn Quốc đến Việt Nam giai đoạn 2012 – 2022

     

    $15.                  

    Bộ VHDL Hàn Quốc, Ban Hợp tác, Báo cáo phục vụ cuộc họp Bộ trưởng về Kế hoạch Xúc tiến Quảng bá Du lịch Quốc gia, tháng 12/2017

     

    $16.                  

    Trang web https://kto.visitkorea.or.kr/eng/tourismStatics/keyFacts/KoreaMonthlyStatistics/eng/inout/inout.kto?func_name=3

    Truy cập ngày 15/6/2018

    https://www.linkedin.com/pulse/current-status-future-outlook-koreas-tourism-leisure-industry-kim/

    Truy cập ngày 15/6/2018

    Trang web http://www.joneslanglasalle.com.vn/vietnam/en-gb/Research/Vietnam-Spotlight%20on%20the%20Accommodation%20and%20Tourism%20Industry.pdf

    Truy cập ngày 15/6/2018

     

    https://kto.visitkorea.or.kr/eng/tourismStatics/keyFacts/KoreaMonthlyStatistics/eng/inout/inout.kto?func_name=3

    IMF (số liệu năm 2022); PwC (dự báo cho năm 2030 và 2050)

    https://www.linkedin.com/pulse/current-status-future-outlook-koreas-tourism-leisure-industry-kim/

    2014, BOK – Ngân hàng Hàn Quốc: Nghiên cứu Ngành: tỷ số tạo thêm việc làm cho ngành dịch vụ: 17.3; sản xuất: 8.8; du lịch: 18.9

    Bộ VHDL Hàn Quốc, Ban Hợp tác, Báo cáo phục vụ cuộc họp Bộ trưởng về Kế hoạch Xúc tiến Quảng bá Du lịch Quốc gia, tháng 12/2017

    [11] Đối với thị trường khách Hồi giáo, tranh thủ quảng bá vào tháng ăn kiêng Ramadan

    Chiến Thắng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lý Sơn: Cơ Hội Để Trở Thành Khu Du Lịch Quốc Gia
  • Gợi Nghĩ Về Tiềm Năng Di Sản Gắn Với Phát Triển Du Lịch Ở Lý Sơn, Quảng Ngãi
  • Lý Sơn: Tiềm Năng Phát Triển Du Lịch Sinh Thái Gắn Với Cộng Đồng
  • Khai Thác “Kho Tàng Di Sản” Cố Đô Huế Để Phát Triển Du Lịch Bền Vững
  • Quảng Ninh: Sức Hút Từ Ngành Du Lịch Không Khói
  • Luận Văn Ảnh Hưởng Của Tình Hình Kinh Tế , Chính Trị Đến Sự Phát Triển Du Lịch Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Ảnh Hưởng Của Phật Giáo Với Con Người Việt Nam
  • Ảnh Hưởng Của Phật Giáo Đến Đời Sống Tinh Thần Người Việt
  • Sự Du Nhập Của Phật Giáo Vào Nước Ta Và Ảnh Hưởng Của Nó Trong Tk 10
  • Luận Văn Tiểu Luận Ảnh Hưởng Của Triết Học Phật Giáo Đến Đời Sống Tinh Thần Của Người Việt Nam
  • Toàn Cảnh Khu Du Lịch Lá Phong Với Bộ Album Ảnh Cực Chất
  • Xu thế hội nhập , quốc tế hoá trong khu vực và trên thế giới đang diễ ra hết sức mạnh mẽ . Hoà trong xu thế này , du lịch Việt Nam đang đứng trước nhiều thời cơ cũng nhu thách thức mới trong quá trình phát triển và khẳng định mình . Sự bất ổn về kinh tế chính trị tại một loạt các quốc gia trên thế giới trong những năm gần đây , phần nào có những tác động xấu đến du lịch Việt Nam . Tình hình này đặt nghành du lịch non trẻ của nước ta trước những thách thức khó khăn lớn . Nhưng bên cạnh đó , chính những bất ổn này , ở một khía cạnh nào đó lại là một cơ hội cho du lịch Việt Nam có những bước bứt phá . Để làm được điều đó , không phải dễ , nó đòi hỏi nguồn lực từ nhiều cơ quan , bộ , nghành , từ phía doanh nghiệp và chính những ngừơi dân . Tình hình kinh tế chính trị của mỗi quốc gia ảnh hưởng đến du lịch của quốc gia đó như thế nào và ở Việt Nam ra sao . Phân tích những tác động này, không chỉ cho chúng ta thấy được thực trạng đó , mà quan trọng hơn chúng ta thây được nhứng điểm mạnh , điểu yếu của du lịch Việt nam , đâu là thời cơ và đâu là thách thức . Chỉ có hiểu rõ như thế , chúng ta mới có thể đưa ra các đường lối , chính sách phát triển đúng đắn , nhằm khai thác và tận dụng tốt những nguồn lực , tiềm năng của đất nước phục vụ phát triển nhân lực . Phát triển du lịch là phát triển trong một tổng thể của nền kinh tế quốc dân , ổn định và hài hoà đối với các nghành , lĩnh vực kinh tế khác , phát triển du lịch đồng thời phải đảm bảo giữ gìn tình hình chính trị , an toàn xã hội của đất nước . Có thể nói phân tích những ảnh hưởng của nền kinh tế ,chính trị đến sự phát triển du lịch Việt Nam là một yêu cầu tất yếu trong bất cứ giai đoạn nào nhất là giai đoạn hiện nay , là một sinh viên em mong muốn được đặt mình và cương vị một nhà quản lý du lịch , nhìn nhận và đánh giá thực trạng này ở Việt Nam , đưa ra một vài kiến nghị nhỏ . Không phải với hy vọng định hướng cho du lịch Việt Nam phát triển mà là hy vọng qua đây có thể nhận thức đúng đắn hơn về tầm quan trọng của tình hình kinh tế chính trị với sự phát triển của du lịch . Đó là lý do em chọn đề tài “Ảnh hưởng của tình hình kinh tế , chính trị đến sự phát triển du lịch ở Việt Nam I, C¬ së lý luËn chung

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tác Động Của Du Lịch Đến Kinh Tế
  • 10 Nguyên Tắc Du Lịch Một Mình
  • Là Người Trẻ, Hãy Thử Đi Du Lịch Một Mình Ít Nhất Một Lần Trong Đời
  • Xem Ngày Đẹp Đi Du Lịch Và Giờ Xuất Hành Tốt Nhất Tháng 1/2021 * Du Lịch Số
  • Cuối Năm Nên Đi Du Lịch Ở Đâu? Chọn Điểm Đến Theo Phong Cách Của Bạn!
  • Phát Triển Loại Hình Du Lịch Biển Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Điều Kiện Để Xin Visa Du Lịch Bỉ Thành Công Mà Bạn Nên Biết
  • Du Lịch Miền Quê Việt Nam
  • Những Điều Cần Lưu Ý Khi Du Lịch Bhutan
  • Bật Mí Kinh Nghiệm Du Lịch Hàn Quốc Mùa Xuân Hữu Ích Nhất Cho Bạn
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Hàn Quốc Mùa Xuân
  • --- Bài cũ hơn ---

  • Du Lịch Bụi An Giang
  • Đi Du Lịch Hồng Kông Cần Chuẩn Bị Những Gì
  • Cẩm Nang Du Lịch Brunei Từ A Đến Z
  • Đón Khách Tại Bến Tàu Du Lịch Mỹ Tho Tiền Giang
  • Ngành Hướng Dẫn Viên Du Lịch Là Gì? Học Những Gì ?
  • Phát Triển Du Lịch Biển Đảo Ở Hội An

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Vấn Đề Trong Phát Triển Du Lịch Bền Vững Đảo Phú Quốc, Kiên Giang – Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch (Itdr)
  • Phát Triển Du Lịch Biển – Đảo Xây Dựng Thương Hiệu Điểm Đến Du Lịch Quảng Bình
  • Thừa Thiên Huế: Phát Triển Du Lịch Nông Nghiệp Nông Thôn, Du Lịch Cộng Đồng
  • Thúc Đẩy Du Lịch Đà Nẵng Phát Triển
  • Đà Nẵng Đổi Mới Công Tác Xúc Tiến, Quảng Bá Du Lịch
  • Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm là một trong những 

    địa điểm du lịch Hội An Đà Nẵng

     nổi tiếng, với bãi tắm sạch, đẹp cùng hệ sinh thái đa dạng – biển đảo đang trở thành hướng phát triển chủ đạo của du lịch Hội An những năm đến nhằm mang đến sự đa dạng sản phẩm cho du khách.

    “Cánh tay nối dài”

    Gần 20 năm qua thương hiệu du lịch Hội An đã khẳng định được vị trí vững chắc trên bản đồ du lịch Việt Nam và thế giới với tốc độ tăng trưởng khách bình quân hàng năm từ 10 – 13%, trở thành điểm không thể thiếu của du khách khi đến miền Trung. Nhiều sản phẩm gắn với giá trị di sản đã được khai thác, mang đến cho du khách những cảm nhận thú vị về bề dày lịch sử, văn hóa của vùng đất thương cảng xưa. Tuy nhiên, trong bối cảnh một số sản phẩm tại phố cổ không còn nhiều hấp dẫn du khách thì việc mở rộng không gian du lịch về phía biển đảo trở thành chiến lược trọng tâm của thành phố. Đây được xác định là “cánh tay nối dài” cho việc phát triển các loại hình, sản phẩm du lịch kết hợp giữa đất liền với biển đảo; giữa di sản văn hóa với môi trường sinh thái, thiên nhiên; giữa du lịch trải nghiệm với du lịch hưởng thụ nhằm tạo nên sự phong phú, riêng biệt và đầy sức hút. “Thật ra du lịch biển đã được thành phố quan tâm từ rất sớm, bằng chứng là sự xuất hiện của nhiều dự án và các khu resort ven biển thu hút khoảng 30% lượng khách lưu trú thường xuyên khi đến Hội An. Tuy nhiên, để phát triển như một chiến lược hoàn chỉnh, trong đó có sự lồng ghép, đan xen, tác động, bổ sung lẫn nhau giữa các giá trị di sản phố cổ và thế mạnh biển đảo để hình thành nên một chuỗi sản phẩm đa dạng thì vẫn chưa đáp ứng được” – ông Trương Văn Bay, Phó Chủ tịch UBND TP.Hội An nói.

    Khu du lịch sinh thái – Cù Lao Chàm

    Để hiện thực hóa hướng đi này, thời gian qua thành phố đã tiến hành đầu tư nâng cấp hạ tầng các tuyến đường ven biển, nhất là chất lượng hạ tầng các cơ sở lưu trú cao cấp. Ngoài ra, địa phương cũng khoanh vùng xây dựng 10 khu công viên biển xen kẽ những khu resort ven 

    biển Cửa Đại

    , Cẩm An. Đặc biệt, với mục tiêu đẩy mạnh khai thác dịch vụ du lịch từ biển đảo gắn với Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm và di sản thế giới Hội An theo hướng phát huy hiệu quả các tiềm năng du lịch nhưng vẫn đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững, thành phố đã ban hành một số chính sách cụ thể như Đề án quản lý khai thác các bãi biển du lịch Hội An từ nay đến năm 2022. Trong đó, tập trung đầu tư hạ tầng dịch vụ, thực hiện tốt công tác cứu hộ, an ninh trật tự, vệ sinh môi trường, giữ gìn cảnh quan, giải quyết tốt mối quan hệ giữa bảo vệ và khai thác nhằm xây dựng bãi biển Hội An an toàn, văn minh. Ngoài ra, thành phố cũng tranh thủ các nguồn lực của đề án quản lý khai thác bãi tắm của tỉnh để đầu tư, hoàn thiện nâng cao chất lượng phục vụ du khách tại bãi tắm Cửa Đại… “Chính quyền thành phố luôn tạo cơ chế thông thoáng, thu hút các doanh nghiệp đầu tư tại các khu công viên ven biển và tại Cù Lao Chàm để tạo ra các sản phẩm du lịch mới phục vụ du khách, góp phần nâng cao thu nhập cộng đồng địa phương” – ông Bay khẳng định.

    Nỗi lo từ biển

    Phát triển du lịch biển

     đã trở thành hướng đi hiệu quả của nhiều địa phương mà Đà Nẵng là một trong những điển hình thành công. Tuy nhiên, trong bối cảnh ảnh hưởng mạnh mẽ của biến đổi khí hậu, nhất là hiện tượng xâm thực bờ biển, áp lực về sức tải, sức chứa, công tác vệ sinh môi trường, bảo vệ cảnh quan tự nhiên, đặc biệt là những căng thẳng, bất ổn trên biển Đông cũng đã đặt ra cho du lịch biển đảo Hội An không ít nguy cơ và thách thức. “Điều quan tâm nhất của doanh nghiệp hiện nay là sự ổn định của bờ biển trong mùa mưa bão” – ông Claude M. Balland, Tổng Giám đốc Khách sạn Victoria Hội An cho biết. Khách sạn Victoria là một trong những “nạn nhân” bị ảnh hưởng nặng nề của hiện tượng biển xâm thực với tốc độ xói lở bình quân mỗi năm trên 10m. Đây cũng là trình trạng chung của nhiều khu du lịch ven biển Cửa Đại hiện nay. Ngoài ra, trình độ quản lý, xây dựng sản phẩm du lịch từ biển mang tính đặc trưng không trùng lặp với những địa phương khác… cũng là bài toán cần giải quyết của ngành du lịch Hội An. Riêng đối với phát triển du lịch biển đảo Cù Lao Chàm, áp lực về lượng khách gia tăng vượt khả năng cung cấp dịch vụ tại chỗ hay sản phẩm du lịch nghèo nàn, hạ tầng cầu cảng yếu kém, trình độ nhân lực, quản lý chưa hiệu quả… là những áp lực thực tế đòi hỏi chính quyền thành phố có chiến lược điều chỉnh hợp lý, hướng đến phát triển bền vững trong tương lai.

    Phát triển du lịch biển

    Ông Trương Văn Bay thừa nhận những thách thức trên là một thực tế trong chiến lược phát triển du lịch biển đảo của thành phố, tuy vậy với sự nỗ lực chung của các cấp ngành, sự hưởng ứng của nhân dân xã đảo Tân Hiệp, du lịch biển nói chung và Cù Lao Chàm sẽ tìm ra cách đi hiệu quả. Đặc biệt, năm 2022 khi điện lưới quốc gia được kéo về xã đảo sẽ mở ra cơ hội lớn để du lịch Cù Lao Chàm phát triển ổn định. “UBND thành phố đã có chủ trương khai thác các bãi biển mới ở Cù Lao Chàm như bãi Nần, bãi Xếp, bãi Cụt, bãi Ruộng để phục vụ cho phát triển du lịch dịch vụ theo những hình thức phù hợp, đảm bảo phát triển bền vững. Ngoài ra, thành phố cũng đã có chủ trương phát triển một số tuyến điểm du lịch mới trên đảo như tham quan eo Gió bằng đường bộ, tham quan khu vực hồ Bìm, hang yến, bãi Hương…” – ông Bay cho biết thêm.

    Mỗi địa phương đều có những lợi thế và điều kiện khác nhau để phát triển các sản phẩm du lịch phù hợp. Du lịch biển đảo luôn được đánh giá là có sức hút mạnh mẽ với nhiều thị trường khách trên thế giới, kể cả nội địa. Xây dựng chiến lược phát triển du lịch với không gian hướng về biển đảo sẽ là hướng đi phù hợp trong tình hình hiện nay nhằm không chỉ mang đến sự đa dạng sản phẩm mà còn tạo ra sự kết hợp hoàn hảo giữa các giá trị truyền thống văn hóa, lịch sử và chăm sóc tài nguyên thiên nhiên, tôn trọng tự nhiên. Đó chính là sự phát triển bền vững mà du lịch Hội An đang hướng tới trong những năm đến.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kiến Thiết Cơ Chế, Chính Sách Cho Hội An
  • Toạ Đàm “Làm Thế Nào Để Du Lịch Hội An Tốt Hơn?”
  • Đà Nẵng: Phát Triển Du Lịch Chất Lượng Cao, Có Thương Hiệu, Có Khả Năng Cạnh Tranh Quốc Tế
  • Du Lịch Thái Lan Tìm Cách Sống Còn Và Đi Tìm Bản Sắc Mới
  • Kinh Nghiệm Về Xây Dựng Chiến Lược Phát Triển Du Lịch Của Thái Lan – Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch (Itdr)
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100