Vấn Đề Môi Trường Du Lịch Ở Việt Nam

--- Bài mới hơn ---

  • 4 Vấn Đề Trọng Tâm Của Du Lịch Việt Nam
  • Khám Phá Văn Hóa Ẩm Thực Trong Tour Du Lịch Hồng Kông
  • Văn Hóa Ẩm Thực Trong Phát Triển Du Lịch Quảng Nam
  • Khai Thác Văn Hóa Ẩm Thực Trong Du Lịch
  • Văn Hóa Du Lịch Là Gì
  • Trong thời gian vừa qua, khách quốc tế đến Việt Nam có dấu hiệu giảm, một trong những nguyên nhân được chỉ ra là môi trường du lịch thiếu an toàn.

    Tại các tỉnh thành có hoạt động du lịch phát triển như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Đà Nẵng và Bà Rịa – Vũng Tàu, nạn “chặt chém”, đeo bám du khách được phản ánh là gia tăng đáng báo động.

    Lại gia tăng tình trạng “chặt chém”

    Dễ nhận thấy nhất là tình trạng tài xế taxi ăn chặn tiền. Trước đây, vi phạm chủ yếu là các taxi nhái nhãn hiệu, hoạt động tự do không có đơn vị quản lý, nhưng hiện nay nhiều tài xế taxi chính hãng cũng có những hành vi gian dối, ăn chặn tiền của du khách.

    Lợi dụng khách nước ngoài không am hiểu ngôn ngữ, cánh tài xế tìm đủ mọi cách để “chặt chém” du khách. Lập lờ giữa tiền Việt và USD cũng là cách các tài xế này qua mặt du khách nước ngoài. Những trường hợp du khách nước ngoài đổi ngoại tệ ra tờ 200.000 đồng hoặc 500.000 đồng để trả tiền cho món hàng chỉ vài chục ngàn, nhưng người bán hàng… không trả lại tiền dư.

    Anh Jean – Jacques Barre của Hãng lữ hành Freewheelin Tours cho biết: “Đa số khách của tôi hễ tự đi taxi đều gặp cảnh bị “chặt chém”. Tôi nghe rất nhiều lời phàn nàn về taxi ở Hà Nội, nào là bị tính giá cắt cổ, đồng hồ tính cước trên taxi nhảy nhót loạn xạ… Nhiều du khách bị đưa đi lòng vòng, từ đầu phố đến cuối phố khoảng 1 km, nhưng taxi đưa khách qua nhiều con phố khác rồi mới quay lại điểm cần đến”.

    Sự hài lòng của du khách là tiền đề phát triển bền vững cho ngành du lịch Việt Nam. Ảnh: Lê Phú

    Phản ánh của nhiều du khách trong dịp cao điểm nghỉ lễ, hè cho thấy, tại hầu hết các điểm du lịch đều xảy ra tình trạng khách sạn, phương tiện vận chuyển, ăn uống tăng giá gấp 2 – 3 lần so với ngày thường. Các cơ sở dịch vụ “chặt chém” bằng nhiều chiêu thức khác nhau như không niêm yết giá hoặc niêm yết giá chung chung.

    Tình trạng lập lờ về giá xảy ra phổ biến đối với mặt hàng hải sản như cân không chính xác; tăng giá thực phẩm vô tội vạ… Việc chủ quán chi hoa hồng từ 20 – 30% cho tài xế, xích lô nếu đưa được khách đến quán cũng dẫn đến nạn chèo kéo và đưa du khách đến quán ăn “chặt chém”. Tiếp tay cho tình trạng này có cả hướng dẫn viên du lịch nhằm hưởng tiền hoa hồng.

    Các hiện tượng trên tác động xấu đến tâm lý du khách, nhất là đối với khách quốc tế, làm giảm sức hấp dẫn của ngành du lịch Việt Nam; đã có nhiều bài viết đăng trên báo nước ngoài, báo điện tử, lan truyền rất nhanh trên mạng Internet, tạo nên dư luận tiêu cực về hình ảnh du lịch Việt Nam.

    Chính vì vậy, kết quả điều tra về tình trạng cướp giật, xâm hại tài sản của du khách chủ yếu dừng lại ở việc tiếp nhận thông tin. Ông Lã Quốc Khánh, Phó Giám đốc Sở VH,TT&DL TP Hồ Chí Minh cho rằng: Để dẹp nạn cướp giật hoành hành, ngành du lịch thành phố đã phối hợp với các lực lượng chức năng và các quận trọng điểm vào cuộc quyết liệt. Thế nhưng, đến tháng 5, chiến dịch buông lỏng, lập tức tình trạng xâm phạm tài sản của du khách tăng lên. Nếu chỉ phát động thành chiến dịch trong một thời gian ngắn mà không làm quyết liệt, thường xuyên thì rất khó để dẹp bỏ những vấn nạn trên.

    Cần chế tài đủ sức răn đe

    “Đa số người bán hàng rong là những người có thu nhập thấp không có điều kiện để mở một cửa hàng nhỏ để bán. Nếu ngành chức năng mở đợt ra quân xử phạt chỉ được một thời gian rồi họ cũng tìm cách trở lại”, anh Nguyễn Hùng, hướng dẫn viên lâu năm cho biết. “Đối tượng bị cướp giật, đeo bám, bắt chẹt khách thường gặp với đối tượng khách nước ngoài; còn khách nội địa thường gặp tình trạng nâng giá, ép giá tùy tiện”.

    Chính vì vậy, muốn giải quyết được tình trạng “chặt chém”, đeo bám du khách, cơ quan chức năng cần giải quyết tận gốc vấn đề về an sinh xã hội. Trong đó, quan trọng nhất là để người dân sống có thu nhập chính đáng từ dịch vụ du lịch.

    Một số địa phương thành lập lực lượng xử lý nhưng mỗi nơi một kiểu như tại Đà Nẵng thành lập Trung tâm hỗ trợ du khách; TP Hồ Chí Minh có lực lượng bảo vệ du khách, lực lượng thanh niên xung phong… Một số nơi yêu cầu niêm yết công khai giá dịch vụ, quy định mức sàn như tại Hội An (Quảng Nam), Đà Nẵng, Sầm Sơn (Thanh Hóa)…; Đặt biển quy định cấm hàng rong, đeo bám du khách tại Vũng Tàu; Lập đường dây nóng tại hiệp hội taxi Hà Nội, Sa Pa (Lào Cai)…

    Theo Tổng cục Du lịch, mặc dù việc cấp biển hiệu đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch cho các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, mua sắm trên cơ sở tự nguyện có từ năm 2008 do Sở VH,TT&DL các địa phương cấp biển hiệu, nhưng 4 năm qua, cả nước chưa có tổng kết về số lượng và chất lượng các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, mua sắm đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch.

    Chiến dịch “Nụ cười Việt Nam”

    Để xảy ra tình trạng “chặt chém”, đeo bám khách, Bộ VH,TT&DL chỉ ra một số nguyên nhân như: “Chính quyền một số địa phương còn buông lỏng quản lý môi trường du lịch. Các cơ sở kinh doanh còn có tình trạng lừa đảo, cướp giật, chèn ép du khách nhưng chính quyền sở tại chưa có giải pháp hữu hiệu để trấn áp, quản lý.

    Bên cạnh đó, các đối tượng vi phạm chỉ bị xử lý vi phạm hành chính, không đủ tính răn đe, dễ tái phạm và thường có biểu hiện liều lĩnh hơn trong những lần vi phạm sau. Trong khi đó, lực lượng ngăn chặn chủ yếu là dân quân tự vệ, thanh niên xung phong… không chuyên trách nên thi hành nhiệm vụ không ít trường hợp bị các đối tượng tỏ thái độ coi thường, chống lại”.

    Để hạn chế tình trạng “chặt chém”, đeo bám khách, Bộ VH,TT&DL dự kiến phát động chiến dịch “Du khách chính là người thân của mình” hoặc chiến dịch “Nụ cười Việt Nam” với mục tiêu giảm 30% số vụ việc xâm hại tài sản, tính mạng của khách du lịch (so với năm 2013); Đảm bảo ổn định giá cả dịch vụ phục vụ du lịch, tăng không quá 35% các dịp cao điểm, giảm 50% số vụ bắt chẹt giá cả khách du lịch khi tham gia giao thông và các dịch vụ du lịch (so với năm 2013); Không còn tình trạng đeo bám, chèo kéo khách du lịch tại các khu, điểm du lịch quốc gia.

    Các giải pháp có thể áp dụng làm ngay như cung cấp thông tin chính xác về y tế, an ninh… qua Internet và các ấn phẩm, cẩm nang du lịch để du khách lựa chọn, phòng ngừa. Lập danh sách công bố công khai các địa điểm dịch vụ phục vụ du lịch đạt chuẩn, tin cậy và khuyến cáo các địa điểm không nên đến. Chỉ đạo các đơn vị thực hiện quy trình tiếp nhận, xử lý thông tin khi xảy ra vụ việc du khách bị xâm hại, nhất là du khách người nước ngoài; tổ chức phối hợp xác minh ngay để truy xét bắt đối tượng, ngăn chặn tình trạng bán hành rong, lấn chiếm vỉa hè.

    Tại cuộc họp Ban chỉ đạo Nhà nước về du lịch mới được tổ chức, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân đã đặt câu hỏi: Để xảy ra tình trạng “chặt chém” chèo kéo đu bám khách, ai chịu trách nhiệm: ngành du lịch hay của người đứng đầu địa phương? Muốn bảo vệ du khách, ngành du lịch không thể một mình làm được. Để giải quyết tận gốc vấn đề phải tìm ra nguyên nhân, động cơ để một số người “chặt chém”.

    Mục đích muốn kiếm thêm thu nhập, vậy có cách nào điều tiết giữa thu lợi nhuận nhưng vẫn đảm bảo an toàn cho khách du lịch. Bộ VH,TT&DL hoàn thiện đề án với mục tiêu là “Việt Nam điểm đến hấp dẫn, an toàn thân thiện và văn minh”. Nụ cười của khách du lịch là tương lai của du lịch Việt Nam. Chúng ta phải lấy sự hài lòng của khách du lịch là tiền đề phát triển bền vững cho ngành du lịch Việt Nam.

    “Về giải pháp thực hiện, Bộ VH,TT&DL cần xây dựng trình Thủ tướng ban hành Chỉ thị hoàn thiện môi trường văn hóa Việt Nam từ nay đến 2022. Trong các giải pháp, tôi thấy việc thành lập Trung tâm hỗ trợ du khách là cần thiết. Các tỉnh cần thành lập các trung tâm tại các điểm du lịch lớn. Bộ VH,TT&DL cần tham khảo địa phương để có hướng dẫn thành lập các trung tâm này. Bên cạnh đó cần có sự phối hợp giữa các cơ quan ở địa phương về công tác du lịch.

    Bộ VH,TT&DL chủ trì, phối hợp với Bộ Công thương đề xuất, rà soát lại các văn bản về xử phạt hành chính trong lĩnh vực du lịch. Một vấn đề khác là công bố các danh sách đơn vị dịch vụ, thương mại đủ điều kiện kinh doanh về du lịch rất cần. Đồng thời có biểu tượng để khách hàng nhận biết, tiếp cận những cơ sở đạt chuẩn một cách rộng rãi.

    Bên cạnh đó cần phân cấp quản lý theo cách, thành phố có BQL thì tại các địa điểm du lịch, cấp quận huyện, phường cũng phải có BQL du lịch riêng để sát sao tình hình, xử lý kịp thời những phát sinh xảy ra với du khách”, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân nhấn mạnh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Vấn Đề Về Du Lịch Tâm Linh Ở Việt Nam
  • Sản Xuất Vali Du Lịch Tại Hải Phòng
  • Kinh Nghiệm Mua Vali Kéo Du Lịch Giá Rẻ Tại Tphcm, Hà Nội
  • Khẳng Định Vai Trò Của Ngành Du Lịch Trong Nền Kinh Tế Việt Nam
  • Vị Trí Và Vai Trò Của Ngành Du Lịch
  • Những Vấn Đề Về Du Lịch Tâm Linh Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Vấn Đề Môi Trường Du Lịch Ở Việt Nam
  • 4 Vấn Đề Trọng Tâm Của Du Lịch Việt Nam
  • Khám Phá Văn Hóa Ẩm Thực Trong Tour Du Lịch Hồng Kông
  • Văn Hóa Ẩm Thực Trong Phát Triển Du Lịch Quảng Nam
  • Khai Thác Văn Hóa Ẩm Thực Trong Du Lịch
  • Việt Nam hàng năm có tới 8.000 lễ hội diễn ra trên khắp các vùng miền đất nước, có hơn 44.000 địa danh, danh thắng và di tích lịch sử, trong đó hơn một nửa là nơi có thể khai thác mô hình du lịch tâm linh.

    Mời bạn đón đọc các phân tích – nghiên cứu về du lịch

    Chúng ta ai cũng có thể biết đến các địa điểm du lịch tâm linh nổi tiếng cả nước như: Đền Hùng (Phú Thọ), Yên Tử (Quảng Ninh), chùa Bái Đính (Ninh Bình), Phủ Dầy (Nam Định), chùa Từ Đàm (Huế), Tam Chúc (Hà Nam)…và rất nhiều địa danh khác nữa. Điều đáng nói là các khu di tích, thắng cảnh, tập trung chủ yếu là đền đài, chùa chiền, miếu mạo, lăng tẩm, khu tưởng niệm, trong đó hơn 3.000 địa danh được xếp hạng di tích quốc gia.

    Đi kèm di tích là các hoạt động văn hóa, tín ngưỡng, như thờ cúng tổ tiên, dòng tộc, tri ân anh dùng dân tộc, danh nhân, hoặc lễ bái, cầu xin những điều tốt lành cho con người, cho quốc thái dân an. Chính kho tàng văn hóa và tín ngưỡng phong phú trên đã tạo nên cốt cách và bản sắc của dân tộc Việt Nam, và trở thành những điểm du lịch hấp dẫn du khách, trong đó chủ yếu là du lịch tâm linh.

    Như thế để thấy rằng du lịch tâm linh ở nước ta có tiềm năng rất lớn, vấn đề là làm sao để biết khai thác hiệu quả, đúng quy định mà không làm mất đi bản sắc tốt đẹp vốn có của nó bởi vấn đề tâm linh luôn là một lĩnh vực rất nhạy cảm và nhiều khi dễ bị lợi dụng vào các mục đích xấu.

    Khái niệm du lịch tâm linh đã có từ lâu trên thế giới, nhưng ở nước ta mới chỉ được nói đến trong khoảng hơn chục năm qua khi mà điều kiện kinh tế, xã hội phát triển, đời sống vật chất và tinh thần con người được nâng lên. Đặc biệt là sau sự kiện Việt Nam lần đầu tiên tổ chức Hội nghị quốc tế về du lịch tâm linh tại Ninh Bình (tháng 11-2013) theo sáng kiến của Tổng Thư ký Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO) Taleb Rifai thì du lịch tâm linh ở nước ta càng nở rộ.

    Theo đánh giá của UNWTO, du lịch tâm linh là loại hình du lịch mà Việt Nam là nước có thế mạnh về lĩnh vực này. Vậy phải hiểu thế nào là du lịch tâm linh?

    Có thể nói một cách ngắn gọn du lịch tâm linh là một loại hình du lịch lấy yếu tố tâm linh là mục tiêu để thỏa mãn nhu cầu từ con người. Vì thế du lịch tâm linh thường diễn ra các hoạt động khai thác giá trị văn hóa phi vật thể về tín ngưỡng, tôn giáo để thỏa mãn nhu cầu tâm linh của con người, mang đến cho du khách những cảm xúc thiêng liêng, sâu thẳm trong tâm hồn. Du lịch tâm linh là chuyến du lịch khám phá thế giới tâm linh để trở về với thế giới nội tâm, lắng nghe và tìm về những điều tốt đẹp.

    Đi sâu vào cuộc hành trình tâm linh này, người ta có thể rũ bỏ những ưu phiền, khổ đau để có được một tâm hồn tự do và hạnh phúc, lòng ngập tràn niềm vui sống cùng tình yêu thương bao la, vô tận… Về bản chất, tâm linh gắn liền và biểu hiện những cái thiêng liêng, cao cả, siêu việt trong đời sống tinh thần, đời sống sinh hoạt xã hội của con người, nhất là những cư dân vùng Á đông nói chung trong đó ở Việt Namvăn hóa tâm linh đã tạo nên chiều sâu, sức sống cho nền văn hóa cộng đồng, dân tộc.

    Trong xu thế phát triển chung của ngành du lịch, ở nước ta những năm gần đây, loại hình du lịch tâm linh với các tour hành hương về đất tổ, tham quan vùng văn hóa với các di sản, di tích văn hóa độc đáo, thăm viếng các cơ sở thờ tự, di tích, danh thắng… được tổ chức ngày càng nhiều. Du lịch tâm linh đáp ứng nhu cầu thư giãn, thưởng ngoạn, tìm hiểu phong tục, tập quán, tín ngưỡng của du khách. Các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể trải dài trên khắp đất nước, vừa mang tính thiêng liêng, vừa mang tính thẩm mỹ, chính là đối tượng tìm hiểu của du khách bốn phương. Họ kết hợp giữa du lịch và hành hương để đến với những địa điểm vừa có ý nghĩa tôn giáo và tín ngưỡng, vừa có cảnh đẹp. Du khách không chỉ tìm hiểu được những thông tin về cội nguồn lịch sử, cội nguồn văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng bản địa, mà còn được gắn bó, giao tiếp, ứng xử cùng nhau trong môi trường đậm đặc chất thiêng. Như vậy, du khách được đáp ứng cả nhu cầu du lịch và nhu cầu tâm linh. Đây là những môi trường đặc thù cả về vật thể và phi vật thể, vừa hấp dẫn, vừa tạo niềm tin cho du khách. Họ không chỉ thưởng ngoạn, tham quan, khám phá hay chiêm bái, cầu nguyện… mà còn tăng cường được sợi dây gắn kết con người với thiên nhiên cũng như gia tăng niềm tin, nâng cao đời sống tâm hồn. Với ý nghĩa đó du lịch tâm linh là điều không thể thiếu được ở một đất nước hơn 90 triệu dân với nhiều tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau mang đậm văn hóa tâm linh như ở Việt Nam ta.

    Vậy những cái được mà du lịch tâm linh mang lại là gì? Câu trả lời là nó mang lại cả giá trị vật chất và tinh thần cho con người. Đó là điều không thể phủ nhận. Trong những năm gần đây, các điểm di tích lịch sử văn hoá, đền, chùa nổi tiếng của các vùng miền trên cả nước lại thu hút một lượng lớn du khách thập phương hành hương về chiêm bái, lễ Phật, cầu bình an cho một năm mới. Loại hình du lịch văn hoá tâm linh đang ngày càng phát triển, có sức hấp dẫn đặc biệt với du khách, đặc biệt, tăng mạnh vào những dịp đầu năm, các điểm du lịch tâm linh thu hút rất đông khách hành hương. Bên cạnh những cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng nổi tiếng, thì lễ hội cổ truyền là địa điểm và môi trường đáp ứng tốt nhất cho việc khai mở, phát triển các tuyến, tour du lịch tâm linh. Hơn nữa, thực tế cho thấy, dù lễ hội hòa đồng, gắn kết với các di tích, danh thắng, di sản tôn giáo, tín ngưỡng ở cấp độ hay quy mô nào, cũng là những lễ hội vừa thiêng liêng, nghiêm cẩn, vừa thư giãn, vui vẻ.

    Đó là về mặt tinh thần, còn về lợi ích vật chất thì sao? Chúng ta đều hiểu rằng khi các khu du lịch tâm linh mở ra thường kéo theo bao nhiêu thứ dịch vụ khác mang lại những khoản thu nhập không hề nhỏ, thậm chí là khổng lồ. Đó là tiền bán vé vào tham quan, là dịch vụ ăn uống, nghỉ ngơi, phí trông giữ xe cộ, bán hàng lưu niệm, tiền công đức…Với những khu du lịch có quy mô lớn được đầu tư và tổ chức một cách bài bản như Bái Đính, Đền Hùng, Tam Chúc, Hương Sơn, Yên Tử…thì số tiền thu được ở đây là rất lớn.

    Được biết chỉ trong một mùa lễ hội, số “tiền lẻ” mà khách thập phương để lại ở chùa Hương đem gửi ở chi nhánh ngân hàng huyện Mỹ Đức đã lên tới 1.200 bao tải, với tổng trị giá khoảng 22 tỷ đồng tiền công đức. Ở Yên Tử, năm cao nhất thu tới 31 tỷ đồng. Còn ở Bái Đính nếu như năm 2005, toàn tỉnh đón 1 triệu lượt khách du lịch với doanh thu 60 tỷ đồng, thì đến năm 2012 địa phương đã đón trên 3,7 triệu lượt khách và doanh thu trên 800 tỷ đồng. Năm 2013, đón khoảng 5 triệu lượt khách, trong đó 2/3 là khách tham gia hành trình du lịch tâm linh, doanh thu dự kiến đạt khoảng gần 1.000 tỷ đồng.

    Chúng ta thấy rất rõ điều này khi cách đây hơn 10 năm, Bái Đính là một vùng đất chưa được du khách biết đến, cuộc sống của người dân nơi đây khó khăn, kham khổ. Thế nhưng, từ khi dự án xây dựng chùa Bái Đính đi vào hoạt động, đời sống xã hội từng bước được cải thiện, người dân Ninh Bình đã cùng chính quyền địa phương tích cực hơn trong việc tham gia gìn giữ bảo vệ các giá trị văn hóa tâm linh, công trình kiến trúc tôn giáo, để vừa phục vụ cho đời sống tinh thần của cộng đồng và vừa phát triển du lịch.

    Với định hướng phát triển du lịch tâm linh theo hướng khai thác những giá trị nổi trội về cảnh quan thiên nhiên, văn hóa truyền thống gắn với quy hoạch liên kết vùng, du lịch tâm linh trở thành động lực thu hút khách, thúc đẩy hoạt động dịch vụ du lịch khác, tạo sự đa dạng cho du lịch Việt Nam, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế – xã hội theo hướng bền vững.

    Nhưng bên cạnh những cái được mà du lịch tâm linh mang lại thì đâu đó vẫn còn nhiều cái chưa được, thậm chí cả cái mất khiến chúng ta không khỏi quan tâm, lo lắng. Trước hết phải nói tới tình trạng thương mại hóa diễn ra ở nhiều nơi dưới danh nghĩ du lịch tâm linh. Có lẽ những nhà quản lý hay các chủ đầu tư các khu du lịch tâm linh này nhận thấy đây là hình thức làm kinh tế mới, tạo ra siêu lợi nhuận dựa trên tín ngưỡng của người dân để rồi đưa ra các mức thu tiền một cách thoải mái, tùy tiện gọi là vé vào tham quan. Ví dụ như du khách đến Yên Tử đi từ hướng Uông Bí Quảng Ninh phải mua vé 40.000 đồng/lần/người lớn và 20.000 đồng/lần/trẻ em (được biết hình thức thu này sẽ kéo dài trong 10 năm). Thấy đây là nguồn lợi lớn nên ngay lập tức tỉnh hàng xóm Bắc Giang năm nay cũng khai mở tuần văn hóa du lịch “khám phá vùng đất thiêng Tây Yên Tử” với lễ cung tiến tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông , tượng Pháp Loa và Huyền Quang hoành tráng không kém và đương nhiên ai đi theo hướng này cũng phải mua vé vào cửa với mức giá như trên mặc dù quãng đường chỉ bằng 1/4 đi từ hướng đông. Thế nghĩa là đi hướng nào cũng phải mua vé vào chùa. Vì vậy có người đã gọi đây là “BOT cổng chùa”. Cũng từ chuyện đầu tư xây chùa, các khu du lịch tâm linh để thu tiền nên trong dư luận gần đây nổi lên nghi vấn liệu có hay không việc cán bộ, công chức góp tiên xây chùa để trục lợi. Và việc này đã được một số đại biểu Quốc hội nêu ý kiến chất vấn tại kỳ họp thứ 7 khóa XIV vừa qua và đích danh Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch cùng Bộ trưởng Bộ Nội vụ phải trả lời trước Quốc hội. Và câu trả lời của hai vị Bộ trưởng là”hiện chưa phát hiện trường hợp cán bộ, công chức nào góp tiền xây dựng chùa để kinh doanh trục lợi”. Như thế là vấn đề vẫn đang còn bỏ ngỏ vì “chưa phát hiện ra trường hợp nào”, nhưng rõ ràng dư luận thì vẫn còn nhiều quan ngại về vấn đề này. Thương mại hóa còn thể hiện ngay chính nơi diễn ra các hoạt động tâm linh cụ thể là tại các đình chùa, miếu mạo, di tích, đền đài… người ta đặt quá nhiều hòm công đức với mục đích để thu thật nhiều tiền, chứ không chỉ đơn thuần là tiền giọt dầu như trước đây các cụ nhà ta vẫn làm.

    Và điều đáng nói nữa là tất cả các khoản thu được ấy (số tiền này rất lớn) thì những ai được biết và được sử dụng chi tiêu như thế nào thì không ai rõ. Ngay các nhà quản lý các địa phương là lãnh đạo Sở VHTT&DL cũng không nắm được mà chỉ tin vào “lòng thành” của các phật tử, các nhà đầu tư mà thôi. Đôi khi người ta còn “ngại” nói đến chuyện tiền nong ở chốn linh thiêng và cho rằng nếu mình không biết thì thần phật sẽ biết …Thế nên chúng ta chưa thể giám sát, minh bạch hóa các khoản thu chi và chính sách thuế với các doanh nghiệp bỏ tiền đầu tư các khu du lịch tâm linh, và việc thất thoát, trốn tránh nghĩa vụ đóng góp ngân sách cho địa phương là điều dễ xảy ra. Và đã có chuyện những người xấu, tham lam đã lợi dụng biển thủ cả tiền công đức ở các khu di tích, đình chùa mà các phương tiện thông tin đã từng nói tới.

    Cũng vì xem việc đầu tư vào du lịch tâm linh là siêu lợi nhuận nên có thể thấy rằng những năm gần đây có một “làn sóng” làm du lịch tâm linh. Từ những nguồn thu dễ nhìn thấy là lý do khiến nhiều đối tượng đầu cơ, ồ ạt xây dựng các dự án du lịch tâm linh để trục lợi, thậm chí dựng lên những công trình giả để thu lời bất chính. Chúng ta vẫn chưa quên việc lực lượng chức năng tại địa bàn thắng cảnh chùa Hương đã phải ra quân để giải tỏa hơn 40 chùa giả, động rởm được dựng lên trái phép trong khu vực cách đây nhiều năm. Có thời gian người dân ở TP Sầm Sơn (Thanh Hóa) giật mình khi phát hiện khu vực núi Trường Lệ xuất hiện một chùa lạ xây dựng trái phép trên mảnh đất của tư gia tự đặt tên là “Linh Sơn Thượng”. Hay gần đây là việc xây dựng pho tượng bà Chúa Xứ trên Núi Sam, tỉnh An Giang, đã gây bức xúc dư luận…

    Bên cạnh những dự án du lịch tâm linh có mức đầu tư hàng nghìn tỷ như dự án hồ Núi Cốc có mức đầu tư tới 15.000 tỷ đồng, thì trên thực tế, còn có công trình phục vụ du lịch tâm linh chủ yếu chỉ gây ấn tượng mạnh ở cái tên huyền bí, yếu tố lạ, tính hoành tráng, độ choáng ngợp hơn là giá trị tinh thần mang ý nghĩa tâm linh. Nhiều nơi chỉ vì “con gà tức nhau tiếng gáy” nên làm cái gì cũng phải nhất, chùa phải to nhất, tượng Phật phải lớn nhất, tháp phải cao nhất để không bị kém cạnh ai, để có kỷ lục Guinness mà chẳng làm rạng danh gì cho đất nước trong thời công nghệ 4.0 này. Nếu tình trạng này còn tiếp diễn, hậu quả sẽ không chỉ là nguy cơ phá vỡ cảnh quan vốn hài hòa của di tích, mà còn góp phần tạo nên tình trạng ngày càng thương mại hóa đời sống tâm linh, xúc phạm niềm tin tín ngưỡng của cộng đồng.

    Trong khi đất nước còn nghèo, thu nhập của người dân còn thấp, trường học, bệnh viện còn thiếu mà cứ lo xây chùa, nhà thờ cho thật hoành tráng có nên không? Nếu cứ nhìn cảnh các cháu học sinh ở vùng sâu, vùng xa, khu vực miền núi phải ngồi học trong những túp lều xiêu vẹo, dột nát trong cái rét căm căm của mùa đông chúng ta sẽ nghĩ gì. Cha ông ta đã từng nhắc nhở: “Dù xây chín bậc phù đồ-không bằng làm phúc cứu cho một người”. Đầu tư quá mức cho việc xây dựng chùa chiền, đúc chuông, tô tượng, chi phí lớn cho lễ vật, công đức sẽ khiến nguồn lực đầu tư cho an sinh xã hội bị giảm sút. Đức Phật từ bi vui sao được khi mà chùa được xây quá hoành tráng, tốn kém, trong khi bệnh viện lại nhếch nhách, tồi tàn, người bệnh nghèo vật vã, đau đớn, trường học cho trẻ em xập xệ, đường sá của dân gập ghềnh, hiểm nguy.

    Gắn với các điểm du lịch tâm linh đương nhiên có các hoạt động mang tính tâm linh. Các hoạt động ấy nếu đúng với tâm thức của người Việt, đảm bảo thuần phong mỹ tục và đúng các quy định hiện hành thì cần được tôn trọng. Nhưng trong thực tế nhiều khi nó bị biến tướng, bị lợi dụng vào các mục đích xấu mang tính mê tín dị đoan, làm vẩn đục không khí vốn trong lành, thanh tịnh, linh thiêng nơi cửa Phật, đền đài, danh thắng. Từ đây những hành vi biến tướng được nhân rộng, trở nên phổ biến, tạo cơ hội, điều kiện để một số tổ chức, cá nhân biến một số cơ sở thờ tự thành địa chỉ “buôn thần, bán thánh”, lợi dụng lòng tin của người dân để lừa bịp nhằm trục lợi, thu lời.

    Theo quy luật có “cầu” thì mới có “cung” nên không khó để nhận diện hiện tượng trục lợi tâm linh hiện nay còn xuất phát từ một bộ phận không nhỏ du khách, khi tìm đến các điểm di tích linh thiêng chỉ nhằm mục đích cầu xin danh lợi, từ đó xuất hiện những biểu hiện mê tín dị đoan, buôn thần bán thánh. Ví như đền Bà Chúa Kho (Bắc Ninh) vốn ra đời để tưởng nhớ công đức của một người phụ nữ đã khéo tích trữ lương thực, trông nom kho lương triều đình nhưng giờ đây, mỗi ngày có không ít người tới đền vay vốn, mong được thành “con nợ” của Bà Chúa Kho để làm ăn có lộc. Hay đền Ông Hoàng Bảy (Lào Cai) vốn là nơi thờ thần vệ quốc – vị anh hùng đã đánh tan giặc phương Bắc, bảo vệ dân làng, song không biết từ lúc nào đã trở thành nơi để không ít người dâng lễ cầu lộc cho hoạt động lô đề, buôn bán hàng lậu, làm ăn phi pháp…

    Hay ở Nghi lễ khai ấn ở đền Trần (Nam Ðịnh) từ trước đây có ý để nhà vua nhắc nhở quần thần phải chu toàn bổn phận của mình trước dân chúng nhưng với nhiều người thì “ấn đền Trần” bị biến thành lá bùa phù trợ cho đường quan lộ. Người ta chen chúc, giẫm đạp, tranh cướp nhau để có được một chiếc ấn tượng trưng, để yên trí rằng mình đã được phù hộ độ trì.Người ta đã từng chạy chức chạy quyền ở nhiều cửa rồi nay lại còn tiếp tục chạy nơi cửa thánh. Không gian văn hóa, sự thiêng liêng của lễ hội và không gian thờ tự cũng vì thế bị biến dạng, méo mó.

    Những sự việc diễn ra gần đây tại Chùa Ba Vàng (Quảng Ninh) đã gây nhiều bức xúc trong dư luận xã hội. Nếu nói về lịch sử chùa này trước đây cũng không có gì đặc biệt, cũng chẳng có “điềm thiêng dấu lạ” gì. Nhưng từ khi được đầu tư xây mới lại nó trở nên hấp dẫn mọi người có lẽ không chỉ vì quy mô, kiến trúc hoành tráng, lại tọa lạc ở vị trí đắc địa, du khách đến đây cũng không chỉ để vãn cảnh tham quan vẻ đẹp mà rất nhiều người còn bị cuốn hút vào một hoạt động “tâm linh” đầy ma lực, đậm chất mê tín dị đoan, lừa bịp bởi cái gọi là “cúng oan gia trái chủ” để thu tiền những ai nhẹ dạ cả tin. Vị sư chùa này đã từng là cán bộ giảng dạy của một trường đại học danh tiếng ở Hà Nội mà vẫn để cho một người như bà Yến trình độ văn hóa lớp 5, không hiểu gì về Phật pháp thường xuyên đăng đàn thuyết giảng những điều hết sức xằng bậy, trái với giáo lý nhà Phật. Họ làm như vậy tất cả chỉ vì tiền. Thế mới biết vì tiền và để kiếm thật nhiều tiền người ta đã bất chấp tất cả, sẵn sàng biến nơi cửa Phật thành nơi buôn thần bán thánh. Và mỗi khi lễ hội mở ra là các hoạt động ăn theo trong đó các trò mê tín, dị đoan lại nở rộ, nơi nào cũng có bói toán, rút thẻ, xem tướng số… và biết bao tệ nạn khác như cờ bạc, gây gổ, cướp giật, chém giết nhau cũng vẫn xảy ra.

    Những tiêu cực hạn chế nói trên có phần do sự lỏng lẻo trong tổ chức quản lý của các cơ quan chức năng cũng như chính quyền các cấp. Đôi khi vì quá coi trọng lợi ích kinh tế mà bỏ qua các khâu giám sát, kiểm tra đôn đốc khiến việc tổ chức còn tự phát, tùy tiện, lộn xộn. Trong bối cảnh làng quê vốn chứa đựng không ít những hủ tục truyền lại từ xưa, việc tổ chức quản lý lễ hội một cách lỏng lẻo, tự phát dễ tạo điều kiện cho những cái xấu xuất hiện làm mất đi vẻ đẹp thuần khiết của lễ hội.

    Một vài hiện tượng lệch chuẩn nêu trên thực ra chưa phản ánh đầy đủ so với những gì đang diễn ra trong thực tiễn của hoạt động du lịch tâm linh trên khắp mọi miền đất nước. Nhưng dù sao đó cũng là những mặt trái của hoạt động này cần được quan tâm, chấn chỉnh để du lịch tâm linh thực sự vừa thiêng liêng, vừa lành mạnh, hấp dẫn du khách và mang lại nhiều hiệu quả đích thực, góp phần phát triển kinh tế xã hội của nước nhà.

    Để chấn chỉnh, từng bước khắc phục tình trạng nói trên thiết nghĩ giải pháp mang tính căn cơ vẫn phải là tập trung tuyên truyền nhằm thay đổi nhận thức của công chúng khi tham gia thực hành tín ngưỡng, cũng như tăng cường tri thức, hiểu biết của người dân địa phương và khách du lịch về văn hóa tâm linh, cung cách ứng xử khi tham gia các chuyến du lịch tâm linh. Đối với các khu du lịch tâm linh, các cơ quan chức năng cần sớm có tổng kết, đánh giá khách quan, khoa học dưới nhiều góc độ nhằm định hướng kế hoạch đầu tư trong tương lai một cách cẩn trọng, bền vững, không để xảy ra những hệ quả đáng tiếc. Công tác quản lý của các cơ quan có thẩm quyền cần chặt chẽ nhất là trong việc cấp phép đầu tư xây dựng cần bảo đảm tính công khai, minh bạch, tôn trọng giá trị lịch sử và văn hóa. Mặt khác cũng cần xử lý một cách nghiêm khắc những sai phạm trong tất cả các khâu từ việc xây dựng các khu du lịch tâm linh, đến việc tổ chức, điều hànhmọi hoạt động trong lĩnh vực này, đặc biệt không để xảy ra tình trạng lợi dụng yếu tố tâm linh để trục lợi. Hãy làm cho du lịch tâm linh thực sự là sự trở về với cội nguồn dân tộc, để cho mọi du khách luôn tìm thấy sự thư thái, bình yên trong tâm hồn và từ đó biết trân trọng, giữ gìn, phát huy những giá trị văn hóa, tinh thần đẹp đẽ của con người Việt Nam qua mọi thời đại.

    Xin mượn câu nói của Giáo sư Ngô Đức Thịnh – Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Bảo tồn tín ngưỡng Việt Nam để kết thúc bài viết này: “Làm tốt du lịch thì chúng ta vừa thu được khách, thu được tiền, đồng thời có điều kiện để làm văn hóa. Nếu không làm tốt thì chính du lịch tiêu diệt văn hóa”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sản Xuất Vali Du Lịch Tại Hải Phòng
  • Kinh Nghiệm Mua Vali Kéo Du Lịch Giá Rẻ Tại Tphcm, Hà Nội
  • Khẳng Định Vai Trò Của Ngành Du Lịch Trong Nền Kinh Tế Việt Nam
  • Vị Trí Và Vai Trò Của Ngành Du Lịch
  • Vai Trò Của Ngành Nông Nghiệp Trong Nền Kinh Tế Quốc Dân
  • 4 Vấn Đề Trọng Tâm Của Du Lịch Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Khám Phá Văn Hóa Ẩm Thực Trong Tour Du Lịch Hồng Kông
  • Văn Hóa Ẩm Thực Trong Phát Triển Du Lịch Quảng Nam
  • Khai Thác Văn Hóa Ẩm Thực Trong Du Lịch
  • Văn Hóa Du Lịch Là Gì
  • Du Lịch Nhật Bản Chỉ Với 540$ Cho Vé Khứ Hồi Từ Hà Nội
  • Tiềm năng và sự phát triển mạnh mẽ của du lịch

    Theo thống kê, Việt Nam đứng thứ 32 toàn cầu về số lượng và sự hấp dẫn của tài nguyên thiên nhiên, văn hoá với 8 di sản thế giới được UNESCO công nhận.

    Theo ông Lê Quang Tùng – Thứ trưởng Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch, Chính phủ đang ưu tiên du lịch thành kinh tế mũi nhọn tạo động lực cho các ngành khác. Năm 2022, Việt Nam đón gần 15,5 triệu lượt khách quốc tế, thu 620.000 tỷ đồng chiếm 8% GDP (từ 328.000 tỷ đồng năm 2022).

    Phát biểu khai mạc diễn đàn, ông Ngô Văn Tuấn, Phó trưởng Ban Kinh tế Trung ương nhận định, trong 3 năm trở lại đây, ngành du lịch đang thể hiện sự tăng trưởng mạnh mẽ khi số lượt khách du lịch quốc tế không ngừng gia tăng và nguồn thu từ du lịch cũng tăng trưởng liên tục.

    Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp kết hợp từ nhiều ngành, 99% doanh nghiệp du lịch là tư nhân, do đó có đóng góp to lớn. Tuy nhiên, để phát triển du lịch thì các rào cản với ngành này cần được tháo gỡ để tăng tính chuyên nghiệp cho người lao động trong ngành.

    Thách thức lớn nhất đã được nhận diện qua các số liệu trên là thị phần khách quốc tế đến Việt Nam chưa phù hợp. Nếu vấn đề này không được giải quyết thì sẽ là trở ngại để ngành du lịch nước ta phát triển xứng đáng với tiềm năng và đạt được những kỳ vọng.

    Dự kiến, để ngành du lịch đóng góp 10% GDP cả nước trong thời gian tới thì cần tập phải trung khai thác các thị trường chi trả cao, du lịch chuyên đề, tăng tỷ trọng khách du lịch tự trải nghiệm thay vì trọn gói.

    4 nút thắt cần tháo gỡ

    Theo ông Phạm Hà, Giám đốc Công ty du lịch Sang Trọng có bốn nút thắt trong ngành du lịch là: Visa, đào tạo nguồn nhân lực, sản phẩm du lịch, xúc tiến hiệu quả. Riêng đối với visa chính sách đang có rất nhiều vấn đề và tạo ra rào cản rất lớn. Hiện tại visa của chúng ta đang có thời hạn là 15 ngày, để tạo điều kiện thu hút khách du lịch chúng ta có thể nâng lên 30 ngày thậm chí dài hơn và có thể bỏ visa càng nhiều nước càng tốt.

    Về nguồn nhân lực, hiện tại nguồn nhân lực ngành du lịch Việt Nam vừa thừa vừa thiếu; thừa người không có năng lực, thiếu người có năng lực. Do đó, quy trình đào tạo cần đáp ứng hiểu biết trong ngành du lịch, kỹ năng du lịch gồm ngoại ngữ và cuối cùng là thái độ với khách du lịch. Cần tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

    Về sản phẩm du lịch, chúng ta vẫn loay hoay định vị Việt Nam là điểm đến như thế nào. Từ trước tới nay chúng ta vẫn định vị là điểm đến là văn hoá, nếu vậy khách chỉ đến một lần. Nếu định vị Việt Nam là điểm đến du lịch biển, khách sẽ trở lại để thử những trải nghiệm mới và chúng ta cần tạo điều kiện khách trở lại thuận lợi hơn.

    Nếu muốn kéo nhiều khách quốc tế thì cần xúc tiến tốt hơn nữa như xã hội hoá kinh phí, mời các nhà đầu tư nước ngoài. Chúng ta nhờ các kênh văn hoá mời người nổi tiếng, báo đài đến Việt Nam chắc chắn sẽ thu hút nhiều khách hơn nữa.

    Theo ông Kenneth Atkinson – Chủ tịch Grant Thornton Việt Nam thì mức phí visa mà chúng ta dành cho du khách cần dễ chịu hơn. Nếu chúng ta miễn visa cho các thị trường mà chúng ta hướng tới có thể đem về hàng trăm triệu đô la. Mức chi trả 1.100 USD vào năm 2022 đòi hỏi chúng ta phải cải thiện chất lượng các cơ sở du lịch.

    Giải pháp nào để phát triển du lịch?

    Trong thời gian tới ngành du lịch cần chú trọng trải nghiệm văn hoá và đề xuất các giải pháp như đa dạng hoá và nâng cao chất lượng sản phẩm, cần thúc đẩy các sản phẩm du lịch nghỉ dưỡng, công tác kết hợp du lịch cao cấp, cá nhân hoá cao. Bên cạnh đó cần đa dạng thị trường nguồn, phát triển thị trường chi tiêu cao như Nhật, Bắc Mỹ, Bắc Âu, Trung Quốc và Hàn Quốc và tiến tới hướng tới phân khúc thị trường cao cấp.

    Theo ông Hà Văn Siêu, Phó Tổng Cục trưởng Tổng Cục du lịch, Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch, Việt Nam cần sớm hình thành các địa bàn du lịch trọng điểm. Ngành du lịch cần xác định những địa bàn trọng điểm, cần phát triển thành khu vực động lực như Sơn La – Lào Cai – Hà Giang, Hà Nội – Hải Phòng – Ninh Bình, Quảng Bình – Thừa Thiên Huế – Đà Nẵng – Quảng Nam, Lâm Đồng – Đắk Lắk, Cần Thơ – Kiên Giang…

    Bên cạnh đó, Việt Nam cần phát triển các khu du lịch phức hợp, có thương hiệu, có tầm nhìn và phát triển đa dạng các loại hình du lịch như Sun World, thu hút các nhà đầu tư chiến lược.

    Hương Giang

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vấn Đề Môi Trường Du Lịch Ở Việt Nam
  • Những Vấn Đề Về Du Lịch Tâm Linh Ở Việt Nam
  • Sản Xuất Vali Du Lịch Tại Hải Phòng
  • Kinh Nghiệm Mua Vali Kéo Du Lịch Giá Rẻ Tại Tphcm, Hà Nội
  • Khẳng Định Vai Trò Của Ngành Du Lịch Trong Nền Kinh Tế Việt Nam
  • Những Vấn Đề Đặt Ra Trong Phát Triển Du Lịch Sinh Thái Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Hợp 5 Địa Điểm Du Lịch Tại Cần Thơ Đẹp Nhất Năm 2022
  • Các Khu Du Lịch Đẹp Tại Đà Nẵng Tha Hồ Check In Hút Hồn Mọi Du Khách
  • Nhiều Loại Hình Vui Chơi Đặc Sắc Tại Mũi Né
  • Trung Tâm Nước Sạch Và Vsmtnt Bình Thuận
  • Các Khu Resort 4 Sao Giáp Biển Cho Khách Du Lịch Tại Phú Quốc
  • Từ những năm 80 trở lại đây, du lịch sinh thái đã phát triển như một hiện tượng, một xu thế được quan tâm của nhiều quốc gia, nhiều tổ chức, nhiều du khách và nó đã trở thành vấn đề phát triển toàn cầu khi Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) đưa ra thông điệp “Du lịch sinh thái – chìa khóa để phát triển du lịch bền vững” (2002). Thực tế phát triển ở nhiều nước cho thấy việc tập trung phát triển du lịch thiên nhiên hay du lịch sinh thái đang là một ngành kinh doanh sinh lợi, nhiều triển vọng phát triển và đóng vai trò quan trọng trong thu hút ngoại tệ. Theo tính toán của UNWTO, số lượng khách du lịch quốc tế năm 2007 tham gia loại hình du lịch sinh thái chiếm khoảng 7% tổng số khách quốc tế trên phạm vi toàn cầu. Con số này đến nay đã gia tăng lên nhiều hơn nữa.

    Là một loại hình du lịch có trách nhiệm, bên cạnh những nguồn lợi kinh tế, du lịch sinh thái còn mang lại nhiều lợi ích to lớn khác như đóng góp vào mục tiêu bảo tồn môi trường tự nhiên, các giá trị văn hóa bản địa, phát triển cộng đồng địa phương. Phần lớn các nước trong khu vực trong đó có Việt Nam đã thiết lập và duy trì hệ thống các vườn quốc gia, các khu bảo tồn đa dạng sinh học để phát huy khả năng khai thác phát triển du lịch sinh thái, mang lại những lợi ích về kinh tế, bảo tồn và giáo dục.

    Việt Nam có nhiều tiềm năng, thế mạnh để phát triển du lịch sinh thái

    – Việt Nam là nơi cư trú của 21.000 loài thực vật, gần 12.000 loài động vật, trong đó có nhiều loài đặc hữu, nhiều loài được đưa vào Sách Đỏ của thế giới như Sao La, Vooc mũi hếch, Bò biển…

    – Năm 2022, Việt Nam có: 31 vườn quốc gia; 64 khu dự trữ thiên nhiên; 16 khu bảo tồn loài – sinh cảnh và 55 khu bảo vệ cảnh quan.

    – Việt Nam được xếp hạng thứ 16 trên thế giới về mức độ đa dạng của tài nguyên sinh vật (theo WCMC); một trong 10 trung tâm đa dạng sinh học phong phú nhất thế giới và là một trong các nước được ưu tiên cho bảo tồn toàn cầu;

    – Việt Nam được UNESCO công nhận 10 khu dự trữ sinh quyển thế giới;

    – Việt Nam có 8 khu Ramsar của Thế giới.

    Việt Nam được đánh giá là đất nước giàu tiềm năng cho phát triển du lịch sinh thái. Nhiều vườn quốc gia, khu bảo tồn đã được khai thác phục vụ phát triển du lịch. Và gần đây nhiều hệ sinh thái nông nghiệp như các miệt vườn, các làng sinh thái thu hút được rất nhiều khách tham quan du lịch… Nó không chỉ góp phần đưa lại hiệu quả cho ngành kinh tế du lịch mà còn có ý nghĩa cao, tác động tích cực trong công tác bảo vệ môi trường, mang lại lợi ích về kinh tế cho cộng đồng dân cư địa phương và đóng góp nỗ lực cho bảo tồn tài nguyên du lịch của đất nước. Chính vì vậy, Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam thời kỳ 2001-2010 cũng như Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam cho thời kỳ mới đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030 luôn xác định du lịch sinh thái là một trong các dòng sản phẩm du lịch chính, có sức cạnh tranh cao so với các nước trong khu vực và trên thế giới của du lịch Việt Nam.

    Theo các nhà khoa học, các hệ sinh thái của Việt Nam rất đa dạng có thể khai thác phát triển du lịch sinh thái, trong đó đáng chú ý là các hệ sinh thái sau:

    + Hệ sinh thái trên cạn với đặc trưng của các kiểu rừng, đồng cỏ, núi cao, núi đá vôi, hệ sinh thái hang động.

    + Hệ sinh thái đất ngập nước, trong đó đáng chú ý là các hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển; đầm phá; hồ, đầm; sông suối kênh rạch. Việt Nam có 2 vùng đất ngập nước quan trọng là đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long

    + Hệ sinh thái biển, cồn cát ven biển, hệ sinh thái san hô, cỏ biển

    + Hệ sinh thái nông nghiệp đặc thù (ruộng lúa nước, ruộng bậc thang, miệt vườn…)

    Không tách rời khỏi các hệ sinh thái trên là những giá trị văn hóa bản địa được nhiều thế hệ người Việt sáng tạo và vun đắp. Đây là nguồn tài nguyên quý giá để phát triển du lịch sinh thái Việt Nam.

    Du lịch sinh thái ở Việt Nam mới đi những chặng đường đầu tiên

    Từ cuối những năm 90 trở lại đây, du lịch sinh thái đã nổi lên như một nhân tố mới cho ngành du lịch Việt Nam. Du lịch sinh thái đang dần phát triển để trở thành một lĩnh vực đầy hứa hẹn trong tương lai gần. Nhiều vườn quốc gia, khu dự trữ thiên nhiên đang dần trở thành những điểm hấp dẫn khách du lịch như Phong Nha – Kẻ Bàng, Cát Bà, Hoàng Liên, Tam Đảo, Ba Vì, Hương Sơn, Cúc Phương, Bạch Mã, YokDon, Nam Cát Tiên, Cà Mau… Nhiều khu du lịch sinh thái miệt vườn đang rất phổ biến tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long như Vĩnh Long, Bến Tre, Cần Thơ, Kiên Giang, Tiền Giang… Bên cạnh đó là sự phát triển của các tour du lịch sinh thái sông, hồ, biển đảo như du lịch sinh thái sông Mekong, kênh rạch đồng bằng sông Cửu Long, du lịch sinh thái hồ Ba Bể, hồ Đồng Mô, Vân Long, Rạn Trào, Cù lao Chàm, sinh thái rừng ngập mặn Vàm Sát, rừng tràm Trà Sư…

    Mặc dầu mới trải qua chặng đường đầu tiên, du lịch sinh thái Việt Nam đã mang lại những kết quả đáng kể. Điều này được chứng minh bằng lượng khách du lịch tham gia loại hình du lịch sinh thái hay các hoạt động du lịch sinh thái tăng qua các năm. Khách du lịch quốc tế trải nghiệm du lịch sinh thái ở Việt Nam chủ yếu là các thị trường Tây Âu, Bắc Mỹ, Úc và gần đây có sự tham gia của thị trường Nhật Bản, Hàn Quốc. Khách quốc tế thường đi theo nhóm nhỏ, ý thức cao và thể hiện rõ những đặc trưng của du lịch sinh thái cộng đồng (đi thành từng nhóm nhỏ, có khả năng chi trả cao, thích tự do khám phá, thích ngủ Homestay, thời gian cho mỗi chuyến đi khá dài…). Theo một số nhà chuyên gia du lịch, tỷ lệ khách quốc tế tham gia vào các tour du lịch sinh thái chỉ chiếm khoảng từ 5 – 8% tổng số khách quốc tế đến Việt Nam.

    Du lịch sinh thái không chỉ thu hút khách du lịch quốc tế mà còn nhận được sự quan tâm, tham gia của thị trường khách du lịch nội địa. Lượng khách nội địa tham gia vào hoạt động du lịch sinh thái có tỷ lệ đa phần là các nhà nghiên cứu, học sinh, sinh viên với mục đích nghiên cứu, tham quan, học tập kết hợp giải trí. Nhìn chung, khách nội địa có thời gian lưu trú ngắn, thường đi về trong ngày, mức chi trả dịch vụ không cao.

    Các hoạt động du lịch sinh thái chủ yếu hiện nay tại Việt Nam:

    – Tham quan, dã ngoại tìm hiểu đời sống động thực vật hoang dã với các hoạt động như tham quan các vườn quốc gia, đi bộ trong rừng, ngắm chim, leo núi, lặn biển ngắm san hô.

    – Tham quan thắng cảnh hang động.

    – Tham quan các hệ sinh thái nông nghiệp như tham quan miệt vườn ở đồng bằng sông Cửu Long, tham quan các ruộng lúa bậc thang ở các tỉnh miền núi phía Bắc, tham quan các vườn cây ăn trái ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng.

    – Du thuyền trên sông, hồ tham quan thắng cảnh, hệ sinh thái như các tour du lịch sông nước đồng bằng sông Cửu Long, du thuyền sông Hồng, sông Hương, sông Sài Gòn, sông Mekong… du lịch hồ Hòa Bình, hồ Ba Bể, hồ Thác Bà…

    – Nghiên cứu, tìm hiểu các hệ sinh thái: nghiên cứu đa dạng sinh học ở các vườn quốc gia, khu bảo tồn, các hang động.

    Những hạn chế trong phát triển du lịch sinh thái

    Có thể thấy rằng, các chuyến du lịch đến các khu tự nhiên của Việt Nam hiện nay còn mang tính đại chúng, chưa đích thực là du lịch sinh thái. Du lịch với số đông thường gây nên những tác động tiêu cực đến môi trường tự nhiên và văn hoá, đặc biệt là những khu vực nhạy cảm. Trong khi đó công tác quy hoạch – phân vùng phát triển du lịch sinh thái còn nhiều bất cập do Du lịch Việt Nam chưa có chiến lược cụ thể phát triển du lịch sinh thái – một trong 4 dòng sản phẩm chính của du lịch Việt Nam. Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản hạn chế phát triển du lịch sinh thái hiện nay. (Myanmar gần đây đã xây dựng Chính sách du lịch sinh thái Myanmar và Chiến lược quản lý các khu bảo tồn giai đoạn 2022 – 2025; Campuchia đã phát triển chính sách du lịch sinh thái cấp quốc gia; Lào đã có Chiến lược phát triển du lịch sinh thái và xây dựng kế hoạch hành động du lịch sinh thái).

    Quy mô và hình thức tổ chức hoạt động sinh thái còn nhỏ lẻ, mờ nhạt. Đầu tư phát triển du lịch sinh thái chưa cao, chủ yếu vẫn là các dự án hỗ trợ của các tổ chức quốc tế mang tính chất bảo tồn và nâng cao năng lực cộng động tham gia vào du lịch sinh thái tại một số vườn quốc gia và khu bảo tồn.

    Chưa có các nghiên cứu thị trường bài bản nên việc xác định thị trường mục tiêu, các phân đoạn thị trường khách du lịch sinh thái chưa rõ ràng cùng với đó là xúc tiến, quảng bá du lịch sinh thái còn yếu dẫn đến việc chưa thu hút, hấp dẫn khách đến với dòng sản phẩm du lịch sinh thái.

    Mặt khác, một phần do hạn chế của công tác quản lý, một phần do ý thức du khách và người dân chưa cao nên những hiện tượng tiêu cực vẫn xảy ra tại các khu bảo tồn thiên nhiên như: Chặt phá rừng bừa bãi, săn bắn động vật trái phép, xả rác không đúng nơi quy định, khắc đẽo thân cây…

    Thiếu sự đầu tư về kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật đặc thù cho phát triển du lịch sinh thái hoặc lại xây dựng bừa bãi, không tuân thủ các nguyên tắc phát triển du lịch sinh thái, gây phá vỡ cảnh quan môi trường. Những trung tâm giáo dục và diễn giải môi trường cho cả khách du lịch và dân cư địa phương tại các vườn quốc gia, khu bảo tồn còn rất hạn chế.

    Điều bất cập hơn nữa là vai trò của cộng đồng địa phương chưa được coi trọng, lợi ích từ du lịch hầu như chưa đến được với họ.

    Mặc dù phát triển du lịch sinh thái là một định hướng chiến lược trong phát triển du lịch của Việt Nam khi bước vào thế kỷ 21, song cho đến nay việc phát triển loại hình du lịch này còn nhiều hạn chế, bất cập. Nhiều hãng lữ hành, nhiều địa phương đã có những nỗ lực trong xây dựng kế hoạch phát triển du lịch sinh thái, xây dựng tour du lịch, khu du lịch sinh thái, các mô hình phát triển du lịch sinh thái với sự tham gia của cộng đồng…tuy nhiên các hoạt động này vẫn còn ở hình thức và quy mô nhỏ, đơn giản.

    – Biến đổi khí hậu

    – Đa dạng sinh học bị suy thoái, thu hẹp, bị chia cắt, giảm chất lượng

    – Cạnh tranh trong khu vực

    – Nhận thức cộng đồng về phát triển du lịch sinh thái

    – Xu hướng phát triển du lịch sinh thái của thế giới và Việt Nam;

    – Có nhiều bài học kinh nghiệm quốc tế về phát triển du lịch sinh thái;

    – Chiến lược phát triển Du lịch Việt Nam với định hướng ưu tiên phát triển du lịch sinh thái;

    – Điểm đến an ninh, an toàn

    – Liên kết phát triển sản phẩm trong nước và khu vực

    – Chưa có Chiến lược cũng như quy hoạch phát triển du lịch sinh thái, phân vùng dành cho du lịch sinh thái;

    – Đầu tư phát triển du lịch sinh thái còn hạn chế

    – Sự suy giảm tài nguyên (do các hoạt động dân sinh, kinh tế khác và do thiếu đầu tư bảo vệ)

    – Hoạt động du lịch sinh thái mới chỉ dừng lại ở du lịch dựa vào thiên nhiên, chưa thể hiện đặc trưng và yêu cầu của du lịch sinh thái;

    – Nguồn nhân lực cho du lịch sinh thái (điều hành quản lý, hướng dẫn viên du lịch sinh thái)

    – Hệ thống kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch sinh thái còn hạn chế;

    – Thiếu kinh nghiệm trong tổ chức quản lý phát triển du lịch sinh thái và công tác quản lý còn chồng chéo.

    – Quảng bá du lịch sinh thái còn hạn chế về cả nội dung lẫn phạm vi.

    – Tài nguyên du lịch sinh thái phong phú, đa dạng, độc đáo và được quốc tế công nhận;

    – Đang dần hình thành những điểm đến du lịch sinh thái hấp dẫn, mang tầm cỡ nổi bật toàn cầu;

    – Đã có những kinh nghiệm nhất định trong tổ chức du lịch sinh thái. Nhiều công ty, hãng lữ hành đã xây dựng và bán tour du lịch sinh thái có chất lượng, uy tín đến 1 số thị trường;

    Các không gian và loại hình sản phẩm du lịch sinh thái:

    – Vùng trung du miền núi Bắc Bộ: Du lịch sinh thái – trải nghiệm thiên nhiên hùng vĩ. Tham quan, tìm hiểu, nghiên cứu hệ sinh thái, đa dạng sinh học rừng á nhiệt đới núi cao và rừng thường xanh nhiệt đới; Hệ sinh thái nông nghiệp (Ngắm cảnh theo mùa, tham quan ruộng bậc thang)

    – Vùng đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc: Du lịch sinh thái – khám phá đa dạng sinh học và di sản thiên nhiên thế giới. Tham quan thắng cảnh, tìm hiểu hệ sinh thái núi đá vôi ngập nước – di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long. Tham quan, tìm hiểu, nghiên cứu khu dự trữ sinh quyển thế giới châu thổ Sông Hồng.

    – Vùng du lịch Bắc Trung Bộ: Du lịch sinh thái hang động và đa dạng sinh học Đông Trường Sơn. Tham quan, thám hiểm hệ sinh thái núi đá vôi, hang động di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha – Kẻ Bàng; Tham quan, tìm hiểu, nghiên cứu đa dạng sinh học Đông Trường Sơn.

    – Vùng duyên hải Nam Trung Bộ: Du lịch sinh thái biển đảo. Tham quan, trải nghiệm thắng cảnh biển, hệ sinh thái biển: cồn cát, rạn san hô, thảm cỏ biển.

    – Vùng Tây Nguyên: Du lịch sinh thái – trải nghiệm cảnh quan vùng cao nguyên đất đỏ chúng tôi quan, tìm hiểu các hệ sinh thái rừng Khộp (rừng thưa lá rộng, rụng lá theo mùa). Du lịch sinh thái gắn liền du lịch cộng đồng và tham quan bản làng dân tộc.

    – Vùng Đông Nam Bộ: Du lịch sinh thái sông. Tham quan, tìm hiểu hệ sinh thái dọc tuyến sông Sài Gòn, hệ sinh thái rừng ngập mặn.

    – Vùng Đồng bằng sông Cửu Long: Du lịch sinh thái – hệ sinh thái đất ngập nước. Tham quan, tìm hiểu hệ sinh thái đất ngập nước nội địa với hệ thống các kênh rạch đồng bằng sông Cửu Long; Tham quan, tìm hiểu hệ sinh thái ngập mặn ven biển.

    – Luật Đa dạng sinh học 2008

    – Luật Bảo vệ môi trường 2014

    – Quyết định số 2473/QĐ-TTg, ngày 30 tháng 12 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030;

    – Quyết định số 201/QĐ-TTg, ngày 22 tháng 1 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030;

    – Quyết định số 1216/QĐ-TTg ngày 5/9/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030;

    – Quyết định số 1250/QĐ-TTg ngày 31/7/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030;

    – Quyết định số 218/QĐ-TTg ngày 07/02/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quản lý hệ thống rừng đặc dụng, khu bảo tồn biển, khu bảo tồn vùng nước nội địa Việt Nam đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030;

    Nhận thức được và hưởng ứng nghị quyết của Đại hội đồng Liên hiệp quốc “Du lịch sinh thái – chìa khóa để xóa đói giảm nghèo và bảo vệ môi trường”, Du lịch Việt Nam luôn xác định du lịch sinh thái là định hướng chiến lược trong phát triển và chắn chắn thể trong thời gian tới cần thực hiện nhiều giải pháp cụ để phát triển du lịch sinh thái vừa góp phần khai thác tiềm năng và thế mạnh của du lịch Việt Nam, vừa mang lại đóng góp hiệu quả trong phát triển du lịch và phát triển kinh tế – xã hội của đất nước./.

    Tài liệu tham khảo

    Bộ Tài nguyên và Môi trường, Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030; Hà Nội, 2013

    UN General Assembly: Ecotourism key to eradicating poverty and protecting environment; PR No.: PR13001.

    TS. Đỗ Thị Thanh Hoa – Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Hợp Các Khu Du Lịch Sinh Thái Tại Ba Vì
  • Hè Xanh Mướt Cùng 5 Khu Du Lịch Sinh Thái Tại Đà Nẵng
  • Top 10 Các Khu Du Lịch Sinh Thái Hấp Dẫn Du Khách Ở Việt Nam
  • Danh Sách Các Khu Sinh Thái Ở Hội An Nhiều Cây Xanh Được Yêu Thích
  • 5 Khu Du Lịch Sinh Thái Nổi Tiếng Của Du Lịch Cần Thơ
  • Du Lịch Việt Nam Và Vấn Đề Trong Việc Định Vị Thương Hiệu

    --- Bài mới hơn ---

  • Tour Du Lịch Nhật Bản Khám Phá Xứ Sở Hoa Anh Đào
  • Thể Lệ Cuộc Thi Về Thương Hiệu Du Lịch Nha Trang – Khánh Hòa Gồm Biểu Trưng (Logo) Và Biểu Ngữ (Slogan)
  • Trao Giải Cuộc Thi “Thương Hiệu Du Lịch Nha Trang – Khánh Hòa” Và Phát Động Chương Trình Kích Cầu Du Lịch Năm 2022
  • Trao Giải Cuộc Thi Thương Hiệu Du Lịch Nha Trang
  • Khách Sạn Mercure Bà Nà, Đà Nẵng
  • Ngành du lịch Việt Nam đang phát triển một cách chóng mặt cả về chất và lượng, thế nhưng thương hiệu của du lịch Việt Nam – ngạc nhiên thay, lại không được định vị một cách rõ ràng và nổi bật trong tâm trí khách du lịch, đặc biệt là khách du lịch quốc tế. Từ các năm 2012 – 2013, Việt Nam chưa từng được đề xuất trong bất kỳ top 15 nào về các tiêu chí như nghệ thuật và văn hóa, tính xác thực, lịch sử, giá trị của đồng tiền, điểm tham quan, đồ ăn, mua sắm hay cuộc sống về đêm,… của bảng xếp hạng thương hiệu thế giới Future Brand. Trong khi đó, các láng giềng của chúng ta: Thái Lan, Singapore, Malaysia hoặc Campuchia đều có 1 hoặc nhiều tiêu chí được đề cử. Tới năm 2022, trong bảng xếp hạng chỉ số thương hiệu quốc gia 2022, Việt Nam vẫn chỉ đang khiêm tốn giữ vị trí số 61 trên 75 quốc gia.

    Hành trình làm thương hiệu của Việt Nam trong 20 năm qua

    Thương hiệu đã và đang trở thành một trong những tài sản giá trị nhất của một quốc gia với tư cách là một điểm đến du lịch. Xây dựng thương hiệu du lịch quốc gia, nói một cách dễ hiểu chính là truyền tải một bản sắc riêng, độc đáo của đất nước thành một hình ảnh trong tâm trí khách du lịch, giúp họ nhận ra những đặc điểm nổi bật của Việt Nam, từ đó suy ra các điểm đến và sản phẩm du lịch của điểm đến. Dường như hiểu rõ được tầm quan trọng của việc này nên ngành du lịch Việt Nam rất “chăm” thay áo với logo và slogan liên tục trong 20 năm qua.

    1. 2000 – 2004: Việt Nam – Điểm đến của thiên niên kỷ mới. (Vietnam – A destination for the new millennium)

    Thông điệp ra đời vào năm 1999 này được đánh giá là bắt đúng thời điểm và tạo một phong cách mới cho ngành du lịch Việt với hình ảnh logo là một cô gái Việt Nam đội nón lá. 

    Ngay sau khi có khẩu hiệu này, lượng khách quốc tế đến Việt Nam đã tăng 20% so với năm 1999, từ 1.781.800 người lên 2.140.100 người, theo báo cáo của Tổng Cục Du Lịch. Lượng khách trong năm 2001, 2002 tiếp tục tăng lên 2,3 triệu và 2,6 triệu người.

    Tuy nhiên, không gì có thể trường tồn mãi với thời gian. Sứ mệnh lịch sử của thông điệp “Việt Nam điểm đến của thiên niên kỷ mới” đáng lẽ nên kết thúc khi năm 2000 khép lại. Ấy thế mà, phải đến 2004 ngành du lịch Việt Nam mới tung ra một câu khẩu hiệu khác kế thừa. Slogan Việt Nam – Điểm đến của thiên niên kỷ mới đã giữ quá lâu, dẫn tới sự lạc hậu, không còn sức hấp dẫn đối với du khách quốc tế khi họ nhận ra rằng sau 4 năm, Việt Nam hẵng còn dậm chân ở năm 2000.

    2. 2004 – 2005: Hãy đến với Việt Nam (Welcome to Vietnam)

    Năm 2004, Du lịch Việt Nam đã đưa ra khẩu hiệu “Hãy đến với Việt Nam” (Welcome to Vietnam) với biểu tượng là hình cô gái mặc áo dài trắng đội nón lá. 

    Thông điệp “Hãy đến với Việt Nam” ngắn gọn, dễ đọc, dễ nhớ tới mức nhàm chán, bởi nó… thường quá. Câu khẩu hiệu này không truyền tải được cá tính riêng – những USP – unique selling point của du lịch Việt Nam. Thật vậy, lợi thế hay điểm đặc biệt nào khiến du khách quốc tế muốn chọn Việt Nam, trong khi tất cả các quốc gia đều đang nhiệt tình “welcome” họ?

    Dường như cũng tự nhận thấy điều này, thông điệp “Hãy đến với Việt Nam” cũng chỉ được treo một cách khá khiêm tốn tại Tổng cục Du lịch, Lễ hội đón nhận bằng Di sản Thiên nhiên Thế giới của Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng và Lễ hội Điện Biên Phủ. Các tập gấp tờ rơi hay website của Tổng cục Du lịch trong thời gian 2004 – 2005 vẫn giữ nguyên thông điệp “Việt Nam – Điểm đến của thiên niên kỷ mới” cũ.

    3. 2005 – 2011: Việt Nam – Vẻ đẹp tiềm ẩn. (Vietnam – The hidden charm)

    Năm 2005, Tổng cục Du lịch đã tổ chức cuộc thi lựa chọn khẩu hiệu và biểu tượng mới cho Du lịch Việt Nam. Kết quả, “Việt Nam – vẻ đẹp tiềm ẩn” (Vietnam – the hidden charm) là khẩu hiệu cho 6 năm liên tục của Việt Nam. 

     

    Lần đầu tiên, logo và slogan ngành du lịch Việt nam thiết kế chỉn chu cùng với những kế hoạch truyền thông, marketing chuyên nghiệp. Tuy nhiên, logo và slogan này vẫn không tránh khỏi sự phản đối của vài chuyên gia bởi câu khẩu hiệu và biểu tượng trên vẫn chưa thực sự tạo được thông điệp rõ ràng cho Du lịch Việt Nam: Vẻ đẹp tiềm ẩn thực chất là vẻ đẹp như thế nào? 

    Các nước Á Đông, mỗi nước sẽ có một khác biệt riêng chứ không chỉ riêng Việt Nam mới có. Khi những nhà lãnh đạo cả một ngành du lịch hẵng còn cảm thấy mơ hồ về những sự khác biệt của thương hiệu quốc gia mình đang quảng bá thì sao các sản phẩm của họ có thể gợi lên cảm xúc để du khách liên tưởng đến các giá trị văn hóa riêng và khác biệt của Việt Nam, từ đó muốn tới hoặc quay trở lại Việt Nam?

    4. 2012 – 2022: Việt Nam – Vẻ đẹp bất tận. (Vietnam – Timeless Charm)

    Trước những phản ứng của cộng đồng, với tin thần cầu thị, Tổng cục Du lịch đã tiếp tục tìm kiếm câu khẩu hiệu và logo phù hợp: Việt Nam – Vẻ đẹp bất tận (Vietnam Timeless Charm).

    Nhiều chuyên gia tại Diễn đàn Cấp cao du lịch đã cho rằng slogan “vẻ đẹp bất tận” chưa thể hiện được các thế mạnh và nét độc đáo của du lịch Việt. Cụ thể, Giám đốc chiến lược sáng tạo thương hiệu CNBC nhận định rằng slogan này chỉ phù hợp với những người đã từng tới Việt Nam, hiểu được vẻ đẹp tiềm ẩn trong văn hóa, con người và phong cảnh. Ngược lại, với những du khách chưa từng tới đây, “Timeless Charm” chưa đủ sức truyền cảm hứng vì chẳng gợi lên được sự khác biệt và nét độc đáo trong văn hóa Việt Nam.

     

    Nhìn vào bức tranh toàn cảnh, cả 4 câu slogan cho ngành du lịch của Việt Nam đều đang đi theo một xu hướng giống nhau: lâm thời và bị động với những câu khẩu hiệu tối nghĩa, lấp lửng và không điểm nhấn về những đặc điểm của Việt Nam. 

    Cả 4 khẩu hiệu này đều khó khơi gợi cảm hứng du lịch và khám phá với những cụm từ chung chung như “đẹp tiềm ẩn” hay “đẹp bất tận” của du khách quốc tế. Việt Nam thì đẹp đấy, nhưng các quốc gia khác cũng đẹp – làm gì có quốc gia nào xấu tiềm ẩn hay xấu bất tận bao giờ?

    Có thể nhận thấy, lý do gốc rễ cho những slogan chung chung này là bởi chúng ta vẫn chưa định vị thương hiệu du lịch Việt Nam một cách cụ thể và thống nhất. Vì thế, chưa khẩu hiệu nào thể hiện được thị trường mục tiêu của ngành du lịch Việt Nam hay định vị được sản phẩm du lịch của chúng ta một cách rõ nét và khác lạ.

    5. Nhìn chung

    Hiệu quả định vị thương hiệu Việt Nam trong 20 năm qua có nhiều thành công

    Không thể phủ nhận những nỗ lực và thành quả đáng tự hào của ngành du lịch Việt Nam kể từ năm 2000. Theo số liệu từ tổng cục Du lịch, số lượng khách du lịch quốc tế tới Việt Nam đã tăng từ 2.140.100 du khách lên 18 triệu lượt khách năm 2022, thu về 726.000 tỷ đồng, theo Tổng cục thống kê.

    Theo số liệu từ World Bank, trong cả 5 và 10 năm qua, tăng trưởng khách quốc tế của Việt Nam luôn vượt trội so với các đối thủ cạnh tranh ở Đông Nam Á, ngoại trừ Myanmar. Với số liệu này, có thể thấy rõ rằng Việt Nam đang dần chiếm được thị phần lớn hơn, không chỉ trong tổng số khách du lịch đến các quốc gia Đông Nam Á đang phát triển, mà khi xét trong tệp những quốc gia nằm ở Đông Á, bao gồm các thị trường du lịch lớn và phát triển như Singapore, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc. Việt Nam hiện đã bắt kịp Indonesia về tổng số lượng khách quốc tế và thu hẹp khoảng cách với các quốc gia du lịch hàng đầu trong khu vực như Malaysia và Thái Lan.

    Nhưng vẫn chưa khắc phục được những vấn đề cốt lõi

    Thế nhưng, liệu đây có hoàn toàn là dấu hiệu đáng mừng? Việt Nam đã chào đón một lượng lớn du khách kể từ 2000, nhưng lý do chủ yếu cho sự tăng trưởng này là sự hấp dẫn của cảnh quan sẵn có và cơ hội vào thời điểm thị trường du lịch châu Á trở nên bão hòa. Nghĩa là chỉ khi du khách quốc tế đã du lịch hết các quốc gia châu Á khác rồi, Việt Nam mới bắt được cơ hội để nổi lên như một điểm đến mới lạ và rẻ. Vì thế, dù lượng khách hàng tăng lên nhưng chất lượng của du khách quốc tế tới Việt Nam vẫn phần lớn là những người có mức chi tiêu thấp và thời gian lưu trú ngắn ngủi.

    Nếu chỉ chạy theo các con số lớn về lượng khách du lịch, các cách thức để làm sao tăng được nhiều khách đến bất luận là khách từ nước nào, du lịch Việt sẽ khó có thể đi đường dài và dễ rơi vào bẫy thành tích. Khảo sát của Tổng cục Du lịch trong 5 năm trở lại đây cho thấy khoảng 60% chi tiêu của khách quốc tế đến Việt Nam đều dành cho lưu trú và ăn uống, trong khi dịch vụ mua sắm – thế mạnh của các cường quốc du lịch lại là sản phẩm yếu nhất của du lịch Việt. Cụ thể, khách quốc tế chỉ chi 15 – 18% cho mua sắm trong tổng chi tiêu ở Việt Nam. Trong khi đó tại Thái Lan, Singapore, Nhật Bản, Hong Kong, tỷ lệ này chiếm gần 50%. Khách quốc tế đến Việt Nam chi 96 USD/ngày nhưng ở Singapore là 330 USD/ngày, và Thái Lan là 115 USD/ngày.

    Tệ hơn, theo Hiệp hội du lịch quốc tế, cứ 10 khách quốc tế thi chỉ có một người quay trở lại Việt Nam, trong khi đó, tỷ lệ của Thái Lan là khoảng 70%. Thời gian lưu trú bình quân của khách quốc tế ở nước ta là khoảng 9,27 ngày, chi tiêu của một khách quốc tế đến Việt Nam trong suốt chuyến đi vào khoảng 1.200 USD trong khi Thái Lan là 1.400USD.

    Du lịch Việt Nam vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng du lịch lớn lao của đất nước. Chính trong bài viết được đăng tải lên website của Tổng cục du lịch, Thạc sĩ Nguyễn Anh Tuấn – Vụ Lữ hành (Tổng cục Du lịch) đã nhận xét: “Cơ sở hạ tầng du lịch và các cơ sở dịch vụ du lịch có sự cải thiện nhưng còn nhiều hạn chế như sản phẩm du lịch còn nghèo nàn, các đơn vị chủ yếu cạnh tranh về giá mà không hướng tới sự khác biệt hóa cho sản phẩm. Chất lượng sản phẩm và dịch vụ du lịch Việt Nam còn thấp, thông tin và hình ảnh về Du lịch Việt Nam ở nhiều phần của thế giới còn rất ít và mờ nhạt”. Điều này dẫn đến một thực tế đáng buồn: một số lượng lớn du khách quốc tế chọn Việt Nam là bởi họ đã… đi hết tất cả các quốc gia châu Á còn lại trong khu vực. 

    Một trong những nguyên nhân hàng đầu được Thạc sĩ nhắc đến chính là: đến nay Du lịch Việt Nam vẫn chưa tạo dựng được thương hiệu. Chưa có chiến lược quốc gia về xây dựng thương hiệu du lịch Việt Nam.

    Trong những năm qua, Du lịch Việt Nam đã có rất nhiều nỗ lực để khuếch trương hình ảnh của mình đến với thế giới. Tuy nhiên, vẫn chưa có thông điệp chung và rõ ràng cho cả ngành du lịch của cả một quốc gia. Hình ảnh về điểm đến Việt Nam chưa nổi bật trong tâm trí của du khách. Vì vậy, Việt Nam luôn gặp nhiều khó khăn trong cạnh tranh với các đối thủ cạnh tranh trực tiếp, cũng như tìm định hướng để từng địa phương, từng sản phẩm du lịch có định vị riêng. 

    Các vấn đề công việc định vị thương hiệu phải đối mặt

    Hành trình định vị của Việt Nam đang phải đối mặt với rất nhiều vấn đề.

    1. Việt Nam chưa tìm được USP phù hợp nhất

    Việt Nam chưa tìm được USP phù hợp nhất cho mình, vì thế mà các sản phẩm định vị đều không rõ ràng, chung chung. Trong khi đó, nhiều nước trong khu vực đã rất thành công trong việc xây dựng và quảng bá thương hiệu du lịch quốc gia như Thái Lan với “Amazing Thailand” Singapore với “Độc đáo Singapore“ (Uniquely Singapore), Malaysia với “Malaysia-Châu Á đích thực” ( Malaysia –Truly Asia).

    Trong khi Việt Nam chưa xác định rõ ràng những lợi thế USP của mình, chúng ta đều hiểu rằng đây là một điểm đến vô cùng khác biệt với các quốc gia láng giềng: 

    • Rất khác với Thái Lan: một hình ảnh thân thiện, dịu dàng và sang trọng

    • Rất khác với Malaysia: một hình ảnh về thịnh vượng, Hồi giáo nhưng cũng ‘Truly Asia’ – thực sự Châu Á

    • Khác với Singapore: hình ảnh đô thị phát triển, thịnh vượng và hiện đại

    Sự độc đáo của Việt Nam nằm ở nền văn hóa phong phú và đa dạng, ẩm thực khác lạ giữa các vùng miền, tinh thần độc lập, sức sống và năng lượng để tái xây dựng lại sau nhiều biến cố thời cuộc.

    2. Thiếu đa dạng hóa sản phẩm du lịch, còn định vị chạy theo sự kiện

    Một điểm yếu nữa chính là việc Việt Nam vẫn đang loay hoay trong việc định vị và ngẫu hứng quảng bá hình ảnh đất nước theo từng sự kiện một cách bị động. 

    Định vị chạy theo sự kiện: dàn trải, không nhất quán, không có tác dụng

    Trước đó vẻ đẹp của Việt Nam còn tiềm ẩn, giờ đây đã trở nên… bất tận. Sau khi Philip Kotler nêu ý kiến thì Việt Nam lại thoắt cái muốn trở thành bếp ăn của thế giới. Thượng đỉnh Mỹ – Triều tại Việt Nam thì Hà Nội là thành phố vì hòa bình, sau khi sự kiện kết thúc mà không hiệp định nào được ký thì cái tên này cũng cứ thế… trôi vào dĩ vãng. Hà Nội, lại là … Hà Nội mà thôi.

    3. Ngành du lịch Việt đang thiếu một nhạc trưởng và quy trình đầu tư bài bản

    Là một ngành kinh tế tổng hợp nên du lịch rất cần một nhạc trưởng – một đơn vị chỉ đạo cấp quốc gia có thể làm tốt vai trò định hướng và kiến tạo cả ngành du lịch. Trước đây, Tổng cục Du lịch đã thành lập Cục Xúc tiến, hoạt động như “linh hồn” của ngành du lịch. Thế nhưng, đơn vị này đã bị đổi thành Vụ Thị trường khi Tổng cục Du lịch sát nhập vào Bộ Văn Hóa, Thể Thao & Du Lịch. Về mặt chính sách, cấp vụ chỉ có chức năng tham mưu, còn quyền huy động nguồn kinh phí, đưa ra chính sách hoạt động xúc tiến thuộc về đơn vị cấp Cục. Việc thiếu “nhạc trưởng” làm cho công tác xúc tiến thời gian qua càng thêm yếu kém. 

    Chính những người đang hoạt động cho Tổng cục du lịch cũng thừa nhận rằng: Công tác quảng bá du lịch của Du lịch Việt Nam vẫn chưa được quan tâm, đầu tư thực sự và thiếu chuyên nghiệp. Công tác xúc tiến, quảng bá, kinh phí để chi cho công tác này ở Việt Nam còn thấp với mức đầu tư – chỉ khoảng 2 triệu USD, trong khi các nước xung quanh hiện chi cho việc xúc tiến, quảng bá khoảng 100 triệu USD. Ngoài ra, Việt Nam đang thiếu đi sự hiện diện của các văn phòng xúc tiến du lịch ở nước ngoài trong khi Thái Lan có đến 28 văn phòng đại diện ở các nước.

    Kết

    Lựa chọn hình ảnh quốc gia hay định vị rõ ràng thương hiệu du lịch của cả một đất nước chưa bao giờ là công việc dễ dàng vì nó đòi hỏi phải gắn liền với thực tiễn nền kinh tế và được đồng thuận (tương đối) của người dân. Xây dựng thương hiệu quốc gia là một quyết định ở tầm chiến lược, đòi hỏi những nghiên cứu khoa học và vận hành bền bỉ chứ để đi đường dài, không phải là những quyết định ngẫu hứng chạy theo bất kì sự kiện hay cơ quan nào khác.

    Future Band, Tổng cục du lịch, World Bank, Hiệp hội du lịch quốc tế

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dịch Vụ Hỗ Trợ Cho Sinh Viên Xin Visa Du Lịch Hàn Quốc Đạt Đến 95%
  • Xin Visa Du Lịch Hàn Quốc Cho Sinh Viên Có Khó Không, Thủ Tục Ra Sao?
  • Hình Thức Thanh Toán Bằng Tấm Thẻ Séc
  • Séc Du Lịch(Séc Của Lữ Khách)
  • Séc (Cheque) Là Gì? Đặc Điểm Và Phân Loại Séc
  • Vấn Đề Phát Triển Du Lịch Sinh Thái Ở Việt Nam Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Vĩnh Phúc: Phát Triển Du Lịch Tam Đảo Thành Điểm Đến Hấp Dẫn Và Bền Vững
  • 4 Giải Pháp Liên Kết Phát Triển Du Lịch Vùng Tây Bắc
  • Phát Triển Du Lịch Tây Bắc
  • Đẩy Mạnh Liên Kết Phát Triển Du Lịch Tây Bắc
  • Bắt Đầu Từ Thế Mạnh Đang Có
  • Mặt khác, du lịch là tổng thể của những hiện tượng và những mối quan hệ phát sinh do tác động qua lại giữa khách du lịch, người kinh doanh du lịch, chính quyền sở tại và cộng đồng dân cư địa phương, do đó du lịch có tác động không nhỏ tới cộng đồng dân cư sở tại. Du lịch tạo cơ hội về việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho người dân. Đồng thời chính lòng hiếu khách, phong tục tập quán, bản sắc văn hóa của mỗi cộng đồng dân cư cũng là yếu tố hấp dẫn du khách. Vì vậy, phát triển du lịch mà vẫn bảo vệ được môi trường sống, làm phong phú thêm môi trường tự nhiên và bảo tồn, phát huy được những đặc sắc văn hóa bản địa là xu hướng tất yếu để bảo đảm sự bền vững.

    Xu hướng phát triển du lịch sinh thái hiện nay

    Du lịch sinh thái là một loại hình du lịch vừa dựa vào những hình thức truyền thống vừa có sự hòa nhập với môi trường tự nhiên và văn hóa bản địa, từ đó nâng cao ý thức trách nhiệm của du khách, không gây tổn hại đối với môi trường tự nhiên và nền văn hóa sở tại. Tham gia loại hình du lịch này, du khách có thể đến với những vùng thiên nhiên hoang sơ, tươi đẹp, những miền quê bình yên, trù phú hay các khu bảo tồn thiên nhiên đa dạng,… với những trải nghiệm thú vị. Đây cũng chính là loại hình du lịch ngày càng phát triển nhanh trên thế giới, trở thành xu hướng phát triển du lịch hiện nay, hướng tới sự bền vững.

    Theo Tổ chức du lịch sinh thái quốc tế, du lịch sinh thái là du lịch có ý thức và trách nhiệm đối với môi trường thiên nhiên, như bảo tồn môi trường và bảo đảm lối sống lành mạnh cho người dân quanh khu vực. Đây là một loại hình du lịch mà mỗi cộng đồng trong khu vực nên có trách nhiệm bảo tồn tính bền vững, hướng tới mục tiêu tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương, khuyến khích người dân có ý thức bảo vệ môi trường, tạo thuận lợi cho họ làm kinh tế du lịch và bảo vệ môi trường tự nhiên.

    Ứng xử với cộng đồng dân cư là vấn đề mấu chốt mang lại thành công cho du lịch sinh thái cộng đồng. Các cơ hội và giải pháp sẽ thay đổi tại các khu vực khác nhau giữa các cộng đồng. Một nguyên tắc quan trọng là sự kết hợp giữa cấu trúc xã hội và cộng đồng, mặc dù có thể tạo ra những thách thức cũng như cơ hội, mục đích chính vẫn là mang lại những thuận lợi cho cộng đồng, tạo nhiều cơ hội việc làm hơn cho mọi người, nhất là phụ nữ. Du lịch sinh thái cộng đồng yêu cầu sự hiểu biết, trách nhiệm cộng đồng. Cùng với các sáng kiến cho cộng đồng thì vấn đề doanh nghiệp tư nhân và đầu tư cần được khuyến khích đúng chỗ để mang lại lợi nhuận cho cộng đồng.

    Các nhà tư vấn cộng đồng và các tổ chức nên thống nhất chiến lược về du lịch sinh thái nhằm mang lại lợi ích kinh tế – xã hội. Các sáng kiến du lịch sinh thái cộng đồng nên tập trung vào chiến lược rõ ràng, thống nhất, được lĩnh hội bởi cộng đồng địa phương và các đơn vị quan tâm đến lợi ích du lịch. Ngoài ra, cần biết xây dựng các sản phẩm du lịch chất lượng, hành động liên kết với công ty lữ hành, thông qua các chiến lược quảng bá rộng rãi trong và ngoài nước…

    Có thể khẳng định, du lịch sinh thái cộng đồng đề cao quyền làm chủ, quản lý phân bổ lợi ích rộng rãi và nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng. Với khách du lịch, du lịch sinh thái cộng đồng tạo cơ hội tìm hiểu, nâng cao nhận thức về môi trường và giao lưu văn hóa, trải nghiệm cuộc sống. Đây cũng chính là ưu thế của du lịch sinh thái và du lịch bền vững.

    Tại Việt Nam, du lịch sinh thái cộng đồng đã góp phần xóa đói, giảm nghèo và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn. Du lịch cộng đồng mang lại hiệu quả rõ rệt trong quá trình phát triển ở các vùng nông thôn nước ta, tạo nhiều cơ hội cho cộng đồng địa phương thu nhập trực tiếp từ hoạt động du lịch, chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương theo hướng dịch vụ và phát triển bền vững. Thông qua du lịch sinh thái cộng đồng, văn hóa các địa phương, các vùng miền được tôn trọng, bảo vệ, khai thác, phát huy giá trị và được giới thiệu, quảng bá rộng rãi. Du lịch cộng đồng mang lại hiệu quả rõ ràng trong quá trình hiện đại hóa nông thôn thông qua việc tạo thêm nhiều công ăn việc làm, giữ gìn và phát huy các làng nghề truyền thống, bảo vệ các giá trị cộng đồng, thay đổi mức sống của người dân địa phương, thay đổi nhận thức và từng bước thu hẹp sự khác biệt giữa đô thị và nông thôn về chất lượng cuộc sống, giảm bớt sức ép về di dân tự do từ các vùng nông thôn tới đô thị, góp phần làm ổn định trật tự xã hội. Khi cộng đồng phát triển, các dịch vụ du lịch tại điểm đến được nâng lên, chất lượng phục vụ du khách từ đó cũng được nâng cao, đem lại nguồn thu dồi dào cho người dân và doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch. Mối quan hệ hữu cơ giữa phát triển du lịch với phát triển cộng đồng vì thế càng trở nên khăng khít, gắn bó hơn.

    Một số giải pháp bảo vệ môi trường để phát triển du lịch

    Thứ nhất, bảo vệ bằng việc tăng cường công tác tuyên truyền, kêu gọi tính tự giác của nhân dân nơi có cảnh quan du lịch.

    Để du lịch sinh thái thực sự đóng góp hiệu quả vào công tác bảo vệ môi trường thì một yếu tố quan trọng là sự hưởng ứng và tham gia nhiệt tình của cộng đồng người dân địa phương. Chính vì vậy, cần gắn kết phát triển du lịch sinh thái với sự phát triển của cộng đồng dân cư, góp phần xóa đói, giảm nghèo, tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương làm du lịch sinh thái tại chỗ để giúp họ nâng cao nhận thức về bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường du lịch nhằm bảo đảm sinh kế lâu dài, bền vững.

    Thứ hai, bảo vệ bằng pháp luật.

    Để phát triển du lịch theo hướng thân thiện với môi trường thì việc tạo cơ chế, chính sách phát triển du lịch sinh thái bền vững là rất quan trọng. Điều này tạo ra một hành lang pháp lý cho hoạt động du lịch sinh thái nhằm làm cơ sở cho việc giám sát chặt chẽ hoạt động du lịch và quản lý nguồn tài nguyên.

    Bên cạnh đó, cần giáo dục nâng cao ý thức thực hiện luật bảo vệ môi trường cho mọi người dân. Việc này không chỉ dừng lại ở du khách, cộng đồng dân cư địa phương mà còn phải tiến hành cả ở các cấp quản lý, các đơn vị và đối tượng kinh doanh tại các điểm du lịch sinh thái bằng nhiều hình thức, như tổ chức cuộc vận động, phổ biến văn bản hướng dẫn, phát hành ấn phẩm, tổ chức các buổi nói chuyện chuyên đề, phổ biến những video clip về cảnh quan du lịch sinh thái hay thông qua việc thuyết minh về bảo vệ môi trường của các hướng dẫn viên du lịch…

    Thứ ba, cần đổi mới cơ chế, chính sách, tạo điều kiện phát triển du lịch sinh thái rộng rãi trên nhiều vùng miền của đất nước. Cần có những quy hoạch hợp lý, chính sách và dự án tối ưu trong phát triển du lịch nhằm giảm thiểu các tác động đến môi trường, trong đó gồm cả môi trường du lịch tự nhiên, môi trường du lịch nhân văn, môi trường du lịch kinh tế – xã hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 5 Lý Do Khiến Du Lịch Quy Nhơn Trở Thành Điểm Đến “hot” Nhất Hè Này
  • Du Lịch Quy Nhơn Phát Triển Mạnh
  • Phát Triển Du Lịch Phía Tây Quảng Trị
  • Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Quảng Nam
  • Phát Triển Du Lịch Quảng Nam Thành Ngành Kinh Tế Mũi Nhọn
  • Hội Nhập Quốc Tế Và Những Vấn Đề Đặt Ra Cho Phát Triển Du Lịch Bền Vững Ở Việt Nam Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Du Lịch Đà Nẵng Hội Nhập Quốc Tế
  • Du Lịch Việt Nam Hội Nhập Cộng Đồng Kinh Tế Asean
  • Tour Du Lịch Hội Thảo: Đà Nẵng
  • Tour Du Lịch Hội Thảo: V’resort Hòa Bình
  • Tour Du Lịch Kết Hợp Hội Thảo Tại Huế
  • Cùng với chính sách mở cửa hội nhập chung của đất nước theo phương châm chủ động hội nhập, đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ quốc tế, du lịch với tư cách là một ngành kinh tế dịch vụ đã đẩy mạnh các hoạt động hội nhập với song phương, đa phương, khu vực và liên khu vực.

    Hội nhập quốc tế đã và đang tạo ra những cơ hội để nước ta phát triển du lịch, đồng thời cũng đặt ra không ít thách thức cho sự phát triển bền vững của ngành Du lịch ở Việt Nam.

    – Cơ hội được cải cách: Đối với doanh nghiệp du lịch khi hội nhập là sức ép buộc phải có sự cải cách mạnh mẽ trong bản thân mỗi doanh nghiệp nếu muốn tồn tại trên thị trường. Các doanh nghiệp du lịch Việt Nam sẽ được tiếp cận và học hỏi trình độ quản lý tiên tiến của các tập đoàn du lịch lớn trên thế giới. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp du lịch nước ngoài với nhiều kinh nghiệm hoạt động lâu năm trên phạm vi quốc tế sẽ giúp chuyển giao kinh nghiệm khai thác khách và đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác quảng bá và marketing du lịch tại Việt Nam.

    – Mở rộng thị trường và phát triển những loại hình du lịch mới: Việc cho phép thêm các doanh nghiệp du lịch lữ hành có vốn đầu tư nước ngoài tham gia cung cấp dịch vụ kinh doanh gửi khách tại thị trường trong nước sẽ tăng thêm năng lực khai thác khách du lịch inbound (khách du lịch quốc tế vào Việt Nam) và làm cho hoạt động du lịch inbound trong những năm tới sẽ phát triển mạnh mẽ. Đặc biệt, lượng khách du lịch công vụ, MICE sẽ tăng mạnh sau khi Việt Nam gia nhập WTO và tổ chức thành công sự kiện APEC.

    – Mở ra cho du lịch nước ta những cơ hội cạnh tranh mới, từ đó thu hút thêm nhiều vốn đầu tư nước ngoài, tạo công ăn việc làm, nâng cấp cơ sở hạ tầng và trang thiết bị cho phát triển du lịch. Du lịch Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm của các vùng, quốc gia ở trên thế giới một cách nhanh chóng và dễ dàng.

    – Cơ hội để hoàn thiện và có được hệ thống chính sách hỗ trợ có hiệu quả: Tạo cơ hội để các nhà hoạch định chính sách nắm bắt tốt hơn tình hình và xu thế phát triển của thế giới, từ đó có thể đề ra chính sách cho phù hợp để phát triển du lịch. Việc Chính phủ cam kết về xây dựng tính minh bạch, có thể dự đoán được trong các quy định và chính sách về phát triển kinh tế nói chung và phát triển du lịch nói riêng, sẽ tạo ra tiền đề phát triển lành mạnh hơn cho các doanh nghiệp du lịch.

    Những tác động tiêu cực

    – Bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống: Hội nhập quốc tế sẽ tạo điều kiện cho các quốc gia giao lưu kinh tế, đồng thời với quá trình đó, hoạt động văn hóa cũng được giao thoa. Vì vậy, bên cạnh cơ hội chủ động tiếp thu những giá trị văn hóa của thế giới trên cơ sở phát huy bản sắc của truyền thống văn hóa dân tộc sẽ là nguy cơ tiếp thu tràn lan, thiếu chọn lọc, dẫn đến bị mất bản sắc văn hóa truyền thống, bị hòa tan vào trong thế giới toàn cầu hóa.

    – Tăng sức ép về môi trường: Cùng với hội nhập và mở cửa, sự phát triển nhanh chóng của nhiều ngành kinh tế, đặc biệt là công nghiệp có đầu tư về vốn và công nghệ nước ngoài một mặt đem lại những lợi ích kinh tế cho quốc gia tiếp nhận, đồng thời cũng tạo ra sức ép rất lớn về môi trường, nguy cơ hủy hoại môi trường sinh thái, làm suy giảm đa dạng sinh học và chính điều đó sẽ làm thiệt hại cho ngành Du lịch, nảy sinh yếu tố kém bền vững cho phát triển du lịch. Nhiều bài học từ thực tế phát triển các khu công nghiệp, các dự án phát triển đô thị, các dự án khu vui chơi giải trí lớn, v.v… có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam thời gian qua cũng chứng minh được tác động tiêu cực này của hội nhập.

    – Cạnh tranh: Đây là yếu tố tất yếu diễn ra trong quá trình hội nhập quốc tế. Cạnh tranh là một cơ hội trong quá trình hội nhập quốc tế song lại là một thách thức lớn đối với các quốc gia. Hiện nay, sự bành trướng của các tập đoàn đa quốc gia đang và sẽ là mối đe dọa lớn đối với các doanh nghiệp du lịch ở các nước đang phát triển. Các tập đoàn này có lợi thế về vốn, kỹ thuật và kinh nghiệm tổ chức sản xuất, kinh doanh, kinh nghiệm cạnh tranh trên thị trường, sẽ chiếm ưu thế trong cạnh tranh. Hội nhập quốc tế tạo áp lực cạnh tranh về các sản phẩm du lịch ngày càng tăng. Nếu các doanh nghiệp du lịch ở quốc gia nào đó không đáp ứng được yêu cầu của hội nhập thì sẽ bị thôn tính.

    – Dịch chuyển thị trường lao động có chất lượng: Đây là yếu tố bất lợi do hội nhập đối với các quốc gia đang phát triển khi mà chính sách ưu đãi đối với người lao động chưa thỏa đáng. Hội nhập cho phép người lao động lựa chọn nơi làm việc phù hợp và vì vậy người lao động có trình độ, kỹ năng sẽ tìm đến các nước phát triển hoặc các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các tổ chức quốc tế có chế độ ưu đãi tốt hơn để làm việc. Kết quả là hội nhập sẽ tác động tiêu cực đến nguồn nhân lực của các nước kém hoặc đang phát triển như Việt Nam. (Còn nữa)

    Nguyễn Trung Dũng Học viện Chính trị CAND

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cần Lưu Ý Gì Để Có Chương Trình Du Lịch Hội Nghị Hoàn Hảo?
  • Hội Nghị Là Gì? Cách Thức Tổ Chức Hội Nghị Chuyên Nghiệp, Ấn Tượng
  • Hội Thảo, Hội Nghị Là Gì? Cách Tổ Chức Hội Thảo, Hội Nghị Chuyên Nghiệp.
  • 10 Bước Tổ Chức Chương Trình Du Lịch Hội Nghị, Hội Thảo
  • Tour Du Lịch Đà Nẵng Kết Hợp Hội Nghị
  • Trang Cung Cấp Chủ Đề Về Văn Hoá Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Chuyến Bay Giá Rẻ Đến Việt Nam Với Giá Từ 1.108.097 ₫ Vào 2022
  • Những Sắc Màu Văn Hóa, Du Lịch Biển Đảo
  • Công Ty Tnhh Du Lịch Nụ Cười Việt
  • Giới Thiệu Về Du Lịch Việt Á
  • Dịch Vụ Cho Thuê Xe Cưới Hỏi Từ 5 Đến 45 Chỗ Ngồi Sang Trọng, Giá Rẻ
  • XEM VIDEO CHI TIẾT BÊN DƯỚI

    .

    Thái Nguyên – Điểm Hẹn Vùng Việt Bắc –

    Thái Nguyên là trung tâm kinh tế, chính trị của vùng Bắc Bộ Việt Nam. Đây là vùng đất có vị trí địa chính trị kinh tế hết sức quan trọng và là cửa ngõ giao thông chiến lược nối các tỉnh, thành phố trong cả nước bằng đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường hàng không. Thái Nguyên là tỉnh có tài nguyên thiên nhiên phong phú, cơ sở hạ tầng xã hội phát triển và là vùng đất giàu truyền thống văn hóa. Đặc biệt, Thái Nguyên là thủ phủ chè, nơi có sản phẩm chè Tân Cương nổi tiếng, được mệnh danh là “đệ nhất danh trà”. Với những điều kiện thuận lợi đó, Thái Nguyên là tỉnh có nhiều tiềm năng và tiềm năng phát triển, hứa hẹn sẽ trở thành điểm đến hấp dẫn của du khách và các nhà đầu tư trong nước và quốc tế. Để hiểu rõ hơn về tiềm năng, thế mạnh và sức hấp dẫn của vùng đất Đông Bắc này, chúng ta cùng xem bộ phim “Thái Nguyên – điểm hẹn Việt Bắc”. ..

    Thái Nguyên,Việt Nam,Vùng Việt Bắc,Điểm Hẹn Vùng Việt Bắc,Du Lịch Văn Hóa Việt Nam,van hoa,du lich,lễ hội van hoa viet nam,du lich viet nam,lễ hội văn hóa Việt Nam,le hoi van hoa,hội làng,hội làng miền bắc,làng văn hóa các dân tộc Việt Nam.

    Mong rằng những thông tin này mang lại giá trị cho bạn. Cảm ơn các bạn đã theo dõi thông tin mà chúng tôi cung cấp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quảng Bá Du Lịch Thái Nguyên Tại Chương Trình “Du Lịch Qua Những Miền Di Sản Việt Bắc” Lần Thứ Xi Tại Lạng Sơn
  • Công Ty Tnhh Đầu Tư Thương Mại Và Du Lịch Việt Bắc Travel
  • Khai Thác Then Việt Bắc Trong Phát Triển Du Lịch
  • Thái Nguyên Tham Gia Chương Trình Du Lịch Qua Những Miền Di Sản Việt Bắc Lần Thứ Xi/2019
  • Chương Trình Du Lịch “Qua Những Miền Di Sản Việt Bắc”: Nơi Tinh Hoa Văn Hóa Hội Tụ
  • Một Số Vấn Đề Về Quy Hoạch Và Phát Triển Du Lịch Biển Việt Nam Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Quy Hoạch Chi Tiết Tỉnh Bình Định Đến Năm 2035
  • Bản Đồ Quy Hoạch Cần Thơ 2022
  • Bản Đồ Quy Hoạch Thành Phố Cần Thơ Đến Năm 2025
  • Toàn Bộ Dự Án Quy Hoạch Du Lịch Côn Đảo (Mới Nhất)
  • Phát Triển Khu Du Lịch Quốc Gia Côn Đảo Đến Năm 2030 (P1)
  • Ở nước ta có nhiều điều kiện thuận lợi về tài nguyên biển và điều kiện tự nhiên với 3.260 km bờ biển, xếp thứ 27 trong 156 quốc gia có biển trên thế giới, có vùng biển rộng gần 1 triệu km2 và khoảng 3.000 hòn đảo lớn nhỏ, với tổng diện tích 1.700 km2 có nhiều bãi tắm trải dài ven biển Việt Nam. Trung bình cứ 100 km2 đất liền có 1 km bờ biển, trong khi đó thế giới là 600 km2 đất liền có 1 km bờ biển. Trong số hàng nghìn hòn đảo lớn nhỏ của nước ta, có 3 đảo diện tích lớn hơn 100 km2, 23 đảo có diện tích lớn hơn 10 km2, 82 đảo có diện tích hơn 1 km2 và khoảng 1.400 đảo chưa có tên.

    Vùng biển và ven biển nước ta có vị trí địa lý, chính trị, kinh tế quan trọng đối với các nước trong khu vực và toàn thế giới. Đây là tuyến hàng hải chủ yếu thông thương giữa Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương với các hoạt động hàng hải thương mại mạnh mẽ trên khu vực biển Đông. Dọc bờ biển theo thống kê có 125 bãi biển có đủ điều kiện, quy mô tầm cỡ quốc tế, thuận lợi cho việc tắm biển, nghỉ dưỡng, vui chơi trong những kỳ nghỉ của du khách. Các bãi biển Việt Nam đều bằng phẳng, nguyên sơ, cát, nước trong xanh, sóng gió vừa phải, không có các ổ xoáy và cá dữ. Sự kết hợp hài hòa giữa các cảnh quan thiên nhiên trời đất ban tặng với cảnh quan văn hóa, xã hội của con người ở vùng biển và các hải đảo cùng với những điều kiện thuận lợi về vị trí địa lý, địa hình, thời tiết đã tạo ra một lợi thế quan trọng để phát triển ngành du lịch biển đảo ở Việt Nam có ưu thế hơn hẳn các loại hình du lịch khác.

    Ở các khu vực ven biển của cả nước tập trung khoảng 70% các điểm, khu du lịch. Trong đó, có nhiều khu du lịch biển cao cấp, nổi tiếng như: Tuần Châu (Hạ Long), Vạn Chài (Thanh Hóa), Mũi Né (Bình Thuận), Côn Đảo (Vũng Tàu), Phú Quốc (Kiên Giang)…. Hàng năm du lịch trên biển đảo thu hút một lượng khách tương đối đông cả trong nước và quốc tế với khoảng 15 triệu lượt khách, trong đó có hơn 3 triệu khách nước ngoài, bằng 73% số khách du lịch nước ngoài của cả nước, đạt tốc độ tăng bình quân 13%/ năm, giải quyết việc làm cho hơn 15 vạn lao động. Thu nhập từ ngành kinh tế du lịch cũng đạt tương đối cao, năm 2006 thu nhập từ ngành này là 51 tỷ đồng. Hệ thống cơ sở lưu trú du lịch ngày càng phát triển mạnh và có các loại hình phong phú và đa dạng. Theo thống kê của Tổng cục Du lịch đến năm 2007, cả nước đã có 8.556 cơ sở lưu trú du lịch với tổng số 170.551 buồng, tăng 25 lần so với năm 1990 với tốc độ bình quân là 12,6%/ năm. Chất lượng các cơ sở lưu trú du lịch cũng có chuyển biến mạnh. Trong tổng số 4283 cơ sở lưu trú du lịch được xếp hạng từ đạt tiêu chuẩn kinh doanh lưu trú du lịch đến hạng 5 sao. Cụ thể là: 25 khách sạn 5 sao với 7.167 buồng, 69 khách sạn 2 sao với 24.041 buồng, 632 khách sạn 1 sao với 16.976 buồng và 2.830 khách sạn đạt tiêu chuẩn tối thiểu với 42.697 buồng. Toàn ngành du lịch đã thu hút 230.000 lao động trực tiếp, trong đó lao động làm việc trong hệ thống cơ sở lưu trú du lịch là 120.000 người.

    Trong chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2010 Đảng ta đã xác định có 7 khu vực được ưu tiên phát triển du lịch biển đảo, trong đó có 5 khu vực thuộc ven biển, bao gồm: Vịnh Hạ Long – Cát Bà – Đồ Sơn; Huế – Đà Nẵng – Quảng Nam; Đại Lãnh – Vân Phong – Nha Trang; Vũng Tàu – Long Hải – Công Đảo; Rạch Giá – Phú Quốc.

    Ngay từ năm 1993, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết về một số nhiệm vụ phát triển kinh tế biển trong những năm trước mắt. Đến Đại hội IX của Đảng đã xác định:” Xây dựng chiến lược phát triển kinh tế biển và hải đảo, phát huy thế mạnh đặc thù của hơn 1 triệu km2 thềm lục dịa. Tăng cường điều tra cơ bản làm cơ sở cho các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế biển” (1). “Phát triển mạnh và phát huy vai trò chiến lược của kinh tế biển kết hợp với bảo vệ vùng biển” (2). Đại hội X của Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Phát triển mạnh kinh tế biển vừa toàn diện, vừa có trọng tâm, trọng điểm với những ngành có lợi thế so sánh để đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về kinh tế biển gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh và hợp tác quốc tế” (3). Tuy nhiên, du lịch biển đảo Việt Nam hiện nay vẫn còn có những hạn chế nhất định như: nhận thức về vị trí, vai trò của biển đảo và du lịch biển đảo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của các cấp, các ngành và nhân dân còn chưa đầy đủ. Chúng ta đã có quy hoạch các vùng ven biển đảo, song nhìn chung còn phát triển manh mún chưa đồng bộ. Do đó, trong quá trình phát triển du lịch biển đảo góp phần vào phát triển nền kinh tế chung của đất nước ở một số vùng, địa phương còn diễn ra một cách tự phát, thiếu tính bền vững. Có những nơi du lịch nổi tiếng bị san lấp, xâm hại làm tổn thương nghiêm trọng đến môi trường sinh thái như sự kiện Vịnh Nha Trang – một trong những di sản văn hóa của đất nước rộng hơn 56 ha, hiện đang bị san lấp hoàn toàn để lập khu dân cư Phú Quý (gần 80 ha) với dân số 12.000 người. Hiểu biết pháp luật về biển và ý thức giữ gìn, bảo vệ môi trường biển của người dân còn yếu kém. Nhiều nơi bãi biển cư dân còn làm nơi đổ rác thải, làm ô nhiễm môi trường sống của sinh vật và cả con người.

    Ở nước ta hiện nay hầu hết các cảng biển là cảng hàng hóa, chưa có cảng chuyên biệt cho tàu du lịch. Nhiều cảng tàu có trọng tải lớn không thể cập bờ nên phải di chuyển khách bằng cano hoặc tàu du lịch mất nhiều thời gian, công sức, giảm cảm hứng cho khách du lịch. Cơ sở hạ tầng vật chất của cầu cảng chưa được đầu tư đúng mức, các dịch vụ tại cảng còn hạn chế không đáp ứng được nhu cầu của số lượng lớn du khách tàu biển. Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền, giáo dục quảng bá về du lịch biển đảo Việt Nam chưa được quan tâm đúng mức. Chưa đào tạo được đội ngũ chuyên gia giỏi về ngành du lịch biển đảo. Du lịch Việt Nam chưa tham gia các hội nghị, hội chợ chuyên về du lịch biển và tàu biển trên thế giới. Vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng biển đảo chưa đáp ứng được yêu cầu. Nguồn lực trong dân dồi dào nhưng chưa được đào tạo, sử dụng để phục vụ cho ngành du lịch biển. Hơn nữa, du lịch biển đảo Việt Nam còn yếu và thiếu về phương tiện vận chuyển, cũng như đội ngũ hướng dẫn viên du lịch có kinhn ghiệm và sử dụng thành thạo ngoại ngữ, nhất là những ngoại ngữ ít thông dụng, do đó việc bán vé và thực hiện các chương trình tham quan cho khách còn khó khăn, hạn chế.

    Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã thông qua chiến lược biển Việt Nam đến năm 2022. Trong đó, mục tiêu của Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2022 là “Phấn đấn đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo, góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, làm cho đất nước giàu mạnh” (4). Cụ thể: “Phấn đấu đến năm 2022 kinh tế biển và vùng ven biển đóng góp khoảng 53 – 55% tổng GDP của cả nước, trong đó riêng của kinh tế trên biển khoảng 21 – 23%” (5). Với mục tiêu chung đó, du lịch biển đảo là ngành có đóng góp quan trọng. Muốn đạt được chỉ tiêu như đã đề ra, chúng ta cần phải có một số giải pháp đồng bộ về quy hoạch và phát triển du lịch biển đảo như:

    Để tăng cường công tác giáo dục ý thức bảo vệ môi trường biển cho nhân dân, Nhà nước cần quan tâm chỉ đạo các phương tiện thông tin đại chúng thường xuyên dành một thời gian thích hợp cho chuyên mục này, để mỗi người dân được thông tin về môi trường và ô nhiễm môi trường nói chung và biển nói riêng, giúp mỗi người nâng cao nhận thức và có trách nhiệm của mình đối với sự trong lành của biển và cuộc sống của con người.

    Như vậy, quy hoạch và phát triển du lịch biển đảo Việt Nam hiện nay là một vấn đề quan trọng, cần có sự quan tâm chỉ đạo của các cấp, các ngành, và nhận thức, ý thức tự giác của mọi người dân. Nhà nước cần có kế hoạch xây dựng quy hoạch phát triển biển đảo Việt Nam, tạo nên một môi trường biển trong sạch, lành mạnh thì mới có thể thu hút khách du lịch trong và ngoài nước đến tham quan, nghỉ mát. Có như vậy du lịch biển đảo Việt Nam mới góp phần to lớn vào sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước.

    1/ Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2001, tr 181.

    2/ Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2001, tr 95.

    3/ Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2006, tr 225.

    4/ Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương, Tài liệu nghiên cứu các nghị quyết hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X (dành cho cán bộ chủ chốt và báo cáo viên), Lưu hành nội bộ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2007, tr 94 – 95.

    5/ Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương, Tài liệu nghiên cứu các nghị quyết hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X (dành cho cán bộ chủ chốt và báo cáo viên), Lưu hành nội bộ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2007, tr 95.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quảng Ninh: Quy Hoạch Khu Du Lịch Bãi Cháy Và Hùng Thắng
  • Thuê Xe 35 Chỗ Isuzu Samco Quảng Nam
  • Món Ngon Du Lịch Sầm Sơn 7 Món Chia 2 Loại
  • Du Lịch Sầm Sơn Hội Nhập Để Phát Triển Bền Vững
  • Cách Viết Quảng Cáo Tour Du Lịch Hấp Dẫn
  • Bài 39. Vấn Đề Khai Thác Lãnh Thổ Theo Chiều Sâu Ở Đông Nam Bộ

    --- Bài mới hơn ---

  • Xua Tan Nắng Hè Với Những Bãi Biển Đẹp Ngất Ngây Ở Nam Định
  • Những Bãi Biển Đẹp Ở Nam Định
  • Ăn Chơi Biển Quất Lâm Nam Định Từ A Đến Z
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Biển Hải Thịnh : Đi Khi Nào? Ở Đâu? Chơi Gì?
  • Resort Tại Miền Bắc Chất Lượng Tốt Bạn Nên Ghé Thăm
  • I. Khái quát chung.

    – Gồm Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Đồng Nai và Bà Rịa – Vũng Tàu.

    – Diện tích (23,6 nghìn km 2), số dân (12 triệu người, năm 2006). Dẫn đầu cả nước về GDP, giá trị sản lượng công nghiệp và giá trị hàng xuất khẩu.

    – Có nền kinh tế hàng hóa sớm phát triển, cơ cấu kinh tế công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ phát triển hơn so với các vùng khác.

    – Có ưu thế về vị trí địa lý, nguồn lao động lành nghề, cơ sở vật chất kỹ thuật, có chính sách phát triển phù hợp, thu hút được các nguồn đầu tư trong và ngoài nước, Đông Nam Bộ đang sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên, nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao.

    II -Các thế mạnh và hạn chế của vùng (Nêu các thế mạnh và hạn chế của vùng ĐNB trong việc phát triển tổng hợp nền kinh tế.)

    -Giáp Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên; Campuchia; Đồng bằng sông Cửu Long, biển Đông.

    2-Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên.

    – Đất đai: Đất đỏ badan khá màu mỡ ( 40% diện tích đất của vùng ); đất xám bạc màu trên phù sa cổ.

    – Khí hậu: cận xích đạo, nguồn nhiệt ẩm dồi dào. thủy lợi được cải thiện, thuận lợi phát triển các cây công nghiệp lâu năm, cây ăn quả và cả cây công nghiệp ngắn ngày trên quy mô lớn.

    – Rừng: không lớn, cung cấp gỗ dân dụng và gỗ củi, nguyên liệu giấy .Rừng quốc gia Cát Tiên (Đồng Nai) , Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ (Tp Hồ Chí Minh).

    – Thủy điện : Hệ thống sông Đồng Nai có tiềm năng lớn.

    3-Điều kiện kinh tế – xã hội.

    – Dân cư đông,lao động dồi dào có chuyên môn cao.

    – Thành phố Hồ Chí Minh: lớn nhất nước về diện tích ,dân số, đồng thời cũng là trung tâm công nghiệp, giao thông vận tải và dịch vụ lớn nhất cả nước.

    – Vốn và kỹ thuật cao, thu hút nhiều đầu tư trong và ngoài nước .

    – Cơ sở hạ tầng phát triển tốt, đặc biệt về giao thông vận tải và thông tin liên lạc.

    -ĐNB có nền kinh tế hàng hóa sớm phát triển, công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ phát triển hơn so với các vùng khác trong cả nước nên chỉ cần khai thác lãnh thổ theo chiều sâu.

    – Khai thác lãnh thổ theo chiều sâu là nâng cao hiệu quả khai thác lãnh thổ trên cơ sở đẩy mạnh đầu tư vốn, khoa học công nghệ, nhằm khai thác tốt nhất các nguồn lực tự nhiên và kinh tế – xã hội, đảm bảo duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, đồng thời giải quyết tốt các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường.

    1-Một số phương hướng chính để khai thác theo chiêu sâu trong công nghiệp ( Trình bày một số phương hướng chính để khai thác lãnh thổ theo chiều sâu trong CN của vùng.)

    – Tăng cường và cải thiện phát triển nguồn năng lượng.

    +Các nhà máy thủy điện : Trị An (400 MW) trên sông Đồng Nai, Thác Mơ ,Cần Đơn trên Sông Bé.

    +Các nhà máy điện tuốc bin khí được xây dựng và mở rộng gồm :Phú Mỹ 1 , 2 , 3 , 4 (lớn nhất 4.000 MW), các nhà máy Bà Rịa, Thủ Đức và một số nhà máy nhiệt điện chạy bằng dầu phục vụ cho các khu chế xuất.

    +Đường dây cao áp 500 kV Hòa Bình – Phú Lâm( TP HCM)

    +Các trạm biến áp 500kV và một số mạch 500 kV được tiếp tục xây dựng như tuyến Phú Mỹ – Nhà Bè, Nhà Bè – Phú Lâm. Hàng loạt công trình 220 kV được xây dựng theo quy hoạch.

    – Nâng cao, hoàn thiện cơ sở hạ tầng nhất là GTVT và TTLL.

    -Mở rộng hợp tác, đầu tư với nước ngoài, chú trọng các ngành CN trọng điểm.

    – Khi phát triển công nghiệp cần phải luôn quan tam đến môi trường, tránh làm tổn hại đến ngành du lịch .

    – Ngành du lịch chiếm tỉ trọng ngày càng cao trong cơ cấu kinh tế của vùng.

    – Ngày càng phát triển đa dạng : dịch vụ thương mại, ngân hàng, tín dụng, thông tin, hàng hải, du lịch…

    – Đông Nam Bộ dẫn đầu cả nước về sự tăng trưởng nhanh và phát triển có hiệu quả các ngành dịch vụ.

    . ( CMR việc xây dựng các công trình thủy lợi có ý nghĩa hàng đầu trong việc sự dụng hợp lí tài nguyên nông nghiệp của vùng.)

    – ĐNB có mùa khô sâu sắc kéo dài,có nhiều vùng trũng thấp dọc theo sông Đồng Nai, sông La Ngà bị ngập úng vào mùa mưa.Nên vấn đề thủy lợi có ý nghĩa hàng đầu.

    – Nhiều công trình thủy lợi đã được xây dựng:

    + Công trình thủy lợi Dầu Tiếng : thượng lưu sông Saigon ( Tây Ninh, lớn nhất của nước ta)

    + Dự án thủy lợi Phước Hòa (Bình Dương – Bình Phước): giúp chia một phần nước của sông Bé cho sông Saigon , cung cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất.

    – Nhờ giải quyết nước tưới cho các vùng khô hạn về mùa khô và tiêu nước cho vùng thấp dọc sông Đồng Nai và sông La Ngà: diện tích đất trồng trọt tăng , hệ số sử dụng đất trồng hằng năm cũng tăng và khả năng bảo đảm lương thực, thực phẩm của vùng cũng khá hơn.

    *Việc thay đổi cơ cấu cây trồng nâng cao hơn vị trí của vùng chuyên canh cây công nghiệp lớn của cả nước.

    -Những vườn cao su già cỗi, năng suất thấp, được thay thế bằng các giống cao su cho năng suất cao và ứng dụng công nghệ trồng mới, sản lượng không ngừng tăng lên.

    – Sản xuất: cà phê, hồ tiêu, điều. Cây mía ,đậu tương chiếm vị trí hàng đầu trong các cây CN ngắn ngày.

    * Lâm nghiệp :Bảo vệ rừng trên thượng lưu các sông để tránh mất nước ở các hồ chứa, giữ được mực nước ngầm, phục hồi và phát triển rừng ngập mặn. Bảo vệ nghiêm ngặt các vườn quốc gia, khu dự trữ sinh quyển .

    4.Trong phát triển tổng hợp kinh tế biển . ( CMR phát triển tổng hợp kinh tế biển có thể làm thay đổi mạnh mẽ bộ mặt kinh tế của vùng . )

    -Vùng biển và bờ biển ĐNB có nhiều thuận lợi để phát triển tổng hợp KT biển,khai thác tài nguyên sinh vật biển, khai thác khoáng sản vùng thềm lục địa, du lịch biển và giao thông vận tải biển.

    -Việc phát hiện và khai thác dầu khí ( từ năm 1986) ở vùng thềm lục địa Nam Biển Đông của nước ta với quy mô ngày càng lớn, đã tác động mạnh đến sự phát triển của vùng, nhất là tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

    – Vũng Tàu là nơi nghỉ mát lý tưởng , là cơ sở dịch vụ lớn về khai thác dầu khí.

    -Việc phát triển công nghiệp lọc, hóa dầu và các ngành dịch vụ khai thác dầu khí thúc đẩy sự thay đổi mạnh mẽ về cơ cấu kinh tế và sự phân hóa lãnh thổ của vùng Đông Nam Bộ.

    – Vũng Tàu là nơi nghỉ mát lý tưởng , là cơ sở dịch vụ lớn về khai thác dầu khí.

    1/ Hãy nêu các thế mạnh của vùng Đông Nam Bộ trong việc phát triển tổng hợp nền kinh tế.

    a) Vị trí địa lý:

    – Nằm liền kề ĐBSCL, Tây Nguyên là những vùng nguyên liệu dồi dào để phát triển CN chế biến, dễ dàng giao lưu bằng đường bộ, kể cả với Campuchia, Duyên hải NTB.

    – Cụm cảng Sài Gòn, Vũng Tàu là cửa ngõ giao thông quốc tế.

    b) ĐKTN & TNTN:

    – Đất đỏ badan chiếm 40% diện tích vùng- nối tiếp vùng Nam Tây Nguyên, đất xám phù sa cổ chiếm diện tích ít hơn phân bố ở Tây Ninh, Bình Dương

    à thích hợp hình thành các vùng chuyên canh cây công nghiệp, cây ăn quả.

    – Khí hậu cận xích đạo, ít chịu ảnh hưởng của bão, thuận lợi trồng cây công nghiệp nhiệt đới: cao su, café, đỗ tương, thuốc lá, cây ăn quả…

    – Hệ thống sông Đồng Nai có giá lớn về thuỷ điện, giao thông, thuỷ lợi, thuỷ sản.

    – Vùng nằm gần các ngư trường lớn: Ninh Thuận- Bình Thuận- BR- VT, Cà Mau- Kiên Giangàcó điều kiện xây dựng các cảng cá, nuôi trồng và đánh bắt thủy sản.

    – Rừng tuy không lớn nhưng là nguồn cung cấp gỗ dân dựng cho tp. HCM và ĐBSCL, nguyên liệu giấy cho Liên hiệp giấy Đồng Nai. Ven biển có rừng ngập mặn thuận lợi để nuôi trồng thuỷ sảnà Nam Cát Tiên, Cần Giờ

    – Khoáng sản: dầu, khí trữ lượng lớn ở thềm lục địa Vũng Tàu; đất sét, cao lanh cho CN VLXD, gốm, sứ ở Đồng Nai, Bình Dương.

    c) ĐKKT- XH:

    – Lực lượng lao động lành nghề, có chuyên cao; nguồn lao động năng động, thích ứng với cơ chế thị trường

    – Có cơ sở vật chất- kỹ thuật hoàn thiện nhất nước, đặc biệt là GTVT & TTLL. Mạng lưới dịch vụ, thương mại, ngân hàng… phát triển hơn các vùng khác.

    – Có vùng kinh tế trọng điểm phía Nam: tp. HCM- ĐN- BD- VT, đặc biệt quan trọng tp. HCM là TTCN, GTVT, DV lớn nhất nước. Tập trung nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao.

    – Thu hút vốn đầu tư nước ngoài đứng đầu cả nước.

    2/ Hãy trình bày một số phương hướng chính để khai thác lãnh thổ theo chiều sâu trong công nghiệp (KTLTTCS) của vùng.

    * KTLTTCS: là nâng cao hiệu quả khai thác lãnh thổ trên cơ sở đẩy mạnh đầu tư vốn, khoa học công nghệ, nhằm khai thác tốt nhất các nguồn lực tự nhiên và KT- XH, đảm bảo duy trì tốc độ tăng trưởng KT cao, đồng thời giải quyết tốt các vấn đề xã hội và bảo vệ MT.

    * Công nghiệp của vùng chiếm tỷ trọng cao nhất nước (khoảng 55,6% GTSLCN cả nước), nổi bật: CN điện tử, luyện kim, hóa chất, chế tạo máy, tin học, thực phẩm…

    * Một số phương hướng chính:

    * Tăng cường cải thiện & phát triển nguồn năng lượng:

    – Xây dựng các nhà máy thuỷ điện: Trị An trên sông Đồng Nai (400MW), thuỷ điện Thác Mơ trên sông Bé (150MW), Cần Đơn trên sông Bé…

    – Đường dây 500 kv từ Hòa Bình vào Phú Lâm (tp. HCM) có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo nhu cầu năng lượng cho vùng.

    – Phát triển các nhà máy điện tuốc- bin khí: Phú Mỹ, Bà Rịa, Thủ Đức trong đó Trung tâm điện lực Phú Mỹ với tổng công suất thiết kế là 4. 000MW.

    – Phát triển các nhà máy điện chạy bằng dầu phục vụ các khu CN, khu chế xuất.

    * Nâng cao, hoàn thiện CSHT, nhất là GTVT- TTLL.

    * Mở rộng hợp tác đầu tư nước ngoài, chú trọng các ngành trọng điểm, công nghệ cao, đặc biệt ngành hóa dầu trong tương lai. Tuy nhiên vấn đề môi trường cần phải quan tâm, tránh ảnh hưởng tới ngành du lịch.

    của Tây Ninh & Củ Chi. Dự án thuỷ lợi Phước Hòa (BD, BP) cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt. Ngoài ra việc xây dựng các công trình thuỷ điện cũng giải quyết một phần nước tưới vào mùa khô, làm tăng hệ số sử dụng ruộng đất, DT trồng trọt tăng lên, khả năng đảm bảo LT- TP cũng khá hơn, thay đổi cơ cấu cây trồng, nâng cao vị trí của vùng… 3/ Chứng minh rằng việc xây dựng các công trình thủy lợi có ý nghĩa hàng đầu trong việc sử dụng hợp lý tài nguyên nông nghiệp của vùng.

    Vấn đề thuỷ lợi có ý nghĩa hàng đầu trong việc sử dụng hợp lý tài nguyên nông nghiệp của vùng:

    – Nhiều công trình thuỷ lợi được xây dựng, trong đó công trình thuỷ lợi hồ Dầu Tiếng (Tây Ninh) lớn nhất nước: rộng 270km2, chứa 1,5 tỷ m3, đảm bảo tưới tiêu cho 170. 000 ha

    A. Đất cát. B. Đât badan. C. Đất xám. D. Đất phù sa.

    A. Thềm lục địa. B. Vùng ngoài khơi C. Vùng cửa sông D. Trên đất liền

    A. Đồng Nai. B. Bình Phước. C. Tây Ninh. D. TP. Hồ Chí Minh

    A. Trên 45% B. Trên 50% C. 60% D. 30% Câu 44. Nhà máy thủy điện Trị An nằm trên sông nào?

    A. Đồng Nai. B. Bình Phước. C. TP. Hồ Chí Minh D. Tây Ninh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Du Lịch Biển Hải Tiến Thanh Hóa Ngỡ Ngàng Trước “vẻ Đẹp Hoang Sơ” Hút Hồn
  • 5 Bãi Biển Đẹp Ngất Ngây Ở Thanh Hóa
  • Những Bãi Biển Đẹp Nhất Thanh Hóa Nên Ghé Thăm
  • 7 Bãi Biển Đẹp Và Hoang Sơ Ở Thanh Hóa Bạn Phải Check
  • Những Bãi Biển Nổi Tiếng Ở Miền Nam
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100