Top 17 # Xây Dựng Thương Hiệu Du Lịch Việt Nam / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 11/2022 # Top Trend | Samthienha.com

Diễn Đàn Xây Dựng Thương Hiệu Việt / 2023

Hoàng Giang Việt là Công ty thương mại Dịch vụ & du lịch với đội ngũ nhân viên được đào tạo tốt về chuyên môn,linh động và có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc.Chúng tôi luôn chú trọng việc nâng cao chất lượng dịch vụ để cung cấp cho khách hàng những sản phẩm tốt nhất.HOÀNG GIANG VIỆT hiện đang là Đại lý Vé Máy Bay Cấp 1 của hơn 20 Hãng Hàng Không nổi tiếng trong nước và trên thế giới đang khai thác trực tiếp tại Việt Nam như: Vietnam Airlines, Pacific Airlines, Air France, Eva Airways, United Airlines, Korean Air, All Nippon Airways, Singapore Airlines, Malaysia Airlines, Thai Airways, Qantas Airways, Jetstar Asia Airways, Hong Kong Airlines, Shanghai Airlines, British Airways, Cathay Pacific Airways, … .Do đó chúng tôi chuyên cung cấp vé máy bay trong nước và quốc tế của các hãng hàng không nội địa và quốc tế hoạt động tại Việt Nam.Quý khách hàng sẽ được:

– Tư vấn miễn phí các đường bay thuận tiện nhất với giá cả hợp lý. – Đội ngũ nhân viên phòng vé chuyên nghiệp phục vụ tận tình, giao vé tận nơi trong khu vực nội thành.Công ty chúng tôi thường xuyên có những chương trình giá khuyến mãi của các hàng không dành cho Quý khách hàng.Ngoài ra, Công ty Hoàng Giang Việt còn có các dịch vụ khác như: Xin Visa nhập cảnh các nước, xin công văn nhập cảnh vào Việt Nam, dịch vụ bảo hiểm du lịch tòan cầu. Cùng với sự phát triển chung của nền kinh tế Việt Nam, Hòang Giang Việt đang dần khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế.

LĨNH VỰC HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

– Du lịch trong nước và nước ngoài.– Đại lý các hãng hàng không chính thức– Bán vé đi tòan cầu.– Visa các nước – hộ chiếu gấp– Đặt khách sạn tòan cầu.– Bảo hiểm du lịch tòan cầu.

LIÊN HỆ

Trụ sở chính:CÔNG TY TNHH TM – DV – DL HÒANG GIANG VIỆT– 80 Đinh Tiên Hòang, P.1, Q.Bình Thạnh, Tp.HCM– Tel: (+84-8) 3.5171109 – Fax: (+84-8) 3.5171108– Hotlines : 0913 719 408– Email: hgv01@yahoo.com.vn- Website://hgv.vn

Xây Dựng Hình Ảnh Thương Hiệu Du Lịch Việt Nam / 2023

Làm khác biệt sản phẩm là chiến lược chung thứ hai. Làm khác biệt hình ảnh điểm đến mang lại sự bảo vệ nhất định trước các đối thủ cạnh tranh nhờ vào sự trung thành và ít nhạy cảm trước giá cả của khách hàng. Việt Nam đã lựa chọn thông điệp “Vietnam, timeless charm” và hình ảnh đóa hoa sen cách điệu. Vấn đề đặt ra là hình ảnh này cần phải cụ thể hóa như thế nào để tạo sự nhận biết rõ ràng và gây ấn tượng mạnh đối với công chúng?

Chiến lược tập trung hay chiến lược chuyên sâu là chiến lược chung thứ ba. Ở đây, điểm đến tập trung vào một nhóm người mua nhất định, một phân đoạn thị trường hay một loại hình du lịch. Trên thực tế, có hai dạng: tập trung vào sự khác biệt sản phẩm và tập trung vào chi phí. Với một chiến lược chuyên sâu, một điểm đến có thể trở thành “một con cá lớn trong một chiếc ao nhỏ”.

Theo đó, hình ảnh “vẻ đẹp bất tận” của Việt Nam phải được cụ thể hóa phù hợp với từng thị trường mục tiêu. Với khách du lịch Nga, đó sẽ là vẻ đẹp bất tận của các bãi biển, là sự hấp dẫn của ẩm thực thủy hải sản; với khách du lịch Pháp, đó sẽ là vẻ đẹp bất tận của các di sản văn hóa cũng như sự phong phú của văn hóa các dân tộc thiểu số; với khách du lịch Mỹ, đó sẽ là vẻ đẹp bất tận của cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp, với sự đa dạng của các loại hình du lịch trải nghiệm, khám phá…

Để cụ thể hóa hình ảnh thương hiệu Du lịch Việt Nam, nhóm nghiên cứu thực hiện đề tài khoa học cấp Bộ “Giải pháp phát triển thương hiệu Du lịch Việt Nam” đã thực hiện 1.000 cuộc điều tra phỏng vấn với 400 khách du lịch quốc tế, 400 khách du lịch nội địa, 140 cộng đồng dân cư, 30 Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 30 doanh nghiệp lữ hành và khách sạn tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh và thu được một số kết quả cơ bản sau:

Thương hiệu Du lịch Việt Nam hiện nay đang được định vị tốt trong các yếu tố về: Con người Việt Nam; Cảnh quan thiên nhiên; Ẩm thực. Các địa danh được định vị tốt nhất trong thị trường là Hạ Long và Hà Nội. Trong đó, các giá trị liên quan đến con người Việt Nam: tính niềm nở, mến khách; văn hóa lối sống có định vị tốt nhưng không xác định rõ được địa bàn cụ thể; Ẩm thực có sự ghi nhận của thị trường nhưng không có tính khả thi do Thái Lan đã sử dụng chiến dịch định vị “Thailand – the kichen of the world” một thời gian dài cùng việc phát triển hệ thống nhà hàng, văn phòng đại diện ở các thị trường. Giá trị cảnh quan thiên nhiên phong phú, độc đáo mà biểu tượng là Di sản Thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long gắn với cảnh quan trên biển, phù hợp định hướng phát triển sản phẩm du lịch của chiến lược, quy hoạch giai đoạn tới, đã được định vị tốt ở thị trường.

+ Các yếu tố định vị chính

Bản chất thương hiệu – các yếu tố cốt lõi thương hiệu Du lịch Việt Nam định vị với các giá trị đa dạng sắc thái trong cả tự nhiên và văn hóa, tập trung chính vào các yếu tố sau: phong cảnh thiên nhiên đa dạng gắn với các dòng sản phẩm chính là du lịch biển, du lịch sinh thái; văn hóa đa sắc tộc, con người, lối sống, ẩm thực gắn với dòng sản phẩm du lịch văn hóa.

Các giá trị này là những giá trị thương hiệu chính của toàn bộ kiến trúc thương hiệu.

Tính cách thương hiệu được xác định làTính truyền thống; tính duyên dáng; tính mở – phát triển.

Xác lập cấu trúc thương hiệu du lịch quốc gia Việt Nam

Thương hiệu du lịch quốc gia cần được xác lập dựa trên các thương hiệu du lịch vùng, thương hiệu du lịch địa phương, thương hiệu các sản phẩm du lịch, thương hiệu các doanh nghiệp du lịch. Trong các điều kiện của Du lịch Việt Nam hiện nay, có thể thực hiện theo hai cấu trúc thương hiệu chính là:

Cấu trúc 1: Thương hiệu Du lịch Việt Nam là thương hiệu bao trùm với các giá trị cốt lõi thương hiệu tập trung vào các dòng sản phẩm chính và giá trị cảm nhận. Các thương hiệu nhánh gồm: thương hiệu sản phẩm du lịch biển, đảo; thương hiệu sản phẩm du lịch văn hóa; thương hiệu sản phẩm du lịch sinh thái; thương hiệu sản phẩm du lịch đô thị. Dưới các thương hiệu nhánh này là hệ thống thương hiệu các sản phẩm du lịch trong từng dòng sản phẩm. Cấu trúc này khá tương đồng với đề xuất của chuyên gia quốc tế tại Chương trình phát triển năng lực du lịch có trách nhiệm với môi trường và xã hội (Dự án ESRT). Cấu trúc này có thế mạnh về định hướng thị trường. Dưới đây là phác thảo ý tưởng xây dựng hình ảnh nhận diện cho ba dòng sản phẩm chính của Du lịch Việt Nam:

Hình ảnh chủ đạo chiếm diện tích lớn, nổi bật giá trị cốt lõi của thương hiệu như sản phẩm du lịch biển là hình ảnh Hạ Long, sản phẩm du lịch văn hóa là sự đa dạng của văn hóa lối sống phong tục, sản phẩm du lịch sinh thái là thiên nhiên xanh.

Hình ảnh bổ trợ sử dụng nhiều hình ảnh cùng chủ điểm với kích thước nhỏ, sắp thành hình chữ S – bản đồ Việt Nam theo trục dọc, gắn kết với hình ảnh chủ đạo như:

Sản phẩm biển là các bãi tắm nghỉ dưỡng nổi bật tại Đà Nẵng, Khánh Hòa, Bình Thuận, Phú Quốc…

Sản phẩm du lịch văn hóa là nụ cười của đồng bào dân tộc, thể hiện tính mở, thân thiện, đầy bản sắc nhưng vô cùng năng động.

Sản phẩm du lịch sinh thái là sắc xanh đa dạng từ Hà Giang, Sapa đến đồng bằng sông Hồng, rừng khộp Tây Nguyên và miệt vườn đồng bằng sông Cửu Long.

Biểu tượng và slogan Timeless Charm gắn với slogan của từng sản phẩm nhánh. Kết cấu thông điệp được xây dựng với cấu trúc:

Vế 1: tính từ + danh từ thể hiện giá trị cốt lõi như Blue ocean với sản phẩm du lịch biển, Diversity culture với sản phẩm du lịch văn hóa, Green nature với sản phẩm du lịch sinh thái.

Vế 2: tính từ cảm xúc thể hiện giá trị thu nhận của khách hàng với Cool feeling của sản phẩm biển, Warm feeling của sản phẩm văn hóa và Fresh feeling của sản phẩm sinh thái.

Cấu trúc 2: Thương hiệu Du lịch Việt Nam là thương hiệu bao trùm với các giá trị cốt lõi thương hiệu tập trung vào các vùng. Các thương hiệu nhánh gồm:

Thương hiệu đồng bằng Sông Hồng và duyên hải Đông Bắc có hình ảnh chủ đạo: thắng cảnh Hạ Long và đô thị cổ Hà Nội; Giá trị cốt lõi: thắng cảnh và sự kỳ bí của kiến tạo thiên nhiên – văn hóa đặctrưng của nền văn minh lúa nước; Sản phẩm: du lịch biển, du lịch văn hóa.

Thương hiệu duyên hải miền Trung có hình ảnh chủ đạo: Khánh Hòa, Bình Thuận, Đà Nẵng; Giá trị cốt lõi: các bãi biển dài, chất lượng nghỉ dưỡng cao; Sản phẩm: du lịch biển, du lịch văn hóa.

Thương hiệu trung du, miền núi Bắc Bộ có hình ảnh chủ đạo: núi cao, đa dạng sắc thái dân tộc thiểu số; Giá trị cốt lõi: các hoạt động, tập tục của dân tộc vùng cao; Sản phẩm: du lịch văn hóa, du lịch sinh thái.

Thương hiệu Bắc Trung Bộ có hình ảnh chủ đạo: cố đô Huế; Giá trị cốt lõi: Các nét văn hóa cung đình giữa các di tích cố đô Huế; Sản phẩm: du lịch văn hóa.

Thương hiệu Tây Nguyên có hình ảnh chủ đạo: người dân tộc Ê Đê trên lưng voi giữa núi rừng; Giá trị cốt lõi: nét văn hóa đặc trưng của dân tộc giữa núi rừng Tây Nguyên; Sản phẩm: du lịch văn hóa, du lịch sinh thái.

Thương hiệu Đông Nam Bộ có hình ảnh chủ đạo: sức sống hiện đại của TP. Hồ Chí Minh và các hoạt động đô thị, MICE; Giá trị cốt lõi: sự năng động của đô thị hiện đại với dáng dấp đầy quyến rũ; Sản phẩm: du lịch MICE;

Thương hiệu đồng bằng sông Cửu Long có hình ảnh chủ đạo: miệt vườn sông nước, đa dạng sinh học; Giá trị cốt lõi: Cuộc sống sông nước trong sự đa dạng sinh học đặc thù trên hệ thống kênh rạch; Sản phẩm: du lịch văn hóa, du lịch sinh thái.

Dưới các thương hiệu nhánh này là hệ thống thương hiệu các địa phương, các sản phẩm du lịch, các doanh nghiệp du lịch ở từng vùng. So với cấu trúc 1 thì cấu trúc này có thế mạnh về tổ chức, quản lý.

Thực tế là, khi xây dựng thương hiệu điểm đến, việc cụ thể hóa các hình ảnh chủ đạo và giá trị cốt lõi trên phương tiện truyền thông là rất cần thiết nhưng một nội dung cũng hết sức quan trọng là khách du lịch biết đến thương hiệu khi họ đến điểm đến. Thêm nữa, thương hiệu phải là sản phẩm kết tinh của thực tế; không bao giờ là lời hứa về khả năng trong tương lai hoặc chỉ là những điều mong muốn. Vì vậy, thách thức đối với điểm đến là xác định những lĩnh vực có thể đã không đáp ứng được mong đợi của khách và tìm cách khắc phục. Không có sự liên kết giữa lời hứa thương hiệu như đã cam kết trong truyền thông, và trải nghiệm của khách tại điểm đến sẽ làm mất niềm tin vào thương hiệu điểm đến. Du khách sẽ cảm nhận được giá trị thương hiệu thông qua trải nghiệm của mình tại điểm đến. Mỗi lần tiếp xúc với con người và địa điểm trong quá trình lưu trú tại điểm đến, từ khi bước xuống sân bay, thông qua chất lượng nơi ở đến sự chào đón của những người dân địa phương sẽ quyết định nhận diện điểm đến. Những điểm chính mà khách tương tác với điểm đến có thể làm họ hài lòng hoặc mất tinh thần, thường được gọi là “các điểm tiếp xúc khách hàng” hoặc “những thời điểm thích hợp”. Bộ phận chuyên trách về quản lý thương hiệu phải nhận biết được khi nào “những thời điểm thích hợp” có thể xảy ra và bảo đảm khách sẽ có trải nghiệm tích cực ở từng điểm “tiếp xúc khách hàng”. Khi hình ảnh một đất nước càng tuyệt vời thì càng có nhiều người muốn đến thăm đất nước ấy, và tiếp tục mở rộng, lan truyền đến các khách hàng tương lai khác.

Khi bàn về “Thương hiệu quốc gia”, tác giả Simon Anholt cho rằng “Danh tiếng của các quốc gia cũng giống như thương hiệu của các công ty và sản phẩm”. Hình ảnh và thương hiệu của một đất nước ảnh hưởng rất nhiều đến hành vi và thái độ của các “đối tượng mục tiêu” như các nhà đầu tư nước ngoài, khách du lịch, người tiêu dùng, giới truyền thông, đối tác kinh doanh… Xây dựng thương hiệu vì thế là một nội dung vô cùng quan trọng giúp định vị hình ảnh về điểm đến trong tâm trí công chúng.

Tài liệu tham khảo:

Cliff Shultz, Cạnh tranh và điểm đến du lịch, Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright 2007-2008

Porter, Michael E. (1980). Competitive Strategy: Techniques for Analyzing Industries and Competitors, New York: The Free Press.

Simon Anholt, Brand New Justice: How branding places and products can help the developing world, Butterworth-Heinemann, 2005 (2nd edition)

Đỗ Cẩm Thơ (Chủ trì) và cộng sự, Đề tài “Giải pháp phát triển thương hiệu du lịch Việt Nam”, Viện Nghiên cứu phát triển Du lịch, Hà Nội, 2013

ThS. Nguyễn Thu Thủy

(Nguồn: Tạp chí Du lịch)

Xây Dựng Thương Hiệu Quốc Gia Cho Du Lịch Văn Hóa Việt Nam / 2023

TIN ĐỌC NHIỀU

TIN MỚI NHẬN

(Chinhphu.vn) – Phấn đấu đến năm 2030, ngành du lịch văn hóa chiếm 20% trong tổng số khoảng 40 tỷ USD doanh thu từ khách du lịch. Thương hiệu quốc gia cho du lịch văn hóa Việt Nam được mở rộng, ghi nhận tại các thị trường mới và thị trường mục tiêu.

Ảnh internet

Theo báo cáo của Tổng cục Du lịch, Đề án Xây dựng thương hiệu quốc gia về du lịch văn hóa nằm trong Kế hoạch của ngành Văn hóa-Thể thao và Du lịch thực hiện Quyết định số 1755/QĐ-TTg ngày 8/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Đây cũng là yêu cầu đối với lĩnh vực du lịch văn hóa phải xây dựng thương hiệu quốc gia cho sản phẩm du lịch. Xây dựng thương hiệu quốc gia về du lịch văn hóa là việc làm thực sự cần thiết nhằm tạo bước phát triển đột phá trong công tác xây dựng sản phẩm du lịch, góp phần thực hiện mục tiêu thúc đẩy du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.

Đề án được Vụ Thị trường du lịch (Tổng cục Du lịch) xây dựng trên cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về xây dựng và phát triển thương hiệu quốc gia. Đề án cũng khái quát hiện trạng phát triển du lịch văn hóa tại Việt Nam cùng với việc đưa ra các giá trị cốt lõi của thương hiệu về du lịch văn hóa Việt Nam. Cùng với đó là định hướng, mục tiêu và nội dung phát triển thương hiệu quốc gia cho du lịch văn hóa của Việt Nam và giải pháp triển khai, cách tổ chức thực hiện.

Cụ thể, thương hiệu du lịch quốc gia về du lịch văn hóa sẽ tập trung phát triển trên 2 lĩnh vực có thế mạnh gồm ẩm thực và di sản. Qua đó hình thành hệ thống điểm đến, sản phẩm du lịch đặc trưng, có chất lượng, giá trị cao và được thị trường ưa chuộng.

Mục tiêu đến năm 2030, ngành du lịch văn hóa chiếm 20% trong tổng số khoảng 40 tỷ USD doanh thu từ khách du lịch. Thương hiệu quốc gia cho du lịch văn hóa Việt Nam được mở rộng, ghi nhận tại các thị trường mới và thị trường mục tiêu.

Nội dung phát triển thương hiệu quốc gia cho du lịch văn hóa của Việt Nam gồm: Quảng bá thương hiệu du lịch văn hóa; Hỗ trợ phát triển sản phẩm du lịch di sản, ẩm thực và Đổi mới chính sách khuyến khích du lịch di sản, du lịch ẩm thực.

Dự thảo cũng nêu những giải pháp triển khai du lịch văn hóa như: giải pháp về nghiên cứu và dự báo; giải pháp về khoa học công nghệ; giải pháp về thương mại, truyền thông; giải pháp đầu tư, tài chính ứng dụng…

Du lịch văn hóa là một trong 4 dòng sản phẩm thu hút đông đảo du khách quốc tế đến tham quan, tìm hiểu đất nước, con người Việt Nam; được xác định là loại hình du lịch quan trọng, có sức hấp dẫn, góp phần cho sự phát triển bền vững của ngành Du lịch. Xu hướng dòng khách quốc tế quan tâm đến các điểm đến du lịch gắn với các sản phẩm du lịch văn hóa ngày càng tăng.

Tại Việt Nam, theo kết quả điều tra khảo sát trên mẫu 800 khách du lịch trong nước và quốc tế được thực hiện trong khuôn khổ Đề tài khoa học cấp bộ “Giải pháp phát triển thương hiệu du lịch Việt Nam” cho thấy: Hơn 50% khách quốc tế tìm hiểu các loại thông tin về giá cả, văn hóa truyền thống, con người Việt Nam, lịch sử Việt Nam, các hoạt động du lịch ở Việt Nam trước khi đến Việt Nam.

Kiên Giang Xây Dựng Thương Hiệu Du Lịch Biển / 2023

KHỞI ĐẦU LẠC QUAN

Những năm gần đây, Kiên Giang đã tập trung khai thác lợi thế du lịch của địa phương, đặc biệt là du lịch biển, đảo. Về đầu tư du lịch, toàn tỉnh có 220 dự án đầu tư du lịch với quy mô 8.910ha, vốn đầu tư 64.214 tỷ đồng. Trong đó, có 64 dự án được cấp phép đầu tư với quy mô 3.582ha, vốn đầu tư 32.939 tỷ đồng.

Bên cạnh những mặt đạt được, hoạt động du lịch biển, ven biển, đảo và quần đảo tỉnh Kiên Giang vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế. Tình trạng quy hoạch chưa đồng bộ, chưa thống nhất giữa các ngành; việc cấp phép, cho chủ trương dự án đầu tư du lịch còn tràn lan, dàn trải, chưa có sự kiểm soát hiệu quả; công tác quản lý các hoạt động kinh doanh dịch vụ, du lịch còn nhiều bất cập; việc tuyên truyền, xúc tiến, quảng bá, marketing chưa được chú trọng; trình độ đội ngũ quản lý và lực lượng lao động trực tiếp chưa qua đào tạo chiếm tỷ lệ cao; việc đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển; tài nguyên du lịch biển chưa được quy hoạch, đầu tư khai thác hiệu quả bền vững, chưa có sản phẩm du lịch đặc trưng hấp dẫn và cao cấp.

Ngày 5/10/2004, Chính phủ ban hành Quyết định số 178/2004/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Phát triển tổng thể đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 và Quyết định số 01/2007/QĐ-TTg ngày 8/01/2007 về phê duyệt Quy hoạch Tổng thế phát triển Du lịch đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang thời kỳ 2006 – 2010 với mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 phát triển đảo Phú Quốc thành trung tâm du lịch, nghỉ dưỡng, giao thương quốc tế lớn, hiện đại, chất lượng cao, tầm cỡ các quốc gia trong khu vực và thế giới, làm động lực thúc đẩy phát triển du lịch cả nước, đưa du lịch trở thành ngành kinh tế chủ đạo của đảo Phú Quốc gắn với yêu cầu đảm bảo an ninh, quốc phòng.

RẤT CẦN SỰ CHUNG TAY GÓP SỨC

Với những lợi thế về tài nguyên biển, đảo, quần đảo sẵn có, việc xây dựng thương hiệu du lịch biển Kiên Giang là quan trọng và cần thiết. Sự chung tay góp sức của các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương trong việc thực hiện một số giải pháp sau đây sẽ góp phần củng cố thêm thương hiệu du lịch biển Kiên Giang.

Trước hết, công tác quy hoạch và du lịch phải đồng bộ và có sự phối hợp giữa các ngành, tránh tình trạng quy hoạch nhỏ lẻ, manh mún. Các địa bàn có biển nên giữ lại một số bãi biển đẹp mang nét hoang sơ làm bãi tắm công cộng cho người dân địa phương và du khách, tránh tình trạng bê tông hóa bãi biển, khai thác cát làm sụt lún bờ biển gây nguy hiểm cho người dân và ảnh hưởng đến các hoạt động vui chơi, giải trí, tắm biển của du khách.

Tăng cường bảo vệ môi trường biển một cách triệt để bằng nhiều hình thức như tuyên truyền, hội thảo, mở lớp tập huấn, đưa vào giáo dục học sinh trong nhà trường, có chính sách khen thưởng, động viên khuyến khích các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp kinh doanh du lịch quan tâm đến công tác bảo vệ môi trường.

Quản lý khai thác tài nguyên du lịch nói chung và du lịch biển nói riêng hợp lý, hiệu quả, mang tính bền vững. Chẳng hạn, cần giữ nguyên một số đảo nhỏ trong quần đảo An Thới – Phú Quốc hiện đang có vài hộ dân định cư từ lâu, có chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện cho họ sinh sống, trồng rừng, làm rẫy giữ đảo…, từ đó tổ chức tour du lịch tham quan, nghỉ chân, tìm hiểu cuộc sống của người dân trên đảo… Đây là loại hình du lịch mới lạ hấp dẫn, đặc biệt là với khách du lịch nước ngoài.

Nghiên cứu, xây dựng kế hoạch bảo tồn các làng nghề truyền thống ở vùng ven biển nuôi, trồng, đánh bắt thủy hải sản, chế tác các sản phẩm thủ công mỹ nghệ từ các vật liệu thiên nhiên sẵn có như đá, vỏ ốc, vỏ sò và các vật liệu từ biển… nhằm tạo việc làm, cải thiện đời sống cho người dân vùng ven biển, góp phần phát triển du lịch bền vững.

Quan tâm hơn nữa đến công tác đầu tư, kêu gọi cơ sở hạ tầng như xây dựng bến cảng du lịch quốc tế cho các tàu du lịch lớn ghé tham quan tại Phú Quốc, bến tàu khách tại Hà Tiên, Kiên Lương để đưa khách đến Phú Quốc… Tuy nhiên, việc đầu tư phải mang tính chuyên nghiệp, chất lượng, có giải pháp giảm thiểu tối đa các tác động ảnh hưởng, xâm hại đến môi trường biển, ven biển và hệ sinh thái dưới lòng biển. Đầu tư các phương tiện giao thông cao cấp, hiện đại đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc tế như tàu du lịch, máy bay… Chú trọng nâng cao chất lượng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch tại các vùng du lịch trọng điểm của tỉnh như TP. Rạnh Giá, đảo Phú Quốc, thị xã Hà Tiên và huyện Kiên Lương.

Liên kết với các tỉnh bạn và các nước trong khu vực như Campuchia, Thái Lan mở rộng tour, tuyến du lịch bằng đường bộ, đường thủy và đường hàng không; sớm tiến hành công nhận các khu, tuyến, điểm du lịch của tỉnh, xây dựng phao neo đậu tàu du lịch tham quan lặn ngắm san hô, câu cá; triển khai đề án thu phí khu bảo tồn biển, vườn quốc gia để đưa vào khai thác các tour du lịch phục vụ du khách trong và ngoài nước.

Ưu tiên xây dựng một số khu kinh tế mạnh ven biển như khu phi thuế quan ở An Thới – Phú Quốc, khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Hà Tiên.

Hỗ trợ kinh phí cho công tác đào tạo nghề, chuyển đổi việc làm phù hợp cho cộng đồng dân cư bị ảnh hưởng bởi các dự án đầu tư tại các vùng biển, ven biển, đảo và hải đảo và các khu quy hoạch đầu tư du lịch; đồng thời nâng cao nhận thức của người dân về tầm quan trọng và những lợi ích đem lại từ các hoạt động du lịch biển.

Phát huy vai trò, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan quản lý nhà nước về du lịch địa phương. Hàng năm, tiến hành nghiên cứu, khảo sát, tìm hiểu nhu cầu, nguyện vọng của khách du lịch, người dân địa phương tại vùng du lịch biển, ven biển, đảo và quần đảo về chất lượng dịch vụ, đầu tư và lợi ích thu được từ các hoạt động phát triển du lịch biển. Từ đó, đưa ra giải pháp sát thực hơn với tình hình phát triển du lịch biển trên địa bàn tỉnh.

Ngoài ra, cần bảo đảm an ninh, trật tự cho du khách và người dân địa phương an tâm sinh sống, vui chơi, giải trí, nghỉ ngơi; đẩy mạnh quảng bá, xúc tiến du lịch biển Kiên Giang…